Đặc điểm nguồn số liệu -ệ23 2.2 Nghiên cứu biến động chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2016
Quan hệ giữa chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2006 — 2016
Chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn
2006 — 2016 có nhiều biến động lớn và được thể hiện thông qua bảng số liệu dưới đây
Bảng 2.6: Chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2006-2016 Đơn vị tính: %
Năm/Chỉ tiêu CPL GDP
Nguôn: Vụ TK Giá và Vụ HTTKQG - TCTK
Trong nhiều thập kỷ qua, mối quan hệ giữa chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế đã trở thành chủ đề tranh luận sôi nổi giữa các nhà kinh tế Câu hỏi chính được đặt ra là liệu chỉ số giá tiêu dùng có thúc đẩy tăng trưởng hay chính tăng trưởng lại là nguyên nhân dẫn đến sự biến động của chỉ số này.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có mối liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn Nghiên cứu đã xác định ngưỡng CPI mà nếu vượt qua sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Qua phân tích dữ liệu từ các quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1950 - 2000, các nhà kinh tế đã rút ra những kết luận quan trọng về tác động của CPI đối với nền kinh tế.
(1) Chỉ số giá tiêu dùng là yếu tố quyết định quan trọng đối với tăng trưởng
Khi chỉ số giá tiêu dùng đạt khoảng 102%-103%, có mối quan hệ tỷ lệ thuận với tăng trưởng Ngược lại, khi chỉ số giá tiêu dùng cao, mối quan hệ này trở thành tỷ lệ nghịch Nghiên cứu cho thấy rằng khi chỉ số giá tiêu dùng từ 110% trở lên, ảnh hưởng đến tăng trưởng sẽ thay đổi.
120% thì tốc độ tăng trưởng sẽ giảm
Ngưỡng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, với mức 101% - 103% cho các nước công nghiệp và 110% - 120% cho các nước đang phát triển Khi CPI vượt quá ngưỡng này, nó có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Ngược lại, nếu CPI thấp hơn ngưỡng, nó sẽ không ảnh hưởng đến tăng trưởng Do đó, chỉ số giá tiêu dùng thấp là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ Có một ngưỡng CPI nhất định mà khi đạt được, nó sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng Ngưỡng này phụ thuộc vào từng nền kinh tế, bao gồm quy mô, cơ cấu ngành, cơ cấu chỉ tiêu và độ mở của nền kinh tế Do đó, ngưỡng CPI khác nhau giữa các quốc gia và cũng thay đổi theo từng giai đoạn phát triển trong mỗi quốc gia.
Trong hai thập kỷ qua, từ cuối những năm 80 đến đầu những năm 90, Việt Nam đã trải qua giai đoạn chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, nhưng nhờ vào các giải pháp kiềm chế hiệu quả của Chính phủ, nền kinh tế đã có sự tăng trưởng tích cực Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á năm 1997 và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, dẫn đến sự gia tăng trở lại của chỉ số giá tiêu dùng và sự suy giảm trong tăng trưởng kinh tế.
Trong giai đoạn 2000 - 2006, mối quan hệ giữa chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế tương tự như giai đoạn 1992 - 1997, với chỉ số giá tiêu dùng ổn định và tăng trưởng duy trì ở mức từ 6,8% đến 8,4% Tuy nhiên, giai đoạn 2008 - 2012, nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng tăng cao và tăng trưởng kinh tế suy giảm Đến giai đoạn 2013 - 2014, kinh tế có dấu hiệu hồi phục, nhưng chỉ số giá tiêu dùng lại có xu hướng tăng thấp.
Việt Nam đã trải qua những năm với chỉ số giá tiêu dùng thấp nhưng vẫn đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao Cụ thể, năm 2000, chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,69%, trong khi năm 2001, chỉ số này tăng 0,8%, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn đạt 6,79% và 6,89% tương ứng Trong giai đoạn này, ngành thủy sản và khai khoáng có sự tăng trưởng mạnh mẽ, nhờ vào tỷ trọng giá trị gia tăng cao, chủ yếu dựa vào khai thác tiềm năng tự nhiên, do đó ít bị ảnh hưởng bởi chỉ số giá tiêu dùng.
Từ cuối năm 2013 đến nửa đầu năm 2015, chỉ số giá tiêu dùng ở mức thấp khiến nhiều nhà kinh tế lo ngại về tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế vẫn ổn định ở mức khá và có xu hướng tăng Hiện tượng này xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu.
Mức giá các mặt hàng ở Việt Nam đã liên tục tăng trong thời gian dài và hiện đã đạt mức cao Chỉ số giá tiêu dùng trong những năm gần đây luôn ở mức cao, với mức tăng 11,75% vào năm 2010 và 18,13% vào năm 2011, khiến cho giá cả các mặt hàng trở nên khó có khả năng tăng cao hơn nữa.
Giá xăng dầu thấp đã làm chỉ số giá tiêu dùng tăng chậm lại Kể từ cuối năm 2014, giá dầu thô toàn cầu đã giảm xuống chỉ còn khoảng 40-50% so với mức cao nhất, dẫn đến giá xăng dầu trong nước giảm, từ đó giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Việt Nam đang tận dụng cơ hội này để thúc đẩy sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống dân cư.
Vào thứ ba, giá của một số mặt hàng chiến lược như điện, nước, dịch vụ giáo dục, y tế và văn hóa vẫn chưa phản ánh đúng giá thị trường, dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp và không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế.
Trong những năm gần đây, khu vực FDI đã phát triển mạnh mẽ, với mức tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung từ 1,5 đến 3% Tỷ trọng của khu vực này trong GDP đã tăng từ 15,2% vào năm 2010 lên 17,9% vào năm 2014, và xuất khẩu chiếm khoảng 65% tổng giá trị xuất khẩu Tuy nhiên, khu vực FDI không phụ thuộc nhiều vào tín dụng trong nước, do đó không ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng cung tiền và chỉ số giá tiêu dùng.
Thứ năm, công tác điều hành và quản lý giá cả tốt Từ đầu năm 2011,
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm
Năm 2011, các giải pháp chủ yếu được tập trung vào việc kiềm chế chỉ số giá tiêu dùng, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội Đến nay, công tác này vẫn luôn được triển khai một cách nghiêm túc.
DỰ BAO CHi SO GIA TIEU DUNG 3.1 Dự báo chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam 3.1.1 Dự báo chỉ số giá tiêu dùng bằng mô hình ARIMA 3.1.2 Dự báo chỉ số giá tiêu dùng theo các yếu tố tác động trực tiếp
Trong luận văn này, hai phương pháp dự báo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã được trình bày, bao gồm dự báo CPI bằng mô hình ARIMA và dự báo CPI dựa trên các yếu tố tác động trực tiếp.
Các bước tiến hành dự báo CPI bằng mô hình ARIMA:
Bước đầu tiên là kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu Sử dụng số liệu CPI từ tháng 01 năm 2006 đến tháng 12 năm 2016 (so sánh CPI tháng sau với tháng trước) trong phần mềm Eviews Kết quả phân tích cho thấy chuỗi số liệu này có tính dừng.
Bước 2: Từ lược đỗ tự tương quan xác định được p và q và ta chọn được 5 mô hình: MA(1); AR(1,2.3.4); AR(1,2,3,4,5); AR(1,2,3,4) MA(1) và AR(1,2,3,4,5) MA(1)
Bước 3 bao gồm việc kiểm định ý nghĩa thống kê của các biến trong từng mô hình, kiểm định tính ổn định và khả nghịch, cũng như kiểm định phần dư Qua các kiểm định này, chúng ta đã chọn được 2 mô hình phù hợp để dự báo CPI bằng mô hình ARIMA, đó là mô hình MA() và AR(1,2,3,4) MA(1).
Bước 4: Tính RMSE và MAPE cho 2 mô hình đã chọn ra ở bước 3 Kết quả cho ta thấy RMSE và MAPE đều nhỏ hơn 5%
Bước 5: Tính SSE cho 2 mô hình đã chọn ra ở bước 3 ta thay SSEmin
Mô hình AR(1,2,3,4) MA(1) có giá trị tối ưu là 0,103 Dựa trên mô hình này, chúng tôi tiến hành dự báo chỉ số CPI từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2017, với kết quả dự báo lần lượt là 100,41% và 100,45%.
Để dự báo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cho tháng tới, bước đầu tiên là xác định các yếu tố tác động trực tiếp đến CPI và đánh giá mức độ biến động của từng yếu tố đó, ký hiệu là Ix.
Bước 2: Tính toán mức độ tác động của mặt hàng biến động đến chỉ số giá tiêu dùng chung cả nước (ký hiệu là m)
Bước 3: Tính tổng mức độ tác động của các mặt hàng vào CPI chung cả nước
Dựa vào các biến động của các yếu tố: lương thực (tăng 1,1%); dịch vụ y tế tăng (0,9%); xăng dầu tăng (6%); các yếu tố khác không thay đổi thì dự báo
CPI tháng 11/2017 tăng 0,33% so với tháng 10/2017
Luận văn đưa ra một số kiến nghị để nâng cao chất lượng và đảm bão chỉ số giá tiêu dùng 6n định như sau:
Bộ Tài chính hỗ trợ tài chính cho Tổng cục Thống kê thực hiện tra giá tiêu dùng bằng thiết bị điện tử (CAPI) trên toàn bộ 63 tỉnh, thành phố Mục tiêu là nâng cao chất lượng số liệu, đảm bảo tính chính xác và kịp thời trong việc cung cấp số liệu CPI cho Chính phủ, các Bộ ngành và người dùng.
Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ trong việc đánh giá tình hình giá cả và xây dựng các phương án điều hành giá cho dịch vụ y tế, giáo dục, điện, nước sinh hoạt, lãi suất và tỷ giá nhằm kiểm soát CPI Trước khi điều chỉnh giá các hàng hóa và dịch vụ, cần tính toán và báo cáo Chính phủ Đối với xăng dầu và điện, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính cần theo dõi sát giá xăng dầu thế giới và sử dụng quỹ bình ổn giá để hạn chế tác động đến CPI.
Bộ Công Thương đang chủ động xem xét các phương án tăng giá điện nhằm đánh giá tác động đến chỉ số CPI, chỉ số giá sản xuất và mức tăng trưởng kinh tế.
NGHIÊN CỨU CHỈ SÓ GIÁ TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 - 2016
Chuyên ngành: THÔNG KÊ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI ĐỨC TRIỆU
TS CHU THỊ BÍCH NGỌC
1 Sự cần thiết của đề tài
Trong bối cảnh khu vực và thế giới đang đối mặt với nhiều bất ổn do chiến tranh và khủng bố, Việt Nam nổi lên như một điểm đến an toàn với tình hình chính trị ổn định Để thu hút đầu tư nước ngoài, cần tạo ra sự ổn định kinh tế và tâm lý yên tâm cho người dân trong việc làm ăn lâu dài Để đạt được sự ổn định về kinh tế - xã hội, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, đặc biệt là kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và ổn định giá cả tiền tệ nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững và hiệu quả.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một trong những chỉ số quan trọng để đo lường tỷ lệ lạm phát, được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia Tại Việt Nam, chỉ số này đóng vai trò thiết yếu trong việc theo dõi biến động giá cả và tình hình kinh tế.
Tổng cục Thống kê thực hiện việc tính toán và công bố dữ liệu hàng tháng, quý và năm để cung cấp thông tin kịp thời về giá cả hàng hóa và dịch vụ, đồng thời phản ánh tình hình lạm phát hoặc giảm phát trong nền kinh tế.
Để đánh giá diễn biến của chỉ số giá tiêu dùng, cần kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng trong phân tích Tác giả đã chọn đề tài "Nghiên cứu chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam giai đoạn " để thực hiện nghiên cứu này.
2 Mục tiêu nghiên cứu Đề tài “ Nghiên cứu chỉ số giá tiêu dùng ở Việt nam giai đoạn 2006 —
2016 với những mục tiêu nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, chỉ ra các yếu tố tác động đến chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn
Thứ hai, phân tích mối quan hệ giữa chỉ số giá tiêu dùng với tăng trưởng kinh tế, đời sống — xã hội;
Thứ ba, tìm ra các phương pháp dự báo chỉ số giá tiêu dùng
Thứ tư, đưa ra các khuyến nghị cần áp dụng nhằmôn định chỉ số giá tiêu dùng góp phần đạt được các mục tiêu vĩ mô khác
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu biến động chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn
2006 — 2016 và các nhân tổ tác động trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng
- Luận văn đã sử dụng nghiên cứu từ tổng quan tư liệu về chỉ số giá tiêu dùng để làm cơ sở lý thuyết
- Phương pháp phân tích kinh tế lượng: luận văn vận dụng mô hình
ARIMA để xây dựng mô hình và dự báo chỉ số giá tiêu dùng
Nguồn số liệu trong luận văn bao gồm chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2016, cùng với chỉ số giá tiêu dùng của các nước khác Dữ liệu chủ yếu được thu thập từ Vụ Thống kê giá - Tổng cục Thống kê Mô hình ARIMA trong luận văn sử dụng số liệu từ tháng 01 năm 2006 đến tháng 12 năm 2016, với dữ liệu tháng sau so với tháng trước.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về chỉ số giá tiêu dùng
Chương 2: Nghiên cứu biến động chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam giai đoạn 2006-2016
Chương 3: Dự báo chỉ số giá tiêu dùng
LÝ LUẬN CHUNG VÈ CHỈ SÓ GIÁ TIÊU DUNG
1.1.Những vấn đềchung của chỉ số giá tiêu dùng
1.1.1.Khái niệm giá tiêu dùng
Giá tiêu dùng là mức giá mà người tiêu dùng chi trả cho hàng hóa và dịch vụ thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày Nó bao gồm giá bán lẻ của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường, bao gồm cả thuế giá trị gia tăng (VAT) Tuy nhiên, giá tiêu dùng không tính đến giá đất, giá hàng hóa phục vụ cho sản xuất, cũng như các hoạt động kinh doanh khác.
1.1.2.Khái niệm chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số là số tương đối thể hiện mối quan hệ so sánh giữa hai mức độ của một hiện tượng nghiên cứu Hai mức độ này có thể thay đổi theo thời gian (chỉ số phát triển), theo không gian (chỉ số không gian) hoặc so với kế hoạch, mục tiêu (chỉ số kế hoạch) Đơn vị tính của chỉ số thường là lần hoặc %.