TT 1/21 MỤC LỤC MỤC LỤC 1 I MỞ ĐẦU 2 1 Lí do chọn đề tài 2 2 Mục đích nghiên cứu 3 3 Đối tượng nghiên cứu 3 4 Phương pháp nghiên cứu 3 II NỘI DUNG 5 1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 5 2 Thực[.]
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I MỞ ĐẦU 2
1 Lí do chọn đề tài: 2
2 Mục đích nghiên cứu: 3
3 Đối tượng nghiên cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu: 3
II NỘI DUNG 5
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 5
2 Thực trạng về việc dạy giải toán có lời văn ở lớp 2 ở Trường Tiểu học Nga Thái hiện nay 6
2.1 Đối với việc dạy của giáo viên 6
2.2 Đối với học sinh 7
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 8
3 Một số giải pháp giúp học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Nga Thái giải toán có lời văn 9
3.1 Giải pháp 1 Phối hợp tốt với phụ huynh học sinh để thống nhất biện pháp giáo dục 9 3.2 Giải pháp 2 Rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết trong giờ Tiếng việt làm nền tảng cho việc đặt câu lời giải trong giải toán có lời văn lớp 2 11
3.3 Giải pháp 3 Áp dụng các bước giải vào giải toán có lời văn 14
3.4 Giải pháp 4 Chấm chữa kịp thời để uốn nắn, khắc sâu kiến thức, rèn kỹ năng giải toán 18
3.5 Giải pháp 5 Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập 19
4 Kết quả thực hiện SKKN: 20
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 22
1 Kết luận 22
2 Kiến nghị: Không 23
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, mục tiêu giáo dục là quốc sách hàng đầu Xuất phát từ mục tiêu giáo dục bậc Tiểu học là góp phần đào tạo những con người lao động thông minh, linh hoạt, năng động, chủ động, sáng tạo và thích ứng Bậc Tiểu học là nền tảng của giáo dục phổ thông và cũng là nền tảng của dân trí Trên cơ sở đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với xu thế chung của cả nước về yêu cầu giáo dục hiện nay Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn Toán nói riêng
là cần thiết đối với yêu cầu hiện nay
Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng ở nhân cách con người Trong các môn học ở Tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì: Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác và học tiếp Toán ở Trung học cơ sở Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống con người
Xuất phát từ mục đích, yêu cầu của chương trình Toán lớp 2 Từ những hạn chế của tâm lý lứa tuổi Từ tình hình thực tiễn, trình độ nhận thức của học sinh Tiểu học nói chung, của lớp tôi nói riêng, các em đa số “ Giải toán có lời văn” còn yếu
vì nhiều nguyên nhân, trong đó vẫn là: Do đặc điểm sinh lý lứa tuổi, các em thường vội vàng hấp tấp, nên đôi khi chưa hiểu kỹ đề bài đã vội vàng làm bài, dẫn đến bài làm của các em còn nhiều sai sót như câu lời giải chưa đầy đủ hoặc có những câu lời giải chưa đúng; nhiều em còn sai danh số ở kết quả tính
Việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, bản thân tôi cũng như nhiều bạn đồng nghiệp còn băn khoăn trăn trở, làm thế nào để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 Bản thân tôi cần phải nghiên cứu, tìm các biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bài toán một cách vững vàng; mặt khác giúp các em có phương pháp suy luận thông qua cách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng tạo trong cách thực hiện Từ
đó giúp các em hứng thú, say mê học toán Với những lý do trên, tôi đã chọn giải
pháp “ Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Nga Thái học
Trang 3tốt về giải toán có lời văn” nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của
nhà trường nói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của sáng kiến là nghiên cứu và giới thiệu những biện pháp tích cực trong việc dạy và học môn toán nói chung và giải toán có lời văn nói riêng, góp phần giúp học sinh lớp 2 giải được các dạng toán có lời văn một cách tốt nhất Thông qua các biện pháp này tôi có thể nâng cao kiến thức của bản thân và ý thức được việc nghiên cứu, tìm ra những phương pháp khả thi để nâng cao chất lượng học toán cho học sinh Tiểu học nói chung Học sinh lớp 2 nói riêng
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Thực trạng về giải toán có lời văn của học sinh lớp hai Trường Tiểu học Nga Thái
- Một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giải toán có lời văn của học sinh lớp hai Trường Tiểu học Nga Thái
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để việc nghiên cứu đạt kết quả rốt, tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp dạy thực nghiệm, thực hành: Thực nghiệm đối chứng; Đánh giá kết quả thực nghiệm
Trang 5
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Việc hướng dẫn học sinh lớp 2 giải toán có lời văn thực chất là hướng dẫn các
em về những bài toán thực tế, nội dung bài toán được thông qua những câu văn nói
về những quan hệ, tương quan và sự phụ thuộc, có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được những câu lời giải, phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán
Nhưng làm thế nào để học sinh hiểu và giải toán theo yêu cầu của chương trình mới, đó là điều cần phải trao đổi nhiều đối với chúng ta – những người trực tiếp giảng dạy cho các em nhất là việc: Đặt câu lời giải cho bài toán
Như chúng ta đã biết: Trước cải cách giáo dục thì đến lớp 4, các em mới phải viết câu lời giải, còn những năm đầu cải cách giáo dục thì đến học kì 2 của lớp 3 mới phải viết câu lời giải…Còn đến nay theo chương trình mới thì ngay từ lớp 1 học sinh đã được yêu cầu viết câu lời giải Đây quả là một bước nhảy vọt khá lớn trong chương trình môn toán ở Tiểu học Nhưng nếu như nắm bắt được cách giải toán ngay từ lớp 1, lớp 2 thì đến các lớp trên các em dễ dàng tiếp thu, nắm bắt và gọt giũa, tôi luyện để trang bị thêm vào hành trang kiến thức của mình để tiếp tục học tốt ở các lớp sau
Ta thấy rằng, giải toán ở Tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn Qua đó, từng bước giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgíc Thông qua giải toán mà học sinh rèn luyện được phong cách của người lao động mới: Làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công việc
Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 2, tôi nhận thấy học sinh khi giải các bài toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác Các
em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu
Trang 6lời giải còn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp
số
Việc đặt lời giải ngay từ lớp1, lớp 2 sẽ là một khó khăn lớn đối với mỗi giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp1, lớp 2 nhất là những tuần đầu dạy toán có lời văn ngay ở việc giúp các em đọc đề, tìm hiểu đề…Một số em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi thầy nêu: Bài toán cho biết gì ? Đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải… Những nguyên nhân trên không thể đổ lỗi về phía học sinh 100% được mà một phần lớn đó chính là các phương pháp, cách áp dụng, truyền đạt của những người thầy
Đây cũng là lý do mà tôi chọn sáng kiến này, mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 Để từ đó, các em có thể thành thạo hơn với những bài toán có lời văn khó và phức tạp ở các lớp trên
2 Thực trạng về việc dạy giải toán có lời văn ở lớp 2 ở Trường Tiểu học Nga Thái hiện nay
2.1 Đối với việc dạy của giáo viên
Giải toán có lời văn cho học sinh là việc giáo viên phải dạy trong chương trình chính khoá của chương trình lớp 2 Trong quá trình dạy cho học sinh nắm bắt kiến thức về giải toán có lời văn là một trong các nội dung rất khó để giáo viên có thể truyền đạt cho các em nắm bắt bài được tốt Bởi các em học sinh lớp 2, đây là một lớp học kế tiếp của lớp 1, các em việc đọc thông viết thạo lại cũng là một nội dung giáo viên cần phải rèn cho các em Bởi giai đoạn vào đầu năm học còn nhiều học sinh đọc còn ngập ngừng, chưa lưu loát, chưa trôi chảy, lí do là trong thời gian nghỉ
hè các em không ôn lại nên lại quên đi Chính vì vậỵ khi dạy cho các em học giải toán có lời văn thì giáo viên càng gặp khó khăn hơn Hơn nữa, một số giáo viên thấy học sinh của mình chưa đọc thông viết thạo nên khi hướng dẫn cho các em giải toán có lời văn thường tập trung chú ý đến từ khoá để các em rút ra được phép tính là được mà chưa chú ý đến việc hướng dẫn cho các em đưa ra câu lời giải Vì thế, nhiều em viết câu lời giải chưa đầy đủ
Trang 7Tóm lại: Giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn học sinh giải
toán có lời văn, bởi học sinh lớp 2 vào đầu năm học các em đọc bài chưa trôi chảy, tốc độ chậm Vì thế các em hiểu bài toán chưa cặn kẽ, viết câu lời giải chưa đầy đủ
2.2 Đối với học sinh
Việc đọc viết của các em còn chưa được thành thạo, nên khi gặp bài toán có lời văn, để các em hiểu làm được bài thì các em phải đọc tốt để các em mới có thể hiểu được yêu cầu bài toán, mới biết được bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?
Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 2 Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp… Cũng xuất phát từ lí do đó mà các em đặt câu lời giải cho bài toán không đầy đủ theo yêu cầu của bài, đôi khi thiếu đi từ chìa khóa của bài
Thực tế trong một tiết dạy, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều, phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lời không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán
Một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc hoc của con em mình nên kết quả học tập của các em chưa cao
Là một xã dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập cũng như chất lượng học tập của các em
Nhiều gia đình đi làm ăn xa gửi con cho ông bà chăm sóc do ông bà đã già yếu nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu
Do đặc điểm tâm lý chung của học sinh tiểu học còn ham chơi nên việc học hành của các em nếu không có sự giám sát chặt chẽ của gia đình thì khó có hiệu quả cao
Về cơ sở vật chất của nhà trường: Tuy nhà trường đã có đủ phòng học nhưng trang thiết bị phục vụ cho công việc giảng dạy còn chưa đảm bảo Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên, dẫn đến hiệu quả giảng dạy nói chung chưa cao
Trang 82.3 Kết quả khảo sát thực trạng
Từ những thực trạng nêu trên tôi đã khảo sát kĩ năng giải toán của học sinh khối lớp 2 Đó là lớp 2A (lớp thực nghiệm) và 2B là (lớp đối chứng) Kết quả cụ thể như sau:
Trong số những em chưa hoàn thành bài làm của mình thì một trong những
lỗi mà các em thường hay mắc phải đó là: Đặt câu lời giải chưa hoàn chỉnh, câu lời giải không đúng với yêu cầu của bài ra, nghĩa là còn có những em đặt câu lời giải không có từ chìa khóa của bài Các em còn hay nhầm lẫn danh số của kết quả tính Ngoài ra trình bày bài chưa khoa học … Trong số những bài làm của các em mắc phải các lỗi như vừa nói trên thì bài làm của một học sinh dưới đây nói lên thực trạng đó
Từ những thực trạng được nêu trên để dạy cho học sinh giải toán có lời văn
đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao
Trang 9chất lượng giáo dục trong nhà trường tôi xin đưa ra một số giải pháp thực hiện như sau:
3 Một số giải pháp giúp học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Nga Thái giải toán có lời văn
3.1 Giải pháp 1 Phối hợp tốt với phụ huynh học sinh để thống nhất biện pháp giáo dục
* Phối hợp thông qua cuộc họp phụ huynh đầu năm học
Vào đầu năm học, theo kế hoạch của nhà trường, tôi thường mời phụ huynh đến trường để họp Trước khi họp tôi đã chuẩn bị trước nội dung, trong đó nội dung quan trọng nhất là làm thế nào để phụ huynh thấy được việc chuẩn bị chu đáo sách
vơ, đồ dùng học tập cho con trước khi đến trường hay thường xuyên nhắc nhở các
em để các em có ý thức tốt trong học tập chính là đã góp phần không nhỏ để giáo viên nâng cao chất lượng nói chung và nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn nói riêng
Bởi như chúng ta đều biết học sinh lớp 2 đến trường còn phụ thuộc hoàn toàn vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô Các em chưa có ý thức tự giác học tập, chính vì vậy giáo dục ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọng giúp các em học tốt hơn Vì thế trong cuộc họp, tôi trao đổi với các bậc phụ huynh phải thường xuyên quan tâm nhắc nhở để các em có
ý thức trong việc chuẩn bị bài ở nhà, chuẩn bị đầy đủ sách, vở, đồ dùng học tập trước khi đến trường Có như thế các em mới có thể tiếp thu và làm bài chu đáo Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của nhiều
em chưa cao Để thực hiện tốt cuộc vận động “ Hai không” của ngành giáo dục và
giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục con cái, tôi đã mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp và những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng – cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, đặc biệt nhất là đối với các ông bố vào buổi tối cố gắng bớt đi một chút thời gian chuyện trò với bạn bè, tắt (vặn nhỏ đài, ti vi) dành thời gian nhắc nhở, quan tâm cho các em học tập….Rất mừng là đa số phụ huynh đều nhiệt liệt hoan nghênh biện pháp trên vì lâu nay các phụ huynh còn đang vướng mắc nhiều về cách dạy học cho các em – Sách giáo khoa mới còn nhiều kí hiệu, các
Trang 10bận việc mà người bố ngại hướng dẫn con nên việc học của con cái chưa được tập trung chú ý Riêng trong phần bài tập của sách Toán, tôi hướng dẫn phụ huynh cách dạy các em luyện nêu miệng các đề toán, luyện nói và trả lời câu lời giải của bài toán
Tóm lại: Cuộc họp gặp gỡ phụ huynh đầu năm tôi đã trao đổi thống nhất
biện pháp giáo dục học sinh như quan tâm nhắc nhở các em ý thức học tập như chuẩn bị chu đáo sách, vở, đồ dùng học tập Trao đổi để phụ huynh nhắc nhở các
em mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài Dành cho các em một góc học tập thật yên tĩnh để ngồi học tiếp thu bài tốt hơn Trao đổi để phụ huynh hướng dẫn con em biết cách đọc hiểu văn bản nhất là hiểu rõ nội dung của dạng toán: giải toán có lời văn Đồng thời tôi cũng nêu những hạn chế của các em khi giải toán có lời văn như
do đọc chưa lưu loát nên chưa hiểu kĩ yêu cầu của bài dẫn đến nhiều lỗi trong bài làm: câu lời giải chưa hoàn chỉnh, có em câu lời giải chưa đúng yêu cầu bài ra Tất cả các nội trên được phụ huynh đồng tình ủng hộ Trong quá trình học tập các
em luôn chăm chỉ, phát huy tốt tinh thần học tập như phát biểu và xây dựng bài thường xuyên Kết quả học tập của em ngày càng cao
* Gặp gỡ trực tiếp với phụ huynh có học sinh cá biệt
Cuộc họp phụ huynh lần này vẫn còn một số gia đình vắng mặt, những trường hợp này do chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc học, và do điều kiện gia đình còn nhiều khó khăn nên phó mặc việc học của con cái cho giáo viên, cho nhà trường Đối với những phụ huynh vắng mặt này hầu hết đều có con là học sinh
cá biệt Đối tượng này tôi tìm cách gặp gỡ, trao đổi tại nhà Các gia đình này phần lớn trình độ văn hoá của bố mẹ còn thấp, thậm chí họ không biết cách dạy con như
thế nào nữa mà chỉ biết nhắc nhở con: “ Học bài đi” rồi con học gì, làm gì ở bàn
học bố mẹ cũng không hay…Đối với những em này, tôi phải hướng dẫn nhiều hơn
ở lớp để về nhà các em tự học Một số học sinh thiếu Sách giáo khoa và Vở bài tập, tôi gặp gỡ trao đổi với phụ huynh, động viên họ mua sách ( sách cũ cũng được) tạo điều kiện cho con em học tập; tôi trực tiếp kêu gọi những em học sinh cũ ( lớp 2 năm ngoái) ủng hộ số sách cũ của các em cho nhà trường để nhà trường giúp đỡ những em có hoàn cảnh gia đình khó khăn Còn vở bài tập tôi cho phô tô lại cho những em thiếu, vì không có vở bài tập các em sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi làm bài tập nhất là trong khi kĩ năng đọc, viết chưa thành thạo song lại còn hay trêu chọc bạn trong giờ học như: em Thái, em Thanh, em Xuân, em Kiều Anh, em Mạnh …