MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP GIÁO VIÊN KHỐI 1 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT 1/22 MỤC LỤC I PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 3 Đối tượng nghiên cứu 4 Giới hạn của đề[.]
Trang 1MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài………
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài………
3 Đối tượng nghiên cứu………
4 Giới hạn của đề tài……….…………
5 Phương pháp nghiên cứu………
II PHẦN NỘI DUNG 1 Cơ sở lý luận………
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu………
3 Nội dung và hình thức của giải pháp………
3.1 Mục tiêu của giải pháp………
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp………
3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp………
3.4 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi và hiệu quả ứng dụng………
III PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1 Kết luận……….………
2 Kiến nghị……….………
Tài liệu tham khảo……….………
Trang
1
2
2
2
2
3
4
6
6
7
17
17
18
19
22
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với các môn học khác (Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử, Địa lí, Đạo đức, ) môn Toán được dạy trong trường Tiểu học đã đóng góp một phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
Môn Toán được dạy ở trường Tiểu học là môn học thống nhất, không chia thành phân môn Nội dung của nó bao gồm các mạch kiến thức là: Số học, Đại lượng và đo đại lương, Các yếu tố hình học, Yếu tố thống kê, Giải toán có lời văn Trong chương trình dạy học toán các mạch kiến thức này được sắp xếp xen
kẽ nhau, quan hệ gắn bó với nhau làm cho môn Toán trở thành môn học có tính tích hợp cao, phù hợp với nhận thức của học sinh Tiểu học
Các bài toán có lời văn dành cho học sinh Tiểu học trong chương trình là những vấn để trong thực tế cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng khác nhau của cùng một phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) đến những dạng toán kết hợp của hai hay nhiều phép tính Vì vậy, giải các bài toán có lời văn là dịp
để học sinh vận dụng một cách tổng hợp các tri thức và kĩ năng giải toán với kiến thức cuộc sống
Việc dạy giải toán là một trong những vấn đề được coi trọng vì nó được xem là hoạt động nhằm mục đích: Củng cố, vận dụng những kiến thức tổng hợp thành kĩ năng, kĩ xảo và phát triển tư duy cho học sinh Các em được làm quen với giải toán có lời văn ngay từ lớp 1 nhưng mới ở dạng toán đơn Trong chương trình giải toán ở lớp 3 các em được học giải bài toán bằng hai phép tính bao gồm nhiều kiến thức tổng hợp Đây là nền tảng cho các em giải các bài toán yêu cầu cao hơn có từ hai lời giải trở lên Để làm tốt loại toán này đòi hỏi các em khả năng tư duy “Phân tích – tổng hợp” Nếu học sinh không hiểu được đề bài sẽ không giải được bài toán Trong thực tế lớp tôi chủ nhiệm vẫn còn nhiều học sinh lúng túng trong quá trình giải toán có lời văn Tôi nhận thấy trong các kiến thức Toán ở chương trình thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là khó nhất với học sinh dân tộc thiểu số Bởi vì, đối tượng học sinh dân tộc thiểu số vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế nên khi giải toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác Với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lí giải tại sao các em lại có được phép tính như vậy? Các em thật sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt chưa rõ ràng,…
Là giáo viên giảng dạy ở lớp 3, tôi thấy năng lực giải toán có lời văn của học sinh dân tộc thiểu số còn bị hạn chế bởi một số nguyên nhân chính như sau:
Do các em ngại và chưa có thói quen đọc kĩ đề bài, phân tích các yếu tố ngôn ngữ để nắm được nội dung bài toán
Trang 3Do kiến thức thực tế còn quá ít ỏi, nên nhiều học sinh dân tộc thiểu số không nhận thấy những điều vô lí trong những kết quả sai của mình
Do khả năng tư duy lôgic chưa tốt, đôi khi do không biết bắt đầu từ đâu, nên con đường đến đáp số nhiều khi chỉ là một sự ước đoán, mò mẫm
Một phần nữa là do tính vội vàng, hấp tấp, muốn khám phá nhanh đáp số bài toán Việc giúp học sinh dân tộc thiểu số khắc phục những hạn chế và những nguyên nhân nêu trên khi học toán có lời văn là một trong những vấn đề cần được coi trọng nhằm củng cố và vận dụng những khái niệm, kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành Phát triển tư duy lôgic của học sinh
Để góp phần nâng cao chất lượng học Toán và rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3, xuất phát từ trong quá trình giảng dạy
và giáo dục học sinh với ý thức lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp, bản thân tôi luôn suy nghĩ và trăn trở, không ngừng tích lũy kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dạy học giải toán cho học sinh lớp 3 Đó chính là lí do tôi chọn đề tài
“Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở trường TH Võ Thị Sáu”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu đề tài giúp học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số nắm được quy trình giải toán có lời văn, biết phân tích đề bài, biết cách giải, tìm ra đáp số đúng của bài toán có lời văn nhằm nâng cao kĩ năng giải toán cho học sinh để các em có thể nắm chắc, giải thành thạo những bài toán có lời văn ở lớp 3 góp phần dạy học mạch toán có lời văn nói riêng và dạy học toán nói chung đạt chất lượng cao
Nhiệm vụ của đề tài là điều tra cơ bản có số liệu cụ thể về số học sinh giải toán có lời văn còn khó khăn Lập kế hoạch, biện pháp phù hợp để giúp học sinh
có kĩ năng giải toán tốt hơn và bồi dưỡng nâng cao cho học sinh năng khiếu Kiểm tra kết quả đạt được trong từng tháng của học sinh để có kế hoạch giúp đỡ, uốn nắn kịp thời Học hỏi đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu đúc rút kinh nghiệm qua giảng dạy để nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân
3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3
4 Giới hạn của đề tài
Học sinh dân tộc thiểu số lớp 3B trong trường Tiểu học Võ Thị Sáu năm học 20xx – 20xx
Nội dung môn Toán bao gồm 5 mạch kiến thức lớn, tôi đi sâu vào nghiên cứu phần: “Giải toán có lời văn” Các bài toán trong chương trình lớp 3
5 Phương pháp nghiên cứu
a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 4Đọc tài liệu: Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Tiểu học chu kì III (2003 – 2007); tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 3; sách giáo viên; sách giáo khoa Toán
Phương pháp tổng hợp
b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp trực quan
Phương pháp thực hành luyện tập
Phương pháp gợi mở - vấn đáp
Phương pháp điều tra, thống kê
Phương pháp giảng giải - minh họa
Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng
Phương pháp quan sát (thăm lớp, dự giờ)
Phương pháp thử nghiệm (tổ chức hội vui học tập)
Phương pháp mô hình hóa kết quả thu được (biểu bảng)
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
Căn cứ vào chương trình Giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Căn cứ vào chương trình chuẩn hiện nay do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
và chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt đối với môn Toán lớp 3 Căn cứ vào nhiệm
vụ năm học 2016 – 2017, thực hiện chỉ đạo của PGD&ĐT Krông Ana Trong chương trình Giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Toán cùng với các môn học khác trong trường Tiểu học có những vai trò góp phần quan trọng đào tạo nên những con người phát triển toàn diện Toán học là môn khoa học tự nhiên có tính lôgic
và tính chính xác cao, nó là chìa khóa mở ra sự phát triển của các bộ môn khoa học khác Trong đó mạch kiến thức giải toán có lời văn là dạng toán dùng ngôn ngữ đưa ra các dữ kiện và những yếu tố cần tìm trong một văn cảnh, ta vẫn hay
quen gọi là bài toán đố Bài toán có lời văn bao gồm nhiều loại toán khác nhau:
toán đơn, toán hợp, toán điển hình Ngay từ lớp 1 các em đã làm quen với cách giải bài toán có lời văn, tuy nhiên ở dạng rất đơn giản Đó là những bài toán đơn
về “thêm”, “bớt”, “nhiều hơn”, “ít hơn” Lên lớp 3 các em bắt đầu làm quen và giải các bài toán hợp Cho nên giải toán ở lớp 3 là nền tảng quan trong cho các
em học giải toán ở lớp 4, 5
Giải toán có lời văn là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn Toán ở bậc Tiểu học Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học, các đại lượng cơ bản và các yếu tố hình học có trong chương trình Toán 3 Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm sau:
Trang 5Các khái niệm và các quy tắc về Toán trong sách giáo khoa nói chung đều
được giảng dạy thông qua giải toán Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận
dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán Đồng thời qua việc giải toán của
học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót
của các em về kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em phát huy hoặc khắc
phục
Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện
thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với thực tế sẽ hình
thành, rèn luyện những kĩ năng cần thiết trong đời sống hàng ngày, giúp các em
biết vận dụng vào thực tiễn
Việc giải toán góp phần quan trọng vào rèn luyện cho học sinh năng lực tư
duy và những đức tính tốt của con người lao động mới Khi giải một bài toán, tư
duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cần phân biệt cái gì
đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện giữa cái đã
cho và cái phải tìm Suy luận, nêu nên những phán đoán, rút ra những kết luận,
thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết vấn đề đặt ra, Hoạt động trí
tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý trí vượt khó khăn,
đức tính cẩn thận, chu đáo làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ,
thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng
tạo,
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Trường thuộc địa bàn của xã có nhiều khó khăn, học sinh dân tộc thiểu số
của lớp tôi chiếm 100% trong đó đa số các em tiếp thu kiến thức còn nhiều hạn
chế; kĩ năng nghe, nói, đọc, viết rất chậm Học sinh dân tộc thiểu số khó nhớ,
mau quên, nhiều em chưa nắm được các dạng toán, các phép tính cộng, trừ,
nhân, chia thực hiện rất chậm Đặc biệt về giải toán có lời văn đa số các em còn
yếu, nhất là viết câu lời giải rất lúng túng dẫn đến chất lượng giải toán có lời văn
của các em rất thấp, điều đó đã ảnh hưởng đến kết quả chung của môn Toán, cụ
thể:
Khảo sát chất lượng đầu năm học 20xx– 20xx về kĩ năng giải toán của 31
học sinh lớp 3B và thu được kết quả như sau:
cách giải
Bên cạnh đó cha mẹ các em phần lớn nằm trong diện lao động nghèo,
hoàn cảnh khó khăn và diện xóa đói giảm nghèo lại nhiều Vì thế, cha mẹ chưa
hoặc không quan tâm, chăm lo đến việc học hành cho con em mình Cá biệt còn
có trường hợp học sinh theo cha mẹ đi làm lò gạch, đi nhặt điều, đi mót cà
phê,… làm gián đoạn việc học tập của các em, gây ảnh hưởng đến độ liên tục
của bài học trong chương trình, các em không tiếp thu được bài, hổng kiến thức
Đã khiến cho nhiều học sinh không tích cực trong các hoạt động học tập Nhiều
Trang 6cha mẹ học sinh không hoặc chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con
em mình, chưa tạo điều kiện tốt để các em đến lớp cũng như nhắc nhở các em học bài, đọc bài ở nhà
Một số học sinh chưa thực sự hiếu học, hay quên đồ dùng học tập, chưa chuẩn bị bài đầy đủ trước khi đến lớp Nhất là với môn Toán, số lượng học sinh khó khăn còn nhiều, chất lượng học tập chưa cao, có những học sinh không hiểu được đề bài toán dẫn đến giải bài toán sai, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán, không chịu phân tích đề toán khi đọc đề,… Các em học sinh khó khăn vừa nhận biết mặt chữ vừa đánh vần để tìm hiểu bài toán, chưa xác định được yêu cầu và chưa nắm được cách giải bài toán có lời văn Một số học sinh chưa theo kịp yêu cầu kiến thức, kĩ năng của môn học Các em chưa hiểu hết tầm quan trọng của việc giải các bài toán, mà các em chỉ chú ý đến việc làm cho xong bài tập Chưa nắm được nội dung của bài toán, chưa tích cực, chủ động phân tích, tìm hiểu đề bài, tóm tắt bài toán,… Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm, dẫn đến kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh dân tộc thiểu số còn yếu Do đó, giáo viên khó khăn, vất vả và mất nhiều thời gian để nghiên cứu phương pháp dạy học cũng như biện pháp rèn cho học sinh Đồ dùng dạy học môn Toán còn hạn chế Giáo viên mất nhiều thời gian đầu tư vào đồ dùng dạy học tự làm
Khi các em học giải các bài toán có lời văn hay gặp nhiều lúng túng, có khi bị “bế tắc” không tìm ra cách giải Các em chỉ quen giải những bài toán đơn
và bài toán mà dữ kiện cho biết cụ thể Khi gặp bài toán mà dữ kiện bị che dấu bởi một yếu tố ngôn ngữ nào đó là các em gặp nhiều khó khăn Khả năng suy luận của các em còn nhiều hạn chế Các em hay lo lắng khi gặp bài toán có lời văn với quan điểm bài toán có lời văn là bài toán khó Cụ thể về học sinh giải toán có lời văn chưa tốt là do:
Các em hấp tấp, vội vàng, không đọc kĩ đề bài chưa nắm vững các dữ kiện bài cho, dạng bài đã làm
Học sinh chưa biết cách phân tích đề, tóm tắt bài toán dẫn đến chưa biết cách giải bài toán
Học sinh biết cách giải nhưng kĩ năng tính toán kém dẫn đến kết quả sai Các em chưa hiểu rõ bản chất bài toán dẫn đến lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính và đặt lời giải sai
Có học sinh không nắm vững các dạng toán dẫn đến sợ học toán có lời văn với quan niệm là khó
Một số em còn hạn chế về cách diễn đạt, hiểu ý nhưng không diễn đạt được
Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3 nhằm kế thừa giải toán có lời văn ở lớp 1, 2 mở rộng, phát triển nội dung giải toán phù hợp với sự phát triển nhận
Trang 7thức của học sinh lớp 3 Thời lượng dành cho bài toán giải có lời văn chiếm tương đối nhiều trong tổng quỹ thời gian dành cho môn toán
Trong giải toán có lời văn ở Tiểu học nói chung và giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 nói riêng, học sinh phải tư duy một các linh hoạt, áp dụng được tất cả các kiến thức, kĩ năng đã có vào giải toán, vào các tình huống khác nhau Trong nhiều trường hợp các em phải biết vận dụng những dữ kiện, điều kiện chưa được nêu ra một các rõ ràng Học sinh phải tự linh động trong giải toán, phát huy tích cực, chủ động khi làm bài Vì vậy, mạch kiến thức giải toán
có lời văn đóng vai trò quan trọng trong nội dung chương trình Toán 3
Chính vì thế nhiều khi hướng dẫn các em tìm lời giải vất vả hơn so với dạy các em thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số của bài toán Việc đặt lời giải trở nên khó khăn với học sinh vì các em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi khi giáo viên nêu “Bài toán cho biết gì?” Đến khi giải thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải,… Học sinh còn hạn chế về kĩ năng giải toán có lời văn như: Chưa đọc kĩ đề bài hoặc đọc nhưng không hiểu đề bài toán, chưa biết tóm tắt bài toán, không biết lựa chọn phép tính để giải, viết lời giải sai, viết phép tính và tính sai kết quả, chưa viết đúng đơn vị của bài toán,…
Từ thực trạng trên, để việc dạy học sinh dân tộc thiểu số giải toán có lời văn đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giải toán có lời văn thì trước hết phải dạy cho các em nắm được phương pháp cơ bản để giải một bài toán: Học sinh đọc kĩ đề bài, phân tích bài toán, tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng Học sinh nắm chắc được các dạng toán cơ bản hay những dạng toán
“gốc” ở lớp 3 đầu học kì I như: Tìm một trong các phần bằng nhau của một số, Gấp một số lên nhiều lần, Giảm đi một số lần,… Học sinh biết trình bày bài giải theo thứ tự: Lời giải – phép tính – đáp số
Từ đó học sinh biết giải và trình bày bài giải các dạng toán giải bằng hai phép tính: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị Bài toán giải bằng hai phép tính liên quan đến hình học,…
Khi học sinh bắt đầu học về giải bài toán bằng hai phép tính giáo viên phải khắc sâu nội dung bài toán để học sinh biết khi nào thì giải bài toán bằng một phép tính, khi nào giải bài toán bằng hai phép tính
Bên cạnh đó giáo viên phải kịp thời và kiên trì giúp học sinh nắm được các dạng toán, phải sửa chữa sai lầm của học sinh một cách chu đáo Giáo viên luôn thay đổi các hình thức luyện tập giải toán để gây hứng thú học tập cho học sinh Tìm ra biện pháp giúp học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng cơ bản của các dạng toán giải có lời văn ở lớp 3
3 Nội dung và hình thức của giải pháp
3.1 Mục tiêu của giải pháp
Trang 8Mục đích nhằm nâng cao chất lượng học toán cho học sinh nói chung và rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh tộc dộc thiểu số lớp 3 nói riêng giúp các em nắm chức và giải tốt bài toán có lời văn, giúp giáo viên cùng học sinh đáp ứng được mục tiêu giảng dạy và học tập hiện nay, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh học tốt môn toán ở các lớp trên
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
Biện pháp 1: Xây dựng nề nếp lớp học
Song song với việc điều tra, phân loại đối tượng học sinh, lập kế hoạch phấn đấu bồi dưỡng cho các em, tôi tiến hành xây dựng nề nếp học tập cho học sinh Sắp xếp chỗ ngồi cho hợp lí, phù hợp với từng em
Hướng dẫn học sinh cách học nhóm có hiệu quả, phân công các nhóm kèm cặp lẫn nhau, học sinh năng khiếu giúp học sinh khó khăn, tạo thói quen trao đổi học tập cùng nhau
Xây dựng quy ước giữa cô và trò, yêu cầu học sinh thực hiện nghiêm túc (giờ nào việc ấy) Học sinh tự giác nghe giảng, học bài và làm bài đầy đủ
Biện pháp 2: Quy trình giải toán có lời văn
Nghiên cứu kĩ đầu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận đề toán, suy nghĩ về ý nghĩa bài toán, nội dung bài toán, đặc biệt chú ý đến câu hỏi bài toán Không nên vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề toán
Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và diễn đạt nội dung bài toán bằng ngôn ngữ, tóm tắt điều kiện bài toán hoặc minh họa bằng sơ đồ hình vẽ
Lập kế hoạch giải toán: học sinh phải suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi của bài toán phải thực hiện phép tính gì? Suy nghĩ xem từ số đã cho và điều kiện của bài toán có thể biết gì? Có thể làm tính gì? Phép tính đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không? Trên các cơ sở đó, suy nghĩ để thiết lập trình tự giải toán
Thực hiện phép tính theo trình tự đã thiết lập để tìm đáp số Mỗi khi thực hiện phép tính cần kiểm tra đã tính đúng chưa? Phép tính được thực hiện có dựa trên cơ sở đúng đắn không?
Giải xong bài toán, khi cần thiết, cần thử xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài toán không?
Biện pháp 3: Hướng dẫn các bước giải toán
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán
Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khoá quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn
từ thông thường như: “gấp đôi”, “
3
1 , 4
1
”, “tất cả”…
Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì tôi hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm,
Trang 9sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đặt câu hỏi đàm thoại: “Bài toán
cho gì? Bài toán hỏi gì?” và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán,…
Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương pháp giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh họa để các em tìm hiểu, nhận xét nội dung, yêu cầu của đề toán Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài toán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập
Bước 2: Tìm cách giải bài toán
* Chọn phép tính giải thích hợp
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái
phải tìm, cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “phép chia” nếu
bài toán yêu cầu “tìm
3
1
,
4
1
” Chọn “tính trừ” nếu “bớt” hoặc “tìm phần còn lại” hay là “lấy ra” Chọn “phép nhân” nếu “gấp đôi, gấp ba” …
Ví dụ: Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài 1215m, đội đã sửa được
3
1
quãng đường Hỏi đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường
nữa? (Bài 2/ SGK- 119)
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái
đã cho và cái phải tìm Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ý như:
+ Bài toán cho biết gì? (Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài 1215m.)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (đã sửa được
3
1
quãng đường.)
+ Bài toán hỏi gì? (Đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường nữa?)
+ Muốn biết đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường nữa
trước hết phải tìm gì trước? Nêu cách tìm? (Tìm số mét đường đã sửa: 1215 : 3)
+ Sau khi tìm được số mét đường đã sửa ta tiếp tục tìm gì? (Tìm số mét đường còn phải sửa)
+ Nêu cách tìm? (Lấy tổng số mét đường phải sửa trừ đi số đã sửa)
* Đặt câu lời giải thích hợp
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô cùng quan trọng và khó nhất đối với học sinh khó khăn trong học tập Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn lớn đối với người dạy Tùy từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cách
Trang 10sau: