1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài mẫu sáng kiến kinh nghiệm giải toán có lời văn lớp 3

9 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài mẫu sáng kiến kinh nghiệm giải toán có lời văn lớp 3
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Tiểu học XYZ
Chuyên ngành Môn Toán
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 453,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHOØNG GIAÙO DUÏC & ÑAØO TAÏO TP 1/18 A PHẦN MỞ ĐẦU I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Bước vào thế kỷ XXI cả loài người đang sẵn sàng cho một tương lai mới, một nền văn minh tin học, một xã hội xây dựng trên nền[.]

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Bước vào thế kỷ XXI cả loài người đang sẵn sàng cho một tương lai mới, một

nền văn minh tin học, một xã hội xây dựng trên nền tảng tri thức, quyền lợi thuộc

về trí tuệ Nói tới tương lai của chúng ta không thể không nói đến giáo dục vì đó

là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai

Đất nước ta đã và đang bước vào thời kỳ đổi mới, chất lượng giáo dục là vấn

đề hàng đầu trong nội dung công tác của ngành giáo dục, là vấn đề sống còn của

một đất nước, một dân tộc

Ở nhà trường Tiểu học, mỗi môn học đều góp phần vào việc hình thành, vào

việc phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt

Nam

Trong các môn học ở Tiểu học, môn Toán có vị trí cực kỳ quan trọng vì những

lí do sau:

- Các kiến thức và kĩ năng của môn Toán, có nhiều ứng dụng trong đời sống sinh

hoạt của mọi người dân lao động

- Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hình dạng

không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức

một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời

sống

- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp tư duy,

phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề góp phần phát triển trí

thông minh, độc lập, sáng tạo, góp phần vào việc hình thành các phẩm chất của

người lao động mới

Việc dạy giải toán ở Tiểu học là một trong những nội dung trong chương trình

môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh tiếp thu và vận dụng những kiến thức

về Toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện một

cách đa dạng phong phú Dạy học Toán giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và

phát triển năng lực tư duy và có đủ tư cách, phẩm chất của con người mới

Trong thực tế, chất lượng của bộ môn Toán nói chung và đặc biệt môn Toán

lớp 3 nói riêng đã có nhiều kết quả khả quan song chưa thực sự đáp ứng được với

nhiệm vụ và yêu cầu môn học đề ra Cụ thể là chất lượng môn Toán lớp 3 - trường

Tiểu học chưa thực sự tương xứng với vị trí của môn Toán lớp 3 trong chương

trình học Đặc biệt là kỹ năng giải toán của học sinh lớp 3 chính là vấn đề cần

quan tâm Trước thực tế như vậy tôi luôn suy nghĩ: Làm thế nào để giúp học sinh

nắm vững kiến thức và vận dụng vào trong giải toán, góp phần nâng cao chất

lượng học môn Toán của học sinh lớp 3, giúp các em có kỹ năng giải toán với tinh

thần tự giác và hứng thú học tập

Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toán

được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc,

Trang 2

có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán có lời

văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố lời văn đã che đậy

bản chất toán học của bài toán Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ ra được

các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và tìm được

những lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán

Là một giáo viên trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy ở khối lớp 3, qua kinh

nghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi đã

rút ra được: “Một vài biện pháp giúp học sinh giải tốt bài toán có lời văn lớp

3” để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung và đối

với học sinh lớp 3 nói riêng

Trong quá trình nghiên cứu sẽ không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự

góp ý, nhận xét của Hội đồng khoa học, của các đồng nghiệp

II ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu và đưa ra các biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm giúp cho học

sinh giải tốt bài toán có lời văn lớp 3 ở trường Tiểu học

III PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA ĐỀ TÀI:

Phạm vi áp dụng của đề tài là những biện pháp giúp học sinh giải tốt bài

toán có lời văn lớp 3 ở tiểu học

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở

TRƯỜNG TIỂU HỌC

1 Thực trạng chung của nhà trường:

* Thuận lợi:

- Nhà trường được sự quan tâm của chính quyền địa phương, của hội phụ huynh

học sinh

- Ban giám hiệu nhà trường nhiệt tình, sáng tạo luôn chỉ đạo sát sao việc dạy học

của giáo viên và học sinh

- Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ

- Về học sinh: nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập

* Khó khăn:

- Nhiều phụ huynh học sinh không có nghề nghiệp kinh tế ổn định, đời sống kinh

tế còn nhiều khó khăn Chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập

cũng như chất lượng học tập của các em

- Nhiều gia đình đi làm ăn xa, gửi con cho ông bà chăm sóc do ông bà đã già yếu

nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu

- Do tâm lý chung của học sinh Tiểu học còn ham chơi nên nếu không có sự quan

tâm của gia đình, nhà trường việc học hành của các em thì khó có hiệu quả cao

- Về đội ngũ giáo viên: Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình giảng dạy song

còn gặp nhiều khó khăn do trình độ giáo viên còn chưa đồng đều

2 Thực trạng của lớp:

Năm học năm học 2019-2020, tôi được phân công chủ nhiệm giảng dạy lớp 3

100% học sinh đều đi học đúng độ tuổi, có sức khoẻ tốt, các em đều có nề nếp, ý

thức học tập Các em biết vâng lời kính trọng thầy cô giáo, yêu lao động, tham gia

đầy đủ các hoạt động ngoài giờ lên lớp và các phong trào thi đua Các em đều là

những học sinh được tiếp cận với chương trình Tiểu học mới nên có nhiều thuận

lợi cho giáo viên trong quá trình giảng dạy

Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy:

+ Việc tóm tắt, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với một số học sinh

trung bình và yếu của lớp 3 Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên

các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp…

+ Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều –

phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lời

không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán

Trang 4

+ Tuy môn Toán đạt gần 100% từ trung bình trở lên, song số điểm giỏi chưa

nhiều, điểm đạt yêu cầu chủ yếu ở phần giải toán đơn, học sinh mắc lỗi nhiều ở

phần giải toán trong luyện tập và kiểm tra, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng môn

Toán

3 Nguyên nhân:

Qua thực tế khảo sát tôi nhận thấy:

- Nhiều học sinh chưa nghiên cứu kĩ đề toán, nhiều học sinh vốn tiếng Việt còn

hạn chế, nên việc xác lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán còn gặp

nhiều khó khăn

- Một số học sinh chưa nắm chắc hệ thống các bài toán đơn đã được học, dẫn đến

còn lúng túng trong việc phát hiện mối quan hệ logic giữa các bài toán này

- Học sinh còn thiếu tự tin trong việc tìm cách giải, còn bị hạn chế trong việc lựa

chọn các phép giải

- Các em chưa chú ý đến khâu kiểm tra, thường coi rằng bài toán đã giải xong khi

tính ra đáp số của bài

- Trong quá trình giảng dạy môn toán, giáo viên còn coi nhẹ một số bước trong

quá trình giải toán như: Tìm hiểu đề toán, kiểm tra cách giải toán, nên nhiều học

sinh mắc những lỗi không đáng có Giáo viên chưa quan tâm đến việc rèn kĩ năng

giải toán cho học sinh

Đây là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải toán

của học sinh Khắc phục được những nguyên nhân trên có ý nghĩa hết sức quan

trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học, nhằm thực hiện mục tiêu

đào tạo con người mới, năng động, tự chủ, sáng tạo

Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có

hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã

mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy như sau:

II MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT DẠNG BÀI GIẢI

TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 3:

1 Trao đổi với phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục

1.1 Mục tiêu

Chúng ta đều biết học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng đến

trường còn phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô

Phần nhiều các em chưa chủ động trong việc học tập Chính vì vậy giáo dục ý

thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọng giúp

các em học tốt hơn

1.2 Cách tiến hành

Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của nhiều

em chưa cao Để thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” của ngành giáo dục và

giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục con cái, tôi đã

Trang 5

yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng –

cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, đặc biệt nhất là đối với các ông bố vào buổi

tối cố gắng bớt đi một chút thời gian chuyện trò với bạn bè, tắt (vặn nhỏ đài, ti vi)

dành thời gian nhắc nhở, quan tâm cho các em học tập… Rất mừng là đa số phụ

huynh đều nhiệt liệt hoan nghênh biện pháp trên vì lâu nay các phụ huynh còn

đang vướng mắc nhiều về cách dạy học cho các em Riêng trong phần bài tập của

sách Toán, tôi hướng dẫn phụ huynh cách dạy các em luyện nêu miệng các đề

toán, luyện nói và trả lời nhiều…

Tuy nhiên, cuộc họp phụ huynh lần này vẫn còn một số gia đình vắng mặt do

có việc đột xuất, do chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc học và do điều

kiện gia đình còn nhiều khó khăn nên phó mặc việc học của con cái cho giáo viên,

cho nhà trường Đối với những phụ huynh vắng mặt này, tôi tìm cách gặp gỡ, trao

đổi tại nhà Trong số đó có gia đình trao đổi họ lung túng không biết cách dạy con

như thế nào nữa mà chỉ biết nhắc nhở con: “Học bài đi” rồi con học gì, làm gì ở

bàn học bố mẹ cũng không hay Đối với những em này, tôi phải hướng dẫn nhiều

hơn ở lớp để về nhà các em tự học

2 Giúp HS phân biệt rõ các dạng toán và chuẩn bị cho việc giải toán

2.1 Mục tiêu

Hai loại toán ở lớp 3 nói riêng và ở Tiểu học nói chung là: Toán đơn và toán

hợp Mỗi loại toán này có vai trò quan trọng của nó Việc giải các bài toán hợp

thực chất là giải một hệ thống các bài toán đơn Có kĩ năng giải các bài toán đơn,

học sinh mới có cơ sở giải các bài toán hợp Do đó giáo viên cần giúp học sinh

hiểu rõ bản chất bài toán đơn để vận dụng giải các bài toán phức tạp sau này

2.2 Cách tiến hành

Ở lớp 3, cùng với việc học phép nhân, chia, học sinh sẽ giải các bài toán đơn

dùng phép nhân hoặc chia Trong các đầu bài toán bằng lời văn, học sinh thường

gặp những từ chìa khoá như: "Gấp lên, giảm đi bao nhiêu lần", "So sánh hơn, kém

bao nhiêu lần" Các từ này thường được gợi ra phép nhân, chia tương ứng Giáo

viên cần chú ý học sinh tránh lẫn lộn "Bao nhiêu lần" với "Bao nhiêu đơn vị" và

hiểu đúng khái niệm này Củng cố thói quen đọc và hiểu đúng đề bài để ngăn

ngừa tác dụng "Cảm ứng" của các từ "Chìa khoá" Giáo viên giúp học sinh nắm

vững ý nghĩa của phép nhân và phép chia đồng thời giúp học sinh hiểu đúng các

từ quan trọng trong đề toán

Ở lớp 3, các bài toán đơn "Tìm một trong các phần bằng nhau của một số" gắn

với phép chia Đối với học sinh lớp 3, tư duy còn thiên về cụ thể nên hai loại bài

toán "chia thành phần bằng nhau" và "chia theo nhóm" tuy đồng nhất về mặt ý

nghĩa toán học và đều giải bằng phép tính chia, nhưng lại là hai bài toán khác

nhau về mặt ý nghĩa cụ thể Tuy nhiên khi giải, giáo viên cần hướng dẫn học sinh

vượt qua sự khác biệt về mặt tâm lí để tập trung chú ý vào việc tìm ra và thực hiện

đúng phép tính thích hợp, còn việc tìm ra từ thích hợp (phép chia), còn việc tìm ra

từ thích hợp để "danh số" hoá số thương thì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sống

Trang 6

Mặt khác, đối với lớp 3, do tư duy của học sinh đã có những tiến bộ, song vốn

ngôn ngữ vẫn còn hạn chế, nên việc nâng cao dần dần các yêu cầu về kiến thức và

kĩ năng một cách vừa sức học sinh, các yêu cầu về trừu tượng hoá cần được chú ý,

nhất là diễn tả các điều kiện, việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng và tia số, thay dần các

hình vẽ tượng trưng, cần được coi như một công cụ phổ biến, tinh lược hoá những

từ ngữ của đề toán, giúp các em tiếp cận tốt hơn với nội dung đề bài toán Từ đó

dẫn đến định hướng cách giải toán

Khi học sinh nắm vững cách giải các bài toán đơn, có thể gợi cho học sinh khá,

giỏi dùng chữ thay dữ kiện (ở các bài có cấu trúc giống nhau), diễn đạt các cấu

trúc toán học, từ đó củng cố ý thức về việc sử dụng các công cụ, thủ thuật toán

học giống nhau khi giải chúng Việc sắp xếp các bài toán đơn mà khi giải học sinh

phải vận dụng các phép tính ngược sẽ giúp các em nâng cao và củng cố nhận thức

về mối quan hệ giữa các phép tính ngược

Việc sử dụng hình vẽ hay sơ đồ để minh hoạ các điều kiện của bài toán là có

ích với học sinh lớp 3 nói riêng, với học sinh Tiểu học nói chung Tuy nhiên cần

phải hiểu rõ tác dụng của chúng (là chỗ dựa cho suy luận) trong việc giải toán

Đối với các bài toán dễ hay đã nắm vững cách giải cần chú ý đến phát huy trí

tưởng tượng của học sinh, từng bước thay đổi chỗ dựa trực quan bằng hình ảnh

trong óc suy luận, vừa giúp học sinh mở rộng vốn hiểu biết vừa thúc đẩy quá trình

tư duy của học sinh

3 Giúp học sinh nắm được quá trình giải toán

3.1 Mục tiêu

Cái khó của việc giải bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ

được những yếu tố lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nói một

cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học

chứa đựng trong bài toán và tìm được những lời giải phép tính thích hợp để từ đó

tìm được đáp số của bài toán Do đó giáo viên cần giúp học sinh nắm vững được

quá trình giải toán

3.2 Cách tiến hành

Quá trình này thường được tiến hành theo các bước như sau :

- Tìm hiểu nội dung bài toán

- Tìm cách giải bài toán

- Thực hiện cách giải bài toán

- Kiểm tra, đánh giá kết quả

Thực tiễn việc học giải toán đã khẳng định, sự đúng đắn của các bước trong việc

giải toán nói trên Để làm cho học sinh có thói quen và kĩ năng áp dụng sơ đồ đó,

cần làm cho học sinh từng bước nắm được và thực hiện tốt trong quá trình giải

toán

3.2.1 Dạy học sinh tìm hiểu nội dung bài toán

Trang 7

Trước hết muốn tìm hiểu đầu bài, cần hiểu rõ cách diễn đạt bằng lời văn của bài

toán, các bài toán dưới dạng một bài văn viết, thường xen trộn 3 thứ ngôn ngữ:

Ngôn ngữ tự nhiên, thuật ngữ toán học và ngôn ngữ kí hiệu (chữ số, các dấu phép

tính, các dấu quan hệ và dấu ngoặc), nên việc hướng dẫn đọc và hiểu đầu bài toán

rất quan trọng, nó giúp các em sử dụng được ngôn ngữ kí hiệu đặc biệt, làm các

em hiểu được nghĩa của các thuật ngữ và kí hiệu sử dụng đúng

Để kiểm tra học sinh đọc và hiểu đầu bài toán, giáo viên nên yêu cầu học sinh

nhắc lại nội dung đầu bài, không phải học thuộc lòng mà bằng cách diễn tả bằng

ngôn ngữ của mình, tiến tới trước khi tìm cách giải cho học sinh, học sinh đã nhập

tâm đầu bài toán để tập trung suy nghĩ về nó

Mỗi bài toán đều có 3 yếu tố cơ bản: Dữ kiện là những cái đã cho đã biết trong

đầu bài, những ẩn số là những cái chưa biết và cần tìm (các ẩn số được diễn đạt

dưới dạng câu hỏi của bài toán) và những điều kiện là quan hệ giữa các dữ kiện và

ẩn số Hiểu rõ đầu bài là chỉ ra và phân biệt rành mạch 3 yếu tố đó, từng bước

thấy được chức năng của mỗi yếu tố trong việc giải bài toán

Ví dụ: Bài toán 4 ( SGK Toán 3 – trang 56)

Có ba thùng dầu, mỗi thùng chứa 125 lít, người ta đã lấy ra 185 lít dầu từ các

thùng đó Hỏi còn lại bao nhiêu lít dầu ?

Với bài toán trên học sinh cần xác định được:

Cái đã cho (dữ kiện) là số lít dầu ở mỗi thùng: 125 lít

Điều kiện: đã lấy ra từ các thùng dầu đó 185 lít dầu

Cái cần tìm (ẩn số): còn lại bao nhiêu lít dầu?

Trên cơ sở phân biệt rõ cái gì đã cho (dữ kiện), cái gì là điều kiện, cái cần tìm (ẩn

số) để tập trung suy nghĩ vào các yếu tố cơ bản này, cần giúp học sinh biết tóm tắt

đầu bài bằng cách ghi dữ kiện, điều kiện và câu hỏi của bài toán dưới dạng ngắn

gọn cô đọng nhất Tuyệt đại bộ phận các bài toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 3

nói riêng, đều có những điều kiện để minh hoạ bằng sơ đồ (đoạn thẳng, hình vẽ

tượng trưng) Vì vậy học sinh phải từng bước biết minh hoạ phần tóm tắt bằng sơ

đồ, nhất là sơ đồ đoạn thẳng hoặc minh hoạ trên trục số

Ví dụ: Bài toán 3 (SGK toán 3 trang 166 )

Một hình chữ nhật có chiều dài 12 cm, chiều rộng bằng 1/3 chiều dài Tính diện

tích hình đó

Sau khi đọc kĩ đề bài, xác định được dữ kiện, điều kiện và ẩn số của bài toán, học

sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:

Từ sơ đồ trên học sinh đã thể hiện đầu bài toán một cách ngắn gọn và cô đọng

nhất, đây là một yếu tố quan trọng giúp học sinh tìm tòi cách giải bài toán Giáo

viên tập cho học sinh có thói quen từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các yếu tố

cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện cần thiết

có liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các dữ kiện không tường minh, để diễn

đạt chúng một cách rõ ràng hơn

Trang 8

Quá trình tìm hiểu đầu bài và tìm tòi lời giải kết hợp với nhau một cách chặt chẽ

Nhiều trường hợp, khi tìm cách giải, học sinh gặp khó khăn phải trở lại tìm hiểu

đầu bài, tìm hiểu dữ kiện và điều kiện

3.2.2 Hướng dẫn học sinh tìm cách giải bài toán

Từ việc giải một bài toán đơn sang bài toán hợp, học sinh phải giải quyết một

nhiệm vụ khó khăn là phân tích bài toán hợp thành các bài toán đơn Trên tinh

thần dạy học phát triển, việc làm cho các em nắm được các phương pháp chung

và các thủ thuật cơ bản thường dùng để giải các bài toán đa dạng nhưng thường

gặp và có những mức độ phức tạp khác nhau là rất cần thiết Để giải quyết được

vấn đề này, giáo viên cần giúp học sinh biết dẫn về một bài toán đã biết cách

giải Khi giải một bài toán mới, học sinh biết dẫn nó về một bài toán mà các em

đã biết cách giải, hoặc có thể liên tưởng tới những hành động thực tiễn nào đó mà

các em đã thực hiện, để giải quyết một nhiệm vụ nào đó thì các em có thể có một

gợi ý về cách giải

Ví dụ 1: Bài toán 2 phần a ( SGK toán 3 trang 38 )

Một cửa hàng buổi sáng bán được 60 lít dầu, số lít dầu bán được trong buổi chiều

giảm đi 3 lần so với buổi sáng Hỏi buổi chiều cửa hàng đó bán được bao nhiêu lít

dầu ?

Khi giải bài toán này qua phân tích hai điều kiện của bài toán và tập trung chú ý

vào hai điều kiện, các em dẫn tới những bài toán đã học về: "Tìm một phần mấy

của một số" để tìm số lít dầu bán được vào buổi chiều (60 : 3 = 20 l.)

Ví dụ 2: Bài toán 2 (SGK toán 3 trang 88)

Người ta uốn một đoạn dây thép vừa đủ thành một hình vuông cạnh 10cm Tính

độ dài đoạn dây được

Đối với bài toán trên, các em cần phân tích các dữ kiện đã biết, kết hợp quan sát

giáo viên thao tác trực quan trên mô hình để nhận thấy độ dài đoạn dây chính là

chu vi hình vuông được tạo thành Từ đó các em biết dẫn về bài toán đã biết “Chu

vi hình vuông” để tìm được độ dài đoạn dây thép (10 x 4 = 40 cm)

Bên cạnh đó việc quan sát và dự đoán trong quá trình tìm ra lời giải cũng rất quan

trọng Quan sát các dữ kiện có vai trò quyết định trong việc tìm ra lời giải của bài

toán

Ngoài ra, trong sách giáo khoa toán 3, bên cạnh phần lớn các bài toán dành cho

học sinh trung bình, còn một số bài toán mà các dữ kiện thường nhiều hơn, phức

tạp hơn, nhiều khi không được đưa ra trực tiếp hoặc tường minh Việc tìm phương

pháp giải nhiều khi phụ thuộc vào việc tìm ra "điểm nút" để tập trung tháo gỡ ra,

việc lựa chọn con đường đúng đắn để tiếp cận nó Muốn vậy phải biến đổi bài

toán, với một số biến đổi thường được dùng ở Tiểu học

Ví dụ : Bài toán 3 (SGK toán 3 trang 88)

Trang 9

Mỗi viên gạch hình vuông có cạnh 20cm Tính chu vi hình chữ nhật ghép bời 3

viên gạch như thế

Đây là bài tập vận dụng của bài “Chu vi hình vuông” nên không ít học sinh máy

móc đã vận dụng quy tắc tính chu vi hình vuông vừa học để tìm chu vi một viên

gạch, sau đó lấy chu vi một viên gạch gấp lên 3 lần để ra chu vi hình chữ nhật Và

các em không hề nhận ra phương pháp giải của mình là sai lầm

Để giải quyết vấn đề này, theo tôi “nút thắt” cần tháo gỡ chính là giúp học sinh so

sánh tìm ra điểm khác nhau giữa chu vi hình chữ nhật được ghép từ 3 viên gạch

hình vuông và tổng chu vi của 3 viên gạch hình vuông Giáo viên cho học sinh chỉ

trên hình vẽ, và đồ lại bằng phấn màu để các em quan sát, so sánh để nhận thấy

tổng chu vi 3 viên gạch hơn chu vi hình chữ nhật cần tìm là 4 lần cạnh viên gạch

hình vuông Từ đó các em phát hiện ra điểm sai lầm trong cách giải nêu trên và

tìm ra con đường đúng để tìm tòi lời giải cho bài toán : Trước tiên cần xác định

chiều rộng (cạnh viên gạch hình vuông : 10cm) và tìm chiều dài ( 10 x 3 = 30 cm)

của hình chữ nhật, sau đó đưa về bài toán tìm chu vi hình chữ nhật để tìm ra đáp

Ngày đăng: 25/06/2023, 17:53

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w