1/23 MỤC LỤC A ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1 Lí do chọn đề tài 1 2 Mục đích nghiên cứu 2 3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2 4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3 5 Phạm vi nghiên cứu 3 6 Phương pháp nghiên cứu 3 B GIẢI QUYẾT V[.]
Trang 11/23
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ RÈN KĨ NĂNG 4
1.1.1 Căn cứ vào Mục tiêu giáo dục Tiểu học 4 1.1.2 Căn cứ vào vị trí, nhiệm vụ của dạy – học Kể chuyện 4 1.1.3 Căn cứ vào nội dung chương trình và yêu cầu cần đạt khi dạy -
1.1.4 Căn cứ vào đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học 6 1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 7
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN 10
2.1 Đối với Phòng GD&ĐT quận Thanh Xuân 16
Trang 22/23
A ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Cơ sở lí luận
Việc phát triển tiếng Việt và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt có thể nói là một công việc lớn đặt ra cho tất cả chúng ta Môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ hình thành và phát triển các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh mà môn Tiếng Việt còn góp phần cùng các môn học khác phát triển tư duy, hình thành cho các em nhu cầu thưởng thức cái đẹp, khả năng xúc cảm trước cái đẹp, trước buồn- vui - yêu- ghét của con người
Kể chuyện là một phân môn quan trọng trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học Thông qua các giờ học kể chuyện, các em có cơ hội phát triển ngôn ngữ,
mở rộng vốn văn học, phát huy trí tưởng tượng cũng như những ước mơ, hoài bão
về cuộc sống Kể chuyện rất lí thú, hấp dẫn được trải dài từ lớp 1 đến lớp 5 và thường được các em chờ đón và tiếp thu bằng một tâm trạng hào hứng Bởi nó đã thay đổi bầu không khí của lớp học giúp các em giải toả căng thẳng sau những tiết học khác, để các em có tâm lí tốt hơn cho các giờ học sau nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Phân môn Kể chuyện còn giáo dục cho các em tấm lòng yêu quê hương đất nước, yêu thế giới xung quanh, giáo dục lòng yêu cái tốt, cái đẹp, biết căm thù cái xấu, cái ác, có tấm lòng đầy vị tha, góp phần hình thành nhân cách con người của các em
Kể chuyện không chỉ là một phương tiện có hiệu quả mạnh mẽ trong việc giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ mà nó còn có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển ngôn ngữ cho HS Kể chuyện giúp HS rèn kĩ năng nói, phát triển ngôn ngữ mạch lạc Ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện vạn năng đặc sắc, trọn vẹn và
có hiệu quả cao trong giao tiếp
Kể chuyện có sức hấp dẫn, có vai trò quan trọng như vậy nhưng rất tiếc, thực tế hiện nay một số không ít giáo viên vẫn còn coi nhẹ, chưa dành thời gian xứng đáng cho tiết dạy kể chuyện Một số giáo viên cho rằng kể chuyện phụ thuộc nhiều vào năng khiếu Ai có năng khiếu, người đó sẽ dạy giỏi, trò giỏi Ai không
có năng khiếu thì có cố gắng đến mấy cũng không thể thành công Những nhận thức đó của giáo viên đã dẫn đến chất lượng giờ Kể chuyện còn hạn chế Bên cạnh
đó là nhận thức của học sinh về vai trò của việc kể chuyện trong cuộc sống còn ở mức độ nhỏ hẹp, chưa có sự quan tâm và dành thời gian đúng mức cho việc luyện tập kể chuyện Đó chính là lí do cho hiệu quả của giờ dạy học kể chuyện chưa cao cũng như kết quả việc rèn kĩ năng kể chuyện chohọc sinh chưa tốt
Trang 3Chính vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng học sinh môn Tiếng Việt lớp 5, việc giúp cho các em nâng cao kĩ năng kể chuyện là một việc làm không thể thiếu được đối với mỗi giáo viên đứng lớp
1.2 Cơ sở thực tiễn
Đối với học sinh:
Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt, qua thực tế khảo sát học sinh, tôi nhận thấy các em thích được nghe kể chuyện nhưng nhiều em có phần “ngại” kể chuyện trước lớp
Đối với giáo viên:
Bản thân giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về vai trò của việc dạy – học
Kể chuyện, chưa thực sự quan tâm và đầu tư cho việc dạy Kể chuyện và rèn kĩ năng kể chuyện của bản thân cũng như cho học sinh
Sau đây là bảng thống kê kết quả khảo sát kĩ năng kể chuyện của học sinh lớp 5A5 đầu năm học 2020-2021:
Số
học sinh
Kể chuyện sáng tạo Biết kể chuyện Chưa biết kể chuyện
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy tỉ lệ số học sinh kể chuyện hay, hấp dẫn chưa cao, tỉ lệ học sinh chưa biết kể chuyện còn quá nhiều Chính vì thế tôi đã trăn trở suy nghĩ làm thế nào để đưa chất lượng môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Kể chuyện cho học sinh nói riêng ngày càng đi lên
Với những lí do trên, hiểu rõ trách nhiệm của người giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi cần tiếp tục thực hiện tốt việc dạy và học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực cho học sinh; khuyến khích sự sáng tạo
của học sinh, đáp ứng yêu cầu của “đổi mới toàn diện” nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học Trong sáng kiến kinh nghiệm này, căn cứ vào những lí do trên, tôi đã
đi sâu nghiên cứu tìm hiểu: “Một số biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực” để giúp cho học sinh tìm hiểu
và tiếp thu một cách dễ dàng nhất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng dạy của đội ngũ giáo viên và chất lượng học của học sinh, từ đó đề xuất các biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5 trong nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5 trong nhà trường
Trang 43.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5 trong nhà trường
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5
Điều tra thực trạng việc rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5
Đề xuất một số giải pháp nhằm rèn kĩ năng
kể chuyện cho học sinh lớp 5 trong nhà trường
Thực nghiệm kiểm chứng các giải pháp đã đề xuất
5 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát học sinh lớp 5A5 trong nhà trường
Địa bàn nghiên cứu: Trường tiểu học nơi tôi công tác
Thời gian nghiên cứu: Tháng 8/2020 – Tháng 3/2021
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp các vấn đề dạy học Tiếng Việt nói chung để đề ra các biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5
6.2 Các phương pháp dạy học
Phương pháp hỏi đáp; Phương pháp nêu vấn đề; Phương pháp trực quan; Phương pháp thảo luận nhóm,
6.3 Các phương pháp nghiên cứu thực tế:
Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm Tiến hành xem xét thực trạng chất lượng dạy và học Kể chuyện lớp 5 của nhà trường trong thời gian từ tháng 8/2020 đến tháng 3/2021
6.4 Các phương pháp khác
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu và so sánh, phân tích các kết quả nghiên cứu
Trang 5B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ RÈN KĨ NĂNG KỂ
CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 5 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Căn cứ vào Mục tiêu giáo dục Tiểu học
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển những nhiệm vụ lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các
kĩ năng cơ bản cho học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở
1.1.2 Căn cứ vào vị trí, nhiệm vụ của dạy – học Kể chuyện
1.1.2.1 Vị trí
Cũng như các phân môn khác của môn Tiếng Việt, phân môn Kể chuyện có vị trí đặc biệt trong dạy học tiếng mẹ đẻ, vì hành động kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng Tiếng Việt như nghe, đọc, nói trong hoạt động giao tiếp
Khi nghe giáo viên kể chuyện, học sinh đã tiếp nhận tác phẩm văn học ở dạng lời nói có âm thanh Khi học sinh kể chuyện là các em đang tái sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói
Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được cả sức mạnh của văn học Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ Sự hiểu biết về cuộc sống, về con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ nghèo đi biết bao nhiêu nếu không có phân môn Kể chuyện trong trường học
1.1.2.2 Nhiệm vụ
Phân môn Kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe, được kể chuyện
ở trẻ em, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe – nói, đồng thời phát triển
tư duy và bồi
dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho học sinh
- Phân môn Kể chuyện phát triển các kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh
Trước hết, phân môn Kể chuyện phát triển kĩ năng nói cho học sinh Giờ kể chuyện rèn cho học sinh kĩ năng nói trước đám đông dưới dạng độc thoại thành đoạn bài theo phong cách nghệ thuật Đồng thời với nói, các kĩ năng nghe, đọc, kĩ năng ghi chép cũng được phát triển trong quá trình kể lại chuyện đã nghe, kể lại truyện đã đọc
- Phân môn Kể chuyện góp phần phát triển tư duy, đặc biệt là tư duy hình tượng và cảm xúc thẩm mĩ ở học sinh
Cùng với sự rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ, tư duy của học sinh cũng được phát triển Đặc biệt, sống trong thế giới các nhân vật, thâm nhập vào các tình tiết của truyện, tiếp xúc với nghệ thuật ngôn từ kể chuyện, tư duy hình tượng và cảm xúc thẩm mĩ của học sinh cũng được phát triển
- Phân môn Kể chuyện góp phần tích lũy vốn sống, vốn văn học cho học sinh
Giờ kể chuyện giúp học sinh tiếp xúc với tác phẩm văn học Suốt 5 năm ở bậc tiểu học, học sinh được nghe và tham gia kể rất nhiều câu chuyện với đủ thể loại
Đó là những tác phẩm có giá trị văn học cổ, văn học đương đại Việt Nam
Trang 6và thế giới Những câu chuyện này sẽ làm giàu vốn văn học của các em Đó cũng
là hành trang quý báu sẽ theo các em trong suốt cả cuộc đời
Giờ Kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khơi gợi trí tưởng tượng cho học sinh Thế giới muôn sắc màu mở rộng trước các em Theo từng câu chuyện, các
em sẽ tìm thấy ở trong truyện từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, từ những thân phận và biết bao hành động nghĩa hiệp của con người trong muôn vàn trường hợp khác nhau Truyện kể làm tăng vốn hiểu biết về thế giới và xã hội loài người từ xưa đến nay cho học sinh.Truyện kể còn chắp cánh cho trí tưởng tượng
và ước mơ của học sinh, thức đẩy sự sáng tạo ở các em
1.1.3 Căn cứ vào nội dung chương trình và yêu cầu cần đạt khi dạy - học phân môn Kể chuyện lớp 5
Nội dung chương trình: 1 tiết/tuần, cả năm gồm 35 tiết, trong đó có 31 tiết
kể chuyện và 4 tiết ôn tập
Như vậy chương trình kể chuyện lớp 5 có 31 tiết kể chuyện và được chia
ra thành 3 dạng bài:
a) Bài tập nghe – kể : gồm 10 câu chuyện Đó là các truyện:
+ Lý Tự Trọng
+ Tiếng Vĩ Cầm ở Mỹ Lai
+ Cây cỏ nước Nam
+ Pa-xtơ và em bé
+ Chiếc đồng hồ
+ Ông Nguyễn Khoa Đăng
+ Người đi săn và con nai
+ Vì muôn dân
+ Lớp trưởng lớp tôi
+ Nhà vô địch
- Nội dung cần đạt: Giáo viên kể - Học sinh nghe – học sinh kể lại
- Mục đích: Rèn kĩ năng nói và kĩ năng nghe
b) Bài tập kể chuyện đã nghe, đã đọc: gồm 11 tiết kể chuyện Đó là các đề bài:
+ Kể về các anh hùng, danh nhân của nước ta
+ Kể một câu chuyện ca ngợi hòa bình, chống chiến tranh
+ Kể một câu chuyện nói về quan hệ giữa con người với thiên nhiên
+ Kể một câu chuyện có nội dung bảo vệ môi trường
+ Kể một câu chuyện nói về những người đã góp sức mình chống lại đói nghèo, lạc hậu, vì hạnh phúc của nhân dân
+ Kể về những người biết sống đẹp, biết mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho những người xung quanh
+ Kể về những tấm gương sống, làm việc theo pháp luật, theo nếp sống văn minh
+ Kể về những tấm gương sống, làm việc theo pháp luật, theo nếp sống văn minh
+ Kể về những người đã góp sức mình bảo vệ trật tự, an ninh
Trang 7+ Kể về truyền thống hiếu học hoặc truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam
+ Kể về một nữ anh hùng hoặc một phụ nữ có tài
Trang 8+ Kể về gia đình, nhà trường và xã hội chăm sóc, giáo dục trẻ em hoặc trẻ
em thực hiện bổn phận với gia đình, nhà trường và xã hội
c) Bài tập kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia : gồm 10 tiết kể chuyện
Đó là các đề bài :
+ Kể việc làm tốt góp phần xây dựng quê hương đất nước
+ Kể một câu chuyện em đã chứng kiến hoặc một việc em đã làm thể hiện tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước
+ Kể một về một lần em được đi thăm cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở nơi khác
+ Kể một việc làm tốt của em hoặc của những người xung quanh để bảo vệ môi trường
+ Kể về một buổi sinh hoạt đầm ấm trong gia đình
1.1.4 Căn cứ vào đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh tiểu học
1.1.4.1 Tri giác
Các em thường tri giác những gì phù hợp với nhu cầu, những gì thường được gặp, được hướng dẫn Tri giác của các em còn gắn liền với cảm xúc Điều này cho thấy sự cần thiết hướng dẫn học sinh nghe và kể chuyện thường xuyên Những câu chuyện hay, lời kể hấp dẫn, sinh động được các em tri giác tốt hơn, học sinh sẽ hứng thú, yêu thích học Kể chuyện
1.1.4.2 Khả năng chú ý
Học sinh ở tiểu học chú ý có chủ định bắt đầu ổn định Các phẩm chất ý chí (độc lập, kiên trì, tự chủ) bắt đầu hình thành Học sinh có kĩ năng phân phối chú
ý và hướng chú ý vào nội dung cơ bản của bài học Chính đặc điểm này cho phép giáo viên rèn luyện học sinh thực hiện thành thục các thao tác, các kĩ năng nói, kĩ năng nghe trong dạy học kể chuyện Vì vậy, giáo viên có thể phức tạp hóa dần dần nhiệm vụ nhận thức cho học sinh
1.1.4.3 Trí nhớ
Ở giai đoạn này, trí nhớ của các em là trí nhớ không chủ định Nó vẫn hình thành và phát triển mạnh Nhưng ghi nhớ ý nghĩa đang bắt đầu chiếm ưu thế
Vì vậy, trong dạy học kể chuyện, giáo viên cần chủ động hình thành cho học sinh phương pháp ghi nhớ nội dung câu chuyện theo điểm tựa, nối liền điểm tựa tạo
ra dàn ý ghi nhớ nội dung câu chuyện hoặc phân chia nội dung câu chuyện thành các đoạn, đặt tên cho các đoạn hoặc đặt ra các câu hỏi về nhân vật, tình huống, cốt truyện để học sinh trả lời và ghi nhớ Ở tuổi này, trí nhớ từ ngữ logic phát triển hơn trí nhớ trực quan Cho nên, các em có thể ghi nhớ được nhiều câu chuyện tự tìm được bằng nhiều hình thức trong đó có hình thức nói thầm để ghi nhớ câu chuyện là chủ yếu
1.1.4.4 Tưởng tượng
Tưởng tượng của HS cuối bậc Tiểu học hoàn chỉnh hơn về kết cấu logic
Sự tạo ra các hình ảnh mới trong tưởng tượng bằng cách cụ thể hóa nhân vật, nhập vai vào nhân vật sẽ giúp các em khắc sâu nhân vật và nội dung câu
Trang 9chuyện từ đó bộc lộ tình cảm tự nhiên với nhân vật trong truyện, giúp cho việc kể sinh động hơn
1.1.4.5 Tư duy
Tư duy trừu tượng, khái quát hóa đang dần chiếm ưu thế Học sinh biết dựa vào các dấu hiệu bản chất của đối tượng để rút ra nội dung, ý nghĩa của câu chuyện
1.1.4.6 Ngôn ngữ
Lên tiểu học, hầu hết các em có ngôn ngữ nói thành thạo, ngôn ngữ viết đang hoàn thiện và bắt đầu hướng tới hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ
âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lí tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được thể hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ, ta có thể đánh giá sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ngôn ngữ của học sinh tiểu học đã dần ổn định giúp học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ tham gia vào các hoạt động, các nhiệm vụ học tập mà ít gặp khó khăn trong việc bày tỏ quan điểm, trình bày ý kiến của mình Đặc biệt, việc sử dụng hình thức đóng vai trong dạy học phân môn kể chuyện kiểu bài đã nghe đã đọc là cơ hội để các em phát triển ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ giao tiếp của HS
Tóm lại, với những đặc điểm về tâm lí của học sinh tiểu học, thì việc rèn
kĩ năng kể chuyện cho các em là phù hợp, có thể thực hiện để mang lại hiệu quả tốt, giúp các em hình thành được các kĩ năng tương ứng và có khả năng vận dụng vào trong chính cuộc sống của các em
1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Kĩ năng
Là khả năng vận dụng những kiến thức, hiểu biết của con người để thực hiện một việc gì đó, có thể là việc nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, chuyên môn hoặc việc liên quan cảm xúc, sinh tồn, giao tiếp,… Nói một cách dễ hiểu nhất, kỹ năng chính là khả năng/năng lực thực hiện thành thục một hoặc một số hành động của một người với mục đích là tạo ra kết quả như mong đợi
1.2.2 Kể chuyện
Kể là một động từ biểu thị hành động nói Từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên) giải thích: Kể là nói rõ đầu đuôi và nêu ví dụ: kể chuyện cổ tích Hoạt động kể chuyện là hình thức trình bày lại câu chuyện với một chuỗi các
Trang 1010/23
sự việc có đầu có cuối liên quan đến một hay một số nhân vật bằng lời kể một cách hấp dẫn, sáng tạo, giàu ngữ điệu và có sự phối hợp diễn xuất qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của người kể một cách tự nhiên nhằm truyền cảm đến người nghe
1.2.3 Định hướng phát triển năng lực
Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống
Định hướng phát triển năng lực là chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học: Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Kết luận chương 1
Việc rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 5 là nhiệm vụ quan trọng của mỗi giáo viên Việc rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh luôn là một việc làm cần thiết để giúp các em hình thành, phát triển và hoàn thiện về nhân cách
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG
KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 5 TRONG NHÀ TRƯỜNG 2.1 Thực trạng nhà trường
2.1.1 Thuận lợi
Ban giám hiệu luôn chỉ đạo sát sao kịp thời từng môn học ở tất cả các khối lớp Đặc biệt chú trọng công tác rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh cho học sinh
Đại đa số giáo viên nhà trường nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ tâm huyết với nghề dạy học, luôn coi trọng đổi mới phương pháp dạy học
Nhà trường đã mua thêm nhiều sách tham khảo, sách nâng cao phục vụ cho việc dạy học môn Tiếng Việt nói chung và rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh nói riêng
2.1.2 Khó khăn
Đối với giáo viên:
Trong đội ngũ giáo viên vẫn còn một số giáo viên chưa có nhận thức đúng đắn về vai trò của việc rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh theo định hướng phát triển năng lực, chưa đào sâu suy nghĩ bài dạy, nhiều giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy nhất là phần dạy – học kể chuyện nên khi giảng dạy còn gặp những khó khăn nhất định Đa số giáo viên chỉ kể chuyện học sinh và yêu
cầu học sinh kể lại được câu chuyện mà giáo viên đã kể Còn một số giáo viên chưa chú ý đến bồi dưỡng và tự bồi dưỡng kĩ năng kể chuyện cho chính mình