Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 9 tháng năm 2012 ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRUNG TÂM
TIN HỌC VÀ THỐNG KÊ
Số: 217 /TH-BC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2012
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 9 THÁNG NĂM 2012 NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
1 TÌNH HÌNH CHUNG
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm gặp một số khó khăn do ảnh hưởng của rét đậm rét hại kéo dài ở các tỉnh miền Bắc, giá cả các nguyên vật liệu dùng cho sản xuất tăng, giá bán sản phẩm chăn nuôi, thủy sản giảm mạnh vào quý III, Bên cạnh đó, sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản cũng có những thuận lợi cơ bản: dịch bệnh phát sinh nhưng không lan rộng như các năm trước, thị trường xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản khá ổn định; thời tiết thuận lợi cho khai thác và nuôi trồng thủy sản Vì vậy, kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước
Theo ước tính của Tổng cục Thống kê giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ
sản 9 tháng đầu năm (theo giá cố định 1994) ước đạt 173.722,14 tỷ đồng, tăng 3,69% so
cùng kỳ năm trước; trong đó nông nghiệp đạt 120.337,14 tỷ đồng tăng 2,94%, lâm nghiệp đạt 5.910 tỷ đồng tăng 6,24% và thuỷ sản đạt 47.475 tỷ đồng tăng 5,31%
Trồng trọt, tính đến 15/9, các tỉnh miền Bắc đã kết thúc gieo cấy lúa mùa; các tỉnh
miền Nam đã cơ bản thu hoạch xong lúa hè thu, tiếp tục gieo cấy lúa thu đông/mùa Theo đánh giá sơ bộ của các địa phương năng suất lùa hè thu trên diện tích thu hoạch tăng nhẹ
so với vụ trước Tính chung cả 3 vụ lúa trong năm 2012: Đông xuân, hè thu/thu đông và
mùa, tổng diện tích lúa cả năm đạt khoảng 7.746 nghìn ha, tăng 1,2% so với năm 2011; năng suất ước đạt 56 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha; sản lượng ước đạt 43,4 triệu tấn, tăng hơn 1
triệu tấn (+2,6%) so với năm trước
Chăn nuôi, so với cùng kỳ năm trước, chăn nuôi phát triển khá trong hai quý đầu
năm nhưng có xu hướng giảm trong quý III do gặp khó khăn về giá, dịch bệnh Trong đàn gia súc, ngoại trừ đàn bò sữa tăng, số đầu con và sản lượng thịt trâu, bò đều giảm so với cùng kỳ năm trước Đàn lợn và gia cầm đạt xấp xỉ so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, sản lượng thịt lợn và gia cầm hơi đều tăng lần lượt là 2,6% và 7% so với cùng kỳ năm trước
Lâm nghiệp, trong 9 tháng đầu năm, hoạt động trồng rừng mới trên cả nước tiến
hành chậm và giảm so với cùng kỳ năm trước do thời tiết không thuận lợi và hạn chế về tài chính Tính đến ngày 20/9, diện tích rừng trồng mới đạt 121,7 ngàn ha, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên các chỉ tiêu lâm sinh khác đều tăng hoặc tương đương
Trang 2so với cùng kỳ năm trước: Diện tích rừng trồng được chăm sóc tăng 27,3%; Diện tích
rừng được giao khoán bảo vệ tăng 9,1%; Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh xấp xỉ
so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng gỗ khai thác tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước
Thủy sản, tổng sản lượng thuỷ sản 9 tháng đầu năm ước đạt 4.313 ngàn tấn, tăng
6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó sản lượng khai thác ước đạt 1.995 ngàn tấn, tăng
4% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.318 ngàn tấn, tăng 7% so
với cùng kỳ năm trước
Kết quả một số chỉ tiêu chính đạt được như sau:
Một số chỉ tiêu Đơn vị tính
Thực hiện % so với
C.kỳ
2011 15/09/11 15/09/12
1 Thu hoạch lúa hè thu miền Nam 1000 ha 1860,8 1931,7 103,8
2 Gieo trồng lúa thu đông ở vùng ĐBSCL " 568,0 573,3 100,9
3 Gieo cấy lúa mùa cả nước 1000 ha 1662,3 1517,2 91,3
Chia ra: - Miền Bắc " 1137,2 1135,3 99,8
Trong đó: + Đồng bằng sông Hồng " 573,1 573,6 100,1
- Miền Nam " 525,2 450,3 85,7
Trong đó: + Đồng bằng sông Cửu Long " 203,5 166,5 81,8
4 Gieo trồng rau, màu, CCN ngắn ngày (*)
4.1 Gieo trồng cây lương thực, có củ 1000 ha 1724,1 1659,3 96,2
- Khoai lang " 139,1 133,1 95,7
4.2 Gieo trồng cây công nghiệp ngắn ngày 1000 ha 687,2 581,2 84,6
- Đậu tương " 175,3 122,3 69,8
- Mía " 191,3 169,6 88,7
- Thuốc lá " 20,3 21,4 105,8
4.3 Gieo trồng rau, đậu các loại 1000 ha 794,2 823,7 103,7
5 Diện tích trồng rừng tập trung “ 129,7 121,7 93,9
Trong đó: - Rừng phòng hộ, đặc dụng “ 14,2 11,2 78,8
7 Tổng kim ngạch xuất khẩu Tr.USD 18582 20483 110,2
- Lâm sản chính “ 3007 3585 119,2
Ghi chú: DTGC = Diện tích gieo cấy (*) Miền Bắc bao gồm cả cây vụ đông 2011/12
Trang 3Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 9 ước đạt 2,3 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản 9 tháng đầu năm ước đạt 20,4 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 11,1 tỷ USD,
so với cùng kỳ năm trước, tăng 6,2%; thuỷ sản ước đạt 4,5 tỷ USD, tăng 3,5% so cùng kỳ năm trước; lâm sản chính ước đạt 3,58 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản chính 9 tháng đầu năm có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, ngoại trừ mặt hàng gạo, cao su và hạt tiêu
2 KẾT QUẢ SẢN XUẤT NGÀNH
2.1 Trồng trọt, bảo vệ thực vật
2.1.1 Tình hình trồng trọt
Trong tháng các địa phương miền Bắc tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, bảo
vệ lúa và các cây rau, màu vụ mùa/hè thu; các địa phương miền Nam tập trung thu hoạch nhanh gọn lúa hè thu, tiếp tục gieo cấy lúa thu đông/mùa và gieo trồng rau, màu cây công nghiệp ngắn ngày vụ hè thu/mùa
- Lúa mùa: Đến 15/9, cả nước đã gieo cấy đạt 1.517,2 ngàn ha, bằng 91,3% so với cùng kì năm trước, trong đó các tỉnh miền Bắc đã kết thúc gieo cấy, đạt diện tích 1.135,3
ngàn ha, xấp xỉ bằng cùng kỳ năm trước; riêng các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng gieo cấy đạt 573,6 ngàn ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước Lúa mùa miền Bắc năm nay gieo cấy trong điều kiện thời vụ kéo dài nhờ năm âm lịch nhuận 2 tháng Tư, thời tiết thuận lợi, có mưa đều, được chăm bón hợp lý nên sinh trưởng và phát triển tương đối đều Hiện nay, phần lớn lúa mùa đã trỗ thoát và ngậm sữa, một số nơi trà lúa sớm đã bắt đầu cho thu hoạch, trà trung cho thu hoạch vào cuối tháng 9 sẽ tạo điều kiện giải phóng đất
sớm để mở rộng diện tích trồng cây vụ đông 2012/13 Các tỉnh miền Nam mới xuống
giống 450,3 ngàn ha lúa mùa, bằng khoảng 86% cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh ĐBSCL đạt 166,5 ngàn ha, bằng 82% so cùng kỳ với cùng kỳ năm trước Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết tại một số tỉnh vùng sâu thuộc địa bàn ĐBSCL không thuận lợi và phần lớn lao động tập trung thu hoạch nhanh gọn lúa hè thu và xuống giống lúa thu đông
- Lúa hè thu/thu đông: Tính đến trung tuần tháng 9, trên địa bàn các tỉnh miền
Nam đã thu hoạch được 1.931,6 ngàn ha lúa hè thu, chiếm 96,3% diện tích xuống giống, trong đó các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL thu hoạch 1.621,7 ngàn ha, nhanh hơn 1,6% so với cùng kỳ năm trước Tốc độ thu hoạch lúa hè thu ở vùng ĐBSCL khá nhanh một phần do cảnh báo lũ năm nay về sớm và nhiều địa phương bố trí tăng đáng kể diện tích lúa thu đông Cũng tính đến thời điểm trên, tổng diện tích xuống giống lúa thu đông tại một số tỉnh thuộc vùng ĐBSCL đạt 573,3 ngàn ha, tăng gần 1% so với cùng kỳ năm trước Một
số tỉnh có diện tích thu đông tăng nhiều so với năm trước, như: Kiên Giang tăng trên 20 ngàn ha, An Giang tăng 15 ngàn ha, Long An tăng gần 10 ngàn ha, trong khi Đồng Tháp giảm hơn 22 ngàn ha, chủ yếu thuộc diện tích ngoài đê bao, sản xuất bấp bênh và bị mất mùa nặng trong vụ trước
Theo đánh giá sơ bộ của các địa phương năng suất lùa hè thu trên diện tích thu
Trang 4hoạch tăng nhẹ so với vụ trước do điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, tình hình sâu bệnh diễn biến ít phức tạp Tuy nhiên, do chi phí sản xuất lúa hè thu năm nay tăng khá nhiều, trong khi giá lúa không bằng vụ trước, nên lợi nhuận giảm đáng kể Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh Đồng Tháp và Bạc Liêu, lợi nhuận giảm 3,26 triệu đồng trên 1 ha so với lúa hè thu năm 2011 tại tỉnh Đồng Tháp; giảm 9,11 triệu đồng tại tỉnh Bạc Liêu hay chỉ bằng 44,9% lợi nhuận thu được so với vụ trước
Như vậy, tính chung cả 3 vụ lúa trong năm 2012: Đông xuân, hè thu/thu đông và
mùa, tổng diện tích lúa cả năm đạt khoảng 7.746 nghìn ha, tăng 1,2% so với năm 2011; năng suất ước đạt 56 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha; sản lượng ước đạt 43,4 triệu tấn, tăng hơn 1
triệu tấn (+2,6%) so với năm trước
- Cây hàng năm khác: Trong tháng các địa phương tiếp tục gieo trồng và thu
hoạch rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày vụ hè thu/mùa, tính đến ngày 15/9, tổng diện tích gieo trồng các cây màu lương thực trong cả nước đạt 1.659,3 ngàn ha, bằng 96,2%
so với cùng kì năm trước; trong đó diện tích ngô đạt gần 100 ngàn ha, bằng 95,6%;khoai lang đạt 133,1 ngàn ha, bằng 95,7%; sắn đạt gần 500 ngàn ha, xấp xỉ so với cùng kì năm trước
Tổng diện tích cây công nghiệp ngắn ngày tính đến trung tuần tháng 9 đạt 581,2 ngàn ha, bằng 84,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó lạc đạt 206,3 ngàn ha, bằng 90,2%; đậu tương đạt gần 122,3 ngàn ha, bằng 69,8%; mía đạt gần 170 ngàn ha, bằng 88,7%; thuốc lá đạt 21,4 ngàn ha, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước Diện tích rau đậu các loại tăng khá, đạt tổng diện tích gần 824 ngàn ha, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước
- Cây lâu năm: Đánh giá sơ bộ sản lượng một số cây lâu năm năm 2012 vẫn tiếp
tục tăng do diện tích bắt đầu cho sản phẩm của một số cây trồng chính tăng Ước tính sản lượng chè cả năm đạt 897,5 nghìn tấn, tăng 2,1% so với năm ngoái; sản lượng cà phê ước đạt 1.291 nghìn tấn, tăng 1,1%; sản lượng cao su ước đạt 858 nghìn tấn, tăng 8,7%; sản lượng hồ tiêu ước đạt 112,7 nghìn tấn, tăng 0,6%; sản lượng điều ước đạt 317,5 nghìn tấn, tăng 2,7%; sản lượng dừa ước đạt 1.237 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái Sản lượng một số cây ăn quả đạt xấp xỉ năm trước hoặc thấp hơn, do một số diện tích xoài, nhãn, vải đang được cải tạo, chuyển đổi và điều kiện thời tiết không thuận lợi Ước tính sản lượng cam, quýt tăng 2% so với năm ngoái; sản lượng xoài chỉ bằng 91,3%; sản lượng dứa tăng 6,3%; sản lượng chuối bằng 98%; sản lượng nhãn bằng 91%; sản lượng vải bằng 80% so với năm ngoái
2.1.2 Tình hình sâu bệnh trên lúa trong tháng 9
- Sâu cuốn lá nhỏ: Tổng diện tích nhiễm 257,1 ngàn ha, trong đó nhiễm nặng
134,5 ngàn ha, chủ yếu trên lúa hè thu, mùa tại vùng Bắc bộ với diện tích nhiễm trên 247,6 ngàn ha, nặng trên 134 ngàn ha, cao hơn cùng kỳ năm trước Các vùng khác như: Bắc Trung bộ diện tích nhiễm chỉ hơn 1.703 ha, trong đó nặng 422 ha, mất trắng 1,5 ha; Duyên Hải Nam Trung bộ diện tích nhiễm 388 ha, nặng 1 ha; Nam bộ diện tích nhiễm 7.490 ha; diện tích nhiễm thuộc các vùng này đều thấp hơn cùng kỳ năm trước
Trang 5- Rầy các loại: Tổng diện tích nhiễm trên 41,3 ngàn ha, trong đó nhiễm nặng chỉ
gần 100 ha, tập trung chủ yếu trên lúa hè thu, mùa thuộc vùng Bắc bộ với gần 25 ngàn ha
ha, trong đó nhiễm nặng 647 ha Các vùng khác gồm: Bắc Trung Bộ diện tích nhiễm 5.615 ha, nhiễm nặng 108 ha; Duyên Hải Nam Trung bộ diện tích nhiễm 1.820 ha, nhiễm nặng 191 ha; Nam bộ diện tích nhiễm 9.403 ha, nhiễm nặng 10 ha; nhìn chung diện tích nhiễm đều thấp hơn so với cùng kỳ năm trước
- Bệnh lùn sọc đen: Đã xuất hiện tại các vùng Bắc bộ và Bắc Trung bộ với diện
tích nhiễm 447 ha, trong đó nhiễm nặng trên 12 ha, mất trắng 3,5 ha, tập trung chủ yếu tại vùng Bắc bộ 376 ha nặng 3 ha, mất trắng 2 ha thấp hơn cùng kỳ năm trước Các địa phương xuất hiện bệnh gồm: Sơn La, Ninh Bình, Điện Biên, Hòa Bình, Lai Châu Tại vùng Bắc Trung bộ diện tích nhiễm 71 ha, nhiễm nặng 9,1 ha, mất trắng 1,5 ha, thấp hơn cùng kỳ năm trước; bệnh xuất hiện tại các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa và Quảng Trị
- Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá: Diện tích nhiễm 26,7 ha, tập trung chủ yếu tại các
tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Bệnh khô vằn: Hại chủ yếu tại các vùng trên cả nước với tổng diện tích nhiễm
hơn 180 ngàn ha, trong đó nhiễm nặng 18,4 ngàn ha, tập trung nhiều trên lúa hè thu, mùa thuộc địa bàn Bắc bộ với hơn 152,5 ngàn ha, trong đó nhiễm nặng hơn 17 ngàn ha Diện tích nhiễm cao hơn so với cùng kỳ năm trước Diện tích nhiễm tại các địa bàn khác gồm: Bắc Trung bộ 21,3 ngàn ha, trong đó nhiễm nặng 1.248 ha, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước; Duyên Hải Nam Trung bộ 2.546 ha, nhiễm nặng 87 ha, cao hơn so với cùng kỳ năm trước; Nam Bộ diện tích nhiễm 3.645 ha, nhiễm nặng 20 ha, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước
- Bệnh đạo ôn: Gồm đạo ôn lá và cổ bông Tổng diện tích nhiễm trên 21 ngàn ha,
trong đó nhiễm nặng hơn 230 ha, tập trung chủ yếu tại địa bàn Nam bộ với diện tích nhiễm gần 20 ngàn ha, nhiễm nặng hơn 200 ha, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước
Ngoài các đối tượng gây hại chính nêu trên còn có chuột, ốc bươu vàng, bệnh bạc
lá, bệnh lem lép hạt xuất hiện khắp các vùng trong cả nước Thống kê sơ bộ, diện tích do chuột hại trên 13 ngàn ha, ốc bươu vàng 15,7 ngàn ha; bệnh bạc lá nhiễm gần 33 ngàn ha; bệnh lem lép hạt nhiễm trên 13,8 ngàn ha Trong tổng diện tích bị nhiễm nói trên, diện
tích nhiễm nặng đều ít hoặc không đáng kể Một số đối tượng dịch hại khác cũng xuất
hiện như: Nhện gié, bọ trĩ, sâu phao; sâu keo; tuyến trùng hại rễ xuất hiện cục bộ, gây hại ở mức độ nhẹ
2.2 Chăn nuôi
2.2.1 Tình hình sản xuất chăn nuôi
Trên phạm vi cả nước, 9 tháng đầu năm tình hình chăn nuôi diễn biến phức tạp So với cùng kỳ năm trước, chăn nuôi phát triển khá trong hai quý đầu năm nhưng có xu hướng giảm trong quý III do gặp nhiều khó khăn Giá thức ăn và các chi phí khác cho chăn nuôi vẫn ở mức cao trong khi giá các sản phẩm chăn nuôi ở mức thấp Dịch bệnh trên đàn vật nuôi tuy không bùng phát thành dịch lớn nhưng vẫn thường xuyên xảy ra tại
Trang 6một số địa phương, nhất là dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh Thêm vào đó, trong những tháng đầu năm, thông tin có hiện tượng sử dụng chất cấm tạo nạc trong chăn nuôi lợn đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả sản xuất của ngành chăn nuôi, đặc biệt là việc tăng đàn
Đàn trâu, bò có xu hướng giảm nhưng không lớn, ngoại trừ đàn bò sữa phát triển tốt do một số doanh nghiệp mở rộng quy mô và áp dụng công nghệ cao trong chăn nuôi, chế biến sản phẩm Ước tính số lượng trâu của cả nước đến 15/9 giảm khoảng 5% so với cùng kỳ năm 2011 Số lượng bò giảm khoảng 6,5% so với cùng kỳ năm 2011 Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt xấp xỉ so với cùng kỳ năm 2011 Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng chỉ tăng khoảng 1,5% so với cùng kỳ năm 2011
Ước tính đàn lợn của cả nước đến 15/9 chỉ đạt xấp xỉ so với cùng kỳ năm 2011 Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng khoảng 2,6% so với cùng kỳ năm 2011 Đáng chú ý là sản lượng thịt lợn 9 tháng đầu năm tăng chủ yếu do số lượng lợn xuất chuồng tăng cao trong khoảng thời gian 6 tháng đầu năm 2012, những tháng gần đây sản lượng thịt lợn giảm do giá bán sản phẩm giảm nhiều, người chăn nuôi thua lỗ, không đầu tư tái đàn Điều này dễ dẫn đến việc khan hiếm thực phẩm trong những tháng cuối năm
Tổng số gia cầm của cả nước đến 15/9 ước đạt tương đương so với cùng kỳ năm
2011 Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tăng khoảng 7% so với cùng kỳ năm 2011 Tương tự như chăn nuôi lợn, sản lượng thịt gia cầm tăng chủ yếu do số lượng gia cầm xuất chuồng tăng trong khoảng thời gian 6 tháng đầu năm 2012 và giảm nhẹ trong những tháng gần đây do giá bán thấp
2.2.3 Tình hình dịch bệnh
+ Cúm gia cầm: Trong tháng 9, dịch cúm gia cầm do nhóm vi rút H5N1 nhánh
2.3.2.1 (nhóm C) tiếp tục phát hiện tại các tỉnh Hòa Bình, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Quảng
Ngãi, Thanh Hóa, và Nam Định Tại một số tỉnh có dịch cũ như Ninh Bình và Hà Tĩnh vẫn phát hiện rải rác một vài hộ chăn nuôi có gia cầm bệnh Về cơ bản, dịch phát ra lẻ tẻ, rải rác, phần lớn mỗi xã có vài hộ chăn nuôi có dịch Các ổ dịch chủ yếu trên đàn thủy cầm nuôi trong các hộ gia đình và đã được địa phương phát hiện sớm, xử lý gọn, nhiều ổ
dịch đã qua 21 ngày Hiện nay, cả nước có 08 tỉnh, gồm: Hà Tĩnh (còn 3 ổ dịch), Ninh
Bình (4 ổ), Nam Định (3 ổ), Bắc Kạn (1 ổ), Quảng Ngãi (17 ổ), Tuyên Quang (8 ổ), Thanh Hóa (1 ổ) và Hòa Bình (2 ổ) có dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày
+ Lở mồm long móng: Trong tháng 9, dịch LMLM vẫn được các địa phương kiểm
soát, khống chế, không để phát sinh ổ dịch Các tỉnh có ổ dịch cũ thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên nguy
cơ phát sinh dịch cao
+ Dịch lợn tai xanh: Trong tháng 9, toàn quốc có thêm tỉnh Bắc Kạn, Cần Thơ có
dịch Các ổ dịch đang được địa phương giám sát chặt Tại Đắk Lắk, dịch tiếp tục lây lan rộng Tại Cao Bằng, dịch đã tạm thời được khống chế Tỉnh Nghệ An đã công bố hết dịch Nhìn chung, dịch đang có chiều hướng giảm và dần được khống chế Tuy nhiên, nguy cơ
Trang 7dịch tiếp tục phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao Hiện nay, cả nước có 04 tỉnh: Đắk Lắk, Cao Bằng, Bắc Kạn và Cần Thơ có dịch tai xanh chưa qua 21 ngày
2.3 Lâm nghiệp
2.3.1 Thực hiện công tác lâm sinh
Trong 9 tháng đầu năm, hoạt động trồng rừng mới trên cả nước tiến hành chậm và giảm so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết không thuận lợi: Rét đậm rét hại trong những tháng đầu năm ở các tỉnh miền Bắc, khô hạn xẩy ra ở các tỉnh thuộc khu vực Trung và Nam bộ trong quý III; và khó khăn về tài chính ở một số địa phương Bên cạnh đó, khai thác các loại lâm sản chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước do diện tích rừng sản xuất đã được quy hoạch ổn định và đầu tư hợp lý, và sản phẩm đầu ra có thị trường tiêu thụ ổn định cả trong nước và xuất khẩu Tính đến 20/9 kết quả thực hiện một số chỉ tiêu lâm nghiệp như sau:
- Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 121,7 ngàn ha, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 11,2 ngàn ha, giảm 21,2% so với cùng kỳ năm trước; trồng mới rừng sản xuất đạt 110,5 ngàn ha, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước;
- Diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 390,8 ngàn ha, tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước;
- Trồng cây phân tán đạt 164,1 triệu cây, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước;
- Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh đạt 697,5 ngàn ha, xấp xỉ so với cùng kỳ năm trước;
- Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ đạt 2.562,7 ngàn ha, tăng 9,1% so với cùng
kỳ năm trước;
- Sản lượng gỗ khai thác đạt 3.418,5 ngàn m3, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước
Các tỉnh miền Bắc: Các địa phương đang khẩn trương tiến hành trồng rừng cuối
vụ Ước tính đến 20/9, các địa phương miền Bắc đã trồng mới được 112,7 ngàn ha rừng, chiếm 93% diện tích trồng rừng cả nước, trong đó:
- Diện tích rừng trồng mới phòng hộ và đặc dụng đạt 11,2 ngàn ha, chiếm 83% cả nước;
- Diện tích trồng rừng sản xuất đạt 103,4 ngàn ha, chiếm 94% cả nước
Vùng có diện tích rừng trồng mới lớn nhất là Trung du và Miền núi phía Bắc đạt 78.200 ha, Đồng bằng sông Hồng đạt 14.605 ha và Bắc Trung bộ đạt 19.857 ha Một số tỉnh miền Bắc có diện tích rừng trồng mới khá là Tuyên Quang 13.709 ha, Quảng Ninh 13.589 ha, Bắc Kạn 12.951 ha và Yên Bái 11.759 ha Ngoài việc trồng rừng, các tỉnh miền Bắc tiếp tục tiến hành chăm sóc rừng trồng theo kế hoạch, khoán khoanh nuôi tái
sinh, giao khoán bảo vệ rừng tới các tổ chức, cá nhân
Các tỉnh miền Nam: Các địa phương miền Nam bắt đầu tiến hành trồng rừng
Trang 8chính vụ Tính đến ngày 20/9, các tỉnh miền Nam đã trồng được 7.457 ha rừng, trong đó Duyên hải Nam Trung bộ trồng được 2.577 ha, Tây Nguyên trồng được 2.460 ha, Đông Nam Bộ trồng được 1.348 ha và Đồng bằng sông Cửu Long trồng được 1.072 ha Một số tỉnh có diện tích trồng rừng khá là Bình Thuận (1.460 ha), Kon Tum (930 ha), Khánh Hòa (902 ha) và Bà Rịa - Vũng Tàu (809 ha) Trong tháng, ngoài công việc trồng rừng các địa phương miền Nam tiếp tục triển khai trồng cây phân tán, tiến hành lập hồ sơ thiết kế, chuẩn bị hiện trường, gieo ươm và chăm sóc cây giống cho kế hoạch trồng rừng năm
2012, tiến hành chăm sóc rừng trồng lần 2 và khai thác gỗ theo kế hoạch
2.3.2 Tình hình cháy rừng và chặt phá rừng
Trong 9 tháng đầu năm, do thời tiết nắng nóng và khô hạn gay gắt trong thời gian dài nên một số địa phương đã xảy ra cháy rừng, trọng điểm là các tỉnh thuộc khu vực Trung
du miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung Trong đó, diện tích rừng bị cháy là 2.065,4 ha, tăng gấp hơn 2 lần cùng kỳ năm trước Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy tương đối lớn như: Hà Giang 298 ha, Đà Nẵng 180 ha, Lạng Sơn 130 ha, Phú Yên 105,6 ha, Lào Cai 99,5 ha, và Thừa Thiên Huế 92 ha
Một số địa phương vẫn còn rải rác tình trạng chặt phá rừng làm nương rẫy trái phép, trong 9 tháng đầu năm diện tích rừng bị phá là 946,3 ha, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước Một số tỉnh có diện tích rừng bị phá nhiều như: Đăk Nông 157 ha, Lâm Đồng 109
ha, Kon Tum 101 ha, Sơn La 86 ha, Gia Lai 64,6 ha, và Thừa Thiên Huế 46 ha
2.4 Nghề muối
Diện tích sản xuất muối cả nước ước đạt 14.157 ha, trong đó: diện tích muối thủ công đạt 10.981 ha, diện tích muối công nghiệp đạt 3.176 ha
Sản lượng muối tính đến 18/9 đạt khoảng 739.410 tấn, bằng 97,9% so với cùng kỳ năm 2011; trong đó: muối sản xuất thủ công đạt 520.435 tấn, bằng 88,3% so với cùng kỳ năm 2011; muối sản xuất công nghiệp đạt 218.975 tấn, bằng 131,8% so với cùng kỳ năm
2011
Lượng muối tồn trong diêm dân và một số doanh nghiệp sản xuất tính đến thời điểm 18/9 khoảng 99.536 tấn, bằng 46,1% so với cùng kỳ năm 2011; trong đó: Miền Bắc tồn 15.268 tấn; Miền Trung tồn 68.941 tấn; Đồng bằng sông Cửu Long tồn 15.327 tấn
Giá muối trên cả nước vẫn giữ ở mức hợp lý, góp phần giảm bớt những khó khăn trong sản xuất và đời sống của diêm dân Cụ thể giá muối từng khu vực như sau:
- Miền Bắc: 1.200 – 2.200 đ/kg
- Nam Trung Bộ:
+ Muối sản xuất thủ công: 1.000 - 1.500 đ/kg
+ Muối sản xuất công nghiệp: 1.000 - 1.200 đ/kg
- Đồng bằng sông Cửu Long:
+ Muối đen và vàng: 800 – 1.500 đ/kg
+ Muối trắng: 1.200 - 1.750 đ/kg
Trang 92.5 Thủy sản
2.5.1 Khai thác thủy sản
Sản lượng thuỷ sản khai thác 09 tháng đầu năm ước tính đạt 1.995 ngàn tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2011; trong đó, khai thác biển 9 tháng ước đạt 1.865 ngàn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ
Trong tháng, sản lượng đánh bắt chưa cao, giá cá cũng giảm, trong khi giá dầu tăng nhiều lần khiến ngư dân trên cả nước và miền Trung như Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa, và Ninh Thuận gặp nhiều khó khăn Thêm vào đó, hoạt động khai thác hải sản diễn ra trong mùa biển động cũng kém hiệu quả
Hiện nay, giá thu mua cá ngừ đại dương giảm khoảng 25.000 đồng/kg, chỉ còn 160.000 đồng/kg đối với cá loại 1 (loại cá câu vàng), 90.000 đồng/kg đối với cá câu bằng đèn chỉ Nguyên nhân chính là do nhu cầu cá ngừ đại dương thế giới đang chững lại
2.5.2 Nuôi trồng thuỷ sản
Ước sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tháng 9 đạt 390 ngàn tấn, đưa sản lượng nuôi trồng thủy sản 9 tháng đầu năm ước đạt 2.318 ngàn tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm
2011
Tại ĐBSCL, tính đến ngày 22/9, giá tôm sú các loại đều tăng Giá tôm sú cỡ 20 con/kg là 210.000 đồng/kg; cỡ 30 con/kg là 135.000 đồng/kg; cỡ 40 con/kg là 120.000 đồng/kg Mức giá trên tăng 15.000 - 20.000 đồng/kg so với thời điểm tháng 7 Nguyên nhân chính dẫn đến việc tăng giá trên là do các nước nuôi tôm xuất khẩu lớn cạnh tranh với Việt Nam như Ấn Độ, Thái Lan, và Trung Quốc đã hết tôm vào thời điểm này Thêm vào đó, nguồn cung tôm trong nước cũng giảm
3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MÍA ĐƯỜNG
Tính đến ngày 15/9 đã có 4 nhà máy đường đi vào sản xuất, bao gồm nhà máy đường Nước Trong, Long Mỹ Phát, Phụng Hiệp, và Vị Thanh; các nhà máy đã ép được 161.500 tấn mía, sản xuất được 11.740 tấn đường So với cùng kỳ năm trước, lượng mía
ép tăng 116.400 tấn, lượng đường sản xuất tăng 7.740 tấn
Lượng đường tồn tại kho các nhà máy đến ngày 15/9 là 122.000 tấn, cao hơn cùng
kỳ năm trước 9.200 tấn Lượng đường các nhà máy bán ra là 65.740 tấn, cao hơn cùng kỳ năm trước 26.040 tấn Giá bán đường trắng loại I đã có thuế VAT tại kho nhà máy trên cả nước giữ ổn định ở mức thấp như tháng trước, phổ biến từ 15.200 đến 15.500 đ/kg Giá mía 10 CCS tại ruộng ở một số tỉnh như: Tây Ninh là 1.100.000 đ/tấn, Hậu Giang là 1.000.000 đ/tấn
Theo Bộ Công Thương các đơn vị được phân quota nhập khẩu đã ký hợp đồng, lô đường nhập khẩu đầu tiên sẽ về đến Việt Nam vào khoảng 25-30/9/2012
Trang 104 XUẤT NHẬP KHẨU NÔNG LÂM THUỶ SẢN, PHÂN BÓN
4.1 Xuất khẩu nông, lâm và thủy sản
Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 9 ước đạt 2,3 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản 9 tháng đầu năm năm 2012 ước đạt 20,4 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 11,1 tỷ USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 6,2%; thuỷ sản ước đạt 4,5 tỷ USD, tăng 3,5% so cùng kỳ năm trước; lâm sản chính ước đạt 3,58 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng
kỳ năm trước Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản chính 8 tháng đầu năm có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, ngoại trừ mặt hàng gạo, cao su và hạt tiêu
Kết quả cụ thể một số mặt hàng chủ yếu như sau:
Gạo: Ước xuất khẩu tháng 9 đạt 643 ngàn tấn, thu về 270 triệu USD Lượng gạo
xuất khẩu 9 tháng đầu năm ước đạt 6,2 triệu tấn, với giá trị 2,78 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 4,5% về lượng nhưng giảm 6,1% về giá trị Giá gạo tiếp tục có xu hướng giảm
so với đầu năm Giá XK bình quân chung 8 tháng đầu năm đạt 452 USD/tấn, giảm 9,2%
so với cùng kỳ năm ngoái Thị trường xuất khẩu gạo năm nay có nhiều thay đổi, trong đó thị trường Trung Quốc tăng mạnh, gấp 5,7 lần về lượng và 4,8 lần về giá trị so với cùng
kỳ năm trước và trở thành thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm nay Trong khi đó, nhiều thị trường lớn khác lại sụt giảm cả về lượng và giá trị như Philippin, Inđônêsia, và Singapore
Cà phê: Ước xuất khẩu cà phê tháng 9 đạt 96 ngàn tấn, với giá trị đạt 171 triệu
USD nâng tổng xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu năm ước đạt 1,36 triệu tấn, kim ngạch 2,85
tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 36,8% về lượng và 29,8% về giá trị Giá cà phê xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm đạt 2.119 USD/tấn, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm trước Hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam là Đức (chiếm tỷ trọng giá trị 12,3% thị phần) và Hoa Kỳ (12,2%) và tăng trưởng khá cả về lượng và giá trị Đáng chú
ý nhất là thị trường Inđônêxia tăng trưởng đột biến với mức tăng lần lượt gấp gần 9 lần so với cùng kỳ năm 2011 Tuy nhiên, trong 9 tháng đầu năm 2012, thị trường Bỉ - thị trường lớn nhất của Việt Nam trong năm 2011 có sự sụt giảm mạnh cả về lượng và giá trị (chỉ bằng 50% so với cùng kỳ năm trước) Xuất khẩu cà phê trong thời gian tới có thể giảm do hạn chế nguồn cung và sẽ tăng mạnh khi vụ thu hoạch bắt đầu vào những tháng cuối năm
Cao su: Ước xuất khẩu cao su tháng 9 đạt 91 ngàn tấn, giá trị đạt 281 triệu USD,
đưa lượng cao su xuất khẩu 9 tháng đầu năm lên 700 ngàn tấn, thu về 2,05 tỉ USD, tăng 32,6% về lượng nhưng giảm 10,1% về giá trị Giá XK trung bình 8 tháng đầu năm đạt 2.910 USD/tấn, giảm 32,7% so với cùng kỳ năm ngoái Mặc dù tình hình tiêu thụ cao su vẫn khá tốt, so với cùng kỳ năm 2011 lượng cao su xuất khẩu tăng ở nhiều thị trường lớn như Trung Quốc (tăng 10,1%), Malaixia (gấp 3,3 lần), Đài Loan (tăng 28,3%), Ấn Độ (gấp 5 lần) nhưng do giá cao su giảm liên tục từ đầu năm đến nay nên giá trị xuất khẩu cao su lại giảm
Chè: Ước tháng 9, xuất khẩu đạt 13 ngàn tấn, với giá trị đạt 22 triệu USD Lượng