1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.

195 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp
Tác giả Nguyễn Văn Thống
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Tuấn, GS. John Snowdon
Trường học Trường Đại Học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học nội khoa - Tâm thần
Thể loại Luận án tiến sĩ y học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (17)
    • 1.1. Người cao tuổi (17)
      • 1.1.1. Giới thiệu về người cao tuổi (17)
      • 1.1.2. Sự lão hoá và sức khỏe thể chất ở người cao tuổi (18)
      • 1.1.3. Sức khỏe tâm thần ở người cao tuổi (18)
      • 1.1.4. Khía cạnh tâm lý xã hội ở người cao tuổi (20)
    • 1.2. Tăng huyết áp ở người cao tuổi (21)
      • 1.2.1. Giới thiệu về tăng huyết áp (21)
      • 1.2.2. Chẩn đoán tăng huyết áp (22)
      • 1.2.3. Tăng huyết áp ở người cao tuổi (23)
      • 1.2.4. Tiến triển và điều trị tăng huyết áp (25)
    • 1.3. Rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi tăng huyết áp (27)
      • 1.3.1. Giới thiệu về rối loạn trầm cảm (27)
      • 1.3.2. Cơ chế bệnh sinh rối loạn trầm cảm (28)
      • 1.3.3. Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm (33)
      • 1.3.4. Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10 4 (37)
      • 1.3.5. Rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi (38)
    • 1.4. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người bệnh cao tuổi THA (41)
      • 1.4.1. Giới thiệu về yếu tố liên quan (41)
      • 1.4.2. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người bệnh cao tuổi THA . 29 1.5. Tình hình nghiên cứu liên quan trầm cảm ở người cao tuổi THA (43)
      • 1.5.1. Thế giới (46)
      • 1.5.2. Việt Nam (49)
      • 1.5.3. Khung lý thuyết về các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người cao tuổi THA (52)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (53)
    • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (54)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (54)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (54)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu (54)
      • 2.2.3. Các biến số và phương pháp đo lường (55)
      • 2.2.4. Công cụ và phương pháp thu thập dữ liệu (68)
      • 2.2.5. Các bước tiến hành (69)
      • 2.2.6. Phương pháp kiểm soát sai số (72)
      • 2.2.7. Phương pháp nhập và phân tích số liệu (73)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (74)
      • 2.3.1. Tính tự nguyện (74)
      • 2.3.2. Tính bảo mật (74)
      • 2.3.3. Tính minh bạch (74)
      • 2.3.4. Đạo đức của nhà nghiên cứu (74)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (76)
    • 3.1. Thông tin đối tượng nghiên cứu (76)
      • 3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu xã hội học (76)
      • 3.1.2. Đặc điểm liên quan cơ thể và tâm lý người cao tuổi (77)
      • 3.1.3. Đặc điểm liên quan tăng huyết áp (80)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm và kết quả ứng dụng thang đo GDS-30 ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp (81)
      • 3.2.1. Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm (81)
      • 3.2.2. Kết quả ứng dụng thang đo GDS-30 đánh giá trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp (90)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp ........................................................................................................ 76 1. Mối liên quan giữa trầm cảm với đặc điểm nhân khẩu xã hội học 76 (90)
      • 3.3.4. Mô hình đa biến mối liên quan giữa trầm cảm với các yếu tố (103)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (105)
    • 4.1. Thông tin đối tượng nghiên cứu (105)
      • 4.1.1. Đặc điểm nhân khẩu xã hội học (105)
      • 4.1.2. Đặc điểm liên quan cơ thể và tâm lý người cao tuổi (110)
      • 4.1.3. Đặc điểm liên quan tăng huyết áp (111)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm và kết quả ứng dụng thang đo GDS-30 ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp (112)
      • 4.2.1. Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm (112)
      • 4.2.2. Kết quả ứng dụng thang đo GDS-30 đánh giá trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp (122)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp (123)
      • 4.3.1. Trầm cảm với đặc điểm nhân khẩu xã hội học (123)
      • 4.3.2. Trầm cảm với yếu tố tăng huyết áp (129)
      • 4.3.3. Trầm cảm với biến chứng tăng huyết áp, đặc điểm cơ thể và tâm lý 120 4.3.4. Mô hình đa biến mối liên quan giữa trầm cảm với các yếu tố (134)
    • 4.4. Hạn chế của đề tài (139)
  • KẾT LUẬN (140)
  • PHỤ LỤC (158)

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.Nghiên cứu đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN THỐNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƯỜI BỆNH

CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2023

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN THỐNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƯỜI BỆNH

CAO TUỔI TĂNG HUYẾT ÁP

Ngành: Nội khoa (Tâm thần)

Mã số: 9720107

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS NGUYỄN VĂN TUẤN

2 GS JOHN SNOWDON

HÀ NỘI – 2023

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Y Hà Nội và đặc biệt xin chân thành cảm ơn Thầy Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn, Thầy Giáo sư John Snowdon đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi được thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ và Khoa Nội Lão học đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi có thể thu thập dữ liệu và hoàn thành nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện và hoàn chỉnh đề tài có thể có nhiều sai sót, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý Thầy Cô và các đồng nghiệp

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Thống

Trang 4

Tôi là Nguyễn Văn Thống, nghiên cứu sinh khóa 38 của Trường Đại học

Y Hà Nội, chuyên ngành Tâm thần, xin cam đoan:

1 Đây là quyển luận án nghiên cứu sinh do bản thân tôi trực tiếp thực hiện

dưới sự hướng dẫn của Thầy Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong luận án là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày tháng năm 2023

Tác giả luận án

Nguyễn Văn Thống

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Người cao tuổi 3

1.1.1 Giới thiệu về người cao tuổi 3

1.1.2 Sự lão hoá và sức khỏe thể chất ở người cao tuổi 4

1.1.3 Sức khỏe tâm thần ở người cao tuổi 4

1.1.4 Khía cạnh tâm lý xã hội ở người cao tuổi 6

1.2 Tăng huyết áp ở người cao tuổi 7

1.2.1 Giới thiệu về tăng huyết áp 7

1.2.2 Chẩn đoán tăng huyết áp 8

1.2.3 Tăng huyết áp ở người cao tuổi 9

1.2.4 Tiến triển và điều trị tăng huyết áp 11

1.3 Rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi tăng huyết áp 13

1.3.1 Giới thiệu về rối loạn trầm cảm 13

1.3.2 Cơ chế bệnh sinh rối loạn trầm cảm 14

1.3.3 Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm 19

1.3.4 Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-104 23

1.3.5 Rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi 24

1.4 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người bệnh cao tuổi THA 27

1.4.1.Giới thiệu về yếu tố liên quan 27

1.4.2 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người bệnh cao tuổi THA 29 1.5 Tình hình nghiên cứu liên quan trầm cảm ở người cao tuổi THA 32

1.5.1 Thế giới 32

1.5.2 Việt Nam 35

1.5.3 Khung lý thuyết về các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người cao tuổi THA 38

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

Trang 6

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 40

2.2.2 Cỡ mẫu 40

2.2.3 Các biến số và phương pháp đo lường 41

2.2.4 Công cụ và phương pháp thu thập dữ liệu 54

2.2.5 Các bước tiến hành 55

2.2.6 Phương pháp kiểm soát sai số 58

2.2.7 Phương pháp nhập và phân tích số liệu 59

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 60

2.3.1 Tính tự nguyện 60

2.3.2 Tính bảo mật 60

2.3.3 Tính minh bạch 60

2.3.4 Đạo đức của nhà nghiên cứu 60

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62

3.1 Thông tin đối tượng nghiên cứu 62

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội học 62

3.1.2 Đặc điểm liên quan cơ thể và tâm lý người cao tuổi 63

3.1.3 Đặc điểm liên quan tăng huyết áp 66

3.2 Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm và kết quả ứng dụng thang đo GDS-30 ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp 67

3.2.1 Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm 67

3.2.2 Kết quả ứng dụng thang đo GDS-30 đánh giá trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp 76

3.3 Một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp 76 3.3.1 Mối liên quan giữa trầm cảm với đặc điểm nhân khẩu xã hội học 76

Trang 7

3.3.4 Mô hình đa biến mối liên quan giữa trầm cảm với các yếu tố 89

Chương 4: BÀN LUẬN 91

4.1 Thông tin đối tượng nghiên cứu 91

4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội học 91

4.1.2 Đặc điểm liên quan cơ thể và tâm lý người cao tuổi 96

4.1.3 Đặc điểm liên quan tăng huyết áp 97

4.2 Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm và kết quả ứng dụng thang đo GDS-30 ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp 98

4.2.1 Đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm 98

4.2.2 Kết quả ứng dụng thang đo GDS-30 đánh giá trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp 108

4.3 Một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp 109

4.3.1 Trầm cảm với đặc điểm nhân khẩu xã hội học 109

4.3.2 Trầm cảm với yếu tố tăng huyết áp 115

4.3.3 Trầm cảm với biến chứng tăng huyết áp, đặc điểm cơ thể và tâm lý 120 4.3.4 Mô hình đa biến mối liên quan giữa trầm cảm với các yếu tố 124

4.4 Hạn chế của đề tài 125

KẾT LUẬN 126

KIẾN NGHỊ 128

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 129 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

động của gen vận chuyển serotonin)

hormone (Hormone giải phóng corticotropin)

kinh có nguồn gốc từ não)

đo trầm cảm Trung tâm nghiên cứu dịch tễ)

chất/thuốc)

tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần lần thứ 5)

thuốc tổng quát)

cảm và lo âu bệnh viện)

deficiency syndrome (Nhiễm vi rút suy giảm miễn dịch ở người/Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)

Tuyến thượng thận) ICD-10 : International Classification of Diseases (Bảng phân loại

bệnh quốc tế lần thứ 10)

Trang 10

ở Đại Tây Dương)

Pittsburgh)

thu chọn lọc serotonin) UCLA Loneliness Scale :the University of California, Los Angeles

Loneliness Scale (Thang đánh giá sự cô đơn UCLA [UCLA-3])

lượng cuộc sống của tổ chức y tế thế giới)

Trang 11

Bảng 1.1 Phân loại huyết áp năm 2003 của Tổ chức Y tế thế giới 9

Bảng 1.2 Can thiệp không thuốc 12

Bảng 1.3 Chiến lược thuốc điều trị THA 13

Bảng 2.1 Phân loại cân nặng BMI cho người Châu Á trưởng thành 43

Bảng 2.2 Phân loại tăng huyết áp 44

Bảng 2.3 Chẩn đoán và mức độ nặng của trầm cảm theo ICD-10 47

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội học 62

Bảng 3.2 Chẩn đoán các bệnh đi kèm 64

Bảng 3.3 Đặc điểm liên quan đến tâm lý xã hội 65

Bảng 3.4 Đặc điểm liên quan tăng huyết áp và biến chứng 66

Bảng 3.5 Phân loại trầm cảm theo ICD-10 67

Bảng 3.6 Các đặc điểm của giảm khí sắc 69

Bảng 3.7 Các đặc điểm giảm năng lượng, tăng mệt mỏi 70

Bảng 3.8 Các đặc điểm giảm tập trung và chú ý 70

Bảng 3.9 Các đặc điểm giảm tự trọng và lòng tự tin, khó khăn trong việc quyết định 71

Bảng 3.10 Các đặc điểm ý tưởng buộc tội và không xứng đáng 71

Bảng 3.11 Các đặc điểm nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan 72

Bảng 3.12 Các đặc điểm ý tưởng và hành vi hủy hoại hoặc tự sát 72

Bảng 3.13 Các đặc điểm rối loạn giấc ngủ 73

Bảng 3.14 Các đặc điểm triệu chứng sinh học 74

Bảng 3.15 Trầm cảm với tuổi 76

Bảng 3.16 Trầm cảm với giới tính 77

Bảng 3.17 Trầm cảm với dân tộc 77

Bảng 3.18 Trầm cảm với trình độ học vấn 78

Trang 12

Bảng 3.21 Trầm cảm với đặc điểm kinh tế xã hội 79

Bảng 3.22 Trầm cảm với khu vực sống 80

Bảng 3.23 Trầm cảm với thời gian tăng huyết áp 80

Bảng 3.25 Trầm cảm với chỉ số huyết áp 81

Bảng 3.26 Trầm cảm với phân độ tăng huyết áp 81

Bảng 3.27 Trầm cảm với sự kiểm soát huyết áp 82

Bảng 3.28 Trầm cảm với số loại thuốc hạ áp 82

Bảng 3.29 Trầm cảm với lạm dụng thuốc/chất 84

Bảng 3.30 Trầm cảm với thói quen ăn nhiều muối 84

Bảng 3.31 Trầm cảm với biến chứng của tăng huyết áp 85

Bảng 3.32 Trầm cảm với số bệnh lý khác đi kèm THA 85

Bảng 3.33 Trầm cảm với chỉ số khối cơ thể 86

Bảng 3.34 Trầm cảm với hoạt động thể lực 86

Bảng 3.35 Trầm cảm với sự cô đơn 87

Bảng 3.36 Trầm cảm với sự độc lập các hoạt động sống hàng ngày 88

Bảng 3.37 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm 89

Bảng 4.1 So sánh đặc điểm đối tượng tham gia trong các nghiên cứu có liên quan trầm cảm người cao tuổi THA 91

Trang 13

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ hiện mắc toàn cầu của rối trầm cảm, theo tuổi và giới 29

Biểu đồ 3.1 Chẩn đoán bệnh chính khi vào viện 63

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ trầm cảm theo ICD-10 67

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng trầm cảm theo ICD-10 68

Biểu đồ 3.4 Các đặc điểm giảm quan tâm thích thú 69

Biểu đồ 3.5 Các đặc điểm rối loạn ăn uống (giảm hoặc thèm muốn ăn uống) và thay đổi trọng lượng cơ thể 73

Biểu đồ 3.6 Các đặc điểm triệu chứng đau 75

Biểu đồ 3.7 Mức độ nặng của trầm cảm theo ICD-10 75

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ trầm cảm (A) và mức độ trầm cảm (B) theo GDS-30 76 Biểu đồ 3.9 Trầm cảm với tuân thủ thuốc 83

Biểu đồ 3.10 Trầm cảm với chất lượng cuộc sống 87

Biểu đồ 3.11 Trầm cảm với chất lượng giấc ngủ 88

Trang 14

Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu 57

Trang 15

ĐẶT VẤN ĐỀ

Người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở lên, dân số này đã tăng lên đáng

kể trong những năm gần đây ở hầu hết các quốc gia và khu vực với tăng trưởng được dự báo rất nhanh chóng ở những thập kỷ sắp tới.1 Số lượng người cao tuổi trên toàn thế giới (năm 2021) là hơn 1 tỷ người - chiếm khoảng 13,5% dân số toàn cầu Người cao tuổi là trung tâm của một kế hoạch hành động mới về vấn

đề lão hóa và sức khỏe.2

tuổi, ảnh hưởng đến một tỷ người trên toàn cầu và Tổ chức Y tế Thế giới ước tính rằng mức huyết áp tăng lên là nguyên nhân gây tử vong ở chín triệu người mỗi năm Điều đáng quan tâm hơn là 7,6 triệu ca tử vong sớm, chiếm 13,5% tổng số ca tử vong toàn cầu, được cho là do huyết áp cao không kiểm soát.3

Trầm cảm là một rối loạn sức khỏe tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi tâm trạng giảm sút kéo dài, mất hứng thú trong các hoạt động, giảm năng lượng, kém tập trung, và kèm theo nhiều triệu chứng cơ thể khác.4-6 Nhiều nghiên cứu

đã chỉ ra rằng trầm cảm không được chẩn đoán với một tỷ lệ khá lớn ở người cao tuổi.7 Các nghiên cứu dựa vào cộng đồng cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở người cao tuổi dao động từ 8,9% đến 62,16%, tuy nhiên chưa tập trung vào dân số cao tuổi tăng huyết áp.8 Tỷ lệ này cao hơn ở người cao tuổi có bệnh lý cơ thể đặc biệt như tăng huyết áp, Kosana Stanetic và cs (2017) ghi nhận ở người cao tuổi tăng huyết áp mắc trầm cảm là 55,4%9 và tỷ lệ này ở nghiên cứu của Vishnu Ashok và cs (2019) là 47,3%.10 Trầm cảm điển hình ở người cao tuổi biểu hiện

có phần khác biệt so với người trẻ Các triệu chứng thể chất như thay đổi cảm giác thèm ăn và trọng lượng cơ thể, táo bón và rối loạn chức năng tình dục thường gặp hơn ở người cao tuổi.7 Điều này làm dễ bỏ sót trầm cảm do triệu chứng gần như triệu chứng bệnh thể chất

Trang 16

Các yếu tố nguy cơ được biết liên quan đến trầm cảm như dân số - xã hội học (giới tính, tuổi, hôn nhân, nơi cư trú, kinh tế, căng thẳng và hỗ trợ xã hội,

…).9,10 Đối với người cao tuổi (không khu trú vào tăng huyết áp), các yếu tố nguy cơ rõ ràng dẫn đến trầm cảm là giới tính nữ, cô lập xã hội, góa chồng, ly hôn hoặc ly thân, tình trạng kinh tế xã hội thấp, nhiều bệnh lý cơ thể, đau không kiểm soát, mất ngủ, suy giảm chức năng, suy giảm nhận thức.11 Trong một khảo sát gần đây, Nguyễn Hằng Nguyệt Vân và cs chỉ ra các yếu tố liên quan đến trầm cảm người cao tuổi là giới tính, trình độ học vấn, kinh tế gia đình, hoàn cảnh sống, công việc hiện tại, nhu cầu được hỗ trợ tâm lý và có tham gia các hoạt động xã hội (p<0,05).12 Ngoài ra, các phân tích về các yếu tố liên quan bệnh lý tăng huyết áp (thời gian bị tăng huyết áp, chỉ số huyết áp, sự kiểm soát huyết áp), yếu tố về sức khỏe thể chất và tinh thần cũng được một số nghiên cứu ghi nhận có liên quan đến trầm cảm, tuy nhiên chưa tập trung vào đối tượng cao tuổi tăng huyết áp.9,13

Rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi là một mối quan tâm sức khỏe nghiêm trọng và phổ biến có liên quan đến suy giảm chức năng và gia tăng tỷ lệ tử vong.14 Mặc dù vậy, rối loạn trầm cảm vẫn chưa được phát hiện và điều trị đầy

đủ trong dân số cao tuổi và đặc biệt có bệnh lý tăng huyết áp.9,15 Để hiểu rõ hơn

về các biểu hiện của trầm cảm ở người cao tuổi tăng huyết áp và tìm ra những yếu tố liên quan trong bối cảnh ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long chưa có

những khảo sát trên chủ đề này, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc

điểm rối loạn trầm cảm ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp” Các mục tiêu

của đề tài nghiên cứu như sau:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm và kết quả ứng dụng thang đo GDS-30 ở người bệnh cao tuổi tăng huyết áp tại Khoa Nội lão học, Bệnh viện đa khoa Trung Ương Cần Thơ

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở nhóm người bệnh trên

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Người cao tuổi

1.1.1 Giới thiệu về người cao tuổi

Người cao tuổi theo quy định của Luật người cao tuổi là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên Người cao tuổi có quyền được đảm bảo các nhu cầu

cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe, được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ theo quy định của Luật này và các quy định khác của luật có liên quan, được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch và nghỉ dưỡng Đồng thời người cao tuổi là gương sáng về phẩm chất đạo đức, lối sống mẫu mực; giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền đạt kinh nghiệm quý cho thế hệ sau.16

Theo Tổng cục thống kê, Việt Nam trong giai đoạn 2009-2019, dân số cao tuổi tăng từ 7,45 triệu lên 11,41 triệu, tương ứng với tăng từ 8,68% lên 11,86% tổng dân số Dân số cao tuổi tăng thêm chiếm gần 40% tổng dân

số tăng thêm Cũng trong giai đoạn này, tổng dân số tăng trung bình 1,14%/năm thì dân số cao tuổi tăng tới 4,35%/năm.17

Theo truyền thống, Liên hợp quốc và hầu hết các nhà nghiên cứu đã sử dụng các thước đo và chỉ số về dân số lão hóa chủ yếu hoặc hoàn toàn dựa trên tuổi thời gian của mọi người, xác định người cao tuổi là những người từ

60 hoặc 65 tuổi trở lên Điều này cung cấp một cách đơn giản, rõ ràng và có thể nhân rộng để đo lường và theo dõi các chỉ số khác nhau về già hóa dân số Dân số toàn cầu từ 60 tuổi trở lên là 962 triệu người vào năm 2017, lớn hơn gấp đôi so với năm 1980 khi có 382 triệu người cao tuổi trên toàn thế giới Số lượng người cao tuổi dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050, khi đạt gần 2,1

tỷ người.1

Trang 18

1.1.2 Sự lão hoá và sức khỏe thể chất ở người cao tuổi

Lão hóa như một quá trình biến những người trẻ tuổi thành những người già kém khỏe mạnh rõ ràng — theo cách hiểu đơn giản, nhưng trên thực tế lại tạo ra một số điểm khác biệt nổi bật Lão hóa không phải là một căn bệnh Bệnh tật chắc chắn là một trong những hậu quả nổi bật nhất của lão hóa, nhưng lão hóa tạo ra nhiều thay đổi không được xếp vào loại bệnh tật, và nhiều bệnh tật cũng ảnh hưởng đến những người trẻ tuổi Tương tự như vậy, tuổi thọ và nguy

cơ tử vong chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên cạnh quá trình lão hóa Do đó, bằng chứng cho thấy gen hoặc chế độ ăn uống hoặc biện pháp sức khỏe cộng đồng đã làm thay đổi tuổi thọ, theo hướng tăng lên hoặc giảm xuống, không có nghĩa là các tác động đạt được do tác động lên quá trình lão hóa.18

Số lượng người cao tuổi trên toàn thế giới (năm 2021) là hơn 1 tỷ người

- chiếm khoảng 13,5% dân số toàn cầu Đến năm 2030, cứ 6 người thì có 1 người từ 60 tuổi trở lên.2 Do tỷ lệ người cao tuổi tăng, vấn đề ngày càng được quan tâm là nhiều bệnh mạn sẽ xảy ra trên dân số này Trong một nghiên cứu

về bệnh lý mạn tính xảy ra ở người cao tuổi, 30% dân số này mắc 1 bệnh, trong khi 55% mắc đa bệnh lý Số bệnh lý trung bình của những người mắc đa bệnh

là 3, dao động từ 2 đến 7 Tăng huyết áp, sa sút trí tuệ và suy tim là những rối loạn phổ biến nhất, với tỷ lệ lần lượt là 38%, 21% và 18%, trong khi tất cả các bệnh khác ít gặp hơn (15%).19 Kết quả cũng tương tự với một thống kê gần đây

ở Trung Quốc ở 9344 người cao tuổi, 31,7% có ít nhất một trong bốn bệnh mạn tính, tỷ lệ tăng huyết áp, đái tháo đường, COPD và đột quỵ lần lượt là 26,0%, 8,0%, 1,0% và 1,9%.20

1.1.3 Sức khỏe tâm thần ở người cao tuổi

Ngoại trừ sa sút trí tuệ và mê sảng, các rối loạn tâm thần không phổ biến hơn ở người cao tuổi so với nhóm tuổi trẻ Các nghiên cứu dịch tễ học đã phát hiện ra rằng các ước tính về tỷ lệ mắc các rối loạn phổ biến như trầm cảm điển

Trang 19

hình, rối loạn lo âu, lạm dụng chất và rối loạn loạn thần nói chung thấp hơn ở những người trên 65 tuổi so với nhóm tuổi trẻ hơn, một phát hiện gần đây được nhân rộng bởi các ước tính tỷ lệ lưu hành được sửa đổi mới (Newly Revised Prevalence Estimates) cho rối loạn tâm thần bằng cách sử dụng Dữ liệu Chương trình Khu vực lưu giữ dịch tễ học (Epidemiological Catchment Area Program data), cũng như Khảo sát Bệnh đồng mắc Quốc gia (National Comorbidity Survey) Hơn nữa, các nghiên cứu dọc gần đây đã theo dõi các cá nhân trong vòng 25 năm không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy tỷ lệ rối loạn cảm xúc tăng lên theo tuổi tác Sự khác biệt về độ tuổi trong trải nghiệm và biểu hiện của cả cảm xúc tích cực và tiêu cực cũng đã được nghiên cứu để xác định xem liệu người cao tuổi có tường thuật trải nghiệm cảm xúc tiêu cực hơn người trẻ tuổi hay không Trong một nghiên cứu gần đây sử dụng một loạt các mẫu đối tượng đa dạng về sắc tộc, những người cao tuổi cho biết họ trải qua ít cảm xúc tiêu cực hơn như buồn bã, tức giận và sợ hãi nhưng lại có nhiều cảm xúc tích cực hơn như hạnh phúc so với những người ở độ tuổi trẻ hơn Trong một nghiên cứu khác, ngay cả ở những người cao tuổi mắc bệnh cơ thể, những cảm xúc tích cực hơn là tiêu cực cũng được quan sát thấy, hỗ trợ thêm cho quan điểm rằng ngay cả tuổi cao và bệnh tật không nhất thiết dẫn đến tiến triển tiêu cực Ngoài ra, những người cao tuổi cho biết họ có khả năng kiểm soát cảm xúc tốt hơn đối với các trạng thái cảm xúc tiêu cực bên trong so với những người trẻ tuổi Để giải thích dữ liệu của họ, các tác giả đã đề xuất một mô hình kiểm soát cảm xúc, cho thấy rằng lão hóa có liên quan đến việc gia tăng khả năng ức chế trạng thái cảm xúc tiêu cực và duy trì trạng thái cảm xúc tích cực Một nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra những khác biệt thú vị về chủng tộc giữa người da đen và người da trắng cao tuổi về các biện pháp khắc phục tình trạng đau khổ tâm lý Nghiên cứu bao gồm hơn 1.000 người cao tuổi còn hoạt động tốt trong

Trang 20

độ tuổi từ 70 đến 79 và phát hiện ra rằng người da đen ít đau khổ hơn người da trắng, đặc biệt là ở trình độ học vấn thấp hơn Phát hiện vẫn như trên ngay cả khi đã kiểm soát được các yếu tố về sự hỗ trợ xã hội, tình trạng kinh tế xã hội

và tình trạng chức năng Các tác giả cho rằng người da đen cao tuổi có thể có địa vị cao hơn và gắn bó hơn với cộng đồng của họ so với người da trắng cao tuổi Nếu đúng như vậy, thì vị trí của những người da đen cao tuổi trong cộng đồng của họ có thể là hình mẫu cho các nhóm dân tộc hoặc chủng tộc khác.7

1.1.4 Khía cạnh tâm lý xã hội ở người cao tuổi

Các khía cạnh tâm lý xã hội của người cao tuổi liên quan đến những thay đổi trong nhiều lĩnh vực, bao gồm công việc, nghỉ hưu, cư trú, tình dục, căng thẳng, góa bụa, cảm xúc, sức khỏe tâm thần, hỗ trợ xã hội và tình bạn, nhiều

sự chênh lệch về sức khỏe trong xã hội, chẳng hạn như sự khác biệt về tuổi thọ trung bình hoặc có liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội, chủng tộc, dân tộc

và giới tính

Các nguồn lực và ràng buộc về môi trường và xã hội bao gồm nhiều chỉ

số được biết có ảnh hưởng đến sức khỏe, bao gồm các đặc điểm thể chất và xã hội Phân biệt đối xử, các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống và các bệnh đi kèm

có thể là những nguồn hạn chế chính, trong khi sự tham gia của tôn giáo và hỗ trợ xã hội thường là những nguồn lực bảo vệ quan trọng Ảnh hưởng tâm lý bao gồm các yếu tố tích cực, chẳng hạn như sự lạc quan, lòng tự trọng, khả năng làm chủ và kiểm soát, cũng như các tác động tiêu cực, chẳng hạn như các triệu chứng trầm cảm và căng thẳng nhận thức Tác động của các yếu tố tâm lý và

xã hội/môi trường lên sức khỏe được điều hòa bởi các hành vi sức khỏe và con đường sinh học, chẳng hạn như hệ thần kinh trung ương và đáp ứng nội tiết Mặc dù các mối liên hệ nhân quả giữa các nhóm biến này vẫn còn đang được tranh luận, nhưng rõ ràng tất cả đều là những yếu tố đóng góp quan trọng vào

Trang 21

sức khỏe và chất lượng cuộc sống.21

1.2 Tăng huyết áp ở người cao tuổi

1.2.1 Giới thiệu về tăng huyết áp

Tăng huyết áp là mối đe dọa ngày càng tăng trên toàn thế giới và là một yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch Tăng huyết áp thường được gọi là huyết áp cao, vẫn là một mối đe dọa ngày càng tăng trong xã hội hiện đại mặc

dù đã thực hiện các hướng dẫn lâm sàng mới và sự sẵn có rộng rãi của dược phẩm hiệu quả tại các nhà thuốc Trước tiên là do tăng huyết áp được coi là yếu

tố nguy cơ chính của bệnh lý tim mạch, thứ hai là do tỷ lệ tăng huyết áp tiếp tục gia tăng và thứ ba là do kiểm soát huyết áp không đầy đủ bất kể những tiến

bộ vượt trội trong điều trị bằng thuốc hạ áp Ngoài ra, người ta đã quan sát thấy tăng huyết áp có liên quan đến một loạt các yếu tố nguy cơ khác, chẳng hạn như tăng cholesterol trong máu và bệnh đái tháo đường Về cơ bản, việc đánh giá và phân loại chính xác nguy cơ toàn cầu ở từng người bệnh là rất quan trọng đối với việc giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung, và ngày nay được coi là yếu tố quyết định chính để quản lý tăng huyết áp Cụ thể, người ta đã gợi ý rằng

để ngăn ngừa các biến chứng tim mạch, cần phải chuyển đổi mô hình từ việc điều trị các yếu tố nguy cơ một cách cô lập sang một phương pháp tiếp cận quản lý rủi ro tim mạch tích hợp Theo Báo cáo Y tế Thế giới 2002, các chuyên gia về tăng huyết áp nên thực hiện các hành động chống lại các yếu tố nguy cơ chính và góp phần liên quan đến tăng huyết áp và các bệnh tim mạch, chẳng hạn như đái tháo đường, ung thư và các bệnh hô hấp mạn tính: thuốc lá, rượu, lười vận động và chế độ ăn uống không lành mạnh.3

Hơn nữa, tăng huyết áp ảnh hưởng đến một tỷ người trên toàn thế giới

và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng mức huyết áp tăng lên sẽ gây

tử vong chín triệu người mỗi năm Trong một nghiên cứu của Lawes và cộng

Trang 22

sự, điều đáng quan tâm là 7,6 triệu ca tử vong sớm, chiếm 13,5% tổng số ca tử vong toàn cầu, được cho là do huyết áp cao không kiểm soát được Những người sống ở các nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình, những người trung niên (khoảng 45–69 tuổi) và những người bệnh có mức huyết áp nằm trong khoảng tiền tăng huyết áp, là đại diện cho những nhóm dân số bị bệnh nặng nhất Một cách rõ ràng, ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dương, có tới 66% các dạng phụ của bệnh tim mạch có thể là do tăng huyết áp gây ra, nhấn mạnh sự cần thiết của một hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu nhằm xác định những

cá nhân có nguy cơ cao và tầm quan trọng của việc thực thi mới và các chiến lược giảm huyết áp hiệu quả để ngăn ngừa các biến chứng gây tử vong ở những quần thể này Ngoài ra, khi tổng tác động toàn cầu của các yếu tố nguy cơ lên gánh nặng chung của bệnh tim mạch được xem xét, 54% đột quỵ và 47% bệnh tim thiếu máu cục bộ trên toàn thế giới, được cho là do tăng huyết áp.3

1.2.2 Chẩn đoán tăng huyết áp

Chẩn đoán tăng huyết áp dựa vào đo huyết áp chính xác tại phòng khám

và ngoài phòng khám (huyết áp tại nhà, huyết áp theo dõi liên tục), khai thác tiền sử bản thân và tiền sử gia đình, khám thực thể và các xét nghiệm cận lâm sàng nhằm xác định nguyên nhân tăng huyết áp thứ phát hay nguyên phát, đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch, tổn thương cơ quan đích, và bệnh cảnh lâm sàng đi kèm để phân tầng nguy cơ Mặc dù có nhiều chứng cứ mới để có một

sự thay đổi trong định nghĩa và phân loại tăng huyết áp Tuy nhiên, chẩn đoán tăng huyết áp hiện tại vẫn dựa trên định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tăng huyết áp khi đo huyết áp có Huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc Huyết

Trang 23

Bảng 1.1 Phân loại huyết áp năm 2003 của Tổ chức Y tế thế giới 23

(mmHg)

HA tâm trương (mmHg)

Phân loại này dựa trên đo huyết áp tại phòng khám Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng một phân loại thì chọn mức huyết áp cao hơn để xếp loại

Hội Tim Mạch Việt Nam và Phân Hội THA Việt Nam vẫn dùng định nghĩa và phân loại THA phòng khám của khuyến cáo 2015 Chẩn đoán THA khi đo HA phòng khám có HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥90mmHg và cách phân loại mức độ tăng huyết áp cũng tương tự như Phân loại huyết áp năm

2003 của Tổ chức Y tế thế giới.24

1.2.3 Tăng huyết áp ở người cao tuổi

Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ chính của các biến cố tim mạch và

tử vong ở người cao tuổi Hướng dẫn về Tăng huyết áp của Trường Cao đẳng Tim mạch Hoa Kỳ/Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2017 đã khuyến cáo nên điều trị những người sống trong cộng đồng từ 65 tuổi trở lên có huyết áp tâm thu trung bình là 130 mm Hg hoặc cao hơn hoặc huyết áp tâm trương là 80 mm

Hg hoặc cao hơn.25 Theo Khảo sát Kiểm tra Dinh dưỡng và Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NHANES), 70% người lớn ≥65 tuổi bị tăng huyết áp.26 Mặc dù có tỷ

lệ tăng huyết áp cao nhất và có nguy cơ cao nhất về bệnh tật và tử vong, người cao tuổi thường chưa được điều trị tăng huyết áp đầy đủ Nhóm này thông

Trang 24

thường đã bị loại trừ hoặc không được đại diện trong các thử nghiệm lâm sàng

do lo ngại về tình trạng bệnh tật, nguy cơ té ngã, chức năng thận kém, thích ứng huyết động bất thường và nguy cơ cao hơn đối với rối loạn chức năng tự động, suy giảm nhận thức và đa bệnh lý.27

Tỷ lệ tăng huyết áp liên quan đến tuổi xuất phát từ những thay đổi trong cấu trúc và chức năng động mạch kèm theo sự lão hóa Các mạch lớn trở nên ít

co giãn hơn, làm tăng vận tốc sóng xung, gây tăng huyết áp tâm thu và tăng nhu cầu oxy của cơ tim Giảm dòng chảy về phía trước cũng xảy ra, hạn chế tưới máu cơ quan Những thay đổi không mong muốn này được tăng cường khi hẹp mạch vành hoặc giảm huyết áp tâm trương quá mức Rối loạn điều hòa tự chủ góp phần gây ra hạ huyết áp thế đứng (một yếu tố nguy cơ gây ngã, ngất và các biến cố tim mạch) và tăng huyết áp thế đứng (một yếu tố nguy cơ của phì đại thất trái, bệnh động mạch vành và bệnh mạch máu não) Rối loạn chức năng thận tiến triển, do xơ cứng cầu thận và xơ hóa mô kẽ với giảm tốc độ lọc cầu thận và các cơ chế cân bằng nội môi khác của thận như natri/kali-adenosine triphosphatase màng, thúc đẩy tăng huyết áp thông qua tăng natri nội bào, giảm trao đổi natri-canxi và thể tích sự bành trướng Tổn thương vi mạch góp phần gây ra bệnh thận mạn vì khối lượng ống thận giảm cung cấp ít đường vận chuyển để bài tiết kali hơn; do đó người bệnh cao huyết áp cao tuổi dễ bị tăng kali huyết Các nguyên nhân thứ phát của tăng huyết áp cần được xem xét, chẳng hạn như hẹp động mạch thận, tắc nghẽn ngưng thở khi ngủ, tăng aldosteron nguyên phát và rối loạn tuyến giáp Lối sống, các chất và thuốc (thuốc lá, rượu, caffein, thuốc chống viêm không steroid, glucocorticoid, hormone sinh dục, canxi và vitamin D và C) cũng có thể là những yếu tố góp phần quan trọng.25

Trang 25

1.2.4 Tiến triển và điều trị tăng huyết áp

1.2.4.1 Tiến triển của tăng huyết áp tác động lên cơ quan đích

Tăng huyết áp là bệnh lý tim mạch phổ biến nhất, ảnh hưởng đến 20–50% dân số trưởng thành trên toàn thế giới, và được đánh giá là một nguy cơ cao trong 84 yếu tố nguy cơ và các nhóm yếu tố nguy cơ đối với gánh nặng bệnh tật toàn cầu Về tim mạch, nó đã được xác định là một yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành, đột quỵ, bệnh động mạch ngoại biên và suy tim và thận ở cả nam và nữ trong một số lượng lớn các nghiên cứu dịch tễ học Tăng huyết áp cũng được chứng minh là làm tăng nguy cơ rung nhĩ Ngoài ra, các nghiên cứu quan sát đã phát hiện ra rằng huyết áp tương quan nghịch với chức năng nhận thức và tăng huyết áp có liên quan đến việc gia tăng tỷ lệ sa sút trí tuệ Vào năm

2001, gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới do HA tâm thu cao (≥115 mmHg)

là 54% đối với đột quỵ và 47% đối với bệnh tim do thiếu máu cục bộ Khoảng một nửa gánh nặng này là ở những người bị tăng huyết áp, phần còn lại ở những người có mức thấp hơn của huyết áp cao Hơn 80% gánh nặng liên quan đến bệnh tật là ở các vùng có thu nhập thấp và trung bình Một phân tích tổng hợp

dữ liệu cá nhân của một triệu người trưởng thành từ 61 nghiên cứu quan sát tiền cứu cho thấy mối quan hệ độc lập được phân loại liên tục với nguy cơ đột quỵ

và các biến cố mạch vành Bệnh mạch vành và tử vong do đột quỵ tăng dần và tuyến tính từ mức HA thấp tới 115 mmHg tâm thu và 75 mmHg tâm trương trở lên Nguy cơ gia tăng được thấy ở tất cả các nhóm tuổi từ 40 đến 89 tuổi Cứ tăng 20 mmHg huyết áp tâm thu hoặc 10 mmHg huyết áp tâm trương, tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành và đột quỵ tăng gấp đôi.28

1.2.4.2 Điều trị tăng huyết áp

Điều trị THA can thiệp không thuốc 24

Thay đổi lối sống phải được thực hiện ngay ở tất cả người bệnh với huyết

áp bình thường cao và THA Hiệu quả của thay đổi lối sống có thể ngăn ngừa

hoặc làm chậm khởi phát THA và giảm các biến cố tim mạch

Trang 26

Bảng 1.2 Can thiệp không thuốc

* Một đơn vị cồn chứa 14g nồng độ cồn tinh khiết tương đương 354 ml bia (5% cồn) ngày hoặc 150ml rượu vang (12% cồn) hoặc 45ml rượu mạnh (40% cồn)

Điều trị THA can thiệp bằng thuốc 24

Hầu hết người bệnh THA cần điều trị thuốc hạ áp cùng với thay đổi lối sống để đạt hiệu quả kiểm soát tối ưu Năm nhóm thuốc: ƯCMC, CTTA, CB, CKCa, LT (thiazides/thiazide-like như chlorthalidone và indapamide) có hiệu quả giảm HA và các biến cố TM qua các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nên được chỉ định chính điều trị hạ áp Mặc dù liệu pháp dùng thuốc hạ áp đã chứng minh có hiệu quả nhưng tỷ lệ kiểm soát HA chung vẫn còn kém, nên cần

có chiến lược kết hợp thuốc cố định liều sớm với một phác đồ đơn giản nhằm gia tăng sự tuân thủ điều trị

Trang 27

Bảng 1.3 Chiến lược thuốc điều trị THA

1.3 Rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi tăng huyết áp

1.3.1 Giới thiệu về rối loạn trầm cảm

Rối loạn trầm cảm được đặc trưng bởi các đợt riêng lẻ kéo dài ít nhất 2 tuần (mặc dù hầu hết các đợt có thời gian kéo dài hơn đáng kể) liên quan đến những thay đổi rõ ràng về sự ảnh hưởng lên nhận thức và các chức năng thần kinh thực vật cũng như thuyên giảm giữa các đợt Có thể chẩn đoán dựa trên một đợt duy nhất, mặc dù rối loạn là những đợt tái phát trong phần lớn các trường hợp Cần cân nhắc kỹ lưỡng để phân định buồn tức thời bình thường với một giai đoạn trầm cảm nặng Tang tóc có thể gây ra đau khổ lớn, nhưng nó thường không gây ra một giai đoạn rối loạn trầm cảm nặng nề Khi chúng xảy

ra cùng nhau, các triệu chứng trầm cảm và suy giảm chức năng có xu hướng trầm trọng hơn và tiên lượng xấu hơn so với tang tóc không kèm theo rối loạn trầm cảm điển hình Trầm cảm liên quan đến mất người thân có xu hướng xảy

ra ở những người có các yếu tố dễ bị rối loạn trầm cảm khác, và việc phục hồi

Trang 28

có thể được hỗ trợ bằng cách điều trị bằng thuốc chống trầm cảm Tỷ lệ mắc chứng rối loạn trầm cảm điển hình trong vòng 12 tháng ở Hoa Kỳ là khoảng 7%, với sự khác biệt rõ rệt theo nhóm tuổi, tỷ lệ này ở những người từ 18 đến

29 tuổi cao gấp ba lần so với tỷ lệ ở những người từ 60 tuổi trở lên Nữ giới có

tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 1,5 đến 3 lần so với nam giới khi bắt đầu ở tuổi vị thành niên.5

1.3.2 Cơ chế bệnh sinh rối loạn trầm cảm

Gen di truyền và sinh hoá não

Các nghiên cứu gia đình cho thấy nguy cơ tương đối tăng ít nhất hai hoặc

ba lần (# 5– 25%) ở những người thân cấp một của những người mắc trầm cảm, với tuổi khởi phát sớm và trầm cảm tái diễn mang đến nguy cơ cao hơn Các nghiên cứu về nhận con nuôi, hầu hết từ Scandinavia, cho thấy họ hàng ruột thịt của những người con nuôi trầm cảm có nhiều khả năng bị trầm cảm hơn họ hàng bên nhận nuôi Nghiên cứu song sinh, bằng cách so sánh song sinh đơn hợp tử với song sinh dị hợp tử, cho phép phân tích di truyền từ các ảnh hưởng của môi trường đến nguy cơ bệnh tật Ước tính từ các nghiên cứu song sinh về khả năng di truyền của trầm cảm dao động từ 33% đến 70%, không phụ thuộc vào giới tính Các kết quả nhất quán từ các nghiên cứu đa dạng này chỉ ra một

cơ sở di truyền đáng kể cho trầm cảm.29

Các nghiên cứu phân tích liên kết đã không tạo ra kết quả lặp lại, chủ yếu

là do rối loạn phức tạp nhưng không có khả năng là do sự bất thường trong một locus gen đơn lẻ Các chiến lược tìm gen ứng viên để đưa vào phân tích mối liên kết với các gen mã hóa cho các thành tố chuyên biệt của chức năng dẫn truyền thần kinh đã có nhiều thông tin hơn Sự chú ý đặc biệt đã được tập trung vào đa hình chức năng, là những biến thể trong trình tự ADN làm thay đổi sự biểu hiện và/hoặc hoạt động của các sản phẩm gen Sự phấn khởi ban đầu được tạo ra đối với sự liên kết của trầm cảm với tính đa hình liên quan đến alen ngắn của vùng khởi động của gen vận chuyển serotonin, 5- HTTLPR (vùng đa hình

Trang 29

liên kết 5 hydroxytryptamine (serotonin) và đáp ứng với SSRI (thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin), nhưng các nghiên cứu và phân tích tổng hợp tiếp theo đã không lặp lại những phát hiện này Tuy nhiên, các bằng chứng khác cho thấy đa hình 5- HTTLPR có liên quan đến các đặc điểm thần kinh và phản ứng với các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống, cho thấy rằng gen vận chuyển này điều chỉnh phản ứng căng thẳng hơn là gây ra trầm cảm Các gen ứng viên khác đang được nghiên cứu trong trầm cảm bao gồm tryptophan hydroxylase-

2, yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF), protein liên kết yếu tố đáp ứng cAMP (CREB) - 1, và các gen liên quan đến đồng hồ sinh học.29

Monoamine

Giả thuyết monoamine là nền tảng của các lý thuyết sinh học thần kinh

về bệnh trầm cảm trong nửa thế kỷ qua Ban đầu dựa trên những quan sát về cơ chế hoạt động của thuốc chống trầm cảm, giả thuyết này cho rằng trầm cảm là kết quả của sự thiếu hụt ở các vùng não quan trọng trong dẫn truyền thần kinh qua synap serotonin (5- HT) hoặc noradrenaline Thuốc chống trầm cảm được cho là hoạt động bằng cách ngăn chặn chất vận chuyển serotonin (SERT), dẫn đến tăng khả năng dẫn truyền thần kinh trong khe synap thần kinh Tuy nhiên, giả thuyết này không tính đến thời gian bị trễ để bắt đầu khởi phát tác dụng điều trị của thuốc chống trầm cảm, vì sự gia tăng chất dẫn truyền thần kinh synap xảy ra ngay lập tức với thuốc ức chế tái hấp thu Các nghiên cứu về sự suy giảm tryptophan và catecholamine cũng không đưa ra bất kỳ bằng chứng ủng hộ sự thiếu hụt đơn giản về mức độ hoặc chức năng dẫn truyền thần kinh trong trầm cảm Các mô hình mới hơn, kết hợp nhiều phương pháp tiếp cận khoa học thần kinh liên ngành khác nhau, đã vượt qua synap thần kinh để tập trung vào tầm quan trọng của các thụ thể và quá trình trước synap và sau synap

Ví dụ, sự giải mẫn cảm chậm của thụ thể tự động 5-HT1A trước synap và điều hòa giảm của thụ thể α2-adrenergic sau synap và/hoặc thụ thể 5-HT2 đã được

Trang 30

đề xuất để giải thích sự đáp ứng chậm với thuốc chống trầm cảm.29

Trục hạ đồi - tuyến yên – tuyến thượng thận

Những thay đổi trong trục hạ đồi - tuyến yên – tuyến thượng thận (HPA)

từ lâu đã được công nhận là có liên quan đến trầm cảm Tác dụng sinh học của căng thẳng được trung gian thông qua việc tiết ra yếu tố/hormone giải phóng corticotropin (CRF/CRH), dẫn đến tăng tiết hormon vỏ thượng thận (ACTH)

và giải phóng glucocorticoid Glucocorticoid làm thay đổi độ nhạy của thụ thể noradrenergic thông qua điều hòa hệ thống adenylate cyclase kết hợp với beta-adenylate trong não Căng thẳng mạn tính dẫn đến quá mẫn cảm của trục HPA

và trầm cảm có liên quan đến việc tăng nồng độ CRF trong dịch não tủy, tăng hoạt tính miễn dịch CRF và biểu hiện gen của CRF trong nhân não thất vùng dưới đồi, và điều hòa giảm các thụ thể CRF-R1 ở vỏ não trước Sự tiết glucocorticoid kéo dài có tác dụng gây độc thần kinh, đặc biệt là đối với sự hình thành thần kinh ở vùng hải mã

Thử nghiệm ức chế dexamethasone kết hợp với thử nghiệm kích thích CRH (dex/CRH) là sự đo lường nội tiết thần kinh nhạy nhất về suy giảm trong đáp ứng cortisol và độ nhạy của HPA Mặc dù có độ nhạy tốt để phát hiện trầm cảm, nhưng dex/CRH vẫn thiếu độ đặc hiệu đầy đủ (để phân biệt trầm cảm với các bệnh lý khác như tâm thần phân liệt và rối loạn hoảng sợ) để được sử dụng làm xét nghiệm chẩn đoán Các tác động lâm sàng khác của việc tăng sản xuất CRF và glucocorticoid trong trầm cảm bao gồm khả năng làm giảm phản ứng CRF có thể có tác dụng điều trị, và một số thuốc đối kháng CRF và glucocorticoid mới đang được thử nghiệm lâm sàng giai đoạn đầu như những thuốc chống trầm cảm Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rối loạn chức năng miễn dịch và cơ chế viêm thần kinh đóng một vai trò trong cơ chế bệnh sinh của trầm cảm Căng thẳng cấp tính và mạn tính có thể kích hoạt hệ thống miễn dịch viêm, với việc sản xuất các protein gây viêm bao gồm protein phản ứng C và các cytokine tiền viêm như IL-6 và TNF-α Các đường dẫn hai chiều đến não có thể cho phép các chất trung gian tiền viêm ngoại vi này ảnh hưởng

Trang 31

đến hoạt động thần kinh thông qua việc kích hoạt các tiểu thần kinh đệm (microglia) thường trú trong não để tạo ra các triệu chứng và hành vi trầm cảm

Do đó, các chất chống viêm cũng đang được nghiên cứu như một loại thuốc chống trầm cảm mới.29

Giải phẫu, sinh lý não

Hồi hải mã giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành trí nhớ, là một phần của mạch liên quan đến việc xử lý thông tin và tạo ra các ký ức cảm xúc và truy xuất Thể tích hồi hải mã giảm ở những người bệnh bị trầm cảm, đặc biệt với các đợt tái phát hoặc mạn tính hoặc tiền sử sang chấn trong quá khứ Sự suy giảm tân tạo tế bào thần kinh đã được đề cặp để giải thích cho phát hiện này, vì tăng tiết glucocorticoid do căng thẳng kéo dài đặc biệt gây độc thần kinh đối với tế bào thần kinh vùng hải mã Lý thuyết hình thành thần kinh cũng giải thích cho tác dụng điều trị của thuốc chống trầm cảm, vì những loại thuốc này kích hoạt dòng cAMP để giải phóng BDNF và CREB, giúp tăng tân tạo thần kinh ở hồi hải mã

Các nghiên cứu về hình ảnh thần kinh chức năng đã làm nổi bật những rối loạn trong tổ chức bậc cao và sự liên kết giữa các vùng não liên quan đến các các vòng thần kinh chuyên biệt Các vòng này liên kết các chức năng và vùng dưới vỏ (tự trị và điều tiết) với những vùng liên quan đến hệ thống khen thưởng (hệ limbic và paralimbic) và chức năng vỏ não cao hơn (nhận thức) Trong trầm cảm, rối loạn mạng lưới chức năng liên quan đến các vòng vỏ não

hệ viền (limbic-cortical circuits) — với sự kém hoạt động ở các vùng vỏ não (vỏ não trước trán lưng bên và vỏ não hồi đai lưng trước) và hoạt động quá mức

ở hệ limbic (hạnh nhân, hải mã, nhân accumbens), paralimbic [vỏ não hồi đai bụng trước (ventral anterior cingulate cortex), vỏ não trước trán bụng giữa (ventromedial prefrontal cortex)], và các vùng vỏ não tích hợp - được giả thuyết

là dẫn đến các triệu chứng về khí sắc và hành vi cũng như rối loạn điều hòa vùng dưới đồi liên quan Các suy giảm nhận thức “nóng” phụ thuộc vào cảm xúc trong trầm cảm bao gồm phản ứng thiên lệch một cách tiêu cực về khả năng

Trang 32

chú ý và trí nhớ suy luận, quá nhạy cảm với phản hồi tiêu cực, quá tập trung và nghiền ngẫm Trái ngược với các vòng của rối loạn chức năng nhận thức “lạnh”, các vòng thần kinh cho các thiếu hụt nhận thức nóng chủ yếu liên quan đến các kết nối giữa vỏ não trước trán bụng giữa và các khu vực xử lý cảm xúc như hạnh nhân

Trong mô hình rối loạn điều hòa vỏ não - hệ viền, sự thay đổi ở các mức

độ khác nhau có thể tạo ra hiệu quả điều trị Ví dụ, liệu pháp nhận thức - hành

vi có thể sửa đổi các vòng vỏ não, trong khi các loại thuốc chống trầm cảm có thể ảnh hưởng có chọn lọc đến các vòng ở nhịp sinh học hoặc các vòng hệ viền khác; hiệu quả kết hợp của cả hai biện pháp can thiệp có thể tạo ra những thay đổi thích ứng giống nhau trong toàn bộ hệ thống Một vùng đặc biệt thú vị là vùng vỏ não hồi đai dưới niêm chất trắng (subgenual cingulate, vùng Brodmann Cg25), điều chỉnh tâm trạng tiêu cực và cho thấy sự tăng hoạt động trong các trạng thái trầm cảm, trong khi đáp ứng với điều trị thuốc chống trầm cảm khác nhau có liên quan đến việc giảm hoạt động ở vùng này Đây là một khu vực được nhắm mục tiêu để kích thích não sâu (deep brain stimulation) trong điều trị trầm cảm kháng trị.29

Yếu tố tâm lý xã hội

Trầm cảm thường theo sau một tác nhân gây căng thẳng tâm lý xã hội, đặc biệt là với giai đoạn trầm cảm đầu tiên hoặc thứ hai Những trải nghiệm thời thơ ấu bất lợi như bị ngược đãi, mất cha hoặc mẹ và sự hỗ trợ xã hội không đầy đủ cũng phổ biến ở những người bệnh trầm cảm Ngày càng có nhiều bằng chứng xác định rằng căng thẳng và sang chấn có thể ảnh hưởng đến hệ thống sinh học liên quan đến bệnh trầm cảm Ví dụ, các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng sự thiếu thốn người mẹ sớm dẫn đến quá mẫn cảm của trục HPA ở tuổi trưởng thành, làm giảm sự tăng sinh tế bào hồi hải mã tương tự như giảm thể tích hồi hải mã được tìm thấy trong các nghiên cứu hình ảnh thần kinh của người bệnh trầm cảm và sang chấn thời thơ ấu Điều này có thể có ý nghĩa đối

Trang 33

với việc điều trị, vì các nghiên cứu đã chỉ ra rằng người bệnh trầm cảm và tiền

sử bị ngược đãi thời thơ ấu nói chung có kết quả kém hơn và đáp ứng tốt hơn với liệu pháp tâm lý so với đơn trị liệu chống trầm cảm Các nghiên cứu song sinh đã chỉ ra mối tương tác giữa nguy cơ di truyền và các sự kiện trong cuộc sống đối với việc phát triển bệnh trầm cảm Tuy nhiên, không phải tất cả các

sự kiện căng thẳng trong cuộc sống đều dẫn đến trầm cảm, và một số giai đoạn trầm cảm nhất định không liên quan đến tác nhân gây căng thẳng Giả thuyết tương tác giữa gen và môi trường, trong đó tính dễ bị tổn thương di truyền ảnh hưởng đến khả năng tiếp xúc với căng thẳng sẽ dẫn đến bệnh lý tâm thần, có thể giải thích sự khác biệt này Các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống đã được chứng minh là không ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển trầm cảm ở những phụ

nữ có mức độ tổn thương di truyền thấp nhất, nhưng các sự kiện trong cuộc sống có tác động tăng cao đến nguy cơ trầm cảm ở những người có tải trọng di truyền cao đối với bệnh trầm cảm Những phát hiện này cho thấy rằng các sự kiện môi trường, ngay cả những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, có thể làm thay đổi chức năng sinh học thần kinh trong một thời gian dài Các tác động sinh học của nghịch cảnh thời thơ ấu và các tác nhân gây căng thẳng trong cuộc sống cũng có thể được điều hòa thông qua cơ chế biểu sinh, liên quan đến các thay đổi chức năng của bộ gen do các yếu tố môi trường ảnh hưởng Các microRNA, các đơn vị nhỏ của RNA không mã hóa giúp điều chỉnh chức năng gen bằng cách tác động đến quá trình dịch mã của mRNA đích, cũng là mục tiêu để khám phá các thuốc chống trầm cảm mới.29

1.3.3 Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm

Giảm khí sắc

Chiếm khoảng 90% các trường hợp người bệnh than phiền mình cảm thấy buồn, chán nản, trống rỗng, vô vọng hoặc “không còn tha thiết điều gì nữa” Người rối loạn trầm cảm nhận thấy bất hạnh và có thể nhìn tương lai một cách tuyệt vọng Họ có thể đánh giá hoàn cảnh của họ là vô vọng và tin rằng

Trang 34

họ không có tương lai hoặc cuộc sống chỉ là một gánh nặng Sự đánh giá khách quan của bạn bè hoặc người thân cho thấy một bệnh cảnh đầy đủ hơn Người khám sẽ nhận thấy qua các biểu hiện về dáng điệu, ngôn ngữ, y phục, cùng với lời kể của bản thân của người bệnh Một số người bệnh nói rằng họ không thể khóc trong khi những người khác lại có những cơn khóc lóc vô cớ Một số ít không thấy có triệu chứng cảm xúc trầm cảm thường được gọi dưới tên trầm cảm ẩn Ở những người bệnh này, người chung quanh ghi nhận có tình trạng thu rút khỏi xã hội và hoạt động giảm Ở trẻ em thường xuất hiện tình trạng cáu kỉnh, bực bội.5,6,30

Giảm quan tâm thích thú

Gặp trong hầu hết các người bệnh Người bệnh hoặc người nhà khai là người bệnh hình như không còn tha thiết với bất kỳ hình thức hoạt động nào

mà trước đó họ rất thích như hoạt động tình dục, sở thích hoặc các công việc hằng ngày Họ có thể cảm thấy mất thích thú và nhìn các hoạt động vui vẻ bình thường một cách thờ ơ, hoặc cho rằng nếu tham gia những hoạt động đó họ không cảm thấy thích thú (mất thích thú sớm).5,6,30

Ăn mất ngon

Khoảng 70% số trường hợp trầm cảm có triệu chứng này và kèm theo sụt cân Giảm thích thú ăn uống thường gặp và trong trường hợp nặng, người bệnh có thể giảm cân do đói hoặc mất nước Triệu chứng quan trọng là giảm cân trên 5% trọng lượng cơ thể hoặc 3-4kg với tháng trước đó Chỉ có một số

ít trường hợp đặc biệt có cảm giác thèm ăn và thường thích ăn một số thức ăn đặc biệt như đồ ngọt và dẫn đến việc tăng trọng đáng kể (trầm cảm không điển hình).5,6,30

Rối loạn giấc ngủ

Khoảng 80% số người bệnh trầm cảm than phiền mình có ít nhất một loại rối loạn nào đó của giấc ngủ loại thường gặp như mất ngủ, khó đi vào giấc ngủ, mất ngủ giữa giấc, mất ngủ cuối giấc hoặc mất ngủ lan tỏa và gây khó chịu nhất là thức dậy sớm vào buổi sáng, thường khoảng 4-5 giờ sáng và các

Trang 35

triệu chứng trầm cảm ở thời điểm này là quan trọng nhất Ngược lại, những người bệnh khó đi vào giấc ngủ thường kèm theo lo âu Triệu chứng này thường kèm với chứng nghiền ngẫm lại các dữ kiện trong cuộc sống Vài người bệnh lại than phiền ngủ nhiều thay vì mất ngủ và triệu chứng này thường kèm theo triệu chứng ăn nhiều.5,6,30

Rối loạn hoạt động cơ thể

Khoảng 50% số người bệnh trầm cảm có biểu hiện chậm chạp trong suy nghĩ, lời nói và các cử động cơ thể Hỏi một lúc mới trả lời, trả lời câu hỏi với giọng đều đều, chậm và nội dung nghèo nàn, mắt nhìn xa xăm, cử động chậm chạp làm đôi khi người ta tưởng nhầm với hội chứng căng trương lực Khoảng 75% số người bệnh nữ và 50% nam có kèm theo lo âu biểu hiện với các triệu chứng kích thích hay đi tới đi lui, không thể ngồi yên một chỗ.5,6,30

Mất sinh lực

Gặp ở hầu hết các người bệnh với các biểu hiện mệt mỏi, cảm thấy không còn sức mặc dù không làm gì nhiều, nhiều người bệnh mô tả cảm giác cạn kiệt sức lực Một số người bệnh biểu hiện tình trạng cảm xúc và sức khỏe tồi tệ vào sáng sớm và sau đó dần khá hơn.5,6,30

Mặc cảm tự ti và ý tưởng bị tội

Hơn 50% số người bệnh tự đánh giá thấp bản thân và thường tự trách mình và khuếch đại các lỗi lầm nhỏ nhặt của mình; nặng hơn có thể đi đến hoang tưởng hoặc thậm chí có cả ảo giác Cảm giác tội lỗi có thể là thứ phát của trầm cảm, người mắc bệnh cảm thấy thất bại, không có khả năng thực hiện trách nhiệm của họ.5,6,30

Thiếu quyết đoán và giảm tập trung

Khoảng 50% số người bệnh than phiền suy nghĩ của mình quá chậm Họ cảm thấy khó suy nghĩ như trước đây, có lúc họ bận rộn hoàn toàn với các suy nghĩ xuất phát từ nội tâm Tập trung kém và rất đãng trí, họ thường than phiền trí nhớ kém hoặc không thể tập trung để đọc báo hoặc xem ti vi Ứng xử trở nên lúng túng do họ không thể đưa ra các quyết định Các trường hợp nặng có thể có tình trạng sa sút giả đặc biệt là ở người già Khác với bệnh sa sút ở người

Trang 36

già là các triệu chứng hồi phục nếu trầm cảm được điều trị.5,6,30

Lo âu

Phần lớn người bệnh có biểu hiện lo âu đó là triệu chứng căng thẳng nội tâm, lo sợ, đánh trống ngực, mạch nhanh, cồn cào bao tử Thường các triệu chứng lo âu và trầm cảm đi kèm và đôi khi rất khó phân biệt người bệnh bị rối loạn trầm cảm hay rối loạn lo âu Khoảng 3/4 người bệnh trầm cảm có lo âu kèm theo và 1/2 người bệnh lo âu có biểu hiện trầm cảm.5,6,30

Triệu chứng cơ thể

Ngoài các triệu chứng thực vật cổ điển của trầm cảm như mất ngủ, ăn ít, mất sinh lực, giảm tình dục, hành vi chậm chạp hoặc kích thích thì người bệnh còn có một số triệu chứng cơ thể đi kèm Đó là đau đầu, đau lưng, chuột rút, buồn nôn, nôn, táo bón, thở nhanh, thở sâu, đau ngực Chính các triệu chứng này làm người bệnh trầm cảm đến các cơ sở đa khoa thay vì tâm thần.5,6,30

Loạn thần

Đó là các triệu chứng ảo giác và hoang tưởng Hoang tưởng và ảo giác chỉ xảy ra ở các trạng thái trầm cảm nặng Hoang tưởng có thể phù hợp khí sắc bao gồm mất giá trị bản thân, tội lỗi, bị truy hại, chết hoặc không tồn tại và đặc biệt, cảm giác bị trừng phạt Những người bệnh như vậy có thể tự sát và giết cả gia đình “để giải cứu họ khỏi thế giới tội ác” hoặc vì cảm giác nặng sâu sắc Hoang tưởng không phù hợp khí sắc bao gồm thức ăn bị đầu độc, hàng xóm

Trang 37

tìm cách hại người bệnh Các ảo giác thường là ảo thanh, có vị trí trong đầu, và thường gặp trong trạng thái rối loạn cảm xúc nặng Các người bệnh trầm cảm

có biểu hiện loạn thần thường khó đáp ứng với điều trị và cũng dễ tái phát hơn.5,6,30

1.3.4 Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10 4

Chẩn đoán giai đoạn trầm cảm theo ICD-10 dựa trên sự xuất hiện của:

- Ba triệu chứng đặc trưng: (1) Giảm khí sắc; (2) Giảm quan tâm thích thú; (3) Giảm năng lượng, tăng mệt mỏi và giảm hoạt động

- Bảy triệu chứng phổ biến:

(1) Giảm tập trung chú ý

(2) Giảm tự trọng và lòng tự tin, khó khăn trong việc quyết định (3) Ý tưởng buộc tội và không xứng đáng

(4) Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan

(5) Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát

(6) Rối loạn giấc ngủ

(7) Rối loạn ăn uống (giảm hoặc thèm muốn ăn uống) và thay đổi trọng lượng cơ thể (5%)

Thời gian tối thiểu của cả giai đoạn trầm cảm phải kéo dài ít nhất 2 tuần Dựa vào số lượng các triệu chứng chủ yếu và các triệu chứng phổ biến, mức độ trầm trọng của các triệu chứng, cũng như thời gian diễn biến của giai

đoạn trầm cảm, người ta chia ra 3 mức độ nhẹ, vừa và nặng (Bảng 2.3)

Phân loại các rối loạn trầm cảm theo ICD-10 (được đề cập trong mục 2.2.3.4)

Trang 38

1.3.5 Rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi

1.3.5.1 Đặc điểm rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trầm cảm không được chẩn đoán với một tỷ lệ khá lớn ở người cao tuổi Điều này một phần là do thường xuyên phủ nhận bệnh trầm cảm với sự kỳ thị xã hội liên quan và cho rằng các triệu chứng của bệnh trầm cảm là do lão hóa "bình thường" hoặc do bệnh tật Trong ba thập

kỷ qua, một số SSRI đã trở thành những cái tên gần như quen thuộc, dẫn đến

sự công nhận và chấp nhận bệnh trầm cảm nói chung ở công chúng nhiều hơn

Xu hướng này sẽ tiếp tục, dẫn đến giảm kỳ thị xã hội liên quan đến trầm cảm Một lý do quan trọng khác dẫn đến việc bỏ sót chẩn đoán trầm cảm ở cơ sở chăm sóc ban đầu, nơi hầu hết người cao tuổi được tiếp xúc, là việc đào tạo sức khỏe tâm thần lão khoa ở cấp trường y khoa chưa đầy đủ Với những cải tiến trong giáo dục y tế, tình trạng này sẽ thay đổi trong những năm tới, dẫn đến việc phát hiện trầm cảm ở người cao tuổi nhiều hơn.7

Trầm cảm điển hình biểu hiện ở người cao tuổi có sự khác biệt so với người trẻ Các triệu chứng thể chất như thay đổi cảm giác thèm ăn và trọng lượng cơ thể, táo bón và rối loạn chức năng tình dục thường gặp hơn ở người cao tuổi; mặt khác, các triệu chứng thể chất ở người cao tuổi có thể là kết quả của một bệnh thực thể chưa được chẩn đoán (ví dụ, ung thư tuyến tụy) Trong khi tỷ lệ hiện mắc tại một thời điểm của trầm cảm dưới ngưỡng (subsyndromal)

ở người trẻ tuổi có thể bằng hoặc thấp hơn tỷ lệ trầm cảm điển hình (major depression), với những người từ 65 tuổi trở lên thì tỷ lệ phổ biến của trầm cảm dưới hội chứng (18%) cao gấp ba lần so với trầm cảm điển hình (6%) Do đó, thể trầm cảm nổi bật ở người cao tuổi dường như là trầm cảm dưới ngưỡng Đáng chú ý, trầm cảm dưới ngưỡng cũng có liên quan đến sự gia tăng đáng kể suy giảm tâm lý xã hội trong các lĩnh vực quan trọng của hoạt động hàng ngày.7

Một số cuộc điều tra dịch tễ học lớn ở vài quốc gia khác nhau đã chỉ ra nguy cơ tự sát liên quan đến trầm cảm, nghiện rượu và lạm dụng chất kích thích

Trang 39

ở nhóm thế hệ bùng nổ trẻ em cao hơn đáng kể so với những thế hệ sinh trước Thế chiến thứ hai Không rõ lý do giải thích cho loại “hiệu ứng thuần tập” (tức

là, tỷ lệ mắc bệnh khác nhau ở những người thuộc các thế hệ khác nhau), nhưng

có thể liên quan đến một số yếu tố khác nhau: yếu tố di truyền như đột biến mới giữa các thế hệ gần đây Một số yếu tố môi trường cũng có thể góp phần làm tăng căng thẳng và tăng nguy cơ trầm cảm ở những người thế hệ bùng nổ trẻ em; chúng bao gồm thay đổi cấu trúc gia đình với các gia đình hạt nhân, tỷ lệ

ly hôn cao hơn, thay đổi vai trò của phụ nữ đi làm, đô thị hóa lớn hơn và giảm

“tính liên kết xã hội” do dịch chuyển địa lý và thay đổi công việc Cuối cùng, trầm cảm được biết là phổ biến hơn ở những người bị bệnh cơ thể hơn là ở những người khỏe mạnh Quan sát này dẫn đến sự phát triển của các biện pháp can thiệp ngăn ngừa ở những người bị rối loạn thể chất như bệnh tim và ung thư.7

1.3.5.2 Vai trò của các bệnh thực tổn trên trầm cảm ở người cao tuổi

Các yếu tố nguy cơ sinh học không di truyền đóng vai trò rất quan trọng trong bệnh sinh của trầm cảm ở người cao tuổi Các nguy cơ này phần lớn là

do những thay đổi liên quan đến tuổi khiến chúng phổ biến hơn ở người lớn tuổi Những nguy cơ sinh học bao gồm các bệnh nội tiết, viêm hoặc miễn dịch, bệnh tim mạch và thần kinh Nhiều nghiên cứu đã xác nhận rõ ràng rằng trầm cảm ở người cao tuổi thường xuyên xảy ra trong bối cảnh bệnh tật.31

Mặc dù hầu như bất kỳ bệnh nghiêm trọng hoặc mạn tính nào đều có thể gây ra trầm cảm ở người cao tuổi, các bệnh được cho là có liên quan mạnh mẽ nhất đến trầm cảm bao gồm bệnh tim và mạch máu não và các bệnh thần kinh.31

Trầm cảm cũng có thể do nhiễm trùng hoặc khối u ác tính Bệnh đái tháo đường đã được nghiên cứu như một yếu tố nguy cơ của bệnh trầm cảm, và ngược lại, trầm cảm thực sự có thể là một yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của bệnh đái tháo đường

Rối loạn điều hòa nội tiết có thể gây ra trầm cảm ở người cao tuổi,

Trang 40

bằng chứng là tỷ lệ trầm cảm tăng cao trong bệnh cường giáp cũng như suy giáp Một số rối loạn như tăng hoạt động của vỏ thượng thận, tăng yếu tố tăng trưởng insulin-1 và các dấu hiệu viêm, có liên quan đến cả việc tăng tốc

độ lão hóa ở cấp độ tế bào và trầm cảm ở người cao tuổi Alexopoulos tìm thấy bằng chứng cho thấy trầm cảm ở người cao tuổi cũng có liên quan loãng xương.31

Trầm cảm có thể do một số loại thuốc gây ra (chẳng hạn như thuốc chẹn beta, thuốc chẹn kênh canxi, digitalis, corticosteroid, hormone, thuốc chống Parkinson, thuốc chữa bệnh đường hô hấp hoặc tiêu hóa, một số loại thuốc điều trị ung thư, benzodiazepin và interferon).31

Điều quan trọng cần lưu ý là các yếu tố nguy cơ sinh học có thể tương tác với các yếu tố tâm lý xã hội để gây ra trầm cảm ở người cao tuổi Trầm cảm

ở những người bệnh bị bệnh lý cơ thể thường dẫn đến mức độ bệnh nặng và tàn tật cao hơn, đồng thời tăng nguy cơ tử vong ở những người bệnh này.31

Các bệnh mạn tính gây đau, hạn chế chức năng và mất thị lực hoặc thính giác có thể gây ra trầm cảm Ngược lại, trầm cảm khiến việc điều trị bệnh trở nên khó khăn hơn Ví dụ, mất cảm giác ngon miệng của trầm cảm là nguyên nhân chính gây sụt cân ở người cao tuổi, và sụt cân đó gây ra tình trạng yếu ớt, khó hồi phục bệnh cơ thể Chán ăn cũng có thể dẫn đến tình trạng rối loạn dinh dưỡng, và một số bằng chứng cho thấy rằng sự thiếu hụt dinh dưỡng có thể đóng một vai trò trong sự phát triển của bệnh trầm cảm Thiếu vitamin B12 và thay đổi tỷ lệ giữa axit béo omega-6 và omega-3 dường như có liên quan bị trầm cảm ở người già cả khi đã kiểm soát được các yếu tố nguy cơ khác.31

1.3.5.3 Thang đánh giá trầm cảm người cao tuổi GDS-30

Thang đánh giá trầm cảm người cao tuổi 30 đề mục (GDS-30) được dịch

từ bản gốc tiếng Anh của Yesavage et al (1982) thành bản tiếng Việt Một nhóm các bác sĩ lâm sàng và nhà nghiên cứu tham gia vào lĩnh vực tâm thần lão khoa đã chọn ra 100 câu hỏi được cho là có khả năng phân biệt người cao tuổi mắc trầm cảm với những người trưởng thành bình thường với nhiều yếu tố

Ngày đăng: 25/06/2023, 11:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Organization WH. Decade of healthy ageing: baseline report. Summary. Geneva: World Health Organization; 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Decade of healthy ageing: baseline report
Tác giả: Organization WH
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2021
3. Andreadis EA. Hypertension: A Growing Threat. In: Hypertension And Cardiovascular Disease. Switzerland: Springer; 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypertension: A Growing Threat
Tác giả: Andreadis EA
Nhà XB: Springer
Năm: 2016
4. Organization WH. Mood [affective] disorders. In: The ICD-10 Classification of Mental and Behavioural Disorders - Clinical descriptions and diagnostic guidelines. Geneva: World Health Organization; 1992:91-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The ICD-10 Classification of Mental and Behavioural Disorders - Clinical descriptions and diagnostic guidelines
Tác giả: Organization WH
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 1992
5. Association AP. Depressive Disorder. In: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders. Arlington: American Psychiatric Association; 2013:155-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders
Tác giả: Association AP
Nhà XB: American Psychiatric Association
Năm: 2013
7. Jennifer Dunkin, Corp KA. Geriatric psychiatry - Psychological changes with normal aging. In: Kaplan &amp; sadock’s comprehensive textbook of psychiatry.Tenth edition ed. Philadelphia: Wolters Kluwer; 2017:10160-10192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kaplan & sadock’s comprehensive textbook of psychiatry
Tác giả: Jennifer Dunkin, Corp KA
Nhà XB: Wolters Kluwer
Năm: 2017
8. Grover S, Malhotra N. Depression in elderly: A review of Indian research. J Geriatr Ment Health. 2015;2(1):4-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression in elderly: A review of Indian research
Tác giả: Grover S, Malhotra N
Nhà XB: J Geriatr Ment Health
Năm: 2015
9. Kosana Stanetic, Mirko Stanetic, Sanja Jankovic, Cubrilovic I. Prevalence of depression in patients with hypertension. International Journal of Medical and Health Research. 2017;3(2):16-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of depression in patients with hypertension
Tác giả: Kosana Stanetic, Mirko Stanetic, Sanja Jankovic, Cubrilovic I
Nhà XB: International Journal of Medical and Health Research
Năm: 2017
10. Ashok V.G, S.S G. Prevalence of Depression among Hypertensive Patients Attending a Rural Health Centre in Kanyakumari. National Journal of Community Medicine. 2019;10(3):172-175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of Depression among Hypertensive Patients Attending a Rural Health Centre in Kanyakumari
Tác giả: Ashok V.G, S.S G
Nhà XB: National Journal of Community Medicine
Năm: 2019
11. Cole MG, Dendukuri N. Risk factors for depression among elderly community subjects: a systematic review and meta-analysis. Am J Psychiatry. 2003;160(6):1147-1156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk factors for depression among elderly community subjects: a systematic review and meta-analysis
Tác giả: Cole MG, Dendukuri N
Nhà XB: Am J Psychiatry
Năm: 2003
12. Nguyễn Hằng Nguyệt Vân, Nguyễn Thị Khánh Huyền, Hà Ngọc Anh. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người cao tuổi huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2019. Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển. 2019;03(04):14-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người cao tuổi huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2019
Tác giả: Nguyễn Hằng Nguyệt Vân, Nguyễn Thị Khánh Huyền, Hà Ngọc Anh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
Năm: 2019
13. Mahmood S, Hassan SZ, Tabraze M, et al. Prevalence and Predictors of Depression Amongst Hypertensive Individuals in Karachi, Pakistan.Cureus. 2017;9(6):e1397 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence and Predictors of Depression Amongst Hypertensive Individuals in Karachi, Pakistan
Tác giả: Mahmood S, Hassan SZ, Tabraze M
Nhà XB: Cureus
Năm: 2017
14. Taylor WD. Clinical practice. Depression in the elderly. N Engl J Med. 2014;371(13):1228-1236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical practice. Depression in the elderly
Tác giả: Taylor WD
Nhà XB: N Engl J Med
Năm: 2014
15. Bernhard T. Baune, Sw PJTe. Epidemiology of Cardiovascular Disease and Depression. In: Cardiovascular Diseases and Depression - Treatment and Prevention in Psychocardiology. 1 ed. Switzerland: Springer; 2016:5- 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cardiovascular Diseases and Depression - Treatment and Prevention in Psychocardiology
Tác giả: Bernhard T. Baune, Sw PJTe
Nhà XB: Springer
Năm: 2016
17. Tổng cục thống kê. Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam. Hà Nội: Tổng cục thống kê; 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Tổng cục thống kê
Năm: 2021
18. Lombard DB, Miller RA, Pletcher SD. Biology of Aging and Longevity. In: B.Halter J, ed. Hazzards - Geriatric Medicine and Gerontology. New York: McGraw Hill LLC; 2022:70-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biology of Aging and Longevity
Tác giả: Lombard DB, Miller RA, Pletcher SD
Nhà XB: McGraw Hill LLC
Năm: 2022
19. Marengoni A, Winblad B, Karp A, Fratiglioni L. Prevalence of Chronic Diseases and Multimorbidity Among the Elderly Population in Sweden.merican Journal of Public Health. 2008;7:1198-1200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of Chronic Diseases and Multimorbidity Among the Elderly Population in Sweden
Tác giả: Marengoni A, Winblad B, Karp A, Fratiglioni L
Nhà XB: American Journal of Public Health
Năm: 2008
20. Zhao C, Wong L, Zhu Q, Yang H. Prevalence and correlates of chronic diseases in an elderly population: A community-based survey in Haikou.PLOS ONE. 2018;13(6):1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence and correlates of chronic diseases in an elderly population: A community-based survey in Haikou
Tác giả: Zhao C, Wong L, Zhu Q, Yang H
Nhà XB: PLOS ONE
Năm: 2018
21. Albert SM, Felix C. Psychosocial Aspects of Aging. In: B.Halter J, ed. Hazzards - Geriatric Medicine and Gerontology. New York: McGraw Hill LLC; 2022:193-231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hazzards - Geriatric Medicine and Gerontology
Tác giả: Albert SM, Felix C
Nhà XB: McGraw Hill LLC
Năm: 2022
22. Organization WH. Diseases of the circulatory system. In: International Classification of Diseases. 10 ed. Geneva: World Health Organization; 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Classification of Diseases
Tác giả: Organization WH
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 1992
23. Whitworth JA. 2003 World Health Organization (WHO)/International Society of Hypertension (ISH) statement on management of hypertension.J Hypertens. 2003;21(11):1983-1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Health Organization (WHO)/International Society of Hypertension (ISH) statement on management of hypertension
Tác giả: Whitworth JA
Nhà XB: J Hypertens
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w