1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP LỚN TIỂU LUẬN: HỌC PHẦN MÔI TRƯỜNG CON NGƯỜI VÀ SỨC KHỎE

15 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập lớn học phần Môi Trường Con Người Và Sức Khỏe
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Đồng Tháp
Chuyên ngành Môi Trường Con Người Và Sức Khỏe
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với giáo viên tiểu học việc nắm vững các kiến thức về môi trường, dân số và môi trường, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường…Cũng như nắm vững các đặc điểm phát triển của cơ thể trẻ em, tâm sinh lý trẻ tiểu học vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc và giáo dục các em. Các thầy cô, nhà giáo dục hơn ai hết là những người nắm vững kiến thức chung về môi trường, các giai đoạn phát triển của trẻ em. Học phần Môi trường con người và sức khỏe, cung cấp cho sinh viên những kiến thức về môi trường, các kiến thức về sức khỏe học sinh để nhằm chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện hơn. Các kiến thức về học phần hỗ trợ tốt cho sinh viên, giáo viên Tiểu học giảng dạy các môn Tự nhiên xã hội, Khoa học, Lịch sử Địa lý. Sinh viên có thể vận dụng kiến thức trong việc giáo dục giảng dạy học sinh Tiểu học, nắm vững kiến thức về Môi trường con người và sức khỏe giúp hướng dẫn học sinh rèn luyện và vui chơi học tập hợp lý. Ngoài ra, Những kiến thức này có thể vận dụng để nuôi dạy con trẻ ở gia đình, hoàn toàn thiết thực trong công việc giảng dạy lẫn đời sống của giáo viên sinh viên ngành Giáo dục tiểu học. Đối với giáo viên tiểu học việc nắm vững các kiến thức về môi trường, dân số và môi trường, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường…Cũng như nắm vững các đặc điểm phát triển của cơ thể trẻ em, tâm sinh lý trẻ tiểu học vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc và giáo dục các em. Các thầy cô, nhà giáo dục hơn ai hết là những người nắm vững kiến thức chung về môi trường, các giai đoạn phát triển của trẻ em. Học phần Môi trường con người và sức khỏe, cung cấp cho sinh viên những kiến thức về môi trường, các kiến thức về sức khỏe học sinh để nhằm chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện hơn. Các kiến thức về học phần hỗ trợ tốt cho sinh viên, giáo viên Tiểu học giảng dạy các môn Tự nhiên xã hội, Khoa học, Lịch sử Địa lý. Sinh viên có thể vận dụng kiến thức trong việc giáo dục giảng dạy học sinh Tiểu học, nắm vững kiến thức về Môi trường con người và sức khỏe giúp hướng dẫn học sinh rèn luyện và vui chơi học tập hợp lý. Ngoài ra, Những kiến thức này có thể vận dụng để nuôi dạy con trẻ ở gia đình, hoàn toàn thiết thực trong công việc giảng dạy lẫn đời sống của giáo viên sinh viên ngành Giáo dục tiểu học.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

BÀI TẬP LỚN

HỌC PHẦN MÔI TRƯỜNG CON NGƯỜI VÀ SỨC KHỎE

(Đánh giá kết thúc học phần)

HỌC VIÊN: LƯU QUỐC CƯỜNG

MÃ HV:

LỚP: DHGDTH

KÝ TÊN:………

ĐỒNG THÁP, NĂM 2022

Trang 2

ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN

Đồng Tháp, ngày tháng năm 2023

Giảng viên chấm 1

(ký và ghi rõ họ tên)

Trang 3

MỞ ĐẦU

Đối với giáo viên tiểu học việc nắm vững các kiến thức về môi trường, dân số

và môi trường, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường…Cũng như nắm vững các đặc điểm phát triển của cơ thể trẻ em, tâm sinh lý trẻ tiểu học vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc và giáo dục các em Các thầy cô, nhà giáo dục hơn ai hết là những người nắm vững kiến thức chung về môi trường, các giai đoạn phát triển của trẻ em Học phần Môi trường con người và sức khỏe, cung cấp cho sinh viên những kiến thức về môi trường, các kiến thức về sức khỏe học sinh để nhằm chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện hơn Các kiến thức

về học phần hỗ trợ tốt cho sinh viên, giáo viên Tiểu học giảng dạy các môn Tự nhiên

xã hội, Khoa học, Lịch sử - Địa lý Sinh viên có thể vận dụng kiến thức trong việc giáo dục giảng dạy học sinh Tiểu học, nắm vững kiến thức về Môi trường con người và sức khỏe giúp hướng dẫn học sinh rèn luyện và vui chơi học tập hợp lý Ngoài ra, Những kiến thức này có thể vận dụng để nuôi dạy con trẻ ở gia đình, hoàn toàn thiết thực trong công việc giảng dạy lẫn đời sống của giáo viên - sinh viên ngành Giáo dục tiểu học

NỘI DUNG 1.1.Cấu tạo chung của cơ thể trẻ em

1.1.1 Tại sao nói cơ thể con người là một khối thống nhất?

Cơ thể là một khối thống nhất

Mọi bộ phận, mọi cơ quan đều được tạo thành từ tế bào Tập hợp các tế bào có cùng chức năng tạo thành mô Mô tập hợp lại để tạo thành cơ quan và hệ cơ quan Như vậy, mọi cơ quan, mô và tế bào đều được liên kết với nhau thành một khối thống nhất trong cơ thể (Hình 1.3)

- Sự thống nhất giữa đồng hóa và dị hóa

+ Đồng hóa: là sự trao đổi và hấp thụ các chất được đưa từ môi trường bên ngoài vào cơ thể Kết quả là tạo ra các hợp chất hóa học phức tạp rồi từ đó tổng hợp lên các thành phần của cơ thể sống và tạo ra năng lượng

+ Dị hóa: là sự phân hủy các hợp chất hữu cơ phức tạp thành các chất đơn giản Kết quả của sự phân hủy này là sự giải phóng ra năng lượng Năng lượng này một mặt dùng để tổng hợp các chất phức tạp mới từ các chất lấy ở bên ngoài vào, một mặt dùng

để thực hiện các quá trình sống trong các bộ phận của cơ thể

Trang 4

Hình 1.3 Các cấp độ tổ chức cơ thể người.

- Sự thống nhất giữa cấu tạo và chức năng.

Giữa cấu tạo, hình thái với sinh lý, chức năng có sự thống nhất chặt chẽ với nhau Chức năng và hình thái của cơ thể là kết quả của sự phát triển cá thể và chủng loại của cơ thể Do đó giữa chức năng và hình thái cấu tạo có mối liên hệ khăng khít

và lệ thuộc lẫn nhau, trong đó chức năng giữ vai trò quyết định vì chức năng trực tiếp liên hệ với trao đổi chất

- Sự thống nhất giữa các cơ quan trong cơ thể (Hình 1.4 và hình 1.5)

Trang 5

Các cơ quan và các hệ quan cơ trong cơ thể luôn luôn có sự hoạt động phối hợp nhịp nhàng và thống nhất với nhau Một bộ phận này ảnh hưởng đến các bộ phận khác,

ví dụ, khi ta lao động thì cơ làm việc, tim đập nhanh hơn, nhịp thở gấp hơn Sau khi lao động, ta ăn ngon hơn, mồ hôi ra nhiều hơn, nước tiểu cũng thay đổi thành phần Toàn bộ cơ thể ảnh hưởng đến một bộ phận, ví dụ: hiện tượng đói là ảnh hưởng của toàn bộ cơ thể đến cơ quan tiêu hóa Trong từng cơ quan có sự phối hợp giữa các thành phần cấu tạo với nhau, ví dụ: tay co là do sự phối hợp giữa hai cơ nhị đầu và tam đầu; đồng tử co giãn được là do sự phối hợp của cơ phóng xạ và cơ đồng tâm

- Sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường (Hình 1.5)

Khi môi trường thay đổi thì cơ thể cũng phải có những thay đổi bên trong, những phản ứng cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường Nếu không, cơ thể sẽ không tồn tại được Khả năng này của cơ thể được gọi là tính thích nghi - một đặc tính chung của sinh học Ví dụ, khi trời lạnh, ta “nổi da gà” Đó chính là một sự thích nghi của cơ thể đối với thời tiết: các cơ dựng lông co lại để giữ cho nhiệt trong cơ thể đỡ thoát ra ngoài Đó là loại thích nghi nhanh

2.1.Sinh lý vận động

2.1.1 Bộ xương người gồm có mấy phần? Trình bày cấu tạo và các yếu

tố thành phần của từng phần.

Trang 6

Giới thiệu về bộ xương người

Bộ xương người có khoảng 200 chiếc xương chia làm ba phần: xương sọ, xương

thân, xương chi (Hình 5.4).

- Xương sọ: xương sọ chia thành hai phần là sọ não và sọ mặt

+ Sọ não là một hộp xương lớn, trong đó chia não bộ Sọ não do một xương trán,

2 xương thái dương, 2 xương đỉnh, một xương chẩm, một xương bướm, một xương sàng tạo lên Các xương này thông với nhau bằng khớp bất động

Sọ mặt tạo nên khung xương của phần trên các cơ quan hô hấp và tiêu hóa

- Xương thân, gồm cột sống và lồng ngực:

+ Cột sống gồm 33 - 34 đốt sống: 7 đốt sống cổ, 12 đốt ngực, 5 đốt thắt lưng, 5 đốt cùng dính lại thành một khối, 4 - 5 đốt cụt

Mỗi đốt sống có thân đốt sống ở phía trước cung đốt sống và một số mấu ở phía sau Một số mấu dùng làm sợi bám của cơ, một số mấu khác dùng để khớp với các mấu của các đốt lân cận Chính giữa thân xương là ống tủy sống do các lỗ đốt sống tạo nên

Cột sống của người có bốn điểm cong, cổ, ngực, thắt lưng, cùng Chúng liên quan mật thiết với tư thế đứng thẳng của con người, đó là đặc điểm của con người khác với động vật

+ Lồng ngực do 12 đôi xương sườn, các đốt ngực và xương ức tạo nên; do đôi xương sườn trên dính vào xương ức bởi một đoạn sụn (đoạn sụn của đôi xương sườn,

8 ,9 ,10 dính liền với đôi thứ 7) Đôi sườn thứ 11, 12 không nối với xương ức một đầu

tự do Lồng ngực bảo vệ phổi, tim và các cơ quan phần ngực Ở người lồng ngực rộng

Trang 7

chiều ngang và hẹp theo chiều trước sau nó liên quan tới dáng đứng thẳng và sự giữ thăng bằng của cơ thể

- Xương tay chân:

+ Xương này gồm xương cánh tay ( khớp động với xương bả vai), xương cẳng tay (xương trụ ở phía trong và xương quay ở phía ngoài), xương bàn tay: có 5 xương

cổ tay, 5 xương đốt bàn tay, xương đốt ngón tay

+ Xương chân, xương chậu, xương đùi Xương cẳng chân gồm hai xương, xương chày ở trong xương mác ở ngoài và xương bàn chân gồm ba phần: 7 xương cổ chân, năm xương bàn chân và xương ngón chân

- Các khớp xương: có ba loại khớp là khớp bất động, khớp bán động và khớp động

+ Khớp bất động: được tạo lên bởi sự dính liền các xương lại với nhau, các xương trong khớp không có sự cử động

Ví dụ: ở trẻ em trong năm đầu xương chân gồm ba xương riêng rẽ nối với nhau bởi sụn, dần dần sụn được thay bằng xương, các xương dính liền lại với nhau

Ở hộp sọ khớp bất động được tạo nên do những chỗ lồi của xương này đặt vào chỗ lõm tương ứng của xương đối diện (khớp răng cưa)

+ Khớp bán động: các xương trong khớp có vận động nhưng hạn chế Ví dụ: khớp giữa các đốt ngón, đốt sống

+ Khớp động: là loại khớp điển hình, cho phép xương cử động rộng rãi

+ Bao khớp: Cấu tạo từ mô liên kết dày tạo thành bao bám vào hai bờ của diện khớp.

+ Diện khớp: chỗ tiếp xúc giữa hai xương.

Phần lớn các khớp xương nối với nhau theo kiểu khớp động

3.2 Hệ bài tiết và hệ sinh dục

3.2.2 Quá trình cơ chế tạo thành nước tiểu diễn ra như thế nào? Nêu cách chăm sóc hệ bài tiết cho trẻ em.

Cơ chế tạo nước tiểu

Cơ chế tạo nước tiểu theo quy luật áp suất thẩm thấu và những phương thức vận chuyển tích cực Có 2 giai đoạn chủ yếu: lọc ở nang Bowman và lọc ở ống thận

- Sự lọc nước tiểu ở nang Bowman:

Do áp suất máu trong quản cầu Malpighi lớn hơn áp suất trong nang Bowman nên nước và các chất hòa tan trong nước thấm qua thành mạch sang nang Bowman tạo thành nước tiểu loạt 1 Do vậy, nước tiểu loạt 1 có thành phần gần giống huyết tương Lưu lượng máu qua thận mỗi ngày khoảng 800 - 900l và thận lọc được khoảng

180 - 190l nước tiểu loạt 1 Trong nước tiểu loạt 1 có ure, axit uric, và các phân tử protein đơn giản

Trang 8

- Sự lọc nước tiểu ở ống thận:

Mỗi ngày thận lọc được 180 - 190l nước tiểu loạt 1 ở nang Bowman, nhưng chỉ thải 1 - 1,5l nước tiểu ra ngoài Như vậy, khi nước tiểu loạt 1 chảy qua ống thận đã xảy

ra quá trình tái hấp thu phần lớn nước tiểu và các chất khác trả lại cho máu như glucose, axit amin, protein, muối natri, Còn các chất ure, axit uric, phenol và một số muối (carbonat, sulfat, ) không được tái hấp thu, cùng với số nước còn lại tạo thành nước tiểu loạt 2 (nước tiểu chính thức) đổ vào ống góp chung Một số chất như glucose, axit amin, được tái hấp thu hoàn toàn cho nên không có trong nước tiểu chính thức Nhưng khi nồng độ của chúng trong máu vượt quá giới hạn cho phép, chúng sẽ không được tái hấp thu hoàn toàn nữa, mà theo nước tiểu ra ngoài (tiểu đường)

Các chất khác như ure, sulfat, được thải ra ngoài nhiều hay ít là tùy theo nồng

độ của chúng trong máu Nồng độ trong máu càng cao thì nồng độ trong nước tiểu cũng càng cao

Hoạt động của thận chịu sự chi phối của dây thần kinh dinh dưỡng và một số hormon Bởi vậy, kích thích sợi giao cảm làm co mạch, lượng máu đến thận giảm, thành mạch ít căng nên lọc ít nước tiểu Kích thích sợi mê tẩu thì ngược lại, mạch giãn, lượng máu đến thận nhiều, thành mạch căng, lượng nước tiểu tăng

Kích thích gây đau làm giảm lượng nước tiểu Vỏ não cũng ảnh hưởng đến hoạt động của thận Các chất gây co mạch như adrenalin, vazopresin gây co mạch ở thận nên làm giảm lượng nước tiểu Hormon của tuyến yên, tuyến giáp, tuyến trên thận đều ảnh hưởng đến sự lọc nước tiểu của thận Hormon của tuyến tụy có tác dụng điều chỉnh nồng độ glucose trong máu nên có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tái hấp thu glucose ở thận

Trang 9

Sự bài tiết nước tiểu

Nước tiểu chảy xuống bóng đái nhờ nhu động của 2 niệu quản, cổ bóng đái có cơ thắt trơn ở phía trên và cơ thắt vân ở phía dưới Các cơ này chịu sự chi phối của trung ương thần kinh Khi nước tiểu chứa đầy bóng đái làm căng bóng đái, kích thích cơ quan thụ cảm, làm xuất hiện xung động thần kinh truyền về trung khu phản xạ tiểu tiện

ở tủy sống, gây ra phản xạ (Hình 10.4) Trung khu ở tủy sống lại chịu ảnh hưởng của

các trung khu cao hơn như hành tủy, não trung gian và vỏ não Ở trẻ em, khả năng kìm nén phản xạ tiểu tiện được tăng dần theo tuổi

Đặc điểm hệ bài tiết ở trẻ em

Thận của trẻ em có những đặc điểm khác biệt rõ ràng so với thận của người lớn về

vị trí, kích thước, khối lượng và về chức năng hoạt động

Thận của trẻ em nằm thấp hơn so với người lớn Ở trẻ sơ sinh, khối lượng của thận bằng 1/100 - 1/125 khối lượng cơ thể (ở người lớn bằng 1/200 - 1/225 khối lượng cơ thể) Sau đó thận được tiếp tục phát triển và lớn lên theo lứa tuổi, nhưng quá trình đó diễn ra mạnh mẽ nhất ở năm đầu, ở thời kỳ phát dục (dậy thì) và vào lúc 20 tuổi

Về chức năng: thận của trẻ từ sơ sinh đến 6 - 7 tháng tuổi còn mang nhiều đặc tính chưa hoàn thiện Chẳng hạn, thận của trẻ sơ sinh chưa có khả năng đào thải một cách tích cực các chất lạ, khả năng cô đặc nước tiểu cũng còn yếu ớt Trẻ dưới 6 - 7 tháng tuổi bài tiết các clorua chưa đáng kể, chỉ có một phần NaCl thừa bị thải vì phần lớn bị các tổ chức giữ lại cùng với nước Trẻ từ 9 - 12 tháng, khả năng hoạt động của thận tăng lên rất mạnh Sự tăng này thể hiện rõ rệt trong việc tăng trị số hấp thụ trở lại và sự tăng nồng độ nước tiểu

Mặt khác, các quá trình tạo thành nước tiểu trong thận cũng diễn ra không đồng thời: quá trình lọc trong các tiểu cầu được hình thành vào đầu năm thứ 2; quá trình tiết vào các tiểu niệu đạo và hấp thụ trở lại được hình thành vào tháng thứ 5, 6

Bóng đái của trẻ em nằm cao hơn so với người lớn, sau đó nó sẽ tụt dần xuống khoang chậu nhỏ Khối lượng và kích thước của bóng đái cũng biến đổi theo lứa tuổi

Ví dụ: trẻ 1 tuổi khối lượng bóng đái bằng 200 ml, 10 tuổi khối lượng bóng đái bằng

600 ml, 12 tuổi khối lượng bóng đái bằng 1.000 ml

Việc tiểu tiện có thể diễn ra không phải khi nào toàn bộ bóng đái đầy ắp Trẻ năm đầu khi tiểu tiện thì thải 60 ml nước tiểu, trẻ 7 - 8 tuổi thì thải 150 ml, trẻ 10 - 12 tuổi thải 250 ml

Nhìn chung, trẻ em thuộc mọi lứa tuổi thì việc tiểu tiện diễn ra thường xuyên hơn

so với người lớn và nước tiểu được thải ra tương đối nhiều hơn Sở dĩ như vậy là do cường độ trao đổi nước và chế độ ăn (có lượng hydratcacbon và nước nhiều) của trẻ quy định Trong năm đầu, việc tiểu tiện của trẻ mang tính chất không chủ định Về sau, theo mức độ trưởng thành của các cơ chế điều chỉnh của hệ thần kinh trung ương

Trang 10

và của giáo dục mà hành động tiểu tiện trở nên có chủ định Ở một số trẻ có hiện tượng đái dầm ban đêm do: chế độ sinh hoạt không hợp lý (như ăn trước khi ngủ, uống nhiều nước vào buổi tối, ăn các thức ăn kích thích, giấc ngủ không bình thường, ), hoặc do hậu quả của sự rối loạn thần kinh - tâm lý của trẻ Hiện tượng này thường thấy

ở trẻ em trai hơn là gái và thường đến 10 tuổi hoặc đến tuổi dậy thì sẽ chấm dứt

Đặc điểm của da trẻ em

Ở trẻ sơ sinh, da rất mỏng và mịn Lớp tế bào sừng rất mỏng, nhiều chỗ tế bào sừng tiếp giáp nhau không chắc, nên da dễ bị tổn thương, khi bị tổn thương dễ viêm nhiễm

Các mạch máu của da tương đối lớn, da trẻ thường hồng hào Trong lớp da chính thức có nhiều sợi đàn hồi, lớp mỡ dưới da ít

Trong thời kỳ bú mẹ lớp tế bào sừng vẫn mỏng, lớp mỡ dưới da phát triển mạnh trong 6 tháng đầu Trẻ 3 - 4 tuổi lớp sừng dày và vững chắc, lớp mỡ dưới da phát triển chậm dần tới 7 - 8 tuổi thì ngừng lại hoặc giảm đi một chút

Tuyến nhờn bài tiết ngay từ khi mới sinh Tới 5 - 6 tháng tuyến nhờn phát triển mạnh, có cấu trúc như ở người lớn

Tuyến mồ hôi: trẻ sơ sinh tuyến mồ hôi hoạt động yếu Trẻ 4 - 6 tháng sự tiết mồ hôi rõ dần, tăng nhiều cuối tuổi bú mẹ

Ở trẻ em phản ứng tiết mồ hôi và co giãn mạch máu (khi nhiệt độ môi trường thay đổi) phát triển chậm, chức năng điều hòa thân nhiệt kém

Da của trẻ có tính cảm thụ cao với các kích thích và dễ nhiễm khuẩn

Cách chăm sóc hệ bài tiết cho trẻ em.

Để giữ vệ sinh hệ tiết niệu cần vệ sinh toàn bộ cơ thể cũng như hệ bài tiết, chú ý thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, không nên ăn nhiều đường, nhiều protein, quá mặn, quá chua tránh ăn nhiều chất tạo sỏi Không nên ăn thức ăn chưa chín kỹ, thức ăn ôi thiu đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, để tạo điều kiện cho hệ tiết niệu lọc và thải nước tiểu cần uống đủ nước và đi tiểu đúng lúc, không nên nhịp tiểu lâu.

Kết luận

Học phần Môi trường con người và sức khỏe, cung cấp cho sinh viên những kiến thức về môi trường xung quanh học sinh, kiến thức về sức khỏe nhằm chăm sóc giáo dục trẻ, các kiến thức về môi trường, dân số và môi trường, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường góp phần không nhỏ trong quá trình giáo dục các em học sinh Cơ thể trẻ em nói chung và từng cơ quan nói riêng không hoàn toàn giống người trưởng thành Cơ thể trẻ chưa hoàn thiện về cấu

Trang 11

trúc và chức năng Những tác động từ bên ngoài môi trường dù rất nhỏ đều ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể trẻ em Vì thế, việc nghiên cứu đặc điểm sinh lý trẻ em và những quy luật phát triển của nó là đặc biệt cần thiết đối với việc chăm sóc giáo dục cho trẻ em những mầm non tương lai của đất nước Những hiểu biết kiến thức và vận dụng vào thực tế có được cũng nhờ rất lớn vào công giảng dạy, hướng dẫn

từ giảng viên, chân thành cảm ơn sự truyền đạt tận tâm và dễ hiểu từ giảng viên

- TS Đỗ Thị Như Uyên Những hiểu biết, vận dụng kiến thức học phần giúp sinh

viên nói chung và riêng bản thân có nhiều tri thức quan trọng trong việc học tập

và hỗ trợ rất nhiều trong giảng dạy ở trường Tiểu học./.

Ngày đăng: 24/06/2023, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w