1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay

109 721 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ Việt Nam hiện nay
Tác giả Bùi Thiên Sơn
Người hướng dẫn Trưởng Ban Nghiên cứu Chính sách Đầu tư và Tài chính KH-CN
Trường học Viện Chiến lược và Chính sách KH-CN
Chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT GDP -Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội KH &CN, KH-CN - Khoa học và Công nghệ OECD - Tổ chức các nước công nghiệp phát triển DOE - Department of Ene

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Báo cáo Tổng hợp

ĐỀ TÀI NC KH CẤP BỘ KH-CN NĂM 2009

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ

VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TÂNG KỸ THUẬT

CHO KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chủ nhiệm Đề tài: PGS TS Bùi Thiên Sơn

Trưởng Ban Nghiên cứu Chính sách Đầu tư và

Tài chính KH-CN, Viện Chiến lược và Chính sách KH-CN

8483

HÀ NỘI, 6/ 2010

Trang 2

MỤC LỤC

trg

Danh mục các Bảng, Biểu và Hộp………

Danh mục các viết tắt………

LỜI MỞ ĐẦU……… ……… 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ 8

1.2 Quan niệm, vai trò chính sách đầu tư và hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ 10

1.3.Lý do nghiên cứu vấn đề đầu tư và hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ ở Việt nam…… 12

Chương 2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ KHAI THÁC CƠ SỞ HẠ TÀNG KỸ THUẬT KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 2.1 Kinh nghiệm và bài học từ các nước Châu Á 14

2.1.1 Kinh nghiệm và bài học từ Hàn quốc……… 14

2.1.2 Kinh nghiệm và bài học từ Trung quốc, Đài loan 14

2.1.3 Kinh nghiệm và bài học từ Singapore……… … 16

2.1.4 Kinh nghiệm và bài học từ Malaysia ……… 16

2.1.5 Kinh nghiệm và bài học từ Nhật bản……… 17

2.1.6 Kinh nghiệm và bài học từ Thái lan……… 17

2.1.7 Kinh nghiệm và bài học từ Ấn độ……… 20

2.2 Kinh nghiệm và bài học từ các nước Châu Âu và khác 21

2.2.1 Kinh nghiệm và bài học từ Liên bang Nga 21

2.2.2 Kinh nghiệm và bài học từ Balan. 21

2.2.3 Kinh nghiệm và bài học từ Thụy sỹ 22

2.2.4 Kinh nghiệm và bài học từ Hungary 23

2.2.5 Bài học và kinh nghiệm từ CH Séc……… 23

Trang 3

2.2.6 Kinh nghiệm và bài học từ Australia 24

2.2.7 Kinh nghiệm và bài học từ Mỹ……… 24

2.2.8 Kinh nghiệm và bài học từ CHLB Đức……… 27

2.2.9 Kinh nghiệm và bài học từ Canađa 28

2.3 Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt nam vế chính sách đầu tư và khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ ………… 29

Chương 3 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 3.1.Khái quát về chính sách đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ ở nước ta 32

3.1.1 Về thực trạng đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN ở Việt nam hiện nay 33

3.1.2 Phân tích so sánh đầu tư xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN ở nước ta 37

3.2 Kết quả khảo sát điều tra về thực trạng đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ ở các đơn vị nghiên cứu công lập 41 3.2.1.Đánh giá về tương quan đầu tư mua sắm máy móc thiết bị phục vụ nghiên cứu và triển khai với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao và mức độ hoàn thành……… 41

3.2.2.Đánh giá về thực trạng sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN với tư cách là sử dụng tài sản cố định và tài sản vật tư Nhà nước 42

3.2.3 Đánh giá về trang bị cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho cá nhân nhà nghiên cứu……… . 42

3.3 Đánh giá chung về hiện trạng đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay 45

Chương 4

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TĂNG CƯỜNG

ĐẦU TƯ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

KỸ THUẬT KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI

4.1 Quan điểm định hướng về chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả

sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ ở nước ta hiện

Trang 4

nay 46

4.2 Giải pháp chính sách đầu tư và hoàn thiện chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ 49

4.3 Giải pháp chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ nước ta trong thời gian tới… 50

4.3.1 Các giải pháp áp dụng chính sách vĩ mô………. 51

+ Thay đổi một số nội dung về thuế đối với sản phẩm và dịch vụ KH-CN… 51

+ Nâng mức trích để lại lợi nhuận trước thuế cho các doanh nghiệp nhằm mục tiêu lập Quỹ phát triển KH-CN ở doanh nghiệp……… 52

+ Tăng đầu tư cho con người để nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN……… 52

+ Hoàn thiện thủ tục hải quan và kiểm tra sau thông quan để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm cho mục tiêu KH-CN………… 52

+ Xem xét cân nhắc áp dụng một số kinh nghiệm Nhật bản và các nước khác nhiều hơn nữa……… 53

+ Hoàn thiện công tác đối ngoại thu hút Việt kiều về nước hoặc tham gia vào xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN trong nước ………… 53

4.3.2 Giải pháp sử dụng các chính sách vi mô………. 53

4.4 Điều kiện thực thi các giải pháp về chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ ở nước ta……… 55

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC 64

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HỘP

Bảng 1 Mức đầu tư cao cho R & D (% GDP) 30

Bảng 2 Tổng hợp số liệu liên tục qua một số năm 34 Bảng 3 Đầu tư từ Ngân sách Nhà nước cho KH-CN giai đoạn 1996-

2005. 36

Bảng 4 Tình hình phân bổ và sử dụng vốn đầu tư XDCB của NSNN

cho KH-CN giai đoạn 2004-2008

37

Bảng 5 Cơ cấu chi cho KH-CN nước ta hiện nay 38 Bảng 6 Giả định 1: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,4% GDP 39

Bảng 7 Giả định 2: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,5% GDP 39

Bảng 8 Giả định 3: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,6% GDP 40

Bảng 9 Giả định 4: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,7% GDP 40

35 Hộp 3 Tàu Lash Sông Gianh- Vinashin 45

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GDP -Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội

KH &CN, KH-CN - Khoa học và Công nghệ

OECD - Tổ chức các nước công nghiệp phát triển

DOE - Department of Energy – Bộ Năng lượng (Mỹ)

CAS - Chinese Academy of Science: Viện Hàn lâm Khoa học Trung quốc DNNVV - Doanh nghiệp nhỏ và vừa

TP HCM - Thành phố Hồ Chí Minh

NRL - National Research Laboratory - Phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc

gia (ở Hàn quốc)

R & D - Research and Development: Nghiên cứu và Triển khai

CNTT - Công nghệ thông tin

CAUT - Hiệp hội các nhà giáo giảng dạy Đại học

CMAJ - Canadian Medical Association Journal (Tạp chí Hiệp hội y học

Canada) CFI - Canada Foundation for Innovation - Quỹ Đổi mới Canada

SBIR Chương trình Small Business Innovation Research Program- Chương

trình tài trợ cho R &D của doanh nghiệp nhỏ NSNN - Ngân sách Nhà nước

STTR - Small Business Technology Transfer Program- Chương trình tài trợ

chuyển giao công nghệ

WFOP - Work for Others Program: Chương trình làm cho bên ngoài (Mỹ)

KH & PT - Khoa học và Phát triển

ERDA - Energy Research and Development Administration -Cơ quan điều

hành nghiên cứu và phát triển năng lượng KTI - Tổ chức hỗ trợ đổi mới của Liên bang Thuỵ sỹ

NGPP - Mạng Quốc gia Singapore

CNTT-TT - Công nghệ thông tin truyền thông

TNTĐ - Thí nghiệm trọng điểm (Phòng)

FRST - Foundation for Research, Science and Technology-Quỹ nghiên cứu

KH-CN(New Zealand) TBG - Chương trình Technology for Business Growth

TAP - Technical Assessement Projects Feasibility-Chương trình hỗ trợ đánh

giá kỹ thuật- nghiên cứu khả thi GPSRD - Grant for Private Sector R &D –Tài trợ cho R &D khu vực tư nhân TIF -Technology for Industry Fellowships- Học bổng công nghiệp triển khai

công nghệ

VN Việt nam

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay luôn luôn coi KH &CN đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghiã xã hội về lâu dài và trước mắt là phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống người dân sau nhiều năm chiến tranh cứu nước và giữ nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2010 đã

chỉ rõ: “…cùng với giáo dục và đào tạo, KH&CN là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghiã xã hội Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ Đảng và Nhà nước có chính sách đầu tư, khuyến khích hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ”

Việt nam hiện có 3 mục tiêu lớn đến năm 2010:

Một là, bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình công nghiệp hóa – hiện

đại hóa rút ngắn, phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới

Hai là, góp phần quyết định nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế và

năng lực cạnh tranh của sản phẩm hang hóa bảo đảm an ninh quốc phòng

Ba là, đẩy mạnh xây dựng và phát triển năng lực KH-CN của đất nước

Chính mục tiêu thứ ba nêu trên đòi hỏi phải có sự nhìn nhận nhiều chiều về cơ sở

hạ tầng kỹ thuật của nền khoa học và công nghệ quốc gia, từ đó tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng chúng, góp phần gia tăng thành tựu khoa học và công nghệ, tăng

cường tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia Đề tài “Nghiên cứu chính sách đầu

tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ ở Việt nam hiện nay” được đặt ra và thực hiện trên tinh thần đó

Chủ nhiệm đề tài xin cảm ơn các thành viên: Th S Đặng Thị Hiền (Thư ký Đề tài, Văn phòng Viện Chiến lược và Chính sách KH-CN), ThS Cao Thu Anh, Đặng Thu

Giang, CN Hoàng Mạnh Cường, CN Hà Đức Huy, CN Nguyễn Hồng Anh, CN Đoàn

Hoài Anh (Ban Chính sách Đầu tư và Tài chính KH-CN, Viện Chiến lược và Chính sách KH-CN), CN Khổng Duy Quý (Cục Thông tin KH-CN quốc gia, Bộ KH-CN),

TS Đặng Văn Du (Trưởng Khoa Tài chính Công, Học viện Tài chính), TS Nguyễn Minh Phong (Trưởng Phòng Nghiên cứu, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế -Xã hội

Hà nội), PGS TS Vũ Thị Bạch Tuyết (Khoa Tài chính Quốc tế, Học viện Tài chính),

TS Lê Doãn Khải (Trường Bồi dưỡng cán bộ, Bộ Tài chính) đã có nhiều đóng góp

quan trọng để hoàn thành Đề tài này Đồng thời Chủ nhiệm Đề tài cũng bày tỏ sự cảm ơn chân thành về việc tạo điều kiện chỉ đạo và giúp đỡ của Bộ KH-CN, Văn Phòng Bộ, Vụ Kế hoạch-Tài chính, Viện Chiến lược và Chính sách KH-CN, Hội đồng Khoa học Viện, các đồng nghiệp trong Viện và cá nhân các nhà nghiên cứu và các đơn vị các nơi mà chúng tôi đã đến khảo sát và phỏng vấn để thực hiện đề tài Mặc dù đã có nhiều cố gắng thực hiện, sản phẩm đề tài cũng không tránh khỏi những thiếu sót Nhóm tác giả Đề tài xin được hoan nghênh và trân trọng cảm ơn, sẵn sàng tiếp nhận các ý kiến đóng góp, nhận xét, bổ sung và giúp đỡ khác để hoàn thiện Đề tài

Trang 8

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CƠ

SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT KH-CN VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ

Mặc dù đã có nhiều văn bản và tác giả trình bày cũng như kiến giải sâu sắc bấy lâu

nay về các thuật ngữ “khoa học” và “công nghệ”, “kỹ thuật”, đề tài này xin được nêu

lại các khái niệm ấy nhằm tạo mối liên kết trong quan niệm về đầu tư và xây dựng cũng như sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ của nước ta

Trước hết “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” (Luật KH-CN, 2000)

“Công nghệ”, Luật Chuyển giao công nghệ (2006) đã nêu rõ: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng

để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm“ Hoặc quan niệm rộng hơn trong Luật

KH-CN, công nghệ đó là “tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công

cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” Ta thấy vật mang

công nghệ hay điều kiện để công nghệ phát huy tác dụng phần lớn phải là kết quả của đầu tư xây dựng/mua sắm, lắp đặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết

Hoạt động khoa học và công nghệ được coi là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và

phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học

và công nghệ

Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm kiếm, phát hiện tìm hiểu các hiện tượng, sự

vật, quy luật của tự nhiên xã hội và tư duy Do đó rất cần được trang bị các cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết

Phát triển công nghệ là hoàn thiện và tìm ra công nghệ mới, sản phẩm mới Phát

triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm

Dịch vụ khoa học và công nghệ là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa

học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, các dịch vụ về thông tin, tư vấn đào tạo, bồi dưỡng phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn

Theo dẫn luận khác quan niệm về Nghiên cứu và Triển khai (R & D) có phần rộng hơn, đó là các hoạt động sáng tạo (creative work) “được thực hiện trên cơ sở một cách có hệ thống để gia tăng khối lượng kiến thức (hay kho tri thức) – gồm tri thức về con người, văn hoá và xã hội- và sự sử dụng kho kiến thức này để phục vụ cho những ứng dụng mới”

Từ đó người ta phân biệt: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai, cơ sở hạ tầng R&D,

Trong cách nói và phát biểu thành thói quen ở nhiều nơi, đôi khi Khoa học và công nghệ vừa được hiểu là ngành quản lý khoa học và công nghệ cũng như các hoạt động khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra ở nhiều cấp độ: trung ương, địa phương, ngành, cơ sở, trường đại học, trạm trại nghiên cứu thí nghiệm, doanh nghiệp

Trang 9

các loại hình và kể cả cá nhân Với cách nói đó (nói và phát biểu vắn tắt, rút gọn,…), khoa học và công nghệ có khi được khái quát, không mang tính chất hàn lâm

Theo The World Competitiveness Yearbook 2001, IMD: Cơ sở hạ tầng của khoa học gồm 20 nhân tố: ví dụ như chi tiêu R &D, nhân lực R &D, năng lực nghiên

cứu cơ bản, patent, xuất bản khoa học và công nghệ, giảng dạy khoa học và công nghệ trong trường học, giải thưởng Nobel và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Theo Tassy (1991) cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ (S & T infrastructure)

bao gồm: trợ cấp trực tiếp (direct subsidy), các viện nghiên cứu đươc Nhà nước tài trợ (government funded research institutes – GRIs), dự án hợp tác nghiên cứu giữa khu vực Nhà nước và tư nhân (cooperative research project by government and the private sector), giáo dục (education), chuyển giao công nghệ và tư vấn công nghệ (technology transfer and technology consultancy), tiêu chuẩn hóa (standardization),

và baỏ hộ sở hữu trí tuệ (intellectual property protection)

Kết cấu hạ tầng công nghệ: Sự cung cấp các nhà khoa học và các kỹ sư, số

lượng và chất lượng của các tổ chức nghiên cứu

Năng lực đổi mới của quốc gia : phụ thuộc vào chất lượng của kết cấu hạ tầng

công nghệ, mức hỗ trợ của Chính phủ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản, sự cộng tác giữa các tổ chức nghiên cứu và trường đại học, sự phát triển của các nguồn vốn mạo hiểm, cũng như chất lượng của môi trường kinh doanh (được phản ánh trong hệ thống luật pháp)

Kết cấu hạ tầng công nghệ quốc gia là nhân tố quyết định then chốt đối với năng lực đổi mới của quốc gia Bao gồm hệ thống giáo dục, mạng lưới các tổ chức nghiên cứu của Chính phủ, tư nhân và các hiệp hội khoa học, các thể chế pháp lý, chẳng hạn như quyền sở hữu trí tuệ và các điều luật khuyến khich sự phát triển và trao đổi công nghệ

Cơ sở hạ tầng công nghệ gồm 20 nhân tố chủ yếu liên quan tới sự sẵn sàng của

công nghệ và thông tin truyền thông Các nhân tố khác gồm hợp tác công nghệ, phát triển và ứng dụng công nghệ, các nguồn lực tài chính và xuất khẩu công nghệ cao

Cơ sở hạ tầng của khoa học và công nghệ bao gồm Công viên khoa học quốc gia, các trung tâm tài năng, các vườn ươm, các dịch vụ đo lường và thử nghiệm,

v.v (Thái lan)

Theo cách hiểu thông dụng, Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (technical infrastructure)

của khoa học và công nghệ là phần cứng của toàn bộ cơ sở hạ tầng khoa học và công

nghệ (máy móc, thiết bị….) Như vậy, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của khoa học và công

nghệ được coi là điều kiện vật chất cần thiết cho các hoạt động khoa học và công nghệ trở thành quá trình liên tục và có mục đích kết quả Đó là máy móc thiết bị, nhà xưởng, trạm trại thí nghiệm, dụng cụ truyền dẫn, đo lường, chứa đựng, xử lý, vật mang thông tin, máy tính, phần cứng, phần mềm, thư viện, bất động sản (kể cả ao hồ phục vụ thí nghiệm, thử nghiệm, trường lãnh thổ để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

KH-CN…)… Về bản chất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nền khoa học và công nghệ quốc gia là sự hiện diện bằng vật chất do nguồn tài chính đầu tư vào mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất (nhà xưởng, phòng làm việc, trạm, nhà mái che, ), phần cứng phần mềm vi tính, dây chuyền, vật tư, dụng cụ, đồ gá lắp, vật rẻ tiền mau hỏng … cần thiết cho quá trình thí nghiệm, nghiên cứu, kể cả sản xuất thử

nghiệm với kỳ vọng thu được kết quả như mục tiêu đã đặt ra Cụ thể hơn nữa cơ

sở hạ tầng vật chất kỹ thuật của khoa học và công nghệ được thể hiện ở một trong 4 yếu tố của tiêm lực khoa học và công nghệ (nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực)

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của khoa học và công nghệ là khái niệm có thể mang ý nghĩa phân tầng Đối với cơ sở nghiên cứu thì đó là thứ vật chất cần thiết hiện diện trong máy móc thiết bị, vật tư,…có vận hành hay được đưa vào quy trình nghiên cứu, chế biến,… và là điều kiện cần cho việc tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ như đã nêu ở trên

Đối với toàn bộ nền khoa học và công nghệ thì khái niệm Cơ sở hạ tầng kỹ

thuật (Technical infrastructure of Science and Technology) của khoa học và công nghệ nằm trong cấu thành của khái niệm cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ (S&T Infrastructure) Trong những điều kiện hiện đại việc đề cập đến phạm vi cơ sở hạ

tầng kỹ thuật cho phát triển khoa học công nghệ người ta còn nhắc đến các cấu phần như mạng cao tốc dùng cho nghiên cứu và triển khai (R&D), chương trình hỗ trợ nghiên cứu và triển khai dành cho các doanh nghiệp, phân tích thông tin và các dịch

vụ thông tin

Trước hết đối với quá trình và các hoạt động nghiên cứu khoa học, cơ sở hạ tầng

kỹ thuật khoa học và công nghệ có vai trò rất lớn lao, vì nó là điều kiện cho việc tiến

hành các thí nghiệm, thử nghiệm hay kiểm định cần thiết hoặc khảo sát thực địa, thăm dò, điều tra, phỏng vấn để ra được các kết luận cần thiết Tiếp đến tốc độ và kết quả nghiên cứu hay khả năng của nhà nghiên cứu phụ thuộc rất nhiều vào trang bị

và nói rộng ra là cả nền tảng vật chất hạ tầng kỹ thuật của nơi và địa điểm nghiên cứu KH-CN ở mọi cấp độ, dù là cơ sở quốc gia hay cấp doanh nghiệp và trạm trại, phòng thí nghiệm và địa bàn nghiên cứu,…

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN có vai trò vô cùng quan trọng ở chỗ nó tạo điều kiện cho việc tiến hành các thí nghiệm, thử nghiệm hay kiểm định cần thiết hoặc khảo sát thực địa, thăm dò, điều tra, phỏng vấn… Để có được kết luận cần thiết…Cơ

sở hạ tầng đó là tiền đề không thể thiếu để có được thương hiệu nghiên cứu cho các

đơn vị tổ chức KH-CN dù là công lập hay tư nhân, các Trường Đại học và các Phòng Thí nghiệm hay cá nhân nhà nghiên cứu, nhà khoa học,

1.2 Quan niệm, vai trò chính sách đầu tư và hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ

Về mặt ngôn ngữ “Chính sách” được coi là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó nhằm đạt được các mục tiêu định trước Chính sách là

thuật ngữ gắn chặt với chủ thể vĩ mô (Chính phủ, quốc gia, ngành, chuyên ngành,…)

và vi mô (địa phương, doanh nghiệp, cơ sở, đơn vị nhỏ,…)

Theo cách hiểu nêu ra trong Từ điển bách khoa Việt nam gần đây, Chính sách

là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong

Trang 11

một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể

Chính sách đầu tư và tài chính đều là chính sách tài chính Theo đó trên phạm

vị rộng, chính sách tài chính được hiểu là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động đến nền kinh tế, đạt mục tiêu định trước Ở phạm vi hẹp hơn trong trường hợp xét đến ở đây, đó là để tác động đến đối tượng quản lý: ngành và đơn vị hoạt động KH-CN

Chính sách tài chính còn có thể hiểu là các biện pháp cụ thể của nhà nước nhằm tạo lập được nguồn, quản lý và sử dụng nguồn tài chính Ví dụ, chính sách tài chính công (phân bố, sử dụng nguồn ngân sách nhà nước), chính sách thuế, chính

sách tiền tệ và tín dụng, chính sách chi tiêu cho mua sắm Chính phủ (goverment procurement) Khoán là biện pháp chính sách cụ thể để sử dụng hợp lý nguồn vốn,

đảm bảo tính “thị trường” của nghiên cứu khoa học Mặc dù không phải kết quả nào của khoa học và công nghệ cũng có thể thị trường hoá được ngay

Trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động KH-CN đã được ghi rõ trong Luật KH-CN, ban hành năm 2000 như sau:

Đầu tư cho KH-CN là đầu tư phát triển Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách KH-CN, bảo đảm tỷ lệ NSNN chi cho KH-CN so với tổng số chi NSNN tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp KH-CN

Cơ quan tài chính có trách nhiệm cấp phát kinh phí KH-CN đầy đủ, kịp thời, phù hợp với tiến độ kế hoạch KH-CN Cơ quan quản lý nhà nước về KH-CN có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả phần NSNN đầu tư cho KH-CN

NSNN đầu tư cho KH-CN được sử dụng vào các mục đích sau:

a) Thực hiện các nhiệm vụ KH-CN ưu tiên, trọng điểm, nhiệm vụ KH-CN phục vụ lợi ích chung của xã hội;

b) Thực hiện nghiên cứu cơ bản có định hướng trong các lĩnh vực khoa học; c) Duy trì và phát triển tiềm lực KH-CN;

d) Cấp cho các Quỹ phát triển KH-CN của Nhà nước theo quy định tại Điều 39

và Điều 40 của Luật KH-CN; Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các tổ chức

R &D của Nhà nước;

e) Trợ giúp doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm

Về nguyện vọng và triển khai trên thực tế, Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư cho KH-CN, tiến hành đầu tư xây dựng và phát triển năng lực nội sinh, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài về KH &CN; đẩy mạnh hợp tác quốc tế ; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân hợp tác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực KH &CN

Quá trình đầu tư xây dựng/mua sắm, lắp đặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN sẽ tạo nên vật mang công nghệ hay tạo được điều kiện cần và đủ để công nghệ và kỹ thuật phát huy tác dụng (như vậy phần lớn phải do đầu tư đó mà có)

Trang 12

1.3 Lý do nghiên cứu vấn đề đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN của nước ta

Trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đến năm 2020, vai trò của khoa học và công nghệ ngày càng thể hiện tỏ rõ đó là then chốt, động lực và ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Do vậy việc nghiên cứu xem xét cơ

sở hạ tầng kỹ thuật của toàn bộ nền khoa học và công nghệ trong điều kiện hiện nay

là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết trong điều kiện hội nhập vì “Chỉ có khoa học và công nghệ mới đưa Việt Nam bứt phá” (Nguyễn Quân, 2009) Thật vậy, cũng theo

đó, phải khẳng định rằng "để có 10 năm tăng trưởng mạnh vừa qua, chúng ta đã cởi trói nông nghiệp bằng khoán 10, công nghiệp bằng Luật doanh nghiệp, huy động tối

đa tiềm lực lao động giản đơn Muốn tiến xa hơn, chỉ còn cách phát triển khoa học, công nghệ Mà nếu không may chú ý đủ mức cần thiết đến việc xây dựng và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ thì nhiệm vụ đặt ra cũng sẽ khó mà giải quyết toàn diện được”

Đề tài rất đồng tình với Joseph Bordogna (Chủ tịch NFS của Mỹ, 2004) khi ông

đã nói rằng: "Trong thời đại của công nghệ cao, sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh

tế sẽ không thể bền vững nếu thiếu các đột phá về công nghệ" Mà muốn đột phá về

công nghệ phải đầu tư mạnh mẽ và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN

để tạo nên đột phá đó

Mặt khác theo Báo cáo "Tầm nhìn 2020" của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (năm 2001), trình độ và năng lực KH-CN của Việt Nam đứng ở vị trí rất thấp

so với các nước trên thế giới và khu vực

Đặc biệt, năng lực về công nghệ Việt Nam thua kém khá xa so với nhiều nước cùng khu vực Kết quả điều tra và tính toán của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) cho biết: Năm 2000, chỉ số công nghệ của Việt Nam là -0,51 Trong khi đó, chỉ số công nghệ của Trung Quốc là -0,35; Thái Lan là -0,07; Indonesia là -0,66; Philippines là 0,54; Malaysia là 1,08, Singapore là 1,95

Hay một lý do khác từ trường hợp cụ thể, có thể là điển hình của PGS TS

Phương Ngọc Thạch, ông đã nêu rằng: “Bản thân tôi làm nghiên cứu khoa học trên

30 năm, học vị học hàm đều đủ cả Vậy mà cho đến nay, tôi không có nổi một phòng thí nghiệm để làm việc, không có cả một chỗ ngồi dành riêng để làm việc Trong khi đó, được mời đi thỉnh giảng một số nước trong khu vực Đông Nam Á, tôi càng thấy rằng ở các nước người ta rất coi trọng người làm khoa học và tạo mọi điều kiện để nhà khoa học có thể dốc sức nghiên cứu Các giáo sư đều có phòng thí nghiệm để nghiên cứu và xây dựng ê-kíp làm việc của mình Trong thư viện, họ có ngăn đọc riêng được cập nhật tài liệu và sách chuyên ngành mà họ nghiên cứu Các nhà khoa học có thể nhận đề tài nghiên cứu trực tiếp mà không cần thông qua xét duyệt hay đấu thầu như ở ta”

Có thể cũng rất nên nhất trí với ý kiến Thủ tướng Abdullah Badawi của Malaysia,

khi ông nói một câu nói đáng nhớ: “Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật như Thế giới

Trang 13

Thứ nhất chưa chắc đã tạo được hiệu quả mong muốn nếu vẫn duy trì trí tuệ của Thế giới Thứ ba”

Do vậy cần thiết phải đặt vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN và nâng cao hiệu quả sử dụng chúng trong mối liên kết hữu cơ với công tác khác như đào tạo nhân lực hay chế độ đãi ngộ,…

Trang 14

Chương 2

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ KHAI THÁC CƠ

SỞ HẠ TÀNG KỸ THUẬT KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ BÀI HỌC CHO

VIỆT NAM

2.1 Kinh nghiệm và bài học từ các nước Châu Á

2.1.1 Kinh nghiệm và bài học từ Hàn quốc

Nổi bật nhất là gần đây Chính phủ Hàn quốc đã thành lập Bộ Giáo dục, KH&CN

(MEST), sau đó đưa Bộ trưởng Bộ này lên chức Phó Thủ tướng Chính phủ Hàn quốc

để có quyền hành và hiệu lực hơn trong điều hành phân bổ và sử dụng các nguồn lực cho phát triển KH-CN quốc gia, tất nhiên trong đó có phần quan trọng là đầu tư tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho KH-CN

Biện pháp gián tiếp khác để tăng đầu tư và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ là thay đổi cơ cấu đầu tư từ ngân sách nhà nước Theo

đó nếu giai đoạn đầu của quá trình phát triển khoa học và công nghệ dù là cấp cơ sở hay ngành khoa học và công nghệ thì nếu đã đầu tư mạnh mẽ rồi thì giai đoạn sau giảm dần vì đã đầu tư tới mức ngưỡng đủ cho quá trình hoạt động ở các cơ sở nghiên cứu và triển khai Vấn đề tiếp theo là phải đầu tư cho con người hay đầu tư tạo điều kiện sử dụng cơ sở hạ tầng chứ không phải lại đầu tư mở rộng thiếu cân đối với nhu cầu sử dụng chúng Thật vậy, tỷ lệ cả chi tiêu máy móc và đất xây dựng và phần mềm máy tính đã lần lượt như sau: giảm dần từ 22,6% (năm 1998) xuống còn 12,7% (năm 2005) Điều đó cần được nhấn mạnh lại là nếu gia tăng mạnh chi tiêu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở giai đoạn đầu thì giai đoạn sau có thể giảm dần và

có điều kiện để tăng chi cho con người Quá trình có thể dài hàng chục năm hoặc tuỳ

kế hoạch chủ trương hay xa hơn là cả chiến lược phát triển

Ngoài những ưu đãi về thuế, về tín dụng, Chính phủ Hàn quốc còn đưa ra một loạt đạo luật khuyến khích về tài chính cho các tổ chức nghiên cứu kể cả Nhà nước và tư nhân như: Trang bị các phương tiện truyền thông hiện đại, tài trợ cho các

đề án nghiên cứu có độ rủi ro cao, khuyến khích đổi mới công nghệ thông qua việc

thành lập các quỹ

2.1.2 Kinh nghiệm và bài học từ Trung quốc, Đài loan:

Trung quốc đã quy định trong một thời gian nhất định, cấp phát kinh phí cho KH&CN của trung ương và địa phương, phải được tăng dần, cao hơn mức độ tăng trưởng thu nhập thường xuyên về tài chính, đồng thời mở rộng nguồn kinh phí, khuyến khích các bộ, ngành, xí nghiệp và tập đoàn xã hội đầu tư cho KH&CN

Chính phủ đã tăng nhanh tốc độ tăng đầu tư cho R&D, từ 1995 đến 2003 đạt con

số trung bình 20%/năm và vượt xa tất cả các nước khác Tuy nhiên, tỷ lệ chi R&D/GDP vẫn còn thấp, đạt 1,23% năm 2003, trong khi con số tương ứng của Nhật Bản là 3,15% và Hàn Quốc là 2,63% Nhìn chung Trung quốc thực hiện đầu tư phát triển KH&CN chủ yếu theo 3 hình thức:

Đầu tư theo tổ chức - đầu tư để phát triển các viện trọng điểm quốc gia;

Đầu tư để thực hiện các chương trình KH&CN trọng điểm quốc gia như Chương trình leo núi, Chương trình bó đuốc ;

Trang 15

Đầu tư để thực hiện các đề tài KH&CN thông qua các quỹ KH&CN như: Quỹ khoa học tự nhiên, Quỹ khoa học xã hội, Quỹ phát triển công nghệ, Quỹ hỗ trợ tài năng trẻ

Quá trình đầu tư cho hệ thống các cơ quan thực hiện hoạt động R&D ở Trung quốc bao gồm đầu tư vào:

• + Viện Hàn lâm Khoa học Trung quốc (CAS)

• + Các Viện R&D trực thuộc các Bộ, cơ quan hành chính khác nhau

• + Các doanh nghiệp công nghiệp

• + Các trường Đại học và Cao đẳng

• + Các Viện R &D địa phương

• + Các Viện R&D quốc phòng

Trung quốc cũng đã tăng cường thu hút FDI cho hoạt động R&D (riêng từ các MNCs Mỹ là 7 triệu USD năm 1994 lên 52 triệu USD năm 1998 và 646 triệu USD vào năm 2002);

Bên cạnh đó tỷ trọng chi tiêu cho mua công nghệ nước ngoài so với chi tiêu cho R&D giảm dần hàng năm (từ 1/0,88 năm 1999 xuống còn 1/0,79 năm 2000 và 1/0,74 năm 2002);

Tiếp đến chính phủ Trung quốc cũng đã chú trọng đến nghiên cứu cơ bản thông

qua “Kế hoạch phát triển khoa học cơ bản then chốt của Nhà nước”, “Quỹ khoa học

tự nhiên của Nhà nước” với mục tiêu chính là hỗ trợ cho nghiên cứu ứng dụng

Trung quốc còn có một kinh nghiệm hay là thực hiện tốt mối liên kết giữa Viện CAS với khu vực doanh nghiệp CAS luôn duy trì mối quan hệ hợp tác tích cực với khu vực công nghiệp Đến cuối năm 2003, CAS đã đầu tư vào 336 hãng, 158 trong

số đó thuộc toàn quyền kiểm soát của CAS, tức là CAS chiếm hơn 50% cổ phần của các hãng Điển hình là có lẽ một trong những hãng vệ tinh nổi tiếng nhất phát triển từ CAS là Hãng Lenovo Group (tên cũ là Legend Group) Hãng Legend bắt đầu hoạt động năm 1984 với vốn do CAS đầu tư là 200.000 NDT và đã phát triển thành một

lực lượng chủ chốt của ngành công nghiệp máy tính Trung quốc hiện nay Ngày nay

Lenovo đã trở thành thương hiệu máy tính nổi tiếng trên toàn cầu Mối quan hệ hợp tác tích cực nêu trên chính là biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các đơn vị trong khu vực CAS

Riêng kinh nghiệm và bài học từ lãnh thổ Đài loan (được ghép vào phần

này vì Trung quốc không coi đây là quốc gia riêng biệt mà là phần không thể tách rời của Trung quốc) có thể thấy như sau:

Trong khoảng hơn một thập kỷ từ những năm 1990 trở đi, Đài loan không ngừng gia tăng kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ mới với tốc độ tăng bình quân hàng năm 20%, trong đó có phần đáng kể dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ Ví dụ để phát triển các công nghệ hiện đại, Chính phủ Đài loan đã chú trọng xây dựng hàng loạt các trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ lớn như Trung tâm Nghiên cứu phòng chống thiên tai, Trung tâm viễn thông quốc tế cao cấp, Trung tâm máy tính cao cấp, Phòng nghiên cứu thực nghiệm linh kiện vi điện tử, Trung tâm bức xạ đồng bộ và Phòng Thí nghiệm công nghệ vũ trụ

Chính quyền Đài loan cũng đã thực thi chính sách hỗ trợ tài chính cho các dự án R

&D của tất cả các doanh nghiệp một cách toàn diện, không phân biệt doanh nghiệp

Trang 16

công hay tư nhân, nếu họ có hướng khai thác và phát triển công nghệ hiện đại, sản xuất những sản phẩm công nghệ cao có khả năng cạnh tranh trên thị trường Chính phủ cũng hỗ trợ cho quá trình áp dụng công nghệ cao nhằm đổi mới nâng cấp trình

độ của khu vực sản xuất công nghiệp, khuyến khích quá trình liên kết giữa các trường, viện và doanh nghiệp; lấy Khu Công viên Khoa học – Công nghiệp CNC Tân trúc (Hinshu) làm trung tâm để phát triển toàn diện các khu vực khác Nhìn chung Đài loan được ca ngợi là có bề dày thành tích về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khoa học và công nghệ, trong đó có phần không nhỏ dành để tạo dựng, hoàn thiện, nâng cấp và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ, từ đó có điều kiện tốt nhất cho sự kết hợp các kỹ năng của các nhà khoa học với khả năng và tiềm năng cơ sở vật chất và con người, làm gia tăng hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đó của nền khoa học và công nghệ quốc gia, đưa Đài loan chiếm lĩnh các đỉnh cao về thị phần cung cấp linh kiện điện tử cho thế giới tin học,…

2.1.3 Kinh nghiệm và bài học từ Singapore:

Trước hết Chính phủ tiến hành tối ưu hóa việc sử dụng các phương tiện R &D ở

các Viện Nghiên cứu và Trường Đại học Theo đó các Viện Nghiên cứu của quốc gia cũng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện đắt tiền và

hiếm khi dùng đến Tiếp theo Singapore đang thực hiện mũi chiến lược xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin truyền thông (CNTT-TT) tốc độ siêu cao, quy mô rộng, thông minh và tin cậy, có sức cạnh tranh trên toàn cầu: sẽ cung cấp băng

thông rộng cho bất cứ ai, bất cứ ở đâu và bất cứ thời điểm nào Hiện nay ngành CNTT-TT của Singapore đang được chi 6,2% GDP hàng năm

2.1.4 Kinh nghiệm và bài học từ Malaysia:

Từ năm 1986 đến nay, Malaysia đã thực hiện 2 Chiến lược KH&CN quốc gia Trong vòng 16 năm, chính sách khoa học công nghệ lần thứ 1 (NSTP I, 1986) đã phát triển KH&CN thành một hệ thống vững chắc, lồng ghép được vào kế hoạch phát triển cả nước, tạo nền móng và củng cố kết cấu hạ tầng KH&CN cho giai đoạn sau Trong giai đoạn này, Malaysia đã đầu tư đáng kể vào xây dựng hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực hướng vào đảm bảo các nguồn lực còn tương đối hạn chế được sử dụng có hiệu quả để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mà thị trường cần

Biện pháp gián tiếp khác mà chính phủ Malaysia áp dụng là nâng cao nhận thức,

từ đó hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ Để nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN, người ta đã tổ chức cho các DNNVV tham quan các Viện Nghiên cứu, các trường Đại học có những công nghệ mới muốn chuyển giao cho DNNVV hoặc thăm các Doanh nghiệp

đã áp dụng thành công các công nghệ mới hoặc các phương pháp quản lý tiên tiến

Từ đó các nơi có sản phẩm bán ra sẽ chú trọng hơn đến việc sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ

thuật KH-CN của mình (mua sắm thêm mới, sử dụng hiệu quả hơn, chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cũ để giúp cho các doanh nghiệp đã liên hệ, )

Trang 17

2.1.5 Kinh nghiệm và bài học từ Nhật bản

Trước hết rất đáng được xem xét để hiểu những gì đã diễn ra ở đất nước họ và điều gì có thể học tập được, điều gì khó hoặc không thể áp dụng đối với Việt nam đối với xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ

Thời Minh Trị (1868-1911), xét về khoa học, Nhật Bản lạc hậu so với phương Tây khoảng 200 năm và chừng 100 năm về công nghệ Do vậy trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá, Nhật bản đã thuê chuyên gia nước ngoài, và đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục

Năm 1871 chính phủ Nhật bản đã thành lập Bộ Giáo dục, hình thành một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh từ bậc tiểu học đến đại học Sau đại học Tokyo thành lập năm 1877, đại học hoàng gia và nhiều đại học ở các vùng đã được xây dựng… Tất cả các trường Đại học đều có khoa công nghệ, các khoa này đã trở thành nhân tố thúc đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hoá đất nước

Năm 1870 Chính phủ Nhật bản thành lập Bộ Kỹ thuật Năm 1873 Bộ Nội vụ cũng đã được thành lập với nhiệm vụ hướng vào đổi mới, mở rộng công nghệ truyền thống và thực thi chính sách kỹ thuật nhằm tăng năng suất lao động Bộ này đã áp dụng công nghệ mới vào nền kinh tế nội địa thông qua nhập khẩu công cụ máy móc, mời chuyên gia nước ngoài vào phổ biến công nghệ cho khu vực tư nhân

Khắc phục những khó khăn về tài chính để đưa công nghệ mới vào sản xuất, các nhà máy do Bộ Kỹ thuật và Nội vụ trực tiếp quản lý được chuyển giao dần sang khu vực tư nhân

Từ khi Nhật bản chuyển sang tự chủ về công nghệ, Chính phủ đã đưa ra đạo

luật cấm cạnh tranh mua bán đấu giá bản quyền kỹ thuật công nghệ và mọi việc mua bán kỹ thuật với nước ngoài đều do Bộ ngoại thương và công nghiệp đảm nhận, do

có đội ngũ cán bộ kỹ thuật giỏi và có công nghệ thông tin hiện đại

Chính phủ xây dựng cơ chế hợp tác hai chiều giữa các công ty và Trung tâm nghiên cứu khoa học, có cơ chế buộc các doanh nghiệp trích 1% quỹ lương chuyển vào ngân sách để tạo nguồn tài chính cho đào tạo lao động ở những ngành sản xuất mới, cho phép khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ, bảo hiểm tín dụng cho nghiên cứu khoa học và công nghệ, ưu đãi về thuế cho các cơ sở áp dụng công nghệ mới Tháng 7-2003 Nhật bản đã ban hành Luật Công ty Đại học Quốc gia, làm tăng cường mức độ tự trị về ngân sách, tổ chức, cán bộ, bãi bỏ chế độ về hưu của hàng ngũ giáo sư, đồng thời thành lập các Trung tâm Nghiên cứu xuất sắc từ năm tài khoá

2006 Tiếp đến Nhật bản lập Quỹ Nghiên cứu và Giaó dục đặc biệt, tiến hành cấp kinh phí theo nguyên tắc cạnh tranh

Từ năm 2005 Nhật bản ưu tiên chi Ngân sách dành cho nghiên cứu và phát triển

ở các tổ chức công lập (Đại học và Viện Nghiên cứu) Ngân sách được phân bổ dựa

trên cơ sở “Kế hoạch tái tổ chức và Hợp lý hoá các Công ty công” Công ty chuyên

ngành được trở thành các tổ chức hành chính độc lập Do vậy Ngân sách phân bổ cho các Công ty Chuyên ngành thì giảm, còn lại đều gia tăng cho các tổ chức hành chính độc lập

Chính phủ không đặt ra hạn chế đối với sử dụng kinh phí hoạt động ở Công ty Đại học Quốc gia Từ năm 2003 Bộ tài chính cho khấu trừ 8-10% thuế của toàn bộ các khoản chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển Nhiều sáng kiến lớn để thúc đẩy sự cộng tác sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật lẫn nhau và liên kết mạng lưới (Sáng

Trang 18

kiến Cụm tri thức, Chương trình Khu vực thành phố, Nghiên cứu uỷ nhiệm - năm tài khóa, )

2.1.6 Kinh nghiệm và bài học từ Thái lan

Các nhà hoạch định chính sách Thái Lan đã nhận ra rằng con đường đưa đất nước phát triển bền vững là dựa vào KH &CN Chính vì vậy, nước này đã kịp thời đề ra các chiến lược, chính sách KH&CN tích cực, đồng thời đặt ra cho mình mục tiêu hướng tới một nền kinh tế tri thức hiện đại Ngày nay, Thái Lan đã vươn lên trở thành một nước có một nền tảng KH&CN tương đối vững chắc so với các nước trong khu vực và có thể coi là một điển hình chứng tỏ rằng các nước đang phát triển có thể bắt kịp các nước mới công nghiệp hóa Cơ sở hạ tầng cơ bản và các cấu trúc thể chế không đủ để hỗ trợ phát triển KH&CN Thái Lan Thêm nữa đại đa số người dân không nhận thức được tầm quan trọng của KH&CN và không có tri thức đúng và hiểu về KH&CN, kết quả là thiếu sự hỗ trợ cho đổi mới và phát triển KH&CN Đồng thời hệ thống quản lý KH&CN Thái Lan không thống nhất, hiệu lực thấp và thiếu một hệ thống đánh giá rõ ràng Do vậy để đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở

hạ tầng kỹ thuật KH-CN, một số biện pháp đã được áp dụng như sau

Biện pháp 1: Phát triển các Trung tâm xuất sắc (COE- Centre of Excelence)

“Phát triển các phòng TN nghiên cứu ở các trường Đại học và các Viện nghiên cứu thành các Trung tâm xuất sắc theo tiêu chuẩn quốc tế, có năng lực công nghệ hiện đại hoặc có trình độ sắc sảo Hơn nữa, những trung tâm xuất sắc này cần những nhóm nghiên cứu là những người có khả năng tạo ra tri thức thông qua R&D, phản ánh theo những chỉ số đánh giá thành tích quan trọng khác nhau như số lượng bằng sáng chế, xuất bản phẩm trên các tạp chí quốc tế, lời mời thuyết trình hoặc là người phát ngôn chính tại các hội nghị quan trọng Hơn nữa, những trung tâm xuất sắc phải tạo

ra sự liên kết với các khu công nghiệp và phục vụ những khu công nghiệp hoặc mang lại lợi ích cho công chúng”

Phương thức thực hiện: Hỗ trợ xây dựng năng lực của các Phòng thí nghiệm nghiên cứu

“Hỗ trợ xây dựng năng lực cho các Phòng thí nghiệm nghiên cứu, cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong các Viện nghiên cứu và các trường Đại học, mở đường để trở thành các Trung tâm xuất sắc với các công nghệ then chốt”

Biện pháp 2: Phát triển các Công viên khoa học

“Phát triển và tăng số lượng các Công viên khoa học thành những Trung tâm phát triển năng lực công nghệ trong mọi vùng của đất nước Các công ty nằm trong các Công viên khoa học có đủ tư cách để có thể được Ban Đầu tư (BOI) đỡ đầu” Theo

đó Chính phủ đã xây dựng các Công viên khoa học ở ít nhất 3 miền: Bắc, Nam và Đông Nam và tăng số lượng Các công viên khoa học tại một số khu vực trung tâm”

Trang 19

Một trong những đặc điểm đáng chú ý của Công viên khoa học là năng lực liên kết các khu vực học thuật (đặc biệt là các Viện nghiên cứu và các trường Đại học) với các khu công nghiệp Vì vậy, các Viện nghiên cứu có tiềm năng lớn cần thành lập các Công viên khoa học (như Cơ quan Phát triển KH&CN Quốc gia, Viện Nghiên cứu KH&CN Thái Lan) và các trường Đại học hoặc hợp tác giữa các tổ chức đó Ngoài ra, các Công viên khoa học cần được phân vùng thành một khu vực xúc tiến đầu tư do được BOI đỡ đầu

Biện pháp 3: Phát triển các dịch vụ kỹ thuật

“Các Trung tâm thử nghiệm, Trung tâm đánh giá chất lượng và hệ thống đo lường

là những cơ sở hạ tầng cơ bản quan trọng đòi hỏi trong quá trình phát triển sản phẩm, trong khi đó Thái Lan hiện nay đang thiếu các Trung tâm thử nghiệm chất lượng và các Trung tâm dịch vụ khoa học hiệu quả”

Phương thức thực hiện: Hỗ trợ phát triển các Trung tâm thử nghiệm, những Trung tâm đánh giá chất lượng và hệ thống đo lường

Biện pháp 4: Phát triển hệ thống chỉ tiêu khuyến khích

“Phát triển hệ thống chỉ tiêu khuyến khích gồm khuyến khích về tài chính và cấp vốn, những qui tắc và hỗ trợ kỹ thuật để thúc đẩy các nhà nghiên cứu và các tổ chức nghiên cứu, cả khu vực công và khu vực tư nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới của họ”

Theo đó trước hết ứng dụng thủ tục công: “Hỗ trợ các tổ chức công có tiềm

lực lớn về công nghệ và quản lý là đại diện của các nhà sản xuất Thái để họ đầu tư mạnh vào phát triển năng lực công nghệ (như R&D, thiết kế và kỹ thuật), liên quan tới việc giao dịch với các tổ chức công”

Tiếp theo là mở rộng phạm vi “Giảm 100% thuế thu nhập chi phí đối với R&D”: “Mở rộng phạm vi giảm 100% thuế thu nhập đối với chi phí R&D”, hay nói

cách khác, nó bao gồm phần thưởng bằng tiền cho R&D và tài trợ cho học lấy bằng giáo sư Hơn nữa, nếu phổ biến trong tương lai, thủ tục này cần được thực hiện với nhiều mức thuế để khuyến khích các công ty tăng vốn đầu tư của họ vào R&D, bằng cách cho phép họ giảm hơn 200%, như 250% của thuế thu nhập từ việc tăng chi phí R&D từ những năm trước”

Thứ ba là, thúc đẩy các dự án đầu tư vào phát triển kỹ năng, công nghệ và đổi mới, triển khai những chương trình thúc đẩy công nghệ: “Thúc đẩy dự án

đầu tư nhiều hơn vào phát triển kỹ năng, công nghệ và đổi mới hơn là đầu tư vào sản xuất bằng cách đưa ra nhiều ưu đãi hơn, tùy theo những biện pháp xúc tiến đầu tư mới”

Thứ tư là thúc đẩy chính sách và quản lý sở hữu trí tuệ: “Xem xét lại những

hướng dẫn chính sách sở hữu trí tuệ nhằm khuyến khích các nhà nghiên cứu và các tổ

Trang 20

chức nghiên cứu nhiều hơn để tạo ra những đổi mới, bằng cách chỉ ra cho các nhà nghiên cứu một số lợi ích từ việc sở hữu trí tuệ”

Thái lan cũng có nhiều kinh nghiệm về phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông Theo đó chính phủ phát triển nhanh những dịch vụ cơ sở

hạ tầng cơ bản, đặc biệt là những công nghệ tương lai như mạng không dây (Wi-fi) bằng sự đầu tư xứng đáng Mạng Wi-fi là một mạng Internet có thể hỗ trợ phát và nhận dữ liệu với tốc độ lớn hơn gấp 5-20 lần so với sự kết nối quay số vào mạng điện thoại cố định Gần đây nó đã trở nên phổ biến do có thể nhanh chóng tăng băng thông mạng với chi phí thấp, đáp ứng những nhu cầu của nhiều máy tính đầu cuối Ngoài ra, công nghệ này rất thuận lợi bởi vì nó hỗ trợ giải quyết hiệu quả những vấn

đề và những hạn chế của mạng điện thoại cố định

2.1.7 Kinh nghiệm và bài học từ Ấn độ

Từ năm 1998 Ấn độ đã chi 2,3 tỷ USD cho các hoạt động R &D (tương đương 0,67% GDP, đứng thứ 24 trên thế giới) và chú trọng vào phát triển công nghệ thông

tin và công nghệ sinh học, coi đó là mũi nhọn, gắn nghiên cứu khoa học với phát triển kinh tế, chú trọng chuyển từ nghiên cứu cơ bản sang nghiên cứu ứng dụng, nên đến nay đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Hoạt động R & D đều do Chính phủ tài trợ là chủ yếu

Với mức chi cao như vậy, phần dành vào xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ và cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ cũng cao và tạo

nên nhiều năng lực cần thiết cho các hoạt động, trong đó có mảng outsourcing (làm việc cho bên ngoài bằng năng lực tại chỗ, không cần di chuyển) trong CNTT trên

thế giới Nhưng trước hết, tham vọng và mục tiêu của Ấn độ cũng rất rõ ràng và khả thi: mục đích duy nhất là sứ mệnh biến Ấn độ thành quốc gia đổi mới và đi đầu trong các ngành công nghệ; phấn đấu mỗi năm xuất khẩu 50 tỷ USD sản phẩm phần mềm;

và đến năm 2010 thị trường công nghệ sinh học nội địa sẽ đạt 4,5 tỷ USD, cao gấp 5 lần so với năm 1997

Chính sách khoa học và công nghệ năm 2003 đã nhằm vào mục tiêu bảo đảm cho khoa học và công nghệ phục vụ cuộc sống và giải quyết được những vấn đề về kinh tế và xã hội, bao quát các lĩnh vực: quản lý khoa học và công nghệ, đầu tư, tối

ưu hóa sử dụng cơ sở hạ tầng hiện có, tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ trong các cơ quan hàn lâm; tạo cơ chế cấp vốn mới cho nghiên cứu

cơ bản,

Do đó Chính phủ đã cho xây dựng 12 Công viên kinh doanh khoa học và công nghệ đặ gần các cơ quan kỹ thuật và hàn lâm, được coi là những trung tâm ưu tú Những công viên này cố gắng cung cấp các nguồn lực kỹ thuật, trợ giúp thiết bị và các phương tiện nghiên cứu khoa học ở tầm cỡ thế giới Chính phủ còn tiếp tục hỗ trợ cho Khu Công nghệ sinh học của Hội Phụ nữ hiện nay đang hoạt động ở ngoại ô Bang Madras, ở Bnag này còn chi tiền xây dựng Khu Công nghệ sinh học khác, các Phòng TN cây thuốc và Trung tâm nghiên cứu về biển, Qua đây chúng ta rút ra

Trang 21

được nhiều kinh nghiệm hay đó là xác định ít hướng chủ đạo và hành động quyết liệt với chủ trương tăng mạnh tiền đầu tư Cho nên Ấn độ đã thành công về Cách mạng xanh và CNTT (nhất là các phần việc outsourcing trong cạnh tranh với Trung quốc)

2.2 Kinh nghiệm và bài học từ các nước Châu Âu và khác:

2.2.1 Kinh nghiệm và bài học từ Liên bang Nga:

Sau khi Liên Xô tan rã (năm 1990), nền kinh tế của nước Nga chuyển sang cơ chế thị trường Mọi hoạt động kinh tế-xã hội, trong đó có hoạt động KH&CN đã thay đổi theo Chính phủ Liên bang Nga đã sớm quyết định thành lập các Quỹ khoa học để tài trợ cho việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN Đó là

• Quỹ nghiên cứu cơ bản, 1992

• Quỹ khoa học nhân văn, 1994

• Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

• Quỹ phát triển công nghệ (ngoài ngân sách nhà nước, không có tư cách pháp nhân), được thành lập tại Bộ khoa học, giáo dục và chính sách kỹ thuật Liên bang Nga Năm 2000 đổi thành Bộ công nghiệp, KH&CN Liên bang Nga)

Cho đến nay Nga có 3 hình thức tài trợ cho KH-CN:

(i) Đầu tư theo tổ chức - đầu tư để phát triển khoảng 60 viện trọng điểm quốc gia; (ii) Đầu tư để thực hiện các chương trình KH&CN trọng điểm quốc gia;

(iii) Đầu tư để thực hiện các đề tài KH&CN thông qua các quỹ KH&CN

Ngoài ra có có Quỹ phát triển công nghệ, gồm: Tỷ lệ trích lại hàng quý trên cơ sở hợp đồng giữa các cơ quan chính quyền và các tổ chức thương mại với tỷ lệ trích 25% kinh phí nộp vào các quỹ ngoài ngân sách; từ sự tự nguyện của các tổ chức thuộc phạm vi quản lý của Bộ công nghiệp, KH&CN Liên bang Nga; kinh phí được các cơ quan có tư cách pháp nhân hoàn trả lại Quỹ theo hợp đồng cấp kinh phí cho triển khai các dự án sản xuất thử nghiệm

Quỹ này tiến hành tài trợ cho:

+ Các đề tài nghiên cứu có tính chất toàn ngành, liên ngành và các biện pháp làm chủ việc sản xuất các sản phẩm mới; đầu tư theo mục tiêu cho ứng dụng các thành tựu KH&CN có ý nghĩa liên ngành và ở tầm quốc gia;

+ Cấp kinh phí cho việc triển khai các công trình nghiên cứu khoa học và thử nghiệm

Việc cấp kinh phí chủ yếu được thực hiện trên cơ sở hợp đồng có hoàn trả, gồm các lĩnh vực: Tạo ra các loại sản phẩm mới, nguyên vật liệu có hàm lượng khoa học cao; triển khai các công nghệ mới và hoàn thiện các công nghệ đang áp dụng; nâng cao trình độ công nghệ của sản phẩm; tiêu chuẩn hoá và cấp giấy chứng nhận sản phẩm; bảo hộ lao động và kỹ thuật an toàn Việc cấp kinh phí không thu hồi được thực hiện đối với các công trình nghiên cứu và triển khai thử nghiệm có ý nghĩa quốc gia và xã hội lớn, thực hiện theo quyết định của Chính phủ Liên bang và Bộ trưởng

Bộ công nghiệp, KH&CN Liên bang

2.2.2 Kinh nghiệm và bài học từ Balan:

Chính phủ áp dụng nguyên tắc cạnh tranh trong việc xin cấp tài trợ của Nhà nước, tính công khai của các tiêu chuẩn, thủ tục và các quyết định, cũng như đánh giá của các chuyên gia độc lập thuộc các chuyên ngành khoa học khác nhau (hệ thống đánh giá “ngang bằng”)

Trang 22

Việc đánh giá theo thông số đó là bước một; tiếp đó người ta phân loại các đơn vị

(được thực hiện 4 năm 1 lần và thường diễn ra trong năm đầu của nhiệm kỳ hoạt động 4 năm của Ủy ban NC Khoa học Nhà nước)

Nhà nước Ba lan đã ban hành:

• Đạo luật 8-10-2004 về Các nguyên tắc tài chính cho Khoa học, quy định tiêu chí và thủ tục phân bổ, kiểm toán cho các Quỹ Khoa học

• Đạo luật 29-7-2005 về một số hình thức hỗ trợ hoạt động đổi mới

• Theo Đạo luật 2004 tăng cường vai trò của Bộ trưởng Khoa học trong điều phối và thực hiện chính sách Khoa học, giao phó quyền hạn theo Luật pháp, quyền được ra quyết định trong phân phối và phân bổ Ngân sách Khoa học Các chương trình khung quốc gia do Bộ Khoa học đưa ra là công cụ quan trọng

để thực hiện chính sách KH-CN, liên quan đến quyền tự chủ trong nghiên cứu và các nhu cầu về kinh tế xã hội của đất nước

+ Thành lập Hội đồng Khoa học – tổ chức đại diện chính thức cho giới nghiên cứu có vai trò tư vấn quan trọng, có quyền đưa ra các ý kiến độc lập với Bộ trưởng, gồm tối đa 70 thành viên do H.Đ.KH và Bộ trưởng bổ nhiệm

+ Tháng 1-2005 H.Đ phát triển KH-CN được lập ra, làm tư vấn cho HĐBT, Thủ tướng về Chiến lược Phát triển KH-CN và các công nghệ mới Balan bảo đảm quyền bình đẳng trong tiếp cận nguồn tài trợ từ ngân sách khoa học và đặc biệt là các tài trợ cho các hoạt động và đầu tư theo luật định, cho các đơn vị tổ chức thực hiện R &D, không phụ thuộc vào loại hình sở hữu chúng

Các trường Đại học không thuộc công lập cũng được nhận tài trợ cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của mình Mặt khác Balan cũng đã thu hút được tài trợ từ nước ngoài, thường trong khoảng 2% trong tổng kinh phí (năm 1999 đạt 1,7%) Ngoài ra giai đoạn 1995-1999 Chính phủ đã chú trọng chi vào phát triển các ngành khoa học kỹ thuật và y học, giảm bớt chi tiêu vào các ngành khoa học tự nhiên và nông nghiệp

Balan còn bảo đảm tính linh hoạt trong việc tạo nguồn và cấp kinh phí khoa học cũng được thực hiện theo kiểu chuyển giao chỉ định để tài trợ hoặc đồng tài trợ cho các dự án nghiên cứu, dự án mục tiêu và các hoạt động hỗ trợ nghiên cứu cho các Hiệp hội, Quỹ và các đơn vị khác để hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ khoa học đặc biệt

2.2.3 Kinh nghiệm và bài học từ Thụy sỹ

Để gia tăng khả năng nghiên cứu và hăng say sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật

khoa học và công nghệ, tổ chức KTI (tổ chức hỗ trợ đổi mới của Liên bang Thuỵ sỹ)

hỗ trợ các nhà khoa học ở trường Đại học với kết quả nghiên cứu của mình cùng với doanh nghiệp triển khai các sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh và mang ra thị trường Tiêu chí để hỗ trợ quan trọng nhất là hàm lượng đổi mới và tác động kinh tế

Sự hỗ trợ R &D của KTI có lợi cho doanh nghiệp cho đến nay đã được tiến hành rất tốt hơn 60 năm qua Giai đoạn 2001-2005 đã có 15.000 dự án được tài trợ, trong đó phía doanh nghiệp chi 60% hay tương đương 530 triệu Frăng Thuỵ sỹ Hiệu quả đầu

tư rất lớn: mỗi 1 đồng chi đầu tư của KTI đã thu hút được 1,4 đồng từ phía doanh nghiệp Đó là hiệu ứng đòn bẩy Giai đoạn 2004-2007 ngân sách của KTI là 400 triệu Frăng Thuỵ sỹ

Trang 23

Ngoài ra Thuỵ sỹ cũng đã thành lập Quỹ quốc gia để tài trợ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ Theo đó, vốn hoạt động do các tổ chức thành lập Quỹ (Hội nghiên cứu tự nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học Y tế, Hội khoa học nhân văn, Hội Luật gia, Hội Thống kê và Kinh tế quốc dân cùng đóng góp khi thành lập Quỹ là 330000 frank Ngân sách Liên bang cấp vốn ban đầu là 1 triệu frank cùng với các giá trị phát sinh từ các tài sản đó và các nguồn khác như khoản đóng góp theo quy định và không theo quy định của Liên bang, từ các nguồn ngoài ngân sách

Quỹ này tiến hành tài trợ cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học trên

đất nước Thụy Sỹ: (i) Tài trợ cho các đề tài/dự án và cho các cá nhân, hỗ trợ các hội nghị khoa học và xuất bản ấn phẩm cũng như các hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế; (ii) Hỗ trợ cho việc xây dựng hạ tầng cơ sở nghiên cứu, hỗ trợ các giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu và các hoạt động điều hoà nghiên cứu; (iii) Tổ chức thực hiện các chương trình nghiên cứu định hướng của Liên bang theo sự uỷ thác và theo thông lệ bằng các nguồn tài chính đặc biệt của Liên bang, đó là các chương trình nghiên cứu quốc gia, các chương trình trọng điểm của quốc gia

2.2.4 Kinh nghiệm và bài học từ Hungary:

Bên cạnh việc tăng tổng chi phí cho công tác R & D, Nhà nước đã định hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành công nghệ cao và máy tính hóa nền kinh tế Trong khoảng từ năm 1990 đến 1996 mức chi phí cho R &D tính trên GDP

đã giảm từ 1,6% xuống còn 0,7% và giữ ở mức thấp trong suốt nửa sau của thập kỷ

90 Năm 1996, tổng chi phí R & D là 0,67%, mức thấp nhất trong những năm 90 Chính phủ đã đặt mục tiêu tổng chi phí cho R &D phải đạt được mức kinh phí trung bình của Liên minh Châu Âu (EU) vào năm 2006

Có hơn 50% tổng chi phí cho R &D là do ngân sách Nhà nước cấp và việc sử dụng những nguồn kinh phí này bị phân tán Tỷ lệ tham gia hiện thời của khu vực tư nhân là 38% sẽ phải bảo đảm tăng lên tới mức 50% trong tương lai Hungary có 2 hình thức tài trợ chính của Nhà nước cho các hoạt động R &D và đổi mới của khu vực tư nhân là khuyến khích về thuế và trực tiếp hỗ trợ không hoàn lại của Nhà nước Tính từ tháng 1 năm 2001 các Công ty có thể lý giải kinh phí R &D của họ đến 200%

2.2.5 Bài học và kinh nghiệm từ CH Séc

Phạm vi hỗ trợ Nhà nước về khoa học công nghệ được quy định trong Luật số 300/1992, sau đó là Sắc lệnh Chính phủ hỗ trợ tài chính cho những lĩnh vực tri thức tiêu chuẩn quốc tế, chủ yếu đối với các Trường Đại học, nhờ đó sẽ nâng cao được nền văn hóa, sức khỏe và an toàn cho dân tộc cùng với những nhu cầu cơ bản khác Tài trợ cuả nhà nước sẽ tập trung chủ yếu vào các hoạt động nghiên cứu dài hạn

(nghiên cứu cơ bản), các hoạt động nghiên cứu có nhiều rủi ro trong lĩnh vực nghiên

cứu ứng dụng và cho các hoạt động mà kết quả cuả nó sẽ được các doanh nghiệp nhỏ

và vừa không có khả năng và năng lực R & D sử dụng cho đổi mới công nghệ hay hoàn thiện sản phẩm của mình, nâng cao khả năng cạnh tranh Theo đó nghiên cứu

cơ bản sẽ được cấp đến 100% chi phí, nghiên cứu ứng dụng- đến 50% chi phí, còn nghiên cứu phát triển thực nghiệm- đến 25% chi phí

Tổng tài trợ cộng gộp từ ngân sách không được vượt quá:

Trang 24

+ 75% của tổng chi phí đối với nghiên cứu ứng dụng,

+ 50% của tổng chi phí đối với phát triển thực nghiệm

Chính phủ cũng sẵn sàng hỗ trợ bằng vốn vay với lãi suất ưu đãi (hoặc lãi suất bằng 0), cho những dự án phát triển công nghiệp mà kết quả cuả nó dành cho người dùng duy nhất Sự tài trợ của Nhà nước cho các hoạt động R & D sẽ cố gắng bảo đảm một tỷ lệ cân đối các loại tài trợ khác nhau- từ các kế hoạch nghiên cứu chủ yếu được Nhà nước tài trợ của các tổ chức, hoặc cấp kinh phí có mục tiêu cho các cá nhân hay các nhóm nhỏ, cho đến các dự án R & D trọng điểm hoàn thành các chương trình R & D đã được công bố hiện có

Mặc dù chính phủ áp dụng biểu thuế cao, nhưng sự hỗ trợ gián tiếp cho các hoạt

động R& D là một ngoại lệ (chỉ miễn thuế hải quan nhập khẩu đối với R & D trong trường hợp nghiên cứu khoa học đang tiến hành và có khả năng khấu trừ 2% chi phí

R & D trong thu nhập ròng được sử dụng để tính thuế thu nhập)

2.2.6 Kinh nghiệm và bài học từ Australia:

Ở thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chính sách khoa học và công nghệ của Australia theo đuổi một trong 3 mục tiêu chính là duy trì chất lượng cao đối với kết cấu hạ tầng nghiên cứu của khu vực chính phủ, đẩy mạnh tối đa việc ứng dụng thực tiễn của cơ

sở khoa học vào ngành công nghiệp và khuyến khích ngành kinh doanh tăng cường đổi mới

Tháng 1-2001 Thủ tướng Australia đã công bố kế hoạch chiến lược về khoa học

và giao dục: “Tăng cường năng lực của Australia” (Backing Australia Ability), theo

đó sẽ tăng kinh phí nghiên cứu khoa học gấp đôi trong 5 năm tới, cải thiện kết cấu hạ tầng nghiên cứu, lập các Trung tâm tài năng (Centre of Excellence) tầm cỡ thế giới

về các công nghệ then chốt, nâng mức khấu trừ thuế đối với khoa học và công nghệ, tăng cường các trung tâm hợp tác nghiên cứu và đề ra những sáng kiến mới về giáo dục

Australia nổi bật ở quá trình tự chủ hóa của các cơ quan nghiên cứu khoa học

Đây là yếu tố sẽ gây tác động sâu sắc tới sự phát triển KH&CN, cụ thể là mục đích

và cung cách quản lý đầu tư Một số ý kiến cho rằng không nên, hoặc chưa nên cổ phần hóa các cơ quan nghiên cứu, vì thị trường sẽ chỉ chạy theo lợi ích cục bộ trước mắt mà bỏ rơi những lợi ích có tính công cộng Do tự chủ hóa như vậy, việc đầu tư mua sắm và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ đều được họ cân nhắc và không bị ảnh hưởng bởi các quyết định hành chính dội từ trên xuống theo kiểu phân bổ

Chính phủ đã tiến hành Chương trình vườn ươm CNTT-TT từ năm 2000 đến

2008, cung cấp đầu tư tài chính ban đầu và tư vấn kinh doanh cho các Công ty mới

khởi sự trong lĩnh vực CNTT-TT trên toàn quốc (cả gói 122 tr.đô la Australia)

2.2.7 Kinh nghiệm và bài học từ Mỹ

Mỹ lâu nay vẫn quan niệm đầu tư vào khoa học và công nghệ là đầu tư mang lại

lợi nhuận cao nhất “Đầu tư vào công nghệ chính là đầu tư vào tương lai của nước Mỹ” (B.Clinton, 2002)

Hiện nay trong cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ của Mỹ có các cơ sở nghiên cứu trong các công ty, hàng nhiều trăm trường đại học và hơn 700 Phòng TN

Trang 25

liên bang Kinh phí đầu tư cho hệ thống này hàng năm lên đến 150 tỷ USD Khắp nơi trên đất Mỹ đã có hàng loạt các cơ sở hoàn hảo cho các nghiên cứu về vật lý hạt nhân, vật lý năng lượng cao, vật lý thiên văn, vật lý chất rắn, sinh học phân tử, nghiên cứu vũ trụ; trên cơ sở đó thu hút rộng rãi giới nghiên cứu trong và ngoài nước đến làm việc Rõ ràng với 2 thế mạnh về đầu tư tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt nhất và chi trả thu nhập cao, Mỹ luôn thu hút được tầng lớp tinh túy khoa học của thế giới đến làm việc, mỗi năm tiết kiệm đến nhiều tỷ USD về đào tạo nhân lực chất lượng cao do không phải đào tạo mà vẫn có người làm khoa học và công nghệ

Chính sách đầu tư của Mỹ cho phát triển khoa học và công nghệ bao hàm cả nội dung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của khoa học và công nghệ Do đó nếu tổng chi cao thì phần chi cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng cao tương ứng, tuy có thể mức độ khác nhau qua các năm Năm 1965 tổng chi cho khoa học và công nghệ là 54 tỷ USD, trong đó tài trợ của chính phủ cho việc nghiên cứu khoa học

ở các Trường Đại học đã gia tăng gấp 20 lần so với năm 1935 và mức chi vẫn tiếp tục gia tăng mạnh cho đến cuối thập kỷ 80

Trong vòng 5-7 năm gần đây, mức tăng kinh phí hàng năm của nhà nước dành cho lĩnh vực nghiên cứu khoa học ở Mỹ gia tăng trung bình hàng năm là 10%

Hơn nữa do quan niệm các hoạt động khoa học và công nghệ nhất là trong lĩnh

vực ứng dụng đều được thực hiện ở các doanh nghiệp (ví dụ từ năm 1990 đến 1993

cả chi chính phủ và khối doanh nghiệp đạt lần lượt là 150, 151,6; 161,9 và 184,9 tỷ USD), Chính phủ vẫn có những hỗ trợ rất mạnh mẽ để các doanh nghiệp đẩy mạnh

hoạt động khoa học và công nghệ tại chính các doanh nghiệp Các bộ phận nghiên cứu và thử nghiệm đều được hưởng chế độ giảm thuế, ví dụ đã tiến hành giảm 4 lần vào các năm 1986, 1988, 1989 và 1990 Ngoài việc tăng cường giảm thuế, còn có thể cắt giảm thêm mức thuế đánh vào lợi nhuận của toàn bộ các công ty công nghiệp và điều này đôi khi làm cho tổng số thuế nói chung giảm tới 50% Việc đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho phát triển khoa học công nghệ tại Mỹ còn thể hiện lồng ghép ở Chương trình tài trợ cho R &D của doanh nghiệp nhỏ (SBIR): Chương

trình SBIR (Small Business Innovation Research Program) là một hệ thống tài trợ

theo 3 giai đoạn có tính cạnh tranh cao nhằm cung cấp cho doanh nghiệp nhỏ cơ hội

đề xuất các ý tưởng sáng tạo đạt các nhu cầu về R&D của Liên bang đề ra

Tiêu chí là:

(i) Doanh nghiệp phải là của Mỹ và hoạt động độc lập

(ii) Hoạt động vì lợi nhuận

(iii) Có nhân lực chuyên làm nghiên cứu

(iv) Quy mô dưới 500 người

Việc tài trợ cho doanh nghiệp thực hiện R &D theo 3giai đoạn:

+ Giai đoạn 1 thường gắn với giai đoạn khởi nghiệp, mức tài trợ có thể lên đến 100.000 USD cho khoảng 6 tháng để hỗ trợ việc khai thác các giá trị công nghệ hoặc tính khả thi của một ý tưởng hoặc công nghệ

+ Pha II có thể tài trợ lên đến 750.000 USD trong 2 năm để mở rộng Pha I Trong giai đoạn này, hoạt động R &D được thực hiện và đánh giá tiềm năng thương mại hoá kết quả nghiên cứu Chỉ những người được đánh giá có kết quả tốt của Pha I mới được thực hiện triển khai sang Pha II

Trang 26

+ Pha III là giai đoạn hoạt động đổi mới của Pha II sẽ chuyển từ quy mô Phòng thí nghiệm ra sản xuất Ở Pha này SBIR sẽ không cấp tài trợ nữa, mà doanh nghiệp phải tự lo nguồn tài chính

Tiếp theo đó là Chương trình tài trợ chuyển giao công nghệ (STTR- Small Business Technology Transfer Program)) cũng với cách đặt vấn đề tương tự để hỗ

trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ qua các Pha như trên

Mỹ còn có kinh nghiệm đáng lưu ý xem xét học tập trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động ở các Phòng TN Quốc gia, tức là hiệu quả của chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ, ngoài các kinh nghiệm về tổ chức hệ thống, điều hành hoạt động của các Phòng TN đó

Quy trình đánh giá hiệu quả như sau: Hệ thống phòng TN quốc gia của Mỹ

ban đầu chịu sự quản lý của Ủy ban năng lượng nguyên tử, sau đó là Cơ quan điều

hành nghiên cứu và phát triển năng lượng (Energy Research and Development Administration) và hiện nay trực thuộc sự giám sát của Bộ Năng lượng (DOE) DOE

cung cấp hơn 40% trong tổng kinh phí quốc gia dành cho các lĩnh vực vật lý, hóa học, khoa học vật liệu và các lĩnh vực khoa học tự nhiên khác Nhiều Phòng thí nghiệm do các Công ty tư nhân quản lý, trong khi một số khác do các trường đại học quản lý, và với vai trò là một hệ thống, các phòng thí nghiệm này đã tạo nên một cấu

phần bao quát và có ảnh hưởng sâu rộng trong cái gọi là “tam giác sắt” gồm quân

đội, khối nghiên cứu và ngành công nghiệp

Bắt đầu từ năm tài khóa 2006 người ta đã dựa trên thành tích đối chiếu kết quả

của người ký hợp đồng so với 8 mục tiêu (xem phần sau) về hiệu quả, tạo nên một

cơ cấu chung và một hệ thống tính điểm đối với các Phòng thí nghiệm Mỗi một trong số 3 mục tiêu về khoa học công nghệ và 5 mục tiêu về quản lý và vận hành đều bao gồm 2 hay nhiều tiêu chí định lượng cụ thể với những xác định chuẩn về mức độ hiệu quả và một hệ thống tính điểm đã được xác định Tất cả các mục tiêu, tiêu chí và biện pháp đều được nêu rõ trong Kế hoạch đánh giá và Định lượng hoạt động của

năm tài khóa (Performance Evaluation and Measurement Plan-PEMP) đối với từng

Phòng thí nghiệm và được kết hợp vào từng hợp đồng riêng biệt cụ thể

Có 2 điểm nội dung nổi bật trong quản lý các Phòng TN quốc gia như sau: + Quản lý theo hiệu suất, với định hướng rõ ràng cho các Phòng thí nghiệm

+ Xây dựng các kế hoạch hoạt động hàng năm đánh giá hoạt động nhà thầu trong việc đáp ứng các định hướng nêu trên, phù hợp với yêu cầu hợp đồng

Nguyên tắc chỉ đạo như sau:

=Các mục tiêu hoạt động được xây dựng cùng với các tổ chức có ảnh hưởng và nằm trong các mục đích chiến lược của Bộ chuyên ngành (trường hợp cụ thể ở đây là

Bộ Năng lượng Mỹ-DOE)

= Các quyết định về nguồn lực và yêu cầu ngân sách được ràng buộc với các kết quả;

= Các kết quả được sử dụng làm thông tin quản lý, giải trình và thúc đẩy các cải thiện lâu dài

Mặt khác về hiệu quả sử dụng các Phòng Thí nghiệm ở Mỹ người ta còn xem

xét đến việc cho phép các Phòng đó làm việc cho bên ngoài theo chương trình Work for Others Program (WFOP) Theo đó các cơ quan liên bang khác và các khách hang

Trang 27

ngoài liên bang dựa trên một cơ sở hoàn trả 100% chi phí Công việc này sử dụng nhân lực và các phương tiện của Phòng thí nghiệm, phải phù hợp với nhiệm vụ của Phòng TN đó, không gây mâu thuẫn hoặc trở ngại đến việc hoàn thành các mục tiêu chương trình của DOE; không đặt Phòng TN đó vào một sự cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân trong nước; không tạo nên một gánh nặng tiềm năng trong tương lai đối với các nguồn lực của DOE

Lý do căn bản của Chương trình WFOP là: (i) các Phòng TN của DOE được trang bị các phương tiện độc nhất vô nhị và có kinh nghiệm chuyên môn hóa cao, không nơi nào trên đất Mỹ có được Nhờ chương trình này mà nổi bật là tránh được các khả năng trùng lặp các nỗ lực nghiên cứu; (ii) Các Phòng TN đại diện cho tài sản quốc gia và tuân thủ các điều kiện thích hợp, nguồn lực này cần được bảo đảm là nó đến được với ngành công nghiệp

Hệ thống này được quản lý bởi Văn phòng khoa học với 10 Phòng Thí nghiệm

tầm cỡ thế giới, thường được mệnh danh là tinh hoa (crown jewels) của cơ sở hạ tầng

nghiên cứu quốc gia của Mỹ Ngoài số này ra còn có các Phòng thí nghiệm quốc gia

và các Trường đại học Mỗi năm các thiết bị ở các nơi này được hơn 19.000 nhà nghiên cứu đến từ các Trường Đại học, các cơ quan khác của Chính phủ khác và ngành công nghiệp tư nhân đến khai thác, sử dụng

2.2.8 Kinh nghiệm và bài học từ CHLB Đức

CHLB Đức có nhiều hoạt động về đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho phát triển khoa học và công nghệ, trong đó có phần đầu tư hỗ trợ nghiên cứu và triển khai, ứng dụng công nghệ cao Họ phấn đấu vào năm 2010 đầu tư cho KH-CN đạt mức 3% GDP Theo đó Chính phủ có các chương trình:

+ Đổi mới: Các dự án hợp tác nghiên cứu giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhau hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ với Viện nghiên cứu để tạo ra bước nhảy vọt về công nghệ cho doanh nghiệp Hình thức hỗ trợ: đầu tư tài trợ một phần không hoàn lại từ Bộ Kinh tế và công nghệ với 5 loại dự án:

(i) Dự án hợp tác giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp;

(ii) Dự án hợp tác nghiên cứu giữa doanh nghiệp với Viện nghiên cứu; (iii) Dự án hợp tác nghiên cứu của doanh nghiệp nhưng uỷ thac cho Viện

nghiên cứu thực hiện;

(iv) Dự án hợp tác trao đổi nhân lực nghiên cứu giữa doanh nghiệp và

Viện nghiên cứu (3-24 tháng gửi nhân lực R & D để chuẩn bị cho 1 dự

án nghiên cứu mới: từ doanh nghiệp sang doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp sang Viện và ngược lại);

(v) Dự án nghiên cứu đổi mới của một doanh nghiệp triển khai một sản

phẩm nhiều hàm lượng sáng tạo (innovative) đến giai đoạn nguyên mẫu (prototyp) hoặc phương pháp hoặc dịch vụ kỹ thuật

+ Nghiên cứu chung công nghiệp: đầu tư hỗ trợ không hoàn lại cùng với phần đóng góp của phía sản xuất

+ Hỗ trợ liên kết đổi mới: dự án nghiên cứu chung gồm ít nhất 2 Viện nghiên cứu với ít nhất 4 doanh nghiệp Các dự án nghiên cứu loại này với đối tác là nước ngoài cũng được hỗ trợ Hình thức là hỗ trợ không hoàn lại một phần và kinh phí

tự đóng góp của bên sản xuất

+ Hỗ trợ liên kết miền Đông Đức: hình thức tài trợ một phần không hoàn lại

Trang 28

+ Hỗ trợ R &D những doanh nghiệp công nghệ vùng chậm phát triển: Hình thức

là tài trợ không hoàn lại (tới 70% cho các dự án R &D của các Viện nghiên cứu công lập ngoài doanh nghiệp, nhưng không quá 375.000 Euro/dự án; tới 45% cho các dự án R &D của các doanh nghiệp tích cực nghiên cứu, nhưng không quá 375.000 Euro/dự án) Đối với các Viện nghiên cứu công lập có thể được chi tới 40% và đối với các doanh nghiệp tích cực nghiên cứu có thể được chi tới 60% số kinh phí tài trợ cho nhân lực cố định và trực tiếp làm R &D

Hỗ trợ thành lập doanh nghiệp và phát triển các doanh nghiệp trẻ, nhất là

các doanh nghiệp high - tech để triển khai công nghệ và thâm nhập thị trường các sản phẩm mới, quy trình mới và dịch vụ mới Tài trợ không hoàn lại và tham gia đầu tư (cho vay vốn) Theo hình thức này gồm có:

+ Quỹ high-tech hỗ trợ thành lập doanh nghiệp

+ Thành lập doanh nghiệp từ khoa học

Hỗ trợ nhân lực đổi mới cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tuy phần này không là đối tượng xem xét ở đây, song cũng có thể điểm qua là

gồm: Hỗ trợ đào tạo nhân lực R &D; Chương trình nghiên cứu ĐH-Doanh nghiệp và đào tạo kỹ sư trẻ; Hỗ trợ phát triển mạng lưới hợp tác công nghệ quốc tế (interc.net)

Thông qua những chương trình này, việc có điều kiện để toàn dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của khoa học và công nghệ là khả thi và rất hữu

2.2.9 Kinh nghiệm và bài học từ Canađa:

Canađa đã và đang chuyển hướng nhanh sang 1 xã hội tri thức, đầu tư mạnh vào nghiên cứu ở các trường đại học, tạo lập quan hệ đối tác trong nước, các doanh nghiệp công nghệ cao với quy mô vừa và nhỏ và xa lộ thông tin

Hai năm trước đây, Chính phủ Canađa đã triển khai một Chiến lược mới để cải thiện tính cạnh tranh về khoa học và gia tăng khuyến khích mối tương tác đối tác với khu vực doanh nghiệp và cải thiện cơ sở hạ tầng khoa học (scientific infrastructure)

Tháng 6-2009 Chính phủ đã công bố “Báo cáo tiến độ về việc huy động Khoa học công nghệ Canada đạt mục tiêu cao cấp” (Mobilizing Science and Technology to

Canada’s Advantage: Progress Report 2009)

Canađa đã đầu tư rất lớn trong năm 2009 vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học

công nghệ với số tiền là 4,5 tỷ đôla Canađa thông qua Quỹ Đổi mới Canađa (Canada Foundation for Innovation-CFI) Song lại cắt giảm kinh phí ngân sách sự nghiệp 5%

đối với 3 cơ quan khoa học công nghệ lớn là Hội đồng (Ủy ban) Nghiên cứu khoa học và kỹ nghệ quốc gia - NSERC, Hội đồng (Ủy ban) nghiên cứu khoa học xã hội

và nhân văn, và Viện Nghiên cứu Y tế Canađa Dẫn đến các nhà khoa học phản ứng khá mạnh Khi công bố mức ngân sách bị cắt giảm, Hiệp hội các nhà giáo giảng dạy

Đại học –CAUT đã nêu lên rằng: ”các phòng thí nghiệm và trạm trại nghiên cứu có thể được trang bị tốt hơn, song vì lại bị cắt bớt kinh phí sự nghiệp hoặc lại đóng cửa

vì lý do họ không có đủ nguồn để trang trải phí tổn hoạt động và thù lao cho nhân viên” Ban Biên tập Tạp chí CMAJ- Canadian Medical Association Journal (Tạp chí Hiệp hội y học Canađa) đã phê bình thẳng thừng Kế hoạch khuyến khích (kích cầu)

Trang 29

Ngân sách năm 2009 của Chính phủ như sau: “nói rằng đang có thâm hụt và cần kích cầu, dường như quan tâm đến khoa học, song rõ ràng thông điệp toát ra từ công bố ngân sách của Bộ trưởng Tài chính Jim Flaherty là khoa học không quan trọng gì đối với Canađa cả”

2.3 Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt nam về chính sách đầu tư và khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ

Việc Việt nam đi sau trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước tạo cho chúng ta hoàn cảnh vừa có các cơ hội, vừa phải đối mặt với thách thức rất lớn Các cơ hội thể hiện ở chỗ có nhiều kinh nghiệm nước ngoài có thể học tập hoặc về lôgic giải quyết vấn đề, hoặc về việc làm sao tránh khỏi các thất bại mà những nước

đó từng mắc phải, và tốt nhất là học tập, áp dụng những kinh nghiệm tốt đẹp, phù hợp Trong số đó có các kinh nghiệm về đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ quốc gia Thách thức to lớn là trong điều kiện đất nước còn nghèo, chi tiêu có hạn và phải sử dụng hết sức hiệu quả nguồn lực tài chính bỏ ra cho xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ

Về kinh nghiệm nước ngoài cần lĩnh hội và học tập, có thể thấy chính sách đầu

tư và tài chính cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN – ta thu được bức tranh mờ vì lẽ với tài liệu và số liệu tiếp cận được chủ yếu ta thấy kết quả của việc thực thi các chính sách đó Chủ yếu là các nước sử dụng các giải pháp gián tiếp; hoặc tiếp cận được giải pháp chung, không nêu cụ thể nhưng có tác dụng thúc đẩy và hòa đồng sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN Nhìn lại và tổng hợp kinh nghiệm của các nước được xem xét trong các Chuyên đề Đề tài rút ra một số nội dung như sau

Một là các nước đều đầu tư cao cho phát triển khoa học và công nghệ Các nước

tư bản phát triển và các nước đang phát triển đều chi tiêu cao và có khi rất cao

(Israel với mỗi năm bỏ ra từ 4,5%-4,7% GDP cho phát triển khoa học và công nghệ trong thời gian dài gần đây) Xin xem Bảng 1 và các Bảng sau ở dưới

Sau khi nghiên cứu kinh ngiệm các nước, Đề tài rút ra một số kết luận sơ bộ là hầu hết các nước chỉ đưa ra các giải pháp chung, không nêu cụ thể trực tiếp gắn với đầu tư xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng, nhưng có tác dụng thúc đẩy và hòa đồng

sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN Lý do khó tiếp cận số liệu và chính sách cụ thể của các nước đã gây khó khăn trong phân tích định lượng các vấn đề đặt

ra Song cũng có thể thấy rằng với mức đầu tư cao như vậy, việc trang bị cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng được tăng tương xứng, dù ở mức cao hay thấp, trường hợp xấu nhất là không được tăng tương xứng, thì chủ yếu các khoản chi tiêu đó dành cho con người, vậy thì một kết quả tốt đẹp khác nảy sinh, đó là hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ được nâng lên vì con người được trả công xứng đáng hơn Do vậy cần khẳng định rằng về chính sách đầu tư, các nước đều thực thi nhất quán gia tăng hoặc giữ tỷ lệ chi cho khoa học và công nghệ ở mức cao dẫn đến phần cũng cao dành cho xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ Nghĩa là khoản đầu tư chung cao thì hệ quả là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ cũng cao, có thể còn đi kèm với tiềm năng nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ

Trang 30

Bảng 1

Mức đầu tư cao cho R &D (% GDP/năm)

Nguồn: R&D INVESTMENTS IN VARIOUS COUNTRIES

WORLDWIDE BETWEEN 1992 and 2009 (Sources: OECD, Main Science and Technology Indicators and Statistics Finland)

Hai là đề cập đến đầu tư và tài chính cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN hay

vấn đề sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng đó ở các nước– chúng ta thu được bức tranh

mờ, vì lẽ khó mà tiếp cận được số liệu và chính sách cụ thể chi tiết của các nước được nêu ra và viện dẫn; cho nên chủ yếu là các giải pháp gián tiếp được nêu ra đối với quá trình đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ Thay đổi cơ cấu đầu tư là biện pháp đáng kể nhất mang tính gián tiếp tác động đến đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN Theo đó nếu giai đoạn đầu xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ đã có mức và tỷ lệ đầu tư cao rồi, thì tiếp đến phải là giải pháp tăng đầu tư cho con người để sử dụng thiết bị máy móc

và cơ sở hạ tầng kỹ thuật đó Các nước Hàn quốc và Canađa có kinh nghiệm này cả mặt tốt lẫn mặt còn chưa tốt để Việt nam tránh

Các biện pháp gián tiếp cần được tiếp tục phải kể ra là việc các nước sử dụng phương thức thuê nhân lực nước ngoài (Nhật bản), nhất là kỹ sư giỏi ngoại quốc được trả lương cao Chính lực lượng đó sẽ giúp nước chủ nhà vận hành và sử dụng hiệu quả máy móc thiết bị, Nói cho cùng là sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ quốc gia

Trung quốc cũng đã tăng cường thu hút FDI cho hoạt động R&D Biện pháp gián tiếp khác là đầu tư vào con người thông qua giáo dục (trường hợp Nhật bản), thành lập nhiều hơn các khoa công nghệ ở tất cả các Đại học (Nhật bản) Hiếm có nước nào làm được điều này như Nhật bản ở thời kỳ đầu quá trình công nghiệp hoá đất nước Hoặc biện pháp gián tiếp nữa là đổi mới tổ chức và nhân sự để cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ và việc sử dụng chúng được nhờ nhiều hơn (trường hợp Hàn quốc)

Khả năng áp dụng kinh nghiệm Mỹ trong điều kiện của Việt Nam

- Có thể áp dụng mô hình tự quyền của Mỹ vào điều kiện của Việt Nam hiện nay

Đó là các doanh nghiệp đổi mới quy mô nhỏ với người sáng lập là các tập thể, cá nhân nhà khoa học Nhà nước tạo điều kiện về thuế, phí và các khoản khuyến khích

Trang 31

khác để các doanh nghiệp này phát triển Do đó việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

kỹ thuật cho phát triển khoa học và công nghệ được họ quan tâm ở mức độ rất lớn

- Cần xúc tiến các Quỹ hỗ trợ đầu tư mạo hiểm, hình thành và triển khai trong thực tế chương trình "lò ấp công nghệ", "lò ấp DN" bằng việc hình thành có tổ chức các khoá đào tạo kỹ năng kinh doanh đến việc đầu tư xây dựng các vườn ươm DN tại hai khu CNC là Hoà Lạc (Hà Nội), thành phố Hồ Chí Minh và một vài khu vực khác xung quanh các Đại học quốc gia, hai Viện khoa học lớn là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Do ở Việt Nam đã hình thành một số DN KH&CN hoặc dưới dạng spin-off, spin –out hoặc dưới dạng DN trong Viện, Trường, hoặc độc lập, tự quyền như APP, hoặc Liên hiệp khoa học - sản xuất như IMI, nên cần tổng kết và trên cơ sở đó hình thành

"luật chơi" tương ứng với mỗi loại hình để tiếp tục hoàn thiện và tạo điều kiện thành lập mới các DN loại này ở nước ta

Bài học rút ra về chính sách trong trường hợp Canađa đã trình bày ở trên là nên chú ý đến tương quan tăng hay giảm kinh phí đầu tư đối với cơ sở hạ tầng và kinh phí sự nghiệp và tốt nhất nên tham khảo ý kiến các nhà quản lý và các nhà khoa học, hoặc dọn đường dư luận trước khi công bố ngân sách hàng năm đối với lĩnh vực khoa học công nghệ của quốc gia

Trang 32

Chương 3

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CƠ SỞ

HẠ TẦNG KỸ THUẬT KHOA HỌC –CÔNG NGHỆ

Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

3.1 Khái quát về chính sách đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học

và công nghệ ở nước ta

Nội hàm của chính sách ở các cấp độ đã được nêu rõ ở phần 1.2 của Chương 1

Do đó về tổng thể các chính sách đầu tư và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học

và công nghệ ở nước ta phản ánh kết quả tại thực trạng trên thực tiễn của chúng Đề tài trong phần này sẽ đi vào nội dung thực trạng và phân tích so sánh thực trạng đó, riêng nội dung về hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN thì được nêu chi tiết hơn khi Đề tài trình bày các kết quả khảo sát và phỏng vấn

Như đã nêu, chính sách tài chính: là các biện pháp cụ thể của nhà nước nhằm tạo lập được nguồn, quản lý và sử dụng nguồn tài chính Ví dụ, chính sách tài chính công (phân bố, sử dụng nguồn ngân sách nhà nước), chính sách thuế, chính sách tiền

tệ và tín dụng, chính sách chi tiêu Chính phủ (government procurement) Khoán là

biện pháp chính sách cụ thể để sử dụng hợp lý nguồn vốn, đảm bảo tính “thị trường” của nghiên cứu khoa học Mặc dù không phải kết quả nào cũng có thể thương mại hoá được, vì trách nhiệm của Nhà nước đối với phát triển KH-CN có khi là phải bảo đảm lợi ích chung, sự an tâm, an toàn, gây ra tốn kém chi phí, nhưng không thể đem bán thứ đó được

Nhìn chung các kết quả và hiệu quả đạt được của việc đầu tư và sử dụng cơ sở

hạ tầng kỹ thuật KH-CN chỉ là một phần (có thể là đáng kể) từ các thành tựu KH-CN qua các thời kỳ Do vậy kết quả thể hiện hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN có thể hình dung như nêu trong Hộp sau đây:

Hộp 1 : Về kết quả thể hiện hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho

KH-CN giai đoạn 1996-2006

Giai đoạn 1996 - 2000: Có 88 kết quả ứng dụng tiến bộ KH&CN

- Trong lĩnh vực công nghiệp: 43 kết quả nghiên cứu (gồm các ngành cơ khí, công nghiệp nhẹ, năng lượng ) đã được ứng dụng vào thực tế góp phần phát triển KT-XH

- Trong lĩnh vực nông nghiệp: 30 kết quả đã được áp dụng vào thực tế gồm các ngành như thủy lợi, lâm, ngư nghiệp

- Trong lĩnh vực y dược: 15 kết quả đã được áp dụng vào thực thế như chẩn đoán, sảnn xuất thuốc

Giai đoạn 2001-2005: Có 52 kết quả ứng dụng KH&CN

- Trong lĩnh vực công nghiệp: có 20 kết quả đã được áp dụng trong thực tế góp phần phát triển

KT-XH

- Trong lĩnh vực nông nghiệp: có 23 kết quả đã được áp dụng vào thực tế góp phần phát triển

KT-XH

- Trong lĩnh vực y dược: 9 kết quả đã được áp dụng vào thực thế

Về nhập khẩu công nghệ: Tính đến 7/2008 đã có trên 700 hợp đồng chuyển giao công nghệ từ

nước ngoài vào VN đã được cấp xác nhận đăng ký và phê duyệt, trong đó gồm:

Về lĩnh vực công nghiệp: 630 hợp đông chuyển giao công nghệ

Trang 33

Nông nghiệp: 14 hợp đồng chuyển giao công nghệ

Y tế: 15 hợp đồng chuyển giao công nghệ

Nguồn: Báo cáo của Bộ KH-CN (theo VietnamNet)

3.1.1 Về thực trạng đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ Việt nam hiện nay

Nhu cầu về đầu tư và chính sách tài chính trong đầu tư cho phát triển khoa học

và công nghệ Việt nam nói chung và cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của khoa học và công nghệ nói riêng được quan tâm không chỉ vì nó đóng vai trò rất quan trọng đối với điều hành Nhà nước mà cả trong nghiên cứu để bắt kịp những ý tưởng mới, góp phần soi rọi thực tiễn và thúc đẩy các hoạt động quản lý khoa học và công nghệ trong những điều kiện mới: hội nhập và phát triển bền vững

Cơ sở hạ tầng hay vật chất kỹ thuật của nền KH-CN nước ta vẫn còn nghèo nàn

ở đại đa số các cơ sở nghiên cứu (Viện, Trại, Trạm, khu vực doanh nghiệp và các trường đại học) Chỉ tính riêng Viện KH-CN giao thông vận tải thuộc Bộ Giao thông

vận tải (vốn có quan hệ rất lớn đến xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông trên toàn lãnh thổ Việt Nam), một trong số 41 Viện tầm cỡ quốc gia, đã tiến hành kỷ niệm 50 năm

thành lập trong năm 2008, song đến nay vẫn chưa đủ điều kiện cần thiết để tiến hành công tác nghiên cứu bên cạnh các khó khăn khác (Viện trưởng TS Doãn Minh Tâm, 2008) Hay theo số liệu của VCCI ở góc độ khu vực sản xuất kinh doanh, cho đến nay nhiều doanh nghiệp vẫn lạnh nhạt với công nghệ thông tin và thấy không cần xây dựng trang web cho riêng mình Dù mức độ hội nhập đã chính thức song chỉ có đến 71,1% số các doanh nghiệp chú ý đến CNTT, và chỉ có khoảng 27% doanh nghiệp trong số đó sử dụng thương mại điện tử, hay có truy cập để tham gia cuộc chơi kinh doanh trên quy mô toàn cầu ngay tại trên cả sân nhà Cho nên chỉ riêng trong nông nghiệp đầu năm 2008 do không nắm được giá cả xuất khẩu gạo thế giới của thời điểm

ký kết hợp đồng, khi bán gạo cho Philippines, 2 Tổng công ty tham gia trúng thầu do

hớ giá đã thiệt hại trong chỉ một thương vụ đã lên đến hơn 105 triệu USD Hoặc đối với các Bệnh viện thì việc áp dụng công nghệ thông tin chỉ thành công ở khoảng 20%

số lượng bệnh viện

Xét từ góc độ kinh nghiệm nước ngòai dù là ở cấp doanh nghiệp hoặc cơ sở nghiên cứu KH-CN, các Viện hay Trường đại học, kỷ luật tài chính hoặc trình độ nhận biết sai phạm trong đầu tư và hiệu quả đầu tư cũng như sử dụng vận hành , trong khi đó đây vẫn còn đã đang diễn ra hiện tượng đầu tư dàn trải về hạ tầng kỹ thuật cho KH-CN, một phần hệ quả từ đầu tư xây dựng cơ bản nói chung của nền kinh tế hay mức độ ưu tiên của địa phương trong sử dụng tiền ngân sách bố trí cho xây dựng cơ bản các hạng mục của KH-CN Cần phải có cơ chế và chính sách trong chuyển giao công nghệ, mua sắm thiết bị KHCN đều thể hiện sự hỗ trợ của Nhà nước nhưng gắn trách nhiệm cá nhân, đơn vị thực hiện cụ thể Đối với nhập thiết bị nước ngoài, nếu thiếu trách nhiệm, tư lợi, nhập sai thiết bị (cũ hoặc không phù hợp) có thể

bị truy cứu trách nhiệm và xử phạt nặng, đối với địa phương hay các ngành bố trí sai ngân sách đã được phân bổ cho KH-CN cũng cần có chế tài đủ mạnh

Trang 34

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho phát triển khoa học và công nghệ

nằm trong khối đầu tư chung của nhà nước hàng năm Khối lượng đầu tư đó nhiều

hay ít một mặt phụ thuộc vào tổng chi ngân sách bố trí cho phát triển khoa học và

công nghệ cả nước, vào ý định chung của nhà nước hay riêng của địa phương, và có

thể cả vào xu hướng đầu tư tại chỗ của các doanh nghiệp, các tổ chức khoa học tự

chủ Vấn đề “ít” hay “nhiều” trong bố trí ngân sách đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật cho

phát triển khoa học và công nghệ cần được phân tích, lý giải cặn kẽ từ nhiều góc độ

khác nhau cả về định lượng lẫn định tính Bởi nó có thể có độ trễ trong phát huy hiệu

quả, hoặc mang lại hiệu quả xã hội gián tiếp, không dễ nhận ra ngay

Do các khoản đầu tư này nằm trong khối đầu tư chung đó, có nhiều ý kiến cho

rằng, đầu tư cho KH&CN của Việt Nam hiện nay là ít (2% tổng chi ngân sách, tương

đương 0,5% GDP), do đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của KH&CN đối với

phát triển kinh tế - xã hội Họ cho rằng “ngân sách dành cho KH-CN quá nhỏ bé:

Năm 2002, khoảng 3.000 tỷ đồng, chiếm 2% tổng ngân sách Nhà nước Hiện nay chỉ

còn dưới 1%, và dự kiến tổng mức đầu tư toàn xã hội cho KH-CN sẽ đạt 1% ở năm

2005, và khoảng 1,5% vào năm 2010 Với sự đầu tư như vậy, KH-CN Việt Nam thật

khó mà tăng trưởng, thực tế vẫn là đồ trang sức!” (Phạm Ngọc Thạch, 2004)

Hộp 2: Tổng quan về chi ngân sách cho hoạt động KH-CN cấp Bộ qua một số

năm

Kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động KH-CN cấp Bộ đã gia tăng qua các năm,

đạt 12.215 triệu đồng vào năm 1996, tăng dần lên 12.558 triệu đồng, 18.494 triệu đồng, 17.680

triệu đồng và 41.196 triệu đồng tương ứng với các năm từ 1997 đến năm 2000 Từ năm 2001 đến

2003, đầu tư của Nhà nước cho hoạt động KH-CN tiếp tục tăng ở mức tương ứng là 46.250 triệu

đồng, 53.830 triệu đồng và 52.094 triệu đồng Mức tăng kinh phí trên đây phản ánh mức gia tăng

tổng chi ngân sách cho KH-CN của cả nước, bằng 0,96% tổng chi ngân sách vào năm 1997, 1,26%

vào năm 1998, 1,28% vào năm 1999 và bằng 2% từ năm 2000 đến năm 2003 Nguồn: Bộ KH-CN

Bảng 2 Tổng hợp số liệu chi NSNN cho KH-CN trong các năm 1996-2009

Năm Kinh phí (triệu đồng) Tỷ lệ % so tổng chi ngân sách

(Nguồn: Đổi mới cơ chế quản lý KHCN ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung

ương) Hà nội 2005 và trang web Bộ Tài chính (mof.gov.vn, phần Công khai ngân sách Nhà nước)

Trang 35

Trên thực tế, thực hiện Luật KH&CN, bắt đầu từ năm 2001 đến nay, hàng năm Nhà nước dành 2% tổng chi ngân sách để đầu tư cho KH&CN Do sự tăng trưởng kinh tế ổn định của đất nước trong gần 10 năm qua, mức chi ngân sách cho KH&CN cũng tăng tương ứng (ví dụ năm 2007 đã đạt gần 400 triệu USD) Tuy vậy vẫn phải đặt câu hỏi về hiệu quả sử dụng ngân sách đầu tư cho phát triển KH&CN (xem phần sau) Trong 2% tổng chi ngân sách hàng năm đó, hơn 40% được dành cho đầu tư phát triển, phân bổ cho các bộ/ngành, địa phương (chủ yếu là cho xây dựng cơ bản và

hạ tầng kỹ thuật KH&CN); 40-45% do các bộ/ngành, địa phương trực tiếp quản lý để chi thường xuyên và chi sự nghiệp cho bộ máy quản lý và nghiên cứu (xin xem thêm Bảng minh hoạ)

Bộ KH&CN chỉ điều hành trực tiếp khoảng 8-11% tổng chi ngân sách dành cho khoa học và công nghệ (bao gồm 20 Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước, các Chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi, Chương trình Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, các nhiệm vụ đột xuất như nghiên cứu phục vụ an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai, dịch bệnh…) Chủ yếu các khoản chi này là dành cho đề tài nghiên cứu Song phần chi thuộc Chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp cũng có tỷ lệ nhất định (là khá cao) dành vào phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ tại chỗ của họ

Hộp 3: Một vài so sánh về mức chi qua các năm của Việt nam với của nước ngoài

Để hình dung mức chi 2% tổng chi ngân sách cho KH&CN có thực là nhiều hay không, có thể tham khảo số liệu của Việt Nam so sánh với một số nước khác:

- Về tỷ lệ tương đối so với GDP: Ở Việt Nam, Nhà nước đầu tư cho KH&CN là 2% tổng chi ngân sách, tương đương khoảng 0,5% GDP, đầu tư của khu vực ngoài nhà nước mới đạt khoảng 0,1% GDP, tổng cộng Việt Nam đầu tư khoảng 0,6% GDP cho KH&CN, trong khi đó, tỷ lệ đầu tư cho R&D của các nước EU là 1,95% GDP, Nhật Bản là 3,15% GDP, Trung Quốc là 1,31% GDP, Hoa

Kỳ là 2,59% GDP, Hàn Quốc là gần 5% GDP (số liệu năm 2004)

- Về mức đầu tư cho hoạt động KH&CN tính trên đầu người: Việt Nam đạt khoảng 5 USD (năm 2007), trong khi con số đó của Trung Quốc là khoảng 20 USD (năm 2004) và đặc biệt là Hàn Quốc khoảng 1.000 USD (năm 2007)

- Về kinh phí đầu tư cho R&D tính theo đầu cán bộ khoa học làm việc toàn thời gian (Full Time Equivalent - FTE): của Việt Nam năm 2007 là khoảng 116 triệu đồng/năm, tương đương gần 7.260 USD/năm/FTE Con số này của Nhật Bản năm 2003 là 230.000USD và CHLB Nga năm 2004 (một nước mới gượng dậy sau sự sụp đổ của Liên Xô) là 14.900USD

- Về tỷ lệ đầu tư cho KH&CN từ ngân sách nhà nước so với khu vực ngoài nhà nước (chỉ tiêu đánh giá mức độ xã hội hóa đầu tư cho KH&CN của quốc gia): Các nước phát triển và ngay cả Trung Quốc là khoảng 1:3, còn Việt Nam thì ngược lại - khoảng 5:1 và đến năm 2010 nếu không có giải pháp quyết liệt thì chúng ta cũng chỉ đạt được tỷ lệ 3:1, hoặc là 2:1, tức là đến năm 2010 và một số năm sau, ngân sách nhà nước vẫn là kênh đầu tư chính, chiếm 60-70% tổng kinh phí cho KH&CN

Trang 36

Trong khi chúng ta mong muốn đến năm 2010 tỷ lệ này phải là 1:2 và đến năm 2020 đạt được tỷ lệ 1:3, tương tự Trung Quốc và một số nước khác

Việc chi ngân sách cho KH&CN đạt 2% tổng chi ngân sách (tương đương 0,5% GDP) đã là quyết tâm lớn của Đảng và Nhà nước, tỷ lệ này cũng không thua kém các quốc gia khác, thậm chí cao hơn một số nước phát triển Ví dụ, năm 2004, chi ngân sách cho KH&CN của Trung Quốc là 0,36% GDP, CHLB Nga 0,3% GDP, EU 0,25% GDP, Nhật Bản 0,29% GDP, Hoa Kỳ 0,23% GDP, Thái Lan 0,26% GDP Không thể và cũng không nên đòi hỏi tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước thêm nữa

(Nguồn: Nguyễn Quân, 2005, Thứ trưởng Bộ KH-CN)

Song tính đến nay (cuối năm 2009) có thể kết luận sơ bộ rằng, trong suốt quá trình phát triển khoa học và công nghệ của đất nước nhiều thập kỷ qua, tổng mức chi ngân sách nhà nước cho mục tiêu này đã tăng lên đáng kể, nhưng chưa tăng đều, quy mô còn nhỏ bé, dẫn đến khả năng đáp ứng nhu cầu còn thấp, do đó ảnh hưởng đáng kể đến việc thực thi các mục tiêu đặt ra Ảnh hưởng của lạm phát qua nhiều năm còn cho thấy tốc độ thực tăng chi tiêu ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ bị triệt tiêu đáng kể Có lẽ mức chi ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học và công nghệ nước ta gần đây nhất mới có bước phát triển cao nhất và mạnh mẽ nhất, một phần do tiềm lực tài chính và lực lượng khoa học và công nghệ nước ta đã không ngừng lớn mạnh, đủ sức đảm đương nhiều nhiệm vụ quan trọng đã được giao phó

Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2001-2010 đã đề ra mục tiêu phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực Theo đó phấn đấu bảo đảm tốc độ tăng tỷ lệ đầu tư cho KH&CN

từ ngân sách nhà nước phải lớn hơn tốc độ tăng chi ngân sách nhà nước, đồng thời đẩy mạnh đa dạng hóa các nguồn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước cho KH&CN Phấn đấu đưa tổng mức đầu tư của toàn xã hội cho KH&CN đạt 1% GDP vào năm

2005 và 1,5% GDP vào năm 2010

Chúng ta có thể hình dung thấy được mức độ chi NSNN vào các hạng mục cơ sở

hạ tầng kỹ thuật cho khoa học và công nghệ như sau

Bảng 3: Đầu tư từ NSNN cho KH-CN Việt nam giai đoạn 1996-2005 ( tỷ đ.)

114 15,4

128 13,9

154 17,6

535 28,4

722 31,1

1004 35,7

1114 35,6

1431 38,4

1750 41,0

Trang 37

Theo nguồn số liệu khác, chúng ta cũng thấy sự tăng trưởng đầu tư từ NSNN cho xây dựng co sở hạ tầng kỹ thuật để phát triển khoa học công nghệ nước ta với phần về tỷ trọng chi xây dựng cơ bản trong tổng chi cho khoa học công nghệ Bảng dưới đây cho thấy mức tăng đã được gần như gấp đôi kể từ năm 2004 đến 2008 (năm

3190,1

606,1 18,99

3383,4

843,4 24,90

3969,4

1036,4 26,10

Nguồn: Công khai ngân sách – Bộ Tài chính

Đồng thời cũng cần phải sử dụng hợp lý nguồn vốn đã được đa dạng hoá Đầu

tư tài chính, suy cho cùng là bộ phận hợp thành của phương thức sử dụng nhưng rất quan trọng

3.1.2.Phân tích so sánh đầu tư xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật

KH-CN ở nước ta

Theo TS Hồ Ngọc Luật (2009-2010) nhờ có chính sách đầu tư tài chính nhất quán (phấn đấu đạt 2% chi Ngân sách Nhà nước) cho phát triển khoa học và công nghệ, nước ta có cơ cấu chi với kết quả như sau:

Trang 38

Bảng 5 Sơ đồ chi theo cơ cấu

CN tỉnh Tuyên quang được bố trí khoảng trên dưới 3 tỷ đ cho mục tiêu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN, nhưng số tiền đó không những còn it, mà Ủy ban tỉnh còn chi để làm đường dẫn xả thải cho Bệnh viện tỉnh Như vậy các cơ sở trạm trại thí nghiệm hay nơi cần thay thế thiết bị, mua sắm vật tư thuộc hạng mục đầu tư phát triển KH-CN của họ sẽ không còn tiền nữa

Điều kể trên diễn ra trong điều kiện ngân sách Nhà nước có nguồn phân bổ hết sức eo hẹp cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KH-CN địa phương Đa số hay phần lớn các địa phương trong nhiều năm không ưu tiên chi cho phát triển KH-CN, mà là cho các đầu việc khá cấp thiết hơn của tỉnh, một phần vì bản thân họ đều nằm trong

số các tỉnh không tự cân đối được ngân sách của mình (khoảng 45/63 tỉnh thành), nên họ đều phải nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương Dễ hiểu việc trang bị nâng cấp

cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN địa phương có thể phải xếp hàng chờ ngân sách bố trí trong kỳ sau

Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản cho phát triển, củng cố cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH-CN ở các ngành có thể còn khá hơn về tổng thể, tuy vậy lác đác vẫn còn một số đơn vị KH-CN công lập gặp khó khăn và lúng túng triển khai đầu tư mở rộng

cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho hoạt động của mình, ví dụ các lĩnh vực chiếu xạ, kiểm soát, đo lường chất lượng sản phẩm… Tình trạng thủ tục cấp phép đầu tư phức tạp, khó kết nối được với phân bổ ngân sách và sự biến động giá cả và thời điểm nhập khẩu, sân chơi này một phần đã bị tư nhân chiếm lĩnh và phát huy hiệu quả, còn đơn

vị KH-CN khu vực công lập đã mất dần thị phần dịch vụ KH-CN cần thiết, dẫu sao vẫn có chất lượng quản lý Nhà nước cao hơn so với của tư nhân

Năm 2009 quan điểm Việt nam quán triệt là tăng chi đầu tư phát triển cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo - dạy nghề, khoa học công nghệ, văn hoá thông tin, nông

Trang 39

nghiệp - nông thôn Theo đó khoản chi sự nghiệp cho lĩnh vực khoa học và công

nghệ đã được dự kiến được bố trí 4.390 tỷ đồng, tăng 12,9% so với dự toán năm

2008 Cùng với chi đầu tư XDCB và chi điều chỉnh tiền lương, đảm bảo tổng dự toán

chi NSNN cho khoa học và công nghệ đạt mức 2% tổng chi NSNN, số kinh phí tăng

thêm tập trung ưu tiên bố trí để đảm bảo thực hiện các Chương trình khoa học - công

nghệ trọng điểm nhà nước; đề tài, dự án độc lập cấp nhà nước; dự án khoa học - công

nghệ quy mô lớn; nghiên cứu cơ bản; chương trình xây dựng mô hình ứng dụng và

chuyển giao khoa học - công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn,

miền núi; hợp tác theo Nghị định thư; chi phát triển thị trường khoa học - công nghệ;

các Trung tâm nghiên cứu khoa học lớn, các phòng thí nghiệm trọng điểm; triển khai

thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến Nghị quyết Trung ương 7 về phát triển tri

thức, Với mức 2% ngân sách Nhà nước đó sẽ tương đương gần 10.000 tỷ đ, tức là

tương đương 525-550 tr.USD (giả định lấy tỷ giá 1 USD= 19.000 VND)

Việc bảo đảm mức chi tiêu cho phát triển khoa học và công nghệ như trên là một

cố gắng rất lớn trong điều kiện khủng hoảng kinh tế thế giới và ảnh hưởng tới Việt

nam và ngân sách chung của quốc gia còn nhỏ bé Tuy vậy nếu xét đến xu hướng

chung trên thế giới về chi tiêu phát triển khoa học và công nghệ (tính theo tỷ lệ % so

với GDP hàng năm) thì so sánh số liệu của Việt nam có thể thấy chúng ta cần phải có

cách tiếp cận thông thoáng hơn về tài chính cho sự nghiệp phát triển khoa học và

công nghệ, mong sớm thoát khỏi thực trạng còn nhiều khó khăn như hiện nay

Bảng 6 Giả định 1: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,4% GDP

Cuba,

CH Sip, Uganđa

Nguồn: Tính toán và tập hợp theo số liệu của NHTG

Phân tích Bảng trên cho thấy, nếu mức chi phát triển KH-CN chỉ đạt 0,4% GDP

thì Việt nam trong năm gần đây nhất chỉ chi tiền có tỷ lệ ngang hàng với Cuba,

Uganđa và quốc đảo Sip trong năm 2007- vốn là các nước chưa có gì nổi bật về

thành tựu khoa học và công nghệ từ trước đến thời điểm xem xét Nhưng không có

số liệu chính thức được cung cấp cho NHTG từ Việt nam

Bảng 7 Giả định 2: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,5% GDP

Tương tự như trên có thể nâng dần tỷ lệ chi để xem xét

Trang 40

Các nước có mức chi như

VN CH Slovak; Mê- hi-cô; Hy-lạp;

Cuba, CHDC Công-gô; Bungary

và Ac-hen-ti-na

Bungary và Ac-hen-ti-na;

Ru-ma-ni;

CH Slovak

Bungary và Ac-hen-ti- na; Hy-lạp;

Nguồn: Tính toán và tập hợp theo số liệu của NHTG

Với giả định này Việt nam sẽ ngang hàng về chi cho KH-CN với các nước

Achentina, Bungaria, Hy lạp, Mônđôva, Rumania, CH Slovak Thành tựu phát triển

KH-CN ở các nước này cũng chưa có nhiều nổi bật

Bảng 8 Giả định 3: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,6% GDP

lay-sia, rô-cô, Thổ-nhĩ–

Ma-kỳ; Balan,

Man-ta

Lat-via Balan, Man-ta

Nguồn: Tính toán và tập hợp theo số liệu của NHTG

Với giả định 3 mức chi là 0,6% GDP, Việt nam có thể so sánh về chi tiêu phát

triển KH-CN với của Balan, Latvia và Man-ta Ngay cả ở ngưỡng chi tiêu này, các

nước được nêu tên cũng chưa có nhiều thành tựu nổi bật về khoa học và công nghệ

Ngày đăng: 26/05/2014, 15:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
Đề tài cấp Bộ của tác giả Nguyễn Việt Hòa: Nghiên cứu tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Việt Hòa
Nhà XB: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2006
Báo Khoa học và Phát triển: Trường Đại học: Thu từ hoạt động khoa học chiếm tỷ lệ thấp. Số ra ngày 03-111-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Khoa học và Phát triển: Trường Đại học: Thu từ hoạt động khoa học chiếm tỷ lệ thấp
Năm: 2009
NC đổi mới cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN và hoạt động đổi mới (công nghệ)”. NISTPASS 2007NC các hình thức đầu tư tài chính cho DN KH&CN. NISTPASS 2007- Kế hoạch chiến lược quốc gia về KH&CN Thái Lan - Tổng luận số 4/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NC đổi mới cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN và hoạt động đổi mới (công nghệ)
Nhà XB: NISTPASS
Năm: 2007
- NC cơ sở KH cho việc hình thành chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNVVN trong quá trình hội nhập. NISTPASS 2005.- NC sự cộng tác giữa các tổ chức NC &PT Nhà nước và DN trong SX các SP xuất khẩu phục vụ hội nhập KTQTế (trường hợp một số Viện, Trường và DN trong lĩnh vực CN, NN). NISTPASS 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NC cơ sở KH cho việc hình thành chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNVVN trong quá trình hội nhập
Nhà XB: NISTPASS
Năm: 2005
- NC cơ sở LL và thực tiễn về khoán trong hoạt động KH&CN, NC&TK. NISTPASS 2005 - NC cơ sở LL và thực tiễn về mô hình đầu tư và tài chính đối với DN KH&CN. NISTPASS 2005 - NC cơ sở LL và thực tiễn về mô hình đầu tư và tài chính đối với tổ chức KH&CN sự nghiệp có thu và tổ chức KH&CN sự nghiệp không có thu. NISTPASS 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NC cơ sở LL và thực tiễn về khoán trong hoạt động KH&CN, NC&TK
Nhà XB: NISTPASS
Năm: 2005
- NC hình thành và cơ chế hoạt động của hệ thống các Quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam. NISTPASS 1999- NC cơ chế hoạt động tài chính trong cơ quan NC triển khai. Nistpass 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NC hình thành và cơ chế hoạt động của hệ thống các Quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam
Nhà XB: NISTPASS
Năm: 1999
- Tín dụng cho triển khai và đổi mới công nghệ: Một số vấn đề thực tiễn ở Việt nam. NISTPASS 1999 - Dự thảo NĐ của Chính phủ về một số chính sách tài chính khuyến khích các DN đầu tư vào NC KH và CN, ứng dụng kết quả NC. NISTPASS 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng cho triển khai và đổi mới công nghệ: Một số vấn đề thực tiễn ở Việt nam
Nhà XB: NISTPASS
Năm: 1999
- NC luận cứ khoa học nhằm kiến nghị việc XD và pháp lý hoá cơ chế cấp tài chính cho cơ quan NC và triển khai theo đề tài. NISTPASS 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NC luận cứ khoa học nhằm kiến nghị việc XD và pháp lý hoá cơ chế cấp tài chính cho cơ quan NC và triển khai theo đề tài
Nhà XB: NISTPASS
Năm: 1996
Báo Khoa học và Phát triển: Thiếu cơ chế khuyến khích các Phòng thí nghiệm trong Đại học, số ra ngày 18-12-2009 Khác
Báo Khoa học và Phát triển: Chiến lược công nghệ cao của doanh nghiệp trong xu thế mới. Số ra ngày 29-12-2006 Khác
Báo Khoa học và Phát triển: Nghiên cứu trong các Trường Đại học: Bao giờ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp? Số ra ngày 28-11-2009 Khác
NC tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích DN đầu tư vào KH và CN. NISTPASS 2006 Khác
- NC cơ chế, chính sách khuyến khích tạo ra và đăng ký sáng chế và GP hữu ích từ các kết quả NCKH có sử dụng NSNN. NISTPASS 2005 Khác
- NC cơ sở LL và thực tiễn cho việc xác định mức thù lao lao động KH trong nhiệm vụ KHCN của Nhà nước. NISTPASS 2005 Khác
- NC hình thức chia sẻ (cùng góp) kinh phí cho DA triển khai và đổi mới công nghệ giữa Nhà nước và cơ sở. NISTPASS 2005 Khác
- NC cơ sở LL và thực tiễn của mô hình đầu tư và tài chính cho Viện NC&PT hoạt động theo cơ chế DN. NISTPASS 2005 Khác
- NC áp dụng phương pháp khóan chi trong cấp kinh phí NC theo tổ chức và theo đề tài cho các cơ quan NC & PT của Nhà nước. NISTPASS 2000 Khác
- NC hình thức chia sẻ (cùng góp) kinh phí cho DA triển khai và đổi mới công nghệ giữa Nhà nước và cơ sở. NISTPASS 2000 Khác
- NC vấn đề tín dụng đối với hoạt động KH &CN. NISTPASS 1998 - NC vấn đề vốn mạo hiểm đối với hoạt động KH &CN. NISTPASS 1998- NC cứu vấn đề các loại hình Quỹ đối với hoạt động KH &CN. NISTPASS 1998 Khác
- Đổi mới cơ chế nhập công nghệ trong bối cảnh mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và TDH thương mại ở Việt Nam. NISTPASS 1996 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Tổng hợp số liệu chi NSNN cho KH-CN trong các năm 1996-2009 - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 2. Tổng hợp số liệu chi NSNN cho KH-CN trong các năm 1996-2009 (Trang 34)
Bảng 3: Đầu tư từ NSNN cho KH-CN Việt nam giai đoạn 1996-2005 ( tỷ đ.) - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 3 Đầu tư từ NSNN cho KH-CN Việt nam giai đoạn 1996-2005 ( tỷ đ.) (Trang 36)
Bảng 4- Tình hình phân bổ và sử dụng vốn đầu tư XDCB của NSNN cho KH&CN giai - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 4 Tình hình phân bổ và sử dụng vốn đầu tư XDCB của NSNN cho KH&CN giai (Trang 37)
Bảng 5. Sơ đồ chi theo cơ cấu - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 5. Sơ đồ chi theo cơ cấu (Trang 38)
Bảng 6. Giả định 1: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,4% GDP - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 6. Giả định 1: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,4% GDP (Trang 39)
Bảng 8. Giả định 3: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,6% GDP - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 8. Giả định 3: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,6% GDP (Trang 40)
Bảng 9. Giả định 4: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,7% GDP - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 9. Giả định 4: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,7% GDP (Trang 40)
Bảng 2. Tổng hợp số liệu liên tục qua một số năm - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 2. Tổng hợp số liệu liên tục qua một số năm (Trang 90)
Bảng 3: Đầu tư từ NSNN cho KH-CN Việt nam giai đoạn 1996-2005 ( tỷ đ.) - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 3 Đầu tư từ NSNN cho KH-CN Việt nam giai đoạn 1996-2005 ( tỷ đ.) (Trang 91)
Bảng 4- Phân bổ và sử dụng vốn đầu tư XDCB của NSNN cho KH&CN  (2004 – 2008) - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 4 Phân bổ và sử dụng vốn đầu tư XDCB của NSNN cho KH&CN (2004 – 2008) (Trang 92)
Bảng 5. Sơ đồ chi theo cơ cấu - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 5. Sơ đồ chi theo cơ cấu (Trang 92)
Bảng 6. Giả định 1: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,4% GDP - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 6. Giả định 1: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,4% GDP (Trang 93)
Bảng 8. Giả định 3: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,6% GDP - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 8. Giả định 3: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,6% GDP (Trang 94)
Bảng 9. Giả định 4: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,7% GDP - Nghiên cứu chính sách đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ việt nam hiện nay
Bảng 9. Giả định 4: Mức chi tiêu cho KH-CN đạt tỷ lệ 0,7% GDP (Trang 94)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w