MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 Sự cần thiết của Nhiệm vụ nghiên cứu 6 2 Mục tiêu nghiên cứu 9 3 Tiếp cận nghiên cứu 10 4 Cấu trúc Báo cáo tổng hợp 13 4 Tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội 27 II
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐỀ ÁN 928/NHIỆM VỤ KHUNG SỐ 3
BÁO CÁO TỔNG HỢP NGHIÊN CỨU, SẮP XẾP LẠI HỆ THỐNG CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI
Chủ nhiệm Nhiệm vụ: TS Nguyễn Quân
Cơ quan chủ trì thực hiện: Viện Chiến lược và Chính sách
Khoa học và Công nghệ
9149
Hà Nội, tháng 12 năm 2011
Trang 2DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA THỰC HIỆN Chủ nhiệm Nhiệm vụ: TS Nguyễn Quân (Bộ Khoa học và Công nghệ)
Thư ký Nhiệm vụ: TS Bạch Tân Sinh (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN)
1 PGS TS Vũ Hoàng Công (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh)
2 TS Nguyễn Anh Dũng (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam)
3 TS Trần Xuân Định (Bộ Khoa học và Công nghệ)
4 CVCC Phạm Văn Định (Ban Tổ chức Trung ương)
5 TS Hồ Ngọc Luật (Bộ Khoa học và Công nghệ)
6 TS Mai Hà (Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ)
7 Ths Nguyễn Thị Minh Hạnh (Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ)
8 Ths Trịnh Thị Anh Hoa (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam)
9 TS Nguyễn Văn Học (Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ)
10 TS Lê Huy Hoàng (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
11 CN Võ Diệu Huyền (Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ)
12 Ths Vũ Hải Nam (Bộ Nội vụ)
13 TS Trần Hậu Ngọc (Bộ Khoa học và Công nghệ)
14 TS Vũ Văn Thái (Bộ Nội vụ)
15 TS Trần Anh Tuấn (Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước)
16 Ths Trần Văn Tùng (Bộ Khoa học và Công nghệ)
17 PGS TS Lê Kim Việt (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh)
Trang 3CÁC TỪ VIẾT TẮT
KHXH Khoa học xã hội
KH&CN Khoa học và Công nghệ
NC&ĐT Nghiên cứu và đào tạo
NC&PT Nghiên cứu và phát triển
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của Nhiệm vụ nghiên cứu 6
2 Mục tiêu nghiên cứu 9
3 Tiếp cận nghiên cứu 10
4 Cấu trúc Báo cáo tổng hợp 13
4 Tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội 27
II PHÂN ĐỊNH LẠI CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC NC&ĐT VỀ KHXH
THỜI GIAN TỚI
23
1 Mục tiêu, yêu cầu đối với phân định chức năng, nhiệm vụ 28
2 Một số yêu tố cơ bản khi thực hiện phân định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức 28
III PHỐI HỢP TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC NC&ĐT TRONG LĨNH
VỰC KHXH
1 Một số yêu cầu trong công tác phối hợp 31
3 Nội dung công tác phối hợp 32
IV LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TỔ CHỨC NC&ĐT VỀ KHXH
CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
4.1 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống tổ chức NC&ĐT về KHXH của Hoa Kỳ 40
4.2 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống tổ chức NC&ĐT về KHXH của Vương quốc Anh 43
4.3 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống tổ chức NC&ĐT về KHXH của Nga 46
4.4 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống tổ chức NC&ĐT về KHXH của Trung Quốc 54
Chương 2
HIỆN TRẠNG CỦA HỆ THỐNG CÁC TỔ CHỨC NC&ĐT VỀ KHXH Ở VIỆT NAM
A HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VỀ KHXH Ở VIỆT NAM 63
II HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VỀ KHXH THUỘC BỘ NGÀNH QUẢN LÝ 76
III HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VỀ KHXH DO ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ 88
IV HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VỀ KHXH THUỘC CÁC BAN CỦA ĐẢNG QUẢN LÝ 100
V HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC NC&ĐT VỀ KHXH THUỘC CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
VI HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC NC&ĐT VỀ KHXH THUỘC LIÊN HIỆP HỘI QUẢN LÝ 119
VII ĐÁNH GIÁ TỔ CHỨC HỆ THỐNG NGHIÊN CỨU VỀ KHXH Ở VIỆT NAM
Trang 5I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO VỀ KHXH 139
II HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO VỀ KHXH THUỘC BỘ, NGÀNH QUẢN LÝ 157
III HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO VỀ KHXH THUỘC CÁC BAN CỦA ĐẢNG QUẢN LÝ 164
IV HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO VỀ KHXH DO ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ 176
V ĐÁNH GIÁ TỔ CHỨC HỆ THỐNG ĐÀO TẠO VỀ KHXH Ở VIỆT NAM
1 Những mặt được 189
2 Những mặt chưa được 191
3 Khuyến nghị đổi mới tổ chức hệ thống đào tạo về KHXH ở Việt Nam 197
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực tiễn phát triển KT - XH của nhiều quốc gia trên thế giới trong những năm qua cho thấy KHXH đóng một vai trò quan trọng không chỉ trong việc đáp ứng các nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân, mà còn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo quốc phòng và
an ninh quốc gia thông qua việc cung cấp các luận cứ khoa học cho các quyết sách của Nhà nước nhằm đạt đến sự phát triển bền vững Ở những quốc gia có nền KHXH phát triển đồng thời cũng
là những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Một nền KHXH phát triển sẽ giúp phát triển nhân cách, năng lực của con người, tìm ra các cơ chế khuyến khích nhân tài cũng như tìm ra những cơ chế đảm bảo sự hòa hợp về lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội Tuy nhiên, để có một nền KHXH tiên tiến Nhà nước cần phải có các chính sách và cơ chế quản lý phù hợp với đặc điểm về hoạt động của các tổ chức NC&ĐT về KHXH nhằm khuyến khích sự tự do sáng tạo
Tại Việt Nam trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành cho hoạt động nghiên cứu KHXH những sự quan tâm đáng kể Tuy nhiên, trong cơ chế và chính sách quản lý hoạt động nghiên cứu KHXH hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như thiếu những biện pháp chính sách đảm bảo cho các nhà khoa học có thể đóng góp một cách tốt nhất vai trò phản biện xã hội, còn thiếu vắng các cơ chế khuyến khích người tài, thúc đẩy sáng tạo trong nghiên cứu, nên chất lượng các công trình nghiên cứu còn chưa cao Chính vì vậy, việc đổi mới cơ chế và chính sách quản lý hoạt động NC&ĐT về KHXH nhằm phát huy được vai trò cung cấp luận cứ cho các quyết sách phát triển xã hội và phản biện xã hội có ý nghĩa rất thiết thực
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã xác định KH&CN là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, góp phần ổn định và phát triển KT - XH, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế tri thức theo định hướng XHCN Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước đã tiếp tục ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị và chính sách liên quan đến KH&CN Trong đó có đề cập đến những giải pháp nhằm phát triển KH&CN, như việc ban hành các văn bản pháp luật, tạo lập thị trường công nghệ, khuyến khích thành lập các tổ chức KH&CN ngoài khu vực nhà nước, phát huy vai trò của các hội trí thức, Nhờ đó, hoạt động KH&CN nói chung
và KHXH nói riêng tiếp tục được phát triển, ngày càng gắn bó với KT - XH và đào tạo nhân lực, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc KHXH ở nước ta đã và đang tập trung nghiên cứu những vấn đề quan trọng, cơ bản của đất nước như:
(1) Xu hướng phát triển của khu vực và thế giới, những tác động của quá trình toàn cầu
Trang 7chúng đến sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Nghiên cứu, điều tra, phân tích và dự báo tình hình KT - XH phục vụ nhu cầu phát triển đất nước, phát triển ngành, vùng kinh tế trọng điểm của đất nước
(2) Những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, lịch sử, văn hoá, quân sự, ngoại giao nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
(3) Những vấn đề về phát triển toàn diện con người Việt Nam mang đậm tính nhân văn, phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
(4) Những vấn đề về đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị; nâng cao năng lực cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam; góp ý và phản biện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình và dự án phát triển KT - XH quan trọng của đất nước
Hệ thống nghiên cứu, giảng dạy ở các tổ chức nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, các trường đại học về KHXH, các viện nghiên cứu thuộc các bộ, ngành và địa phương
đã và đang đảm nhiệm những chương trình, đề tài nghiên cứu quan trọng cùng với các tổ chức, cá nhân khác ngoài nhà nước có nhiều đóng góp phong phú, sâu sắc và đa dạng vào các hoạt động KHXH
Hệ thống quản lý KH&CN nói chung cũng như quản lý KHXH nói riêng được hình thành
từ trung ương đến địa phương bước đầu đã phát huy tích cực trong việc định hướng, điều phối các hoạt động khoa học trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, KH&CN nước ta còn phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng được những yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, còn thua kém nhiều nước trong khu vực Một trong những yếu kém mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (số 02-
NQ/HNTW ngày 24-12-1996) đã chỉ ra là ''Hệ thống tổ chức các cơ quan nghiên cứu và triển khai tuy đã được sắp xếp một bước, nhưng vẫn còn trùng lắp, chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, giảng dạy với thực tiễn sản xuất kinh doanh và với quốc phòng - an ninh; giữa các ngành khoa học, giữa khoa học tự nhiên và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn Tinh thần hợp tác giữa các nhà khoa học, giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học còn yếu.''
Để thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII thì cùng với việc tiếp tục nghiên cứu sắp xếp lại hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KH&CN nói chung, việc nghiên cứu sắp xếp lại hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH nói riêng là một đòi
Trang 8hỏi cấp bách và cần thiết trong thời kỳ hiện nay, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
KHXH đã và đang góp phần quan trọng trong việc cung cấp những luận cứ khoa học trong hoạch định đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN, trước hết là đổi mới tư duy lý luận trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của sự phát triển, đặc biệt là đổi mới tư duy kinh tế, đồng thời trực tiếp đề xuất, kiến nghị và tham gia xây dựng nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chất lượng nghiên cứu KHXH
đã được nâng cao thêm một bước Nhiều tri thức KHXH hiện đại được vận dụng vào công tác quản lý KT - XH cũng như các lĩnh vực khác của quản lý xã hội, hạn chế đáng kể lối tư duy siêu hình, duy ý chí, góp phần mở rộng tầm nhìn, giáo dục lòng yêu nước, đạo đức, lối sống của người Việt Nam
Bên cạnh thành tựu nêu trên, hoạt động NC&ĐT về KHXH còn một số hạn chế cần khắc phục1, cụ thể: (1) Công tác tổ chức và triển khai nghiên cứu KHXH chưa thực sự khoa học và có hiệu quả Sự phân công, phân nhiệm giữa các tổ chức NC&ĐT thuộc các ban của Đảng và Nhà nước chưa thật rõ ràng, vẫn còn tình trạng chồng chéo trong nghiên cứu giữa các tổ chức Thêm vào đó, sự phối hợp trong nghiên cứu giữa các tổ chức đó còn mang nặng tính hình thức Cơ chế
tổ chức hoạt động nghiên cứu, đánh giá kết quả và cấp phát tài chính cho khoa học dù đã được cải tiến, song vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa hiệu quả Cơ sở vật chất - kỹ thuật, điều kiện làm việc ở nhiều tổ chức NC&ĐT về KHXH còn yếu kém Hệ thống thông tin - thư viện lạc hậu, thiếu hụt, ngay cả khi so sánh với một số quốc gia trong khu vực
(2) Chưa có cơ chế hữu hiệu gắn kết hoạt động NC&ĐTvề KHXH với thực tiễn sống động của đời sống KT - XH, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh Sự hội nhập của NC&ĐT về KHXH trong nước với thế giới bên ngoài còn rất hạn chế
(3) Đội ngũ những người làm công tác KHXH còn thiếu, đặc biệt là thiếu các chuyên gia đầu ngành, thiếu các nhà khoa học có uy tín cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài Cơ chế tuyển dụng
và sử dụng người có năng lực còn nhiều hạn chế Trình độ cán bộ không đồng đều, chưa theo kịp
và đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn Cơ chế khuyến khích người có tài trong KHXH còn chưa hợp lý
Trang 9
Hệ quả là nghiên cứu KHXH chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn do nghiên cứu ứng dụng chưa dựa trên một nền tảng nghiên cứu cơ bản vững chắc Trình độ nghiên cứu tổng hợp, liên ngành còn thấp
Trong bối cảnh hiện nay, khi mà Nhà nước không có khả năng cấp kinh phí cho mọi tổ chức NC&ĐT về KHXH, nên chăng chỉ tập trung phần kinh phí này cho một số tổ chức được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước Bên cạnh đó, những nhiệm vụ về KHXH hình thành do nhu cầu của thị trường, của xã hội có thể được giải quyết trên cơ sở các nguồn vốn ngoài ngân sách Với loại nhiệm vụ này, Nhà nước sẽ cần có chính sách và cơ chế để các tổ chức NC&ĐT về KHXH tự vận động trên cơ sở phát huy cao nhất tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Đây là lý do hình thành Nhiệm vụ nghiên cứu khung số 3 "Nghiên cứu, sắp xếp lại hệ thống các
tổ chức nghiên cứu và đào tạo về khoa học xã hội" thuộc Chương trình trọng điểm cấp Nhà
nước về "Nghiên cứu khoa học xã hội, tổng kết thực tiễn, xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" (Viết tắt là Đề án 928/06-10)
2 Mục tiêu nghiên cứu
• Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động NC&ĐT về KHXH trong những năm qua tại các cơ sở NC&ĐT về KHXH ở Việt Nam, xác định những ưu điểm, nhược điểm, những yêu cầu đặt ra (về mặt thực tiễn) đối với quá trình tổ chức
và triển khai các hoạt động này
• Tổng kết các bài học kinh nghiệm rút ra từ hoạt động xây dựng (sắp xếp lại) hệ thống
tổ chức NC&ĐT về KHXH ở một số quốc gia rút ra bài học kinh nghiệm gợi suy cho Việt Nam
• Đề xuất một số quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, phương án và lộ trình cho việc sắp
Trang 10xếp lại hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH ở Việt Nam
3 Tiếp cận nghiên cứu
3.1 Tổng quan hiện trạng tổ chức và hoạt động NC&ĐT về KHXH trong các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu theo các mặt cắt sau:
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH do Nhà nước quản lý
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH thuộc các cơ quan Đảng quản lý
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH thuộc các hội, liên hiệp hội, các tổ chức đoàn thể quản lý
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH do tư nhân thành lập
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH do trung ương quản lý
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH do địa phương quản lý
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH trong các trường đại học
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH trong các học viện, viện nghiên cứu
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH đơn ngành
• Hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH đa ngành
Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động nghiên cứu này là dựng được một bức tranh "toàn cảnh"
về hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH của Việt Nam hiện nay
3.2 Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia được lựa chọn về quá trình hình thành và phát triển các tổ chức NC&ĐT về KHXH
Một số quốc gia được nhóm nghiên cứu lựa chọn gồm:
• Mỹ và Anh: là những quốc gia có nền KHXH phát triển lâu đời với những đóng góp
to lớn cho phát triển KT - XH không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn có ảnh hưởng
ở phạm vi toàn cầu
• Nga là quốc gia có nền KHXH ảnh hưởng sâu sắc đến mô hình tổ chức và hoạt động NC&ĐT KH&CN nói chung cũng như KHXH nói riêng ở Việt Nam trong một thời gian dài
Trang 11• Vai trò của KHXH trong phát triển của quốc gia
• Quá trình hình thành và phát triển hệ thống tổ chức NC&ĐT về KHXH của quốc gia
• Mức độ đảm bảo tính dân chủ, tự do trong nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu
về KHXH
• Một số định hướng ưu tiên trong lĩnh vực KHXH của quốc gia
3.3 Khảo sát thực tế tổ chức và hoạt động nghiên cứu và triển khai về KHXH tại một số tổ chức NC&ĐT về KHXH mang tính đại diện
Trong quá trình thực hiện Đề tài, nhóm nghiên cứu đã tổ chức Đoàn khảo sát tới trao đổi trực tiếp với 30 học viện, viện nghiên cứu, trường đại học trong lĩnh vực KHXH ở cả 3 miền Bắc, Trung và Nam Danh sách các học viện, viện nghiên cứu và trường đại học này xin được xem ở phần Phụ lục của Báo cáo
Để buổi trao đổi khoa học trực tiếp với đại diện các viện nghiên cứu và trường đại học đạt
hiệu quả, đối với nhóm 30 tổ chức NC&ĐT về KHXH, nhóm nghiên cứu đã xây dựng: Phiếu
điều tra năng lực và kết quả hoạt động của một số tổ chức nghiên cứu và đào tạo về
khoa học xã hội (Xem phần Phụ lục) Phiếu này đã được chuyển tới các viện và trường 2
tuần trước khi tiến hành buổi tọa đàm trực tiếp Mục đích buổi trao đổi nhằm tìm hiểu:
• Vai trò, vị trí của Tổ chức trong hệ thống NC&ĐT về KHXH của quốc gia
• Những thuận lợi, khó khăn và thách thức trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ NC&ĐT của Tổ chức
• Đặc điểm về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, các nguồn lực khác phục vụ cho hoạt động NC&ĐT của Tổ chức
• Đặc thù trong kết hợp hoạt động NC&ĐT về KHXH trong Tổ chức
• Mối liên hệ với các tổ chức NC&ĐT về KHXH trong cùng hệ thống và khác hệ thống
Trang 12(tổ chức thuộc các Ban của Đảng quản lý, các tổ chức NC&ĐT tư nhân)
• Những thuận lợi khó khăn từ chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước trong quá trình hoạt động của Tổ chức
• Những đề xuất (khuyến nghị) của Tổ chức về chính sách quản lý của Nhà nước đối với hoạt động NC&ĐT về KHXH
• Dự báo xu thế phát triển một số mô hình tổ chức NC&ĐT về KHXH trong tương lai Bên cạnh các cuộc trao đổi trực tiếp được tổ chức tại trụ sở các học viện, viện nghiên cứu
và trường đại học thuộc đối tượng khảo sát của Nhiệm vụ nghiên cứu, đối với cá nhân các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, các giảng viên hoạt động trong lĩnh vực KHXH, nhóm
nghiên cứu đã xây dựng Phiếu xin ý kiến chuyên gia về tổ chức và hoạt động, một số
phương án sắp xếp các tổ chức nghiên cứu và đào tạo về khoa học xã hội (Xem phần Phụ
lục) Phiếu này được nhóm nghiên cứu gửi trực tiếp tới các đối tượng nêu trên tại 2 buổi hội
thảo vùng được tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Mục đích của hoạt động này nhằm tìm hiểu ý kiến cá nhân của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, giảng viên về các vấn đề sau:
• Số lượng các tổ chức NC&ĐT về KHXH ở Việt Nam hiện nay
• Nhận định về năng lực tổ chức các hoạt động NC&ĐT
• Khả năng đáp ứng nhu cầu của thực tiễn phát triển KT - XH
• Chế độ cấp phát kinh phí
• Một số phương án sắp xếp hệ thống tổ chức NC&ĐT về KHXH thời gian tới
Danh sách các nhà khoa học, nhà quản lý, các giảng viên tham gia vào cuộc khảo sát nêu trên được nêu trong phần Phụ lục của Báo cáo tổng hợp
3.4 Tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo khoa học xin ý kiến chuyên gia
Trong khuôn khổ hoạt động của Nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài 30 buổi tọa đàm trao đổi trực tiếp với các học viện, các viện nghiên cứu, trường đại học thuộc đối tượng khảo sát của Nhiệm vụ Nhóm nghiên cứu cũng đã tổ chức 02 hội thảo vùng tại Hà Nội (ngày 22/7/2010)
và thành phố Hồ Chí Minh (ngày 12/08/2010) với đại diện là các nhà khoa học, các nhà quản
lý, các giảng viên trong lĩnh vực KHXH
Trang 13cứu hẹp đã được tổ chức trong thời gian 2 năm thực hiện Nhiệm vụ nghiên cứu này
4 Cấu trúc của Báo cáo tổng hợp
Nội dung Báo cáo tổng hợp của Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm các phần sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong việc hình thành và phát triển các tổ
chức NC&ĐT về KHXH
Chương 2 Hiện trạng của hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH ở Việt Nam
Chương 3 Giải pháp sắp xếp lại hệ thống các tổ chức NC&ĐT về KHXH ở Việt Nam
Danh mục tài liệu tham khảo và Các phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC NC&ĐT VỀ KHXH
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Để nhận dạng được thế nào là một tổ chức đào tạo về KHXH hay tổ chức nghiên cứu về KHXH, trước hết cần thống nhất một số khái niệm đó là KHXH là gì, nghiên cứu về KHXH nên hiểu như thế nào cho đúng nghĩa, liệu có thể phân chia các giai đoạn trong nghiên cứu KHXH như trong nghiên cứu khoa học tự nhiên hay khoa học công nghệ không? Lĩnh vực KHXH là một lĩnh vực còn khá mới đối với Việt Nam Các khái niệm liên quan đến KHXH chưa thực sự phổ cập, dẫn đến mỗi người hiểu mỗi cách khác nhau, vì vậy việc hiểu thống nhất các khái niệm nêu trên là việc cần thiết
1 Khoa học xã hội
Trong một thời gian dài nói đến "khoa học" là người ta lập tức đồng nhất nó với khoa học
tự nhiên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên ở Sài Gòn trước năm 1975 chỉ gọi đơn giản là
"Trường Đại học Khoa học" Vào đầu thế kỷ 20, trong các trường đại học phương Tây, KHXH còn chiếm một vị trí cực kỳ khiêm tốn Chúng chỉ được thừa nhận và khẳng định rộng rãi trong hơn một nửa sau của thế kỷ 20, song về tính "khoa học" thì có thể nói là thường luôn bị xem là thua kém so với khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ Theo A Kazancigil &D.Makinson
"Trong tâm trí đa số công chúng, thuật ngữ khoa học thường gắn liền với các khoa học về tự nhiên Từ đó, nảy sinh nhiều câu hỏi lặp đi lặp lại về ý nghĩa của KHXH và muốn biết rõ phải chăng các nhà KHXH cũng có thể chiếm một vị trí khoa học"2
Để so sánh với khoa học tự nhiên, có thể thấy KHXH có 5 đặc trưng sau:
Bảng số 1 Các đặc trưng của KHXH trong so sánh với khoa học tự nhiên và công nghệ 3
2 PGS.TS Trần Ngọc Thêm (2007), Nghiên cứu cơ bản trong Khoa học xã hội và nhân văn (trường hợp Việt
Nam), Báo cáo trình bầy tại Hội thảo bàn về Nghiên cứu cơ bản trong Khoa học xã hội và Nhân văn do hai Đại học
Quốc gia tổ chức vào tháng 6/2007
Trang 15Tính lệ thuộc và liên ngành
4 Nội dung nghiên cứu Tính phổ quát Tính đặc thù
5 Phạm vi sử dụng nghiên cứu Tính chuyên sâu Tính phổ biến
Hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH, trong khuôn khổ nghiên cứu này, được hiểu
là những hoạt động có tính hệ thống và sáng tạo nhằm nâng cao và bổ sung những tri thức mới về con người, văn hoá và xã hội và nhằm sử dụng những tri thức này để giải quyết các vấn đề xã hội
và con người
Các ngành thuộc lĩnh vực KHXH, bao gồm: Nhân chủng học (xã hội và văn hoá) và dân tộc học, dân số học, kinh tế học, giáo dục và đào tạo, địa lý học (con người, kinh tế và xã hội), luật, ngôn ngữ học (loại trừ nghiên cứu về ngôn ngữ dựa trên các nguyên bản sẵn có, công tác này có thể xếp vào nhóm dưới đây “người cổ đại, ngôn ngữ và văn học hiện đại”), quản lý học, khoa học chính trị, tâm lý học, xã hội học, tổ chức và phương pháp luận, KHXH đa ngành, các hoạt động KH&CN về lịch sử và phương pháp luận liên quan đến các đề mục của nhóm này Nhân chủng học tự nhiên, địa lý học và sinh lý, tâm lý học tự nhiên phải được phân vào nhóm các khoa học tự nhiên
Các ngành thuộc lĩnh vực khoa học nhân văn, bao gồm: nghệ thuật (lịch sử nghệ thuật và phê phán nghệ thuật, trừ nghiên cứu nghệ thuật), ngôn ngữ (người cổ đại và ngôn ngữ và văn học hiện đại), triết học (kể cả lịch sử khoa học và công nghệ), tiền sử và lịch sử, khảo cổ học, khoa học nghiên cứu về tiền đúc, chữ cổ, tôn giáo học,
Theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN, ngày 4/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và
Công nghệ về ban hành Bảng phân loại lĩnh vực nghiên cứu KH&CN, nghiên cứu khoa học xã
hội và nhân văn bao gồm các lĩnh vực sau:
Bảng 2 Phân loại lĩnh vực nghiên cứu KH&CN
Trang 167 507 Địa lý kinh tế và xã hội
8 508 Thông tin đại chúng và truyền thông
14 699 Khoa học nhân văn khác
Trong nghiên cứu này thuật ngữ KHXH được bao hàm cả khoa học xã hội và khoa học nhân văn
2 Nghiên cứu KHXH
Các hoạt động KH&CN phân theo tính chất, có thể chia làm 3 nhóm chính:
• Nhóm 1: Công tác nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm
• Nhóm 2: Công tác giáo dục và đào tạo từ bậc thứ 3 (theo phân loại ngành giáo dục quốc tế)
• Nhóm 3: Các dịch vụ khoa học và công nghệ
2.1 Nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm
Hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm (gọi tắt là hoạt động NC&TK)
là những hoạt động có tính hệ thống và sáng tạo nhằm nâng cao tri thức khoa học, kể cả những tri thức về con người, văn hoá và xã hội và áp dụng những tri thức này vào đời sống thực tế
Định nghĩa này chỉ rõ phần tử chủ yếu trong việc xác định phạm trù NC&TK là sự có mặt
của tính sáng tạo và đổi mới Tính chất chung này là đúng cho cả nghiên cứu khoa học và triển
khai thực nghiệm Để phân biệt khái niệm nghiên cứu khoa học với khái niệm triển khai thực nghiệm, người ta đưa ra 4 tiêu chí để phân biệt, đó là:
(1) Tính sáng tạo
(2) Tính mới
(3) Tính có phương pháp khoa học
(4) Tạo ra tri thức mới
Nếu một hoạt động hội đủ cả 4 chỉ tiêu trên có thể gọi là hoạt động nghiên cứu khoa
học Để nhận rõ hơn vấn đề này, có thể xem xét ví dụ là công việc vẽ một bức tranh Công việc
này có (1) tính sáng tạo, do tạo ra được bức tranh mới (2) Nhưng hoạt động này không phải là nghiên cứu khoa học, vì nó không dẫn đến việc (4) tạo thêm tri thức mới và cũng không sử dụng,
Trang 17Hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm bao gồm hai loại hoạt động chính là “hoạt động nghiên cứu khoa học” (trong đó có nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng) và “hoạt động triển khai thực nghiệm”
a) Hoạt động nghiên cứu khoa học
Là những hoạt động nghiên cứu có tính hệ thống và sáng tạo nhằm nâng cao tri thức khoa học và áp dụng những tri thức này vào đời sống thực tế
Đây là một định nghĩa rất tổng quát, tôn trọng triệt để bản chất tự nhiên của các lĩnh vực khoa học và tương xứng với hai định nghĩa bổ sung:
• Hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học nông nghiệp và khoa học y dược là những hoạt động có tính hệ thống và sáng tạo nhằm giải thích các hiện tượng, các đặc tính tự nhiên, các định luật và các quan hệ bên trong cuả các hiện tượng này và nhằm áp dụng những tri thức này vào đời sống thực tế
• Hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực KHXH là những hoạt động có tính hệ thống
và sáng tạo nhằm nâng cao hoặc bổ sung những tri thức về con người, văn hoá - xã hội và nhằm sử dụng những tri thức này để giải quyết các vấn đề về xã hội và con người
Cần lưu ý rằng, hai định nghĩa trên có cùng một nội dung khái niệm: là điều tra nghiên cứu khoa học nhằm hiểu được các hiện tượng và nhằm giải quyết các vấn đề Sự khác nhau nằm trong các phạm vi liên quan Trong trường hợp thứ nhất, phạm vi là toàn bộ hình ảnh của các hiện tượng tự nhiên Trong khi trường hợp định nghĩa thứ hai được thiết kế để gắn các vấn đề có liên quan đến con người và môi trường xã hội của họ
Trong đa số các lĩnh vực khoa học, hoạt động nghiên cứu có thể phân ra thành nghiên cứu
cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng:
• Nghiên cứu cơ bản: Là những hoạt động nghiên cứu lý thuyết hay thực nghiệm nhằm mục đích thu được những tri thức mới, trước mắt không nhằm mục đích ứng dụng thực tế hoặc áp dụng cụ thể vào một lĩnh vực nào đó, về các quy luật cơ bản của thế giới quanh ta và thực tế quan sát được Nghiên cứu cơ bản được đặc trưng bởi một mức độ tự do cao ở khía cạnh là nhà khoa học thường có thể tự chịu trách nhiệm quyết định vấn đề nghiên cứu và tự tổ chức lấy công việc nghiên cứu của
họ Các kết quả của hoạt động này thường tác động vào diện rộng của khoa học và
có giá trị phổ biến; chúng thường có dạng nguyên lý chung, các học thuyết, quy luật và có thể được công bố công khai
• Nghiên cứu ứng dụng: Là những hoạt động nghiên cứu ban đầu nhằm đạt được những tri thức mới Nhưng những nghiên cứu này trước hết nhằm trực tiếp giải
Trang 18quyết một mục tiêu hoặc một mục đích thực tế cụ thể Đặc điểm quyết định cho phép xác định nghiên cứu ứng dụng là hoạt động này có nhằm mục đích ứng dụng riêng biệt, cụ thể hay không Nếu quá trình thu được kiến thức mới có mục đích ứng dụng cụ thể, nó là nghiên cứu ứng dụng, trong khi đó nếu việc nghiên cứu không có sự ứng dụng đặc biệt, cụ thể thì nó được coi là nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu ứng dụng được triển khai hoặc để phát triển các kết quả của nghiên cứu cơ bản với quan điểm về áp dụng thực tế của chúng hoặc để xác định những phương thức hay phương pháp mới nhằm đạt được một số mục đích thực tế riêng biệt
Có thể xem xét Bảng ví dụ dưới đây để phân biệt các giai đoạn trong một nghiên cứu thuộc lĩnh vực KHXH
Bảng 3: Bảng ví dụ của UNESCO để phân biệt nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng
và triển khai 4
Nghiên cứu mối quan hệ nhân
quả giữa các điều kiện kinh tế
và tiến bộ xã hội
Nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế và xã hội của sự di dân
từ nông thôn ra thành phố, nhằm xây dựng một chương trình hạn chế di dân, để giúp
đỡ nông nghiệp và ngăn ngừa xung đột xã hội trong các vùng công nghiệp
Đưa vào và thử nghiệm một chương trình tài trợ nhằm ngăn chặn sự di dân từ nông thôn đến các thành phố lớn
Khác với lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học công nghệ, việc xác định nội hàm nghiên cứu cơ bản trong KHXH, cũng như ranh giới giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng trong KHXH là vấn đề không đơn giản?5 Trong một nghiên cứu của Dương Bá Phượng (2008)6
đã khẳng định KHXH có 2 đặc thù: Một là, KHXH vừa bao hàm nghiên cứu cơ bản, vừa nghiên cứu ứng dụng KHXH nghiên cứu mối liên hệ phổ biến, phát triển của những mối quan hệ con
người trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Đích cuối cùng của hoạt động nghiên
4 Vũ Cao Đàm, Khoa học cơ bản và Nghiên cứu cơ bản, Tạp chí Hoạt động Khoa học số tháng 7/2007
5 Tháng 7 năm 2009, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ
chức một cuộc hội thảo với chủ đề "Nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn", tại buổi hội thảo một số
Trang 19cứu KHXH là giúp cho con người và xã hội được phát triển một cách toàn diện, thích ứng với mọi đổi thay của môi trường tự nhiên, xã hội và tư duy Theo đó, KHXH nước ta có nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, toàn diện về xã hội và con người Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách xây dựng và phát triển đất nước, góp phần nâng cao trình
độ dân trí và phát triển nguồn nhân lực, thẩm định các chương trình dự án phát triển KT- XH, xây dựng và phát triển chính bản thân nền KHXH Việt Nam Như vậy, KHXH vừa bao hàm cả nghiên cứu cơ bản như lịch sử, văn học, triết học, kinh tế học, xã hội học, lẫn nghiên cứu ứng
dụng như điều tra, thẩm định, đánh giá các chương trình, dự án phát triển, Hai là, hoạt động KHXH gắn rất chặt với hoạt động chính trị: Lợi ích của hoạt động KHXH gắn liền với lợi ích
chính trị và lợi ích giai cấp thông qua người sử dụng và mục đích sử dụng KHXH có nhiệm vụ cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách xây dựng và phát triển đất nước, phục vụ trực tiếp những chủ trương, đường lối chính trị của Đảng Các vấn đề lý luận, lý thuyết, trong đó bao hàm các vấn đề lý luận chính trị cơ bản trực tiếp phục vụ quan điểm chính trị, đường lối, chính sách của Đảng Các vấn đề gắn với nhiệm vụ quản lý KT - XH, phục
vụ thực hiện chức năng của các ngành và các địa phương trong chỉ đạo và quản lý phát triển KT -
XH Các tổng kết khoa học của từng lĩnh vực KHXH tạo nên những công trình khoa học có giá trị Nhiều nội dung nghiên cứu đó đều gắn chặt với yêu cầu chính trị và việc xác định phương hướng, yêu cầu nghiên cứu cho các nội dung này cần được sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng
Đồng tình với quan điểm trên đây, trong một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Quý (2006) cho rằng: các công trình nghiên cứu KHXH đã cung cấp các luận cứ khoa học cho quá trình soạn thảo và hoàn thiện đường lối, chiến lược phát triển KT - XH, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, vì dân, xây dựng hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nói cách khác, KHXH đã cung cấp những luận cứ khoa học nhằm đổi mới chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng
và cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội, bước đầu đã thu được những kết quả rất đáng khích
lệ Những kết quả nghiên cứu của KHXH đã làm rõ các giá trị truyền thống, mối quan hệ truyền thống - hiện đại trong sự lựa chọn mô hình phát triển, đồng thời huy động các giá trị văn hóa, văn minh Việt Nam phục vụ sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, kiến nghị những giải pháp cơ bản bảo đảm cho sự phát triển bền vững đất nước Nhiều nghiên cứu về dân tộc, tôn giáo, quyền con người, quan hệ quốc tế, … làm rõ chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước và góp phần đấu tranh phê phán một cách sắc bén trước những âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch Sự trưởng thành của KHXH nước ta trong 20 năm đổi mới là ở chỗ: chức
Trang 20năng, nhiệm vụ của KHXH trong việc thuyết minh đường lối, chính sách được thực hiện ngày càng tốt hơn Bên cạnh đó, những hướng nghiên cứu nói chung và hệ thống các chương trình KHXH các cấp nói riêng trong 20 năm qua chuyển hướng vào thực hiện chức năng nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để phục vụ cho công tác quản lý của Nhà nước nhằm hoạch định đường lối, chính sách, đồng thời xây dựng và phát huy tiềm lực khoa học của nước nhà, chứ không chỉ dừng lại ở việc thuyết minh đường lối chính sách như trước đây.7 KHXH tất nhiên gắn chặt với đời sống xã hội tức với chính trị, kinh tế, đạo đức, văn hóa nghệ thuật, … nên việc nghiên cứu chịu những chi phối rõ ràng từ thể chế chính trị, ý thức hệ, quan điểm, chủ thuyết, chính sách cụ thể mà thể chế đó phục vụ.
Nhằm khuyến khích và hỗ trợ các nghiên cứu cơ bản trong KHXH, ngày 4-12-2010, Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) đã ra mắt các hội đồng khoa học tư vấn đánh giá, xét chọn các đề tài nghiên cứu cơ bản trong KHXH&VN để tài trợ năm 20108 Đây là lần đầu tiên nghiên cứu cơ bản trong KHXH&NV được chính thức tài trợ thực hiện ở Việt Nam Tính đến tháng 8-2010, NAFOSTED nhận được 106 hồ sơ của các nhà nghiên cứu KHXH&NV trong cả nước đề nghị tài trợ Quỹ đã thành lập được 8 hội đồng khoa học tương ứng với 8 nhóm ngành KHXH&NV Qua đây, các nhà khoa học sẽ đóng góp vào việc hoạch định chính sách giúp đẩy mạnh nghiên cứu khoa học cơ bản và đóng góp thiết thực cho phát triển đất nước Nếu như năm
2009, NAFOSTED bắt đầu tài trợ cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên thì việc đưa nghiên cứu cơ bản trong KHXH&NV chính thức vào các hoạt động KH&CN là một dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển của KHXHNV nước ta trong năm 2010
b) Hoạt động triển khai thực nghiệm:
Là những hoạt động nghiên cứu có tính hệ thống trên cơ sở những tri thức đã có của công tác nghiên cứu hoặc/và kinh nghiệm thực tế nhằm tạo ra các vật liệu mới, sản phẩm mới, linh kiện mới, xây dựng các quy trình công nghệ mới, các giải pháp kỹ thuật mới và nhằm cải tiến thường xuyên những sản phẩm, quy trình, giải pháp công nghệ đã có
Tiêu chí để phân biệt triển khai thử nghiệm với nghiên cứu (cơ bản và ứng dụng) là: trong nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, mục tiêu trực tiếp là tăng kiến thức khoa học kỹ thuật, còn trong triển khai thử nghiệm là nhằm giới thiệu những ứng dụng mới (ví dụ: các vật liệu mới hoặc công nghệ mới)
7 GS.VS Nguyễn Duy Quý (2006), Sđd
8 Danh mục các hướng nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn được Quỹ phát triển KH&CN
Trang 21Vấn đề đặt ra ở đây là trong KHXH có loại hoạt động triển khai thực nghiệm không?
Trước hết về lý luận, phải khẳng định là cần thiết và có thể ứng dụng các đề tài KHXH vào thực
tiễn Lấy ví dụ ở quy mô địa phương, KHXH không chỉ mang lại nhận thức mới, cung cấp luận
cứ khoa học cho các chủ trương chính sách phát triển mà còn cần thiết trong việc xây dựng các
mô hình, cung cấp nhiều giải pháp cụ thể cho việc giải quyết các yêu cầu của thực tiễn địa
phương Đối với các địa phương, một mặt cần cố gắng nâng cao chất lượng lý luận cho các đề tài
KHXH, nhưng mặt khác quan trọng hơn, phải coi tiêu chí ứng dụng thực tiễn là yêu cầu quan trọng
nhất; phải có một định hướng chỉ đạo xuyên suốt cả quá trình tổ chức nghiên cứu, từ việc lựa chọn đề
tài, vấn đề nghiên cứu; lựa chọn cá nhân chủ nhiệm và tổ chức chủ trì; xác định nội dung nghiên cứu;
tổ chức quá trình nghiên cứu, thực nghiệm; đánh giá nghiệm thu và triển khai ứng dụng…9
2.2 Công tác giáo dục và đào tạo KH&CN chung ở bậc thứ 3
Công tác giáo dục và đào tạo KH&CN chung ở bậc thứ 3 (Theo phân loại chuẩn quốc tế
về giáo dục - ISCED (The International Standard Classification of Education, xem bảng dưới
đây), có thể định nghĩa là toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào tạo chuyên môn bậc cao sau
trung học: giáo dục và đào tạo dẫn đến một văn bằng chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, đào tạo
sau đại học, đào tạo tại chức và các hình thức đào tạo lại, nâng cao trình độ ngắn hạn, dài hạn
cho các nhà khoa học và kỹ sư
Bảng số 4: So sánh phân loại cấp, bậc học của ISCED:
3 Giáo dục ở bậc thứ II, cấp thứ hai Trung học
III 5 Giáo dục ở bậc thứ III, cấp thứ nhất, bằng cao đẳng, không
tương đường bằng đại học
6 Giáo dục ở bậc thứ III, cấp thứ nhất, bằng đại học và tương
9 Phạm Xuân Cần (2008), Tìm đường cho khoa học xã hội và nhân văn đi vào cuộc sống, Tạp chí Hoạt động
khoa học, số tháng 12, 2008
Trang 22Công tác giáo dục và đào tạo hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ là một bộ phận (về
số lượng) của hoạt động giáo dục và đào tạo KH&CN Ngoài hoạt động giáo dục và đào tạo chính quy của Bộ Giáo dục và Đào tạo còn các hoạt động tương tự ở các cơ quan khác của các
Bộ, các đoàn thể, hiệp hội, các tổ chức không chuyên nghiệp cũng tiến hành nhằm mục đích nâng cao tri thức khoa học của các thành viên trong cộng đồng Các hoạt động này có thể mang lại kết quả là được Nhà nước thừa nhận trình độ tương đương đại học, Những hoạt động này đều được tính vào phạm trù giáo dục và đào tạo đại học và thống kê tiềm lực KH&CN có trách nhiệm thu thập được thông tin về hiện trạng này
3 Đặc điểm của lao động nghiên cứu KH&CN
Trước khi xét đến đặc điểm của lao động nghiên cứu KH&CN, cần xem lại những khái niệm cơ bản về lao động và hoạt động nghiên cứu KH&CN
3.1 Khái niệm về lao động
Theo Petit Larousse Illustré (2001), thì lao động là “hoạt động của con người vận dụng vào sản xuất và sáng tạo hoặc vào việc bảo trì một cái gì đó”
Về mặt triết học, lao động là “hoạt động của con người nhằm biến đổi thiên nhiên, làm cho con người có quan hệ với nhau và hoạt động đó sinh ra giá trị”
Từ các định nghĩa trên đây, ta thấy có những yếu tố cơ bản sau: lao động là hoạt động của con người, hoạt động này là có mục đích và nhằm tạo ra giá trị cho xã hội, bao gồm giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần
Một cách tương đối, người ta có thể chia ra ba loại lao động: lao động chân tay, lao động trí óc và lao động nghệ thuật
- Lao động chân tay là những lao động tạo ra sản phẩm chủ yếu bằng kỹ năng của chân tay (cơ bắp), công cụ, thiết bị Trong lao động chân tay có lao động đơn giản và có lao động chân tay phức tạp Tham gia vào lao động này có: công nhân, nông dân, lao động làm các loại dịch vụ đòi hỏi chủ yếu là kỹ năng chân tay,
- Lao động nghệ thuật là những lao động tạo ra những sản phẩm chủ yếu để đáp ứng những nhu cầu về thẩm mỹ, tinh thần Sản phẩm của lao động nghệ thuật được tạo ra chủ yếu bằng lao động sáng tạo năng khiếu, năng khiếu đó được rèn luyện, học tập và hoàn thiện
- Lao động trí óc là lao động tạo ra sản phẩm chủ yếu là tư duy trí tuệ, bằng kiến thức Kiến
Trang 233.2 Khái niệm về lao động nghiên cứu KH&CN
Lao động nghiên cứu KH&CN là những hoạt động có hệ thống của con người nhằm tạo
ra, hoàn thiện và ứng dụng những sản phẩm khoa học, sản phẩm công nghệ
Một số diễn giải định nghĩa trên như sau:
a Hoạt động có hệ thống của con người, chỉ có con người lao động một cách hệ thống và hệ thống này hướng đích là sản xuất, truyền bá và ứng dụng các sản phẩm khoa học, công nghệ
b Sản phẩm khoa học, công nghệ có thể được bao gồm:
- Các giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng
để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm10
c Do tính chất đặc biệt của lao động KH&CN mà sản phẩm khoa học, công nghệ không phải lúc nào cũng trở thành hàng hóa11 Nhưng về cơ bản thì sản phẩm khoa học, công nghệ phải có hai yếu tố chính:
- Yếu tố mới và được tạo ra bằng phương pháp khoa học;
- Yếu tố hữu dụng đối với hoạt động xã hội
3.3 Những đặc điểm của lao động nghiên cứu KH&CN
3.3.1 Lao động trí óc
Lao động trí óc là lao động không phải người nào cũng có, không phải lúc nào cũng phát huy được lao động này với những cường độ làm việc và ra sản phẩm như nhau Hiệu quả của lao động trí óc phụ thuộc khá nhiều vào khả năng bộ não của người lao động, vào quá trình đào tạo, vào tâm lý, sự hài lòng, thậm chí cả động cơ của chính người lao động
Có thể xem xét yếu tố lao động trí óc trong ba lĩnh vực như sau:
10 Luật Chuyển giao công nghệ (2006)
11 Mai Hà, Vị trí xã hội của người tài trong giai đoạn phát triển hiện nay Tạp chí Nghiên cứu con người, Số
1, 2010; và Mai Hà và các tác giả, Xây dựng, phát triển thị trường KH&CN trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, NXB Chính trị quốc gia, 2010
Trang 24Lao động KH&CN: lao động trí óc dạng này có chịu ảnh hưởng của gen, của năng khiếu bẩm
sinh, song chủ yếu được hình thành và khẳng định sau khi đã trải qua quá trình đào tạo và làm việc thực sự
Lao động nghệ thuật (ví dụ, các nghệ sĩ tạo hình, sáng tác nhạc, điện ảnh, ): đây là dạng lao
động trí óc cũng phải trải qua đào tạo và thực hành, song phần quan trọng nhất vẫn là yếu tố tài năng bẩm sinh của người lao động
Lao động quản lý: là dạng lao động trí óc đòi hỏi người lao động vừa phải được đào tạo rất kỹ
lưỡng về quản lý, về kinh doanh, đồng thời đòi hỏi yếu tố tài năng bẩm sinh cũng như vậy Quản
lý, đó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Chính vì vậy, lao động quản lý kết hợp hài hòa hai yếu tố: yếu tố của đào tạo chính thống và yếu tố của tài năng quản lý - giao tiếp như là một dạng của lao động nghệ thuật
Những đặc trưng của lao động trí óc như sau:
- Khả năng lao động trí óc không phải ai cũng có, không phải lúc nào cũng xuất hiện
- Lao động trí óc không được sử dụng đúng lúc thì khả năng lao động trí óc sẽ giảm, thậm chí mất đi
- Những điều kiện cần cho lao động trí óc đó là: có năng khiếu, kiên trì lao động và sáng tạo, được đào tạo đồng bộ, thoải mái về mặt tinh thần, tự do tư duy sáng tạo
- Nói chung, hiệu quả của lao động trí óc phụ thuộc vào cả thể lực lẫn trí lực của người lao động trí óc
3.3.2 Lao động có tính sáng tạo
Lao động nghiên cứu KH&CN là lao động sáng tạo Vậy thế nào là sáng tạo: sáng tạo là hoạt động của con người nhằm tạo ra một sản phẩm mới được xã hội chấp nhận
Yếu tố mới: đó là yếu tố đòi hỏi một sản phẩm sáng tạo phải có, đã gọi là sản phẩm sáng
tạo hay là sản phẩm KH&CN thì đó phải là sản phẩm mới, phương pháp mới: bài báo mới, ý tưởng mới, định lý mới, mô hình mới, cách giải mới, phương pháp mới, cách sử dụng mới, lĩnh vực ứng dụng mới, Mới, có nghĩa là trước nó chưa có, hoặc nếu có thì ở dạng không tiên tiến bằng
Yếu tố hữu dụng: đó là sự chấp nhận của thực tiễn Thực tiễn ở đây được hiểu theo nghĩa
rộng: có thể là thị trường, xã hội, chương trình giảng dạy, ban biên tập của tạp chí, thậm chí là
Trang 25Yếu tố phương pháp nghiên cứu khoa học: đối với công việc sáng tạo nói chung thì chỉ
cần hai yếu tố kể trên là đủ, song đối với lao động KH&CN còn đòi hỏi phải là sản phẩm sáng tạo sau khi ứng dụng một hoặc một số phương pháp nghiên cứu khoa học
Thật vậy, sáng tạo trong nghệ thuật có thể bằng ngẫu hứng, bằng cảm xúc, sáng tạo trong sản xuất có thể bằng kinh nghiệm lâu năm, còn sáng tạo trong KH&CN không thể không bằng phương pháp nghiên cứu khoa học Phương pháp nghiên cứu khoa học là tổ hợp các kiến thức khoa học, kinh nghiệm nghiên cứu và các biện pháp kỹ thuật trong việc thu thập, xử lý thông tin
và các dữ kiện khoa học nhằm phát hiện, chứng minh tính đúng đắn khách quan của đối tượng nghiên cứu Chính yếu tố này là yếu tố để phân biệt lao động nghiên cứu KH&CN với các dạng lao động sáng tạo khác
3.3.3 Lao động mang tính mạo hiểm cao
Tính mạo hiểm là đặc trưng cho tất cả các loại hoạt động của con người mà khả năng thành công của nó là không chắc chắn Khả năng thành công càng không chắc chắn bao nhiêu thì
có nghĩa là độ mạo hiểm càng cao bấy nhiêu Tính mạo hiểm càng tăng khi khả năng thành công vẫn không chắc chắn, mà lượng đầu tư về vốn và thời gian lại lớn
Điều này giải thích tại sao nhiều nước trên thế giới đầu tư phát triển tiềm lực KH&CN vẫn phải chi những khoản kinh phí bao cấp lớn mà chưa chắc sẽ thu được kết quả với tất cả các lĩnh vực, các đề tài Chỉ có một điều chắc chắn là hiệu quả tổng thể do hoạt động KH&CN mang lại cho nền kinh tế của nước nào cũng lớn hơn nhiều so với số tiền đầu tư cho phát triển tiềm lực KH&CN
Tính mạo hiểm ở đây còn nói lên một điều là nghiên cứu KH&CN là một dạng lao động thường gặp khó khăn bất thường, rất khó lường trước Đặc biệt đối với nghiên cứu công nghệ thì tính mạo hiểm lại càng cao vì nó liên quan tới cả sự biến động thị trường, tới cả kiến thức và tài năng quản lý công nghệ của người nghiên cứu
3.3.4 Lao động mang tính độc lập cá thể cao
Tính độc lập cá thể ở đây được hiểu như vai trò quyết định của sự thành công là độc lập của từng cá thể các nhà nghiên cứu Nói chung, trong sáng tạo, vai trò sáng tạo của cá thể bao giờ cũng ngự trị Khác với lao động chân tay đơn giản, ví dụ đào con mương thì không thể nói là lao động của cá nhân nào đó mang tính quyết định (có chăng là lao động tổ chức quản lý trong việc đào mương, song đó không còn là lao động đơn giản nữa) Lao động phức tạp hơn là giảng dạy,
Trang 26thì ở đây vai trò, uy tín cá nhân, phương pháp giảng dạy của từng cá thể đã để lại dấu ấn, không thể đánh đồng chất lượng giảng dạy được, mà rõ ràng yếu tố độc lập cá thể đã được nâng cao Lao động sáng tạo trong nghệ thuật, trong quản lý, cũng như trong nghiên cứu KH&CN thì vai trò của cá thể lại càng cao và ngự trị gần như tuyệt đối Mặc dù gần đây người ta đã thống
kê được số lượng các công trình khoa học viết chung có tăng lên, thậm chí nhiều hơn số công trình của một tác giả duy nhất Song, nếu nhìn nhận một cách khách quan thì giữa các tác giả viết chung, có thể xác định một cách chắc chắn sự đóng góp của từng người trong danh sách đồng tác giả: có người đóng góp bằng sự hướng dẫn khu vực có thể sáng tạo, có người đóng góp bằng phỏng đoán sự sáng tạo và có người đóng góp bằng chính sự sáng tạo (ở đây chúng tôi không xét đến vô số trường hợp đứng cùng tên theo kiểu "ăn theo", mà ngay cả trong trường hợp "ăn theo" như vậy, các tác giả đích thực đều được biết rất rõ)
Vai trò của tập thể nghiên cứu không phải là không có ý nghĩa Vai trò của tập thể nghiên cứu chỉ có ý nghĩa khi có sự phân công, tổ chức từng khâu trọng yếu trong việc thực hiện các chương trình nghiên cứu ứng dụng có mục tiêu và sản phẩm rõ ràng Ngoài ra, vai trò của tập thể nghiên cứu còn được biết đến như là một phản biện cho các công trình sáng tạo Nhưng dù sao trong sáng tạo, vai trò độc lập của cá thể vẫn mang tính quyết định
3.3.5 Lao động nghiên cứu KH&CN có tác động cực kỳ to lớn đối với sự phát triển xã hội loài người, sự tác động đó là rất sâu sắc và có độ trễ
Rất dễ để công nhận những tác động to lớn của cách mạng khoa học - kỹ thuật nói chung, trong đó phần quyết định là lao động nghiên cứu KH&CN, đối với sự phát triển của toàn bộ xã hội loài người
Những lập luận, những lý thuyết về vai trò của lao động KH&CN đã được nhiều tác giả
đề cập đến12 Những nước càng phát triển, những nước có những nhà lãnh đạo sáng suốt thì dù nghèo họ đều thể hiện sự nhận thức về vai trò của lao động nghiên cứu KH&CN bằng các chính sách cụ thể, các chính sách được tài chính hóa, thể chế hóa và rất mực nhất quán Một trong những khẳng định dễ được thống nhất, đó là đầu tư phát triển chất xám là đầu tư có hiệu quả nhất
12 Mai Hà (chủ biên) và các cộng sự, Phác thảo Chiến lược Phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010, NXB Chính trị quốc gia (2003); Đặng Hữu, KH&CN với sự phát triển kinh tế - xã hội, NXB Sự thật (1989); Phạm
Trang 27Vấn đề tưởng chừng rất rõ ràng như vậy mà tại sao vẫn còn tồn tại những tình trạng đầu
tư nửa vời cho KH&CN, để xảy ra hiện tượng "chảy máu não", "teo não" Nguyên nhân chủ quan trực tiếp có thể là do ít ngân sách, do cơ chế đánh giá hiệu quả, do quan điểm và trình độ của các cấp lãnh đạo Song có một nguyên nhân khách quan, đó là hiệu quả của lao động nghiên cứu KH&CN không phát huy ngay lập tức mà có độ trễ Độ trễ này có thể là rất lâu, có thể là tương đối lâu Song càng ngày độ trễ này ngày càng được rút ngắn và đối với các quốc gia phát triển, độ trễ này cũng trở nên ngắn hơn13
4 Tổ chức nghiên cứu về KHXH
Tổ chức nghiên cứu KHXH bao gồm các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới các hình thức: viện nghiên cứu và phát triển, trung tâm nghiên cứu và phát triển, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và cơ sở nghiên cứu và phát triển khác Các tổ chức này bao gồm các cấp:
• Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp quốc gia;
• Tổ chức nghiên cứu và phát triển của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Tổ chức nghiên cứu và phát triển của tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương; Tổ chức nghiên cứu
và phát triển của cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT - XH ở Trung ương;
• Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp cơ sở
Theo đó phần lớn các tổ chức nghiên cứu KHXH trực thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện theo quy định tại Điều 4 khoản 3 Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 25/9/2005 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập, cụ thể: tổ chức nghiên cứu khoa học hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý Nhà nước được ngân sách bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao; được sắp xếp lại, củng cố và ổn định tổ chức để nâng cao hiệu quả hoạt động
5 Tổ chức đào tạo về KHXH
Các tổ chức này gồm các cấp:
• Tổ chức đào tạo cấp quốc gia;
• Tổ chức đào tạo của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Tổ chức đào tạo của tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; Tổ chức đào tạo của cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT - XH ở Trung ương;
• Tổ chức đào tạo cấp cơ sở
13 Phạm Minh Hạc, 2001, Sdd
Trang 28II PHÂN ĐỊNH LẠI CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC NC&ĐT VỀ KHXH Ở VIỆT NAM
Việc xác định chức năng, nhiệm vụ, từ đó thiết kế bộ máy và bố trí nhân sự đối với các tổ chức nói chung cũng như đối với các tổ chức NC&ĐT nói riêng là một trong những vấn đề rất cơ bản của khoa học tổ chức để bảo đảm cho mỗi tổ chức hoạt động đúng mục tiêu đề ra và đem lại hiệu quả
Việc phân định lại chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức NC&ĐT về KHXH được đặt ra khi đã xác định chức năng, nhiệm vụ nhưng vẫn còn chưa rõ ràng hoặc còn chồng lấn hay chưa tách bạch được giữa các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH với chức năng, nhiệm vụ của các loại tổ chức khác trong cùng hệ thống
Thực tế hiện nay, cũng chưa có văn bản nào xác định hay quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH Vì vậy, việc xác định và phân định chức năng, nhiệm vụ đối với các tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH là cần thiết theo yêu cầu cải cách hành chính, đổi mới và tách bạch giữa chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các tổ chức NC&ĐT với chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức này nhằm từng bước nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đồng thời phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm
1 Mục tiêu, yêu cầu đối với phân định chức năng, nhiệm vụ
a) Mục tiêu:
Phân định chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức NC&ĐT về KHXH hướng tới mục tiêu xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm từng loại tổ chức trong hệ thống tổ chức NC&ĐT để từ đó xây dựng các cơ chế, chính sách quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức NC&ĐT về KHXH
b) Yêu cầu trong quá trình phân định:
- Phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực
- Bảo đảm phù hợp với vị trí pháp lý của tổ chức khi thành lập mới hoặc chuyển đổi, sắp xếp, tổ chức lại trong quá trình hoạt động
- Phù hợp với định hướng đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH
- Bảo đảm phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công trong lĩnh vực KHXH
2 Một số yếu tố cơ bản khi thực hiện phân định chức năng, nhiệm vụ
Trang 29Phân định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập hệ thống tổ chức, làm cơ sở cho việc sắp xếp các tổ chức trong hệ thống theo trật tự thứ bậc nhất định Trên cơ sở phân định rõ hệ thống tổ chức nghiên cứu về KHXH với hệ thống đào tạo về KHXH sẽ có điều kiện để xác định chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức nghiên cứu với tổ chức đào tạo tương ứng
Đối với các đơn vị sự nghiệp NC&ĐT về KHXH, công tác phân định chức năng, nhiệm
vụ của các tổ chức này có thể được thực hiện dựa trên một số yếu tố sau:
a) Yêu cầu quản lý nhà nước đối với tổ chức:
Xuất phát từ vị trí pháp lý của tổ chức khi được thành lập theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, các tổ chức NC&ĐT về KHXH có vị trí pháp lý khác nhau sẽ có yêu cầu quản lý nhà nước khác nhau và được phân định theo các nhóm sau:
Thứ nhất, tổ chức được các cơ quan nhà nước quyết định thành lập, có chức năng phục
vụ quản lý nhà nước được quy định cụ thể trong các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các tổ chức và tương đương, chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện
Thứ hai, tổ chức được thành lập, tổ chức và hoạt động độc lập theo quy định của văn bản
quy phạm chuyên ngành Các tổ chức này cũng có chức năng NC&ĐT tạo trong lĩnh vực KHXH, nhưng chủ yếu thông qua các hình thức đấu thầu, đặt hàng của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân
b) Phạm vi hoạt động của tổ chức:
Về nguyên tắc, để phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức NC&ĐT về KHXH, phạm vi hoạt động của các tổ chức này sẽ do đơn vị tự quyết định Tuy nhiên, xét về mặt thực tiễn thì để bảo đảm các hoạt động NC&ĐT có hiệu quả và đạt chất lượng cao, các đơn vị NC&ĐT cũng cần đáp ứng được một số điều kiện hay tiêu chuẩn nhất định Việc đưa ra các điều kiện hay tiêu chuẩn chính là một trong các nội dung quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước chuyên ngành trong lĩnh vực KHXH Công tác quản lý các đơn vị NC&ĐT theo các điều kiện, tiêu chuẩn này sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị này tự hình thành một hệ thống các tổ chức NC&ĐT một cách khoa học và hiệu quả Trên cơ sở đặt ra các điều kiện, tiêu chuẩn như trên, có thể lựa chọn một số hướng phân định chức năng, nhiệm vụ như sau:
- Hoạt động NC&ĐT có phạm vi cả nước hoặc vùng, miền, địa phương
- Hoạt động NC&ĐT có phạm vi đa ngành hoặc đơn ngành
Trang 30- Hoạt động NC&ĐT có phạm vi kết hợp hai phạm vi nêu trên
c) Hoạt động chủ yếu của tổ chức:
NC&ĐT là hai chức năng có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Tính có hiệu quả của chức năng này sẽ là điều kiện thuận lợi để phát huy chức năng kia và ngược lại Hiện nay, công tác NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH có thể khái quát thông qua hoạt động của hai
hệ thống: (1) hệ thống các trường đào tạo ở bậc đại học và cao đẳng; và (2) hệ thống các viện, học viện, trung tâm nghiên cứu Mặc dù hai hệ thống này đều có và đang thực hiện cả hai chức năng “nghiên cứu” và “đào tạo”, nhưng nếu xét từ góc độ quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước thì cần có sự phân biệt để có các cơ chế, chính sách phát triển hợp lý Chính vì vậy, trong
việc nghiên cứu và phân định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị NC&ĐT cần làm rõ được các hoạt động chủ yếu hay chức năng chủ yếu của mỗi tổ chức để có các biện pháp tổ chức, quản lý thích hợp Theo đó, có thể phận định chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức theo hướng sau:
Một là, các tổ chức có hoạt động nghiên cứu về KHXH là cơ bản thì chức năng của các tổ
chức này là “nghiên cứu”, đồng thời có chức năng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo quy định của pháp luật; trong đó có dịch vụ “đào tạo” khi đáp ứng đủ các điều kiện, tiêu chuẩn của các bậc đào tạo
Hai là, các tổ chức có hoạt động đào tạo về KHXH là chủ yếu thì chức năng của các tổ
chức này là “đào tạo”; đồng thời có chức năng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo quy định của pháp luật; trong đó có dịch vụ “nghiên cứu” thông qua các hình thức đấu thầu, đặt hàng
3 Định hướng phân định chức năng, nhiệm vụ theo từng hệ thống
Từ các yếu tố cơ bản nêu trên, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống tổ chức nghiên cứu về KHXH được phân định theo một số định hướng sau:
a) Theo yêu cầu quản lý nhà nước gồm:
- Tổ chức có chức năng phục vụ quản lý nhà nước với đặc trưng cơ bản là thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan quản lý hành chính cấp trên trực tiếp giao hoặc sản phẩm đầu ra chủ yếu do
cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để phục vụ nội dung quản lý nhà nước
- Tổ chức không có chức năng phục vụ quản lý nhà nước, chủ yếu cung cấp dịch vụ công cho xã hội
Cũng theo yêu cầu quản lý nhà nước, các tổ chức NC&ĐT về KHXH có chức năng phục vụ quản lý nhà nước còn được phân định theo các cấp độ sau:
- Tổ chức thuộc Chính phủ
- Tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Trang 31- Tổ chức thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Tổ chức thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện
b) Theo phạm vi hoạt động gồm:
- Tổ chức có chức năng NC&ĐT trên phạm vi cả nước
- Tổ chức có chức năng NC&ĐT trên phạm vi vùng (miền)
- Tổ chức có chức năng NC&ĐT trên phạm vi địa phương
c) Theo hoạt động chủ yếu (chức năng hoạt động) gồm:
- Tổ chức nghiên cứu kết hợp với đào tạo
- Tổ chức đào tạo kết hợp với nghiên cứu
- Tổ chức nghiên cứu mà không đào tạo
- Tổ chức đào tạo mà không nghiên cứu
III PHỐI HỢP TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC NC&ĐT TRONG LĨNH
VỰC KHXH
1 Một số yêu cầu trong công tác phối hợp
Để bảo đảm công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH, công tác phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Thực hiện nguyên tắc Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực trong đó có hoạt động NC&ĐT về KHXH
- Đề cao trách nhiệm của bộ quản lý ngành với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về các hoạt động NC&ĐT trong từng lĩnh vực thuộc ngành KHXH
- Hoàn thiện thể chế, chính sách đối với các hoạt động NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH; thực hiện quản lý các hoạt động NC&ĐT theo đúng quy hoạch, chiến lược phát triển ngành
- Đổi mới cơ chế quản lý đối với các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công nói chung và đơn vị NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH nói riêng, bảo đảm thực hiện nhất quán định hướng đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động NC&ĐT trong các lĩnh vực thuộc ngành KHXH
Trang 32nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức sẽ tạo điều kiện cho tổ chức hoạt động theo đỳng mục tiờu, định hướng và cú hiệu quả sau khi được thành lập
Hai là, ban hành cơ chế, chớnh sỏch để phối hợp cỏc hoạt động NC&ĐT trong lĩnh vực
KHXH
Theo cỏch thức này, cụng tỏc phối hợp cỏc tổ chức NC&ĐT được thực hiện thụng qua một số nội dung sau: hoàn thiện cỏc quy hoạch mạng lưới tổ chức NC&ĐT trong từng ngành, lĩnh vực; hoạch định chiến lược phỏt triển NC&ĐT trong từng ngành, lĩnh vực; phõn bổ và sử dụng hiệu quả cỏc nguồn lực theo cỏc mục tiờu NC&ĐT trong từng giai đoạn, bảo đảm cỏc hoạt động NC&ĐT cú sự gắn kết chặt chẽ và hỗ trợ nhau cựng phỏt triển
Ba là, sử dụng cỏc chương trỡnh, đề ỏn, đề tài để thực hiện cỏc giải phỏp phối hợp cỏc hoạt
động NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH
Đõy là cỏch thức cú tớnh ứng dụng cao, thường được lựa chọn làm giải phỏp trong việc phối hợp giữa cỏc hoạt động nghiờn cứu với đào tạo Thụng qua cỏc chương trỡnh, đề ỏn, đề tài, kết quả của cỏc hoạt động nghiờn cứu cú tớnh ứng dụng cao sẽ được lựa chọn làm yếu tố đầu vào của hoạt động đào tạo hoặc ngược lại, kết quả đầu ra của hoạt động đào tạo sẽ gúp phần nõng cao chất lượng nguồn nhõn lực phục vụ cụng tỏc nghiờn cứu trong lĩnh vực KHXH
Bốn là, định kỳ đỏnh giỏ để điều chỉnh cỏc loại tổ chức và hoạt động NC&ĐT về KHXH
Đõy là cỏch thức cú tớnh chất kỹ thuật, nghiệp vụ trong hoạt động quản lý đối với cỏc tổ chức NC&ĐT Thụng qua cỏch thức này, cỏc tổ chức NC&ĐT sẽ được đỏnh giỏ định kỳ tương đối toàn diện, bao gồm từ khõu thiết kế tổ chức đến cỏc yếu tố bảo đảm cho tổ chức hoạt động và kết quả đạt được của tổ chức, nhằm xỏc định tớnh hợp lý, vai trũ của tổ chức để cú giải phỏp tiếp tục kiện toàn và điều chỉnh sau đỏnh giỏ
3 Nội dung cụng tỏc phối hợp
Cụng tỏc phối hợp giữa cỏc cơ quan nhà nước trong quản lý tổ chức và hoạt động của cỏc
tổ chức NC&ĐT về KHXH cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
a) Các nội dung quản lý về hoạt động NC&ĐT:
- Quản lý quy hoạch, chiến l−ợc phát triển các lĩnh vực NC&ĐT thuộc ngành KHXH
- Quản lý danh mục các dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực NC&ĐT
- Quy định về đăng ký hoạt động đối với tổ chức NC&ĐT
- Quy định về chế độ đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực NC&ĐT
- Quản lý phí, lệ phí và giá dịch vụ sự nghiệp công trong hoạt động NC&ĐT thuộc lĩnh
Trang 33- Quản lý quy hoạch mạng lưới tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH
- Nguyên tắc thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức
- Điều kiện thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức
- Về thẩm quyền thành lập mới, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu đối với các tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH
- Quản lý mục tiêu, chiến lược, kế hoạch dài hạn
- Về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH
b) Đối với Bộ Khoa học và Cụng nghệ:
Trang 34- Chỉ đạo thực hiện phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực KHXH
- Quy định việc xác định và tuyển chọn, xét chọn, đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ khoa học trong lĩnh vực KHXH; đẩy mạnh hoạt động ứng dụng, công bố, tuyên truyền kết quả nghiên cứu khoa học; quản lý các nhiệm vụ khoa học trọng điểm cấp Nhà nước
- Quy định, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc đăng ký hoạt động đối với các tổ chức nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật
- Quy định, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc đăng ký hoạt động của quỹ phát KH&CN các cấp (quốc gia, bộ, tỉnh, tổ chức, cá nhân) theo quy định của pháp luật
- Hướng dẫn các bộ, ngành và địa phương về nghiệp vụ quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương thực hiện quy hoạch phát triển các tổ chức nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực KHXH trong phạm vi cả nước Quy định cụ thể điều kiện hoạt động đối với các loại hình tổ chức nghiên cứu khoa học
- Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về sử dụng, trọng dụng cán bộ nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài
- Phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng cơ chế tài chính phát triển KH&CN và biện pháp thực hiện chính sách xã hội hoá hoạt động nghiên cứu khoa học; phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng cơ cấu vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học phân bổ theo ngành, lĩnh vực và thẩm tra, giám sát việc thực hiện phương án phân bổ
dự toán ngân sách dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực KHXH; kiểm tra, giám sát việc sử dụng ngân sách KH&CN đối với các bộ, ngành và địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học
c) Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo:
- Ban hành chương trình khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học; khung chương trình, khối lượng kiến thức đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong lĩnh vực KHXH
- Thanh tra, kiểm tra các trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, học viện, đại học trong việc thực hiện chương trình và quy chế đào tạo do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; thanh tra, kiểm tra các cơ sở đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong việc thực hiện quy chế đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- Ban hành danh mục ngành đào tạo trong lĩnh vực KHXH đối với các trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, học viện, đại học; quy định quy trình, điều kiện,
Trang 35- Ban hành quy định về điều kiện thành lập, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; quy định chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục ở từng cấp học và trình độ đào tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ
- Chủ trì xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn thực hiện cơ chế thu, sử dụng học phí đối với tất cả các loại hình nhà trường, chính sách học bổng từ ngân sách nhà nước và các chính sách khác đối với người học theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ khác như đối với Bộ quản lý ngành, lĩnh vực KHXH
d) Đối với các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực KHXH:
- Rà soát, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ danh mục các loại dịch vụ sự nghiệp công trong các lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo thuộc ngành KHXH
- Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy hoạch phát triển các loại dịch vụ nghiên cứu và đào tạo và quy hoạch mạng lưới tổ chức NC&ĐT (cả trong và ngoài công lập), để bảo đảm các đơn vị sự nghiệp công trong lĩnh vực NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước
- Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định về quản lý nhà nước đối với các hoạt động NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH, bảo đảm thống nhất với các định hướng và chính sách khuyến khích xã hội hoá, bao gồm:
- Ban hành hệ thống tiêu chuẩn sản phẩm dịch vụ sự nghiệp công, quy chuẩn chuyên môn; trình tự, thủ tục, định mức kinh tế - kỹ thuật; phí, lệ phí, giá dịch vụ đối với các loại dịch vụ
do Nhà nước kiểm soát giá
- Ban hành tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu đơn vị NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH; tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ đối với các công chức, viên chức theo từng ngành, lĩnh vực NC&ĐT
- Quy định điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp dịch
vụ công hoạt động trong lĩnh vực KHXH
- Quy định báo cáo tài chính phù hợp với từng loại hình, quy mô tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH; chế tài xử lý đối với các tổ chức và cá nhân vi phạm về báo cáo tài chính
Trang 36- Đề xuất các chính sách đặc thù đối với việc khuyến khích xã hội hoá các các hoạt động NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH
- Xây dựng và hoàn thiện các quy định về nội dung, tiêu chí giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH và cơ chế giám sát, đánh giá kèm theo
- Xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về tổ chức và hoạt động của các đơn vị NC&ĐT, tạo điều kiện cho các thông tin về chính sách khuyến khích xã hội hoá, quy hoạch phát triển dịch vụ sự nghiệp công, chất lượng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và các báo cáo, thống
kê về tổ chức và hoạt động của các đơn vị NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH được công khai, minh bạch
- Nghiên cứu ban hành cơ chế chuyển đổi các đơn vị NC&ĐT công lập sang các đơn vị
sự nghiệp ngoài công lập, đồng thời thực hiện chính sách về: đầu tư; tín dụng ưu đãi; đất đai, sử dụng kết cấu hạ tầng; sử dụng tài sản nhà nước khi chuyển đổi; thuế, … nhằm khuyến khích các đơn vị chuyển đổi, đổi mới phương thức, kỹ năng quản lý, quản trị đơn vị sự nghiệp, nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực KHXH đáp ứng yêu cầu xã hội
- Tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động dịch vụ
sự nghiệp công hiện có; đặc biệt thực hiện có hiệu quả chính sách khuyến khích xã hội hoá quy định tại Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ
- Các bộ quản lý ngành, địa phương và các đơn vị NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH cần thực hiện tốt chế độ báo cáo, thống kê theo quy định
đ) Trách nhiệm của UBND cấp tỉnh có trách nhiệm:
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đối với tổ chức và hoạt động của các đơn vị NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH theo các quy định của pháp luật
- Bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị NC&ĐT trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
- Hướng dẫn, hỗ trợ, tạo điều kiện cho đơn vị NC&ĐT trên địa bàn hoạt động theo đúng các quy định tại quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tổ chức và hoạt động của các đơn vị NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH trên địa bàn tỉnh; báo cáo đánh giá hiệu quả việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước chi cho hoạt động NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH ở địa phương theo quy định
Trang 37e) Trách nhiệm của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam14:
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về một số vấn đề lớn trong lĩnh vực KHXH, gồm:
- Dự báo xu hướng phát triển chủ yếu của khu vực và thế giới, đánh giá những tác động nhiều mặt của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển khu vực, toàn cầu và Việt Nam
- Những khía cạnh KHXH của sự phát triển KH&CN và nền kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự tác động của chúng đến tiến trình phát triển KT - XH Việt Nam
- Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển xã hội dân sự và nền dân chủ XHCN ở Việt Nam
- Những vấn đề cơ bản và cấp bách về dân tộc, tôn giáo, lịch sử, văn hoá nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Những vấn đề cơ bản về phát triển toàn diện con người Việt Nam mang đậm tính nhân văn và các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa của văn hoá, văn minh nhân loại
- Những vấn đề về đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị; nâng cao năng lực cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
- Những vấn đề cơ bản, toàn diện, có hệ thống về lý thuyết phát triển của Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
- Nghiên cứu, điều tra cơ bản, liên ngành về KHXH, phân tích và dự báo KT - XH phục vụ nhu cầu phát triển đất nước, chú trọng những lĩnh vực KT - XH chủ yếu, những ngành, vùng kinh
tế trọng điểm của đất nước
- Nghiên cứu, tổ chức biên soạn những bộ sách lớn, tiêu biểu cho tinh hoa của trí tuệ Việt Nam và thế giới phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và truyền bá tri thức về KHXH
g) Trách nhiệm của các tổ chức tư vấn phối hợp liên ngành cấp quốc gia trong lĩnh vực KHXH:
Do lĩnh vực KHXH có phạm vi và đối tượng nghiên cứu rộng, có tính nhạy cảm cao, kết quả hoạt động NC&ĐT có ảnh hưởng lớn toàn xã hội và trực tiếp đến các giá trị liên quan đến con người Chính vì vậy, ngoài việc phân công trách nhiệm, thẩm quyền cụ thể cho các cơ quan quản lý nhà nước về NC&ĐT, các đơn vị NC&ĐT của nhà nước, Đảng và Nhà nước ta còn thành lập các tổ chức phối hợp liên ngành kết hợp sử dụng đội ngũ chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực nghiên cứu KHXH để tư vấn cho các cơ quan Đảng (Bộ Chính trị), Nhà nước (Chính phủ, Thủ
14 Theo Điều lệ của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Trang 38tướng Chính phủ) trong việc định hướng tư tưởng, hoàn thiện hệ thống lý luận và hoạch định các chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển các hoạt động NC&ĐT trong từng thời kỳ Trong số các tổ chức tư vấn phối hợp liên ngành, có 2 Hội đồng với vai trò đặc biệt quan trọng trong phối hợp các hoạt động NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH, cụ thể là:
(1) Hội đồng Lý luận Trung ương trực thuộc Bộ Chính trị Hiện nay Hội đồng Lý luận
Trung ương nhiệm kỳ 2006 - 2010 có nhiệm vụ: tham mưu cho Trung ương Đảng các vấn đề về
tư tưởng, lý luận, góp phần vào việc hình thành các chủ trương, đường lối của Đảng; tham gia thẩm định các đề tài của các ban, ngành về các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, công tác quản lý của Nhà nước, nâng cao hiệu lực của hệ thống chính trị; trực tiếp tiến hành nghiên cứu các vấn đề có tầm quan trọng thiết thực tới thực tiễn cách mạng nước ta; đồng thời, góp phần giữ mối liên hệ với các đảng cộng sản, các đảng cầm quyền mà Việt Nam có quan hệ ngoại giao
(2) Hội đồng Quốc gia Giáo dục để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện Chiến
lược phát triển GD&ĐT công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hội đồng có nhiệm vụ: chỉ đạo tổng kết công cuộc đổi mới về giáo dục và soạn thảo chiến lược GD&ĐT (bao gồm mục tiêu, kế hoạch dài hạn, các đề án lớn về GD&ĐT, cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, ); thẩm định để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định các chính sách quan trọng về phát triển GD&ĐT; thực hiện theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ quyết định những chủ trương, biện pháp chỉ đạo công tác GD&ĐT; chỉ đạo việc xây dựng ngân sách dành cho sự nghiệp GD&ĐT để trình Quốc hội thông qua
5 Trách nhiệm của các tổ chức NC&ĐT về KHXH
Các tổ chức NC&ĐT trong lĩnh vực KHXH được phân định thành 2 nhóm với các trách nhiệm theo các cấp độ như sau:
a) Nhóm 1: Đơn vị sự nghiệp khoa học hoặc đào tạo thuộc các ngành, lĩnh vực KHXH có yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu cần quản lý tập trung, thống nhất, không phân cấp hoặc phân cấp hạn chế và các ngành, lĩnh vực KHXH có yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ đặc thù cần chỉ đạo thống nhất toàn ngành, lĩnh vực:
- Thực hiện các nhiệm vụ NC&ĐT theo đấu thầu, đặt hàng, hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao
- Đối với các đơn vị nghiên cứu khoa học thuộc ngành dọc đặt tại địa phương có trách nhiệm phục vụ quản lý nhà nước của UBND các cấp và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Trang 39- Chịu sự hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ và giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo về lĩnh vực KHXH
và các cơ quan khác có liên quan
- Chịu sự quản lý nhà nước, giám sát của UBND cấp tỉnh trong việc chấp hành các quy định về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh và các nghĩa vụ đối với Nhà nước, người lao động làm việc tại đơn vị sự nghiệp NC&ĐT
b) Nhóm 2: Đối với đơn vị sự nghiệp khoa học hoặc đào tạo thuộc các ngành, lĩnh vực KHXH khác
- Thực hiện các nhiệm vụ NC&ĐT theo đấu thầu, đặt hàng, hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao
- Chịu sự hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ và giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ quản lý ngành, lĩnh vực, UBND cấp tỉnh, cấp huyện
- Chịu sự quản lý nhà nước, giám sát của UBND các cấp trong việc chấp hành các quy định của pháp luật về các lĩnh vực trên địa bàn trong hoạt động cung ứng dịch vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo
IV LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TỔ CHỨC NC&ĐT VỀ KHXH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
Phần này xin giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống NC&ĐT về KHXH ở một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới: Mỹ, Anh, Nga và Trung Quốc
4.1 Hình thành và phát triển hệ thống tổ chức NC&ĐT về KHXH của Hoa kỳ
Ở Hoa Kỳ cũng như đa số các quốc gia Tây Âu khác, hệ thống nghiên cứu khoa học được
tổ chức rộng rãi tại các trường đại học, viện nghiên cứu Nhìn chung hệ thống tổ chức KH&CN ở Hoa Kỳ gồm các loại hình sau15:
• Hệ thống các trường đại học (University): Trường đại học ở Hoa Kỳ không những là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn là những trung tâm nghiên cứu quan trọng nhất của quốc gia Ở đây chủ yếu thực hiện nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu phát triển các công nghệ mũi nhọn
• Hệ thống các viện nghiên cứu quốc gia như Cơ quan nghiên cứu hàng không và vũ trụ (NASA), Viện Y tế quốc gia, Viện Công nghệ Massachusset, Viện Công nghệ California,
15 Nguyễn Minh Châu (2007), Kinh nghiệm tổ chức khoa học công nghệ ở Mỹ
Trang 40(thực ra Viện Công nghệ Massachusset và Viện Công nghệ California có tên gọi là viện công nghệ nhưng đây cũng chính là các trường đại học nghiên cứu), thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực ưu tiên, đặc thù
• Hệ thống nghiên cứu ở một số bộ ngành đặc thù, mang tính chất công ích như Bộ Nông nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Năng lượng, Bộ Giao thông hay các Bảo tàng
tự nhiên Các nơi này chủ yếu nghiên cứu phục vụ chiến lược, dự báo, bảo vệ và bảo tồn tài nguyên môi trường
• Hệ thống nghiên cứu ở các doanh nghiệp, công ty lớn (Silicon Valley) thực hiện nghiên cứu triển khai và ứng dụng phục vụ sản xuất
Khác với nhiều quốc gia, ở Hoa Kỳ không có Bộ Khoa học và Công nghệ, chỉ có Bộ Giáo dục Liên bang và điều đặc biệt là ngay cả Bộ Giáo dục Liên bang cũng không quản lý trực tiếp hoạt động KH&CN hay giáo dục và đào tạo như ở Việt Nam, thay vào đó hoạt động KH&CN ở Hoa Kỳ hoàn toàn do các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu có toàn quyền định đoạt Toàn quyền định đoạt ở đây được hiểu là các trường, các viện có quyền tổ chức hệ thống nghiên cứu của mình sao cho hiệu quả nhất, các nhà khoa học có quyền tự do tìm các nguồn tài trợ, tự do nghiên cứu và sáng tạo
Trong lĩnh vực KHXH, học viện Harvard được coi là trường đại học đầu tiên NC&ĐT về KHXH ở Hoa Kỳ Học viện Harvard được thành lập vào năm 1636 (sau này được đổi tên là Đại học Harvard) nằm ở Cambridge, bang Massachusetts Trong lịch sử của nước Hoa Kỳ đã có 8 vị Tổng thống cùngrất nhiều nhà thơ, nhà văn, triết gia, kiến trúc sư, luật sư, lãnh tụ nổi tiếng được đào tạo từ ngôi trường này, đây cũng là một trong những lý do khiến Trường nổi tiếng trên toàn thế giới Lúc đầu thành lập, tuy quy mô còn rất nhỏ Học viện đã tổ chức nghiên cứu do chính các giáo sư thực hiện, ban đầu chỉ là các chủ đề có liên quan đến đào tạo mục sư và giáo dục giáo lý
cơ đốc giáo, sau đó mới mở rộng đến nghiên cứu về giáo dục gia đình, xã hội, đặc biệt là các nghiên cứu về di cư cộng đồng, trách nhiệm xã hội của cá nhân hay sự phát triển tâm lý trẻ em Học viện Harvard là trường đại học lâu đời nhất trong lịch sử Bắc Mỹ, cũng là trường đại học có những nghiên cứu về KHXH sớm nhất Nơi đây vừa là học viện giảng dạy, vừa là học viện nghiên cứu, phổ nghiên cứu của Trường chủ yếu xoay xung quanh các vấn đề xã hội học, tư tưởng và triết học thuộc lĩnh vực KHXH
Harvard có 9 khoa được liệt kê dưới đây theo thứ tự thời gian thành lập: