1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)

132 895 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Tác giả Ths. Nguyễn Việt Hoà, Ths. Nguyễn Mạnh Quân, TS. Nguyễn Quang Tuấn, TS. Lê Ngọc Hùng, Ths. Nguyễn Quang Thắng, KS. Phan Thị Hiền, CN. Nguyễn Hồng Anh, CN. Nguyễn Hoài Anh
Trường học Viện Chiến Lược và Chính Sách, Bộ Khoa Học và Công Nghệ
Chuyên ngành Chính sách đổi mới công nghệ, Quản trị doanh nghiệp, Công nghiệp phần mềm, Dệt may, Chế biến thực phẩm
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích tác động của các loại chính sách đổi mới công nghệ đến hoạt động đổi mới về tổ chức và quản lý doanh nghiệp ngành công nghiệp nghiên cứu trường hợp 3 ngành công nghiệp phần m

Trang 1

Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho

doanh nghiệp ngành công nghiệp

(Nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Lời nói đầu

1 Luận giải sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 3

Phần thứ hai Nội dung nghiên cứu

Chương I Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng chính sách đổi mới

công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp

10

1 Sự cần thiết hình thành chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp

ngành công nghiệp

10 1.1 Lý luận về chính sách đổi mới, chính sách đổi mới công nghệ cho doanh

nghiệp ngành công nghiệp

10 1.2 Vị trí, vai trò của doanh nghiệp ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc

1.3 Đặc điểm các doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp 03

ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) 16

2 Thực tiễn về xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp

2.1 Kinh nghiệm của các nước trong xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho

các doanh nghiệp ngành công nghiệp (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia,

3 Khung phân tích và tiêu chí đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho các

3.1 Khung phân tích đánh giá tác động của chính sách đổi mới công nghệ cho

3.2 Tiêu chí đánh giá tác động chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh

Chương II Đánh giá hiện trạng của chính sách đổi mới công nghệ tác động

đến các doanh nghiệp ngành công nghiệp Việt Nam

51

1 Hệ thống hoá các chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công

2 Phân tích tác động của các loại chính sách đổi mới công nghệ đến hoạt động

đổi mới về tổ chức và quản lý doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu

trường hợp 3 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)

54

2.1 Chính sách đổi mới doanh nghiệp ngành công nghiệp tác động đến việc đưa

ra cơ cấu tổ chức mới của doanh nghiệp ngành công nghiệp

54 2.2 Chính sách đổi mới cơ chế quản lý KH&CN tác động đến việc đổi mới cơ

chế quản lý các đơn vị, nhân lực của doanh nghiệp ngành công nghiệp

61

Trang 3

2.3 Chính sách quản lý chất luợng và môi truờng tác động đến việc thực hiện các

kỹ thuật quản lý tiên tiến như Hệ thống quản lý (HTQL) chất lượng ISO 9000;

HTQL an toàn thực phẩm HACCP/ISO 2200:2005; HTQL chất lượng môi trường

ISO 14000: 2004…

63

2.4 Chính sách hội nhập và cạnh tranh quốc tế tác động đến việc thực hiện các

định hướng chiến lược mới của doanh nghiệp ngành công nghiệp 662.5 Đánh giá những thành công và hạn chế của chính sách đổi mới đến hoạt động

đổi mới về tổ chức và quản lý của doanh nghiệp ngành công nghiệp 73

3 Phân tích tác động của chính sách đổi mới công nghệ đến hoạt động đổi mới

công nghệ của doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu trường hợp 3 ngành

công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)

75

3.1 Chính sách đầu tư tài chính đến các hoạt động 75 3.2 Chính sách phát triển thị trường công nghệ tác động đến các hoạt động 81 3.3 Chính sách phát triển nhân lực NC&PT, chính sách giáo dục-đào tạo nhân

lực tác động đến việc tổ chức thu hút, sử dụng, đào tạo và quản lý nhân lực trong

doanh nghiệp ngành công nghiệp

95 3.7 Đánh giá những thành công và hạn chế của chính sách đổi mới công nghệ

đến hoạt động đổi mới công nghệ doanh nghiệp ngành công nghiệp

97

4 Đánh giá mặt được và hạn chế của các chính sách đổi mới công nghệ đến

doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2001-2010 (nghiên cứu trường hợp 3

ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)

98

4.1 Đánh giá mặt được và hạn chế của chính sách đổi mới công nghệ ở cấp vĩ mô 98 4.2 Đánh giá mặt được và hạn chế của chính sách đổi mới công nghệ ở cấp vi mô 101 4.3 Đánh giá mặt được và hạn chế của chính sách đổi mới công nghệ trong việc

hướng dẫn, khuyến khích đổi mới công nghệ

102 4.4 Đánh giá mặt được và hạn chế trong việc dự báo đổi mới công nghệ 103 4.5 Đánh giá mặt được và hạn chế của phương thức tác động của chính sách đổi

4.6 Đánh giá mặt được và hạn chế về tổ chức xây dựng và thực thi chính sách

Chương III Đề xuất xây dựng và giải pháp thực thi chính sách đổi mới cho

các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020

109

1 Đưa ra quan điểm, định hướng xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho các

doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020

109

2 Đề xuất xây dựng và giải pháp thực thi chính sách đổi mới cho các doanh

nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020 110

3 Kết luận và khuyến nghị đối với các doanh nghiệp ngành công nghiệp và

trường hợp cụ thể 3 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực

phẩm

116

Phụ lục

Trang 4

DANH NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG

KH&CN Khoa học và công nghệ

NCKH&ĐMCN Nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ KT-XH Kinh tế-Xã hội

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

WTO Tổ chức thương mại thế giới

SHTT Sơ hữu trí tuệ

SHCN Sở hữu công nghiệp

HĐH Hiện đại hoá

DNNCN Doanh nghiệp ngành công nghiệp

CNPM Công nghiệp phần mềm

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

NC&PT Nghiên cứu và phát triển

SMEs Doanh nghiệp vừa và nhỏ

EU Cộng đồng Châu Âu

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

DNCN Doanh nghiệp công nghiệp

SP&QTCN Sản phẩm và qui trình công nghệ

NLĐM Năng lực đổi mới

NLĐMCN Năng lực đổi mới công nghệ

CNTT Công nghệ thông tin

Trang 5

Lời nói đầu

Đề tài “Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho

doanh nghiệp ngành công nghiệp (Nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công

nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)” bắt đầu thực hiện từ tháng 05

năm 2009, kết thúc vào tháng 12 năm 2010

Trong quá trình thực hiện đề tài luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ từ Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Lãnh đạo Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Lãnh đạo Ban nghiên cứu Chiến lược và Dự báo, các bạn đồng nghiệp trong và ngoài Viện, các doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm

Chủ nhiệm đề tài và các thành viên xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp và cộng tác của các doanh nghiệp đã giành thời quý báu trả lời phỏng vấn, cung cấp thông tin, điền phiếu điều tra

Trong quá trình nghiên cứu, tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh được những sai sót, rất mong các nhà quản lý và các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến và chia xẻ các vấn đề nghiên cứu cùng tập thể tác giả

Trân trọng cảm ơn

Tập thể đề tài

Trang 6

PHẦN THỨ NHẤT MỞ ĐẦU

1 Luận giải về sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Trước hết, đổi mới công nghệ là nhu cầu thường xuyên, cấp bách của nhiều

doanh nghiệp ngành công nghiệp ở các quốc gia trên thế giới và Việt Nam Thực

tế cho thấy các quốc gia thành công trong đổi mới công nghệ là những quốc gia có chính sách đổi mới công nghệ có tính đột phá, tiên phong và đúng với xu thế phát triển của toàn cầu, thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp ngành công nghiệp đạt hiệu quả cao, nhanh chóng, không những làm tăng qui mô, năng suất sản xuất mà còn tạo ra những biến đổi to

lớn về KH&CN, KT-XH

Thứ hai, xu thế thay đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu và hoạch định

chính sách KH&CN Chuyển từ cách tiếp cận chính sách công theo khung cứng nhắc hoặc tách rời các chính sách sang cách tiếp cận “tổ hợp” và “tập hợp” các chính sách dựa trên nguyên lý đổi mới để xây dựng và hoạch định chính sách đổi mới (Innovation Policy) về KH&CN trở nên phổ biến, cách tiếp cận này chỉ ra rằng, không nhất thiết phải có đầy đủ các nhân tố và yếu tố có trong hệ thống đổi mới quốc gia để hoàn thiện chính sách KH&CN cho các doanh nghiệp, vấn đề then chốt đó là cách thức ‘tập hợp’ các điều kiện cần và chưa đủ để giúp các doanh nghiệp tự tiến hành đổi mới, nâng cao năng lực đổi mới và cạnh tranh Việt Nam là nước tiếp cận nghiên cứu sau, với thực trạng đổi mới công nghệ hiện nay còn nhiều bất cập và không có hiệu quả, thiết nghĩ việc nghiên cứu là cần thiết nhằm cung cấp luận cứ cho việc xây dựng chính sách đổi mới công nghệ trong thời gian tới

Thứ ba, năng lực cạch tranh của doanh nghiệp ngành công nghiệp dưới

mức trung bình so với doanh nghiệp các nước, bởi nhân tố về sáng tạo và phát triển gồm 2 trụ cột là trình độ phát triển của doanh nghiệp và năng lực sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu và thấp

Từ ba vấn đề cấp bách trên việc nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới cho doanh nghiệp ngành công nghiệp nhằm mục tiêu phục vụ trực tiếp công tác quản lý nhà nước về KH&CN của Bộ KH&CN giai đoạn 2011-2020 tốt hơn trên cơ sở nghiên cứu phân tích nội dung của chính đổi mới công nghệ, đánh giá làm rõ sự thành công và hạn chế của chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp trong thời gian qua Đề xuất các giải pháp xây dựng và thực thi chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020 để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngành công nghiệp là cần thiết

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Cung cấp luận cứ khoa học về chính sách đổi mới công

nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp trên cơ sở phân tích và đánh giá

Trang 7

chính sách đổi mới công nghệ của Việt Nam tác động đến doanh nghiệp ngành công nghiệp ở hai mặt hiệu quả và không hiệu quả Đưa ra được tư vấn xây dựng

và thực thi chính sách đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020

Mục tiêu cụ thể:

• Phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng, hoạch định

và thực thi chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp

• Đánh giá tác động chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2001-2010 để rút ra được những thành công và hạn chế của chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020

• Đưa ra quan điểm, định hướng xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020

• Đề xuất các giải pháp xây dựng và thực thi chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp bao gồm: làm rõ khái niệm và nội dung trên cở nghiên cứu lý thuyết chung và thực tiễn của các nước

Nghiên cứu thực tiễn: Hiện trạng của chính sách đổi mới công nghệ tác động đến doanh nghiệp ngành công nghiệp để: Phân tích tác động của các loại chính sách đổi mới công nghệ đến hoạt động đổi mới về tổ chức và quản lý doanh nghiệp ngành công nghiệp; Phân tích tác động của chính sách đổi mới công nghệ đến hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp ngành công nghiệp; Đánh giá mặt được và hạn chế của các chính sách đổi mới công nghệ đến doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2001-2010 qua nghiên cứu trường hợp 3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) trên cơ sơ đó Đề xuất các giải pháp xây dựng và thực thi chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Không gian nghiên cứu:

Địa điểm: Hà Nội, một số tỉnh Miền Bắc-Trung, TP.Hồ Chí Minh

Thời gian nghiên cứu: 5/2010-12/2011

3.2 Giới hạn nghiên cứu

-Qui mô và địa bàn điều tra: Đề tài điều tra 620 doanh nghiệp ở 3 ngành

công nghiệp (phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh, công nghiệp công nghệ cao khu vực Nhà nước và tư nhân trên địa bàn khu vực miền Bắc, Trung, Nam

Trang 8

-Mục đích/yêu cầu: Làm rõ vai trò của chính sách đổi mới công nghệ của

Nhà nước đối với doanh nghiệp ở 3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) trên cơ sở khảo sát/điều tra các doanh nghiệp đang tiến hành hoạt động đổi mới trong 3 năm qua, làm rõ doanh nghiệp ngành công nghiệp nào chịu tác động của chính sách đổi mới công nghệ nhiều nhất và ít nhất Tìm ra nhu cầu, yêu cầu mới đặt ra, những vấn đề mới phát sinh của doanh nghiệp ngành công nghiệp

-Đối tượng và tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp điều tra: Các doanh nghiệp ở

3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) ở hai khu vực Nhà nước và Tư nhân có quy mô lớn (tập đoàn, tổng công ty,) vừa và nhỏ; có hoạt động đổi mới công nghệ trong 3 năm gần đây, hoạt động hợp pháp

-Nội dung: Đánh giá mức độ và phạm vi tác động của chính sách đổi mới

công nghệ đối với doanh nghiệp ở 3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) ở hai khu vực Nhà nước và Tư nhân trên hai hoạt động chính

tổ chức và quản lý, hoạt động đổi mới công nghệ Doanh nghiệp sẽ đánh giá mặt được, hạn chế và nguyên nhân của các chính sách đổi mới

4 Nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào 03 nhóm vấn đề chính:

• Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng chính sách đổi mới công

nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp

• Đánh giá hiện trạng của chính sách đổi mới tác động đến các doanh

nghiệp ngành công nghiệp

• Đề xuất xây dựng và giải pháp thực thi chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp giai đoạn 2011-2020

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

5.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

Căn cứ vào hợp đồng thực hiện đề tài nghiên cứu thuộc phạm vi khoa học

xã hội và khoa học quản lý cấp Bộ được ký ngày 04 tháng 5 năm 2009 Đề tài đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu đề ra trong Hợp đồng nghiên cứu

Đề tài đã kết hợp phương pháp định tính, định lượng với các phương pháp nghiên cứu khác, tham khảo từ các công trình sau: “Hướng dẫn thực hiện nghiên cứu định tính-Doing Qualitative Research-A pracatical Handbook” của David Silverman năm 2001; Tài liệu hướng dẫn Frascati 2002 và Oslo 2004 của OECD;

Trang 9

Hệ thống đổi mới công nghệ (Charles Edquist, 1997); Tiêu chuẩn của chính sách quốc gia-đầu tư NC&PT của công và tư (Báo cáo tài chính của EU, 2002); SMEs

và DN (OECD, 2005); Hướng dẫn của Oslo về chỉ số đổi mới công nghệ; Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010-2011 của WEF Ngoài ra trong nghiên cứu này

sử dụng tài liệu về Hệ thống văn bản qui phạm pháp luật về KH&CN, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Đặc biệt là thực tiễn hiện nay của các DN ngành công nghiệp để phân tích tác động của chính sách công đến việc DN đổi mới công nghệ

5.2.1 Các phương pháp nghiên cứu định tính và các yếu tố định tính: Phân

tích các quan điểm về công nghệ, đổi mới công nghệ, chính sách đổi mới công nghệ; Quan sát các sự kiện, giai đoạn tác động chính sách đổi mới công nghệ; Phân tích tác động chính sách đổi mới công nghệ; Đề xuất xây dựng và giải pháp thực thi chính sách đổi mới cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp

5.2.2 Phương pháp tiếp cận đối tượng, điều tra, thiết kế phiếu hỏi

-Phương pháp tiếp cận đối tượng: Phương pháp chính được sử dụng là

phương pháp chủ thể (subjective) và khách thể (objective) Hai cách tiếp cận này chú trọng các cộng đồng khoa học, doanh nghiệp thuộc đối tượng tác động của cơ chế, chính sách Nhà nước

-Phương pháp chọn mẫu: Chọn doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp

(phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) ở hai khu vực Nhà nước và tư nhân hoạt động sản xuất-kinh doanh, cách chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống và theo đối tượng nghiên cứu đề tài đã chọn 620 DN để gửi phiếu hỏi Tổng số phiếu gửi đi là

620 phiếu

-Đối tượng và phạm vi điều tra: Các DN có hoạt động sản xuất kinh doanh,

tạo ra hàng hóa bán trên thị trường ở 3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm), có hoạt động NC&PT, đổi mới và sử dụng dịch KH&CN một cách thường xuyên và không thường xuyên trong cả nước

-Danh mục phân loại doanh nghiệp công nghiệp dựa vào danh mục quản lý

của Bộ Công Thương, các DN đã đăng ký thành lập và hoạt động sản xuất kinh doanh theo Luật DN

-DN trong lĩnh vực công nghiệp sản xuất: thực phẩm, đồ uống; Công nghệ

Tin học-Truyền thông; Dệt may

-Đơn vị thống kê và báo cáo: Nguồn dữ liệu về tình hình chung của DN

được lấy từ Tổng Cục Thống kê Việt Nam, Bộ Công thương Lập phiếu hỏi, xử lý

số liệu điều tra, thống kê, phân tích do tập thể đề tài thực hiện

-Phương pháp điều tra và thiết kế phiếu hỏi: Thu thập thông tin, khảo sát và

đánh giá nhanh; Quét các tư liệu có liên quan và phân tích tư liệu dựa trên các nguồn từ Internet và Thư viện; Kiểm tra thông tin; Gửi thư và phiếu hỏi điều tra qua đường bưu điện, E-mail và phỏng vấn cá nhân, khảo sát một số DN và gửi trực tiếp Phiếu hỏi được thiết kế và thử nghiệm vào tháng 6-7 năm 2009 trước khi

sử dụng rộng rãi vào tháng 8-9-10 năm 2009

Trang 10

5.2.3 Các phương pháp nghiên cứu định lượng và số liệu định lượng

Phương

Điều tra

định lượng Lấy mẫu ngẫu nhiên Đo lường các biến số Đại diện: các DN 3 ngành công nghiệp (phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm) hoạt động

động theo Luật DN bao gồm Cty TNHH, Cty cổ phần, Cty hợp danh và DNTN, DNNN, Cty cổ phần; Tập đoàn

Thử nghiệm Thử nghiệm phiếu hỏi ở 06

DN trước khi gửi phiếu chính thức

Kiểm tra giả thuyết và nội dung trên phiếu hỏi, mức độ nhận biết và sự hiểu biết những vấn đề

từ Phiếu điều tra của DN Trên cơ sở đó, điều chỉnh và phổ biến rộng rãi

Thống kê Phân tích các dữ liệu đã có

và sau cuộc điều tra Qui mô của dữ liệu: Theo qui định trong điều tra, qui mô tối thiểu được chấp nhận theo loại

hình NC mô tả cần có 10% tổng số phiếu Số phiếu gửi đến các DN là 620 phiếu Số phiếu trả lại là 50 phiếu do DN chuyển địa chỉ khác, giải thể Số phiếu thu về là 156/620 phiếu đạt >25%

Xử lý, phân tích số liệu trên SPSS Phỏng vấn

sâu Ghi chép các quan sát dựa trên kế hoạch làm việc tại

một số DN

Tin cậy của việc quan sát: Nhật ký, phỏng vấn,

mô tả, các văn bản và nhiều phương pháp khác Phân tích

nội dung Phân loại trước các nội dung của các sản phẩm trung gian Tin cậy của việc đo lường: Trong tổng số phiếu gửi đi là 620 Để đảm bảo tính khoa học, đề tài

đã liên hệ trao đổi, tọa đàm hỏi thêm ý kiến và

sử dụng các nguồn tài liệu khác để phân tích

-Phương pháp ước tính được sử dụng để hỗ trợ cho công việc điều tra, theo

khuyến nghị của OECD, việc trả lời các phiếu điều tra thường không được đầy đủ

dù phương pháp điều tra được dùng là gì Trong trường hợp của nghiên cứu này,

có hai tình huống xảy ra đã được kiểm tra lại (1) nhiều DN không quan tâm đến

cơ chế, chính sách công, mặc dù trước đây họ đã được hoặc chưa được hưởng lợi

từ cơ chế, chính sách công để đầu tư vào KH&CN, hiện nay họ được nhiều nguồn khác hỗ trợ (2) có những DN có mong muốn được quan tâm nhưng cho đến thời điểm điều tra họ chưa được hưởng lợi bất cứ cơ chế, chính sách công nào, đồng thời bản thân không rõ thời gian tới họ sẽ đổi mới công nghệ hay không Khắc phục nhược điểm này, đề tài sử dụng nhiều nguồn thông tin từ các cuộc điều tra trước đây, của Bộ Công thương và Tổng Cục Thống Kê

-Thiết kế phiếu điều tra: Nguyên tắc dựa vào mục tiêu, nội dung nghiên cứu

để thu thập thông tin từ thực tế Các câu hỏi ở hai dạng đóng và mở

6 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Nước ngoài: Trong nhiều năm qua, doanh nghiệp là một trong những đối

tượng được nhiều học giả nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau Hoạt động đổi mới ở doanh nghiệp được nghiên cứu ở nhiều khu vực, quốc gia và cả phạm vi quốc tế đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế Xét theo tiến trình lịch sử, hoạt động đổi mới được hình thành và phát triển từ những năm 60, tuy nhiên thực sự mạnh mẽ trở thành hiện tượng phổ biến ở nhiều khu vực và các quốc gia khác nhau vào những năm 90 khi mà Mỹ tiến hành hoạt động đổi mới cả hai mặt phi công nghệ (đổi mới về tổ chức và quản lý) và công nghệ ở doanh nghiệp, ngành công nghiệp và những hoạt động đổi mới ở lĩnh vực KH&CN (đầu

Trang 11

tư NC&PT, thương mại hóa các sản phẩm KH&CN, bảo hộ văn bằng phát minh, sáng chế, phát triển quyền sở hữu trí tuệ ) Kết quả của các hoạt động đổi mới là kinh tế của Mỹ tăng trưởng nhanh chóng và vượt lên Châu Âu

Ở các nước phát triển, ngành công nghiệp được đặc biệt chú ý bởi có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế Các ngành kinh tế được đa dạng hóa và hình thành như hiện nay bắt đầu từ những năm 1800 (hơn 2 thế kỷ trước), và kể từ đó liên tục phát triển cho đến ngày nay với sự trợ giúp của tiến bộ công nghệ Rất nhiều nước phát triển (như Hoa Kỳ, Anh…) phụ thuộc sâu sắc vào khu vực sản xuất Một xu hướng gần đây là sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế khi các quốc gia công nghiệp tiến tới xã hội hậu công nghiệp Điều này thể hiện ở sự tăng trưởng của lĩnh vực dịch vụ trong khi tỷ lệ của công nghiệp trong cơ cấu kinh

tế giảm xuống, và sự phát triển của nền kinh tế thông tin, còn gọi là cuộc cách mạng thông tin gia tăng Ở xã hội hậu công nghiệp, lĩnh vực chế tạo được tái cơ cấu, điều chỉnh thông qua quá trình “offshoring” (chuyển dần các giai đoạn sản xuất ít giá trị gia tăng ra nước ngoài) Từ những thay đổi nhanh chóng của xã hội hậu công nghiệp đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới-tiếp cận đổi mới trong xây dựng và hoạch định chính sách Tiếp cận chính sách đổi mới ‘Innovation policy-IP’ về KH&CN trong đó có chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp

đã là một xu thế tất yếu của nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển, được phát triển từ cuối những năm 90 chủ yếu ở các nước đã phát triển và lan tỏa sang các nước đang phát triển với các trường phái khác nhau

Chính sách đổi mới được phát triển từ chính sách công do khu vực Nhà nước, Chính phủ tiến hành và thực hiện Do đó khi đề cập đến chính sách đổi mới nói chung và chính sách đổi mới công nghệ nói riêng cho doanh nghiệp, một cách chung nhất là đề cập đến chính sách đổi mới quốc gia cho doanh nghiệp Bởi khu vực công (nhà nước) mới có chức năng, nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật, hình thành và thực thi cơ chế, chính sách đầu tư, hợp tác quốc tế, khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp

Để hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp thành công chính sách đổi mới ở các nước OECD tập trung vào các vấn đề chính: Đầu

tư NC&PT để tăng năng lực đổi mới; Phát triển các lĩnh vực khác như giáo dục, cung cấp kỹ năng, chính sách thuế và các qui định kế toán, chính sách công nghiệp gồm cả qui định về môi trường, tiêu chuẩn hóa, hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, các vấn đề về sở hữu và vận hành hệ thống bằng sáng chế và quyền tác giả, hoạt động của thị trường vốn để thúc đẩy năng lực đổi mới; Đẩy mạnh ứng dụng công nghiệp vào các kết quả NCCB của các trường đại học và các phòng thí nghiệm do Nhà nước tài trợ Hoạt động đổi mới ở DNCN, tập trung trên hai hoạt động chính: (i) hoạt động đổi mới SP&QTCN và (ii) hoạt động đổi mới

có thể công nghệ và phi công nghệ như tổ chức và quản lý hoạt động đổi mới, NC&PT, các tác nhân bao gồm các yếu tố thể chế và tổ chức cùng nhau có thể gọi

‘hệ thống đổi mới’ như phương thức mới, tri thức mới, quá trình, hoặc sản phẩm tất cả trong quan hệ hàng ngày với hoạt động kinh tế, sản xuất và thị trường, giữa các doanh nghiệp và khách hàng, các trường đại học, phòng NC&PT, hệ thống

Trang 12

bằng sáng chế, thị trường lao động, hệ thống ngân hàng Hoạt động đổi mới không chỉ gắn với chi tiêu cho NC&PT mà gắn với các tác nhân khác trong hệ thống đổi mới quốc gia

OECD đã thống kê chi tiêu gắn với hoạt động đổi mới ngày càng được mở rộng hơn so với các khoản chi tiêu thuần tuý cho hoạt động NC&PT của các nước Italia, Đức, Bỉ, Anh, Hà Lan, Đan Mạch, Nauy, Ailen, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cho thấy các nước chi chủ yếu cho: NC&PT; văn bằng phát minh sáng chế và giấy phép khai thác; thiết kế khai thác thị trường, chi tiêu cho NC&PT và thiết kế chiếm tỷ lệ chi tiêu cao nhất Ví dụ Italia chi tiêu cho NC&PT là 32,9%, thiết kế là 31,9%; văn bằng sáng chế là 6,0%; phân tích thị trường là 5,3%; khác 0% Ngược lại, Hà Lan chi tiêu cho NC&PT 45,6%; thiết kế là 7,6%; văn bằng sáng chế là 6,1%; phân tích 19,8%; khác 20,2% Đức chi tiêu cho NC&PT là 27,1%, thiết kế

là 27,8%; văn bằng sáng chế là 3,4%; phân tích thị trường là 6,1%; khác 29,2%

Điều quan trọng, các nước OECD thực hiện chính sách đổi mới công nghệ không phải là nhập công nghệ mà ‘làm ra công nghệ mới’ ở khu vực doanh nghiệp, chính sách này được thể hiện rõ ở chính sách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) thông qua Hiệp định TRIPS Mục tiêu chủ yếu của TRIPS không phải là đấu tranh chống lại hàng giả và hàng nhái mà là “bảo hộ công nghệ” Các nước phát triển được coi là những nước sáng tạo và cung cấp sản phẩm công nghệ, còn các nước đang phát triển đóng vai trò như thị trường Theo The Economist, ngành công nghiệp dược phẩm của Mỹ đã mất 500 triệu USD tại Ấn Độ mỗi năm do sự yếu kém trong việc bảo hộ quyền SHTT ở nước này Mặt khác, năm 1998, Mỹ cũng

đã thu về 36 tỷ USD tiền bản quyền Từ kinh nghiệm của các nước đã gia nhập WTO, có thể thấy rằng việc bảo hộ quyền SHTT mạnh chủ yếu chỉ phục vụ lợi ích của các nước công nghiệp phát triển, các nước này sẽ được hưởng lợi nhiều nhất

từ việc bảo hộ quyền SHTT Chính phủ các nước đang phát triển sẽ phải cố gắng tìm cách cân đối giữa nhu cầu của việc thực hiện bảo hộ SHTT và mong muốn được ứng dụng công nghệ rộng rãi để nâng cao năng suất

Về lâu dài, việc bảo vệ quyền SHTT sẽ khuyến khích sự sáng tạo ngay tại các nước đang phát triển và có lợi đối với các nước đang phát triển Nhưng hiện nay, TRIPs đang có xu hướng bất lợi cho các nước đang và kém phát triển, bởi vì các phát minh sáng chế hiện nay chủ yếu là của các nước phát triển TRIPs bảo vệ quyền của người tạo ra sáng chế phát minh và quy định ai sử dụng sáng chế phát minh cũng đều phải trả tiền Trong khi đó, các nước đang phát triển lại hầu như có rất ít phát minh sáng chế, họ muốn sử dụng các thành tựu phát minh của các nước phát triển mà không phải trả tiền Đánh giá khái quát, trong số các nước nghèo, chỉ có khoảng trên dưới 10 quốc gia, tập trung ở Đông Nam châu Á, đã thành công trên con đường tìm kiếm thịnh vượng nhờ vào chiến lược: Cóp nhặt, đuổi theo, vượt công nghệ phương Tây Việc bảo hộ tác quyền quá dài sẽ tăng quyền cho chủ tài sản tư của nước giàu và hạn chế doanh nhân nước nghèo tiếp nhận tri thức đôi khi đã trở nên một tài sản công cộng Chính phủ cũng sẽ phải đầu tư nhiều hơn vào công tác thực thi pháp luật để phù hợp với Hiệp định TRIPs

Trang 13

Có thể nhận thấy, chính sách đổi mới công nghệ hiện nay đã trở nên phức tạp, sự phức tạp đó có thể nhìn thấy vấn đề căn bản của chính sách đổi mới là sự

‘tổ hợp’, ‘tập hợp’ một cách có hệ thống từ nhiều chính sách khác nhau Điều này cho thấy chính sách đổi mới công nghệ không chỉ có ‘vị công nghệ’, mà còn tập hợp nhiều chính sách khác như chính sách công nghiệp Các nhà đổi mới thiên về cách tiếp cận không cầu toàn nhằm thúc đẩy quá trình đổi mới được nhanh hơn, trong khi đó các nhà kinh tế thiên về cách tiếp cận cầu toàn nhằm giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra từ việc đầu tư công nghệ Kết hợp cả hai cách là xu hướng chung của các nước thuộc OECD Theo OECD, đổi mới nằm ở trung tâm của tiến

bộ kinh tế, Lý thuyết phát triển kinh tế của Shumpter năm 1934 được OECD đặc biệt chú ý, Shumpter cho rằng các đổi mới có tính ‘triệt để’ sẽ định hình các biến đổi lớn lao trên thế giới, còn các đổi mới ‘từng bước một’ sẽ liên tục lấp đầy quá trình biến đổi

Tóm lại, các công trình nghiên cứu chính sách đổi mới nói chung, đổi mới công nghệ nói riêng cho đến nay tương đối nhiều Tuy nhiên các nghiên cứu này phần lớn được thực hiện ở những nước đã phát triển, đã hoàn thành quá trình CNH-HĐH, chủ động và tạo ra môi trường hội nhập quốc tế dựa trên hệ thống pháp luật quốc tế Đối với những quốc gia đang phát triển chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ để phát hiện được những điều kiện cần có, các nhân tố chưa có hoặc khiếm khuyết không có trong hệ thống quốc gia để trên cơ sở đó đưa ra những gợi ý căn bản về mặt khoa học cho việc xây dựng chính sách ĐMCN cho các DNNCN trong tiến trình hội nhập quốc tế

Trong nước: Bối cảnh đổi mới và hội nhập hiện nay, hoạt động đổi mới

diễn ra nhanh chóng ở hầu hết các thành phần doanh nghiệp, ngành và lĩnh vực khác nhau Hoạt động đổi mới của doanh chủ yếu được nghiên cứu theo một số hướng cơ bản:

Tiếp cận lý thuyết hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) đặt ra những vấn đề thể chế cấp quốc gia, chùm đổi mới tác động đến sự phát triển KH&CN vùng, địa phương và vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế vùng (TSKH Nguyễn Thành Bang) NIS liên quan đến vấn đề tổ chức, tương tác của các nhân tố trong NIS (TS.Bạch Tân Sinh) Nghiên cứu lý thuyết NIS và đưa ra cách tiếp cận đổi mới quan niệm về tiềm lực KH&CN, cách tiếp cận đổi mới đặt ra những ứng dụng trong quản lý KH&CN và làm rõ nội hàm và khái niệm «đổi mới» trong phạm vi hoạt động KH&CN (Ths.Nguyễn Mạnh Quân) nghiên cứu Gần đây có cách tiếp cận lịch sử «Nghiên cứu quá trình phát triển của chính sách đổi mới (Ths.Hoàng Văn Tuyên) Bên cạnh đó có ý kiến góp bàn về Chính sách đổi mới của TS.Nguyễn Văn Học, xem xét chính sách đổi mới không chỉ duy nhất từ cách tiếp cận NIS Nghiên cứu năng lực đổi mới của doanh nghiệp, Ts.Trần Ngọc Ca đã

“Nghiên cứu khả năng tăng cường NLCN của DN Việt Nam qua các quan hệ với các công ty nước ngoài hoạt động tại Việt Nam” cũng như: "Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và NC&PT trong các cơ sở SX ở Việt Nam” Năm 2007, TS.Bạch Tân Sinh đã “Nghiên cứu lựa chọn hệ thống chỉ số đổi mới và áp dụng

Trang 14

thử phục vụ đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp trong một ngành kinh tế của Việt Nam”, trong nghiên cứu này nêu rất rõ hệ thống chỉ số về hoạt động đổi mới ở doanh nghiệp nói chung Các chủ đề về Phát triển thị trường công nghệ tại việt nam - Tăng cường liên kết nhà nước và doanh nghiệp đã thảo luận nhiều ở các hội nghị quốc gia

Tóm lại, cho đến nay việc nghiên cứu DN nói chung, DNCN nói riêng còn

có nhiều cách tiếp cận, nội dung nghiên cứu khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung vào vấn đề chính sách tài chính cho DNCNNN, chính sách phát triển năng lực của DNCN, tác động của cơ chế chính sách và hệ thống chỉ số về đánh năng lực đổi mới của doanh nghiệp

Trang 15

PHẦN THỨ HAI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP

1.1.1 Quan điểm công nghệ, đổi mới công nghệ

Quan điểm công nghệ: Công nghệ được hiểu ở phạm vi rộng “Là tập hợp

các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giải quyết những vấn

đề của con người… thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn Tiêu chuẩn hóa là đặc thù chủ yếu của công nghệ” (Bách Khoa toàn thư)

Quan điểm đổi mới công nghệ: Cho đến nay có nhiều quan điểm về đổi

mới công nghệ, tuy nhiên có hai quan điểm được phổ biến nhất, quan điểm thứ nhất tập trung vào thành phần công nghệ (thiết bị, thông tin, lao động, tổ chức ); quan điểm thứ hai theo cách tiếp cận đổi mới, tập trung vào hoạt động đổi mới công nghệ và qui trình đổi mới công nghệ Theo quan điểm thứ hai, đổi mới công nghệ được hiểu như sau:

Hoạt động đổi mới công nghệ gồm các khâu liên quan đến khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại, kể cả đầu vào tri thức mới, đã hoặc sẽ đem lại các sản phẩm và qui trình mới/hoàn thiện hơn về mặt công nghệ NC&PT chỉ

là một trong các hoạt động này được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau của quá trình đổi mới Nó có thể có tác dụng không chỉ với tư cách là cội nguồn của các ý tưởng sáng tạo mà còn là phương tiện giải quyết vấn đề có thể cần đến ở bất cứ thời điểm nào trước khi quyết định thực hiện (Frascati, 2002-OECD) Sự sáng tạo

và thay đổi tổ chức là yếu tố cần thiết cho sự phát triển phạm vi mới của đổi mới,

làm gia tăng các doanh nghiệp đến sự sáng tạo mới của các doanh nghiệp và tính

đa dạng, cũng như sự sáng tạo mới của các tổ chức nghiên cứu, các tổ chức hoạch định chính sách

Đổi mới về công nghệ chủ yếu ở hai khâu quan trọng là sản phẩm công

nghệ và qui trình công nghệ (SP&QTCN) Hoạt động sản xuất, kinh doanh của bất

kỳ doanh nghiệp nào đều phải tiến hành đổi mới SP&QTCN để phát triển, tồn tại

Trang 16

và cạnh tranh Để tiến hành được điều này, phần lớn doanh nghiệp phải đầu tư nhiều vào NC&PT, đào tạo và sử dụng dịch vụ KH&CN Dịch vụ dựa trên tri thức

là động lực thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành hoạt động liên minh và liên kết chặt chẽ (OECD, 2005) Cách tiếp cận và quan điểm này cho thấy đổi mới công nghệ không chỉ đơn thuần là đổi mới phần cứng (thiết bị, phương tiện kỹ thuật ) hay phần mềm (bí quyết, kỹ năng, thông tin chứa trong tài liệu ), đổi mới công nghệ ngày nay để có thể cạnh tranh được phải có "tính mới” và "tính cách mạng” tạo ra

sự đột phá, đòi hỏi một sự thay đổi căn bản từ tư duy đến hành động áp dụng các sáng chế mới, phát hiện mới hoặc phát minh mang tính cách mạng, thay đổi căn bản tư duy, sản phẩm, quy trình, hoặc tổ chức Để có được điều này cần phải sử dụng nhiều tri thức, áp dụng nhiều thành tựu, kết quả NC&PT vào hoạt động đổi mới SP&QTCN, đổi mới toàn bộ QTCN được cho là sự đổi mới mang tính cách mạng bởi để thực hiện được điều này yêu cầu trình độ KH&CN hiện tại của một quốc gia, tổ chức phải cao hơn rất nhiều mới có tính đột phá mới Những người trực tiếp chịu trách nhiệm áp dụng đổi mới thường được gọi là người tiên phong trong lĩnh vực của họ, dù là cá nhân hay tổ chức

1.1.2 Quan điểm về chính sách đổi mới, chính sách đổi mới công nghệ

Quan điểm về chính sách đổi mới: "Chính sách đổi mới chỉ nổi lên gần đây

như một tổ hợp của chính sách KH&CN và chính sách công nghiệp” (OECD, 1997) Quan điểm của OECD gần với nhiều quan điểm của các chuyên gia về chính sách đổi mới «Chính sách đổi mới liên quan đến các yếu tố khoa học, công nghệ và chính sách công nghiệp, mục đích rõ ràng đó là thúc đẩy sự phát triển, truyền bá hiệu quả việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ và qui trình mới trong thị trường hoặc bên trong các tổ chức công và tư Chính sách đổi mới có mục tiêu rộng hơn chính sách khoa học, chính sách công nghệ, bao gồm cả các chính sách thay đổi tổ chức và thị trường cho sản phẩm mới»(Bengt-Åke Lundvall, Susana Borrás, December, 1997) Chính sách đổi mới không chỉ liên quan đến KT-XH của ngành nào đó «Chính sách đổi mới không chỉ có quan hệ duy nhất với chính sách công nghiệp mà còn với cả chính sách KH&CN (Kondo, 2007)

“Quá trình đổi mới được hiểu là hoạt động tương hỗ từ nhiều tác nhân”,

(Charles Edquist, 1997) các tác nhân bao gồm các yếu tố thể chế và tổ chức cùng

nhau có thể gọi là “hệ thống đổi mới” như phương thức mới, tri thức mới, quá

trình, quy trình mới hoặc sản phẩm mới tất cả trong quan hệ hàng ngày với hoạt động kinh tế, sản xuất và thị trường, giữa các doanh nghiệp và khách hàng, các trường đại học, phòng NC&PT, hệ thống bằng sáng chế, thị trường lao động, hệ thống ngân hàng Như vậy, hoạt động đổi mới không chỉ gắn với chi tiêu cho NC&PT mà gắn với các tác nhân khác trong hệ thống đổi mới quốc gia Chính sách đổi mới có nội hàm tương đối rộng vì đặc điểm căn bản của chính sách đổi mới là tổ hợp” các chính sách

Chính sách đổi mới công nghệ thường không tách khỏi các chính sách đổi

mới khác Bên cạnh đấy bản thân công nghệ là sự tập hợp nhiều yếu tố, do đó chính sách đổi mới công nghệ được hiểu là sự tập hợp các chính sách kinh tế (cả

Trang 17

vĩ mô, trung mô và vi mô), chính sách công nghiệp, chính sách KH&CN, chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, chính sách kinh doanh, cạnh tranh bao trùm các hoạt động liên quan đến đổi mới công nghệ, đổi mới SP&QTCN

Thường Chính sách đổi mới công nghệ mang tính đột phá, đổi mới công nghệ

luôn phá vỡ một thị trường hiện tại, đổi mới để cải thiện một sản phẩm hoặc dịch

vụ theo những cách mà thị trường chưa có, chưa rõ hoặc không mong đợi, bằng cách giảm giá hoặc thiết kế sản phẩm mới cho một nhóm người tiêu dùng nhất định, trong một thời gian nhất định sau đó được phổ biến rộng rãi

1.2 Vị trí, vai trò của doanh nghiệp ngành công nghiệp trong nền kinh

tế quốc dân và hoạt động KH&CN

1.2.1 Vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong cơ cấu của nền kinh tế

Doanh nghiệp ngành công nghiệp (DNNCN) có vị trí đặc biệt to lớn trong nền kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới Hai cuộc cách mạng công nghiệp đã chứng minh cho điều này Ở các nước phát triển, ngành công nghiệp là

một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động

kinh doanh tiếp theo Hoạt động chế tạo, chế biến trở thành lĩnh vực tạo ra của cải cho nền kinh tế Sau cách mạng công nghiệp, một phần ba sản lượng kinh tế toàn cầu là từ các ngành công nghiệp chế tạo – vượt qua giá trị của hoạt động nông nghiệp

Ở Việt Nam, từ những năm 90 đến nay lĩnh vực công nghiệp đã được quan tâm nhiều hơn trước đây, việc chuyển dịch cơ cấu công nghiệp trong nền kinh tế

quốc dân cho thấy điều này Mục tiêu chiến lược phát triển KH-XH giai đoạn

2001-2010 tiếp tục đặt ra chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, trong GDP tỷ trọng

của nông nghiệp 16-17%, công nghiệp 40-41%, dịch vụ 42-43% Dự thảo mục tiêu chiến lược phát triển KH-XH giai đoạn 2011-2020 nêu “Bảo đảm ổn định

kinh tế vĩ mô Xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện

đại, hiệu quả Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85%

trong GDP Giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP Giá

trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp Nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao Tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30% lao động xã hội”

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong hơn 20 năm qua cho thấy vai trò của lĩnh vực công nghiệp ngày một quan trọng, trong đó doanh nghiệp ngành công nghiệp Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) GDP chín tháng năm 2010 ước tính tăng 6,52% so với chín tháng năm 2009 Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng

2,89%, đóng góp 0,49 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,29%,

đóng góp 3,02 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,24%, đóng góp 3,01 điểm

phần trăm Trong tổng sản phẩm trong nước 9 tháng, khu vực nông, lâm nghiệp và

Trang 18

thủy sản chiếm 21,09%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,85%; khu vực dịch vụ chiếm 38,06%

Nhiều quốc gia phát triển cho thấy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP, DNNC đóng vai trò rất to lớn, do đó khi đặt ra mục tiêu, các nước phải tiến hành thúc đẩy hoạt động đổi mới ở DNNC Phần lớn các nước OECD hỗ trợ NC&PT cho doanh nghiệp hoặc trực tiếp thông qua tài trợ hoặc cho vay hoặc gián tiếp thông qua khuyến khích thuế, tài trợ vốn ban đầu, thúc đẩy sự liên kết giữa khoa học và công nghiệp, giới thiệu, mở rộng chương trình hợp tác giữa các khu vực công và tư nhân, giữa các tổ chức KH&CN về hoạt động đổi mới công nghệ, SP&QTCN Thực tế ở Việt Nam cho thấy, ngành công nghiệp nói chung, DNNCN nói riêng đã được quan tâm, chú ý Tuy nhiên, DNNCN vẫn chưa có được sức cạnh tranh, năng lực đổi mới để có thể tạo ra sự đổi mới có tính đột phá

để đóng góp nhiều hơn nữa vào tỷ trọng GDP cũng như chiếm được thị phần, mở rộng phạm vi hàng hóa, sản phẩm ở thị trường trong và ngoài nước

1.2.2 Năng lực của doanh nghiệp và trách nhiệm của doanh nghiệp

OECD phân làm ba hoạt động chính là: NC&PT, công tác giáo dục và đào tạo KH&KT và dịch vụ KH&CN, hoạt động NC&PT và phát triển công nghệ (PTCN) là nhân tố chính, vì đó là hoạt động cơ bản nhất, đóng góp quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng kinh tế Vai trò của doanh nghiệp vừa là nhà đầu tư và

sử dụng NC&PT và PTCN Vị trí và vai trò của doanh nghiệp được chứng minh ở năng lực và trách nhiệm của doanh nghiệp

a Năng lực của Doanh nghiệp: là tích tụ rất nhiều NL như: mang tri thức,

nối mạng, thích ứng nhanh (hay phản ứng nhanh), tương tác và cạnh tranh, học hỏi-hiểu biết, lãnh đạo và quản lý, đổi mới, sản xuất NL vận hành, tiếp thu công nghệ, hỗ trợ cho tiếp thu công nghệ…trong giới hạn của nghiên cứu này, đề tài tập trung vào các dạng NL sau:

Năng lực công nghệ và năng lực đổi mới: là NL tập hợp các phương pháp,

quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực

thành sản phẩm NLCN của DN đòi hỏi phải có một lực lượng lao động có trình

độ nhất định và phương tiện lao động tương đối tốt (Oslo, 2004) Theo tài liệu hướng dẫn của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), chỉ số chung về năng lực công nghệ đối với các nước phát triển là 2 chỉ số thành phần (chỉ số sáng tạo công nghệ

và chỉ số về công nghệ thông tin - truyền thông); đối với các nước đang phát triển

là 3 chỉ số thành phần (chỉ số về đổi mới công nghệ, chỉ số chuyển giao công nghệ

và chỉ số công nghệ thông tin - truyền thông) Trung tâm Chuyển giao công nghệ châu Á - Thái Bình Dương (APCTT), khi tiến hành đánh giá năng lực công nghệ,

đã tập trung vào đánh giá các yếu tố: Nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân

lực, các hoạt động chuyển đổi công nghệ và cơ sở hạ tầng phát triển Năng lực đổi

mới của DN “Năng lực đổi mới bao gồm một tập hợp các nhân tố mà công ty có

hoặc không có, và các cách tổ hợp các nhân tố đó một cách có hiệu quả” (Oslo, 2004)

Trang 19

Năng lực đổi mới công nghệ: Trong bối cảnh hiện nay, NLĐMCN của

doanh nghiệp nói chung doanh nghiệp công nghiệp nói riêng có rất rộng, không chỉ thu hẹp ở đổi mới công nghệ mà còn bao gồm nhiều nhân tố, yếu tố và năng lực khác Theo Nghị định số 30/2006/NĐ-CP, ngày 29.3.2006 của Chính phủ về thống kê KH&CN, đã quy định nhóm chỉ tiêu về năng lực đổi mới công nghệ gồm: Các chỉ tiêu về các tổ chức KH&CN, các chỉ tiêu về đổi mới công nghệ, các chỉ tiêu về trình độ công nghệ trong sản xuất và các chỉ tiêu khác về năng lực đổi mới công nghệ Năm 2009, Nguyễn Hoàng Anh đã đề xuất 12 tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp: Ý tưởng về đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong 5 năm; Năng lực của nhân lực; Năng lực vốn cho đổi mới công nghệ; Năng lực hạ tầng công nghệ; Năng lực nghiên cứu và triển khai; Năng lực thông tin công nghệ; Năng lực cải tiến quy trình công nghệ; Năng lực cạnh tranh của sản phẩm; Năng lực tìm kiếm và lựa chọn công nghệ; Năng lực đàm phán công nghệ; Năng lực tiếp nhận và đưa công nghệ mới vào hoạt động; Năng lực về các thiết chế cho đổi mới công nghệ

Năng lực chuyển giao tri thức: NLCG cần ít người và những người đặc

biệt giỏi đó là những cá nhân chủ chốt của các công ty, những người này được đánh giá như ‘người gác cổng’ công nghệ chuyên môn, họ thường xuyên cập nhật thông tin, kiến thức KH&CN mới, được giáo dục và đào tạo bài bản để chuyển giao và nhận chuyển giao tri thức mới một cách tốt nhất Ngoài nhân tố con người,

các nhân tố văn hóa-xã hội đóng một vai trò rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến NL

học hỏi và chuyển giao tri thức của DN, đây là nhân tố nền tảng và rất quan trọng đối với hoạt động đổi mới hiệu quả ở DN

b Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đầu tư vào KH&CN

* Tạo dựng môi trường học hỏi: các doanh nghiệp phải luôn tiến hành quá

trình học hỏi trong nội bộ doanh nghiệp và các liên kết, cộng tác để đào tạo, CGCN với bên ngoài, tạo ra một xã hội học hỏi và tăng vốn hiểu biết, tri thức ngày một nhiều hơn (cả tri thức phổ thông và tri thức chuyên môn)

* Phát triển đầu vào cho NC&PT: Trước hết, đó là việc sử dụng các cán bộ

khoa học và kỹ thuật, nhân lực NC&PT trong và ngoài DN Phải sử dụng những chuyên gia có trình độ được đánh giá là “người gác cổng tri thức” làm cho hiệu ứng lan tỏa tri thức trong hệ thống DN, khu vực, quốc gia được phát triển mạnh

mẽ Đi cùng với việc sử dụng nhân lực là việc ứng dụng các kết quả NC&PT vào hoạt động đổi mới, các kết quả NC&PT được xác định là đầu vào cho đổi mới ở

DN Thứ hai, các DN có thể thực hiện NCCB để mở rộng tri thức liên quan đến hoạt động sản xuất, hoặc có thể tham gia nghiên cứu chiến lược để mở rộng phạm

vi các dự án ứng dụng và nghiên cứu ứng dụng nhằm cho ra những sáng chế cụ thể hoặc những cải tiến kỹ thuật hiện có hoặc phát triển các khái niệm sản phẩm

để nhận định các khái niệm đó có khả thi và phát triển hay không Thứ ba, mở rộng tri thức cho NC&PT, thực tiễn của hoạt động sản xuất kinh doanh là mảnh đất của nhiều ý tưởng mới cho hoạt động NC&PT, khi đã xác định được vấn đề phải tiến hành hoạt động đổi mới

* Phát triển dịch vụ KH&CN: Hoạt động đổi mới của doanh nghiệp là một

tập hợp các nhân tố, ngoài việc thu thập, sử dụng thông tin đầu vào cho đổi mới để

Trang 20

hình thành chiến lược cạnh tranh, doanh nghiệp còn tiến hành công tác tiếp thị, phổ biến các SP&QTCN mới qua nhiều kênh thị trường và phi thị trường, quá trình đòi hỏi các doanh nghiệp phải giới thiệu được tính năng mới của công nghệ mới, tính hữu ích và lợi ích KT-XH-MT đến công chúng

* Tìm ra sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp gần gũi: Đây là tham

số quan trọng cuối cùng quyết định lợi thế cạnh tranh của một ngành công nghiệp,

có nghĩa là phải xét đến sự tồn tại của các ngành công nghiệp liên quan có tiềm lực và sức cạnh tranh Sự năng động trong hoạt động đổi mới của một ngành công nghiệp phụ thuộc vào tính chất của môi trường công nghiệp nơi doanh nghiệp đó hoạt động

* Tăng chi phí của doanh nghiệp đầu tư cho NC&PT và hoạt động đổi mới:

Bao gồm chi phí lao động (tiền công và tiền lương hàng năm và toàn bộ chi phí liên quan đến phúc lợi), chi phí thường xuyên (mua vật liệu, cung ứng, dịch vụ, thiết bị trợ giúp các hoạt động đổi mới) Chi phí lắp đặt máy và thiết bị với tính năng cải tiến về công nghệ và chi phí cơ bản cho NC&PT được đánh giá là chi phí cho thực hiện đổi mới Dựa trên đặc điểm của doanh nghiệp, năng lực và trách nhiệm của họ, có thể nhận thấy doanh nghiệp đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đầu tư vào KH&CN, bởi họ là những người có sẵn tiềm năng lớn lao để

đi đến sự đổi mới, mạo hiểm góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế “Doanh nghiệp là nguồn then chốt của việc thúc đẩy, đổi mới và năng động đối với sự tăng trưởng kinh tế” (OECD, 2005)

Chính sách đổi mới hướng mục tiêu phát triển doanh nghiệp trên cơ sở đào tạo đội ngũ chủ chốt của doanh nghiệp (lãnh đạo, chuyên gia, kỹ sư ) sau khi đào tạo họ có thể phổ biến tri thức mới một cách có trình tự trong doanh nghiệp đồng thời bảo mật được những tri thức mới trong suốt quá trình sản xuất những sản phẩm mới Sự tăng trưởng bắt nguồn từ những yếu tố ngoại sinh được tạo ra trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các quá trình cải tiến, đổi mới của các đơn vị sản xuất Hợp tác và quan hệ chặt chẽ trong bộ phận doanh nghiệp, giảm tối đa sự ngăn cách giữa các bộ phận Những nhóm này được tự do giao tiếp trực tiếp với các đơn vị khác ở trong và ngoài doanh nghiệp mà không cần phải qua các nấc thứ bậc khác nhau Hình thức tổ chức mạng lưới này trở nên ngày càng hấp dẫn, đặc biệt là trong lĩnh vực thường xuyên đổi mới sản phẩm (Sako và Freeman)

Theo Robert Boyer và Michel Didier “Hoạt động đổi mới còn đi xa hơn nữa

so với hoạt động NCCB, nó có những qui luật riêng, những đặc thù riêng gắn bó với thị trường và với cả phòng thí nghiệm” và sự phân biệt này không làm giảm đi vai trò của các nhà nghiên cứu trong việc góp phần nâng cao trình độ KH&CN cơ bản, cũng không làm giảm đi vai trò của Nhà nước trong việc khuyến khích hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Hoạt động đổi mới mang tính nội sinh cao, sự khác nhau giữa hoạt động đổi mới chứng minh rằng, phần lớn thành tựu đổi mới đạt được đều bắt nguồn từ công tác nghiên cứu do doanh nghiệp tự tiến hành, tức

là nguồn từ bên trong doanh nghiệp

Trang 21

1.3 Đặc điểm các doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)

Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa

vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục

vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật

Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô lớn,

sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa" Theo nghĩa ngày,

những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở

thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế

1.3.1 Đặc điểm các doanh nghiệp ngành công nghiệp nói chung

Doanh nghiệp công nghiệp, cách hiểu chung nhất “Là đơn vị sản xuất và

dịch vụ với qui mô lớn, ở nghĩa hẹp hơn là đơn vị sản xuất hàng hóa vật chất với qui mô lớn” (Vương Quốc Hoàng, 2006) Cụ thể hơn, DNCN là những người/tổ

chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành công nghiệp (OECD, 2007)

Tất cả các ngành công nghiệp ở phạm vi rất rộng, ngành công nghiệp phụ thuộc vào các ngành liên quan đến hoạt động kinh tế Hiện nay, theo OECD DNCN tập trung ở bốn khu vực công nghiệp kinh tế trọng điểm: (i) Khu vực thứ nhất bao gồm các ngành tiểu thủ công nghiệp gốc (sơ khai) sản xuất sơ khai gồm

nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khai thác khoán sản-primary sector, là các

ngành sản xuất nguyên liệu thô như ngành công nghiệp khai khoáng sản, nông lâm, nghiệp; (ii) Khu vực thứ hai của nền kinh tế bao gồm các ngành liên quan

đến cải tiến, xây dựng và chế tạo-secondary sector; (iii) Khu vực thứ ba chính là

khu vực dịch vụ: giao thông, tài chính, ăn uống, du lịch, giải trí và phân phối hàng

hóa sản xuất-tertiary sector (iv) Khu vực thứ tư-khu vực tri thức: Hiện có xu

hướng tách một số ngành trong khu vực dịch vụ gồm giáo dục, nghiên cứu và phát triển, thông tin, tư vấn thành một khu vực riêng, các ngành liên quan đến sử dụng tri thức công nghiệp mới trọng tâm trên nghiên cứu công nghệ, thiết kế và phát

triển cũng như các chương trình máy tính và sinh hóa-quaternary sector (v) các ngành công nghiệp không vụ lợi-quinary sector nonprofit activities

Trang 22

Mô hình các ngành công nghiệp của Clark

Khu vực chế tạo là một bộ phận trong khu vực thứ hai của nền kinh tế, bao gồm các ngành sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh và có thể sử dụng cũng như sản xuất vật liệu xây dựng Khu vực này thường sử dụng các sản phẩm của khu vực sơ khai (hay khu vực thứ nhất của nền kinh tế) làm đầu vào để sản xuất ra các sản phẩm công nghệ tiêu dùng Khu vực chế tạo có thể phân thành hai tiểu khu vực là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ

Xu hướng ngày nay, các nước đã công nghiệp hóa giảm công nghiệp hóa (Deindustrialization), gia tăng hiện đại hóa Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều hàm lượng tri thức vào hoạt động sản xuất nhằm đổi mới sản phẩm thông qua việc đầu tư nhiều vào NC&PT như các ngành: Công nghiệp nhẹ-công nghiệp nặng, công nghiệp chuyên sâu, công nghiệp hóa chất, công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp đóng gói, công nghiệp chế biến, ngành công nghiệp phần mềm, công nghiệp giấy,

2010 Tư liệu sản xuất

2020 Thương mại và dịch vụ chuyên nghiệp

4520 Công nghệ phần cứng&Trang thiết bị

8 Công nghệ thông tin

4530 Chất bán dẫn&Trang thiết bị chất bán dẫn

9 Dịch vụ truyền thông 5010 Dịch vụ truyền thông

10 Ngành phục vụ công cộng 5510 Ngành phục vụ công cộng

Nguồn: Tổ chức OECD, năm 2007

1.3.2 Đặc điểm các doanh nghiệp ngành công nghiệp phần mềm, dệt may, chế biến thực phẩm

Ngành công nghiệp phần mềm ra đời từ những năm 1960 ở các nước phát

triển Tuy nhiên ở Việt nam mới phát triển gần đây từ năm 2000 cho đến nay Vai

Trang 23

trò của công nghiệp phần mềm đối với ngành công nghiệp nói riêng các ngành lĩnh vực nói chung rất quan trọng

Ngành dệt may: là một ngành công nghiệp truyền thống của Việt Nam, phù

hợp với năng lực, thể lực trình độ, tiềm lực của Việt Nam, ngành đã đứng vị trí thứ 10 trên thế giới

Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm: là một ngành công nghiệp truyền

thống kết tinh từ giá trị, kinh nghiệm, kiến thức bản địa với công nghệ và tri thức mới

Ngành công nghiệp phần mềm là một ngành công nghiệp hiện đại đòi hỏi hàm lượng tri thức, bí quyết rất nhiều, không cần nhiều đến nhân lực, nhưng tạo ra

sự đổi mới và cạnh tranh rất cao (từ các phần mềm thiết kế, vẽ kỹ thuật công nghiệp, quản lý, giải trí, truyền thông, máy tính, mở hoặc khoá công nghệ ) Đây

là một ngành đưa ngành công nghiệp đổi mới toàn bộ, từng phần từ sản phẩm công nghệ đến qui trình công nghệ, phát triển mạnh trong các lĩnh vực CNTT, cơ khí, điện tử, tin học…Ngành dệt may xuất và công nghiệp chế biến thực phẩm xuất phát từ ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống đòi hỏi nhân lực nhiều hơn tài lực nhưng đòi hỏi sự đổi mới công nghệ không ngừng

Ba ngành công nghiệp lựa chọn nghiên cứu trường hợp có đặc điểm quan trọng là nhu cầu đổi mới công nghệ không ngừng, ngành công nghiệp phần mềm đòi hỏi sản phẩm công nghệ mới để cạnh tranh và phát triển, ngành công nghiệp dệt may và thực phẩm đòi hỏi nhiều ứng dụng công nghệ mới, sử dụng công nghệ mới của ngành công nghiệp phần mềm để cạnh tranh và nâng cao năng lực đổi mới, tuy nhiên trên thực tế các ngành này thiếu chính sách khuyến khích, liên kết

hỗ trợ nhau Cho đến nay ngành công nghiệp phần mềm đã được xác định là một ngành quan trọng được đầu tư và ưu đãi rất lớn (Thông tư số 123/2004/TT-BTC ngày 22/12/2004 của Bộ Tài chính, đầu tư của Chính phủ từ nay đến năm 2012 là

980 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp sẽ được phân bổ thực hiện 18 nhóm nội dung thuộc Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và Chương

trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam)

Vị trí, vai trò của 03 ngành công nghiệp, hiện 03 ngành đã được Chính phủ

quyết định là những ngành công nghiệp ưu tiên và mũi nhọn giai đoạn 2007-2010

và tầm nhìn đến 2020 (Quyết định 55/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 4 năm 2007) Ngành công nghiệp phần mềm được xác định là công nghiệp mũi nhọn, là ngành phát triển trong lĩnh vực công nghệ cao, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển KH&CN, KT-XH Ngành công nghiệp dệt may và công nghiệp chế biến thực phẩm được Chính phủ xác định là ngành công nghiệp ưu tiên, hiện nay đã có chiến lược phát triển, xếp thứ 10 thế giới về xuất khẩu may nếu có chính sách thích hợp ngành dệt may sẽ có triển vọng ở vị trí cao hơn có thể là “xưởng may của thế giới”

Đóng góp của 03 ngành đối với sự phát triển kinh tế (GDP) có khác nhau,

so với các ngành khác nhau Việc tìm hiểu, so sánh là cần thiết trong nghiên cứu

Trang 24

và đánh giá 03 ngành không đại diện cho toàn bộ ngành công nghiệp nhưng là bức tranh để phân tích các loại ngành công nghiệp (truyền thống, hiện đại) Vấn

đề quan trọng của chính sách đổi mới là thúc đẩy và khuyến khích các ngành công nghiệp phát triển và đóng góp vào tăng trưởng GDP và phát triển xã hội Việc một ngành nào đó không đóng góp lớn và không phát triển theo mục tiêu đề ra cần tìm hiểu nguyên nhân căn bản, từ đó đề xuất chính sách mới phù hợp

2 Thực tiễn về xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp

Xu hướng chính trong xây dựng chính sách đổi mới quốc gia về KH&CN là gia tăng hoạt động đổi mới không chỉ có công nghệ mà còn nhiều hoạt động KH&CN của Chính phủ tại các cấp doanh nghiệp trong việc đầu tư NC&PT, phát triển công nghệ nhằm giúp các doanh nghiệp không chỉ thực hiện đổi mới công nghệ thông qua chuyển giao và mua bán mà còn sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao Đổi mới là yếu tố quyết định quan trọng của tăng trưởng kinh tế trong thời đại mở rộng thị trường tự do giảm chi phí chuyển giao, truyền thông và KH&CN cao Điều này được nhìn thấy rõ ràng trong quan

hệ giữa NC&PT và tăng năng xuất sản xuất

2.1 Kinh nghiệm của các nước trong xây dựng chính sách đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp ngành công nghiệp (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan)

Trong nền kinh tế tri thức, những doanh nghiệp có nhiều tri thức hơn sẽ giành được nhiều ưu thế trong cạnh tranh Kinh nghiệm của các nước phát triển,

để cạnh tranh phải có chính sách xã hội hóa hoạt động ban đầu giúp doanh nghiệp đầu tư vào việc tạo ra tri thức, trên cơ sở đó mới tiến hành đổi mới công nghệ Tính chất của cạnh tranh đòi hỏi phải có chiến lược và chính sách lựa chọn nhanh chóng và hiệu quả, đầu tư cho NC&PT là chủ đạo, điều này được chứng minh ở hầu hết các nước OECD, ví dụ ở Mỹ năm 2004 tổng chi tiêu cho NC&PT đạt 729

tỷ đô la, tăng 10% so với năm 2000 Những năm gần đây Mỹ được xếp là nước có tốc độ tăng chi tiêu cho NC&PT lớn nhất (4% một năm), sau đó đến Nhật Bản (2,1% một năm) và EU (2,3% một năm), quy mô NC&PT đạt 3,13% GDP của Nhật Bản, và 2,268% GDP của Mỹ, EU 1,81% GDP là chủ yếu rất ít nước thuộc

EU đạt 3%GDP So sánh với mức đầu tư cho KH&CN của các nước này, mức đầu

tư cho KH&CN của Việt Nam hiện nay còn quá khiêm tốn

1.2.1 Trường hợp của Nhật Bản

Các chính sách đổi mới KH&CN của Nhật Bản đã có các thay đổi lớn qua nhiều năm, đây là một kết quả của sự đổi mới trong tư duy, hành động của các tổ chức trong hệ thống từ bộ, ngành và các cơ quan chính phủ đi kèm cải cách hành chính, tạo ra các cơ chế tài trợ mới trên cơ sở xây dựng các mối quan hệ hợp tác với các ngành công nghiệp Bên cạnh đó, chính sách đổi mới của Nhật Bản đã chuyển từ dạng cho và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sang để doanh nghiệp tự đổi mới công nghệ Chính sách đổi mới công nghệ nhấn mạnh vào việc gia tăng mức

Trang 25

Hoạt động nghiên cứu Hỗ trợ thực hiện

nghiên cứu

độ phù hợp chiến lược đổi mới công nghệ từ đó chính sách đổi mới có một phạm

vi rộng hơn phạm vi ứng dụng trước đây đó là đa dạng tập hợp các công cụ chính sách xảy ra

Tri thức KH&CN

Chỉ đạo

nghiên cứu Tích lũy và

hệ thống hóa

các nghiên

khám phá

Hình 1 Mô hình truyền thống Doanh nghiệp KH&CN và chính sách KH&CN

Sự chuyển đổi trong chính sách KH&CN chỉ ra rằng các cơ chế, chính sách trong hoạt động khoa học-công nghệ-doanh nghiệp và sản xuất tri thức đã thay đổi đáng kể Nói cách khác, trong khi truyền thống làm việc KH&CN (xem hình 1) là tương tác giữa các kiến thức, thực hiện dưới hình thức "KH&CN" và công việc

"nghiên cứu", sang một khung mới cho KH&CN làm việc (xem hình 2) đáp ứng nhu cầu KT-XH trên cơ sở hoạt động chuyên môn, trong đó không chỉ kiến thức KH&CN mà còn với các ứng dụng chuyên môn và liên quan thiết thực Chính phủ Nhật Bản đã phê duyệt kế hoạch KH&CN đầu tiên vào tháng 7 năm 1996 trên cơ

sở Luật KH&CN năm 1995 chính sách đổi mới KH&CN được hình thành, là cơ

sở cho việc:

a Xác định vấn đề chính sách đổi mới:

(i) Chính phủ ưu tiên KH&CN và khuyến khích nghiên cứu cơ bản, NC&PT, chuyển giao công nghệ qua đó để đưa lại sức sống của nền kinh tế và tăng cường tính cạnh tranh Mục tiêu KT-XH phải gắn với mục tiêu của KH&CN sâu hơn, rõ ràng hơn để các nỗ lực sẽ được cơ cấu theo hướng lớn hơn những vấn

đề của Chính phủ và các nhu cầu của xã hội

(ii) Xây dựng lại doanh nghiệp NC&PT Nhật Bản Các kế hoạch KH&CN hiện tại được nhằm vào việc phát triển lĩnh vực công nghiệp phần mềm đặc biệt lĩnh vực CNTT như phát triển điện thoại di động trong một môi trường cạnh tranh hơn Nhấn mạnh việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực NC&PT khan hiếm, bản chất của kinh tế trong tương lai, tính cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu

(iii) Thiết lập một hệ thống đánh giá tương thích trên toàn thế giới Hệ thống đánh giá đã được thành lập năm 1997 theo nguyên tắc tổng quát

Trang 26

(iv) Cải cách hành chính Sau việc thực hiện kế hoạch KH&CN, các viện nghiên cứu quốc gia được quyết định cấu trúc lại, Hội đồng KH&CN được thành lập, hệ thống KH&CN được tổ chức quản lý lại Đó là những kỳ vọng cao, cải cách này giúp chuyển đổi toàn bộ hoạt động NC&PT doanh nghiệp có hiệu quả

Phạm vi thúc đẩy các hoạt động hợp tác

Chính sách KH&CN

Hoạt động

NC

Áp dụng tri thức kinh nghiệm

Đáp ứngcác nhu cầu

Hỗ trợ thực hiện NC

Chỉ đạo NC

Áp dụng tri thức

KH&CN Phân loại các nhu cầu NC Nhu cầu KT-XH

Hình 2 Mô hình mới của Doanh nghiệp KH&CN và chính sách KH&CN

b Hỗ trợ của Chính phủ cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ trong khu vực tư nhân Chính phủ xác định khuyến khích NC&PT trong khu vực doanh

nghiệp để tiến hành đổi mới công nghệ là một thách thức lớn Năm 2003, Chính phủ đã tiến hành cải cách căn bản hệ thống khuyến khích cho NC&PT bằng cách khấu trừ 8-10% thuế của toàn bộ các khoản chi tiêu cho NC&PT, đồng thời giảm thêm khoản tín dụng 2% tạm thời để khắc phục tình trạng suy thoái kinh tế

Sáng kiến chính sách lớn thúc đẩy mối quan hệ giữa khu vực hàn lâm và công nghiệp: (i) Tăng cường cộng tác nghiên cứu khi trường đại học quốc gia được cải cách thành công ty năm 2004, nhiều công ty nhận thấy cộng tác với khu vực công nghiệp là nhiệm vụ cốt lõi của mình trong kế hoạch quản lý trung hạn Các qui định cộng tác giữa khu vực nghiên cứu và doanh nghiệp được nới lỏng, và

sự bãi bỏ quy định đã tạo điều kiện cho môi trường thực hiện các hoạt động độc đáo của mình (ii) Cộng tác NC&PT giữa khu vực công nghiệp và hàn lâm đã được tăng cường hàng năm, ví dụ năm 2004 số NCPT cộng tác tăng lên 10.728 trường hợp-đây là lần đầu tiên con số này vượt quá 10.000 Số nghiên cứu được ủy nhiệm

đã tăng hơn 15.000 trường hợp (iii) Một số đơn vị các trường đại học ký kết hợp đồng cộng tác toàn diện không chỉ đối với từng dự án mà đối với sự hợp tác chung, các doanh nghiệp được phép tiếp cận thông tin các kết quả nghiên cứu (iv) Từ

Trang 27

năm 2006 đến nay các dự án của Bộ kinh tế, thương mại và công nghiệp và các bộ

hữu quan đã lập kế hoạch cộng tác nhiều hơn với các cụm tri thức ở quốc gia và

địa phương, trên cơ sở tận dụng tri thức của các trường đại học, thúc đẩy mạnh mẽ

hợp tác giữa khu vực công nghiệp, hàn lâm và chính phủ

1.2.2 Trường hợp của Hàn Quốc

Xây dựng chiến lược hành động và tầm nhìn cho phát triển KH&CN đến

năm 2025 đã được Chính phủ Hàn Quốc thực hiện từ năm 1999 Tầm nhìn 2025

có 40 nhiệm vụ và 20 đề xuất đã được thiết kế để hướng dẫn việc chuyển đổi nền

kinh tế phát triển cao và thành công thông qua sự phát triển KH&CN Để tầm nhìn

2025 có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã lập bản đồ cho kế hoạch KH&CN 5

năm Kế hoạch này từ những công việc đã hoàn thành trước đây (2001) phục vụ

cho kế hoạch giai đoạn đầu kế hoạch 5 năm cho đổi mới KH&CN Mục tiêu kế

hoạch là có được KH&CN dẫn đầu năm 2006, tiếp theo kế hoạch là chiến lược: (i)

Trong phát triển KH&CN “lựa chọn và tập trung” (ii) Tạo ra sự sáng tạo trong

khoa học và kỹ thuật (iii) Liên kết hệ thống đổi mới trong nước với hệ thống toàn

cầu (iv) Nâng cao sự hiểu biết công và đầu tư trong KH&CN (v) Hiệu quả của

việc sử dụng các nguồn NC&PT

Chính sách đổi mới xuất phát từ các mục tiêu KT-XH chủ yếu của quốc gia

và gắn với mục tiêu chương trình NC&PT Năm 2004, Bộ KH&CN đưa ra chính

sách đổi mới, thay đổi cả tầm nhìn, kế hoạch, hợp tác và các chương trình NC&PT

cụ thể Trọng tâm nhiều cho nghiên cứu khoa học cơ bản từ việc gia tăng ngân

sách 23.7% trong tổng ngân sách cho NC&PT năm 2006 (năm 2005 là 21.5%)

Bảng 2: Ngân sách chi cho NC&PT của Chính phủ cho các Bộ

(Unit: KRW 1 billion)

Các mục Ngân sách 2005 Ngân sách 2006 % gia tăng

-NC&PT năng lượng nguyên tử và Hệ thống an toàn 51 38 -26.0

-Hội đồng nghiên cứu KH&CN chủ chốt 178 203 13.7

-Hội đồng nghiên cứu KH&CN cho công nghiệp 244 271 11.0

-Hội đồng nghiên cứu KH&CN công 290 311 7.5

Mục tiêu của chính sách đổi mới công nghệ là tăng cường năng lực công

nghệ và cạnh tranh Các chương trình bao gồm lĩnh vực NC&PT cho thế kỷ 21,

Trang 28

nghiên cứu sáng tạo, phòng thí nghiệm quốc gia, phát triển công nghệ vũ trụ, công

nghệ Nano và công nghệ sinh học, năng lượng nguyên tử Gia tăng chi tiêu cho

NC&PT từ 89.7 tỷ USD trong năm 2006 tăng hơn 15% so với năm 2005 (năm

2005 là 81%), còn lại 19% từ các quỹ NC&PT công ích Để có thể tác động đến

sự phát triển KH&CN, Chính phủ đã: Đào tạo nguồn nhân lực cho KH&CN;

Chính sách đổi mới quan hệ trong các DN, tổ chức KH&CN; Chính sách đổi mới

đi từ bắt chước đến sáng tạo (sao chép các công nghệ tiên tiến đến tạo ra công

Bộ Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực 877 975 11.1

Văn phòng quản lý doanh nghiệp SMEs 231 268 16.1

Nguồn: Bộ KH&CN Hàn Quốc, năm 2007

Hoạch định/phân công các hoạt động đổi mới từ chính sách đổi mới: Trong

hệ thống KH&CN, Thủ tướng ủy quyền cho Hội đồng chính sách KH&CN quốc

gia (NSTC) là chủ tịch và NSTC ủy quyền cho MOST và 13 Bộ liên quan đến

KH&CN và 9 đại diện từ các cộng đồng KH&CN khác trực tiếp tiến hành các

hoạt động NSTC ảnh hưởng rất lớn đến các chương trình NC&PT và ngân sách

MOST là thường trực cho NSTC thông qua đặt một văn phòng đổi mới KH&CN

(OSTI) có trách nhiệm quản lý và sắp xếp tất cả chính sách KH&CN, các dự án

NC&PT quốc gia, chính sách công nghiệp và quản lý nguồn nhân lực có liên quan

đến đổi mới KH&CN và chính sách đổi mới công nghệ vùng Đứng đầu OSTI là

thứ trưởng của MOST, sẽ điều tiết một số vấn đề trọng tâm: Định hình (forming)

hệ thống NC&PT chuẩn bị cho KH&CN trong tương lai; Thúc đẩy hiệu quả đầu

tư và phân bổ ngân sách; Hỗ trợ sự phát triển các ngành công nghiệp; Phát triển kế

hoạch lâu dài cho một chương trình NC&PT quốc gia; Phát triển nguồn nhân lực

KH&CN trong hoạt động KH&CN vùng Cố vấn thứ hai, Chủ tịch Hội KH&CN

là các chuyên gia ở các tổ chức phi Chính phủ và đại diện cho các hiệp hội

KH&CN, các thành phần tư nhân Trách nhiệm của MOST là thực hiện đầy đủ

hợp tác hiệu quả KH&CN với quốc gia

Hàn Quốc có 3 thành phần tư nhân lớn là viện NC&PT hoạt động độc lập từ

các công ty mẹ ví dụ như LG-Elite và Viện công nghệ cao Samsung với hàng

Trang 29

nghìn các nhà khoa học và kỹ sư Các tập đoàn lớn ở Hàn Quốc như (KT Corp,

SK Group, Hyundai Motors, Hynix) tất cả đều chính thức có các trung tâm NC&PT quốc tế trên cơ sở các công ty Từ NSTC có ba hội đồng KH&CN liên quan giám sát các hoạt động của Chính phủ Viện nghiên cứu hỗ trợ của Chính phủ (GRIs) Hội nghiên cứu KH&CN công nghiệp, Hội nghiên cứu công nghệ công, Hội nghiên cứu KH&CN cơ bản Đây là hệ thống quan trọng cho nghiên cứu hoạt động sản xuất, thúc đẩy liên kết giữa các tổ chức và gia tăng sự chuyển giao và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Mặt dù vậy vẫn phụ thuộc MOST Bộ KH&CN đóng góp tài chính cho NC&PT nhiều nhất so với các thành phần công khác, tiếp theo là Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp và năng lượng và Bộ Quốc phòng

1.2.3 Trường hợp của Thái Lan

Khác với một số nước, tương tự như Đài Loan và Trung Quốc ở giai đoạn

đầu phát triển KH&CN, cơ chế, chính sách đổi mới ban đầu của Thái Lan chủ yếu

là thúc đẩy và khuyến khích đầu tư FDI vào KH&CN thông qua cơ chế hợp tác và

tham dự của các bên có liên quan từ những năm 1970 cho đến 1990 Từ những năm 90 đến nay, Chính phủ khuyến khích khu vực tư nhân sử dụng công nghệ chuyển giao từ FDI, liên kết và phát triển KH&CN với phát triển công nghiệp

Mục tiêu của Thái Lan là đạt số lượng các DN có thực hiện đổi mới công nghệ tăng 35% và tổng giá trị các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng tri thức cao, đạt mức bình quân của OECD Các công nghệ ưu tiên là: Công nghệ sinh học, tin học và truyền thông, vật liệu và công nghệ nano Thái Lan đã đề ra một chiến lược phát triển KH&CN với năng lực nội sinh và đổi mới để tăng sức cạnh tranh của khu vực công nghiệp Phát triển nhân lực KH&CN, đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu của tương lai về số lượng và chất lượng Phổ biến và thúc đẩy phát triển các cụm sản phẩm trong những ngành ưu tiên, gồm có nông nghiệp, thực phẩm, điện tử, thiết kế phần mềm, ô tô, chăm sóc sức khỏe, thời trang và năng lượng Tăng cường phát triển kinh tế vùng thông qua thúc đẩy sản xuất và dịch vụ Đẩy mạnh phát triển các công nghệ sạch để bảo tồn một môi trường thiên nhiên lành mạnh

Chính sách đầu tư cho NC&PT và nhân lực KH&CN: Năm 2003, Thái Lan

đã sử dụng 15.500 triệu baht cho NC&PT, bằng 0,26% GDP (trong đó, 7.364 triệu baht thuộc ngân sách của Chính phủ) Nghiên cứu ứng dụng chiếm phần lớn NC&PT (46,4%), tiếp theo là triển khai thực nghiệm (35%) và nghiên cứu cơ bản (18,6%) Trong khu vực DN tư nhân, chiếm phần lớn nhất là chi phí triển khai thực nghiệm (53,%), tiếp theo là nghiên cứu ứng dụng (37,7%) và nghiên cứu cơ bản (9,3%) NC&PT trong KH&CN so với NC&PT trong khoa học xã hội có tỷ lệ 85/15 NC&PT trong công nghệ và kỹ thuật chiếm phần lớn nhất (37,6%), tiếp theo là khoa học nông nghiệp (20,2%), khoa học tự nhiên (15,9%), khoa học xã hội (13,5%), khoa học y dược (11,1%) và nhân văn (1,7%) Chi phí cho NC&PT của Thái Lan thấp hơn Mỹ và nhiều nước khác Mỹ, Đức khoảng từ 2,2-2,96%; Trung Quốc khoảng 1,24 đến 1,94%; phần lớn chi phí NC&PT của Thái Lan thuộc về khu vực Chính phủ Nhân lực quy đổi tương đương của Thái Lan là 2,9

Trang 30

nghiên cứu viên/10.000 dân, thấp hơn nhiều nước Phần Lan, Thụy Điển, Nhật Bản có khoảng 50-70; Mỹ, Xingapo, Canađa, Đức và Hàn Quốc là 30-46; Pháp và Anh khoảng 27,0-29,1; Trung Quốc 6,3; Malaixia 4,3; Philipin 2,1

1.2.4 Trường hợp của Malaysia

Trong số các nền kinh tế mới nhờ công nghiệp hoá, Malaysia đã gắn kết những nỗ lực toàn diện để xây dựng một hệ thống đổi mới quốc gia Tuy nhiên, họ gặp nhiều khó khăn ở giai đoạn đầu đổi mới, năm 1987, các chính sách đổi mới của Malaysia theo định hướng đổi mới công nghệ ít có sự can thiệp của Chính phủ

đã không thành công Do đó, Chính phủ đã xây dựng năng lực thể chế một cách thường xuyên cho các mục tiêu đầy tham vọng về phát triển công nghệ, để đủ tạo

ra hiệu quả, cơ sở hạ tầng cho việc triển khai và thu hút công nghệ tiên tiến từ nước ngoài Với thực trạng mối liên kết giữa khu vực công, công nghệ và các cơ quan, doanh nghiệp tư nhân có nhiều hạn chế Chính phủ Malaysia đã có nhiều nỗ lực để cải tiến hệ thống nhân lực KH&CN quốc gia và các yếu tố công nghệ như cam kết về đổi mới, thay đổi vai trò của Chính phủ đối với công nghệ phát triển trong nước và ở các nước đang phát triển Tài chính không phải là công cụ chính thức cho đổi mới công nghệ mà quan trọng là quốc gia cần phải làm là khuyến khích đầu tư vào NC&PT trong các doanh nghiệp, các lĩnh vực Thực tế cho thấy các công cụ tài chính như thuế, ưu đãi và tài trợ nghiên cứu có tầm quan trọng nhất định, cần phải được đặt ra, quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực

Nhờ chiến lược vận dụng thích hợp tiến bộ KH&CN vào phát triển kinh tế

xã hội, Malaysia đang trỗi dậy, trở thành một trong những nước hàng đầu khu vực trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là mở mang phát triển dịch vụ để đứng trong nhóm 20 nước hàng đầu thế giới về thương mại Phát triển kinh tế dựa vào KH&CN, thành công ấn tượng Chính phủ bắt đầu tự do hoá nền kinh tế với những nới lỏng về đầu tư, tư nhân hoá hoạt động kinh doanh và các công ty nhà nước Trong khuôn khổ “chương trình phát triển mới” còn gọi là tầm nhìn 2020, Malaysia có tham vọng vươn lên để đứng trong hàng ngũ các nước phát triển Từ tầm nhìn 2020, chiến lược tăng trưởng kinh tế Malaysia đã chú trọng vào các ngành công nghệ cao và những hoạt động tri thức nhằm làm chủ các công nghệ mũi nhọn như ICT,

vi điện tử, công nghệ sinh học, khoa học về sự sống, thực phẩm, vật liệu mới và các ngành liên quan đến môi trường, năng lượng để đủ sức cạnh tranh toàn cầu, trở thành nước đóng góp chứ không chỉ tiêu dùng tri thức và công nghệ Phát triển theo hướng này, kế hoach 5 năm lần thứ 7 (1996-2000) và thứ 8 (2001-2006) đã coi trọng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực để tạo sự giàu có, thịnh vượng vươn lên một tầm cao mới Với mức thu nhập bình quân đầu người đạt trên 4.000USD, ngày nay Malaysia đã đứng trong nhóm 20 nước hàng đầu thế giới về thương mại

Phân tích tình hình dịch vụ ở Malaysia, các nhà nghiên cứu nhận thấy, công nghệ thông tin truyền thông (ICT) là lĩnh vực tăng trưởng mạnh, giữ vai trò quan trọng nhất để mở rộng xuất khẩu dịch vụ Đến nay, đã thu hút được trên 1.200 doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ trong nước, công ty đa quốc gia và nhiều công ty

Trang 31

đầu tư nước ngoài tham gia ICT đã làm thay đổi bộ mặt thương mại toàn cầu được ghi nhận đó là nguồn lực giàu sức cạnh tranh trong khu vực

Từ năm 1986 đến nay, Malaysia đã thực hiện 2 chiến lược KH&CN quốc gia Trong vòng 16 năm, chính sách KH&CN lần thứ nhất (NSTP I 1986) đã phát triển KH&CN thành một hệ thống vững chắc, lồng ghép được vào lập kế hoach phát triển cả nước, tạo nền móng và củng cố kết cấu hạ tầng KH&CN cho giai đoạn sau Cam kết quốc gia về KH&CN được biểu thị ở mức độ đầu tư của cả Chính phủ và khu vực công nghiệp đối với công nghệ mới để tăng cường năng lực cạnh tranh Nguyên tắc phải đảm bảo là tối ưu hoá việc huy động nguồn lực vào những ưu tiên chiến lược; nâng cao năng lực KH&CN quốc gia thông qua giáo dục đào tạo và học tập suốt đời; thúc đẩy các mối liên hệ đối tác giữa các cơ quan nghiên cứu của Chính phủ, các đại học, công nghiệp và quốc gia khác để tăng cường hiệu quả

NSTPII chú trọng thiết lập cách tiếp cận phát triển tổng hợp (giữa khu vực Chính phủ và các ngành công nghiệp ) nhằm nâng cao năng lực KH&CN quốc gia Với tiếp cận này, mục tiêu đầu tư NC&PT phải đạt 1,5% GDP và bình quân

cả nước phải có 60 nhà KH&CN trên 1 vạn lao động vào năm 2010 Nhằm tối đa hoá các lợi ích kinh tế-xã hội, mũi nhọn chiến lược của NSTPII tập trung vào Nâng cao năng lực nghiên cứu và tiềm lực công nghệ Theo các chương trình và những lĩnh vực ưu tiên (IRPA), nguồn đầu tư của nhà nước cho KH&CN tăng lên đáng kể Malaysia đặt mục tiêu tăng đầu tư của cả Chính phủ và khu vực tư nhân, tập trung vào phát triển kết cấu hạ tầng và thành lập các cơ sở nghiên cứu trong siêu hành lang truyền thông đa phương tiện (MSC)

Thành công của quá trình đổi mới được quyết định bởi khả năng biến ý tưởng và tri thức thành sản phẩm và dịch vụ mà thị trường cần; đây là tác nhân chủ yếu để củng cố mối liên kết giữa sáng tạo tri thức và nơi cần sử dụng Để mở rộng liên kết này, Chính phủ thành lập cơ quan phát triển kinh doanh thuộc Bộ KH&CN và Môi trường nhằm đẩy mạnh thương mại hoá và phổ biến kết quả nghiên cứu Chương trình đối tác giữa khu vực Chính phủ và ngành công nghiệp

đã giành cho các nhà nghiên cứu một khung thời gian để trợ giúp kỹ thuật cho các công ty

Nhằm phổ biến và ứng dụng rộng rãi công nghệ, gắn hoạt động NC&PT với thị trường để thích nghi và hoàn thiện công nghệ, khu vực tư nhân được khuyến khích trong kinh doanh mạo hiểm dưới hình thức đầu tư NC&PT và cộng đồng nghiên cứu được định hướng lại hoạt động của mình theo nhu cầu của thị trường Theo chương trình này, một uỷ ban đặc biệt được thành lập để đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực dịch vụ kỹ thuất Uỷ ban có trách nhiệm hỗ trợ phát triển

hệ thống dịch vụ trợ giúp kỹ thuật mang tính thương mại nhằm đáp ứng những nhu cầu của công nghiệp hoá

Nét nổi bật của chính sách đổi mới là việc đầu tư vào những tài sản vô hình như giáo dục-đào tạo, NC&PT và nâng cao kỹ năng quản lý Số liệu thống kê cho thấy, Malaysia đã mở rộng nhanh những cơ sở đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp

Trang 32

ứng đủ nhu cầu các nhà KH&CN trong 10 năm tới (ngoài giáo dục cơ bản 11 năm,

cả nước hiện có 37 trường đại học công, tư và trên 600 trường cao đẳng và những

cơ sở dạy nghề ) Với cách tiếp cận lâu dài trên phạm vi rộng, Malaysia đặc biệt coi trọng phát triển, nâng cao trình độ nguồn nhân lực để tập trung hỗ trợ cho các chương trình nghị sự KH&CN

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, công nghệ là một quá trình tiến hoá, biến đổi nhanh và thị trường cũng không ngừng thay đổi Để duy trì năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, những công nghệ then chốt cho tương lai là điều vô cùng quan trọng Với nhận thức này, NSTP II 2003, quan tâm tạo lập cơ sở tri thức vững chắc cho các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, giành nhiều ưu tiên cho các chương

trình nghiên cứu công nghệ mới ở những ngành đem lại lợi ích kinh tế cao Chính

phủ khuyến khích thành lập và phát triển doanh nghiệp dựa vào công nghệ mới,

xây dựng đầu mối quốc gia cho từng lĩnh vực nhằm khai thác, tăng cường phát triển tri thức công nghệ mới và kết quả nghiên cứu của nước ngoài

Để nâng cao hiệu quả và tăng trưởng kinh tế lâu bền, NSTP2 tập trung vào những giải pháp nhằm tăng cường năng lực NC&PT và nâng cao trình độ KH&CN quốc gia Theo đó, mối quan hệ giữa các tổ chức Chính phủ với khu vực

tư nhân và các công ty đã được củng cố; năng lực nội sinh đã đẩy nhanh việc chuyển hoá tri thức thành sản phẩm Nhờ vậy, việc cung cấp công nghệ mới trong những ngành chiến lược then chốt như CNSH, CNTTTT, năng lượng, vật liệu mới

và dược phẩm ngày một cao hơn KH&CN Malaysia có nhiều hứa hẹn để nâng cao năng suất và tính hiệu quả của nền kinh tế

Phát triển khoa học và đổi mới công nghệ là một cấu phần quan trọng trong những chiến lược tổng thể phát triển KT-XH ở mọi quốc gia Chính sách KH&CN thực hiện trên 20 năm qua của Malaysia đã nâng cao năng lực tri thức và trình độ công nghệ, góp phần tích cực phát triển kinh tế và củng cố mối liên kết giữa khu vực nhà nước với tư nhân và cộng đồng KH&CN Năng lực công nghệ nội sinh của các ngành công nghệ đã trở thành nhân tố chủ yếu trong phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp giữ vai trò động lực NSTP Malaysia đã tạo khuôn khổ năng động và hiệu quả để tăng cường cơ sở vật chất KH&CN Thành công gắn KH&CN với phát triển KT-XH từ những định hướng chính sách quốc gia của Malaysia có nhiều nguyên nhân, song quan trọng là Chính phủ đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của toàn xã hội

Các chương trình nâng cao nhận thức và hiểu rõ giá trị của KH&CN đối sự tồn vong của đất nước là một động thái quan trọng để tạo lập môi trường sáng tạo, đổi mới và kinh doanh công nghệ Những sáng kiến đặc thù của Chính phủ nhằm thúc đẩy 1 nền văn hoá tôn vinh khoa học đổi mới kinh doanh công nghệ đã được thực hiện thông qua 5 trung tâm KH&CN vùng Hoạt động của những trung tâm này đã tăng cường nhận thức, làm cho quần chúng hiểu rõ để khắc sâu văn hoá KH&CN trong hệ thống giáo dục và sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng

để tuyên truyền, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động của các chương trình

Trang 33

KH&CN Đây cũng là giải pháp có hiệu quả để khuyến khích sáng tạo; thiết kế, chế tạo và ứng dụng thành công nhiều kết quả nghiên cứu của KH&CN Malaysia

Phân tích chính sách kịp thời và trách nhiệm toàn diện của Chính phủ là một nhân tố quan trọng để thực hiện thành công các NSTP Hệ thống quản lý chương trình nghị sự KH&CN quốc gia được xác định rõ trong hệ thống đổi mới quốc gia(NIS) Hệ thống này đã thu hút đước các tổ chức liên kết cùng tham gia riêng lẻ vào phát triển và phổ biến công nghệ mới NIS cung cấp một khuôn khổ chính sách do Chính phủ hoạch định nhằm tác động một cách hệ thống đến quá trình đổi mới Trong đó, củng cố bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; tăng thêm các nguồn lực cần thiết để bộ này đảm bảo việc hoạch định và thực thi chính sách KH&CN có hiệu quả và nâng cao vai trò toàn diện của Hội đồng Quốc gia về NC&PT nhằm đảm bảo tính hữu hiệu của hệ thống tư vấn điều phối KH&CN đã được coi trọng

Phổ biến công nghệ là việc làm quan trọng để tạo lập môi trường cho hoạt động KH&CN Thực hiện chính sách phổ biến công nghệ rộng khắp đã giúp hoạt động NC&PT gắn bó với thị trường Nhằm tăng cường tối đa hiệu quả, tư nhân là khu vực được khuyến khích mạo hiểm kinh doanh Đây cũng là việc làm thích hợp để thích ứng và hoàn thiện nhanh những công nghệ mới NSTP2 của Malaysia nhằm hướng tới một khuôn khổ năng động và hiệu quả để đạt mục tiêu tối đa Những kết quả ban đầu trong mở mang, phát triển các ngành dịch vụ và thương mại đã mở ra những triển vọng tốt đẹp để nâng cao năng lực cạnh tranh

của nền kinh tế trong hội nhập toàn cầu

1.2.5 Trường hợp của Đài Loan

Cơ chế, chính sách trước đây (thập niên 50-70), chủ yếu kêu gọi FDI và phát triển giáo dục, trao đổi chuyên gia, thời kỳ này, tiềm lực KH&CN trong nước còn rất yếu, Đài Loan nhận được FDI từ Mỹ và Hoa Kiều là chính Sau thời kỳ này có có các chính sách lớn quan trọng:

(1) Chính sách KH&CN là tiếp thu công nghệ hiện đại và từng bước nâng cao trình độ công nghệ gắn liền với phát triển kinh tế Đẩy mạnh hợp tác hoạt động nghiên cứu giữa Viện-Trường-DN, nhờ đó các công ty Đài Loan có thể chỉ trong vòng mấy tháng đã thay đổi được sản phẩm của mình thích ứng với yêu cầu của thị trường

(2) Chính sách phát triển tổ chức KH&CN dẫn đầu: ITRI là một viện

nghiên cứu nổi tiếng của Đài Loan, là trung tâm nghiên cứu lớn nhất Đông Á Có đội ngũ chuyên gia hùng hậu tới 4000 người và nhiều phòng thí nghiệm hiện đại Chức năng của ITRI được xác định:

Giảm bớt những trở ngại ngăn cản các SMEs hoà nhập vào thị trường ITRI

đã giúp các DN từng bước xây dựng NLCN trong lĩnh vực điện tử và bán dẫn (ITRI kịp thời sản xuất những sản phẩm mẫu rồi chuyển giao cho các DN) Tìm kiếm và phát hiện ra các sản phẩm và công nghệ quan trọng, tiến hành sản xuất thử như trường hợp chế tạo vi mạch trong linh kiện bán dẫn Đóng vai trò “lò ủ”

Trang 34

(Ineubator) trước khi hình thành DN mới Một mặt Viện nhận các sinh viên tốt nghiệp đại học về tiếp tục đào tạo, mặt khác Viện khuyến khích các nhân viên của mình thành lập ra những DN mới Bằng việc khuyến khích các kỹ sư rời viện để lập DN, ITRI đã phá vỡ khoảng cách giữa Viện nghiên cứu và sản xuất, giữa cơ hội công nghệ và cơ hội thị trường Tham gia vào đầu tư phát triển các DN mới Quỹ của Viện được thành lập từ năm 1988 đã là nguồn đầu tư đáng tin cậy cho các DN có phương án kinh doanh táo bạo vào những công nghệ mới, đổi mới công nghệ

(3) Phát triển công viên KH&CN: Công viên khoa học Tân Trúc (Hsinchu),

được bắt đầu xây dựng năm 1980, thành lập trong bối cảnh Đài Loan đang thực hiện chiến lược phát triển tăng tốc theo hướng công nghiệp hoá, khu Tân Trúc có các nhiệm vụ và chức năng: Thu hút đầu tư vào các công ty công nghệ cao của Đài Loan và Hỗ trợ sự phát triển của công nghiệp công nghệ cao tại Đài Loan Sau 15 năm, Khu Tân Trúc đã thực sự trở thành đầu tầu thúc đẩy sự phát triển của Đài Loan Khu Tân Trúc đã góp phần thay đổi cơ cấu công nghiệp của đất nước Chính phủ định hướng và lựa chọn các công nghệ tiên tiến, công nghệ dẫn đầu, thúc đẩy khu vực tư nhân cùng đầu tư với chính phủ Đặc biệt khuyến khích SMEs bằng sự hỗ trợ kinh phí (80-90%) đối với các hợp đồng nghiên cứu cùng thực hiện với Viện ITRI Tạo cơ chế cho vay tiền để doanh nghiệp đầu tư KH&CN, đổi mới công nghệ thuận lợi như trả chậm và lãi xuất rất thấp

2.2 Mục tiêu, các điều kiện xây dựng chính sách đổi mới công nghệ

Mục tiêu của hoạt động đổi mới công nghệ nhằm thay đổi/tăng hiệu quả, năng suất, chất lượng, vị trí cạnh tranh, thị phần của doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực cụ thể thay thế sản phẩm, mở rộng phạm vi sản phẩm, phát triển các sản phẩm,

mở ra các thị trường mới, nâng cao tính linh hoạt của sản phẩm, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc Mục tiêu của đổi mới

công nghệ gắn liền với tiến bộ công nghệ “Tiến bộ công nghệ tạo nên từ các hoạt

động đổi mới, bao gồm đầu tư phi vật chất như NC&PT, bản thân nó tạo nên cơ hội cho việc đầu tư trực tiếp vào năng lực sản xuất” (OECD, 2004)

2.2.1 Mục tiêu xây dựng chính sách đổi mới công nghệ

a Mục tiêu các chính sách

(1) cho phép các công ty chiếm được nhiều “tri thức phổ biến” đó là cách gia tăng sự đầu tư của các DN vào NC&PT

(2) giảm sự sao chép trong việc đầu tư giữa các công ty

(3) đẩy mạnh sự cộng tác để tiết kiệm kinh phí trong đầu tư NC&PT (4) gia tăng sự thương mại hoá các công nghệ mới

(5) làm thuận lợi và tăng chuyển giao các kết quả nghiên cứu từ các trường đại học hoặc phòng thí nghiệm công đến khu vực công nghiệp

(6) hỗ trợ việc sử dụng NC&PT từ các hãng công nghiệp

Trang 35

(7) hỗ trợ việc sáng tạo các công nghệ tương trong các ngành công nghiệp với dẫn đường NC&PT một ngành công nghiệp và gắn liền sự đầu tư công ích và

tư nhân

Chính sách đổi mới những năm 90 cho đến nay của các nước phát triển là thu hút các DN cùng đầu tư vào các chương trình, dự án lớn Phát triển hệ thống dịch vụ KH&CN ngay tại nơi có các chương trình, dự án đầu tư

b Mục tiêu của hoạt động đổi mới

Mục tiêu chung đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế của quốc gia, doanh

nghiệp, ngành, lĩnh vực Theo OECD, mục tiêu kinh tế thể hiện dưới dạng sản phẩm và thị trường và việc công ty đánh giá như thế nào một loạt các mục tiêu mà quá trình đổi mới có thể mang lại trong tương lai gần

• Mở ra các thị trường mới: ở nước ngoài và trong nước

• Nâng cao tính linh hoạt của sản phẩm

• Giảm chi phí bằng cách: giảm chi phí đơn vị lao động; giảm tiêu thụ vật liệu; giảm tiêu thụ năng lượng; giảm tỷ lệ sản phẩm hỏng; giảm chi phí thiết

kế sản phẩm; giảm số lần sản xuất dẫn đường

• Nâng cao chất lượng sản phẩm

• Cải thiện điều kiện làm việc (giảm tác hại môi trường)

Từ những mục tiêu trên, các DNCNC không ngừng gia tăng hoạt động đổi mới, trong đó có đổi mới công nghệ Cạnh tranh quốc tế thúc đẩy các hoạt động đổi mới, vào đầu những năm 90, Hội đồng kinh tế Châu Âu đã đưa ra chiến lược đổi mới để tăng cường khả năng cạnh tranh với Mỹ bằng cách đổi mới các hoạt động của DNNCN và lĩnh vực KH&CN, giáo dục và đào tạo trên nguyên lý chung

là tương tác giữa các tác nhân trong hệ thống «Quá trình đổi mới được hiểu là hoạt động tương hỗ từ nhiều tác nhân» (Charles Edquist, 1997) các tác nhân bao gồm các yếu tố thể chế và tổ chức cùng nhau có thể gọi ‘hệ thống đổi mới’ như phương thức mới, tri thức mới, quá trình, hoặc sản phẩm tất cả trong quan hệ hàng ngày với hoạt động kinh tế, sản xuất và thị trường, giữa các doanh nghiệp và khách hàng, các trường đại học, phòng NC&PT, hệ thống bằng sáng chế, thị trường lao động, hệ thống ngân hàng Như vậy, hoạt động đổi mới không chỉ gắn với chi tiêu cho NC&PT mà gắn với các tác nhân khác trong hệ thống đổi mới

Trang 36

quốc gia

2.2.2 Các điều kiện và thể chế chung của chính sách đổi mới

a Xây dựng khung pháp luật: Để có chính sách đổi mới hay để chính

sách đổi mới thực thi vào cuộc sống, đa số các nước đều xây dựng khung pháp luật để tạo môi trường thuận lợi cho chính sách đổi mới được thực hiện, Chính phủ có vai trò điều tiết các chính sách như kinh tế, cạnh tranh, thị trường, thương mại, không chỉ khuyến khích “bên cầu” tiếp cận công nghệ thông qua các biện pháp chính sách công nghiệp mà còn khuyến khích “bên cung” là nơi tạo ra và chuyển giao các kết quả NC&PT, năng lực công nghệ thông qua các chính sách KH&CN bằng cách:

• Xây dựng khung pháp lý hoặc môi trường pháp lý đảm bảo cho quá trình phát triển KH&CN, kinh tế-xã hội

• Thúc đẩy hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học và công nghiệp như: hợp tác NC&PT, chia sẻ năng lực nghiên cứu, tăng cường hiệu quả các chương trình khuyến khích để thúc đẩy NC&PT công nghiệp, tăng cường bảo hộ SHTT

• Tăng cường chi tiêu từ khu vực công nghiệp cho NC&PT

• Mở rộng sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính cho các DN và các DN khởi nghiệp bằng cách: công nhận tài sản tri thức/công nghệ như là tài sản thế chấp để vay ngân hàng; hỗ trợ việc làm cho đội ngũ cán bộ NC&PT cũng như các dịch vụ khác

b Các bộ phận cấu thành (OECD, 2004): Hệ thống giáo dục cơ sở cho

quảng đại quần chúng, hệ thống này xác lập tiêu chuẩn giáo dục tối thiểu cho lực lượng lao động và thị trường tiêu thụ nội địa

Cơ sở hạ tầng liên lạc, bao gồm đường xá, điện thoại, liên lạc điện tử

Thể chế tài chính, cho phép xác lập chẳng hạn sự tiếp cận dễ dàng đến các

nguồn vốn đầu tư mạo hiểm

Khung cảnh, luật pháp và kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như luật sáng chế, thuế,

các qui định về quản lý doanh nghiệp và các chính sách liên quan đến lãi suất tiết kiệm, tỷ giá ngoại tệ, thuế xuất khẩu và cạnh tranh

Sự tiếp cận thị trường, kể cả khả năng thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với

khách hàng cũng như các vấn đề như qui mô thị trường và sự dễ dàng tiếp cận thị trường

Cấu trúc các ngành và môi trường cạnh tranh, kể cả sự tồn tại của các công

ty cung ứng trong các ngành sản xuất hỗ trợ

Về nguyên tắc, chính sách đổi mới để thực thi được vào thực tiễn, cần có môi trường thể chế vì "Thể chế còn là cách tổ chức thực hiện các qui tắc và quy phạm đạo đức nhằm đạt được các kết quả mong muốn Các chính sách ảnh hưởng tới việc thể chế nào sẽ thay đổi, còn thể chế ảnh hưởng tới việc chính sách nào sẽ

Trang 37

được áp dụng" (Douglass C.North) Hiện nay một số luật, chính sách liên quan đến chính sách đổi mới: Luật KH&CN; Luật tài chính; Luật SHTT; Luật cạnh tranh; Các nguyên tắc hướng dẫn việc quản lý các vấn đề SHTT; Mẫu cấp giấy phép hợp đồng; Thuế DN; Thuế cá nhân (thuế thu nhập từ việc khai thác đối tượng sở hữu trí tuệ) Không phải quốc gia nào cũng có đầy đủ các hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động KH&CN, đổi mới công nghệ, tuy nhiên việc xây dựng hệ thống pháp luật là rất cần thiết nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho chính sách đổi mới được thực thi có hiệu quả

c Các nhân tố chuyển giao: Nhân tố con người được đánh giá là nhân tố

đặc biệt quan trọng, OECD cho rằng các nhân tố chuyển giao có ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của các mối liên kết, các luồng trao đổi thông tin và kỹ năng, sự tiếp thu học hỏi bao gồm: các quan hệ chính thức và không chính thức giữa các công ty; sự hiện diện của những “người gác cổng” công nghệ chuyên môn, hay những người cảm nhận công nghệ, yếu tố người gác cổng chuyên môn đóng vai trò quan trọng đối với đổi mới trong nội bộ công ty; các mối liên hệ quốc tế là một

bộ phận quan trọng của mạng lưới qua đó thông tin được truyền dẫn, đặc biệt vai trò của các chuyên gia sẽ ảnh hưởng đến tốc độ lan truyền của các phát triển mới;

sự hình thành các công ty spin-off, thường kéo theo sự chuyển giao các cá nhân có trình độ; các nguyên tắc xử thế, hệ thống giá trị cộng đồng, sự tin cậy và cởi mở

có ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả của các mạng lưới, các mối liên hệ và các kênh liên lạc khác; tri thức được mã hóa trong các bằng sáng chế, tài liệu chuyên môn và tạp chí khoa học

d Động lực của đổi mới: Trong bối cảnh phát triển và cạnh tranh quốc tế

hiện nay, khái niệm đổi mới rất rộng, Robert Boyer đã nêu đổi mới không chỉ bao hàm những khía cạnh thuần túy mang tính kỹ thuật, mà còn bao hàm cả đổi mới

về tổ chức, phương thức sản xuất, kinh doanh, quản lý tài chính Một hệ thống phức tạp các nhân tố định hình đổi mới ở cấp công ty được gọi là “động lực đổi mới” (OECD, 2004), tuy nhiên để đổi mới các DN phải có năng lực đổi mới, trình

độ chiến lược và trình độ tổ chức, có thể trực tiếp NC&PT hoặc không nhưng phải tham gia vào các hoạt động như có thể nhận dạng khái niệm sản phẩm mới và công nghệ mới sản xuất, có thể phát triển các dự án dẫn đường và sau đó phát triển phương tiện sản xuất ở mức tổng thể Có thể mua thông tin kỹ thuật, trả lệ phí tiền hoặc bản quyền cho các sáng chế đã được cấp bằng, hoặc mua bí quyết kỹ năng thông qua tư vấn kỹ thuật và thiết kế các loại khác nhau, đào tạo nội bộ nhân lực hoặc thuê mướn, phát triển học hỏi trong nội bộ công ty, đầu tư vào trang thiết

bị qui trình hoặc các đầu vào trung gian, tổ chức lại hệ thống quản lý, toàn bộ hệ thống SX và các phương pháp SX…“Ngày nay, tri thức dưới mọi hình thức đóng vai trò quan trọng trong các quá trình kinh tế Do vậy khung chính sách cần trọng

tâm vào năng lực đổi mới, tạo ra tri thức và sử dụng tri thức của các nền kinh tế

OECD Trong một nền kinh tế dựa trên tri thức, đổi mới được xem là có vai trò trung tâm’(Oslo, 2004)

Trang 38

e Cơ sở KH&KT bao gồm: Tri thức khoa học và kỹ năng rất quan trọng

cho đổi mới, theo OECD các yếu tố này tập trung và phát triển ở các tổ chức KH&CN công, các tổ chức này đóng vai trò vật dẫn hiệu quả tại địa phương, đồng thời cung cấp nhân lực có tay nghề để giữ vị trí then chốt liên quan đến đổi mới, cung cấp các nguồn tư vấn chuyên gia và hợp tác tiến bộ công nghệ quan trọng Các bộ phận của cơ sở khoa học và kỹ thuật quốc gia gồm: Hệ thống đào tạo kỹ thuật chuyên ngành; Hệ thống trường đại học; Hệ thống hỗ trợ nghiên cứu cơ bản; Các hoạt động NC&PT mang tính hàng hóa công; Các hoạt động NC&PT mang tính chiến lược-tài trợ các chương trình và tổ chức được định hướng vào “NC&PT tiền cạnh tranh” hay công nghệ nguồn; Hỗ trợ đổi mới không sinh lợi

g Các chính sách liên quan đến chính sách đổi mới

• Chính sách phát triển nguồn nhân lực cho đổi mới

• Cấu trúc lại cơ sở hạ tầng công nghệ: có hai biện pháp chính (i) trực tiếp

nhằm khuyến khích hợp tác giữa trường ĐH/viện NC&PT và DN (ii) gián tiếp như hình thành và phát triển công viên khoa học, thung lũng công nghệ, cực công nghệ, trung tâm xuất sắc,…cũng là những biện pháp thích hợp của việc liên kết chặt chẽ giữa khu vực hàn lâm và công nghiệp

• Các biện pháp khuyến khích về tài chính cho đổi mới: Tài trợ nghiên

cứu; Tài chính cho phát triển doanh nghiệp (như Vốn mạo hiểm, vốn mồi ); Khuyến khích thuế cho NC&PT trong công nghiệp

• Thúc đẩy ngành công nghiệp có vốn mạo hiểm: dưới các hình thức như

quỹ đầu tư đầu tư mạo hiểm, bảo trợ kinh doanh và một số hình thức khác Một số công cụ tài chính khác như khuyến khích thuế, tín dụng, hỗ trợ tài chính trực tiếp

• Đơn giản hoá các thủ tục hành chính: Những biện pháp thường được sử

dụng trong một số nước là dịch vụ thông tin chuyên nghiệp, dịch vụ thông tin pháp luật, dịch vụ đào tạo, dịch vụ thị trường chứng khoán, vốn vay, bảo lãnh vốn vay,…

• Sở hữu trí tuệ (SHTT): Các phát minh, sáng chế luôn cần được bảo hộ

và công bố theo 2 cách: đưa đến khả năng khai thác một công nghệ mới và thứ hai phổ biến đến công chúng những thông tin chi tiết liên quan đến những phát minh

2.3 Nội hàm của chính sách đổi mới công nghệ (đổi mới sản phẩm, qui trình công nghệ)

Theo OECD, hoạt động đổi mới ở doanh nghiệp công nghiệp là hoạt động Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ (SP&QTCN) Yêu cầu tối thiểu là các sản phẩm hoặc qui trình phải mới (hoặc cải thiện đáng kể) đối với công ty (nhưng không nhất thiết phải mới đối với thế giới), các hoạt động ban đầu và thứ cấp cũng được xét đến và đổi mới qui trình trong các hoạt động phụ thuộc cũng vậy

Các thành phần chính của đổi mới SP&QTCN:

Đổi mới sản phẩm công nghệ ở hai dạng: (i) Các sản phẩm mới về công

nghệ là sản phẩm có đặc trưng công nghệ hoặc có công dụng dự kiến khác đáng

Trang 39

kể so với các sản phẩm đã sản xuất trước đó, có thể bao gồm các công nghệ hoàn

toàn mới, có thể dựa trên sự tổ hợp của các công nghệ hiện tại với công dụng mới,

hoặc có thể tạo ra từ ứng dụng tri thức mới (ii) Các sản phẩm cải tiến về công

nghệ là sản phẩm hiện có nhưng tính năng được cải tiến hoặc nâng cấp đáng kể

Một sản phẩm đơn giản có thể được cải tiến qua việc sử dụng các bộ phận hoặc

nguyên liệu có tính năng tốt hơn, hoặc một sản phẩm phức tạp với nhiều hệ thống

kỹ thuật con được tích hợp có thể được cải tiến từ những thay đổi thành phần của

một trong các hệ thống con

Đổi mới qui trình công nghệ là việc tiếp thu các phương pháp sản xuất

mới hoặc cải tiến đáng kể về công nghệ, kể cả các phương pháp phân phối SP, có

thể bao gồm các trang thiết bị hoặc trong tổ chức sản xuất, hoặc tổ hợp các thay

đổi đó, và có thể bắt nguồn từ việc sử dụng tri thức mới Các phương pháp có thể

nhằm hoặc phân phối các SP mới hoặc cải tiến về công nghệ mà nếu sử dụng các

phương pháp sản xuất thông thường không thể sản xuất và phân phối được, hoặc

thực sự tăng hiệu suất xản xuất và phân phối các sản phẩm hiện có Có sự khác

biệt giữa đổi mới SP&QTCN với đổi mới khác, và các thay đổi khác trong công ty

hoặc ngành được phân biệt với đổi mới tổ chức và các thay thế khác trong sản

phẩm và qui trình Đổi mới tổ chức trong công ty bao gồm đưa ra các cơ cấu tổ

chức có thay đổi đáng kể về đầu ra như tăng năng suất lao động hoặc tăng doanh

Mới đối với thể giới

Mới đối với công ty

Đã có ở công ty

hoặc các cải tiến

Nguồn: Tài liệu hướng dẫn OSLO, năm 2005

Ghi chú: * Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ, # Đổi mới khác, - Không đổi mới

Việc tổ chức lại hoàn toàn công ty là ‘đổi mới tổ chức’ việc tổ chức lại

trang thiết bị sản xuất công ty là đổi mới SP&QTCN Các thay đổi khác trong

SP&QT đó là thay đổi không đáng kể, nhỏ hoặc không tạo ra đủ mức độ mới, tạo

nên các ‘cải tiến sáng tạo khác’ trong đó tính mới không liên quan đến công dụng

hoặc các đặc tính hiệu năng khách quan của sản phẩm, hoặc theo cách ma sản

Trang 40

phẩm được sản xuất và phân phối, mà chỉ liên quan đến tính chất thẩm mỹ và các tính chất chủ quan khác

2.4 Cách thức phổ biến chính sách đổi mới công nghệ đến doanh nghiệp ngành công nghiệp

2.4.1 Phổ biến chính sách đổi mới công nghệ thông qua đầu tư

Ở các nước phát triển, việc phổ biến chính sách đổi mới công nghệ gắn liền với kế hoạch đầu tư các chương trình, đề tài, dự án cho các tổ chức KH&CN và doanh nghiệp, với mục tiêu lớn là gia tăng hàm lượng tri thức vào hoạt động sản

xuất, trọng tâm của phổ biến là NC&PT Phổ biến NC&PT được Krugman

(1991) đã đề xuất cho công việc đo lường công nghệ tạo thành một cơ chế sẵn có

để đo lường tác động động đầu tư trở lại của xã hội cho NC&PT Việc đo lường

sự phổ biến NC&PT thường kết nối với việc thực hiện sự đo lường (Năng suất các yếu tố tổng hợp-Total Factor of Productivity-TFP), số bằng sáng chế, và trích dẫn) trên cơ sở của hai loại NC&PT khác nhau (Griliches,1979):

Phổ biến Chi phí: loại này xảy ra khi trở lại từ việc đổi mới không thể

chiếm được đầy đủ nếu không đổi mới từ việc chiếm vị trí độc quyền Loại xuất hiện này do lợi ích đổi mới của khách hàng từ việc giảm chi phí hoặc cải tiến quá trình hoặc sản phẩm

Phổ biến Tri thức: Loại này là kết quả của tri thức hàng hóa công cộng

Khi tri thức mới hoặc công bố ý tưởng hoặc thương mại sáng chế, sản phẩm mới, thông thường dựa trên tri thức là được mở rộng Sử dụng cách tiếp cận này, cho việc nghiên cứu các dự án tái đầu tư xã hội có thể đo lường hiệu quả thông qua kinh tế Sự hạn chế của phương pháp này không thể khái quát hết được tỷ lệ đầu

tư xã hội trên cơ sở thành công đổi mới duy nhất

2.4.2 Phổ biến đổi mới công nghệ trong nội bộ doanh nghiệp

Hoặc bắt buộc hoặc tự nguyên để tiến hành một hoạt động đổi mới SP&QTCN, DN cần phải tiến hành chuyển giao tri thức mới trong nội bộ Những kiến thức cơ bản được phổ biến một các rộng rãi trong nội bộ DN tạo ra sự tương tác giữa các thiết chế trong nội bộ, điều này liên quan đến chuyển giao bí quyết, khác với cách phổ biến tri thức một cách tự nhiên và thông thường, việc chuyển giao tri thức mới với những bí quyết mới ‘nhân tố quan trọng đối với sự cạnh tranh’ của DN, thì không thể tràn ra trong tất các bộ phận của DN, chỉ có thể ở một số bộ phận quan trọng và chủ chốt

Liên kết và nối mạng các bộ phận trong nội bộ nhằm kích thích quay vòng công việc giữa các bộ phận Hợp tác theo mô hình nhóm, dự án cụ thể không có

sự ràng buộc cấp bật, thâm niên hay chức vụ Những nhóm này được tự do giao tiếp trực tiếp với các đơn vị khác ở trong và ngoài DN mà không cần phải qua các nấc thứ bậc khác nhau Hình thức tổ chức mạng lưới này trở nên ngày càng hấp dẫn, đặc biệt là trong lĩnh vực thường xuyên đổi mới sản phẩm (Sako và Freeman)

Tài liệu hướng dẫn đo lường đổi mới của Oslo đã chỉ rõ sự dễ dàng trong giao tiếp, các kênh thông tin hiệu quả, sự chuyển giao tay nghề và tích lũy tri

Ngày đăng: 26/05/2014, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. CHXHCN Việt Nam – SRV (1999) Nghị định của Chính phủ về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ, Nghị đinh số 119/1999/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ
Tác giả: CHXHCN Việt Nam – SRV
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
12. CHXHCN Việt Nam – SRV (2000) Luật Khoa học và Công nghệ, thông tin từ trang mạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và Công nghệ
Tác giả: CHXHCN Việt Nam – SRV
Năm: 2000
16. Daniel Chudnovsky&Andres Lopez, CENIT. Enterprise Dynamics: Key Issues within an Innovation Systems Approach. June, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enterprise Dynamics: Key Issues within an Innovation Systems Approach
Tác giả: Daniel Chudnovsky, Andres Lopez
Nhà XB: CENIT
Năm: 1997
17. Dodgson, Mark and John Besssant. Effective Innovation Policy: A New Approach. -London: International Thompson Business Press, năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effective Innovation Policy: A New Approach
Tác giả: Mark Dodgson, John Besssant
Nhà XB: International Thompson Business Press
Năm: 1996
18. Hồ Sỹ Hùng (2009) Tổng quan năng lực công nghệ và nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, Tài liệu Hội thảo Quốc tế: Thực trạng, giải pháp và kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường công nghệ để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, Hà Nội 21/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan năng lực công nghệ và nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Tác giả: Hồ Sỹ Hùng
Nhà XB: Tài liệu Hội thảo Quốc tế
Năm: 2009
19. Lê đăng Doanh (2007) Con đường phát triển kinh tế Việt Nam và đòi hỏi về các chính sách công nghiệp thích ứng, Tài liệu hội thảo về chính sách công nghiệp Việt nam trong bối cảnh hội nhập, Viện Chiến lược và Chính sách Công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường phát triển kinh tế Việt Nam và đòi hỏi về các chính sách công nghiệp thích ứng
Tác giả: Lê đăng Doanh
Nhà XB: Viện Chiến lược và Chính sách Công nghiệp
Năm: 2007
20. Llerena, Patrick; Matt, Mireille (Eds.). Innovation Policy in a Knowledge - Based Economy - Theory and Practice With contributions by numerous experts, năm 2005, XI, 362 p. 15 illus, Hardcover, ISBN: 978-3-540-25581-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Innovation Policy in a Knowledge - Based Economy - Theory and Practice
Tác giả: Patrick Llerena, Mireille Matt
Năm: 2005
21. Nguyễn Hoài Giang, Trần Văn Bình, Phạm Minh Việt, Mô hình dữ liệu trong quản lý, đánh giá công nghệ cho các doanh nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân, Tạp chí Khoa học và công nghệ, 2007, tập số 45- (số 4), tr. 27-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình dữ liệu trong quản lý, đánh giá công nghệ cho các doanh nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân
Tác giả: Nguyễn Hoài Giang, Trần Văn Bình, Phạm Minh Việt
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và công nghệ
Năm: 2007
22. Nguyễn Hoàng Anh: Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Tạp chí hoạt động KH&CN số 12.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng lực đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Nhà XB: Tạp chí hoạt động KH&CN
Năm: 2009
23. Nguyễn Quốc Tòng (2008) Thị trường khoa học và công nghệ, Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Quốc Tòng
Nhà XB: Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
25. Nguyễn Việt Hòa (2007) Nghiên cứu tác động của cơ chế, chính sách công đến khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ, Đề tài nghiên cứu cấp bộ 2005, NISTPASS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của cơ chế, chính sách công đến khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Việt Hòa
Nhà XB: NISTPASS
Năm: 2007
26. Nguyễn Việt Hòa. Nghiên cứu sự cộng tác giữa các tổ chức NC&PT nhà nước và doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. –Hà nội:, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự cộng tác giữa các tổ chức NC&PT nhà nước và doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Việt Hòa
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
30. Trần Văn Tùng, Đinh Việt Bách:“Một số chính sách mới đối với tổ chức KH&CN và doanh nghiệp KH&CN”. Tạp Chí Hoạt động KH&CN, Số tháng 11.2010, tr-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách mới đối với tổ chức KH&CN và doanh nghiệp KH&CN
35. Trần Việt Hùng (2006) Nhu cầu và khả năng tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp, Đề tài độc lập cấp Nhà nước ĐTĐL-2003/22, Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu và khả năng tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp
Tác giả: Trần Việt Hùng
Nhà XB: Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội
Năm: 2006
36. Trung tâm Chuyển giao công nghệ châu Á - Thái Bình Dương (APCTT), Atlas công nghệ (1998), Phương pháp lập kế hoạch phát triển năng lực công nghệ, tập 5: Đánh giá năng lực công nghệ, Trung tâm Thông tin tư liệu KH&CN quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas công nghệ
Tác giả: Trung tâm Chuyển giao công nghệ châu Á - Thái Bình Dương (APCTT)
Nhà XB: Trung tâm Thông tin tư liệu KH&CN quốc gia
Năm: 1998
39. Youngtai Luo (2004): Phát triển thị trường KH&CN Trung Quốc, Chính sách phát triển kinh tế: kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc, Nxb Giao thông Vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị trường KH&CN Trung Quốc, Chính sách phát triển kinh tế: kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc
Tác giả: Youngtai Luo
Nhà XB: Nxb Giao thông Vận tải
Năm: 2004
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Kết luận số 234-TB/TW ngày 1.4.2009 Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) về KH&CN và nhiệm vụ, giải pháp phát triển KH&CN từ nay đến năm 2020 Khác
2. Bengt-Åke Lundvall, Susana Borrás. The globalising learning economy: Implications for innovation policy. Report based on contributions from seven projects under the TSER programme DG XII, Commission of the European Union. December 1997 Khác
3. Bengt-Ake Lundvall. National Systems of Innovation Towards a Theory of Innovation and Interactive Learning. -London and New York, 1992 Khác
4. Bộ Công Thương (2006). Báo cáo tổng hợp kết quả đánh giá trình độ công nghệ các ngành công nghiệp, Vụ Khoa học, Công nghệ, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Ngành công nghiệp toàn cầu (GICS), được cấu trúc từ 10 ngành, 24  nhóm công nghiệp - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Bảng 1. Ngành công nghiệp toàn cầu (GICS), được cấu trúc từ 10 ngành, 24 nhóm công nghiệp (Trang 22)
Hình 1. Mô hình truyền thống Doanh nghiệp KH&CN và chính sách KH&CN - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Hình 1. Mô hình truyền thống Doanh nghiệp KH&CN và chính sách KH&CN (Trang 25)
Bảng 3: Ngân sách các Bộ được Chính phủ chi cho NC&PT - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Bảng 3 Ngân sách các Bộ được Chính phủ chi cho NC&PT (Trang 28)
Bảng 4. Dạng và mức độ mới và định nghĩa đổi mới - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Bảng 4. Dạng và mức độ mới và định nghĩa đổi mới (Trang 39)
Hình 3: Hoạt động đánh giá công trong phạm vi chính sách kinh tế - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Hình 3 Hoạt động đánh giá công trong phạm vi chính sách kinh tế (Trang 47)
Hình 4: Ma tr n đánh giá m t toán kinh t - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Hình 4 Ma tr n đánh giá m t toán kinh t (Trang 49)
Sơ đồ đổi mới tổ chức và quản lý của Mô hình Tập đoàn Dệt May Việt Nam - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
i mới tổ chức và quản lý của Mô hình Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Trang 63)
Bảng 7. Số doanh nghiệp đang hoạt động SXKD phân theo ngành kinh tế - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Bảng 7. Số doanh nghiệp đang hoạt động SXKD phân theo ngành kinh tế (Trang 79)
Bảng 8. Chi ngân sách Trung ương của từng bộ, cơ quan trung ương năm 2010 - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Bảng 8. Chi ngân sách Trung ương của từng bộ, cơ quan trung ương năm 2010 (Trang 81)
Bảng 9. Chi ngân sách Trung ương của từng bộ, cơ quan trung ương năm 2010 - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Bảng 9. Chi ngân sách Trung ương của từng bộ, cơ quan trung ương năm 2010 (Trang 82)
Bảng 10. Chí phí NC&PT/Lợi nhuận trước thuế - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Bảng 10. Chí phí NC&PT/Lợi nhuận trước thuế (Trang 82)
Bảng 11. Các loại chi phí đầu tư cho hoạt động đổi mới - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Bảng 11. Các loại chi phí đầu tư cho hoạt động đổi mới (Trang 83)
Sơ đồ 1: Số lượng hợp đồng thống kê giao dịch CNTB  qua các kỳ Techmart khu vực, - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Sơ đồ 1 Số lượng hợp đồng thống kê giao dịch CNTB qua các kỳ Techmart khu vực, (Trang 88)
Sơ đồ 2: Giá trị hợp đồng thống kê giao dịch CNTB  qua các kỳ Techmart khu vực, quốc  gia, địa phương và Techmart ảo cùng các sàn giao dịch công nghệ thường xuyên - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Sơ đồ 2 Giá trị hợp đồng thống kê giao dịch CNTB qua các kỳ Techmart khu vực, quốc gia, địa phương và Techmart ảo cùng các sàn giao dịch công nghệ thường xuyên (Trang 88)
Bảng 15. Nhập khẩu thiết bị, giai đoạn 2001 - 2007 - Nghiên cứu phân tích và đánh giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp (nghiên cứu doanh nghiệp ở 03 ngành công nghiệp phần mềm, dệt may và chế biến thực phẩm)
Bảng 15. Nhập khẩu thiết bị, giai đoạn 2001 - 2007 (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w