1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam

263 523 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kinh nghiệm Hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Tác giả Trần Ngọc Ca, Chu Ngọc Anh, Cao Thu Anh, Lê Thanh Bình, Đặng Thu Giang, Chu Thu Hà, Nguyễn Việt Hòa, Nguyễn Mạnh Quân, Đặng Kim Sơn, Nguyễn Thanh Tùng
Người hướng dẫn TS. Trần Ngọc Ca
Trường học Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
Chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ, Đổi mới công nghệ
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 263
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư hợp tác với Hoa Kỳ “Nghiên cứu kinh nghiệm Hoa Kỳ về xây dựng phương pháp luận phân tích hiện trạng đổi mới và chính sách đổi mới, ứng d

Trang 1

xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho

doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Chủ nhiệm Nhiệm vụ: TS Trần Ngọc Ca

Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ

8916

Hà nội, năm 2011

Trang 2

Danh sách Nhóm nghiên cứu chính:

1.TS Trần Ngọc Ca, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN - Chủ nhiệm

(sắp xếp theo vần abc… của tên gọi)

2 TS Chu Ngọc Anh, Bộ Khoa học và Công nghệ

3 ThS Cao Thu Anh, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

4 TS Lê Thanh Bình, Vụ Hợp tác quốc tế Bộ KH&CN

5 ThS Đặng Thu Giang, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

6 ThS Chu Thu Hà, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

7 ThS Nguyễn Việt Hòa, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

8 ThS Nguyễn Mạnh Quân, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

9 TS Đặng Kim Sơn, Viện Chính sách và Chiến lược NN&PTNT

10 ThS Nguyễn Thanh Tùng, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 6

Chương Một: Những yêu cầu mới đặt ra cho hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp vừa và nhỏ sau khi gia nhập WTO 9

I.1 Cơ hội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sau khi Việt Nam gia nhập WTO 9

I.2 Tác động tích cực của việc gia nhập WTO đối với doanh nghiệp VVN Việt Nam 10

I.3 Thách thức của doanh nghiệp VVN sau khi Việt Nam gia nhập WTO và những vấn đề đặt ra cho hoạt động đổi mới công nghệ 10

Chương Hai: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ, VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG ĐỔI MỚI 13

II.1 Kinh nghiệm thúc đẩy đổi mới cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hoa Kỳ 13

II.2 Kinh nghiệm của một số nước khác 25

II.2.1 Kinh nghiệm thúc đẩy đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp VVN của Thái Lan 25

II.2.2 Kinh nghiệm quốc tế thúc đẩy đổi mới cho doanh nghiệp VVN của Trung quốc 38

II.3 Một số phương pháp xác định chỉ số đổi mới: kinh nghiệm thế giới 49

II.3.1 Cách tiếp cận về chỉ số đổi mới 49

II.3.2 Các công cụ đánh giá đổi mới nói chung 51

II.3.3 Một số kinh nghiệm quốc tế về hệ thống chỉ số đổi mới 52

II.3.4 Một số kinh nghiệm khác 59

Chương Ba: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG ĐỔI MỚI VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA DNVVN Ở VIỆT NAM 63

III.1 Cách tiếp cận chung 63

III.1.1 Một số khái niệm cơ bản về đổi mới (innovation) 63

III.1.2 Hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) 73

III.1.3 Hệ thống đổi mới vùng (RIS) 87

III.1.4 Hệ thống đổi mới ngành 95

III.2 Phương pháp phân tích hiện trạng đổi mới 101

III.2.1 Hiện trạng các chỉ số liên quan đến đổi mới tại Việt Nam và khả năng áp dụng kinh nghiệm quốc tế 101

III.2.2 Một số chỉ số được dùng thử trong điều tra ở Việt Nam 103

III.3 Phương pháp phân tích chính sách đổi mới 108

III.3.1 Phương pháp luận chung phân tích chính sách đổi mới: kinh nghiệm quốc tế 108

III.3.2 Kinh nghiệm quốc tế về phương pháp phân tích chính sách từ góc độ kinh tế của đổi mới 115

III.3.3 Kinh nghiệm quốc tế về phương pháp phân tích chính sách từ góc độ phi kinh tế của đổi mới 116

Trang 4

III.3.4 Nghiên cứu trường hợp: thử áp dụng phân tích chính sách hỗ trợ cho hoạt động

R&D của doanh nghiệp theo Nghị định 119 117

Chương Bốn: Hiện trạng đổi mới công nghệ trong DNVVN ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 124

IV.1 Đánh giá tổng quan hiện trạng đổi mới công nghệ 124

IV.2 Một số nghiên cứu trường hợp về đổi mới công nghệ trong DNV&N 128

IV.3 Phân tích môi trường chính sách đổi mới công nghệ 149

IV.4 Phân tích môi trường chính sách và thể chế cho đổi mới trong lĩnh vực CN 149

IV.5 Phân tích môi trường chính sách và thể chế cho đổi mới trong lĩnh vực NN 156

IV.6 Phân tích môi trường chính sách và thể chế cho đổi mới trong lĩnh vực dịch vụ 166

IV.7 Năng lực quản lý đổi mới tại Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ 181

Chương Năm: ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 184

V.1 Kiến nghị về những thay đổi chính sách hỗ trợ đổi mới cho các DNVVN trong bối cảnh sau gia nhập WTO 185

V.2 Thông qua các kênh tài trợ mới hoặc mang tính chính sách cho DNVVN .186

V.3 Sử dụng chính sách dịch vụ xã hội hoá thúc đẩy phát triển DNVVN 187

V.4 Về phương pháp phân tích hiện trạng đổi mới và chính sách đổi mới 190

TÀI LIỆU THAM KHẢO 191

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

CGCN Chuyển giao công nghệ

CNTT Công nghệ thông tin

DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ ĐMCN Đổi mới công nghệ

EIU Bộ Phân tích thông tin kinh tế KH&CN Khoa học và công nghệ

KT-XH Kinh tế - xã hội

NRC Hội đồng nghiên cứu quốc gia R&D Nghiên cứu và triển khai SHTT Sở hữu trí tuệ

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Nghị định thư hợp tác với Hoa Kỳ

“Nghiên cứu kinh nghiệm Hoa Kỳ về xây dựng phương pháp luận phân tích hiện trạng đổi mới và chính sách đổi mới, ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho

doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”

-

LỜI NÓI ĐẦU

Đổi mới (Innovation) là chìa khóa cho thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội nói chung của các quốc gia Thúc đẩy đổi mới và đổi mới công nghệ là một trong những hoạt động mà các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ cần thực hiện Mặc dù đổi mới là một khái niệm không hoàn toàn mới ở nước ta, hoạt động này chưa thực sự được nhìn nhận một cách thấu đáo và đi vào cuộc sống một cách mạnh mẽ

Do nguồn lực hạn chế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn cần nhận được sự

hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chương trình hỗ trợ và chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ khác nhau Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đều cho thấy điều này Kể cả ở những nền kinh tế thị trường mạnh, vai trò của Nhà nước cũng vẫn rất rõ nét trong việc hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ Hoa Kỳ, nền kinh tế thị trường lớn nhất thế giới cũng có những chính sách và chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ khá hiệu quả Việc học hỏi những kinh nghiệm này là một nhu cầu cho việc xây dựng và thực thi các chính sách phù hợp cho Việt Nam

Bên cạnh đó, việc có được một hệ phương pháp luận phù hợp để đánh giá và phân tích hiện trạng đổi mới của doanh nghiệp là một nhu cầu cần thiết, giúp cho các nhà phân tích, hoạch định chính sách, nhà quản lý và bản thân doanh nghiệp nhận thức được chính xác hơn hiện trạng hoạt động đổi mới của mình, ở các cấp độ khác nhau Nhận diện rõ hiện trạng đổi mới sẽ giúp cho việc hoạch định và thực thi chính sách hỗ trợ có cơ sở thực tế hơn Đồng thời, việc phân tích hiện trạng chính sách cho đổi mới là một việc không đơn giản và cũng đòi hỏi phải có những phương pháp thích hợp Phân tích chính sách và xây dựng, thiết kế, hoạch định chính sách là một lĩnh vực chuyên môn tổng hợp của nhiều ngành khoa học, đòi hỏi phải có phương pháp luận đúng Trong bối cảnh của Việt Nam, những công cụ phân tích này luôn là một điểm khó khăn và việc tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm nước ngoài là một nhu cầu quan trọng Những kinh nghiệm nước ngoài của Hoa Kỳ, Thái lan, một

Trang 7

số tổ chức quốc tế như OECD, EU, v.v sẽ là nền tảng quan trọng cho việc lựa chọn phương pháp phân tích

Mục tiêu của đề tài

Với định hướng như vậy, đề tài đã đặt ra mục tiêu nghiên cứu kinh nghiệm Hoa Kỳ và một số kinh nghiệm quốc tế khác về xây dựng phương pháp luận phân tích hiện trạng đổi mới của doanh nghiệp, và phương pháp luận phân tích chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp ứng dụng các phương pháp này trong hoạt động của một số tổ chức thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Đồng thời đề xuất một số chính sách hỗ trợ hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

Đề tài cũng nhằm hỗ trợ cho hoạt động của một số tổ chức thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ như Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, và cho các chương trình, đề án về đổi mới công nghệ của Bộ như Chương trình Đổi mới công nghệ Quốc gia, Chương trình Phát triển công nghệ cao Quốc gia, Chương trình Phát triển thị trường công nghệ, v.v…; đóng góp vào quá trình xây dựng Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Một số mục tiêu chuyên sâu của đề tài được đặt ra là:

- Tìm hiểu tổng quát phương pháp phân tích hiện trạng hệ thống đổi mới của doanh nghiệp, đặc biệt là hiện trạng đổi mới công nghệ của doanh nghiệp vừa và nhỏ;

- Tìm hiểu phương pháp phân tích chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp;

- Góp phần nâng cao năng lực một số cơ quan, tổ chức chuyên sâu về đổi mới của Bộ Khoa học và Công nghệ (Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ) qua các đề xuất về phương pháp luận, kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách, thông qua các hoạt động đào tạo, cùng tổ chức nghiên cứu, khảo sát và tập huấn về đổi mới;

- Đề xuất được một số giải pháp chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài đã chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: khảo sát nghiên cứu trường hợp và phỏng vấn trực tiếp các doanh nghiệp, tổ chức liên quan đến hoạt động đổi mới như Viện, trường, cơ quan quản lý, tổ chức tài chính tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số địa bàn khác như Bắc Ninh, Cần thơ, v.v… tổ chức toạ đàm, hội thảo bàn tròn, trao đổi và lấy ý kiến chuyên gia, nghiên cứu tư liệu

Đề tài đã tổ chức một số hoạt động nâng cao năng lực như lớp đào tạo về phương pháp luận cho các tổ chức có liên quan như Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ, v.v đi khảo sát tại một số địa bàn trong nước về hiện trạng của đổi mới công nghệ Chuyên gia Hoa

Trang 8

Kỳ đã cùng với nhóm chuyên gia Việt Nam tổ chức khảo sát sơ bộ về hiện trạng đổi mới công nghệ của doanh nghiệp tại một số địa phương, và ngành Do quy mô nhỏ, khảo sát được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp doanh nghiệp và các tổ chức liên quan, quan sát thực địa kết hợp với nghiên cứu số liệu thứ cấp

Đề tài đã đưa ra được bức tranh tổng thể về hệ thống đổi mới ở Việt Nam trên các cấp độ khác nhau, phân tích hiện trạng đổi mới và hiện trạng chính sách đổi mới Qua đó phát hiện những xu thế sử dụng phương pháp chỉ số phân tích đổi mới

và phương pháp phân tích chính sách ở Việt Nam Trên cơ sở những kinh nghiệm quốc tế (chủ yếu là của Hoa Kỳ), đề tài đã có những kết luận và kiến nghị tương ứng trong cả việc đưa ra những chính sách hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động đổi mới ở nước ta cũng như phương pháp phân tích đổi mới

Đề tài cũng đã có những đóng góp thông qua một số xuất bản phẩm như bài báo đăng tạp chí hoặc các chương trong một số sách xuất bản, có liên quan đến hoạt động đổi mới Những tư liệu, tài liệu của đề tài được sử dụng trong một số chương trình đào tạo của một số trường ở cấp đại học và sau đại học Tuy nhiên, một điểm hạn chế lớn của đề tài là do nguồn lực có hạn, không thể có được một cái nhìn và đánh giá toàn diện hơn về hiện trạng đổi mới và chính sách đổi mới ở Việt Nam Do gặp khó khăn về nguồn kinh phí từ phía đối tác nước ngoài, đề tài đã phải giành một khoản kinh phí lớn cho việc mời chuyên gia nước ngoài Nhìn chung, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả nghiên cứu của đề tài chắc chắn còn những thiếu sót cần được sự đóng góp quí báu của người đọc và thành viên các Hội đồng đánh giá

Thay mặt Nhóm thực hiện Nhiệm vụ

Chủ nhiệm: Trần Ngọc Ca

Trang 9

Chương Một:

Những yêu cầu mới đặt ra cho hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp vừa và nhỏ sau khi gia nhập WTO

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 7/11/2006, nền kinh tế Việt Nam

đã có những chuyển biến quan trọng Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) tăng mạn, đã tạo nhiều cơ hội về đầu tư, mở rộng thị trường, quản lý, đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam Đồng thời, cùng với các cơ hội đó các doanh nghiệp trong nước cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn Tuy nhiên, theo những nghiên cứu gần đây, mặc dù có sự phát triển ấn tượng, nhưng DNV&N vẫn còn bộc lộ những điểm yếu về nhiều mặt, như: chiến lược kinh doanh hạn chế, thiếu sự liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, năng lực cạnh tranh yếu, ít đổi mới, đội ngũ cán bộ không ổn định, và chưa sẵn sàng cho việc hội nhập

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 5 năm 2010, có thêm 33.982 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, nâng tổng số doanh nghiệp hiện nay lên 496.101; vốn đăng ký gần 2.313.857 tỷ VND (khoảng 121 tỷ USD) DNV&N chiếm 96% trên doanh nghiệp của cả nước, trên 50,1% lao động trong doanh nghiệp, ước tính đóng góp khoảng trên 40% GDP

I.1 Cơ hội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sau khi Việt Nam gia nhập WTO

- Vì WTO yêu cầu thực hiện đối xử quốc gia, điều này sẽ làm DNV&N được hưởng đối xử bình đẳng với doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài trong việc tiếp cận công nghiệp WTO yêu cầu cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước được hưởng đối xử quốc gia công bằng

- Vì WTO yêu cầu mở cửa thị trường vốn Việt Nam, cho phép ngân hàng nước ngoài tham gia, điều này có nghĩa là DNV&N có nhiều kênh và phương thức hơn trong việc nhận được cơ hội tài trợ gián tiếp và tài trợ trực tiếp

- WTO yêu cầu mở cửa thị trường vốn cho phép ngân hàng nước ngoài tham gia và tiến hành nghiệp vụ tài chính, sẽ tăng cường cạnh tranh của ngành tài chính Việt Nam, đặc biệt là cạnh tranh giữa các ngân hàng Điều này sẽ có thể có tác động tích cực sẽ là thúc đẩy ngân hàng trong nước thông qua tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện thuận lợi cho các DNN&V tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng

- Vì WTO thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu công nghiệp toàn cầu hoá, tạo thêm nhiều cơ hội cho DNV&N tham gia vào chuỗi giá trị, trên cơ sở hợp tác với các tập đoàn lớn trong nước và quốc tế Toàn cầu hoá và phân công sản xuất cũng sẽ làm nhiều DNV&N hơn trở thành đối tác chiến lược không thể thiếu của các công ty đa quốc gia

Trang 10

I.2 Tác động tích cực của việc gia nhập WTO đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

a) Cải thiện môi trường thương mại quốc tế

Cải thiện môi trường thương mại quốc tế đã tạo điều kiện cho DNV&N Việt Nam hướng ra thị trường quốc tế Trong tình hình xu thế chủ nghĩa bảo hộ thương mại và tập đoàn hoá khu vực hiện nay ngày càng tăng, gia nhập WTO đã giúp DNV&N giành được sự đãi ngộ thương mại công bằng, các rào cản thương mại của một số quốc gia thiết lập đối với Việt Nam sẽ có thể tự động bị huỷ bỏ Do đó vấn

đề môi trường thương mại bị cản trở do một số yếu tố phi kinh tế gây ra sẽ được giải quyết cho phép sản phẩm của DNV&N định hướng xuất khẩu thâm nhập vào thị trường quốc tế

b) Thực hiện chế độ đại diện xuất khẩu

Chế độ đại diện thương mại quốc tế là một trong những hình thức phổ biến trong thương mại quốc tế, trong đó doanh nghiệp thương mại quốc tế cung cấp các dịch vụ, đại diện cho doanh nghiệp sản xuất và bộ phận đặt hàng xử lý nghiệp vụ xuất nhập khẩu, doanh nghiệp thương mại quốc tế thu phí nhất định, lỗ lãi do doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu và khách hàng nhập khẩu tự chịu trách nhiệm

Thực hiện chế độ đại diện có lợi cho nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu của DNV&N trên thị trường quốc tế, DNV&N sẽ trực tiếp tham gia cạnh tranh trên thị trường quốc tế Thực hiện chế độ đại diện sẽ cung cấp một kênh thông suốt cho xuất khẩu sản phẩm của DNV&N Việt Nam

c) Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giảm thuế xuất khẩu

Giảm thuế xuất khẩu là hoàn trả thuế đã nộp của sản phẩm xuất khẩu trong khâu sản xuất và lưu thông trong nước cho doanh nghiệp xuất khẩu Sau khi gia nhập WTO, với việc đơn giản hóa các thủ tục và điều kiện phê duyệt quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của DNV&N, là thời điểm thích hợp để Nhà nước thực hiện hoàn thiện chính sách miễn, giảm, hoàn trả thuế xuất khẩu cho các DNV&N

I.3 Thách thức của doanh nghiệp vừa và nhỏ sau khi Việt Nam gia nhập WTO

và những vấn đề đặt ra cho hoạt động đổi mới công nghệ

a) Chất lượng và thương hiệu sản phẩm còn thấp

Sản phẩm của DNV&N Việt Nam chủ yếu sử dụng nhiều sức lao động và công nghiệp lắp ráp đơn giản, tỉ lệ sản phẩm có quyền sở hữu trí tuệ độc lập tương đối ít, giá trị gia tăng thấp Đối với một số loại sản phẩm xuất khẩu sử dụng nhiều vốn và công nghệ, thì đẳng cấp, chất lượng, thương hiệu và giá cả của nó còn ở mức

độ cạnh tranh quốc tế chưa cao

Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao làm yếu khả năng cạnh tranh của các DNV&N So sánh giữa sản phẩm trong nước với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, thì các sản phẩm sản xuất

Trang 11

của các doanh nghiệp Việt Nam có giá thành cao hơn từ 1,58 đến 9,25 lần mặc dù giá nhân công lao động thuộc loại thấp so với các nước trong khu vực

Nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt là các DNV&N chưa có chiến lược xây dựng thương hiệu, chưa tạo được uy tín về chất lượng sản phẩm và dịch vụ, do

đó khả năng cạnh tranh còn yếu Theo số liệu khảo sát của VCCI, chỉ có gần 10%

số doanh nghiệp là thường xuyên tìm hiểu thị trường nước ngoài và trong số này chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu; Khoảng 42% doanh nghiệp tìm hiểu thị trường nước ngoài không thường xuyên và khoảng 20% doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không có các hoạt động tìm hiểu thị trường nước ngoài

b) Trình độ công nghệ và hiệu suất lao động của các DNV&N kém

Theo kết quả khảo sát của Cục Phát triển DNV&N (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),

về trình độ sử dụng công nghệ, chỉ có khoảng 8% số DNV&N đạt trình độ công nghệ tiên tiến (phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI) Còn

về doanh nghiệp trong nước, hầu hết đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu Đặc biệt, khả năng cạnh tranh về công nghệ của các doanh nghiệp phía Bắc là rất thấp Chỉ tiêu về sử dụng công nghệ thông tin cũng cho thấy, tuy số doanh nghiệp có sử dụng máy vi tính lên đến hơn 60% nhưng chỉ có 11,55% doanh nghiệp có sử dụng mạng nội bộ – LAN, số doanh nghiệp có website là rất thấp (chỉ 2,16%)

Hơn 90% DNV&N đang sử dụng công nghệ từ cấp trung bình đến lạc hậu, khả năng đầu tư nâng cấp công nghệ thấp, tiêu hao nhiều tài nguyên, bao gồm vật liệu, nhiên liệu, năng lượng và thường có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường

Vấn đề chuyển giao công nghệ tại các DNV&N hiện tại đang gặp nhiều trở ngại, chưa có thói quen cũng như đánh giá đầy đủ được vai trò của việc đầu tư phát triển công nghệ trong việc phát triển bền vững, lâu dài Thực tế hiện nay chi phí đầu

tư của doanh nghiệp trong nước cho nghiên cứu khoa học, đầu tư phát triển công nghệ là rất thấp, thậm chí nhiều doanh nghiệp mức đầu tư bằng không

c) Năng lực quản lý chưa cao, thiếu tính chuyên nghiệp

Đội ngũ quản lý, giám đốc điều hành trong khu vực DNV&N còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản trị kinh doanh và quản lý công nghệ Số lượng DNV&N có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều Nhiều giám đốc doanh nghiệp chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế Do đó, khuynh hướng phổ biến là các doanh nghiệp hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức trên các phương diện: Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu, sử dụng máy tính và công nghệ thông tin

d) Năng lực cạnh tranh về tài chính vẫn còn rất yếu kém

Quy mô vốn và năng lực tài chính (kể cả vốn của chủ sở hữu và tổng nguồn vốn) của nhiều DNV&N còn rất nhỏ bé, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững

Trang 12

Theo số liệu khảo sát của Cục Phát triển DNV&N, gần 50% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ đồng; gần 75% có mức vốn dưới 2 tỷ đồng và 90% có mức vốn dưới 5 tỷ đồng

Với quy mô vốn rất hạn chế như vậy, việc huy động tài chính cho nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ là rất khó khăn

e) Nhận thức và sự chấp hành luật pháp còn hạn chế

Một số khá lớn DNV&N còn chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá và sở hữu công nghiệp Tình trạng các DNV&N bị các cơ quan chức năng phàn nàn, xử phạt vi phạm các chế độ về thuế, tài chính còn phổ biến Nguyên nhân của tình trạng này là do việc nhận thức, hiểu biết của doanh nghiệp về luật pháp còn nhiều hạn chế

f) Nhận thức và kiến thức về hội nhập quốc tế nói chung và WTO nói riêng còn hạn chế

Còn khá nhiều cơ chế, chính sách chậm đổi mới cho phù hợp với yêu cầu khách quan của hội nhập Sự tham gia của các ngành, các cấp và doanh nghiệp chưa đồng bộ, chưa tạo ra được sức mạnh tổng hợp cần thiết đảm bảo cho hội nhập kinh

tế quốc tế đạt hiệu quả cao Nhiều doanh nghiệp còn ít hiểu biết về thị trường, luật pháp và các thông lệ quốc tế nên gặp rất nhiều rủi ro trong kinh doanh và sức cạnh tranh rất thấp trên thị trường quốc tế

Một trong những điểm yếu khác của các DNV&N là mối liên kết trong và ngoài nước rất hạn chế Điều này thể hiện cả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh lẫn năng lực tạo dựng một tiếng nói chung có thể mang lại lợi ích chung cho cộng đồng Ngoài ra, khả năng quản lý, nhận biết về kinh doanh, văn hóa kinh doanh, trình độ xúc tiến và quảng bá thương mại cũng như lao động hoạt động trong và ngoài nước cũng rất hạn chế

Trang 13

Chương Hai:

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH

THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ, VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG ĐỔI MỚI

II.1 Kinh nghiệm thúc đẩy đổi mới cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hoa Kỳ

Theo quan điểm chung của nhiều người, vì Hoa Kỳ là một nền kinh tế lớn,

và nổi tiếng bởi các tập đoàn đa quốc gia có truyền thống lâu đời, nên DNV&N sẽ không có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và không được Chính phủ quan tâm gì nhiều đến hỗ trợ phát triển Đây là một quan điểm không chính xác Trong thực tế, chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ DNV&N, tạo ra năng lực cạnh tranh cho một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Một biện pháp chính sách quan trọng nhằm hỗ trợ DNV&N thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, đổi mới công nghệ là Chương trình nghiên cứu và đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ của chính phủ Việc tìm hiểu hoạt động của chương trình này sẽ giúp hiểu rõ hơn tác động của các biện pháp chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho DNV&N

Sơ lược lịch sử hình thành chương trình nghiên cứu và đổi mới công nghệ giành cho các doanh nghiệp nhỏ (Small Business Innovation and Research, SBIR program)

Hình thành

Từ những năm 80, việc thương mại hóa các công nghệ mới tiến triển chậm chạp, đặc biệt là so với sự thành công trong tiếp thị cũng như sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất ô tô, thép và chất bán dẫn của Nhật Việc này đã khiến Mỹ rất lo ngại về khả năng cạnh tranh của nước mình Khả năng cạnh tranh của công nghiệp Mỹ những năm 80 thường được coi là sự thất bại trong nền công nghiệp Mỹ

để “biến năng lực nghiên cứu thành lợi thế thương mại.” Sự bi quan càng tăng lên trước những bằng chứng của sự phát triển chậm chạp của các phòng thí nghiệm nghiên cứu hợp tác, lãnh đạo đổi mới Mỹ trong thời kỳ hậu chiến và sự thành công của hình thức hợp tác xã mà điển hình là tại Nhật

Nhưng thậm chí khi các doanh nghiệp lớn đang thu nhỏ quy mô để cạnh tranh tốt hơn, thì từ những năm 70 và rõ ràng hơn ở những năm 80, các doanh nghiệp nhỏ đã có một vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình đổi mới và tạo việc làm David Birch và những người đồng nghiệp đã đề xuất rằng các chính sách của nhà nước cần đẩy mạnh và dựa vào khả năng cạnh tranh cao của các doanh nghiệp nhỏ

Trong khi đó, từ đầu những năm 60, hội đồng liên bang đã đề xuất hướng đi của các quỹ nghiên cứu và phát triển (R&D) nên tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ Tuy nhiên, đề xuất này đã bị những người mang suy nghĩ truyền thống của quỹ

Trang 14

R&D chính phủ phản đối Mặc dù từ cuối những năm 70, các doanh nghiệp nhỏ đã được nhận định là một nguồn lực có tiềm năng trong việc đổi mới, một số người trong chính phủ vẫn cảnh giác trong việc tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ đầu tư vào công nghệ có tính mạo hiểm cao và có triển vọng thương mại

Khái niệm hỗ trợ tài chính bước đầu cho những công nghệ có tính mạo hiểm cao và có triển vọng thương mại được đưa ra đầu tiên bởi Rland Tibbetts, làm việc tại Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) Đầu năm 1976, ông Tibbettes cho rằng NSF nên đầu tư một phần ngân quỹ vào các doanh nghiệp nhỏ Khi NSF thực hiện sáng kiến này, các doanh nghiệp nhỏ đã rất tán thành và tiến hành vận động các cơ quan khác làm theo sự chỉ đạo của NSF Khi những nỗ lực của họ không được đáp lại, các doanh nghiệp nhỏ đã đưa trường hợp của mình lên Quốc hội và những cấp quản lý cao hơn

Để đáp lại, một cuộc Hội nghị Nhà trắng về doanh nghiệp nhỏ đã được tổ chức vào tháng 1, năm 1980 Hội nghị đã đề xuất bắt đầu một chương trình cho nghiên cứu và đổi mới doanh nghiệp nhỏ dựa trên bằng chứng về việc cắt giảm phần trăm đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ của quỹ nghiên cứu và phát triển của liên bang, các doanh nghiệp nhỏ ngày càng khó khăn trong việc huy động vốn, vai trò quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ đối với thu hút nhiều lao động

Bên cạnh những cơ sở chính sách này, một số còn đưa ra lợi ích về mặt chính trị khi thấy kinh phí R&D “trải rộng hơn trước đây” Quốc hội đã thông qua đạo luật Phát triển nghiên cứu và đổi mới cho doanh nghiệp nhỏ năm 1982 và hình thành chương trình SBIR

Đạo luật phát triển SBIR năm 1982

Chương trình SBIR đầu tiên yêu cầu các cơ quan có ngân sách R&D trên 100 triệu đôla phải dành 0.2% quỹ để đầu tư cho SBIR Vào năm hoạt động đầu tiên của chương trình, tổng lượng tiền thu được là 45 triệu đôla năm 1983 Trong sáu năm tiếp theo, khoản tiền này đã tăng thêm 1.25%

Luật pháp đã quy định hai mục tiêu lớn nhất của SBIR:

- Đáp ứng hiệu quả hơn những nhu cầu về R&D trong quá trình sử dụng của các doanh nghiệp nhỏ (nguồn công nghệ dồi dào)

- Thu hút vốn tư nhân để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của liên bang

Cơ cấu và vai trò của SBIR

Theo như đạo luật năm 1982, quá trình tài trợ cho SBIR bao gồm ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1 thực chất là nghiên cứu tính khả thi trong đó những người thành công đảm nhận một khoản đầu tư giới hạn cho việc thực hiện ý tưởng khoa học và triển vọng thương mại Hiện nay, ước tính chi phí cho giai đoạn 1 khoảng 100.000 đôla

Trang 15

- Chi phí cho giai đoạn hai lớn hơn, thường là khoảng 750.000 đôla, và hỗ trợ R&D trên phạm vi rộng hơn để phát triển hơn nữa chất lượng khoa học kỹ thuật

và tính khả thi của các ý tưởng nghiên cứu

- Giai đoạn 3 Giai đoạn này thường không bao gồm quỹ SBIR, mà là giai đoạn mà những bên được nhận tài trợ sẽ nhận được tài trợ từ chương trình thu mua của cơ quan quản lý, các nhà đầu tư tư nhân hoặc từ thị trường vốn Mục tiêu của giai đoạn này là chuyển công nghệ sang giai đoạn nguyên mẫu và đưa vào thị trường

Giai đoạn 3 thường là giai đoạn có nhiều khó khăn đối với những doanh nghiệp mới Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã triển khai những cách tiếp cận khác nhau, không có cái nào là từ SBIR, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi sang thương mại Một số doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm về chương trình này thì thuận lợi hơn trong việc thu hút những nguồn tài trợ khác Nghiên cứu NRC trước đây cho thấy những doanh nghiệp khác nhau có những mực tiêu khác nhau khi áp dụng chương trình Một số nhằm vào việc chứng minh tiềm năng của nghiên cứu Một số khác nhằm vào việc đáp ứng những yêu cầu của cơ quan nghiên cứu về

cơ sở chi phí hiệu quả Số còn lại nhằm vào chất lượng (và những đầu tư thu được

từ chứng nhận này) khi họ đưa những sản phẩm khoa học ra thị trường

Những yếu tố khiến những khoản tài trợ SBIR thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp bao gồm việc tài trợ này không làm giảm quyền sở hữu và không yêu cầu hoàn trả Quan trọng là những doanh nghiệp được nhận hỗ trợ vẫn giữ được quyền sở hữu trí tuệ phát triển từ nguồn tài trợ SBIR, và nhà nước không phải trả tiền bản quyền và được sử dụng bản quyền này trong một thời gian Việc lựa chọn nhận tài trợ từ SBIR cũng mang lại hiệu quả cụ thể, một dấu hiệu cho những nhà đầu tư kỹ thuật và thương mại tư nhân tin tưởng vào sự phát triển công nghệ

Về phía chính phủ, chương trình SBIR hỗ trợ để thực hiện được nhiệm vụ cũng như khuyến khích phát triển kinh tế dựa trên tri thức Bằng việc tạo nên một cầu nối giữa các doanh nghiệp nhỏ và các cơ quan liên bang, đặc biệt là trong quá trình mua bán, SBIR đóng vai trò như một chất xúc tác để phát triển những ý tưởng mới và công nghệ mới nhằm thực hiện được các nhiệm vụ của liên bang như sức khỏe, giao thông, môi trường và quốc phòng Chương trình cũng là cầu nối giữa đại học và thị trường, từ đó khuyến khích sự phát triển của khu vực Cuối cùng, bằng việc chỉ ra những khoảng trống trong việc đầu tư cho phát triển công nghệ, chương trình này đã giúp nhà nước tận dụng những khoản đầu tư quan trọng của mình trong nghiên cứu và phát triển Trong khi hoạt động và những kết quả của SBIR còn gây tranh cãi, những hoạt động thực tế của chương trình này đã được thực hiện tại nhiều

cơ quan với những mục tiêu và lợi ích cụ thể Vì thế có rất nhiều loại mục tiêu và cơ cấu

SBIR - đưa ra những vấn đề cần quan tâm của các doanh nghiệp nhỏ

Được nêu bật trong chú ý của bài phát biểu của Kenneth Flamm, bên cạnh những mục tiêu mang tính pháp lý, SBIR cũng hỗ trợ để xác định ba vấn đề cần quan tâm của các doanh nghiệp nhỏ

Trang 16

Thứ nhất, chương trình đã chỉ ra sự không hoàn chỉnh trong thị trường vốn

Về mặt cấu trúc, các doanh nghiệp nhỏ có thể có những khó khăn trong việc tiếp cận thị trường vốn, và điều này có thể gây cản trở cho việc thương mại hóa những phát minh của mình Giáo sư Flamm đã trích dẫn một trường hợp của một học viện quốc gia để chỉ ra rằng chương trình SBIR có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc cân bằng lại một số yếu tố không hoàn chỉnh của thị trường vốn

Thứ hai, SBIR chỉ ra sự không tương xứng về chi phí cho hợp đồng Những công ty nhỏ thường phải học cách để làm việc với hệ thống hợp đồng rắc rối và đôi khi mang tính “bí quyết” cùng với rất nhiều điều luật, điều lệ khi làm việc với các

cơ quan như Bộ Quốc phòng SBIR có thể hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ thiếu nguồn tài chính để đầu tư vào xây dựng hợp đồng Chương trình có thể tài trợ hiệu quả những chi phí để tiếp cận với hệ thống mua bán của chính phủ

Thứ ba, SBIR giúp các doanh nghiệp nhỏ vượt qua được những khó khăn khi tiếp cận với quy trình mua bán Đặc biệt, những nhà thầu quốc phòng chính đều có những vận động tích cực tại Capitoll Hill (trụ sở Quốc hội) và Pentagon (trụ sở Bộ Quốc phòng) Những nhà thầu ít kinh nghiệm hơn và không có kinh phí để duy trì văn phòng ở Washington và những liên kết thích hợp với Pentagon sẽ gặp rất nhiều bất lợi khi tham gia vào hệ thống hợp đồng Những doanh nghiệp nhỏ không thể đủ kinh phí cho vận động hành lang, SBIR có thể tạo ra con đường tiếp cận trực tiếp với hệ thống mua bán cho những doanh nghiệp nhỏ

Sửa đổi SBIR

Chương trình SBIR tiếp cập quá trình sửa đổi vào giữa năm 1992 và tiếp tục

lo ngại về khả năng thương mại hóa những sáng chế của kinh tế Mỹ Nhận thấy trong việc tạo ra công nghệ mới, Mỹ còn gặp ít khó khăn hơn là thương mại hóa và

áp dụng công nghệ, Viện Hàn lâm khoa học Quốc gia vào thời điểm đó đã đề xuất tăng quỹ SBIR như một cách để cải thiện khả năng áp dụng và thương mại hóa những công nghệ mới

Dựa theo bản báo cáo này, bộ luật Thúc đẩy Phát triển và Nghiên cứu cho Doanh nghiệp nhỏ (P.L 102-564), sửa đổi chương trình cho đến 30/9/2000, đã tăng gấp đôi tỉ lệ dự trữ lên thành 2.5% Việc tăng tỉ lệ quỹ R&D cho chương trình là một điểm quan trọng trong việc khuyến khích quá trình thương mại hóa công nghệ được trợ cấp bởi SBIR Ngôn ngữ lập pháp đã nhấn mạnh tiềm năng thương mại là một tiêu chuẩn để được hưởng trợ cấp SBIR Đối với Giai đoạn 1, Quốc hội yêu cầu những người quản lý chương trình đánh giá tiềm năng thương mại của dự án và những yếu tố về khoa học và công nghệ khi đánh giá để áp dụng SBIR

Về Giai đoạn 2, việc đánh giá tiềm năng thương mại của dự án được xem xét lại cùng với tình hình trợ cấp từ phía tư nhân và những nguồn ngoài SBIR Giai đoạn 3, các cam kết tài trợ cùng với những dấu hiệu khác của tiềm năng thương mại đều được xem xét Hơn nữa, theo bản sửa đổi năm 1992, thành tích thương mại hóa của một doanh nghiệp nhỏ sẽ được tính để xem xét áp dụng Giai đoạn 2

Luật sửa đổi về Doanh nghiệp nhỏ năm 2000 một lần nữa mở rộng SBIR cho đến 30/9/2008 Hội đồng nghiên cứu Quốc gia (NRC) cũng được kêu gọi đánh giá

Trang 17

những tác động của chương trình trên tình hình việc làm, sức khỏe, an ninh quốc gia

và khả năng cạnh tranh của quốc gia

Đánh giá của Hội đồng nghiên cứu quốc gia (National Research Council, NRC)

Đánh giá của NRC là một cơ hội quan trọng để hiểu được rõ hơn một trong những chương trình tài chính lớn nhất của quốc gia trong thời kỳ đầu Mặc dù có một quy mô lớn và 20 năm hoạt động, chương trình SBIR chưa bao giờ được đánh giá toàn diện Đã có những nghiên cứu tập trung vào những khía cạnh hoặc yếu tố khoa học của chương trình, đặc biệt là Văn phòng Kế toán Tổng hợp và Quản lý Doanh nghiệp nhỏ Đồng thời cũng có rất ít những đánh giá nội bộ đối với chương trình của các cơ quan Tài liệu học thuật của SBIR cũng khá giới hạn Trong bài viết năm 1990 đánh giá về chương trình, Joshua Lerner đã chỉ ra rằng “những doanh nghiệp được tài trợ bởi SBIR phát triển nhanh hơn so với đối thủ một giai đoạn tương ứng 10 năm” Nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng tại địa phương và các hoạt động có tổ chức, Lerner còn chỉ ra rằng “những tác động tích cực của SBIR

đã bị hạn chế đối với những doanh nghiệp trên khu vực có hoạt động vốn lớn.” Những phát hiện này phù hợp với cả các tài liệu tài chính doanh nghiệp về vấn đề khó khăn trong tài chính và tầm quan trọng ngày càng tăng của địa phương hóa

Để giải quyết được các lỗ hổng đánh giá và tìm hiểu về chương trình lớn và chưa được đánh giá này, Ủy ban đối tác Công nghiệp-Chính phủ cho Phát triển Công nghệ mới của Viện Hàn lâm quốc gia đã được yêu cầu xem xét lại chương trình SBIR, hoạt động và những thách thức hiện có Dưới sự chỉ đạo của chủ tịch, ông Gordon Moore, Ủy ban đã triệu tập những người lập pháp, các nhà nghiên cứu,

và đại diện của các doanh nghiệp nhỏ để thảo luận một cách toàn diện về lịch sử và tính chất của chương trình SBIR, xem xét lại những nghiên cứu hiện tại và xác định những khu vực cho việc phát triển nghiên cứu và cải tiến chương trình trong tương lai

Ủy ban đã báo cáo lại như sau:

- SBIR đã nhận được sự hỗ trợ từ nhiều thành phần trong chính phủ và trên toàn quốc

- Đồng thời, quy mô và tầm quan trọng của SBIR đã nhấn mạnh việc cần thiết phải có nhiều nghiên cứu hơn về kết quả làm việc và đánh giá hoạt động của chương trình như thế nào

- Yêu cầu cần có những nhận định rõ ràng về tầm quan trọng của thương mại hóa nhờ SBIR, và về cách định nghĩa thương mại hóa

- Cần nhận định rõ cách đánh giá SBIR như một chương trình độc lập và được các doanh nghiệp áp dụng theo nhiều cách khác nhau

Tiếp theo, theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng, Hội đồng này được yêu cầu xem xét lại hoạt động của SBIR tại Bộ Quốc phòng, và vai trò đặc biệt của Sáng kiến Hỗ trợ nhanh Kết quả là những xem xét hết sức kỹ lưỡng về chương trình SBIR cho đến hiện nay Quá trình xem xét này bao gồm các nghiên cứu trên những

Trang 18

lĩnh vực quan trọng, với 55 trường hợp nghiên cứu và rất nhiều bản khảo sát Tỉ lệ phản hồi rất cao, ước tính khoảng 72% Chương trình SBIR đang đóng góp vào những thành tựu của Bộ Quốc phòng, các dự án đổi mới, và một số phần quan trọng của những dự án này không thể thực hiện được nếu thiếu sự hỗ trợ của SBIR Đánh giá của Hội đồng này cũng chỉ ra rằng chương trình Hỗ trợ nhanh cũng đã làm tăng tính hiệu quả của chương trình SBIR đối với Bộ Quốc phòng bằng cách khuyến khích thương mại hóa công nghệ và những doanh nghiệp mới tham gia chương trình

Nhìn chung, Ủy ban và ông Moore đã tìm ra rằng SBIR đã tạo điều kiện cho

sự phát triển và sử dụng nguồn vốn con người và những hiểu biết công nghệ Những trường hợp được nghiên cứu cho thấy những hiểu biết và nguồn vốn con người được hình thành bởi chương trình SBIR đều có giá trị kinh tế và có thể áp dụng tại nhiều công ty khác nhau Nghiên cứu này cũng cho thấy SBIR cũng khuyến khích khối tư nhân đầu tư vào công nghệ của doanh nghiệp

Dựa vào nghiên cứu này và những đánh giá của các hội đồng khác, bản báo cáo tổng hợp của ngài Moore và Ủy ban đối tác Công nghiệp-Chính phủ đã đề xuất rằng “những đánh giá nghiêm ngặt và theo tiêu chuẩn về chương trình cùng với những phản hồi là rất quan trọng đối với những doanh nghiệp hiệu quả và nên được coi là những tiêu chuẩn,” thêm nữa “những doanh nghiệp của Mỹ và nước ngoài cần quan tâm hơn về chính sách và những nguồn lực cho việc đánh giá một cách có hệ thống.”

Đánh giá hiện nay về chương trình SBIR của nhà nước đang được yêu cầu tập trung vào năm cơ quan nhà nước hiện chiếm 96% chi phí của chương trình, mặc

dù Hội đồng Nghiên cứu quốc gia lại đang tập trung tìm hiểu về nhận định và thực hiện của các cơ quan khác cũng sử dụng chương trình này Những cơ quan được chỉ định, sắp xếp theo quy mô chương trình, bao gồm Bộ quốc phòng, Viện Sức khỏe Quốc gia, NASA, Bộ Năng lượng và Tổ chức Khoa học Quốc gia

SBIR trong hệ thống đổi mới của Mỹ

Hệ thống đổi mới là một mạng lưới các viện nghiên cứu nhà nước và tư nhân

có những hoạt động và những tác động tiên phong, nhằm phát triển, thay đổi và thương mại hóa các công nghệ mới Hơn nữa, chính phủ trên nhiều nước đều coi sự phát triển và chuyển đổi của hệ thống này là một cách quan trọng để tăng cường khả năng cạnh tranh của công nghiệp nội địa và dịch vụ Họ đưa ra nhiều chính sách và chương trình để làm hệ thống đổi mới của họ lớn mạnh, đôi khi dựa theo những kinh nghiệm của Mỹ, nhưng phần lớn là được phát triển sao cho phù hợp với nhu cầu và kinh nghiệm của từng quốc gia Tuy nhiên, thấy được những đóng góp của SBIR trong việc hình thành doanh nghiệp và đưa các nghiên cứu tại trường đại học

ra thị trường, nhiều nhà lập pháp trên thế giới rất quan tâm đến chương trình này

Dưới đây là vai trò của SBIR trong hệ thống đổi mới của Mỹ

Trang 19

Chính sách mở rộng và môi trường thuận lợi

Tại Mỹ, môi trường cho đổi mới thường được quyết định bởi chính sách, tập trung chủ yếu vào các vấn đề như thuế suất, thị trường vốn, sở hữu trí tuệ, và bởi những người lập nội quy, đặc biệt là ở các doanh nghiệp mới, tập trung chủ yếu vào việc gia nhập thị trường, tiêu chuẩn lao động và phá sản Những chính sách và quy định này xác định tỉ lệ được mất cho các chủ doanh nghiệp, từ đó các chủ doanh nghiệp sẽ lựa chọn xem có nên mạo hiểm mở công ty mới Các quy định và chính sách cũng tác động đến các nhà đầu tư trong việc hỗ trợ các chủ doanh nghiệp khi

họ chuyển hướng từ phòng thí nghiệm ra thị trường Khả năng hỗ trợ của các chính sách này (dựa vào xã hội và văn hóa) là một trong những yếu tố xác định hệ thống đổi mới của Mỹ

Các nỗ lực phân tích phát triển thường tập trung vào tính sẵn có của tài chính giai đoạn đầu và những tác động của nó tới các thành phần khác trong quá trình đổi mới của Mỹ Chương trình SBIR đang phát triển để trở thành nỗ lực lớn của chính phủ trong việc tiến đến khả năng phát minh của các doanh nghiệp nhỏ công nghệ cao Sự phát triển này càng nhấn mạnh sự cần thiết của việc tìm hiểu yếu tố này trong hệ thống đổi mới của quốc gia

Những điểm không chắc chắn trong việc tài trợ cho giai đoạn đầu

Tại Mỹ hiện nay, những tác động có lợi của các đổi mới dựa trên khoa học đang xuất hiện trên hầu hết các lĩnh vực, từ chăm sóc sức khỏe và thông tin đến việc

áp dụng quốc phòng và giải trí Căn cứ vào việc những thành công này là kết quả của nghiên cứu và mua bán được tài trợ từ chính phủ, các chính sách liên bang cần tạo điều kiện cho quá trình thương mại hóa

Vai trò liên bang này rất quan trọng, đặc biệt là nó có tác động đến việc các nhà đầu tư chấp nhận mạo hiểu và luôn nghĩ rằng thương mại hóa các đổi mới dựa trên khoa học vốn đã là một nỗ lực đầy mạo hiểm Một trong những rủi ro là việc thiếu những thông tin công cộng về các công nghệ do các doanh nghiệp nhỏ phát triển cho các nhà đầu tư tiềm năng Các nhà đầu tư tiềm năng thường cố gắng tìm hiểm về khả năng phát triển của các doanh nghiệp nhỏ, nhưng trong nhiều trường hợp, so với các nhà đầu tư tiềm năng thì các chủ doanh nghiệp, đặc biệt là ở các doanh nghiệp công nghệ cao, thường hiểu tốt hơn về công nghệ và nhìn thấy trước những tiềm năng của công nghệ

Một khó khăn nữa là việc chảy máu chất xám, nằm ngoài ranh giới của doanh nghiệp và bảo vệ sở hữu trí tuệ Những người tạo ra các kiến thức mới đôi khi có thể hoàn toàn giữ lại giá trị kinh tế của hiểu biết đó cho bản thân hoặc doanh nghiệp của mình Sự rò rỉ này có thể hạn chế việc đầu tư vào những công nghệ mới của các doanh nghiệp lớn và nhỏ, đặc biệt là những doanh nghiệp nhỏ tập trung vào các sản phẩm hoặc quy trình mới

Việc thiếu thông tin cho các nhà đầu tư và rò rỉ đầu tư đã tạo nên những khó khăn lớn cho những doanh nghiệp mới đang tìm kiếm nguồn vốn Sự khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư hỗ trợ cho những phát minh chưa được phát triển

và không hiểu rõ ràng rất dễ gây nản lòng Thực vậy, cụm từ “Thung lũng chết”

Trang 20

(Valley of death) đã được dùng để chỉ giai đoạn chuyển đổi của một công nghệ mới, dường như rất hứa hẹn nhưng lại quá mới để xác định tiềm năng thương mại và thu hút nguồn vốn cần thiết cho sự phát triển

Vai trò hỗ trợ của chính phủ trong phát triển công nghệ giai đoạn đầu

Mặc dù có những khó khăn trên, một số doanh nghiệp vẫn tìm được hướng đi cho mình, thu hút được nguồn tài chính từ những nhà đầu tư tư nhân hoặc từ các doanh nghiệp công nghệ Nhận thấy tầm quan trọng của các nhà đầu tư tư nhân và các doanh nghiệp công nghệ, các nhà nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu mới về tác động này Một trong những nghiên cứu gần đây nhất cho thấy trong khi tỉ lệ hỗ trợ chi phi từ các doanh nghiệp công nghệ cho quá trình R&D chỉ chiếm 3% trong năm vừa quá, nguồn vốn này đã chiếm 15% của các sáng chế công nghiệp

Như những số liệu cho thấy, trong thập kỷ vừa qua, con số doanh nghiệp công nghệ đầu tư vào doanh nghiệp nhỏ đã tăng gấp ba lần, và tổng đầu tư của các doanh nghiệp này đã tăng tám lần Đồng thời ta cũng thấy, trong hai năm vừa qua, thị trường vốn công nghệ đã giảm mạnh, đặc biệt là cho những doanh nghiệp mới

do đánh giá thấp và hoạt động IPO tập trung vào các đầu tư hiện tại cũng giảm

Mặc dù các nhà đầu tư tư nhân và các doanh nghiệp công nghệ, chính phủ và các trường đại học đã hỗ trợ tài chính cho phát triển công nghệ giai đoạn đầu, vai trò của liên bang cũng rất lớn Theo nghiên cứu của Branscomb và Auerswald, chính phủ liên bang đã hỗ trợ khoảng 20 đến 25% chi phí cho phát triển công nghệ giai đoạn đầu Sự đóng góp này càng có ý nghĩa khi chính phủ tài trợ cho những hoạt động mà các nhà đầu tư tư nhân cảm thấy quá mạo hiểm Do các doanh nghiệp dựa trên công nghệ là một nguồn quan trọng trong đổi mới và khả năng cạnh tranh của đất nước, vì thế rất cần phải hiểu được cách thức các chính sách hỗ trợ phát triển của các doanh nghiệp nhỏ

Vai trò của các cơ quan nhà nước

Các công ty chủ yếu là hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp, các phòng thí nghiệm, trường đại học, nhằm mục đích thúc đẩy đổi mới và thương mại hóa Mục tiêu dài hạn của các cơ quan hợp tác tư nhân và nhà nước là phát triển quy trình công nghiệp, sản xuất và dịch vụ, và từ đó áp dụng những công nghệ mới vào các nhiệm vụ của nhà nước như phát triển sức khỏe, bảo vệ môi trường và an ninh quốc gia

Khắc phục các giới hạn trong đầu tư

Mục đích chính của các cơ quan hợp tác tư nhân và nhà nước là để giúp các doanh nghiệp vượt qua các khó khăn về tài chính và khó khăn khác họ phải đối mặt khi đưa công nghệ mới ra thị trường Trong trường hợp nghiên cứu, chính phủ có thể tạo điều kiện hợp tác giữa các doanh nghiệp để phát triển công nghệ mới bằng cách như hỗ trợ kinh phí và không bắt buộc phải áp dụng luật chống độc quyền

Các giải thưởng cho đổi mới, một loại hỗ trợ quan trọng của nhà nước, khuyến khích phát triển những công nghệ mới mà bị coi là quá mạo hiểm về mặt tài chính để đầu tư Như đã nói ở trên, thậm chí những doanh nghiệp lớn nhất cũng có

Trang 21

thể không có khả năng thu hồi được những khoản đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ mà rất dễ bị rò rỉ cho các người sử dụng khác Những đánh giá gần đây về chương trình hỗ trợ đổi mới cho thấy chính phủ có thể giúp các doanh nghiệp vượt qua những khó khăn để đầu tư vào những công nghệ mới và dễ bị rò rỉ

Ủy ban đối tác Công nghiệp-Chính phủ đã tìm ra rằng những sự liên kết hợp tác giữa tư nhân và nhà nước “có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh sự phát triển của công nghệ mới từ một ý tưởng ra ngoài thị trường” Ủy ban cũng tìm hiểu một số điều kiện mang lại thành công cho các hình thức hợp tác: Cũng như đối với SBIR, các điều kiện này bao gồm:

- Các sáng kiến khởi nghiệp công nghiệp: Những nhà nghiên cứu và doanh nghiệp tự đưa ra những đề xuất khá rộng rãi cho những sáng chế của mình Việc tự

đề cử là một nguồn sức mạnh của các chương trình hỗ trợ, tạo ra sự linh hoạt và đa dạng

- Cơ chế lựa chọn cạnh tranh: chương trình SBIR khá lớn những vẫn có tính cạnh tranh cao Bình thường, khoảng 15% các doanh nghiệp trong Giai đoạn 1 thành công

- Cam kết chia sẻ chi phí: Hỗ trợ SBIR có thể hỗ trợ đổi mới, tác động vào đầu tư của công ty, thu hút những nguồn vốn khác và đảm bảo cam kết quản lý vì những người được hỗ trợ vẫn giữ quyền kiểm soát đối với sở hữu trí tuệ

- Đánh giá khách quan và liên tục: Những đánh giá cần thiết về các mối hợp tác

kể cả ở mức độ tác nghiệp cũng như mức độ chính sách có thể đảm bảo các chương trình như SBIR được áp dụng theo đúng nhu cầu của người sử dụng (bao gồm các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp) và cộng đồng chính sách vẫn nhận thức được tầm quan trọng của chương trình này trong việc hỗ trợ các mục tiêu quốc gia

Tận dụng đầu tư của nhà nước vào nghiên cứu

Như một kết luận, một nghiên cứu của Ủy ban Khoa học, Kỹ nghệ và chính sách công của Viện Hàn lâm quốc gia đã chỉ ra rằng kết hợp các chính sách cần thiết để tận dụng đầu tư của nhà nước vào nghiên cứu khoa học là một công cụ quan trọng Nghiên cứu này đã quan sát thấy sự đóng góp của các mối quan hệ hợp tác trong một quy trình mở rộng từ những nghiên cứu cơ bản, đến sử dụng lần đầu rồi

áp dụng sản xuất Tính mở này được coi là một khả năng đặc biệt của hệ thống đổi mới của Mỹ Từ ví dụ sự phát triển của chất kháng thể và công nghệ chất bán dẫn trong máy tính cá nhân và Internet, bản báo cáo đã đưa ra bốn điều kiện cần có để thương mại hóa hiệu quả các kết quả nghiên cứu Các điều kiện đó bao gồm:

- Cơ chế nghiên cứu và huy động vốn hỗ trợ cho sự kết hợp giữa khối đại học, công nghiệp và nhà nước

- Một danh mục đầu tư khoa học và công nghệ đa dạng của nhà nước

- Một môi trường thuận lợi cho khuyến khích đổi mới và huy động các ý tưởng và nguồn nhân lực

- Một nguồn nhân lực có kinh nghiệm về khoa học và công nghệ

Trang 22

Bản báo cáo cũng đưa ra hầu như tất cả các trường hợp thành công được nghiên cứu đều dựa trên sự hợp tác giữa các nhà khoa học và kỹ sư Họ có những quan điểm, khung thời gian, tài năng khác nhau từ các công ty tư nhân, nhà nước và các học viện giáo dục Tập hợp này ngày càng trở nên phức tạp trong những năm vừa qua, khi rất nhiều tổ chức đã vượt ra khỏi doanh nghiệp để tìm nguồn nghiên cứu từ các trường đại học, nhà cung cấp Tương tự, những doanh nghiệp định hướng công nghệ mới còn quá nhỏ để hỗ trợ những chương trình nghiên cứu cơ bản thường dựa vào mối liên hệ chặt chẽ với các nhà nghiên cứu ở trường đại học Bản báo cáo kết luận rằng chính phủ, doanh nghiệp và các trường đại học nên tiếp tục thử nghiệm với các liên hiệp và các cá thể, với mục đích là thực hiện các nghiên cứu mang lại lợi ích cho cả hai bên, tăng cường giáo dục và tận dụng các nghiên cứu cho lợi ích của xã hội Trong suốt quá trình liên kết hợp tác, doanh nghiệp nên chia sẻ chi phí và nhận dẫn đầu trong định hướng nghiên cứu

Đối mặt với những thách thức quốc gia mới

Các đối tác hợp tác có thể là một công cụ linh hoạt để đạt được những mục tiêu

cụ thể của nhà nước Ví dụ, các đối tác có thể đẩy nhanh sự phát triển của các công nghệ cần thiết để giải quyết các nhiệm vụ của an ninh quốc gia Theo như một bản báo cáo gần đây của Viện Hàn lâm Quốc gia, để chính phủ và khu vực tư nhân làm việc cùng nhau nhằm tăng cường an ninh quốc gia, cần có một liên kết hợp tác tư nhân và nhà nước hiệu quả và các dự án hợp tác Có rất nhiều hình thức liên kết giữa nhà nước và doanh nghiệp như nghiên cứu hợp tác và thỏa thuận phát triển, chương trình công nghệ tiên tiến NIST

và chương trình nghiên cứu phát triển doanh nghiệp nhỏ Các liên doanh tư nhân và nhà nước ở cấp liên bang, bang và khu vực đã đóng góp rất nhiều cho các nhiệm vụ quốc gia

về sức khỏe, năng lượng, môi trường

Một trong những thay đổi gần đây nhất trong phân tích chính sách đổi mới của Hoa Kỳ là nhằm thích ứng tốt hơn với những khó khăn trong hệ thống tài chính toàn cầu đang gặp khó khăn Để phục hồi nước Mỹ trong giai đoạn khủng hoảng, một số đề xuất đổi mới chính sách đã được đưa ra, có liên quan nhiều đến hoạt động đổi mới

Quốc hội và Tổng thống Hoa Kỳ đã cân nhắc các ý tưởng để thúc đẩy nền kinh

tế, và một số giải pháp chính sách được các chuyên gia đề xuất để thực hiện ngay để có thể kịp thời thông qua Quốc hội và Tổng thống ký duyệt Các giải pháp chính sách đổi mới sẽ là những tác nhân kích thích tạo vốn và nhân tài cho hệ thống đổi mới, cho phép các công ty mới nổi phát triển mạnh và tạo công ăn việc làm trong khi cũng làm tăng thu nhập quốc gia, nhằm giảm thâm hụt ngân sách

Những giải pháp này được các chuyên gia1 đưa ra như "Chương trình nghị sự về đổi mới cho kỳ họp Quốc hội lần thứ 112." Những giải pháp đó tiếp tục được xem xét thông qua quy trình lập pháp, và cần tiếp tục nhận được sự lưu tâm vì tiềm năng tạo ra công ăn việc làm là rất lớn Hành động kịp thời với những giải pháp này sẽ chứng minh cho người dân Hoa kỳ rằng các nhà lãnh đạo quốc gia có thể tìm thấy những giải pháp phù hợp để tạo ra một tác động đáng kể cho sự phục hồi kinh tế

1 Tardibono, Phó Chủ tịch phụ trách chính sách công, CONNECT (2011)

Trang 23

Nhóm giải pháp thứ nhất: Tăng giới hạn tiền tệ cho cung cấp các dịch vụ công trực tiếp bởi các công ty nhỏ, tạo cơ hội mới cho các công ty mới nổi tăng nguồn vốn

Theo Luật Chứng khoán, điều khoản A quy định cung cấp cho các công ty nhỏ một quá trình đơn giản hóa để huy động vốn thông qua chứng khoán trực tiếp Tuy nhiên, chi phí để thực hiện cùng với gánh nặng quy chế làm cho giới hạn 5 triệu đô la không được thực hiện và sử dụng đúng mức

Trong bối cảnh đó, chính sách mới dự kiến sẽ tăng giới hạn từ 5 triệu đô la của quy chế đã lỗi thời lên đến 50 triệu đô la nhằm tạo điều kiện cho các công ty mới nổi huy động vốn mới thông qua các gói "cung cấp nhỏ" trong khi vẫn bảo vệ các nhà đầu tư Ủy ban Dịch vụ Tài chính đã thông qua Luật H.R.1070 - Đạo luật hình thành Vốn Công ty nhỏ - với sự hỗ trợ từ hai đảng Thượng viện gần đây đã đề xuất một phiên bản tương tự,

S 1544, được cả hai đảng đồng bảo trợ Trong chương trình của Quốc hội về việc làm, Tổng thống cũng bày tỏ sự ủng hộ cho ý tưởng cải tiến giới hạn quy chế nói trên

Nâng cao giới hạn lên 50 triệu đô la sẽ mở ra một con đường mới cho nhiều công

ty mới nổi muốn cung cấp các gói dịch vụ lớn hơn 5 triệu đô la nhưng chưa làm được do tuổi đời còn ít Tháo gỡ cho các công ty mới, bao gồm cả những công ty đang gặp khó khăn trong giai đoạn sau nghiên cứu (còn được các nhà chuyên môn gọi là Valley of Death - Thung lũng chết chóc), sẽ tạo ra sự tăng trưởng ngắn hạn và công ăn việc làm

Nhóm giải pháp thứ hai: Khuyến khích việc đầu tư các thu nhập nước ngoài vào hoạt động nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ mới

Không có gì bí mật khi các công ty Hoa Kỳ đang ngồi trên một tài sản nhiều tỷ đô

la từ thu nhập nước ngoài và đang phải chịu tới 35% tổng mức thuế suất nếu họ đưa số thu nhập này về sử dụng ở Hoa Kỳ Mức thuế suất cao này chính là yếu tố ngăn chặn nguồn vốn đó quay lại Hoa Kỳ, đồng thời khuyến khích các đối thủ toàn cầu của Hoa Kỳ cung cấp nhiều ưu đãi tài chính để dùng được số tiền đó vào sản xuất, nghiên cứu và tạo công ăn việc làm ở nước họ Thay vì cho phép các đối thủ cạnh tranh toàn cầu sử dụng doanh thu nước ngoài của các công ty Hoa Kỳ, nhằm cải thiện sức cạnh tranh của họ và thu hẹp khoảng cách về đổi mới so với Hoa Kỳ, Quốc hội và Tổng thống cần khuyến khích việc đầu tư những khoản doanh thu ở nước ngoài quay trở lại Hoa Kỳ sao cho vốn

sẽ được đổ vào việc đổi mới ở giai đoạn đầu và các công nghệ mới nổi Luật HR 1036 về tạo công ăn việc làm và hoạt động đầu tư cho đổi mới năm 2011 thực hiện chính việc đó

Luật HR 1036 cho phép vốn chuyển về đổi mới ở giai đoạn đầu bằng cách cắt giảm mức thuế suất xuống 0% đối với doanh thu nước ngoài quay trở về Hoa Kỳ nhằm tài trợ nghiên cứu và phát triển, bao gồm việc tài trợ, mua hoặc hợp tác NC&PT, tài trợ cho các định hướng thử nghiệm ban đầu, đầu tư mạo hiểm giai đoạn đầu, mở rộng cơ sở vật chất, tạo ra hoặc mở rộng sản xuất ở Hoa Kì bao gồm sản xuất theo hợp đồng Dự luật này tạo được sự quay hồi doanh thu nước ngoài ở mức 5,25% Đưa thu nhập quay lại Hoa Kì để kích thích nhiều hơn cho sự đổi mới sẽ tạo ra công ăn việc làm trong khi tăng cường lợi thế của Hoa Kỳ trong sự đổi mới ở quy mô toàn cầu

Nhóm giải pháp thứ ba: Khuyến khích thêm nhiều nhà đầu tư cá nhân (còn gọi

là Thiên thần kinh doanh) cho việc khởi nghiệp và các công ty mới nổi

Trang 24

Đầu tư cá nhân đã chứng tỏ là một động lực quan trọng trong những nỗ lực tài chính cho khởi nghiệp và các công ty mới nổi, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ Các

cá nhân đầu tư, còn được gọi là nhà đầu tư được công nhận, thường xuyên tham gia với những cá nhân khác để chung các nguồn lực nhằm tạo ra một tác động tài chính lớn hơn cho các công ty tiếp nhận đầu tư

Đạo luật tạo cơ hội của Mĩ - khuyến khích những đóng góp của nhà đầu tư bằng cách cung cấp tín dụng thuế thu nhập liên bang 25% khi đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ khởi nghiệp Tín dụng này sẽ làm khuyến khích các nhà đầu tư vốn hiện đang đầu tư vào những công nghệ mới nổi, đồng thời cũng mở rộng số các nhà đầu tư cá nhân, kích hoạt nguồn vốn mới để hỗ trợ nhiều hơn cho các công ty khởi nghiệp đi vào hoạt động

ổn định

Nhóm giải pháp thứ tư: Cho phép chương trình SBIR hoạt động trở lại

Cộng đồng hoạt động trong lĩnh vực đổi mới biết rằng các chương trình nghiên cứu đổi mới doanh nghiệp nhỏ (SBIR) và chương trình chuyển giao công nghệ doanh nghiệp nhỏ (STTR) rất có lợi cho việc khởi nghiệp Các chương trình SBIR / STTR đã được chứng thực là hoạt động tốt và đã tạo ra những công nghệ cải thiện cuộc sống và xây dựng các tập đoàn lớn Những khoản tài trợ mang tính cạnh tranh này giúp các công

ty khởi nghiệp tiếp cận được vốn trong giai đoạn đầu nhằm phát triển công nghệ thường mang mục đích quốc gia về sức khỏe cộng đồng, quốc phòng, an ninh nội địa

Nhà Trắng và Thượng viện đang đàm phán một thỏa thuận về tái khởi động SBIR/STTR nhằm mở rộng lĩnh vực mà các công ty khởi nghiệp có thể áp dụng và đã cho thấy khả năng tồn tại bằng cách có được một số đầu tư tư nhân Lãnh đạo ở cả hai đảng sẽ cần khuyến khích các nhà đàm phán đưa ra một thỏa thuận trong thời gian ngắn

để chương trình có được sự chắc chắn và trọng tâm dài hạn nhằm khuyến khích tăng trưởng khởi nghiệp

Nhóm giải pháp thứ năm: Giữ lại được những tài năng hàng đầu từ các trường đại học Hoa kỳ

Khi cộng đồng giáo dục Hoa kỳ vẫn tiếp tục cải tiến hệ thống giáo dục của quốc gia để đào tạo thêm các nhà khoa học và kỹ sư có trình độ cao hơn, chính sách về thị thực của Hoa Kỳ buộc những tài năng hàng đầu tốt nghiệp từ các trường đại học Hoa kỳ trở về quê nhà, nơi họ sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh toàn cầu của Hoa kỳ

Luật H.R 399 năm 2011 – về sự giữ lại hoạt động trong nền kinh tế những tiến sĩ được đào tạo tại Hoa kỳ (còn gọi là đạo luật STAPLE) - đảo ngược lại chính sách nhân lực thiếu tính cạnh này bằng cách miễn trừ hạn ngạch thị thực cho những tiến sĩ sinh ra ở nước ngoài nhưng có kỹ năng cao ở lại làm việc tại Hoa Kì Giữ những tài năng được đào tạo ở lại để giúp phát triển các công ty sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của Hoa Kì

Nhóm giải pháp thứ sáu: Tạo điều kiện cho các doanh nhân nhập cư phát triển các công ty mới khởi nghiệp của mình

Một số công ty lớn nhất của Hoa kỳ được khởi đầu bởi các doanh nhân nhập cư Bối cảnh Hoa kỳ đầy dẫy những câu chuyện về người nhập cư đến Hoa Kỳ tìm vận may

để có một cuộc sống tốt đẹp hơn Chính sách di trú của Hoa Kỳ tạo ra quá nhiều rào cản

Trang 25

cho doanh nhân nhập cư hiện nay xây dựng công ty thành công và tạo công ăn việc làm

ở Hoa Kỳ Nguồn tài năng này, dù muốn cập bến bờ của Hoa kỳ một cách hợp pháp, vẫn còn ở nước ngoài và tạo ra các đối thủ cạnh tranh mới cho các công ty Hoa kỳ

Luật thị thực khởi nghiệp năm 2011 – số S.565/H.R.1114 – sẽ kéo dài thời hạn của thị thực kinh doanh tạm thời cho các doanh nhân sinh ra ở nước ngoài nhưng có sự bảo trợ của các nhà đầu tư có đủ tiêu chuẩn của Hoa kỳ Những người có thị thực H1-B cũng như các doanh nhân đang có mặt tại thị trường Hoa kỳ có thể xin thị thực doanh nhân

Việc tạo điều kiện cho các doanh nhân nhập cư và làm ăn dễ dàng sẽ thu hút được nguồn lực và sự sinh động mới cho nền kinh tế trong phát triển và đổi mới công nghệ

Nhóm giải pháp thứ bảy: Củng cố những quy định đã được thông qua hiện nay của Luật về việc làm của doanh nghiệp nhỏ năm 2010 nhằm tạo ra sự chắc chắn lâu dài cho các doanh nghiệp nhỏ và các nhà đầu tư của họ

Luật về việc làm của doanh nghiệp nhỏ năm 2010 (số P.L 111-240) bao gồm một điều khoản đình chỉ tạm thời thuế tăng vốn cho các khoản đầu tư kéo dài năm năm trong các doanh nghiệp nhỏ Luật này cũng bao gồm một điều khoản cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các loại tín dụng kinh doanh khác nhau mà không phải chịu

hệ quả tiêu cực về thuế Những quy định này được thông qua trên cơ sở tạm thời và sẽ sớm hết hiệu lực

Thay vì việc kéo dài tạm thời thêm điều khoản này (mà sẽ cần được gia hạn hàng năm) và tạo thêm sự không chắc chắn như liệu các khoản tín dụng có thể được sử dụng được hay không, Quốc hội và Tổng thống sẽ cần đưa hai quy định này thành tính vĩnh viễn Làm điều này sẽ đảm bảo các công ty khởi nghiệp có thể thu hút thêm các nguồn đầu tư dài hạn và lên kế hoạch cho tương lai và sẽ dẫn đến việc tăng khả năng tồn tại khi mới khởi nghiệp

II.2 Kinh nghiệm của một số nước khác

II.2.1 Kinh nghiệm thúc đẩy đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ của Thái Lan

1 Cơ cấu công nghiệp, kinh tế của Thái Lan và vai trò của các DNV&N

Trong suốt 4 thập kỷ qua, cơ cấu kinh tế của Thái Lan đã chuyển từ nền kinh

tế dựa vào nông nghiệp sang nền kinh tế mà trong đó khu vực công nghiệp đã đạt được vai trò quan trọng đặc biệt Tỷ trọng của khu vực nông nghiệp trong GDP đã giảm xuống đáng kể từ chỗ gần 40% trong những năm 1960 xuống còn khoảng 4% trong cuối những năm 1990 (Bảng 2) Đặc biệt, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu trong các ngành kinh tế chế tạo, chế biến dựa chủ yếu vào nguồn nguyên liệu và thâm dụng lao động đã giảm xuống, trong khi đó cơ cấu xuất khẩu của khu vực kinh tế dựa vào nền tảng khoa học đang tăng lên đặc biệt trong những năm 1990 (Bảng 1)

Trang 26

Bảng 1: Phân bổ xuất khẩu hàng hóa chế biến, chế tạo theo loại công nghệ

Tuy nhiên, dường như là việc tăng trưởng quan trọng đó trong xuất khẩu các

mặt hàng dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ không có nghĩa là đã có sự

chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Thái Lan đạt tới nền kinh tế sử dụng nhiều công nghệ

bời vì các chỉ số trong bảng nêu trên không phản ảnh được sự phức tạp của các hoạt

động công nghệ cần thiết để sản xuất ra hàng hóa Chính sách công nghiệp hướng

về xuất khẩu của Thái Lan trong những năm 1980s và những năm 1990s không chú

ý đầy đủ tới việc phát triển năng lực công nghệ nội sinh như là một nhân tố không

thể tách rời của quá trình công nghiệp hóa Cũng như vậy, hướng chính của chính

sách đầu tư, đặc biệt là việc xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ nhằm chủ

yếu vào việc tạo ra dòng đầu tư vào trong nước và tạo ra công ăn việc làm Điều này

đã làm Thái Lan phụ thuộc chủ yếu vào vốn và công nghệ của nước ngoài Nói cách

khác, chính sách công nghiệp và đầu tư của Thái Lan đã không nhìn thấy được sự

cần thiết của sự phát triển các sáng kiến ở trong nước và phát triển năng lực công

nghệ nội sinh Chính những vấn đề có cấu kinh tế nêu trên đã dẫn đến khủng hoảng

kinh tế năm 1997 đã buộc Thái Lan phải thay đổi lớn trong chính sách dưới thời của

thủ tướng Thaksin kể từ đầu những năm 2000 mà sau nay người ta thường gọi là

Chính phủ Thaksin cũng như các nền kinh tế đang trên đà phát triển như Đài

loan và Hàn Quốc đã tập trung vào phát triển năng lực công nghệ nội sinh như là

nhân tố then chốt để tăng cường nền tảng kinh tế vi mô và vĩ mô để làm nâng cao

tính cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế của mình Ý tưởng này đã được thực hiện

trong Kế hoạch Hành động Khoa học và Công nghệ 10 năm (2003-2013) nhằm giải

quyết những các chính sách ‘được lựa chọn’ nghiêm túc Trong một số ngành kinh

tế cụ thể như ô tô, thực phẩm, du lịch, thời trang và phần mềm Đồng thời, cả doanh

nghiệp lớn và nhỏ đều nỗ lực lớn trong việc tăng cường các hoạt động R&D và tiếp

Trang 27

thu thiết kế sản phẩm và bí quyết công nghệ từ các chuyên gia nước ngoài Kết quả

là kinh tế Thái Lan trong những năm vừa qua đã cho thấy hướng đến sự tăng trưởng

do sự chuyển đổi chính sách sang phát triển năng lực công nghệ nội sinh

Như bảng 8 cho thấy tổng GDP đã đạt được 161 tỷ USD trong năm 2004 Tốc độ tăng trưởng thực đã tăng từ 4,4% trong năm 1999 lên tới 6,1% năm 2004 Mặc dù tốc độ GDP thực trong năm 2004 hơi thấp hơn năm 2003, nhưng nó vẫn tăng mạnh mẽ nếu so sánh với các nước Châu Á Nếu xét về công ăn việc làm, thì tốc độ thất nghiệp đã giảm dần từ 4,2% trong năm 1999 xuống còn 2,2% trong năm

2004 Con số này cho thấy kinh tế Thái Lan đã phục hồi, nhờ có sự chuyển đổi chính sách sang phát triển năng lực công nghệ nội sinh

Mỗi quốc gia đều định nghĩa DNV&N (SME) theo cách của mình Thái Lan định nghĩa SME như sau: Theo qui định của Bộ Công nghiệp Thái Lan ban hành 11 tháng 9 năm 2002, định nghĩa về qui mô của SME bằng cách tính số nhân công hay giá trị của tài sản cố định, không tính đất đai Việc tính toán này dựa trên số nhân công làm việc cả ngày hoặc tài sản cố định Ví dụ, trong ngành chế tạo, chế biến, thì tất cả các doanh nghiệp nhỏ không vượt quá 50 nhân công hoặc không vượt quá 50 triệu baht trong tài sản cố định Nếu cố nhân công nằm trong khoảng từ 51 đến 200 người hoặc tài sản cố định, không tính đất đai, vượt qua 50 triệu baht nhưng thấp hơn 200 triệu baht lúc đó được coi là doanh nghiệp vừa (Bảng 3)

SME là động lực chính đối với sự phát triển kinh tế của Thái Lan, hầu hết các doanh nghiệp Thái Lan đều có đăng ký và được gọi là SME Đóng góp của SME vào GDP và xuất khẩu có vai trò quan trọng Năm 2004, Thái Lan có 22.161.577 SME, chiếm 99,8% tổng số doanh nghiệp Cũng như vậy, số SME đã tăng trưởng mạnh mẽ từ 799.033 trong năm 1997 lên tới 2.161.577 trong năm 2004

Đặc biệt, đóng góp của SME vào GDP và xuất khẩu của Thái Lan đã đóng vai trò quan trọng Như trong bảng ?, cho thấy đóng góp của SME đối với GDP vẫn còn quan trọng chiếm 37,8% trong tổng GDP năm 2004, mặc dù tỷ trọng của GDP hơi giảm hơn từ 39,5% năm 2000 Cũng như vậy, khi xem xét đóng góp của SME vào xuất khẩu, thì giá trị xuất khẩu của các mặt hàng chế tạo, chế biến là 1.516,9 triệu baht trong năm 2003, nó chiếm 45,5% giá trị xuất khẩu Giá trị xuất khẩu của các sản phẩm chế biến, chế tạo cho thấy có xu hướng tăng trong thời kỳ 2000-2003

Bảng 3: Định nghĩa SME ở Thái Lan

Việc làm (số nhân công) Tài sản cố định (1 triệu baht)

Trang 28

2 Một số chính sách chủ yếu nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ cho các DNV&N

Có lẽ điểm xuất phát và lý do chính của chính sách đổi mới DNV&N là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 ở Thái Lan Nhưng lý do chính của cuộc khủng hoảng này là xuất phát từ một cơ cấu kinh tế phân khúc với những khoản nợ nước ngoài không lồ và những khoảng vay lớn của các tập đoàn lớn (Les) Chính vì vậy, Chính phủ Thái Lan đã nhấn mạnh vào việc đổi mới các DNV&N như là một biện pháp lựa chọn để phục hồi nền kinh tế và phát triển kinh tế bền vững Một trong những trong những phương thức đổi mới đó là tăng cường các hoạt động đổi mới của DNV&N Năm 2000 Chính phủ Thái Lan đã ban hành đạo luật phát triển DNV&N và thành lập Văn phòng Phát triển DNV&N (OSMEP) OSMEP là một cơ quan độc lập hoạt động như là một văn phòng kế hoạch trung ương điều phối các kế hoạch chiến lược và các công việc của các cơ quan có liên quan đến việc phát triển DNV&N

Bên cạnh việc thành lập OSMEP, chính phủ cũng đưa ra Kế hoạch Phát triển DNV&N nhằm nâng cao vai trò quan trọng của việc phát triển SME Điều còn đi xa hơn nữa là trong năm 2002 Ngân hàng SME đã được thành lập hoạt động như một

cơ quan chuyên trách về tài chính nhằm hỗ trợ tài chính cho các SME và xúc tiến thành lập các SME mới

Hiện tại, có 3 ủy ban phụ trách các công việc liên quan đến việc xúc tiến SME đó là Ủy ban Phát triển Cạnh tranh (CDC) trực thuộc Ban Phát triển Kinh tế

Xã hội Quốc gia (NESDB), Ủy ban Một làng Một sản phẩm (OTOP) và Ủy ban Phát triển SME của OSMEP Ba Ủy ban nói trên đều lấy vốn từ cùng môt quỹ xúc tiến SME Mặc dù 3 ủy ban này có nguồn gốc khác nhau, nhưng ưu tiên chiến lược chính của chúng là phát triển các cơ sở vật chất công nghệ và phát triển SME theo hướng đổi mới

a) Chính sách tiếp cận thị trường

Nói về việc mua sắm chính phủ ở Thái Lan, thì các SME không tham gia vào việc mua sắm chính phủ, nhưng những khái niệm và ý tưởng về đấu thầu của chính phủ là do các SME đóng góp Thay vào đó, chính phủ đã quyết tâm hỗ trợ các SME tiếp thị thông qua đưa các SME hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu của các MNC hoặc các tổng công ty lớn Kế hoạch này được thực hiện thông qua Kế hoạch Phát triển Cung ứng Quốc gia (NSDP) và Đơn vị Liên kết Công nghiệp của Ủy ban đầu tư (BUILD)

NSDP là một chương trình chuyên tham gia vào các hợp đồng phụ nhằm phát triển các mối liên kết với các công ty lớn, trong khi đó BUILD là thực hiện những nhiệm vụ (1) khuyến khích sử dụng nhiều hơn các linh kiện, phụ tùng trong nước; (2) tạo ra các cơ hội nhằm cho các nhà chế biến, chế tạo có thế đến được các thị trường lắp ráp mới; (3) giúp đỡ các một phần các nhà chế biến, chế tạo nắm bắt được các loại hình kinh doanh có liên quan; (4) khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào chế tạo ra những linh kiện ở Thái Lan Do đó, BUILD và NSDP đã tạo cơ hội cho SME tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế thông qua việc hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu của MNC và Các công ty lớn (LEs)

Trang 29

Ngoài ra, Chương trình Chứng nhận ISO hỗ trợ vật chất cho SME trong xuất khẩu bằng việc thiết lập các chuẩn để hướng tới sự đổi mới SME

b) Chính sách phát triển nguồn nhân lực

Để lấp đầy khoảng cách về kỹ năng nghề nghiệp giữa các ngành công nghiệp

và nâng cao nhận thức về văn hóa tinh thần doanh nghiệp, Chính phủ Thái Lan đã quan tâm đến đầu tư trong lĩnh vực đào tạo nghề Đặc biệt là Chương trình Sáng tạo Tình thần doanh nghiệp Mới đã tiến hành một chương trình đào tạo (NEC) Cục Xúc tiến Công nghiệp (DIP) đã thuê các chuyên gia tư vấn từ các tổ chức giáo dục,

tổ chức tài chính, các hội và các cơ quan độc lập ở trung ương và địa phương tham gia vào hoạt động đào tạo ngắn hạn và dài hạn

Các khóa học ngắn hạn (đào tạo trong 72 giờ) đã được tổ chức để trang bị cho mọi người kiến thức cơ bản và kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh Khóa học này bao gồm cả kiến thức về kinh doanh sẵn có, các luật lệ có liên quan, phân tích đầu tư kinh doanh, chiến lược tiếp thị, quản lý sản xuất, hệ thống kế toán, cách thức tiến hành các kế hoạch đầu tư và kinh doanh và đề xuất các kế hoạch kinh doanh đối với các cơ sở tài chính

c) Chính sách công nghệ

Cục xúc tiến công nghiệp (DIP) xúc tiến việc liên kết giữa SME trong nước

và các công ty nước ngoài Tuy nhiên, do công nghệ không phù hợp, qui trình sản xuất lỗi thời và khả năng quản lý thấp nên các SME trong nước không có đủ khả năng tận dụng đầy đủ các mối liên kết với các công ty nước ngoài Điều này xuất phát từ việc bảo hộ của chính phủ và phát triển thiếu sự tăng cường khả năng hấp thụ công nghệ của SME Thái Lan Do đó, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào việc phát triển hợp tác công nghệ thông qua hoạt động tư vấn, tham vấn và dịch vụ chuyển giao công nghệ và tạo ra những doanh nghiệp (spin-offs) mới

Một trong những chính sách chủ yếu để phát triển R&D cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ của Thái Lan là tăng ngân sách R&D do BOI đưa ra Trên thực tế, Chương trình Người bán Gặp Người mua (VMC) trong khuôn khổ của BOI là một kế hoạch tập trung cụ thể vào phát triển và chuyển giao công nghệ Mục đích chủ yếu của VMC là kết nối người bán/nhà sản xuất với khách hàng/người lắp ráp Chương trình này lôi quấn vai trò của nhà sản xuất trong các nhà máy lắp ráp

Cơ hội của mối liên kết này giúp các nhà sản xuất đưa ra đề xuất kinh doanh để cung cấp các phụ kiện cho các nhà máy của họ Kết quả là, vai trò của các nhà sản xuất dựa vào những gì những nhà lắp ráp muốn trong khi đó các nhà lắp ráp lại hiểu hơn các doanh nghiệp mà họ có thể cung cấp các cấu kiện mà họ cần

Ngoài chương trình này, Cơ quan Phát triển KH&CN Quốc gia (NSTDA) đã đưa ra Chương trình Hỗ trợ Công nghệ Công nghiệp (ITAP) Nội dung chính của chương trình này bao gồm tư vấn công nghiệpvà đưa ra các dịch công nghệ cần có cho các SME Trước hết là, việc tư vấn công nghiệp được đưa ra thông qua việc các chuyên gia trong nước và ngoài nước chuẩn trị các vấn đề kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề kỹ thuật cũng như hỗ trợ R&D mà nó bao gồm cả quản lý công nghệ Hai là, ITAP tạo ra quá trình tìm kiếm và tiếp thu công nghệ thích hợp

Trang 30

ITAP tạo cho SME Thái Lan cơ hội tiếp cận thông tin đầu tiên về những tiến

bộ công nghệ và đổi mới ITAP cũng tạo cho SME tầm nhìn của sự phát triển doanh

nghiệp và công nghiêp trong tương lai Điều này được thực hiện thông qua việc tổ

chức các chuyến đi thăm quan công nghệ ở nước ngoài và tổ chức luân phiên các sự

kiện kết nối cung cầu Các hoạt động này đã tạo cho SME cơ hội tìm công nghệ mới

và thích hợp và thiết lập đối tác kinh doanh và công nghệ với các doanh nghiệp

nước ngoài Các chuyến đi thường thì liên quan đến việc thăm quan các nguồn công

nghệ đặc biệt và các tổ chức nghiên cứu, các công ty và các nhà máy sản xuất, gặp

gỡ các đối tác tiềm năng theo các lịch trình đẵ được dàn xếp trước và thăm quan và

tham gia các hội trợ công nghiệp nhằm thu thập các thông tin về công nghệ mới

nhất và các xu hướng thị trường

d) Chính sách tài chính

Kế hoạch Phát triển SME đã đưa ra các biện pháp tài chính có liên quan đến

ngành ngân hàng và các thị trường vốn Các biện pháp bảo gồm các hình thức tín

dụng và cổ phần (Bảng 4)

Bảng 4: Tiền cho các SME vay của một số cơ sở tài chính chuyên ngành

Kết quả (t1-t12, 2003) Các cơ sở tài chính Tổng số cho

vay trong năm

2003 (triệu baht)

Số (hạng mục)

Tổng số (triệu baht)

Đối với khía cạnh nợ, Công ty Đảm bảo Tín dụng Công nghiệp Nhỏ

(SICGC), một tổ chức tài chính chuyên biệt của chính phủ, là một tổ chức tài chính

duy nhất tham gia vào việc bảo lãnh cho vay đối với SME Có 3 loại chương trình

bảo lãnh cho vay đối với vay toàn bộ thì không cần phải có bằng chứng thế chấp

Bảo lãnh thứ nhất không được vượt quá 50% toàn bộ tổng số vay và giá trị tối đa

đối với bảo lãnh là không vượt qua 40 triệu baht Đối với bảo lãnh thứ 2 cũng

không vượt quá 50% tổng số vay và giá trị tối đa đối với bảo lãnh là không quá 3

Trang 31

triệu baht Đối với bảo lãnh cuối cùng là sự bảo lãnh có sự tham dự rủi ro SIGC bảo lãnh cho vay mới mà nó có không có thế chấp và bảo lãnh này cũng không vượt quá 50% tổng số vay Trong năm 2003, 8 cơ sở tài chính chuyên biệt đã có một thỏa thuận chung nhằm đạt được mục đich cho các SME vay Cuối năm 2003, các cơ sở này đã cho các doanh nghiệp vay tổng số 153.531 triệu baht đạt được 138% vốn vay của mục tiêu ban đầu đối trong năm 2003 (109.250 triệu baht)

Đối với các chính sách cổ phần, có hai sáng kiến chính Đó là sự thành lập Quĩ Vốn Mạo hiểm (VCF) trong năm 2003 và chứng khoán cho SME được gọi là Thị trường Đầu tư Lựa chọn (MAI) VCF được thành lập nhằm nâng cao tính cạnh tranh của SME Thái Lan Nhóm hàng hóa mục tiêu của của chương trình này là mốt thời trang và công nghiệp phụ trợ Có hai mục tiêu chính của VCF Mục tiêu thứ nhất là nhằm quyên quĩ vốn cho SME có tiềm năng kinh doanh cao và thuộc về các loại kinh doanh đã được chọn lựa Ngoài ra, VFC cũng nhằm phát triển các SME theo Chính sách Phát triển Chiến lược dành cho SME để nâng cao tiềm năng kinh doanh của Thái Lan Hai là, nhằm vào giảm nợ đối với cổ phẩn của SME và hỗ trợ SME trong quản lý, tiếp thị và kế toán, vv., cho tới khi nó có khả năng nâng cao cổ phần của mình từ Thị trường Chứng khoán Thái Lan (SET) hay Thị trường đầu tư

có lựa chọn (MAI) Đối với MAI thì nó bắt đầu hoạt động từ năm 1999 với các mục tiêu nhằm tạo ra kênh cấp vốn khác nhau cho SME cũng như đưa ra các lựa chọn đầu tư rộng hơn cho các nhà đầu tư

Liên quan đến khía cạnh vay và cổ phần, thì các sáng kiến của chính phủ có

vẻ thành công hơn đối với tài trợ cho nợ hơn là cổ phần Như đã đề cập trước đây, việc cho vay của các ngân hàng giành cho SME vượt quá mục tiêu 38,7% trong năm 2003, trong khi VCF thấp hơn nhiều mục tiêu mà chính phủ đặt ra ban đầu Năm 2004, chỉ có 97 SME tìm được các nhà đầu tư đối tác Ngoài ra, mục tiêu của MAI đặt ra là có 500 SME được niêm yết trên thị trường, nhưng chỉ có 27 công ty

đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Nhân tố quan trọng nhất hạn chế con số các công ty gia nhập thị trường chứng khoán là nghĩa vụ phải đưa ra các thông tin tài chính cho công chúng Điều này gây tốn kém cho SME hoạt động ngoài khuôn khổ của MAI muốn nâng cấp công tác kế toán để đáp ứng tiêu chuẩn cần thiết

e) Chính sách đổi mới quản lý

Để đổi mới quản lý trở thành thực sự ở tầm vĩ mô, chính phủ đã đưa ra cách quản lý khu vực tư nhân để cải tiến tính hiệu quả và hiệu suất của hệ thống hành chính Phong cách Quan chức Điều hành Cao cấp (CEO) hiện nay được thực hiện ở

cả cấp trung ương và địa phương để kết nối các chính sách liên quan của chính phủ theo cách chỉ đạo rõ ràng và minh bạch

Tư vấn

OSMEP có dịch vụ tư vấn nội bộ như hoạt động như là một trung tâm dịch

vụ và điều phối của SME, nó bao gồm cả cơ sở vật chất và dịch vụ tư vấn và kinh doanh tổng hợp kết nối cả thị trường trong nước và quốc tế

Trang 32

Nâng cao nhận thức về đổi mới SME

NIC dưới sự chỉ đạo của OSMEP đã quảng bá các nghiên cứu ở các trường đại học thông qua các hoạt động và hội thảo nhằm xây dựng sử nhìn nhận và nhận thức về đổi mới của SME Cơ quan Đổi Mới Quốc gia (NIA) đã đưa ra các dự án đổi mới nhận thức cho công chúng và SME nhằm động viên sự công nhận và nhận thức về SME về nền kinh tế dựa trên đổi mới

Hệ thống cung cấp thông tin

Điều cần thiết phải nâng cao kỹ năng quản lý đổi mới thông qua việc đưa ra các công cụ như phân tích giá trị, định mức đạt được (benchmarking), quan sát công nghệ và kết nối kinh doanh giữa quốc tế Điều cũng cần thiết là đưa ra một chương trình chính phủ nhằm làm cho đổi mới hiệu quả hơn và nâng cao tính cạnh tranh thông quan nâng cao khả năng các lĩnh vực kinh tế trong nước và ở tầng lớp cơ sở bằng việc thông qua Quỹ Làng xã

f) Chính sách mạng lưới và phân chùm (clustering)

Ở Thái Lan, khái niệm chùm được sử dụng như là một phương tiện để xác định sự yếu kém và phân khúc của hệ thống đổi mới Khái niện này xuất phát từ những người đi trước quá chú ý tới sự ổn định của kinh tế vĩ mô Do đó, chính phủ Thái Lan đã nhấn mạnh đến việc tăng cường nền tảng vi mô và vĩ mô đối với cạnh tranh quốc tế Ưu tiên cao của tính cạnh tranh là việc thành lập Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia do Thủ tướng làm Chủ tịch Hướng chiến lược chính là các chính sách

“lựa chọn” nhằm giải quyết các lĩnh vực cụ thể và các nhóm (chùm) Kết quả của nó

là theo đuổi các nhóm chiến lược trong ngành ô tô, thực phẩm, du lịch, thời trang và phần mền Ngày 30 tháng 11 năm 2004, 17 chùm trong các ngành công nghiệp khác nhau đã được thiết lập Đối với chùm của SME, nỗ lực tập trung nhằm phát triển các chùm SME vẫn chưa được hình thành, nhưng OSMEP đang xây dựng kế hoạch thành lập chùm SME khu vực

Mạng lưới những người môi giới và các tổ chức trung gian ở Thái Lan đóng vai trò quan trọng như SME, LE, MNC, PRI, trường đại học, những nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp trong các chùm để phát triển và hỗ trợ R&D và chuyển giao công nghệ Họ thực hiện các chức năng khuyến khích việc hình thành và chia sẻ kiến thức và xây dựng lòng tin giữa các doanh nghiệp trong các chùm Do đó, các chính sách mạng lưới và hình thành chùm của Thái Lan đang nhằm vào sự hợp tác chặt chẽ với các tổ chức trung gian và tăng cường khả năng thể chế của họ, đặc biệt trong việc gắn kết một số doanh nghiệp với những người đóng vai trò khác trong chùm Tuy nhiên, theo loại cơ chế để khuyến khích các chùm được khởi xướng kể

từ một vài năm trước đây, thì việc vận hành rõ ràng của nó vẫn chưa thực hiện được

Chương trình ươm tạo doanh nghiệp

Chính phủ Thái Lan có các chính sách ươm tạo doanh nghiệp nhằm khuyến khích các SME khởi nghiệp Các chính sách chính của chính phủ dành cho ươm tạo doanh nghiệp được điều hành và điều phối bởi Cục Xúc tiến Công nghiệp (DIP),

Trang 33

Viện Phát triển SME (ISMED), OSMEP và Cơ quan Phát triển Khoa học và Công nghiệp Quốc gia (NSTDA)

Chương trình ươm tạo của chính phủ đầu tiên được xây dựng theo kế hoạch tổng thế phát triển SME ở miền Nam Thái Lan Với việc hỗ trợ cấp vốn và kỹ thuật

từ EU, trung tâm ươm tạo doanh nghiệp đầu tiên được DIP và IMESD thành lập

1999 Trung thâm thí điểm này được thành lập trên cở sở của Trung tâm Xúc tiến Công nghiệp Vùng ở Hat Yai Songkhla miền Nam Thái Lan

Những nhà ươm tạo doanh nghiệp quan trọng đã xuất hiện trong năm 2002 bằng việc dùng nguồn ngân sách mới của chương trình Xây dựng Tinh thần Doanh nghiệp nhằm vào việc phát triển tinh thần doanh nghiệp trong toàn bộ nước Thái Lan Trung tâm ươm tạo này là một trong những hoạt động quan trọng của chương trình của NEC Các chương trình ươm tạo doanh nghiệp theo chương trình NEC là

Dự án Tinh thần Doanh nghiệp Trẻ, Chương trình Chuyển giao Công nghệ Sáng tạo cho Dự án Kinh doanh SME và Dự án Đào tạo Cho Những người có tinh thần công nghệ Dự án Tinh thần doanh nghiệp SME trẻ và Chuyển giao kỹ thuật sáng tạo trẻ cho dự án Kinh doanh SME là những dự án nhằm vào việc hỗ trợ cho các SME đang được thực hiện bởi trung tâm ươm tạo của OSMEP Dự án đào tạo những người có tinh thần công nghệ là nhằm vào việc tăng cường tinh thần doanh nghiệp sáng tạo được thực hiện bởi NSTDA

Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 xuất phát từ những khoản nợ lớn của nước ngoài và những khoảng vay cao của các công ty lớn (LE) nhưng không hoạt động ở Thái Lan đã buộc chính phủ phải nỗ lực lớn nhằm tạo ra sự đổi mới các SME Xét về mặt cụ thể thì chính phủ đã tập trung vào việc phát triển năng lực công nghệ nội sinh của các SME bằng việc tăng cường hợp tác, mở rộng cơ hội thị trường, hình thành ươm tạo công nghệ và tăng cường các biện pháp tài trợ tài chính liên quan đến khu vực ngân hàng và thị trường vốn

Tuy nhiên, một vài vấn đề của việc phát triển đổi mới SME có thể thấy được

là thiếu cơ sở hạ tầng về thể chế và pháp qui trong việc tiếp thị, tinh thần doanh nghiệp và tiếp cận tới nguồn tài chính Trước hết, không có chính sách tiếp thị thực

sự giành cho SME Mặc dù tiếp thị của SME được các chương trình phát triển liên kết của SME và MNC/LE hỗ trợ, các chương trình này chủ yếu tập trung vào mức

độ đào tạo để hỗ trợ các SME hội nhập vào chuỗi cung ứng của MNC hoặc LE bằng cách nâng cao khả năng công nghệ của họ

Hai là, môi trường thể chế nhằm phát huy tinh thần doanh nghiệp không đủ ở Thái Lan Mặc dù có một số chương trình tăng cường tinh thần doanh nghiệp đổi mới của các SME với danh nghĩa của ác chương trình ươm tạo doanh nghiệp, không

có hệ thống thực sự để kết nối khu vực SME với các cơ sở đào tạo và các cơ quan chinh phủ Ví dụ do chính phủ không cho các giáo sư tham gia vào nắm các vị trí trong một doanh nghiệp công nghiệp, thì rất khó để tạo ra mối liên kết và điều phối thật sự giữa những người làm công tác học thuật và khu vực công nghiệp

Cuối cùng, tiếp cận tới các nguồn tài chính của SME là hạn chế do sự phức tạp của thủ tục vay và thiếu thông tin và tư vấn của các thể chế tài chính thuộc về phần các SME và việc không đủ vốn thế chấp và tiêu chuẩn thấp về kế toán thuộc

Trang 34

về phần các thể chế tài chính Đặc biệt, vẫn còn một số lớn SME tiếp cận với tín dụng ngân hàng do thế chấp không đủ và thiếu khả năng chứng minh kế hoạch kinh doanh khả thi Hầu hết SME không có đủ thông tin và năng lực tham gia vào kế hoạch chi tiết của việc tài trợ cổ phần Nói cách khác, chương trình cho vay dựa vào thế chấp và kinh nghiệm không tốt và không có kiến thức về tài chính dường như là những cản trở chính trên con đường đổi mới hệ thống tài chính đối với doanh nghiệp

Do đó, chính phủ Thái Lan cần phải nỗ lực hơn nữa nhằm phát triển các kênh bán hàng thực tế cho các sản phẩm của SME và xúc tiến liên kết công nghiệp giữa SME và MNC/LE theo cách tiếp cận thị trường của SME Điều này cũng đòi hỏi tạo

ra nỗ lực nâng cấp cơ sở hạ tầng liên quan đến tinh thần doanh nghiệp của SME bằng cách xây dựng một hệ thống đổi mới mà nó quản lý được kết quả nghiên cứu được tạo ra bởi sự hợp tác giữa khu vực học thuật và công nghiệp Điều quan trọng hơn là các chương trình cho vay dành cho SME cần chuyển hướng từ chỗ dựa vào thế chấp sang chỗ dựa vào cho vay tín dụng thông qua việc tăng cường khả năng đánh giá tín dụng của các thế chế tài chính

Xây dựng năng lực công nghệ nội sinh - Mô hình ITAP

Tổng quan: Trong suốt 3 thập kỷ qua, các chính sách phát triển kinh tế chủ

yếu của Thái Lan đã không chú trọng nhiều đến việc phát triển năng lực công nghệ nội sinh như là một nhân tố liên hoàn trong quá trình công nghiệp hóa.Ví dụ chính sách xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những chính sách phát triển kinh tế chủ yếu nhằm vào việc tạo ra dòng vốn nước ngoài và công ăn việc làm Nó dẫn đền việc Thái Lan dựa vào chủ yếu vào vốn và công nghệ nước ngoài Nói cách khác, chính sách đầu tư và công nghiệp của Thái Lan đã bỏ qua nhu cầu phát huy các sáng tạo trong nước và phát triển năng lực công nghệ nội sinh Đặc biệt, công nghệ không thích hợp, qui trình sản xuất lỗi mốt và khả năng quản lý thấp được coi là những cản trở chính để phát huy mối liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài Tất cả là do bảo hộ của chính phủ và phát triển nhưng không chú ý tới việc tăng cường khả năng hấp thụ của các nhà sản xuất ở Thái Lan nó dẫn đến ảnh hưởng sâu sắc đến công nghệ thấp và mạng lưới cung cấp của các ngành công nghiệp

Nói về xây dựng năng lực công nghệ nội sinh, một trong những chính sách chủ yếu ở Thái Lan dường như đó là vai trò của các Tổ chức Công nghệ Nghiên cứu (RTOs) thuộc chính phủ và nằm trong khu vực công vì nó đóng vai trò trung tâm để tạo ra sự hợp tác về các kết quả nghiên cứu từ các trường đại học và RTO đến các SME công nghiệp hóa và rồi thương mại hóa

Xét theo khía cạnh này, thì vai trò của RTO trong khu vực công được nêu cao trong việc khởi xướng và thực hiện nhiều dự án khác nhau liên quan đến nâng cao khả năng hấp thụ công nghệ của SME, nhưng việc vận hành này đã không đạt được kết quả như mong đợi Nói cách khác, RTOs và các cơ quan chính phủ có liên quan đã không hiệu quả trong việc khuyến khích và giúp đỡ các doanh nghiệp tăng cường khả năng công nghệ của mình Do không hiệu quả, RTO đã khởi xướng và thực hiện nhiều dự án khác nhau theo các tính chất chủ yếu của nền kinh tế tri thức

Trang 35

Dự án này bao gồm việc thực hiện quá trình đổi mới, xúc tiến quá trình đào tạo mới nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở hạ tầng đổi mới và tạo điều kiện môi trường kinh doanh Một trong những hoạt động chính là xây dựng năng lực công nghệ nội sinh cho SME ở Thái Lan đó là Chương trình Hỗ trợ Kỹ thuật Công nghiệp (ITAP) do

Cơ quan Phát triển Khoa học và Công nghệ Thái Lan (NSTDA), thuộc Bộ Khoa học

và Công nghệ Thái Lan thực hiện

Trước khi khởi xướng ITAP, NSTDA đã thực hiện dự án thí điểm, được gọi

là Dịch vụ Tư vấn Công nghiệp (ICS) nhằm nâng cấp khả năng công nghệ của các SME ICS được xây dựng dựa trên khái niệm ‘sức đẩy của cầu’ và ‘chia sẻ trách nhiệm’ trong đó mỗi doanh nghiệp phải trả ít nhất 25% chi phí cho chuyên gia kỹ thuật Các chuyên gia có thể ở trong hoặc ở ngoài Thái Lan đến để giúp đỡ các SME tham gia trong chương trình này trong khi đố số 75% còn lại do chính phủ chi trả (nhưng không quá 500.000 baht) Lý do là khuyến khích các SME nâng cao khả năng công nghệ của mình trong chế biến, chế tạo và cải tiến sản phẩm và đổi mới qui trình để đảm bảo doanh nghiệp tham gia chương trình này có nhu cầu thực sự và cam kết Trong 9 năm thực hiện, ICS đã cung cấp tư vấn kỹ thuật cho 176 trong số 3.460 doanh nghiệp đăng ký dịch vụ này Một vài doanh nghiệp đã tăng bán hàng của minh lên tới 400% và cải tiến dây truyền sản xuất Dựa trên thành công của chương trình ICS, một chương trình lớn hơn và sâu hơn với tên gọi là ITAP đã được khởi xướng năm 2000

ITAP, một chương trình của Trung tâm Quản lý Công nghệ (TMC), là một trong những chương trình thành công nhất giúp đỡ SME leo lên nấc thang công nghệ Chương trình này đã đưa ra các giải pháp cho các vấn đề và nhu cầu của SME bằng cách thuê các chuyên gia có chất lượng ở trong và ngoài Thái Lan

Mục đích chính của ITAP là (1) phát triển và hỗ trợ phát triển năng lực công nghệ của SME, (2) giúp đỡ đổi mới dựa trên tri thức cho SME, (3) tạo ra cách tiếp cận đến các nguồn chiến lược theo mạng lưới trong toàn quốc gia nhằm hỗ trợ các hoạt động đổi mới SME, (4) khuyến khích sử dụng tri thức của chuyên gia Thái Lan

để giải quyết những nhu cầu công nghệ của SME và (5) phát triển thêm mối liên kết quốc tế mà nó có thể đưa ra cơ hội công nghệ mới cho SME

Dựa vào những mục tiêu trên, chương trình đã giúp đỡ SME nâng cao năng suất của mình thành công, cắt giảm lãng phí, nâng cao chất lượng để giúp cho các SME thâm nhập vào các thị trường quốc tế, giới thiệu hệ thống quản lý chất lượng

và các công việc khác Kết quả là ITAP đã cung cấp tư vấn kỹ thuật cho 1.920 doanh nghiệp trong khoảng 4.190 các doanh nghiệp đăng ký xin sự hỗ trợ của ITAP bằng cách cung cấp các chuyên gia kỹ thuật từ hơn 10 nước trong suốt từ năm 2002 đến năm 2006 Chương trình này cũng đã giúp 496 SME có được công nghệ bằng việc tổ chức 42 chuyến thăm quan tìm hiểu công nghệ chủ yếu là công nghệ nguồn trong 13 nước khác nhau trên thế giới Điều này có nghĩa là nhiều SME có khả năng cải tiến sản phẩm/qui trình của mình hoặc sản xuất ra các sản phẩm mới hoặc qui trình mới thông qua việc tư vấn công nghệ của các chuyên gia nước ngoài có kinh nghiệm

Trang 36

Vận hành: Đối với bất kỳ một doanh nghiệp tư nhân nào đó đều có đủ tư

cách nhận được dich vu của ITAP, nhưng nó phải đáp ứng 5 nhu cầu Trước hết là,

nó phải có đăng ký và sản xuất tại Thái Lan Hai là, nó có ít nhất 51% sở hữu của Thái Lan Ba là, nó phải là SME Bốn là, nó phải chứng minh là mình rất quan tâm

và mong muôn có khả năng đổi mới công nghệ Năm là, nó phải có tiềm năng về nhân sự, tài chính và quản lý với mức độ cụ thể nào đó

Các nội dung chính của chương trình này bao gồm có hai nội dung: tham vấn công nghệ và dịch vụ công nghệ

Thứ nhất là, tham vấn công nghệ được các chuyên gia kỹ thuật trong nước và ngoài nước phục vụ thông qua chuẩn trị các vấn đề vướng mắc về công nghệ để giải quyết các vấn đề kỹ thuật cũng như giúp đỡ trong nghiên cứu và triển khai sản xuất

mà nó có thể bao gồm cả quản lý công nghệ nhưng không bao gồm việc quản trị và tiếp thị Đặc biệt, ITAP hỗ trợ tài chính trong việc tham vấn công nghiệp cho SME

Ví dụ ITAP hỗ trợ tới 100% chi phí chuẩn trị các vấn đề kỹ thuật và tới 50% chi phí cho các dự án cần sự tham vấn với mức tối đa là 500.000 baht cho việc giải quyết các vấn đề hoặc triển khai công nghệ Nó cũng hỗ trợ tới 2 dự án cho một SME trong mỗi năm

Thứ hai là, ITAP hỗ trợ quá trình tìm kiếm và tiếp thu công nghê thích hợp ITAP tạo cho SME co hội tiếp cận thông tin đầu tiên về những thành tựu và đổi mới công nghệ Nó cũng cung cấp cho SME tầm nhìn tương laic ho việc phát triển công nghệ và kinh doanh Công việc này được thực hiện thông qua việc tổ chức các chuyến đi thăm quan ở ngoài nước và tổ chức những sự kiện kết nối bên trong và bên ngoài Những hoạt động này tạo cho SME cơ hội tiếp cận được công nghệ mới

và thích hợp và thiết lập đối tác công nghệ và kinh doanh với các công ty nước ngoài Các chuyến đi thăm quan này thường liên quan đến các nguồn công nghệ trong một số lĩnh vực cụ thể như các tổ chức nghiên cứu, công ty và nhà máy sản xuất, gặp gỡ với các đối tác tiềm năng theo các kế hoạch đã được sắp xếp trước và các hội trợ công nghiệp để thu lượm những thông tin công nghệ và xu hướng thị trường mới nhất ITAP có thể đóng góp vào chi phí cho các chuyến đi thăm quan nước ngoài cho những SME có đủ tư cách Những chi phí đi thăm quan này được

hỗ trợ tuân theo khoảng cách của nơi đến

Bài học rút ra: Bài học thứ nhất của ITAP là vài trò của các viện nghiên cứu

của chính phủ ở Thái Lan đã chuyển đổi từ nguồn trí thức trở thành môi giới trí thức giữa chuyên gia công nghệ/học thuật và SME Cơ chế chủ yếu của chương trình này dựa trên vài trò của NSTDA như là vai trò trung gian thông qua cung cấp dịch vụ gián tiếp mà nó có thể giúp SME nâng cao khả năng công nghệ của mình

Tuy nhiên, tính hiệu quả và vận hành của chương trình vẫn chưa rõ ràng do thiếu thông tin tuyên truyền về chương trình này ngoài sự hỗ trợ kỹ thuật của bản thân nó

Nhưng dù sao đi nữa, thì chương trình này cho chúng ta thấy rõ hướng chính của nó là gắn SME với các chuyên gia công nghệ để tạo ra một môi trường mà nó

có thể hỗ trợ SME triển khai khả năng công nghệ và kiểm soát các hoạt động kinh doanh gắn nó vói các công việc kế toán và tiếp thị

Trang 37

Bài học thứ hai là, điều chắc chắn là chương trình đã tạo ra kinh doanh, dịch

vụ kỹ thuật và chuẩn trị khác biệt phù hợp với mức độ công nghệ và thông tin thị trường của SME

Hình 1 Mô hình mạng lưới của ITAP

DEP = Cục xúc tiến xuất khẩu

DIP = Cục xúc tiến công nghiệp

BOI = Ủy Ban đầu tư

Hình 2: Vận hành của ITAP

ITAP

CÔNG NGHỆ

CƠ SỞ HẠ TẤNG S&T

Nghiên cứu khu

vực tư nhân

Chuyên gia nước ngoài và

cơ sở đào tạo

Trường đại học

INCENTIVE

TAX-SẢN XUẤT

THỊ TRƯỜNG (DEP)

ITA ITA ITA

ITA

Nguồn Chẩn đoán

Ứng dụng Cung cấp dịch

vụ

Phê chuẩn dự

án Theo dõi, đánh giá

Giải Quyết vấn đề

Trang 38

II.2.2 Kinh nghiệm quốc tế thúc đẩy đổi mới cho doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung quốc

1 Vài nét về các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc

DNV&N hiện đang được coi là động lực cho sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc Tính đến năm 2008, số lượng DNV&N của Trung Quốc là 4,3 triệu, trong đó có 95% thuộc quyền sở hữu tư nhân, đóng góp gần 60% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), 50% doanh thu thuế, 68% xuất khẩu và tạo ra 75% công ăn việc làm mới mỗi năm (China Development Gateway, 2009) Tuy nhiên, các DNV&N Trung Quốc vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn để đầu

tư kinh doanh và đổi mới công nghệ, thu hút nhân tài,v.v…

a) Tổng quan chính sách có tác động trực tiếp tới ĐMCN của DNV&N ở Trung Quốc trước khi gia nhập WTO

Trung Quốc đã ba lần tiến hành cải tổ nền KH&CN nước này, đó là vào các năm 1978,1985 và 1995 Trong giai đoạn 1978 và 1985, Nhà nước Trung Quốc tập trung vào đổi mới hệ thống các tổ chức KH&CN, gắn các hoạt động R&D với sản xuất bằng việc tạo các cơ chế thuận lợi cho việc thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu nhà nước thông qua các cơ chế về phân bổ tài chính cho NC&TK công, chuyển đổi các tổ chức NC&TK trong nghiên cứu ứng dụng sang các tổ chức kinh tế hoặc các tổ chức dịch vụ kỹ thuật và sáp nhập các tổ chức NC&TK lớn vào các doanh nghiệp lớn, tạo lập thị trường công nghệ, cải cách phương thức quản lý nguồn nhân lực ở các tổ chức nghiên cứu nhà nước

Để đáp ứng nhu cầu của toàn cầu hóa nền kinh tế và cạnh tranh và đáp ứng các yêu cầu của việc gia nhập WTO, chiến lược phát triển KH&CN Trung Quốc năm 1995 đã tập trung các vào các chính sách nhằm chuyển đổi từ hệ thống R&D dựa vào các tổ chức nghiên cứu nhà nước sang hệ thống đổi mới lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trong đó chú trọng phát triển năng lực đổi mới và thương mại hóa công nghệ của doanh nghiệp (OECD, 2007) Tuy nhiên,Trung Quốc gặp nhiều thách thức trong việc cân bằng hợp lý giữa cách tiếp cận mới mang tính thị trường

về đổi mới và sự hỗ trợ trực tiếp từ chính phủ thông qua các chương trình R&D quốc gia Thách thức này xuất phát từ thực trạng hệ thống quản lý hoạt động KH&CN của Trung Quốc còn nhiều yếu kém

Việc thiếu vắng các kênh chuyển giao công nghệ để truyền bá các kết quả nghiên cứu từ các viện nghiên cứu được Nhà nước tài trợ cho ngành công nghiệp cũng là sự bế tắc lớn trong hệ thống đổi mới của Trung Quốc Ngoài ra, do các xí nghiệp công nghiệp, các trường đại học và các viện nghiên cứu R&D đều trực thuộc các hệ thống chính quyền khác nhau ở Trung Quốc, điều này gây ngăn cản các luồng tri thức và nguồn lực chảy tự do giữa các tổ chức

Về sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp Trung Quốc còn bị tác động bất lợi bởi

sự bảo vệ yếu kém của quyền sở hữu trí tuệ theo hai cách Thứ nhất, nhiều doanh nghiệp dựa vào sự sao chép và làm giả theo các công nghệ sản xuất và các thiết kế sản phẩm khác, vì vậy họ hầu như không thấy có sự cần thiết phải đầu tư vào R&D

Trang 39

và ĐMCN Thứ hai, tại các doanh nghiệp có đầu tư các nguồn lực vào R&D, ích lợi đầu tư của họ bị ảnh hưởng bởi thực tế rằng các kết quả R&D của họ không được bảo vệ một cách có hiệu quả trên thị trường

Về nguồn nhân lực, chất lượng của nguồn nhân lực NC&TK của Trung Quốc nói chung còn thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Vấn đề có vẻ như bắt đầu ngay từ hệ thống giáo dục của Trung Quốc, vốn chú trọng vào việc học lý thuyết và định hướng vào thi cử, mà không tập trung vào các kỹ năng thực hành và giải quyết vấn đề Mặt khác, tình trạng thiếu nguồn đầu tư vào đào tạo nhân lực trong khu vực doanh nghiệp đã làm hạn chế khả năng tiếp thu công nghệ mới Ngoài ra, Trung Quốc đã phải đối mặt với nạn chảy chất xám mạnh từ hai thập kỷ gần đây, với một

số lượng lớn sinh viên ra nước ngoài học tập và đa số chưa quay trở lại đất nước

Về chính sách nhập khẩu công nghệ, trước khi gia nhập WTO, Trung Quốc dùng nhập khẩu công nghệ để đẩy mạnh sản xuất công nghiệp và tăng trưởng kinh

tế Trung Quốc đã áp dụng chính sách nhập khẩu công nghệ với quy mô lớn nhằm củng cố sự phát triển công nghệ trong các ngành công nghiệp của Trung Quốc và nâng cao được năng lực sản xuất Xem xét giai đoạn từ 1979 đến 1990 cho thấy Trung Quốc đã chi 17 tỷ USD cho hơn 7.000 hạng mục công nghệ nhập khẩu Ngoài ra, các chính quyền địa phương cũng đã chi 13 tỷ USD để mua hơn 10.000 hạng mục công nghệ nhập khẩu Trong một số trường hợp cụ thể, nhiều doanh nghiệp không chỉ tăng được năng lực sản xuất, mà còn cải thiện được trình độ kỹ thuật và chất lượng sản phẩm của mình Những lợi ích từ việc nhập khẩu công nghệ với quy mô lớn đã tiếp tục củng cố sự phát triển công nghệ trong các ngành công nghiệp của Trung Quốc và nâng cao được năng lực sản xuất Chuyển giao và nhập khẩu công nghệ còn dẫn đến việc tạo nên các ngành công nghiệp mới có khả năng cạnh tranh của Trung Quốc, trong đó có ngành điện tử tiêu dùng phát triển mạnh với các mặt hàng xuất khẩu được coi là mang tính cạnh tranh nhất thế giới Tổng đầu tư vào công nghệ nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng gần 23% trong giai đoạn

từ 1985 đến 1995 Tổng trị giá sản lượng công nghiệp đã tăng từ 971,6 tỷ NDT năm

1985 lên 9,2 nghìn tỷ NDT năm 1995, tức là tăng 10% trong vòng 10 năm Sự tiến

bộ công nghệ đạt được trong các ngành công nghiệp của Trung Quốc là kết quả trực tiếp của công nghệ nhập khẩu và những nỗ lực thúc đẩy công nghệ

b) Các chính sách tác động trực tiếp tới đổi mới công nghệ ở các DNV&N của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO

Sự kiện Trung Quốc chính thức gia nhập WTO vào năm 2001 đặt các DNV&N của Trung Quốc trước những thách thức lớn là phải đổi mới công nghệ nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, đồng thời cũng tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp này trở thành các đối tác của các tập đoàn đa quốc gia lớn trên thế giới Đồng thời, Chính phủ Trung Quốc cũng buộc phải có những điều chỉnh chính sách theo hướng giảm dần các biện pháp bảo hộ đối với các doanh nghiệp trong nước như các trợ cấp về thuế Để có thể hoàn thành được nhiệm vụ này đòi hỏi các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải có những thay đổi cơ bản về định hướng cũng như những chính sách quản lý khôn ngoan Thách thức lớn nhất đặt ra là “phải thay đổi từ phương thức quản lý KH&CN nhỏ lẻ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ sang cách quản lý thống nhất trong chính phủ, từ các chính sách hướng vào hỗ trợ các hoạt động R&D

Trang 40

sang các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới và từ các biện pháp chính sách phù hợp cho tất cả các đối tượng sang các biện pháp được điều chỉnh phù hợp

để có thể hỗ trợ khi có các nhu cầu về chính sách” (OECD, trang 46, 2007) Trung Quốc đã học tập kinh nghiệm các nước nhằm tăng cường đổi mới công nghệ trong các DNV&N như kinh nghiệm của các nước Ailen, Nauy, Đức, v.v… trong xây dựng năng lực, nguồn nhân lực, hỗ trợ tài chính và tạo ra các mạng lưới và hệ thống đổi mới Theo hướng như vậy, có thể thấy những thay đổi trong các chính sách có tác động trực tiếp tới đổi mới công nghệ ở các DNV&N ở Trung Quốc như sau:

Chương trình “Kế hoạch trung hạn và dài hạn về phát triển KH&CN giai đoạn 2006-2020” nằm trong nỗ lực của Chính phủ Trung Quốc nhằm chuyển đổi nền kinh tế sang mô hình phát triển kinh tế bền vững hơn và nhấn mạnh vào phát triển năng lực đổi mới nội sinh Chương trình này coi đổi mới nói chung, trong đó ĐMCN lấy doanh nghiệp là trung tâm là một trong ba mục tiêu chiến lược Điểm khác của chương trình lần này so với các chương trình phát triển KH&CN các giai đoạn trước chính là thay vì mục tiêu nâng cao năng lực ĐMCN chỉ là hệ quả của đổi mới hệ thống KH&CN quốc gia thì phát triển năng lực công nghệ nôi sinh của doanh nghiệp phải là mục tiêu chiến lược mà các chính sách phải hướng tới Các doanh nghiệp được khuyến khích ĐMCN phải được tạo ra từ nguồn chính là các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp ở trong nước chứ không phải từ nguồn nhập khẩu ĐMCN ở doanh nghiệp được thừa nhận đóng vai trò then chốt trong phát triển bền vững

Để có thể thực hiện được mục tiêu này, Hội đồng Nhà nước đã ban hành một gói chính sách mới bao gồm bốn điểm, trong đó nhấn mạnh các hỗ trợ của Chính phủ cho ĐMCN của doanh nghiệp chuyển dần từ hỗ trợ trực tiếp sang các hình thức

hỗ trợ gián tiếp, cụ thể như sau:

- Thúc đẩy hỗ trợ tài chính chi NC&TK không chỉ thông qua tăng cường tài trợ của nhà nước mà còn thông qua các khuyến khích về thuế cho KH&CN, sự hỗ trợ của chính phủ cho phát triển các kênh vốn cho thị trường tài chính, tài trợ của nhà nước nhằm hấp thu các công nghệ nhập khẩu, v.v…

- Tăng cường đổi mới thông qua cải tiến các điều kiện cơ bản như sử dụng hiệu quả bảo vệ sở hữu trí tuệ, tham gia tích cực vào tạo ra các chuẩn công nghệ mang tính quốc tế và xây dựng cơ sở hạ tầng cho R&D bao gồm các phòng thí nghiệm trọng điểm, các công viên, vườn ươm khoa học

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN bằng việc nuôi dưỡng các tài năng và những chuyên gia đầu ngành KH&CN và mở rộng ra nguồn nhân lực KH&CN trên thế giới bao gồm cả các Hoa kiều, cải cách hệ thống giáo dục đại học

và nâng cao nhận thức của người dân về đổi mới

- Phát triển quản lý hoạt động NC&TK của nhà nước bằng cách đưa ra hệ thống đánh giá mới và tăng cường điều phối chính sách

Chính phủ Trung Quốc lựa chọn có trọng tâm các ngành công nghiệp sẽ được nhận hỗ trợ của Chính phủ Đó là nhóm bốn liên minh sản xuất-nghiên cứu chiến lược bao gồm sắt, than, hóa chất và phát triển nông nghiệp Chính phủ Trung

Ngày đăng: 26/05/2014, 14:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Accenture 2000 and ICARD 2003, Nguyen Tan Phong, “Lộ trình mới cho Phát triển ngành chè”-“New roadmap for development in the tea industry”, Tea producers magazine, No.6- 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lộ trình mới cho Phát triển ngành chè”-“New roadmap for development in the tea industry
5. Anna, Johnson, 2001. “Functions in innovation system approachs”, presentation paper in DRUID’s Nelson-Winter conference, Aalborg, Denmark Sách, tạp chí
Tiêu đề: Functions in innovation system approachs
14. Cortada, James W., Gupta A. , Le Noir M. “How rapidly advancing nations thrive in the Information Age: Leveraging ICT for national economic development” IBM Institute for Business Value. January 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: How rapidly advancing nations thrive in the Information Age: Leveraging ICT for national economic development
19. Do Dinh Thuan (2000) Using knowledge for agriculture and rural development Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using knowledge for agriculture and rural development
Tác giả: Do Dinh Thuan
Năm: 2000
20. Do Huu Hao (2000) Knowledge for industrial development. Proceeding of the conference Using knowledge for development. Hanoi 1998. World Bank and NISTPASS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge for industrial development
Tác giả: Do Huu Hao
Nhà XB: World Bank
Năm: 2000
23. Erik Arnold and Ken Guy, Technology diffusion programmes and the challenge for evaluation, Technopolis, Brighton, United Kingdom Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technology diffusion programmes and the challenge for evaluation
Tác giả: Erik Arnold, Ken Guy
Nhà XB: Technopolis
28. Ha, Pham Thi Bich, 2006 “Vietnam’s tea processing industry in the context of economic intergration- A case study of regional innovative cluster”- Master thesis on ESST program in Lund University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam’s tea processing industry in the context of economic intergration- A case study of regional innovative cluster
29. Hào, Vũ Hữu, 2006, Tổng công ty chè Việt Nam “Nâng cao và ổn định chất lượng chè bền vững”. Bài trình bày tại Đại hội Hiệp hội ngành chè III, Đà lạt, 12, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao và ổn định chất lượng chè bền vững
Tác giả: Vũ Hữu Hào
Nhà XB: Đại hội Hiệp hội ngành chè III
Năm: 2006
31. Hirohisa Uchida (2005) Eco-technology-human environment conscious science & technology. In Linking innovation and entrepreneurship for developing countries.Proceeding of the Honda Foundation international symposium. HOF and NISTPASS. Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eco-technology-human environment conscious science & technology
Tác giả: Hirohisa Uchida
Nhà XB: HOF
Năm: 2005
33. Hoàng Kim Dung “Đảm bảo thông tin cho đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp” luận văn thạc sỹ -Chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo thông tin cho đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
35. Hollanders H., Arundel A., 2006 “Global Innovation Scoreboard” (GIS) Report, MERIT – Maastricht Economic and social Research and training centre on Innovation and Technology, European Trend Chart on Innovation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Innovation Scoreboard (GIS) Report
Tác giả: Hollanders H., Arundel A
Nhà XB: MERIT – Maastricht Economic and social Research and training centre on Innovation and Technology
Năm: 2006
46. Manuja Peiris (2006), Chief Executive of ITC, Global Supply & Demand of Tea (ppt version). Available athttp://www.inttea.com/download/Global_Consumer_Behaviour_Supply_Demand_Manuja_Peris.ppt#9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Supply & Demand of Tea
Tác giả: Manuja Peiris
Năm: 2006
49. Miehlbrandt, A. and InvestConsult Group (2002) Business Development Services in Viet Nam. A Study to Assess the Market for BDS among 1,200 Small and Medium Enterprises in Ha Noi, Ho Chi Minh City, Da Nang, Hai Phong, Dong Nai and Binh Duong. GTZ, VCCI & Swisscontact, Hanoi, June Sách, tạp chí
Tiêu đề: Business Development Services in Viet Nam. A Study to Assess the Market for BDS among 1,200 Small and Medium Enterprises in Ha Noi, Ho Chi Minh City, Da Nang, Hai Phong, Dong Nai and Binh Duong
Tác giả: Miehlbrandt, A., InvestConsult Group
Nhà XB: GTZ
Năm: 2002
51. MOST (2006) Khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2001-2005. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2001-2005
Tác giả: MOST
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
50. Ministry of Education and Training (MOET) (2005), Data on Education and Training. Website: http://www.edu.vn/data/ Link
66. Oxfam (2002), The Tea Market: a Background Study, Draft paper prepared for Make Trade Fair campaign, Available athttp://www.maketradefair.com/assets/english/ TeaMarket.pdf Link
93. VITAS 2006, No1, Ngành chè 2005 – Một năm nhỡn lại, (28/3/2006) Available at http://www.vitas.org.vn/chitiet_tintuc.php?tintuc_id=394 Link
95. VITAS, 2005, Mr. Nguyen Kim Phong, Chairman of the Vietnam Tea Association briefed visitors about the long history of the country's tea culture. Available at http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=10043 Link
96. VITAS, 2006 No2, Điểm mới trong Điều lệ mới - Điều lệ của Hiệp hội Chè Việt Nam 2006, Available at http://www.vitas.org.vn/chitiet_tintuc.php?tintuc_id=392 Link
97. VITAS, 2006, No4, Biện pháp để tăng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng chè sang Trung Quốc năm 2006(13/3/2006..) Available athttp://www.vitas.org.vn/chitiet_tintuc. php?tintuc_id=391 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân bổ xuất khẩu hàng hóa chế biến, chế tạo theo loại công nghệ - Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam
Bảng 1 Phân bổ xuất khẩu hàng hóa chế biến, chế tạo theo loại công nghệ (Trang 26)
Bảng 2: Xu thế kinh tế ở Thái Lan - Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam
Bảng 2 Xu thế kinh tế ở Thái Lan (Trang 26)
Bảng 4: Tiền cho các SME vay của một số cơ sở tài chính chuyên ngành - Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam
Bảng 4 Tiền cho các SME vay của một số cơ sở tài chính chuyên ngành (Trang 30)
Hình 1. Mô hình mạng lưới của ITAP - Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam
Hình 1. Mô hình mạng lưới của ITAP (Trang 37)
Hình 2: Vận hành của ITAP - Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam
Hình 2 Vận hành của ITAP (Trang 37)
Hình 3. Vị trí của môi trường đổi mới cho Việt Nam ở châu Á - Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam
Hình 3. Vị trí của môi trường đổi mới cho Việt Nam ở châu Á (Trang 62)
Bảng 7: Đánh giá tổng hợp về các phương pháp đánh giá - Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam
Bảng 7 Đánh giá tổng hợp về các phương pháp đánh giá (Trang 115)
Bảng 8: Động cơ tiến hành đổi mới công nghệ của doanh nghiệp - Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam
Bảng 8 Động cơ tiến hành đổi mới công nghệ của doanh nghiệp (Trang 120)
Bảng 12: Hệ thống hóa các hoạt động CGCN theo một số kênh chính - Nghiên cứu kinh nghiệm hoa kỳ , ứng dụng vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam
Bảng 12 Hệ thống hóa các hoạt động CGCN theo một số kênh chính (Trang 163)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w