1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kinh nghiệm của trung quốc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và công nghệ và đề xuất áp dụng cho việt nam

126 457 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu kinh nghiệm của trung quốc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và công nghệ và đề xuất áp dụng cho việt nam
Người hướng dẫn TS. Tạ Doãn Trịnh
Trường học Viện Đánh Giá Khoa Học Và Định Giá Công Nghệ
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự án thực hiện ba nội dung chính: 1 Phân tích nhu cầu của khu vực công nghiệp đối với khoa học và công nghệ; 2 Đánh giá kết quả hoạt động KH&CN hiện tại - đánh giá kết quả hoạt động của

Trang 1

VIỆN ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC VÀ ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC

TRONG VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM

CNĐT: TS TẠ DOÃN TRỊNH

8919

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KH&CN TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 3

1.1 Hoạt động đánh giá KH&CN trên thế giới 3

1.2 Hoạt động đánh giá KH&CN trong nước 6

1.2.1 Các nghiên cứu về đánh giá chương trình KH&CN 6

1.2.2 Các nghiên cứu về đánh giá tổ chức KH&CN 8

1.2.3 Các hoạt động liên quan đến nghiên cứu đánh giá và sự hình thành cơ quan đánh giá độc lập – Trung tâm Hỗ trợ Đánh giá KH&CN 9

CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.2 Phạm vi, cách thức tổ chức và phối hợp với 2 đối tác Trung Quốc trong thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu 13

2.3 Cách thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu 13

2.4 Các nội dung nghiên cứu cụ thể 15

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHO HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ Ở VIỆT NAM 17

3.1 Các mô hình hệ thống đánh giá KH&CN của một số nước trên thế giới 17

3.1.1 Mô hình của Mỹ 17

3.1.2 Mô hình của Canada 18

3.1.3 Mô hình của Hàn Quốc 19

3.1.4 Mô hình của Philipine 20

3.2 Mô hình hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc 21

3.3 Lựa chọn mô hình cho Việt Nam 26

3.3.1 Phân tích điểm mạnh và điểm yếu của các mô hình đánh giá 26

3.3.2 Các lý do lựa chọn mô hình của Trung Quốc 27

3.3.3 Hiện trạng tổ chức thực hiện đánh giá KH&CN ở Việt Nam 28

3.4 Đề xuất các giải pháp cần thiết, các chính sách, quy định thích hợp để áp dụng thành công mô hình tổ chức đã lựa chọn 33

3.4.1 Các giải pháp cần thiết 33

3.4.2 Đề xuất các chính sách, quy định thích hợp để phát triển mạng lưới đánh giá 35

CHƯƠNG 4 XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ Ở VIỆT NAM 35

4.1 Khung pháp lý cho đánh giá KH&CN ở một số nước trên thế giới 35

4.1.1 Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Mỹ 35

4.1.2 Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Canada 39

4.1.3 Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Nhật Bản 39

4.1.4 Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Hàn Quốc 42

Trang 3

4.1.5 Khung phỏp lý cho hoạt động đỏnh giỏ KH&CN của Thỏi Lan 45

4.1.6 Khung phỏp lý cho hoạt động đỏnh giỏ KH&CN của Indonesia 46

4.2 Sự thay đổi chớnh sỏch quản lý KH&CN qua cỏc thời kỳ và khung phỏp lý cho đỏnh giỏ KH&CN của Trung Quốc 47

4.2.1 Sự thay đổi chính sách về KH&CN của Trung Quốc 47

4.2.2 Khung phỏp lý cho hoạt động đỏnh giỏ KH&CN của Trung Quốc 50

4.3 Xõy dựng khung phỏp lý cho hoạt động đỏnh giỏ tại Việt Nam 53

4.3.1 Hiện trạng luật phỏp về đỏnh giỏ ở Việt Nam trong 10 năm cuối 53

4.3.2 Phõn tớch so sỏnh khung phỏp lý về đỏnh giỏ ở Việt Nam với cỏc nước 57

4.3.3 Đề xuất danh mục và nội dung cỏc văn bản chớnh về đỏnh giỏ KH&CN cho Việt Nam 60

4.3.4 Đề xuất nội dung của qui đinh chung về quản lý hoạt động đỏnh giỏ ở Việt Nam 66

CHƯƠNG 5 XÂY DỰNG NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ CHO VIỆT NAM 67

5.1 Kết quả đào tạo ngắn hạn tại NCSTE và IPM 67

5.2 Hội thảo quốc tế về đỏnh giỏ KH&CN 72

5.3 Thực hành đỏnh giỏ chương trỡnh KH&CN 73

5.3.1 Phõn tớch lực chọn chương trỡnh để thực hành đỏnh giỏ 73

5.3.2 Thiết kế đỏnh giỏ 73

5.3.3 Thu thập, điều tra thụng tin về chương trỡnh KC05 76

5.3.4 Phõn tớch, đỏnh giỏ và xõy dựng bỏo cỏo 78

5.3.5 Kiến nghị điều chỉnh chớnh sỏch 107

5.3.6 Bài học rỳt ra qua việc tổ chức đỏnh giỏ chương trỡnh 110

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 Phụ lục 1 Đề xuất qui định chung về đỏnh giỏ KH&CN

Phụ lục 2 Danh sỏch cỏn bộ được cấp chứng chỉ đào tạo về đỏnh giỏ chương

trỡnh KH&CN

Phụ lục 3 Khung qui trỡnh và tiờu chớ đỏnh giỏ chương trỡnh

Phụ lục 4 Danh sỏch cỏn bộ được cấp chứng chỉ đào tạo về đỏnh giỏ tổ chức

KH&CN

Phụ lục 5 Khung qui trỡnh và tiờu chớ đỏnh giỏ tổ chức KH&CN

Phụ lục 6 Danh sỏch cỏc đơn vị tham dự Hội thảo thỏng 12/2009

Phụ lục 7 Danh sỏch cỏc đơn vị tham dự Hội thảo thỏng 9/2010

Phụ lục 8 Bỏo cỏo đỏnh giỏ tổng thể chương trỡnh KC05

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Luật Quản lý và đánh giá thực hiện

OECD Organization for economic

cooperation and development

Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế

R&D Research and development Nghiên cứu và phát triển

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH

1 TS Tạ Doãn Trịnh Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ

2 TS Vũ Hồng Diệp Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ

3 CN Nguyễn Thị Thu Oanh Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ

4 ThS Nguyễn Mai Dương Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ

5 ThS Phạm Quỳnh Anh Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ

6 TS Phạm Xuân Thảo Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ

7 TS Nguyễn Nghĩa Cộng tác viên, cựu chuyên viên Bộ KH&CN

8 GS Fang Yan Trung tâm Đánh giá Quốc gia Trung Quốc

9 TS Tian Delu Trung tâm Đánh giá Quốc gia Trung Quốc

10 Mr Han Jun Trung tâm Đánh giá Quốc gia Trung Quốc

Trang 5

MỞ ĐẦU

Với 2% tổng chi ngõn sỏch nhà nước, đầu tư từ ngõn sỏch nhà nước cho KH&CN hiện nay đạt khoảng 400 triệu USD Đõy là một cố gắng lớn của Đảng và Nhà nước thể hiện sự quan tõm đối với hoạt động KH&CN như quốc sỏch hàng đầu Với tốc độ đầu tư ngày càng tăng, mặc dự cú tớnh chất hoạt động riờng và với những rủi ro khú lường trước, vấn đề hiệu quả đầu tư trong KH&CN ngày càng được đặt lờn hàng đầu và việc đổi mới tổ chức và hoạt động nghiờn cứu khoa học

và phỏt triển cụng nghệ là một bước đi khụng thể thiếu

Chủ trương thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động nghiờn cứu khoa học và phỏt triển cụng nghệ đó được hiện thực hoỏ tại Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28 tháng 9 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ phờ duyệt “Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ”

Theo đề án, thì cơ chế quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ chưa phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thiếu quy hoạch các tổ chức khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng điểm và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội Các tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước chưa

được thực hiện đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo và gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo

và sản xuất, kinh doanh

Cụng tỏc đỏnh giỏ, một mắt xớch quan trọng trong chu trỡnh quản lý KH&CN, cũng được đề cấp trong đề ỏn Đề ỏn chỉ rừ, một trong những nguyờn

nhõn là do chỳng ta chưa xõy dựng được cỏc tiờu chớ cụ thể đỏnh giỏ chất lượng

và hiệu quả của hoạt động khoa học và cụng nghệ núi chung và cỏc tổ chức khoa học và cụng nghệ núi riờng Đề ỏn nhấn mạnh việc Nhà nước phải quy định chế độ

tự đỏnh giỏ và đỏnh giỏ định kỳ bờn ngoài đối với cỏc tổ chức khoa học và cụng nghệ cú sử dụng kinh phớ từ ngõn sỏch nhà nước theo cỏc tiờu chuẩn phự hợp với chuẩn mực quốc tế để nõng cao hiệu quả sử dụng kinh phớ đầu tư

Trước nhu cầu cần cú một cơ quan đỏnh giỏ khoa học và cụng nghệ độc lập thực hiện việc đỏnh giỏ cỏc hoạt động khoa học và cụng nghệ, cỏc tổ chức khoa

Trang 6

học và công nghệ với mục tiêu nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và quản lý, đồng thời bảo đảm tính khách quan trong việc đánh giá, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN được thành lập năm 2006 Là một cơ quan mới thành lập, cơ cấu tổ chức chưa hoàn thiện, phần lớn cán bộ chưa được đào tạo về công tác đánh giá, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN hiện đang gặp rất nhiều khó khăn về cập nhật kiến thức trong lĩnh vực đánh giá KH&CN cũng như triển khai thực tế Đồng thời hoạt động đánh giá của Việt Nam còn đang rất lúng túng trong việc lựa chọn mô hình thích hợp và các điều kiện để triển khai thành công

Để giải quyết khó khăn nêu trên, con đường ngắn nhất là phát triển hợp tác quốc tế, tranh thủ kinh nghiệm của các nước đi trước nhằm tăng cường năng lực đánh giá cho Việt Nam và thúc đẩy hội nhập quốc tế Trung Quốc, một nước đang trong quá trình chuyển đổi, có thể chế chính trị và đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, cơ cấu tổ chức hệ thống KH&CN cũng như trình độ phát triển KH&CN thời gian qua không quá cao so với trình độ phát triển của Việt Nam là đối tượng được lựa chọn để nghiên cứu, học tập kinh nghiệm

Nhiệm vụ hợp tác quốc tế theo Nghị định thư với Trung Quốc về đánh giá

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KH&CN

TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1.1 Hoạt động đánh giá KH&CN trên thế giới

Cùng với thời gian trôi qua, khi khoa học và công nghệ trở thành hoạt động

có tổ chức hơn và ảnh hưởng của nó cũng gia tăng thì nhu cầu cần phải có sự kiểm soát của cộng đồng cũng lớn hơn Vào thời gian giữa thế chiến thứ II, tài trợ cho nghiên cứu của cả thế giới rất hạn chế, nghiên cứu của châu Âu có ưu thế hơn do điểm bắt đầu ở vị trí dẫn đầu cũng như các yếu tố lịch sử khác của thời đại trước chiến tranh Sự cân bằng quyền lực đã thay đổi sau thế chiến thứ II với đa phần châu Âu và châu Á phải tập trung nỗ lực tái thiết tổng thể sau chiến tranh Đây là thời điểm để nước Mỹ đầu tư cho nền công nghiệp của mình và do hoàn toàn không có đối thủ cạnh tranh nên các công ty của Mỹ có thể đa dạng hóa các nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển Sau một thời gian cải tổ, các công ty của châu Âu

và châu Á trở lại thành các đối thủ cạnh tranh với các công ty của Mỹ, lợi nhuận đem lại cũng như ngân sách đầu tư cho R&D vì thế giảm mạnh Nhiều công ty hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao phải tìm kiếm lợi nhuân ngắn hạn nên

đã không thể có đủ kinh phí đầu tư lớn cho nghiên cứu cơ bản Như vậy, vào giữa những năm 70 và 80 hỗ trợ cho R&D từ khối công nghiệp bị cắt giảm mạnh Cùng với sự rút bớt tài trợ từ ngân sách công ty, thời kỳ sau chiến tranh và suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, chính quyền liên bang Mỹ đã trở thành người tài trợ chính cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Sự chuyển đổi này cũng diễn ra trễ hơn tại châu Âu và châu Á Một lý do cơ bản cho sự tăng đầu tư công cho nghiên cứu cơ bản và ứng dụng là xung đột về an ninh quốc gia với mục tiêu chiến thắng trong cuộc chạy đua về công nghệ giữa hai khối tư bản và xã hội chủ nghĩa Song, vào cuối những năm 1980 và đầu 1990, ưu tiên của chính phủ thay đổi dưới áp lực ngày càng gia tăng về việc giảm can thiệp trực tiếp và duy trì nguyên tắc tài chính

Do vậy, bộ máy chính quyền cố gắng nhỏ gọn, R&D phải đối mặt với cạnh tranh

về tài trợ từ các nguồn khác Giai đoạn này đòi hỏi hoạt động R&D phải có tính giải trình và có hiệu quả Do vậy, kết quả hoạt động R&D cần phải được nhận biết

Trang 8

trong cộng đồng nghiên cứu trước yêu cầu của các đối tác bên ngoài (như đội ngũ lãnh đạo công ty, Quốc hội, hoặc các tổ chức công khác) (Athar Osama, 2006)

Tại Mỹ, từ năm 1993 cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá KH&CN được triển khai dưới sự chỉ đạo của Văn phòng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia Chính phủ Mỹ đã thông qua đạo luật về kết quả và hoạt động của chính phủ – GPRA (Goverment Performance and Result Act) Đến năm 2002, chính phủ

Mỹ cho ra đời bộ Công cụ đánh giá xếp hạng Chương trình – PART (Program Assessment Rating Tool) làm căn cứ để đánh giá 4 yếu tố của Chương trình: hình thành và thiết kế mục tiêu; lập kế hoạch chiến lược; tổ chức quản lý chương trình; tính giải trình và kết quả của chương trình Trên cơ sở đó, mỗi bộ, ngành đều xây dựng cho mình các tiêu chí rõ ràng khi đầu tư cho nghiên cứu triển khai R&D Nhiều tổ chức đánh giá chuyên nghiệp cũng đã ra đời như: Mạng Đánh giá Nghiên cứu Washington - WREN, Hiệp hội Đánh giá Mỹ , nhằm đáp ứng đòi hỏi của xã hội và đã làm hoàn thiện thêm hệ thống đánh giá ở Mỹ

Tại châu Âu, nhiều nước như Đức, Hà Lan, Pháp rất chú trọng đến việc đánh giá nghiên cứu ở các tổ chức KH&CN, đặc biệt là nghiên cứu trong trường đại học Ví dụ: CHLB Đức rất có thế mạnh về đánh giá tổ chức khoa học công nghệ Mục tiêu của đánh giá tổ chức tại CHLB Đức là kiểm tra chất lượng của các

cơ quan nghiên cứu trên cơ sở các nhiệm vụ của chúng; khuyến nghị về phát triển tiếp tục hay đình chỉ hoạt động hoặc chuyển đổi các cơ sở nghiên cứu hoạt động kém hiệu quả, từ đó định hướng thành lập thêm các cơ sở mới Công tác đánh giá

tổ chức tập trung vào ba Hiệp hội lớn: Hiệp hội Gottfried Wilhelm Leibniz; Hiệp hội Helmholtz và Hiệp hội Fraunhofer Trong đó, các viện nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu do Bang và Liên bang tài trợ thuộc Hiệp hội Gottfried Wilhelm Leibniz (WGL) (được gọi tắt là các tổ chức thuộc Danh sách Xanh) được đánh giá bởi Hội đồng Khoa học CHLB Đức (Wissenschaftsrat) Danh sách Xanh bao gồm

83 tổ chức, trong đó 80% là các viện nghiên cứu và bảo tàng nghiên cứu và 20% là các viện phục vụ cho nghiên cứu Đây là Hệ thống viện ngoài đại học, đóng vai trò trung gian giữa Hệ thống cơ quan nghiên cứu cơ bản (Hiệp hội Helmholtz) và Hệ

Trang 9

thống nghiên cứu gắn liền với công nghiệp (Hiệp hội Fraunhofer) Hiệp hội thứ hai

là Hiệp hội Helmholtz, một tổ chức nghiên cứu lớn nhất tại Đức, bao gồm 15 trung tâm nghiên cứu lớn với ngân sách hàng năm lên tới 2,3 tỷ Euro và có 26500 cán bộ nghiên cứu Hiệp hội này tạo ra những kết quả nghiên cứu hàng đầu tại Đức trong

6 lĩnh vực chủ chốt: năng lượng, môi trường và trái đất, sức khoẻ, các công nghệ chủ chốt, cấu trúc vật chất và hàng không vũ trụ Thứ ba là Hiệp hội Fraunhofer bao gồm 56 cơ sở nghiên cứu, khoảng 8000 cán bộ nghiên cứu, ngân sách hàng năm khoảng 900 triệu Euro với nhiệm vụ thực hiện triển khai quảng bá các tri thức khoa học trên các lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng nhằm đảm bảo việc triển khai công nghệ, đảm bảo khả năng cạnh tranh của kinh tế thủ công của Đức, giải quyết các nhiệm vụ phục vụ công cộng, thúc đẩy các nghiên cứu phục vụ mục đích tư nhân Công tác đánh giá của cả hai hiệp hội này đều được chính Hiệp hội tự tổ chức thực hiện

Tại Hàn Quốc, Công tác đánh giá phục vụ điều phối các chương trình KH&CN quốc gia được Viện Đánh giá và Lập kế họach KH&CN (KISTEP) đảm trách nhằm cung cấp tư liệu cần thiết cho Văn phòng Khoa học, Công nghệ và Đổi mới (OSTI) thực hiện việc điều phối ngân sách KH&CN quốc gia hàng năm Việc đánh giá cụ thể các chương trình KH&CN quốc gia được giao cho các viện đánh giá và lập kế hoạch chuyên ngành thuộc các bộ, ngành đảm nhận Ví dụ: tại Bộ Công nghiệp, Thương mại và Năng lượng Hàn Quốc (MOCIE) có Viện ITEP đảm nhiệm việc đánh giá các chương trình của MOCIE nhằm trợ giúp Bộ MOCIE hướng các đầu tư của mình vào các mục tiêu ưu tiên phù hợp với nhu cầu phát triển đất nước

Trung Quốc, một nước có thể chế chính trị tương tự như Việt Nam và trình độ phát triển KH&CN không quá cao so với trình độ phát triển của Việt Nam

đã thành lập Trung tâm Đánh giá Quốc gia (NCSTE) trực thuộc Bộ KH&CN vào năm 1997 và 22 trung tâm đánh giá cấp tỉnh.trực thuộc các sở KH&CN chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ KH&CN Ngoài ra, tại mỗi bộ, ngành và các tổ chức nghiên cứu lớn như Viện Khoa học Trung quốc (CAS), Quỹ KHTN Quốc gia đều có các

Trang 10

đơn vị chịu trách nhiệm đánh giá hoạt động KH&CN thuộc lĩnh vực mình đảm nhận Tại Viện Khoa học Trung quốc, từ những năm 1990 đã thành lập Trung tâm Đánh giá, một trong những đơn vị hàng đầu của Trung Quốc về nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng trong lĩnh vực đánh giá, phân loại tổ chức KH&CN và các nghiên cứu về nguồn nhân lực Hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc trải qua hơn 10 năm kinh nghiệm đã đạt được những thành tích đáng kể Các đánh giá KH&CN ở Trung Quốc tập trung vào phân bổ nguồn lực công trong KH&CN với mục tiêu nhằm hỗ trợ việc ra quyết định và nâng cao chất lượng dịch vụ công của Chính phủ

1.2 Hoạt động đánh giá KH&CN trong nước

1.2.1 Các nghiên cứu về đánh giá chương trình KH&CN

Luật KH&CN được thông qua tại kỳ họp thứ thứ 7, Quốc hội khoá X và

có hiệu lực từ 1/1/2001 đã chính thức đề cập đến vấn đề tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN và đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện

Do vậy, từ năm 2001, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thực hiện các nội dung đổi mới trong xác định nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước, thành lập các hội đồng KH&CN để tư vấn, xác định những đề tài trong từng chương trình Hoạt động đánh giá được tập trung vào khâu tuyển chọn đầu vào (xác định cụ thể từng

đề tài, dự án và lựa chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện các đề tài, dự án) và đánh giá nghiệm thu Việc tuyển chọn thực hiện theo kết quả chấm điểm của các hội đồng tư vấn đánh giá hồ sơ đăng ký Các đề tài khi kết thúc thường được nghiệm thu thông qua kết quả đánh giá của hội đồng khoa học

Mặc dù đã có cải tiến đáng kể trong đánh giá đầu vào và đánh giá nghiệm

thu, công tác đánh giá KH&CN vẫn hướng vào đối tượng đề tài, dự án cụ thể là chính Các nỗ lực đánh giá cũng mới chỉ dừng lại ở phạm vi đánh giá từng đề tài,

dự án riêng biệt trong khi cơ chế tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã được tổ chức theo chương trình

Trang 11

Khi tiến hành tổng kết các chương trình nghiên cứu, kể cả chương trình KH&CN cấp nhà nước, các kết quả đánh giá riêng lẻ nói trên chưa minh chứng được mức độ đạt được mục tiêu đã đề ra của cả chương trình hay sự hợp lý giữa qui mô đầu tư và kết quả thu nhận được Do vậy, các ý kiến đánh giá thường thiếu thống nhất về kết quả và hiệu quả chung cho mỗi chương trình

Thêm vào đó, trong quá trình tổ chức thực hiện, việc rà soát, điều chỉnh mục tiêu, nội dung nghiên cứu hay huy động thêm các nguồn lực để đạt mục tiêu

đã đề ra của chương trình thường bị bỏ qua Lý do là chức năng đánh giá giữa kỳ đối với các chương trình KH&CN chưa được coi trọng Vì vậy, cơ hội sử dụng kết quả đánh giá giữa kỳ để hỗ trợ kịp thời cho các quyết sách quản lý chưa được tạo

ra Đây cũng là điểm rất khác biệt trong hoạt động quản lý các chương trình nghiên cứu của nước ta với nhiều nước khác trên thế giới và là một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động đánh giá chưa thực sự là công cụ hay chức năng thiết yếu của chu trình quản lý KH&CN

Trong những năm 2004-2005, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công tác đánh giá, Bộ KH&CN đã chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của Hàn Quốc trong xây dựng phương pháp và tiêu chí đánh giá KH&CN Nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư “Xây dựng phương pháp, tiêu chí đánh giá chương trình, đề tài khoa học và công nghệ tại Việt Nam” do Viện Ứng dụng phối hợp với Viện Lập kế hoạch và đánh giá KH&CN Hàn Quốc –

KISTEP thực hiện trong thời gian này Dự án này đã tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức từ đánh giá đề tài, dự án cụ thể sang đánh giá chương trình theo mục tiêu Kết quả của nhiệm vụ là phía đối tác Hàn Quốc đã chuyển giao kinh nghiệm

về quản lý và đánh giá R&D của Hàn Quốc và thực hiện đánh giá thử nghiệm sử dụng mô hình của Hàn Quốc đối với 01 chương trình và 02 đề tài của Việt Nam Kết quả cuối cùng của dự án là đã đề xuất các định hướng chính sách cho công tác quản lý R&D của Việt Nam trong tương lai

Trang 12

1.2.2 Các nghiên cứu về đánh giá tổ chức KH&CN

Ngoài đối tượng đánh giá là chương trình và đề tài, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc đánh giá các tổ chức nghiên cứu Kết quả đánh giá tổ chức nghiên cứu thường được sử dụng làm căn cứ để xem xét tính hợp lý trong đầu tư (nhân lực, vật lực, tài lực) cho tổ chức đó hay để phát triển một lĩnh vực nghiên cứu nhất định Đối với nước ta, đây là những vấn đề hoàn toàn mới mẻ Mới đây, trong nhiều hội nghị, hội thảo, các nhà quản lý thường nhắc đến việc đánh giá hiệu quả đầu tư cho KH&CN ở qui mô viện nghiên cứu hay qui mô một ngành, một lĩnh vực Như vậy, nhu cầu cho đánh giá tổ chức nghiên cứu đã xuất hiện ở Việt Nam và việc nghiên cứu các mô hình đánh giá tổ chức nghiên cứu đã trở lên cấp thiết

Trong các năm 2004-2005, với sự giúp đỡ của các chuyên gia Đức thuộc Viện Nghiên cứu Hệ thống sản xuất và Công nghệ thiết kế Fraunhofer, (Fraunhofer Institute for Production Systems and Design Technology - IPK), Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đã thực hiện dự án VISION “Đánh giá hệ thống khoa học và công nghệ của Việt Nam” Mục tiêu của dự án là phân tích và đánh giá hệ thống KH&CN với việc xem xét mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của hệ thống Dự án thực hiện ba nội dung chính: 1) Phân tích nhu cầu của khu vực công nghiệp đối với khoa học và công nghệ; 2) Đánh giá kết quả hoạt động KH&CN hiện tại - đánh giá kết quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu trong các trường đại học và không thuộc đại học; 3) Đề xuất nguyên tắc thiết kế để cấu trúc lại hệ thống KH&CN Mặc dù, dự án mới thực hiện được một số nội dung

tập trung chủ yếu vào vấn đề đánh giá chính sách đổi mới KH&CN, song dự án VISION cũng đã góp phần giới thiệu hệ thống chỉ số đo lường đầu vào và chỉ số

đo lường kết quả KH&CN – một trong những thước đo quan trọng trong đánh giá

định lượng của thế giới để phía Việt Nam làm quen

Qua thực hiện các dự án này, phía Việt Nam cũng nhận thức được việc đánh giá KH&CN không thể tiến hành một cách có hiệu quả khi chỉ nhằm vào một

công đoạn riêng biệt của chu trình quản lý Thí dụ chỉ chú ý đến đánh giá kết quả

và hiệu quả kinh tế mang lại khi kết thúc từng đề tài dự án mà chưa xem xét rõ

Trang 13

mục tiêu đặt ra ban đầu của đề tài, dự án đó; hoặc yêu cầu các chỉ số kinh tế định lượng và tính toán tác động của đề tài, dự án ngay khi nhà khoa học mới kết thúc giai đoạn tạo ra vật mẫu hay dây chuyền thử nghiệm

Kết quả của các nhiệm vụ trên đã đóng góp nhiều trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò và ý nghĩa thiết thực của đánh giá KH&CN; đào tạo kiến thức ban đầu cho các cán bộ làm công tác hỗ trợ quá trình xây dựng chính sách KH&CN

1.2.3 Các hoạt động liên quan đến nghiên cứu đánh giá và sự hình thành cơ quan đánh giá độc lập – Trung tâm Hỗ trợ Đánh giá KH&CN

Trên thế giới, việc đánh giá kết quả của một đối tượng nhất định, trước hết phải căn cứ vào mục tiêu đặt ra cho đối tượng đó, tức là mức độ hoàn thành mục tiêu cũng như sự đúng đắn của mục tiêu đó Với quan niệm như vậy, nhiều nước

đã chú ý đến nội dung đánh giá xác định nhu cầu đầu vào cho KH&CN và gắn kết quả xác định nhu cầu đầu vào với việc đặt yêu cầu cho sản phẩm đầu ra Đồng thời, trong quá trình tổ chức thực hiện, không thể bỏ qua chức năng theo dõi, giám sát

và đánh giá giữa kỳ để cung cấp các thông tin cần thiết cho quá trình quản lý Vì vậy, việc thiết kế các tiêu chí đánh giá đều được dự kiến sẵn ngay từ khi lập kế hoạch và chuẩn bị ra quyết định đầu tư

Ở nước ta, phương thức lập kế hoạch và quản lý dựa trên kết quả đầu ra cũng bắt đầu được giới thiệu Với sự trợ giúp của cộng đồng Quốc tế, Bộ Kế hoạch

và Đầu tư đã hình thành khung đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội, đánh giá chương trình, dự án ODA và ban hành thành các quyết định hành chính để chính thức áp dụng [1]

Điều quan trọng thu nhận được từ thực hiện các dự án nói trên là cần phải hình thành một tổ chức đánh giá độc lập, chuyên nghiệp làm cầu nối quan trọng giữa các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà tài trợ Từ nhu cầu thực tiễn trên, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN thuộc Bộ KH&CN được thành lập tháng 11/2005, chính thức hoạt động từ tháng 3/2006 có các chức năng chính như sau:

- Nghiên cứu chuyên môn, nghiệp vụ về đánh giá KH&CN;

Trang 14

- Tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho việc đánh giá nhiệm vụ KH&CN, tổ chức KH&CN và nhân lực KH&CN;

- Triển khai các hoạt động hỗ trợ cho quá trình chuẩn bị xây dựng kế hoạch KH&CN quốc gia, phục vụ công tác quản lý nhà nước và các hoạt động KH&CN khác

Với các chức năng như vậy, nhiệm vụ của Trung tâm được đặt ra là hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý KH&CN thông qua công tác đánh giá và mục tiêu là làm thế nào để hoạt động đánh giá KH&CN được triển khai đồng bộ và trở thành qui định bắt buộc trong hoạt động KH&CN ở Việt Nam, phù hợp với tiêu chuẩn và

thông lệ quốc tế Để đạt được mục tiêu trên, chiến lược phát triển của Trung tâm

là tranh thủ học hỏi kinh nghiệm quốc tế để rút ngắn thời gian hoàn thiện cơ cấu,

tổ chức, nâng cao năng lực đánh giá cho Việt Nam

Do vậy, trong thời gian 2006-2007, một nhiệm vụ nghiên cứu khác được

Bộ KH&CN phê duyệt là học tập phương pháp lập kế hoạch và xây dựng chương trình nghiên cứu của Hàn Quốc với đơn vị được giao chủ trì là Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN Dự án đã tổ chức đào tạo tổng thể về công tác lập kế hoạch và xây dựng chương trình KH&CN cho 23 cán bộ thuộc các bộ ngành khác nhau; đào tạo chuyên sâu cho 07 cán bộ tại Hàn quốc về lập kế hoạch và xây dựng thử 01 chương trình KH&CN cho Việt Nam Sau khi kết thúc dự án, phía Việt Nam có một đội ngũ cán bộ bước đầu được trang bị các kiến thức cơ bản về lập kế hoạch

và xây dựng chương trình để từ đó có thể phát triển và vận dụng vào công tác lập

kế hoạch và xây dựng chương trình nghiên cứu của Việt Nam phù hợp với chuẩn mực quốc tế Dự án đã xây dựng thí điểm một chương trình nghiên cứu “Nuôi dưỡng các nhóm nghiên cứu mạnh để phát triển các công nghệ chủ chốt đạt tới trình độ quốc tế” và đang chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thí điểm triển khai chương trình này ở Việt Nam

Hiện tại, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN đã tạo được mối quan hệ hợp tác với Viện KISTEP và STEPI của Hàn Quốc; bước đầu có quan hệ với Bộ BMBF, Hội đồng Khoa học và Viện IFQ thuộc Quỹ DFG của CHLB Đức để vận động phía CHLB Đức hỗ trợ 01 chuyên gia tình nguyện đến làm việc tại Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Lựa chọn đối tác Trung Quốc trong thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu

Đối với Việt Nam, đối tác Trung Quốc có các thế mạnh sau:

+ Là nước láng giềng có lịch sử quan hệ lâu đời, có sự tương đồng về hệ thống chính trị, kinh tế-xã hội và văn hoá Trung quốc mới trải qua giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh từ những điều kiện kinh tế- xã hội khá tương đồng với Việt Nam nên có nhiều bài học kinh nghiệm sát thực với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay, kể cả về tính chất nghiên cứu và trình độ KH&CN

+ Nền KH&CN phát triển mạnh góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, đưa Trung Quốc từ quốc gia lạc hậu trở thành quốc gia có vị trí quan trọng trên trường quốc tế Trong đó, công tác đánh giá của Trung Quốc được cho là công

cụ hữu hiệu trong việc hỗ trợ quản lý KH&CN

+ Mô hình mạng lưới đánh giá của Trung Quốc khá hoàn thiện với các chức năng nhiệm vụ của từng thành viên rõ ràng, tách biệt, đảm bảo hoạt động có hiệu quả

Trung Quốc đã thành lập Trung tâm Đánh giá Quốc gia (NCSTE) trực thuộc Bộ KH&CN vào năm 1997 và 22 trung tâm đánh giá cấp tỉnh.trực thuộc các

sở KH&CN chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ KH&CN Ngoài ra, tại mỗi bộ, ngành và các tổ chức nghiên cứu lớn như Viện Khoa học Trung quốc (CAS), Quỹ KHTN Quốc gia đều có các đơn vị chịu trách nhiệm đánh giá hoạt động KH&CN thuộc lĩnh vực mình đảm nhận

Trung tâm Đánh giá Quốc gia Trung Quốc được thành lập với chức năng nhiệm vụ gần với Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN và đã rất thành công với 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá: hơn 1000 đề tài, dự án, hơn 100 trung tâm kỹ thuật, đào tạo hơn 600 chuyên gia đánh giá; liên kết với gần 90 tổ chức đánh giá trong và ngoài nước Bên cạnh đó, Viện Chính sách và Quản lý thuộc Viện Khoa học Trung Quốc với hơn 20 năm kinh nghiệm có thế mạnh về đánh giá

Trang 16

và phân loại các tổ chức nghiên cứu khoa học cho 89 viện nghiên cứu trực thuộc Viện Khoa học Trung Quốc định kỳ 2 năm một lần

Tại Viện Khoa học Trung quốc, từ những năm 1990 đã thành lập Trung tâm Đánh giá, một trong những đơn vị hàng đầu của Trung Quốc về nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng trong lĩnh vực đánh giá, phân loại tổ chức KH&CN và các nghiên cứu về nguồn nhân lực Hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc trải qua hơn 10 năm kinh nghiệm đã đạt được những thành tích đáng kể Các đánh giá KH&CN ở Trung Quốc tập trung vào phân bổ nguồn lực công trong KH&CN với mục tiêu nhằm hỗ trợ việc ra quyết định và nâng cao chất lượng dịch vụ công của Chính phủ

NCSTE và IPM đã khởi đầu bằng việc thực hiện nhiều dự án hợp tác quốc

tế, để tiếp thu các kinh nghiệm quốc tế phù hợp với nước đang phát triển trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá Đây cũng là con đường mà phía Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN của Việt Nam đang lựa chọn để phát triển Với kinh nghiệm trong lĩnh vực đánh giá, sự sẵn sàng chuyển giao tri thức

và sự tương đồng trong nhiều mặt, các đối tác Trung Quốc sẽ có nhiều cơ hội chia

sẻ kinh nghiệm về tổ chức hoạt động đánh giá phù hợp với đặc điểm của hệ thống chính trị, KH&CN cũng như phong tục, tập quán của Việt Nam Đồng thời Trung Quốc sẽ giúp đỡ Việt Nam đào tạo cán bộ đánh giá với chi phí không quá cao Kinh nghiệm đánh giá của Trung Quốc được đúc kết từ các nước tiên tiến và được cải tiến phù hợp với các nước đang phát triển là khá phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam

Trong giai đoạn xây dựng năng lực đánh giá ban đầu của mình, ngoài việc học hỏi kinh nghiệm xây dựng chương trình KH&CN, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN bắt đầu triển khai việc tiếp thu kiến thức về đánh giá tổ chức và thực hành đánh giá chương trình KH&CN Một trong các nước được Trung tâm Hỗ trợ Đánh giá KH&CN lựa chọn để học hỏi kinh nghiệm là Trung Quốc Từ năm 2007, Trung tâm Hỗ trợ Đánh giá KH&CN đã tạo được mối quan hệ đối tác thân thiện với Trung tâm Đánh giá KH&CN Quốc gia (NCSTE) thuộc Bộ Khoa học và Công

Trang 17

nghệ Trung Quốc và Viện Chính sách và Quản lý (IPM) thuộc Viện Khoa học

Trong khi đó, đối tác IPM có thế mạnh về đánh giá tổ chức KH&CN sẽ hỗ trợ Việt Nam đào tạo 4-6 chuyên gia về đánh giá tổ chức bằng khoá học lý thuyết

và thực hành tại Trung Quốc

Song song với việc chuyển giao kinh nghiệm đánh giá chương trình và đánh giá tổ chức, các đối tác Trung Quốc sẽ chịu trách nhiệm tư vấn cho Việt Nam

về mô hình tổ chức đánh giá và khung pháp lý cho hoạt động đánh giá Kết quả mong đợi của dự án là xây dựng được mô hình tổ chức và khung pháp lý cần thiết cho hoạt động đánh giá của Việt Nam; đào tạo được đội ngũ cán bộ Việt Nam về đánh giá chương trình và tổ chức nắm vững nghiệp vụ để có thể chuyển giao tri thức, từng bước hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động đánh giá ở Việt Nam

2.3 Cách thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu

Trong việc thực hiện dự án với Trung Quốc, nền tảng của hợp tác là phía Trung Quốc cung cấp dịch vụ tư vấn, phía Việt Nam tiếp thu tri thức, tổ chức thu thập

số liệu, khảo sát thực tế và chuẩn bị các hội thảo, các buổi tiếp xúc để chuyên gia hai nước trao đổi kết quả tiến tới việc cùng thiết kế hệ thống tổ chức, xây dựng khung pháp lý và thực hiện đánh giá Cách tiếp cận này dựa trên phương pháp vừa học vừa làm sẽ giúp cho việc đào tạo đạt hiệu quả cao

Trang 18

Có thể chia việc hợp tác nghiên cứu với các đối tác Trung Quốc thành 3 giai đoạn sau:

+ Phối hợp với chuyên gia Trung Quốc thiết kế sơ bộ việc đánh giá

+ Tổ chức điều tra thu thập thông tin theo thiết kế sơ bộ

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiến để hình thành mô hình tổ chức, khung pháp lý phù hợp với Việt Nam

+ Hướng dẫn kinh nghiệm và kỹ thuật đánh giá phù hợp với thiết kế đã chọn cho các cán bộ Việt Nam ở Trung Quốc và tại Việt Nam

+ Tư vấn cho Việt Nam về các vấn đề cần vượt qua khi phân tích, đánh giá hiện trạng và kế hoạch hành động khi hình thành khung pháp lý

+ Tư vấn cho Việt Nam đề xuất phương án xây dựng mô hình tổ chức và mạng lưới đánh giá phù hợp với Việt Nam

+ Phối hợp đưa ra các kinh nghiệm cần thiết để soạn thảo một số văn bản quy phạm về đánh giá KH&CN

+ Tổ chức tập huấn cho các cán bộ Việt Nam tại Trung Quốc (về đánh giá tổ chức tại IPM và đánh giá chương trình tại NCSTE)

c) Giai đoạn 3

Hai bên sẽ hợp tác tổ chức đánh giá chương trình KH&CN và phía Việt Nam

Trang 19

chủ động lựa chọn phương án xây dựng mô hình tổ chức đánh giá và soạn thảo các quy định về đánh giá trình cơ quan có thẩm quyền:

+ Chuyên gia Trung Quốc phối hợp với cán bộ Việt Nam thiết kế chi tiết qui trình, thủ tục và tiêu chí đánh giá đối với chương trình đã lựa chọn Phía Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức điều tra thu thập bổ sung thêm các thông tin phục vụ đánh giá

+ Hai bên phối hợp phân tích số liệu, tổ chức các hội đồng đánh giá tại Việt Nam

và NCSTE giúp VISTEC hoàn thành báo cáo đánh giá

+ Phía Việt Nam chủ động lựa chọn phương án xây dựng mô hình tổ chức đánh giá và soạn thảo các quy định về đánh giá trình cơ quan có thẩm quyền

+ Tổ chức hội thảo và khuyến nghị kế hoạch triển khai hoạt động đánh giá ở Việt Nam

2.4 Các nội dung nghiên cứu cụ thể

a) Nội dung 1: Xây dựng mô hình triển khai công tác đánh giá KH&CN của Việt Nam

+ Phân tích, so sánh các mô hình cơ cấu tổ chức đánh giá KH&CN của một số nước trên thế giới để lựa chọn mô hình thích hợp tổ chức trỉển khai công tác đánh giá KH&CN ở Việt Nam

+ Nghiên cứu các yếu tố dẫn đến thành công của mô hình và đề xuất các điều kiện để triển khai mô hình tổ chức đánh giá KH&CN (phối hợp với chuyên gia Trung Quốc)

+ Xây dựng cấu trúc mô hình thể chế đảm bảo vận hành có hiệu quả hoạt động đánh giá KH&CN ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp thích hợp để triển khai

mô hình tổ chức được lựa chọn

b) Nội dung 2: Xây dựng khung pháp lý cho công tác đánh giá KH&CN của Việt Nam

+ Phân tích hiện trạng các chính sách, qui định và các điều luật liên quan đến đánh giá KH&CN, chỉ rõ những thuận lợi khó khăn, bất cập trong khung pháp lý để đề xuất giải pháp hoàn thiện

Trang 20

+ Đề xuất khung chính sách, danh mục và nội dung cơ bản của các văn bản qui phạm pháp luật về đánh giá KH&CN (phối hợp với chuyên gia Trung Quốc)

+ Soạn thảo một số văn bản chủ yếu về đánh giá KH&CN (quy định đánh giá KH&CN, quy định đánh giá đầu ra và đầu vào của đề tài/dư án và chương trình KH&CN, đánh giá tổ chức KH&CN ; xây dựng phương pháp, qui trình, tiêu chí đánh giá chương trình và đánh giá tổ chức KH&CN)

c) Nội dung 3: Xây dựng năng lực đánh giá cho Việt Nam (đào tạo cán bộ, tập huấn, hội thảo, thực hành đánh giá…) đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc

tế

+ Cử cán bộ đào tạo ngắn hạn tại NCSTE và IPM

+ Tổ chức các hội thảo quốc tế về đánh giá nhằm học tập, trao đổi kinh nghiệm với các nước tiên tiến và trong khu vực, thúc đẩy hội nhập quốc tế

về đánh giá

+ Triển khai đánh giá 01 chương trình KH&CN cấp nhà nước, gồm các nội dung sau: Nghiên cứu, phân tích, lựa chọn 01 chương trình phù hợp để triển khai ứng dụng phương án đánh giá; (phối hợp với chuyên gia Trung Quốc); Thiết kế qui trình đánh giá (mô phỏng kinh nghiêm của Trung Quốc); Triển khai công tác điều tra, thu thập số liệu phục vụ đánh giá; Xử lý và phân tích

sơ bộ các số liệu thu được; Tổ chức công tác đánh giá; Lập báo cáo đánh giá

Trang 21

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHO HOẠT ĐỘNG

ĐÁNH GIÁ Ở VIỆT NAM 3.1 Các mô hình hệ thống đánh giá KH&CN của một số nước trên thế giới 3.1.1 Mô hình của Mỹ

Mô hình đánh giá ở Mỹ là mô hình phi tập trung, mỗi tổ chức chịu trách

nhiệm đánh giá về hoạt động của mình Tất cả các tổ chức được Chính phủ đầu tư

về KH&CN đều có các bộ phận đánh giá, hàng năm thực hiện đánh giá và gửi Báo cáo kết quả đánh giá cho Quốc hội

Quỹ Khoa học NSF – National Sicence Foundation đánh giá hoạt động của Quỹ và các chương trình nghiên cứu cơ bản do Quỹ hỗ trợ Quỹ thành lập Hội đồng Tư vấn để đánh giá kết quả theo Luật về Thực hiện và Kết quả của Chính phủ (GPRA) Hội đồng Tư vấn gồm 20 thành viên chịu trách nhiệm xem xét về sự đầu tư của quỹ trong nghiên cứu và đào tạo nhằm xác định các thành quả quan trọng mà Quỹ đã đạt được đáp ứng với các mục tiêu chiến lược về phát minh, đào tạo, và hạ tầng nghiên cứu Hội đồng sử dụng tiêu chí đánh giá, chỉ số kết quả để đánh giá kết quả của các chương trình mà Quỹ đã tài trợ và đệ trình báo cáo hàng năm cho Ban Giám đốc về kết quả đánh giá theo từng mục tiêu chiến lược

Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ (NIST – National Institute of Standards and Technology) chịu trách nhiệm đánh giá chương trình Công nghệ tiên tiến (ATP - Advanced Technology Program) hỗ trợ R&D trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và các chương trình về đổi mới công nghệ NIST thành lập Văn phòng Đánh giá kinh tế chịu trách nhiệm đo lường sự thành công của Chương trình ATP thông qua các dự án đánh giá về lập kế hoạch, triển khai và thực hiện chương trình ATP Văn phòng Đánh giá đã xây dựng Tài liệu “Công cụ đánh giá đầu tư công cho R&D” (A Toolkit for Evaluating Public R&D Investment) để hướng dẫn cho các chuyên gia đánh giá thuộc NIST Tài liệu này cung cấp khung đánh giá, các phương pháp, kỹ thuật, công cụ, nguyên tắc và các thông tin về đánh giá và là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý chương trình công nghệ của Chính phủ

Trang 22

Bộ Năng lượng – Department of Energy (DOE) đánh giá hoạt động R&D

và các chương trình Phát triển công nghệ về năng lượng Văn phòng Hiệu quả năng lượng và năng lượng tái sinh (EERE – Office of Energy Efficiency and Renewable Energy) chịu trách nhiệm quản lý 10 chương trình của Bộ Năng lượng Văn phòng đã xây dựng các tài liệu về “Quản lý các chương trình chung – Nghiên cứu về đánh giá”, “Phương pháp đánh giá các chương trình R&D” để hướng dẫn

và cung cấp các thông tin cần thiết về đánh giá như: Lập kế hoạch đánh giá, thiết

kế đánh giá, quản lý quá trình đánh giá, phổ biến và sử dụng kết quả

Nhằm tích hợp thông tin về kết quả vào quá trình phân bổ ngân sách, năm

2001, Văn phòng Tổng thống đã công bố “Chương trình Quản lý của Tổng thống – PMA - President’s Management Agenda” Để thực hiện chương trình này, Văn phòng Quản lý và Ngân sách (OBM – Office of Management and Budget) đã soạn thảo Bộ công cụ để đánh giá xếp hạng các chương trình (Program Assessment Rating Tool – PART) Bộ Công cụ cung cấp phương pháp phù hợp để đánh giá các chương trình của Liên bang trong quá trình xem xét phân bổ ngân sách, trong đó

có các tiêu chí đầu tư cho R&D Tiêu chí để đầu tư cho R&D tập trung vào chất lượng nghiên cứu, sự phù hợp và kết quả của chương trình

Bên cạnh các tổ chức đánh giá thuộc các cơ quan Chính phủ, ở Mỹ còn có các tổ chức tư vấn trung gian, chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá như : Hiệp hội đánh giá Mỹ (AEA - American Evaluation Association), Tổ chức tư vấn đánh giá tác động công nghệ (TIA – Technology Impact Assessment Consulting Inc.)…

3.1.2 Mô hình của Canada

Là một đất nước có nền dân chủ nghị viện, Canada có ba cấp chính quyền : liên bang, tỉnh và lãnh thổ, các thành phố Mô hình đánh giá liên bang là mô hình

đánh giá phi tập trung Mỗi tổ chức chịu trách nhiệm đánh giá các sáng kiến của

mình thông qua chức năng đánh giá nội bộ, độc lập với bộ phận quản lý Kết quả đánh giá phải được chia sẻ với các cơ quan bên ngoài có quan tâm Trong cơ cấu đánh giá của Chính phủ Canada, có 4 cơ quan tham gia chính :

Trang 23

 Ủy ban Ngân sách : Cung cấp các định hướng và hướng dẫn đánh giá của Chính phủ cho các Bộ, ngành (Do Ban Thư ký soạn thảo)

 Các Bộ, ngành : Xây dựng năng lực đánh giá phù hợp với yêu cầu và nguồn, đánh giá chính sách, chương trình và các sáng kiến của Bộ, ngành mình

 Trưởng các cơ quan và bộ phận đánh giá : Đưa ra chủ trương và định hướng

để thực hiện đánh giá

 Các nhà quản lý : quản lý kết quả đánh giá

Ngoài ra, tại Canada còn có nhiều tổ chức tư vấn, đánh giá chuyên nghiệp chuyên cung cấp các dịch vụ đánh giá cho các cơ quan, bao gồm cả các cơ quan của Chính phủ như : KPMG Consulting PL, Canada (Chi nhánh của Mạng lưới các

tổ chức chuyên về kiểm toán, thuế, và dịch vụ tư vấn), Tổ chức Tư vấn FORUM

Đánh giá KH&CN trong phạm vi chính quyền liên bang trở nên phổ biến vào đầu những năm 80 Có 4 tổ chức chính quản lý và điều phối các hoạt động KH&CN ở Canada :

- Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada – National Research Council of Canada

- Hội đồng Nghiên cứu Khoa học tự nhiên và Kỹ thuật Canada – Natural Science and Engineering Research Council of Canada

- Cơ quan Tài nguyên thiên nhiên Canad – Natural Resouces Canada

- Hội đồng Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn – The Social Sciences and Humanities Research Council

Căn cứ “Chính sách và Tiêu chuẩn đánh giá của Chính phủ” do Ủy ban Ngân sách ban hành, các tổ chức trên đã thành lập bộ phận đánh giá chuyên nghiệp thực hiện đánh giá các viện nghiên cứu, chương trình và các sáng kiến thuộc tổ chức mình Các đánh giá đưa ra đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của việc lập kế hoạch, quản lý hoạt động và rủi ro

3.1.3 Mô hình của Hàn Quốc

Mô hình đánh giá KH&CN của Hàn Quốc là sự kết hợp giữa mô hình tập

trung và phân tán, có cơ quan chuyên trách thuộc chính phủ

Trang 24

Căn cứ “Luật đặc biệt về Khoa học và Đổi mới công nghệ” (ban hành tháng hai, năm 1998) và “Luật về việc Thành lập, Hoạt động và Phát triển các Viện Nghiên cứu Chính phủ” (ban hành tháng 1 năm 1999), các hoạt động đánh giá KH&CN tại Hàn Quốc bao gồm 3 loại hình :

 Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá tất cả các chương trình R&D do nhà nước cấp kinh phí và một số dự án đặc biệt trong trường hợp cần thiết;

 Ba Hội đồng nghiên cứu (trực thuộc Thủ tướng) thực hiện đánh giá các viện nghiên cứu Chính phủ

 Các cơ quan quản lý và đánh giá thuộc các Bộ, ngành như : Viện Lập Kế hoạch và Đánh giá KH&CN – KISTEP - Bộ KH&CN; Viện Lập Kế hoạch

và Đánh giá Công nghệ Công nghiệp - ITEP - Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng; Viện Đánh giá Công nghệ Thông tin IITA - Bộ Thông tin và Viễn thông… chịu trách nhiệm đánh giá các đề tài, dự án theo quy định của từng Bộ

Trong các quốc gia thuộc OECD, Hàn Quốc được coi là nước đang tiến vững chắc trên con đường đến giám sát đánh giá, có mô hình triển khai hoạt động đánh giá KH&CN đồng bộ và nhất quán Tuy nhiên, cộng đồng khoa học tại Hàn Quốc đang chỉ trích sự trùng lặp và chồng chéo trong Hệ thống đánh giá làm cho cán bộ nghiên cứu và các viện nghiên cứu chịu nhiều gánh nặng về đánh giá

3.1.4 Mô hình của Philipine

Giống như hầu hết các nước đang phát triển, sự phát triển về KH&CN ở Philippines dựa theo nguyên tắc giao nhiệm vụ theo đầu vào, hay là do yếu tố cung đẩy (supply-push) Phương pháp này thường không đáp ứng được nhu cầu thực sự của nền kinh tế Các kết quả nghiên cứu thường có ít tác động lên xã hội Khi quá trình toàn cầu hóa tăng áp lực lên nhu cầu phát triển về KH&CN, mô hình lập kế hoạch phát triển KH&CN dựa theo nhu cầu của nền kinh tế bắt đầu thành hình Các kế hoạch cho KH&CN phải xem xét đến nhu cầu từ khu vực tư nhân và của người sử dụng cuối cùng Để đối mặt với những thay đổi này, Cục Khoa học và Công nghệ Philipine đã nỗ lực lên kế hoạch cho các sản phẩm, dịch vụ tiềm năng

Trang 25

và các biện pháp tăng hiệu suất, hiệu quả thông qua đánh giá KH&CN Cục Khoa học và Công nghệ Philipine có 5 hội đồng quốc gia theo 5 lĩnh vực KH&CN, mỗi hội đồng thực hiện việc đánh giá trong lĩnh vực của mình Các hội đồng cũng thường mời các chuyên gia nước ngoài tham gia vào quá trình đánh giá

3.2 Mô hình hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc

* Hệ thống đánh giá của Trung Quốc

Mô hình hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc dưới dạng kết hợp tập trung và phân tán, có cơ quan chuyên trách gồm các thành phần cả trong và ngoài chính phủ Hoạt động đánh giá tại Trung Quốc vẫn chủ yếu do nhà nước tài trợ và chính phủ có vai trò quyết định trong việc đánh giá tất cả các loại hoạt động phát triển quốc gia Những đánh giá do các tổ chức phi chính phủ thực hiện không gây được ảnh hưởng đối với cách đánh giá hiện nay

Hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc gồm 3 cấp: cấp quốc gia, cấp

bộ, ngành và cấp địa phương (h×nh 3.1)

Hình 3.1 Mô hình mạng lưới đánh giá ở Trung Quốc

Trang 26

Từ những năm 80, Chớnh phủ Trung Quốc đó chỳ trọng đầu tư mạnh cho khoa học và cụng nghệ Tuy cỏc hoạt động KH&CN cú đúng gúp cho sự phỏt triển

ở Trung Quốc nhưng kết quả và sản phẩm đầu ra luụn luụn khụng làm thoả món cỏc bờn liờn quan Năm 1994, để đương đầu với những vấn đề này, Bộ Khoa học

và Cụng nghệ Trung Quốc đó thành lập Trung tõm Quốc gia về Đỏnh giỏ Khoa học và Cụng nghệ Trung Quốc (NCSTE), chịu trỏch nhiệm đỏnh giỏ cỏc chương trỡnh KH&CN trọng điểm, cỏc đề tài, dự ỏn lớn, cỏc trung tõm kỹ thuật cụng nghệ

và cung cấp cỏc hướng dẫn nghiệp vụ đỏnh giỏ NCSTE được Bộ Khoa học và Cụng nghệ Trung Quốc uỷ quyền xõy dựng “Cỏc tiờu chuẩn đỏnh giỏ”, cỏc tiờu chuẩn này là phụ lục của Quy định của Chớnh phủ Trung Quốc về quản lý đỏnh giỏ

Từ khi được ban hành, những tiờu chuẩn này đó được ỏp dụng trong đỏnh giỏ KH&CN tại Trung Quốc và được lựa chọn là tài liệu tập huấn về đỏnh giỏ KH&CN cho cỏc cỏn bộ thuộc cỏc tổ chức đỏnh giỏ KH&CN trờn toàn quốc

Ở cấp địa phương cú cỏc trung tõm đỏnh giỏ KH&CN địa phương, cú trỏch nhiệm đỏnh giỏ tại địa phương; chịu sự hướng dẫn nghiệp vụ của NCSTE

Cỏc tổ chức đỏnh giỏ KH&CN thuộc cỏc bộ, ngành thực hiện cụng tỏc đỏnh giỏ tại cỏc bộ ngành mỡnh: Bộ phận đỏnh giỏ của Viện Chớnh sỏch và Quản lý thuộc Viện Hàn lõm Khoa học Trung Quốc được hỡnh thành từ năm 1994; Trung tâm đánh giá Giáo dục đại học, Bộ Giỏo dục, năm 2004; Bộ Tài chớnh: năm 1999;

Uỷ ban Cải cỏch và Phỏt triển Quốc gia: năm 2005, Trung tâm quốc gia về Đánh giá an toàn dược phẩm (NCSED), Bộ Y tế; Trung tâm cấp chứng chỉ về an toàn công nghệ thông tin Trung Quốc; Hệ thống đánh giá quyền sở hữu trí tuệ; Hệ thống đánh giá cải thiện môi trường thành phố thuộc Bộ Xây dựng; Bộ đất đai và tài nguyên có hệ thống đánh giá về đát đai; Trung tâm đánh giá an toàn tiêu chuẩn GLP cho các phòng thí nghiệm; Hệ thống đánh giá sáng chế được thiết lập ở Thượng Hải… Các tổ chức làm công tác đánh giá này hoạt động hoàn toàn độc lập với nhau và chỉ hoạt động trên lĩnh vực đánh giá của mình

Cỏc tổ chức đánh giá KH&CN bộ/ngành và địa phương được thành lập với

sự phê duyệt và cấp giấy chứng nhận tư cỏch đỏnh giỏ của Bộ KH&CN, chịu sự quản lý của các Vụ KH&CN bộ/ngành chủ quản và Sở KH&CN địa phương mình

Trang 27

Sự liên kết giữa các cấp đánh giá thể hiện qua chỉ đạo về chuyên môn của NCSTE

đối với các tổ chức đánh giá khác Về mặt hành chính các Trung tâm đánh giá bộ/ngành cũng như địa phương là độc lập với NCSTE

Trong 20 năm qua, Trung Quốc đang chuyển vai trò từ quản lý đề tài sang xây dựng chiến lược và chính sách cho KH&CN, cung cấp dịch vụ trong bối cảnh

hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc trở nên hữu hiệu hơn trước Công tác đánh giá ngày càng đóng vai trò quan trọng và trở thành công cụ quản lý hữu hiệu trong việc khuyến khích đổi mới KH&CN

* Trung tõm đỏnh giỏ KH&CN quốc gia Trung Quốc (NCSTE)

Trung tâm đánh giá KH&CN quốc gia Trung Quốc là cơ quan đánh giá

KH&CN chuyên nghiệp cấp Nhà nước được thành lập thông qua sự phê chuẩn của

Bộ KH&CN, chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ KH&CN Mục đích thành lập NCSTE là phục vụ các cơ quan quản lý KH&CN ở tầm vĩ mô của Nhà nước, đảm nhận đánh giá nhiệm vụ KH&CN lớn, quan trọng của Nhà nước, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá KH&CN, thúc đẩy việc xây dựng chế độ, quy phạm kỹ thuật và hệ thống quản lý về đánh giá KH&CN của Nhà nước Đồng thời, triển khai các loại hoạt động đánh giá đối với trong nước và quốc tế

Nguồn nhân lực của Trung tâm Đánh giá bao gồm 3 lớp:

1 Cán bộ biên chế: 20 thành viên có chuyên môn thuộc các lĩnh vực tư vấn quản

lý, nghiên cứu chính sách, phân tích công nghệ-kinh tế và kỹ thuật

2 Chuyên gia-cộng tác viên: khoảng 40 chuyên gia cao cấp và chuyên gia tư vấn

là những nhà chuyên môn cao cấp hoặc là những quan chức cao cấp đã nghỉ hưu trong các lĩnh vực khác nhau, làm việc theo chế độ hợp đồng và tham gia vào các tổ dự án

3 Mạng lưới chuyên gia cùng ngành: khoảng 2000 chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau đăng ký vào CSDL chuyên gia của Trung tâm Đánh giá với nhiệm vụ cung cấp những ý kiến tư vấn về công nghệ, kinh tế và tổ chức Trung tâm

Đánh giá giữ vai trò là người tiến hành đánh giá

Để phục vụ công tác đánh giá KH&CN, Trung tâm Đánh giá đã xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia đánh giá và mạng lưới chuyên gia tư vấn bên ngoài, cơ sở

Trang 28

dữ liệu về chương trình, đề tài/dự án và cơ sở dữ liệu về báo cáo đánh giá KH&CN (hình 3.2)

Hỡnh 3.2 Tổ chức của Cơ quan đỏnh giỏ Trung quốc, mụ hỡnh liờn kết bờn ngoài

Khách hàng thông thường là các cơ quan nhà nước, bộ/ngành, doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức khác; trong đó, khách hàng chủ yếu của Trung tâm Đánh giá là các cơ quan Nhà nước, chủ yếu là Bộ KH&CN và Bộ Tài chính Hiện tại cùng với

sự tín nhiệm ngày càng được nâng cao, Trung tâm Đánh giá cũng cung cấp dịch vụ cho khách hàng quốc tế bao gồm các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước và cơ quan tư vấn quốc Tế

Trung tâm Đánh giá Quốc gia Trung Quốc nằm trong cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN, chịu chỉ đạo trực tiếp của Bộ nên có mối liên kết chặt chẽ với các bộ phận khác trong cùng Bộ KH&CN NCSTE nhận ủy thác của Bộ KH&CN thực hiện đánh giá trên cơ sở nhu cầu từ các Vụ: Vụ Kế hoạch (đánh giá chương trình,

đề tài, dự án, tổ chức), Vụ Vật tư và Tài chính (thẩm định kinh phí, đánh giá kết quả thực hiện, đánh giá sự phù hợp và tài trợ đặc biệt), các Vụ khác (đánh giá chính sách KH&CN, dự báo công nghệ, đánh giá tín dụng và đánh giá công nghệ mới) (hình 3.3)

Chuyờn gia KN/Cố vấn

Bỏo cỏo đỏnh giỏ

Cỏc hoạt động đỏnh giỏ

(Mụ hỡn ờn k t với đ i tỏ bờn n oài)

Thành lập 1994

Trang 29

 Giám sát quốc tế

Khởi

Triển khai thực tế

 Nghiên cứu phương pháp

 Luận cứ đánh giá

 Đào tạo đội ngũ

 Thâm nhập thực tiễn

 Đánh giá dự án

 Đánh giá kế hoạch

 Đánh giá nghiệm thu công trình trọng điểm

Trang 30

Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đánh giá KH&CN Nhà nước đã tiến hành tốt nhiều hoạt động đánh giá KH&CN lớn quan trọng trên các mặt chính sách,

kế hoạch và hạng mục KH&CN của Nhà nước, đồng thời, đã xây dựng được một

đội ngũ đánh giá KH&CN chuyên nghiệp và mạng chuyên gia ưu tú có trình độ và

tố chất cao, đã xây dựng được phương pháp, qui trình và hệ thống chỉ tiêu đánh giá KH&CN một cách đồng bộ Quá trình phát triển của NCSTE được chia thành 5 giai đoạn: (1) khởi đầu, (2) học hỏi, (3) triển khai thực tế, (4) hợp tác quốc tế nâng cao năng lực, (5) tổng kết kinh nghiệm và rà soát cơ cấu tổ chức (hình 3.4)

3.3 Lựa chọn mụ hỡnh cho Việt Nam

3.3.1 Phõn tớch điểm mạnh và điểm yếu của cỏc mụ hỡnh đỏnh giỏ

Những nước cú kinh nghiệm đỏng kể về đỏnh giỏ KH&CN đều cú một điểm chung là nguồn kinh phớ để tổ chức và triển khai cụng tỏc đỏnh giỏ là từ chớnh phủ thỡ điểm khỏc nhau cơ bản ở cỏc nước này là về việc thực hiện và cơ quan chuyờn trỏch đỏnh giỏ Chủ yếu cú 3 dạng sau:

- Cơ quan chuyờn trỏch là một cơ quan thuộc chớnh phủ: như ở Hàn Quốc, Philipin

- Cơ quan chuyờn trỏch là một Cơ quan tư vấn trung gian khụng thuộc chớnh phủ: như ở Canada, Mỹ

- Cơ quan hỗn hợp gồm cỏc thành phần cả trong và ngoài chớnh phủ chuyờn trỏch: như Mỹ, Trung Quốc, Canada

1) Điểm mạnh của một cơ quan thuộc chớnh phủ là cơ quan đỏnh giỏ cú thể

sẽ nắm bắt tốt hơn mục tiờu, mục đớch, cỏc yờu cầu của những nhà lập chớnh sỏch

và vỡ thế việc đỏnh giỏ sẽ sỏt với yờu cầu hơn Một điểm mạnh khỏc là những cơ quan đỏnh giỏ cú thể dựng quyền lực của chớnh phủ trong việc yờu cầu cung cấp thụng tin Điểm yếu của loại hỡnh này là cỏc phản ỏnh sai lệch cú thể xuất hiện khi chớnh phủ can thiệp vào quỏ trỡnh đỏnh giỏ

2) Cơ quan nằm ngoài chớnh phủ cú hai điểm mạnh Trước tiờn, cơ quan tư vấn trung gian đúng vai trũ bờn thứ ba Và như vậy cú vẻ như họ sẽ cụng bằng và khỏch quan hơn Thứ hai, cỏc cơ quan tư vấn trung gian cú chuyờn mụn húa cao hơn, được đào tạo chuyờn nghiệp hơn và thường cú kinh nghiệm hơn Điểm bất lợi của mụ hỡnh này là cú thể cú khoảng cỏch giữa kết quả đỏnh giỏ và yờu cầu của chớnh phủ

Trang 31

3) Hai hình thức trên có điểm mạnh và yếu của chúng Nếu có thể phối hợp lại thì chúng sẽ bổ xung cho nhau Loại hình thứ ba là một tổ chức bao gồm cả trong và ngoài chính phủ có ưu điểm như vậy và nó được ngày càng nhiều quốc gia lựa chọn

Qua kinh nghiệm của một số nước, chúng ta có thể nhận thấy rằng, mặc dù

mô hình áp dụng khác nhau, nhưng về cơ bản các hoạt động đánh giá KH&CN của các quốc gia đều có những điểm chung như sau :

- Đánh giá KH&CN là một thiết chế xã hội, mang tính hệ thống : Là một

thiết chế xã hội vì hoạt động đánh giá chỉ có thể tiến hành được trên cơ sở những căn cứ pháp lý, dựa trên những văn bản pháp quy do nhà nước ban hành và được

áp dụng cho các hoạt động KH&CN trong toàn quốc; Mang tính hệ thống vì nó được áp dụng cho toàn bộ hệ thống KH&CN của quốc gia, bao gồm : đánh giá chính sách, đánh giá hiệu quả đầu tư, đánh giá chương trình, đề tài, đánh giá tổ chức, đánh giá các cá nhân hoạt động trong các tổ chức nghiên cứu và các trường đại học

- Cách thức tổ chức đánh giá KH&CN là đa dạng, phụ thuộc nhiều vào

hoàn cảnh phát triển lịch sử cụ thể của công tác quản lý KH&CN của từng quốc gia và rất khó có thể có một mô hình chung mang tính tối ưu để áp dụng cho mọi quốc gia Mỗi quốc gia, tùy theo trình độ phát triển, tập quán văn hóa, xã hội xây dựng mô thức riêng phù hợp với mình

Với điều kiện của Việt Nam, khi trình độ phát triển còn thấp, hoạt động quản lý KH&CN còn chưa đồng bộ và thiếu tính hệ thống, nên áp dụng mô hình đánh giá của một số quốc gia có nhiều điểm tương đồng như Trung Quốc, Hàn Quốc

3.3.2 Các lý do lựa chọn mô hình của Trung Quốc

Trong số các mô hình hệ thống đánh giá đã được tổng quan, Trung tâm Hỗ trợ Đánh giá KH&CN đề xuất lựa chọn mô hình của Trung Quốc với các lý do như

sau:

Một là, sự tương đồng về tổ chức hệ thống và con đường phát triển

+ Các đặc điểm văn hóa, cách tư duy giống nhau

+ Có sự tương đồng về chính trị và mô hình phát triển kinh tế-xã hội;

Trang 32

+ Có sự tương đồng về cấu trúc hệ thống KH&CN theo mô hình Liên-xô cũ và chức năng quản lý của nhà nước;

+ Diễn biến quá trình cải cách nghiên cứu và nhu cầu đánh giá tương tự như nhau;

Hai là, nhu cầu đánh giá của xã hội như nhau

+ Xã hội Trung Quốc và Việt Nam cùng chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường;

+ Người nộp thuế có quyền được biết về việc sử dụng ngân sách;

+ Nhu cầu giám sát của Quốc hội gia tăng;

+ Nhu cầu của Chính phủ sử dụng đánh giá như công cụ để cải tiến phân bổ nguồn lực

=> Các tình huống dẫn đến hình thành mục đích của đánh giá

Ba là, Mục đích đánh giá như nhau

+ Mục đích 1 Trách nhiệm giải trình và tác động tới kinh tế xã hội yêu cầu phải

đo lường và đánh giá kết quả của đề tài/dự án; Cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách và người nộp thuế về hiệu quả sử dụng nguồn lực công;

đảm bảo trách nhiệm giải trình Các câu hỏi trong đánh giá là: Bao nhiêu? Kết quả thế nào?

+ Mục đích 2 Cải tiến cơ chế quản lý: Tập trung vào rút bài học kinh nghiệm từ các hoạt động đã và đang triển khai để cải tiến cho gia đoạn tiếp theo; Cung cấp các phân tích chuyên sâu về nguyên nhân và lý giải về thành công hoặc

thất bại để học hỏi và điều chỉnh Các câu hỏi trong đánh giá là: Cái gì xảy ra? Tại sao? Điều chỉnh thế nào?

3.3.3 Hiện trạng tổ chức thực hiện đánh giá KH&CN ở Việt Nam

Hoạt động đánh giá KH&CN công của Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung đánh giá các đề tài/dự án ở khâu tuyển chọn và nghiệm thu Các nỗ lực đánh giá cũng mới chỉ dừng lại ở phạm vi đánh giá từng đề tài, dự án riêng biệt trong khi cơ chế tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã được

tổ chức theo chương trình Đánh giá đề tài, dự án các cấp được thực hiện theo phân cấp cụ thể thông qua các Hội đồng tư vấn chuyên gia: đánh giá đề tài, dự án độc

Trang 33

lập cấp nhà nước do Bộ KH&CN thực hiện; các đề tài, dự án cấp bộ, ngành, địa phương do đơn vị chủ quản thực hiện; các đề tài cấp sơ sở do đơn vị chủ trì tự tổ chức đánh giá Tất cả các cấp đánh giá đều do cơ quan quản lý (nơi tài trợ kinh phí) thực hiện nên ảnh hưởng đến tính khách quan và minh bạch

Đối với các chương trình KH&CN, đánh giá chỉ dừng lại ở việc tổng kết khi kết thúc các chương trình do Ban Chủ nhiệm chương trình và Văn phòng các chương trình thực hiện Thực chất của tổng kết các chương trình là Văn phòng các chương trình tập hợp báo cáo từ các Ban chủ nhiệm chương trình để hình thành báo cáo chung cho toàn chương trình

Đối với các tổ chức KH&CN (đặc biệt là các viện nghiên cứu do nhà nước tài trợ) chưa có bất kỳ một hình thức đánh giá kết quả hoạt động trong suốt thời gian dài, dẫn đến hoạt động không hiệu quả, thành lập đơn vị mới tràn lan gây lãng phí nguồn lực của đất nước

Đối với lĩnh vực chính sách KH&CN, công tác đánh giá còn bỏ ngỏ, phần lớn việc ra chính sách được thực hiện thiếu thực tiễn nên khi áp dụng vào thực tế gặp rất nhiều bất cập và không được điều chỉnh kịp thời, dẫn tới cản trở quá trình phát triển của KH&CN

Nhìn chung, kể từ khi gia nhập WTO, việc bắt buộc tăng cường tính minh bạch trong hoạt động quản lý cho phù hợp với thông lệ quốc tế, kết hợp với yêu cầu của cộng đồng về tính giải trình ngày càng tăng đã tạo sức ép cho nhiều Bộ, ngành theo hướng cải cách cơ chế quản lý Các Bộ như Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính là những bộ đi đầu trong tiến trình cải cách Với xu thế chung của đất nước, Bộ KH&CN đã xây dựng đề án đổi mới cơ chế quản lý mà việc thành lập Trung tâm Hỗ trợ Đánh giá KH&CN là một là một phần trong đó

Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN thuộc Bộ KH&CN được thành lập tháng 11/2005, chính thức hoạt động từ tháng 3/2006 và được đổi tên thành Viện Đánh giá Khoa học và Định giá Công nghệ vào tháng 7 năm 2009 với chức năng chính như sau:

- Nghiên cứu chuyên môn, nghiệp vụ về đánh giá KH&CN;

Trang 34

- Tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho việc đánh giá nhiệm vụ KH&CN, tổ chức KH&CN và nhân lực KH&CN;

- Triển khai các hoạt động hỗ trợ cho quá trình chuẩn bị xây dựng kế hoạch KH&CN quốc gia, phục vụ công tác quản lý nhà nước và các hoạt động KH&CN khác

Với các chức năng như vậy, nhiệm vụ của Trung tâm được đặt ra là hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý KH&CN thông qua công tác đánh giá và mục tiêu là làm thế nào để hoạt động đánh giá KH&CN được triển khai đồng bộ và trở thành qui định bắt buộc trong hoạt động KH&CN ở Việt Nam, phù hợp với tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế Để thực hiện tốt chức năng hỗ trợ quản lý, Trung tâm Đánh giá kết hợp chặt chẽ với các đơn vị khác của bộ như Cục Thông tin KH&CN quốc gia, Viện Chính sách và Chiến lược KH&CN quốc gia, Cục Sở hữu trí tuệ, Quỹ KH&CN quốc gia, Văn phòng Các chương trình trọng điểm quốc gia… nhằm tạo một mạng lưới hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động quản lý của các Vụ Chức năng trong

Vụ Hợp tác quốc tế

Vụ Tổ chức cán bộ

Vụ Kế hoạch-Tài chính

Vụ Khoa hoc Xã hội và Tự nhiên

Vụ Pháp chế

Thanh tra Bộ

Trung tâm Thông tin

VISTEC

http://www.most gov.vn/Desktop.

Viện Năng lượng nguyên

tử VN

Viện NC ứng dụng

Viện Chính sách

và Chiến lược KHCN quốc gia Studies Cục Thông tin KHCN quốc gia

Trang 35

Có thể nói, Trung tâm Hỗ trợ Đánh giá KH&CN ra đời là một đòi hỏi tất yếu trong tiến trình Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ, đảm bảo tính độc lập khách quan và công bằng cho hoạt động đánh giá KH&CN

* Đề xuất mô hình của Việt Nam

Dựa trên mô hình hệ thống đánh giá KH&CN của Trung Quốc với Trung tâm Đánh giá Quốc gia Trung Quốc là trung tâm, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình của Việt Nam với 3 cấp độ đánh giá là cấp Quốc gia, cấp Bộ/ngành và cấp địa phương (hình 3.6)

Hình 3.6 Đề xuất mạng lưới đánh giá của Việt Nam

Theo đó, ở cấp quốc gia, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN với vai trò chủ chốt, cung cấp phương pháp luận đánh giá, thực hiện hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, cung cấp dịch vụ tư vấn về lĩnh vực đánh giá khoa học và định giá công nghệ Các Trung tâm đánh giá thuộc các bộ ngành, địa phương sẽ được Bộ KH&CN thẩm định tư cách đánh giá

CSDL

VISTEC

Cơ quan

Trung ương

Trang 36

Hình 3.7 Đề xuất mô hình tổ chức đánh giá của Việt Nam

Hình 3.8 Lộ trình phát triển của VISTEC đến năm 2015

25 c án bộ

Cố vấn và chuyên gia đánh giá

kinh nghiệm (20-30 hợp đồng)

Chuyên gia tư vấn (100-200 chuyên gia đầu ngành)

(Mô hìn ên k t bên n oài)

Thành lập 2006

Survey and Analyze

of the R&D program

& NIS

of Vietnam

Survey and Analyze

of R&D organizations Performance

Set up the National Guidelines for R&D program

&

organization Evaluation

-Conducting evaluation practices:

R&D program and R&D organizations,

2015

•Khảo sát và học tập ở nước ngoài

• Nghiên cứu phương pháp luận

• Xây dựng năng lực cho đội ngũ

• Hợp tác QTế- học và thực tập

• Nghiên cứu phương pháp luận

• Xây dựng năng lực cho đội ngũ

• Hợp tác QTế- học và thực tập

• Tiến hành cách hoạt động đánh giá

Trang 37

Khách hàng thường xuyên của mạng lưới đánh giá là các cơ quan trung ương, các cơ quan địa phương và các tổ chức khác - những đối tượng có nhu cầu đánh giá hiệu quả đầu tư trong các lĩnh vực KH&CN

* Đề xuất mô hình tổ chức cho Trung tâm Hỗ trợ đánh giá KH&CN

Mô hình tổ chức (hình 3.7) được đề xuất với nhóm cán bộ hạt nhân gồm 25 cán bộ nắm vững nghiệp vụ chuyên môn về đánh giá, nhóm cố vấn khoảng 20 người là các chuyên gia đánh giá có kinh nghiệm làm việc dưới hình thức hợp đồng Mạng lưới chuyên gia cùng ngành khoảng 500 người là các chuyên gia có trình độ cao ở trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau

* Lộ trình phát triển

Được thành lập năm 2006, Trung tâm Hỗ trợ đánh giá đến nay đã có 4 năm kinh nghiệm học tập và nghiên cứu phương pháp luận, xây dựng đội ngũ nhân lực

để có thể triển khai đánh giá trong giai đoạn tới Giai đoạn 2010-2012, Trung tâm

sẽ tập trung xây dựng hướng dẫn đánh giá chương trình và tổ chức R&D Tiếp đến giai đoạn 2012- 2015, Trung tâm triển khai đánh giá chương trình và tổ chức R&D

ở qui mô rộng (hình 3.8)

3.4 Đề xuất các giải pháp cần thiết, các chính sách, quy định thích hợp để

áp dụng thành công mô hình tổ chức đã lựa chọn

3.4.1 Các giải pháp cần thiết

Giải pháp trong tổ chức hoạt động đánh giá

- Lãnh đạo cao cấp phải nhận thức tầm quan trọng và có hành động;

- Xác định rõ vị trí của đánh giá trong các giai đoạn quản lý (lập kế hoạch, phân

bổ ngân sách, sử dụng kết quả );

- Khuyến khích các nhà quản lý/các công chức tham gia đào tạo;

- Nhấn mạnh vào cả giám sát và đánh giá;

- Tăng cường trao đổi giữa các hiệp hội đánh giá

Các nhân tố quan trọng trong đánh giá

- Ý chí quyết tâm của lãnh đạo là điều kiện tiên quyết

Trang 38

- Cơ quan quản lý, nhà khoa học biết và nhận thức được đúng bản chất của hoạt

động đánh giá

- Phương thức đánh giá: không cầu toàn; đi từ định lượng sang định tính, từ dễ

đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

Giải pháp phát triển tổ chức đánh giá chuyên nghiệp

+ Phát huy tính độc lập và tính chuyên nghiệp trong đánh giá: nâng cấp thành đơn vị nghiên cứu có chức năng đánh giá và giao nhiệm vụ đánh giá các tổ chức KH&CN và chương trình KH&CN cấp Nhà nước thành nhiệm vụ thường xuyên

+ Đẩy nhanh quá trình chuyên nghiệp hoá: tăng cường đào tạo, hợp tác quốc tế

và chuẩn hoá nghiệp vụ đánh giá

+ Đưa đánh giá thành công cụ bắt buộc trong quản lý: xây dựng các quy định bắt buộc đánh giá Hướng mục đích sử dụng kết quả đánh giá vào việc phục vụ hoàn thiện năng lực hoạt động Xây dựng chế độ báo cáo và thống kê phục vụ đánh giá

+ Tăng cường nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá sao cho phù hợp với thực tiễn hoạt động nghiên cứu ở Việt Nam và thông lệ quốc tế; Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá đảm bảo hài hoà yêu cầu về thành tựu khoa học và khả năng đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội

+ Xây dựng lộ trình triển khai đánh giá hợp lý, dần dần mở rộng phạm vi đối tượng đánh giá (đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ từng phần đến toàn diện, từ đánh giá 1 chương trình / nhóm tổ chức đến đánh giá hệ thống chương trình /các nhóm tổ chức khác nhau)

+ Chú trọng xây dựng nguồn lực và phát triển hệ thống đánh giá: xây dựng các

cơ sở dữ liệu thông kê, quỹ chuyên gía, hợp tác quốc tế, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến nghiệp vụ, xây dựng đội ngũ đánh giá chuyên nghiệp và hình thành mạng lưới đánh giá

Trang 39

3.4.2 Đề xuất các chính sách, quy định thích hợp để phát triển mạng lưới đánh giá

- Nhanh chóng ban hành các quy định về quản lý đánh giá KH&CN cấp Bộ MOST (về đánh giá chương trình, về đánh giá tổ chức);

- Xây dựng các quy định hướng dẫn nghiệp vụ chung về đánh giá để tạo ra các ràng buộc về trách nhiệm và tính độc lập trong đánh giá

- Đưa đánh giá thành công cụ bắt buộc trong quản lý: xây dựng các quy định bắt buộc đánh giá ở tất cả các công đoạn trong chu trình quản lý chương trình: xác định nhu cầu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá sau nghiệm thu Hướng mục đích sử dụng kết quả đánh giá vào việc phục vụ hoàn thiện năng lực quản lý hoạt động KH&CN

- Có chế tài tạo sức ép phải thực hiện đánh giá: quy định về việc sử dụng kết quả đánh giá trong quy trình phân bổ ngân sách và giao nhiệm vụ nghiên cứu

- Chuẩn bị bổ sung nội dung về đánh giá khi sửa Luật KH&CN và các Luật liên quan khác

CHƯƠNG 4 XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG

ĐÁNH GIÁ Ở VIỆT NAM 4.1 Khung pháp lý cho đánh giá KH&CN ở một số nước trên thế giới

4.1.1 Khung pháp lý cho hoạt động đánh giá KH&CN của Mỹ

Luật Kết quả và Hoạt động của Chính phủ

Hoạt động đánh giá KH&CN công của Mỹ được thực hiện trong khuôn khổ luật Kết quả và hoạt động của Chính phủ Qua nhiều thập kỷ, sự lãng phí và kém hiệu quả của các chương trình thuộc Liên bang đã làm suy giảm lòng tin của người dân Mỹ đối với Chính phủ, đồng thời cũng làm giảm khả năng đáp ứng một cách thích đáng của Chính quyền liên bang đối với các nhu cầu thiết yếu công quan trọng Các nhà quản lý Liên bang đã gặp phải những vấn đề hết sức khó khăn trong

nỗ lực nâng cao hiệu quả và hiệu lực của chương trình liên bang do các mục tiêu của chương trình thiếu kết nối và thông tin về thực hiện chương trình không đầy

Trang 40

đủ Quốc hội đã có những thiếu sót nghiêm trọng trong quá trình hoạch định chính sách, ra quyết định chi tiêu và giám sát chương trình do đã không quan tâm đúng mức đến quá trình thực hiện và các kết quả của chương trình

Để giải quyết những vấn đề tồn tại trên, năm 1993, Chính phủ Liên bang

Mỹ đã ban hành Luật Kết quả và Hoạt động của Chính phủ (GPRA) Mục đích của Luật này là nhằm :

- Củng cố lòng tin của người dân Mỹ đối với năng lực của Chính phủ Liên bang thông qua hệ thống tổ chức của các cơ quan Liên bang chịu trách nhiệm về kết quả đạt được của chương trình;

- Đề xướng việc cải cách hoạt động của các chương trình với một loạt dự án thí điểm trong việc xây dựng mục tiêu, đo lường kết quả hoạt động để đạt mục tiêu,

và báo cáo công khai tiến trình thực hiện các chương trình;

- Nâng cao hiệu quả của các chương trình Liên bang và trách nhiệm với cộng đồng bằng cách đẩy mạnh trọng tâm mới vào kết quả, chất lượng dịch vụ và

sự hài lòng của khách hàng;

- Hỗ trợ cho các nhà quản lý Liên bang nâng cao chất lượng cung cấp dịch

vụ, bằng cách yêu cầu họ phải lập kế hoạch để đạt được mục tiêu chương trình và cung cấp cho họ các thông tin về kết quả chương trình cũng như chất lượng dịch vụ;

- Cải cách việc ra quyết định của quốc hội bằng việc cung cấp thông tin khách quan hơn về kết quả đạt được mục tiêu mà luật định đã đề ra, về hiệu quả, hiệu suất và chi tiêu của các chương trình liên bang;

- Cải tiến việc quản lý nội bộ của Chính quyền Liên bang

Nội dung chính của Luật Kết quả và Hoạt động của Chính phủ gồm có:

Kế hoạch chiến lược : GPRA yêu cầu tất cả các tổ chức phải xây dựng kế

hoạch chiến lược hoạt động ít nhất cho giai đoạn 5 năm: sứ mạng; mục tiêu tổng thể dài hạn, mục tiêu cụ thể liên quan đến kết quả và dự định cách thức đạt mục tiêu thông qua các hoạt động và sử dụng nguồn lực Theo GPRA, kế hoạch chiến lược của các tổ chức phải bắt đầu từ việc xác định mục tiêu hàng năm của các chương trình và phương thức hoạt động để đạt các mục tiêu này, đồng phải đề cập

Ngày đăng: 26/05/2014, 14:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Athar Osama (2006) Multi-Attribute Strategy and Performance Aechitecture in R&D. Disertation, RAND Corporation, http://www.rand.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multi-Attribute Strategy and Performance Aechitecture in R&D
Tác giả: Athar Osama
Nhà XB: RAND Corporation
Năm: 2006
4. Chen Zhaoying (2002) The Continuing Evoluation of China’s S&T Program Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Continuing Evoluation of China’s S&T Program
Tác giả: Chen Zhaoying
Năm: 2002
9. Comparative Insights from Comlombia, China and Indonesia – R. Pablo Guerrero (http://siteresources.worldbank.org) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparative Insights from Comlombia, China and Indonesia
Tác giả: R. Pablo Guerrero
10. Decision-Making: Practice in China. http://www.ncste.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Decision-Making: Practice in China
11. Donghoon Oh, Young Jun Kim. Evaluating National R&D Programs in Korea, Korea Institute of Science and Technology Evaluation and Planning, Seoul and, The George Washington University, Washington D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating National R&D Programs in Korea
Tác giả: Donghoon Oh, Young Jun Kim
Nhà XB: Korea Institute of Science and Technology Evaluation and Planning
14. Fan XF Development of S&T Policies and S&T Regulation, Intellectual Property Publishing House, Beijing. (in Chinese) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of S&T Policies and S&T Regulation
15. Fan CL Science and Technology Policy in the Era of Globalzation. Beijing Institute of Technology Press, Beijing. (in Chinese) 16. Government Performance Results Act 0f 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Science and Technology Policy in the Era of Globalzation
19. Luật xúc tiến chuyển hóa thành quả KHCN của Trung Quốc ban hành n¨m 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật xúc tiến chuyển hóa thành quả KHCN của Trung Quốc
Năm: 1996
20. Mu Rongping (2008) Development of Science & Technology Policy in China. http://www.casipm.ac.cn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of Science & Technology Policy in China
Tác giả: Mu Rongping
Năm: 2008
21. National Research Council of Thailand 2002 Sixth National Research and Development Policy (2002 – 2006) Bangkok. http://www.thaigov.go.th 22. National Guidelines for Evaluating Government Funded R&D-Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sixth National Research and Development Policy (2002 – 2006)
Tác giả: National Research Council of Thailand
Nhà XB: Bangkok
Năm: 2002
23. NCSTE, Evaluation report of China High-Tech R&D Program (863 Program), 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation report of China High-Tech R&D Program (863 Program)
Tác giả: NCSTE
Năm: 2000
24. OECD Reviews of Innovation Policy-OECD (http://www.oecd.org) 25. Policy Evaluation in Innovation and Technology: Towards Best Practices Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policy Evaluation in Innovation and Technology: Towards Best Practices
Tác giả: OECD
26. Quyết định của Trung ương Đảng và Chính phủ Trung Quốc về việc “tăng cường đổi mới công nghệ, phát triển KHCN cao, thực hiện ngành nghề hóa” ban hành ngày 20 tháng 8 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tăng cường đổi mới công nghệ, phát triển KHCN cao, thực hiện ngành nghề hóa
27. R&D Policy and Strategy in Thailand – Dr. Junpen Meka-apiruk-Chief of Indicator Section-Office of Policy and Strategy-Office of the Permanent Secretary-MOST-Thailand. Junpen XIV Country Report Sách, tạp chí
Tiêu đề: R&D Policy and Strategy in Thailand
Tác giả: Dr. Junpen Meka-apiruk
Nhà XB: Office of Policy and Strategy-Office of the Permanent Secretary-MOST-Thailand
29. The science and technology system of Malaysia - V.V.Krishna (http://portal.unesco.org/education/en/files/55597/11999609765MALAYSIA.pdf/MALAYSIA.pdf) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The science and technology system of Malaysia
Tác giả: V.V.Krishna
30. The science and technology system of the Kingdom of Thailand - V.V.Krishna (http://portal.unesco.org/education/en/files/55605/) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The science and technology system of the Kingdom of Thailand
Tác giả: V.V.Krishna
34. Xiaoxuan Li (2009) Evaluation Of The Performance Of RIs In CAS. The presentation in the workshop 2/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation Of The Performance Of RIs In CAS
Tác giả: Xiaoxuan Li
Nhà XB: The presentation in the workshop
Năm: 2009
35. Yukun Bao, Jinlong Zhang, Xinnan Li (2002) Evaluating government- sponsored science and technology projects in China Evaluation. Journal of Australasia, Vol. 2 (1): 16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating government- sponsored science and technology projects in China Evaluation
Tác giả: Yukun Bao, Jinlong Zhang, Xinnan Li
Nhà XB: Journal of Australasia
Năm: 2002
1. Quyết định số 555/2007/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Khung theo dâi và đánh giá dựa trên kết quả tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 (2007) Khác
3. Biện pháp tạm thời quản lý đánh giá khoa học công nghệ ban hành theo thông tư số 588 ngày 28/12/2000 của Bộ KHCN Trung Quốc Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Mô hình mạng lưới đánh giá ở Trung Quốc - Nghiên cứu kinh nghiệm của trung quốc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và công nghệ và đề xuất áp dụng cho việt nam
Hình 3.1. Mô hình mạng lưới đánh giá ở Trung Quốc (Trang 25)
Hình 3.2. Tổ chức của Cơ quan đánh giá Trung quốc, mô hình liên kết bên ngoài - Nghiên cứu kinh nghiệm của trung quốc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và công nghệ và đề xuất áp dụng cho việt nam
Hình 3.2. Tổ chức của Cơ quan đánh giá Trung quốc, mô hình liên kết bên ngoài (Trang 28)
Hình 3.3.  Sơ đồ tổ chức của Cơ quan đánh giá Trung quốc, mô hình liên kết trong - Nghiên cứu kinh nghiệm của trung quốc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và công nghệ và đề xuất áp dụng cho việt nam
Hình 3.3. Sơ đồ tổ chức của Cơ quan đánh giá Trung quốc, mô hình liên kết trong (Trang 29)
Hình 3.4. Lộ trình phát triển của Trung tâm Đánh giá Trung Quốc NCSTE - Nghiên cứu kinh nghiệm của trung quốc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và công nghệ và đề xuất áp dụng cho việt nam
Hình 3.4. Lộ trình phát triển của Trung tâm Đánh giá Trung Quốc NCSTE (Trang 29)
Hình 3.5. VISTEC trong tổ chức của Bộ KH&CN - Nghiên cứu kinh nghiệm của trung quốc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và công nghệ và đề xuất áp dụng cho việt nam
Hình 3.5. VISTEC trong tổ chức của Bộ KH&CN (Trang 34)
Hình 3.7. Đề xuất mô hình tổ chức đánh giá của Việt Nam - Nghiên cứu kinh nghiệm của trung quốc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và công nghệ và đề xuất áp dụng cho việt nam
Hình 3.7. Đề xuất mô hình tổ chức đánh giá của Việt Nam (Trang 36)
Hình 3.8. Lộ trình phát triển của VISTEC đến năm 2015 - Nghiên cứu kinh nghiệm của trung quốc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá khoa học và công nghệ và đề xuất áp dụng cho việt nam
Hình 3.8. Lộ trình phát triển của VISTEC đến năm 2015 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w