Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của Đề tài Mục tiêu chính của đề tài nhằm hoàn thiện bộ chỉ số đổi mới và quy trình các bước tiến hành điều tra đổi mới ở doanh nghiệp đã được thử nghiệm t
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Báo cáo Đề tài cấp Bộ
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ SỐ ĐỔI
MỚI VÀ ĐÁNH GIÁ THỬ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA
DOANH NGHIỆP Ở HAI NGÀNH LỰA CHỌN (CHẾ TẠO
CƠ KHÍ VÀ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM)
Chủ nhiệm Đề tài TS Bạch Tân Sinh
Cùng các thành viên:
• ThS Trần Chí Đức
• ThS Nguyễn Minh Hạnh (Thư ký đề tài)
• ThS Nguyễn Lan Anh
• ThS Nguyễn Minh Nga
• ThS Chu Thu Hà
• ThS Vũ Cảnh Toàn
Hà Nội tháng 06 năm 2010
Trang 2Mục lục
Lời cảm ơn 4
Chương 1 : Giới thiệu chung về đề tài 5
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 5
1.2 Những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn đề tài đặt ra nghiên cứu 5
1.3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
1.4 Nội dung nghiên cứu của đề tài 7
1.5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 8
1.6 Kết quả và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9
1.7 Kết cấu trình bày của đề tài 9
Chương 2: Nghiên cứu trong nước và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng chỉ số đổi mới của doanh nghiệp 11
2.1 Nghiên cứu trong nước 11
2.2.Kinh nghiệm quốc tế 12
2.2.1 Các nước đang phát triển 13
2.2.2 Kinh nghiệm của Thái lan 16
2.3 Một số bài học gợi suy cho Việt Nam trong việc xây dựng chỉ số đổi mới và tiến hành điều tra đổi mới 21
2.4 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp 23
2.4.1 Quan niệm về đổi mới 23
2.4.2 Năng lực đổi mới của doanh nghiệp 26
2.4.3 Những Đặc thù về đổi mới của doanh nghiệp ở các nước đang phát triển 29
2.4.4 Những yếu tố cấu thành của hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp 31
Chương 3: Điều tra đổi mới của doanh nghiệp trong ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm ở Việt Nam 34
3.1 Giới thiệu về điều tra đổi mới 34
3.1.1 Mục đích điều tra 34
3.1.2 Đối tượng điều tra 35
3.1.3 Quy mô và phạm vi điều tra 35
3.1.4 Nội dung điều tra 36
3.1.5 Phiếu điều tra 39
3.1.6 Những khó khăn trong quá trình tổ chức điều tra và hạn chế của kết quả điều tra 39
3.2 Tổng quan về ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm 42
3.2.1 Cơ cấu Doanh nghiệp ở Việt Nam 42
3.2.2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam 43
3.2.3 Hiện trạng công nghiệp Việt nam 45
3.2.4 Ngành chế tạo cơ khí 48
3.2.5 Ngành chế biến thực phẩm 50
3.3 Đáng giá thử năng lực đổi mới của một số doanh nghiệp lựa chọn trong ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm 51
3.3.1 Nhu cầu đổi mới 52
3.3.2 Năng lực đổi mới 52
3.3.3 Năng lực tiến hành R&D 59
3.3.4 Yếu tố tác động đến năng lực R&D và đổi mới 62
Chương 4: Hoàn thiện hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp ở Việt Nam 65
4.1 Danh mục một số chỉ số đổi mới của doanh nghiệp có khả năng áp dụng 65
Trang 34.2 Danh mục các khái niệm liên quan trong bộ phiếu điều tra đổi mới 68
4.3 Phương pháp và quy trình thống kê thu thập số liệu về đổi mới của doanh nghiệp 68
4.4 Tổ chức và thực hiện điều tra năng lực đổi mới của doanh nghiệp 70
Tài liệu tham khảo và trích dẫn 71
Phụ lục 74
Phụ lục 1 - PHIẾU ĐIỀU TRA ĐỔI MỚI 2008-2009 74
Phụ lục 2 PHIẾU ĐIỀU TRA ĐỔI MỚI 2011-2012 86
Phụ lục 3 – danh sách các doanh nghiệp điều tra 97
Phụ luc 4 - Phiếu điều tra ở Doanh Nghiệp TN Cơ khí Sông Hậu 99
Trang 4Lời cảm ơn
Nhóm nghiên cứu Đề tài xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Lãnh đạo Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ đã tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho nhóm tiến hành nghiên cứu này Đề tài cũng nhận được sự cộng tác của các nghiên cứu viên thuộc các ban nghiên cứu trong Viện
Chủ nhiệm Đề tài và các thành viên xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của các doanh nghiệp
và công ty đã dành thời gian trả lời phỏng vấn và tổ chức điền phiếu điều tra Đề tài xin đặc biệt cảm ơn Ông Phan Văn Cần, Trung tâm Tin học, Tổng Cục Thống kê đã giúp Đề tài thu thập, nhập và xử lý số liệu, Ông Nguyễn Văn Trúc, Cục Phát triển Doanh nghiệp Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đã giúp đề tài tiếp cận được các doanh nghiêp để điều tra Đề tài xin cảm ơn sự cộng tác của các bạn đồng nghiệp trong Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do tính mới của nghiên cứu chắc chắn công trình nghiên cứu của nhóm không tránh khỏi còn có thiếu sót Nhóm nghiên cứu mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp
Trang 5Chương 1 : Giới thiệu chung về đề tài
1.1 Tớnh cấp thiết của đề tài
Quản lý hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) và hoạch định chính sách KH&CN ở Việt Nam cho đến nay chủ yếu mới chỉ dựa vào một số chỉ số đầu vào (kinh phí đầu tư, nhân lực, ) và chỉ số đầu ra (số bài báo công bố, số pa-tăng đăng ký, ) Những chỉ số này được xây dựng theo Hướng dẫn Frascati, chưa thể hiện được năng lực đổi mới ở ngành và doanh nghiệp
Đổi mới và vai trò của đổi mới đối với năng lực cạnh tranh ngày càng trở thành mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách Nhu cầu đánh giá hoạt động và năng lực đổi mới cũng như hoạch
định chính sách đổi mới đòi hỏi tiến hành xây dựng chỉ số về đổi mới Những chỉ số về đổi mới hiện nay được xây dựng theo Hướng dẫn Oslo 1992 và phiên bản mới nhất năm 2005 (Phụ lục Hướng dẫn Oslo) Tuy nhiên những chỉ số đổi mới này được xây dựng cho các nước phát triển nên
ít phù hợp khi áp dụng cho các nước đang phát triển
ở Việt Nam, xã hội ngày càng đòi hỏi phải đánh giá hiệu quả đầu tư cho hoạt động KH&CN Hiệu quả của đầu tư cho hoạt động KH&CN không chỉ được thể hiện ở các kết quả đầu ra như các bài báo khoa học được công bố, pa-tăng đã đăng ký và được cấp mà còn phải được thể hiện ở năng lực đổi mới từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh ở doanh nghiệp, ngành và quốc gia Việc triển khai đánh giá năng lực đổi mới và hoạch định chính sách đổi mới đòi hỏi xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực đổi mới và về việc hình thành hệ thống chỉ số về KH&CN và đổi mới phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam
1.2 Những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn đề tài đặt ra nghiờn cứu
Lý luận:
Đề tài “Nghiờn cứu hoàn thiện hệ thống chỉ số đổi mới và đỏnh giỏ thử năng lực đổi mới của
doanh nghiệp ở hai ngành lựa chọn (chế tạo cơ khớ và chế biến thực phẩm)” thực hiện trong năm 2009-2010 sẽ tiếp tục làm rừ những vấn đề mới về lý thuyết bao gồm: (i) lý thuyết về đổi mới (bao gồm đổi mới cụng nghệ, tổ chức, thể chế, quản lý); (ii) cỏch tiếp cận trong việc tiến hành
Trang 6điều tra đổi mới núi chung và ỏp dụng trong điều kiện cụ thể của cỏc nước phỏt triển núi riờng trong đú cú Việt Nam; (iii) luận cứ khoa học cho việc hỡnh thành một bộ (hệ thống) chỉ số đổi mới phục vụ cho việc hoạch định chớnh sỏch KH, CN và Đổi mới Cho đến nay ở Việt Nam cú rất
ớt những nghiờn cứu về những vấn đề nờu trờn
Thực tiễn:
Trờn cơ sở của kết quả nghiờn cứu của Đề tài năm 2007, Đề tài này sẽ tiếp tục hoàn thiện bộ chỉ
số đổi mới trong doanh nghiệp ỏp dụng cho hai ngành lựa chọn: chế tạo cơ khớ và chế biến thực phẩm Ngành chế tạo cơ khớ đúng vai trũ chủ chốt trong năng lực chế tạo cơ khớ cho cỏc ngành cụng nghiệp khỏc ở Việt Nam So sỏnh với kinh nghiệm của cỏc nước trờn thế giới đõy là một ngành được tiến hành điều tra về đổi mới Ngành chế biến thực phẩm cú một vai trũ quan trọng bởi nền kinh tế của Việt nam vẫn chủ yếu dựa trờn nền nụng nghiệp và kim ngạch xuất khẩu chủ yếu từ việc xuất khẩu cỏc sản phẩm nụng sản Năng lực chế biến sẽ gúp phần nõng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm nụng sản xột từ gúc độ chất lương và độ an toàn thực phẩm cũng như tớnh thõn thiện về mụi trường của quỏ trỡnh chế biến nụng sản
1.3 Mục tiờu và phạm vi nghiờn cứu của đề tài
Mục tiêu chung của đề tài là cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện hệ thống chỉ
số đổi mới ở Việt Nam phục vụ đánh giá thử năng lực đổi mới của doanh nghiệp trong ngành cơ khớ chế tạo và chế biến thực phẩm ở Việt Nam
Mục tiêu cụ thể bao gồm:
• Xác định tính phù hợp và khả năng áp dụng của bộ chỉ số đổi mới đ−ợc đề xuất trong Đề tài nghiên cứu cấp Bộ 2007;
• Hoàn thiện bộ chỉ số đổi mới;
• Đánh giá thử năng lực đổi mới của một số doanh nghiệp lựa chọn trong 2 ngành cơ khớ chế tạo và chế biến thực phẩm ở Việt Nam
• Đề xuất quy trình thống kê thu thập số liệu về điều tra đổi mới của doanh nghiệp
Trang 7Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của Đề tài
Mục tiêu chính của đề tài nhằm hoàn thiện bộ chỉ số đổi mới và quy trình các bước tiến hành điều tra đổi mới ở doanh nghiệp đã được thử nghiệm tại một doanh nghiêp hoạt động trong lĩnh vưc
công nghệ thông tin trong Đề tài cấp bộ vể chỉ số đổi mới năm 2007 Đề tài không có tham vọng
tiến hành đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp trong hai ngành cơ khí chế tạo và chế biến thực phẩm do hạn hẹp về nguồn kịnh phí và thời gian cũng như số mẫu doanh nghiệp điều
tra Nội dung về đánh giá thử năng lực đổi mới chỉ có tác dụng tạo môt khung phân tích cụ thể về
bộ chỉ số đổi mới và mối liên hệ giữa chỉ số đổi mới và việc ứng dụng các chỉ số đổi mới đó vào việc đáng giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Nói môt cách khác, việc đánh giá thử chủ yếu nhằm hoàn thiện bô chỉ số đổi mới và quy trình điều tra thu thập các thông tin về đổi mới ở doanh nghiệp, chứ không nhằm vào việc đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp Nói tóm lai mục tiêu của đề tài là hoàn thiện bộ chỉ số đổi mới cũng nhu quy trình tiến hành điều tra thu thập các chỉ số đổi mới của doanh nghiệp
1.4 Nội dung nghiờn cứu của đề tài
1.Nghiờn cứu kinh nghiệm xõy dựng hệ thống chỉ số đổi mới và tiến hành điều tra đổi mới ở Thỏi lan, từ đú đề xuất bài học mang tớnh gợi suy cho Việt Nam
2 Lựa chọn, thớch nghi và ỏp dụng hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp trong hai lĩnh vực chế tạo cơ khớ và chế biến thực phẩm, phục vụ cho việc đỏnh giỏ thử năng lực đổi mới của doanh nghiệp
3 Đỏnh giỏ thử năng lực đổi mới của một số doanh nghiệp lựa chọn trong hai lĩnh vực chế tạo cơ khớ và chế biến thực phẩm
4 Hoàn thiện Hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp ở Việt Nam
4.1 Danh mục một số chỉ số đổi mới của doanh nghiệp cú khả năng ỏp dụng
4.2 Danh mục cỏc khỏi niệm liờn quan trong bộ phiếu điều tra đổi mới
4.3 Phương phỏp và quy trỡnh thống kờ thu thập số liệu về đổi mới của doanh nghiệp
Trang 84.4 Tổ chức và thực hiện điều tra năng lực đổi mới của doanh nghiệp
1.5 Cỏch tiếp cận và phương phỏp nghiờn cứu của đề tài
Đề tài sử dụng cỏch tiếp cận theo hệ thống đổi mới, xem xột KH&CN là một trong cỏc yếu tố quan trọng (nhưng khụng phải là tất cả) gúp phần tăng năng lực đổi mới ở cỏc cấp khỏc nhau (quốc gia, ngành, địa phương và doanh nghiệp) Theo cỏch tiếp cận hệ thống đổi mới, Chớnh sỏch
KH, CN và Đổi mới sẽ khụng chỉ đề cập đến vai trũ của cỏc tổ chức NC&TK ở Viện và trường đại học mà tập trung vào vai trũ chủ chốt của doanh nghiệp trong việc nõng cao năng lực đổi mới
và qua đú tăng cường năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, ngành và quốc gia Đổi mới xem xột trong bối cảnh của nước phỏt triển đi sau như Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết tạo ra nhiều đổi mới nhỏ, nhưng thường xuyờn hơn là những đổi mới mang tớnh đột phỏ
Đối với mục tiờu hoàn thiện bộ chỉ số đổi mới và quy trỡnh cỏc buớc tiến hành điều tra đổi mới ở doanh nghiệp, Đề tải sử dụng cỏch tiếp cận kế thừa - bắt đầu bằng việc thiết kế bộ chỉ số đổi mới
ỏp dụng thử cho một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cụng nghệ thụng tin, sau đú hoàn thiện bộ chỉ số mới thụng qua việc ứng dung thử cho đỏnh giỏ 60 doanh nghuệp ở hai ngành cơ khớ chế tạo và chế biển thực phẩm và cuối cựng đề xuất bụ chỉ số đổi mới ỏp dụng rụng rói cho cỏc ngành trong toàn quốc
Đề tài mang tớnh chất của một nghiờn cứu ứng dụng: trờn cơ sở nghiờn cứu kinh nghiệm của Thỏi Lan trong việc xõy dựng chỉ số đổi mới và kết quả nghiờn cứu ban đầu của Đề tài cấp Bộ năm 2007 xõy dựng chỉ số đổi mới ứng dụng thử cho một doanh nghiệp trong ngành cụng nghệ thụng tin, Đề tài đề xuất một bộ chỉ số đổi mới phự hợp và cú tớnh khả thi ỏp dụng cho việc đỏnh giỏ năng lực đổi mới của một số doanh nghiệp lựa chọn trong hai ngành chế tạo cơ khớ và chế biến thực phẩm ở Việt Nam
Phương phỏp nghiờn cứu Đề tài lựa chọn bao gồm:
• Nghiờn cứu tổng quan tài liệu, thụng tin thứ cấp
• Điều tra và nghiờn cứu trường hợp
• Phỏng vấn những tổ chức cỏ nhõn đúng vai trũ quan trọng trong việc hỡnh thành hệ thống chỉ số KH, CN và Đổi mới (Cục Ứng dụng và Phỏt triển Cụng nghệ, Vụ Đỏnh giỏ, Thẩm
Trang 9định và Giám định Công nghệ, Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (nay là Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ, Viện Đánh giá KH&CN, Vụ Kế hoạch - Tài Chính Vụ Tổ chức Cán bộ (Bộ KH&CN), Tổng Cục Thống kê, Cục Phát triển Doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, )
• Tổ chức Hội thảo, Hội nghị bàn tròn trình bày kết quả và thu nhận đóng góp ý kiến của những tổ chức, nhà hoạch định chính sách KH, CN và đổi mới
1.6 Kết quả và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài sẽ cung cấp cơ sở lý luận để đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp góp phần cung cấp bức tranh về năng lực đổi mới nói chung và năng lực đổi mới công nghệ nói riêng trong một
số ngành kinh tế Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách KH,CN và đổi mới sẽ sử dụng những kiến thức, cơ sở lý luận của đề tài trong việc đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp
Đề tài xây dựng năng lực nghiên cứu của Ban Chính sách Nhân lực và Tổ chức KH&CN cũng như của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN về hướng chuyên môn – đánh giá định lượng năng lực đổi mới thông qua hệ chỉ số đổi mới phù hợp và khả thi trong điều kiện ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể chuyển giao cho đơn vị quản lý trong Bộ KH&CN là Cục Ứng dụng và Phát triển Công Nghệ một bộ chỉ số đổi mới, giúp Cục tiến hành đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp trong 2 ngành lựa chọn nói riêng và các ngành kinh tế nói chung
1.7 Kết cấu trình bày của đề tài
Báo cáo của Đề tài bao gồm 4 phần
Chương 1 - Mở đầu cung cấp những thông tin cơ bản liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như: tính cấp thiết của đề tài, những vấn đề lý luận và thưc tiễn đề tài đặt ra nghiên cứu, mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, kết quả và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Chương 2 – Cung cấp tổng quan về hiện trạng nghiên cứu trong nước về chỉ sổ đổi mới và đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp và kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng bộ chỉ số điều tra đổi mới và tiến hành điều tra đổi mới ở doanh nghiệp, trong đó đi sâu phân tích kinh
Trang 10nghiệm của các nước đang phát triển đặc biệt kinh nghiệm của Thái lan, từ đó đề xuất bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng bộ chỉ số đổi mới và tiến hành điều tra đổi mới của doanh nghiệp phù hợp với điều kiện của Việt Nam Phần này cũng cung cấp một số khái niệm cơ bản về đổi mới, năng lực đổi mới của doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra được những nét đặc thù về đổi mới của doanh nghiệp ở những nước đang phát triển, những yếu tố cấu thành của một
hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp
Chương 3 – Trình bày quá trình và kết quả điều tra đổi mới của doanh nghiệp trong 2 ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm bao gồm phần giới thiệu về điều tra (mục đích, đối tượng, quy
mô, phạm vị, nội dung và phiếu điều tra), đồng thời nêu lên những khó khăn trong quá trình tổ chức điều tra và những hạn chế của kết quả điều tra Chương 3 này cũng đưa ra một bức tranh chung về ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm trước khi đi vào phân tích các kết quả thu được từ 60 phiếu điều tra Đánh giá thử năng lực đổi mới của doanh nghiệp đề cập đến 4 nội dung cơ bản đó là: (i) nhu cầu đổi mới;(ii) năng lực đổi mới; (iii) năng lực tiến hành R&D và (iv) yếu tố tác động đến năng lực R&D và đổi mới
Chương 4 – Đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp ở Việt Nam trong đó bao gồm danh mục một số chỉ số đổi mới của doanh nghiệp, danh mục các khái niệm liên quan đến điều tra đổi mới, phương pháp và quy trình thống kế thu thập số liệu về đổi mới của doanh nghiệp và tổ chức thục hiện điều tra năng lực đổi mới của doanh nghiệp
Trang 11Chương 2: Nghiên cứu trong nước và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng chỉ số đổi mới của doanh nghiệp
2.1 Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về chỉ số KH&CN (Bạch Tân Sinh, 1994), (Nguyễn Võ Hưng, 2001) Những nghiên cứu này bước đầu đã có cung cấp cơ sở lý luận cho việc xây dựng hệ thống chỉ số chủ yếu liên quan đến hoạt động NC&TK, tập trung vào các chỉ
số đầu vào (Chi phí Ngân sách cho hoạt động NC&TK, tỷ lệ đầu tư cho hoạt động KH&CN so với tổng chi ngân sách nhà nước và GDP, tổng số cán bộ nghiên cứu hoạt động trong khu vực NC&TK và tổng số cán bộ KH&CN, số lượng các tổ chức NC&TK) và chỉ số đầu ra (số lượng
ấn phẩm công bố trên tạp chí khoa học, số pa-tăng về bí quyết, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký và được cấp) Tuy nhiên những nghiên cứu này chưa đề cập nhiều đến các chỉ số đổi mới, trong đó bao gồm chỉ số đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp
Đề án xây dựng hệ thống thống kê KH&CN cho Việt Nam đã được thực hiện, bước đầu cung cấp kết quả về mặt khoa học bao gồm đề xuất cho việc xây dựng một hệ thống chỉ tiêu thống
kê KH&CN (hệ thống đầy đủ và hệ thống rút gọn) có tính khả thi, có tính tương đồng quốc tế
và đã được tính thử Đề án đã đề xuất chế độ thống kê KH&CN khả thi áp dụng cho Việt Nam theo phương thức báo cáo định kỳ và phương thức điều tra phù hợp với điều kiện Việt Nam
Năm 2003-2004, trong khuôn khổ dự án chỉ số KH&CN ASEAN – Hàn Quốc, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN phối hợp cùng Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (TTKHCNQG) (nay là Cục Thông tin KH&CN Quốc gia) đã tiến hành nghiên cứu áp dụng thử nghiệm một số chỉ số KH&CN cho Việt Nam có so sánh với các nước trong cùng khu vực, nhằm đánh giá năng lực NC&TK quốc gia Nghiên cứu này đã chuẩn bị cơ sở lý luận khá cụ thể theo phương pháp luận của OECD (theo tài liệu hướng dẫn Frascati), nhằm lý giải
cơ sở khoa học của các chỉ số KH&CN áp dụng cho điều tra Kết quả là đã áp dụng hệ thống chỉ số KH&CN gồm 14 nhóm chỉ số cho khu vực NC&TK Chính phủ và Giáo dục đào tạo, 4 nhóm chỉ số cho khu vực NC&TK công nghiệp, (64 chỉ số KH&CN riêng rẽ) và đã áp dụng điều tra thử hoàn thành vào cuối năm 2003 Nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số hạn chế trong công tác thống kê KH&CN của Việt Nam gồm: Một số chỉ tiêu khi áp dụng vào Việt Nam còn
Trang 12khá mới mẻ, do đó chưa hiểu hết được ý nghĩa của chúng; thiếu sự tương hợp giữa hoạt động thống kê KH&CN của Việt Nam và các nước Ngoài ra nghiên cứu này cũng chỉ ra các hạn chế
khác khi áp dụng hệ thống chỉ số KH&CN vào Việt Nam như: Mặc dù cũng đã có nghiên cứu
song cơ sở lý luận của các chỉ số KH&CN vẫn chưa đủ, nhất là để thích ứng với điều kiện của Việt Nam; Điều tra thống kê KH&CN do chưa mang tính pháp lý nên tỷ lệ thu hồi chưa
cao, ảnh hưởng đến kết quả xử lý tổng hợp; Kinh phí dành cho điều tra vẫn hạn hẹp, ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả xử lý; Kỹ năng thống kê KH&CN chưa được chuyên nghiệp hoá (Đặng Duy Thịnh, 2004) Mặc dù vậy, báo cáo kết quả của dự án này cũng khá bổ ích, có ý nghĩa trong phân tích chính sách cũng như rút ra các bài học cho các nghiên cứu sâu hơn sau này
Năm 2004 Bộ KH&CN tiến hành hai đề án đánh giá năng lực công nghệ ở doanh nghiệp tại hai tỉnh Đồng Nai và Quảng Ninh Kết quả đánh giá năng lực công nghệ này sẽ được Đề tài tham khảo và sử dụng như là một bộ phận hợp thành của việc đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp (Đại học Bách Khoa Hà Nôi, 2005)
Gần đây có hai nghiên cứu đề cập trực tiếp đến chỉ số đổi mới nói chung (Bạch Tân Sinh và các cộng sự, 2008)và chỉ số đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp (Phạm Thế Dũng và các cộng sư, 2009) Nghiên cứu của nhóm tác giả do Bạch Tân Sinh chủ trì đã tiến hành xây dựng
dự thảo bộ phiếu điều tra năng lực đổi mới của doanh nghiệp áp dụng thử cho một doanh nghiệp trong ngành công nghệ thông tin ở Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu của Phạm Thế Dũng tiến hành nghiên cứu luận cứ khoa học cho việc xây dựng hệ thống tiêu chí cơ bản về đổi mới công nghệ từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, áp dụng trong 200 doanh nghiệp trong toàn quốc
2.2.Kinh nghiệm quốc tế
Hiện nay trên thế giới có hai tổ chức đứng đầu trong lĩnh vực chỉ số KH, CN và đổi mới (Diễn đàn Kinh tế thế giới – WEF và Viện Quản lý và phát triển - IMD) hàng năm công bố chỉ số về cạnh tranh quốc gia trong đó bao gồm chỉ số về khoa học, công nghệ và đổi mới (KHCNĐM) Những chỉ số này đã thu nhận được sự chú ý của các nhà quản lý cấp cao và công chúng Những chỉ số này trong một chừng mực đã tác động đến những ưu tiên của chính sách khoa học, công nghệ và môi trường và phân bổ nguồn lực cho những ưu tiên đó Tuy nhiên một số
Trang 13quan chức chính phủ và giới khoa học cho rằng những chỉ số này do các nước phát triển xây dựng chưa hẳn đã phù hợp với điều kiện của các nước đang phát triển Ví dụ mức đầu tư kinh phí cho nghiên cứu và triển khai và số đăng ký bảo hộ pa-tăng có thể được xem là những chỉ
số không thích hợp khi xem xét đầu tư xây dựng năng lực học hỏi hoặc năng lực đổi mới trong các nước đang phát triển
Nghiên cứu đầu tiên phải kể đến là nghiên cứu của (Lall, 1992) đánh giá tính phù hợp của các chỉ số do hai tổ chức WEF và IMD xây dựng đối với các nước đang phát triển Theo Lall, những chỉ số như pa-tăng tuy phản ánh mức độ đổi mới nhưng lại bỏ qua những nỗ lực đổi mới nhỏ và thường xuyên là yếu tố quan trọng trong nâng cao năng suất lao động, đặc biệt ở các nền kinh tế của các nước đang phát triển Những đổi mới mang tính cách mạng được thể hiện
ở số pa-tăng không phải là thước đo phù hợp đối với những đổi mới công nghệ trong các nước đang phát triển Theo WEF năng lực sử dụng công nghệ nhập thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài là yếu tố quan trọng đối với các nước nhập công nghệ trong quá trình đuổi kịp của các nước đang phát triển, nhưng theo Lall năng lực đó đã không thể hiện được mối quan hệ giữa nhập công nghệ và năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ của các nước đang phát triển
2.2.1 Các nước đang phát triển
Điều tra đổi mới và Hướng dẫn Oslo
Vào cuối những năm 1980, sau nhiều năm nhận được tư vấn của các nhóm chuyên gia quốc tế, OECD là tổ chức đầu tiên chấp thuận một bộ tài liệu nhằm hoà hợp các phương pháp thu thập các thông tin được chuẩn hoá về các hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Lần xuất bản đầu tiên cuốn Cẩm nang OSLO - bộ tài liệu nổi tiếng được hoàn tất vào năm 1992 mang tên gọi
Khuyến nghị các nguyên tắc chỉ đạo trong thu thập và diễn giải số liệu về đổi mới công nghệ
Bộ câu hỏi được đề xuất trong Cẩm nang đã được sử dụng làm cơ sở cho vòng điều tra lần thứ nhất - Điều tra đổi mới của Cộng đồng (Community Innovation Survey- viết tắt là CIS), được
15 quốc gia thành viên liên minh Châu âu thực hiện trong thời gian 1993-1994 Sau đó các cuộc điều tra tương tự đã được lặp lại 4 năm một lần với số lượng các quốc gia tham dự ngày càng tăng và hiện đang thực hiện điều tra lần thứ tư Cẩm nang OSLO được sửa đổi năm 1997 dựa trên kinh nghiệm thu thập được trong vòng điều tra lần thứ nhất và lần xuất bản thứ ba dựa trên các vòng điều tra tương ứng được soạn thảo gần đây
Trang 14Một vài quốc gia đang phát triển bắt đầu thực hiện các cuộc điều tra về đổi mới bằng việc sử dụng các hướng dẫn trong Cẩm nang OSLO mà trước đó đã được các nước OECD sử dụng là chính Các nước OECD tiến hành điều tra đổi mới theo Hướng dẫn Oslo được xây dựng năm
19921 và sau đó cập nhật năm 2005 nhằm điều tra năng lực đổi mới ở doanh nghiệp và mở rộng khung đánh giá đổi mới ở ba phương thức: tập trung vào vai trò của mối liên kết với các công ty và tổ chức trong quá trình đổi mới, nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của đổi mới trong những ngành công nghiệp ít dựa vào NC&TK như ngành dịch vụ và chế tạo máy dựa trên công nghệ không cần hiện đại, và mở rộng khái niệm đổi mới bao gồm cả đổi mới tổ chức và đổi mới tiếp thị
Cẩm nang OSLO là bộ tài liệu được phổ biến rộng rãi, thậm chí ngay trong cả các quốc gia không thuộc thành viên tổ chức OECD Khoảng giữa những năm 1992 và 2003, ở ít nhất 17 quốc gia không phải là thành viên tổ chức OECD đã thực hiện một cuộc điều tra đổi mới gồm có: Singapore, Thái lan, Đài Loan, Malaysia, Nam Phi và 12 quốc gia Châu Mỹ Latinh, hầu hết các quốc gia này đều xây dựng bộ phiếu điều tra của mình dựa trên Cẩm nang OSLO Trong các quốc gia Châu Mỹ Latinh, Chi lê đã thực hiện cuộc điều tra đổi mới năm 1995 và ngay sau
đó là các quốc gia khác trong vùng Nhiều cuộc tranh luận đã diễn ra về việc làm thế nào để áp dụng Cẩm nang OSLO trong những điều kiện đặc thù của các nền kinh tế Châu Mỹ Latinh, và làm thế nào để thống kê các đặc trưng của nhiều tổ chức không chính thức /tham gia các hoạt động đổi mới,
Điều tra đổi mới của doanh nghiệp ở các nước đang phát triển - Hướng dẫn Bogota, Sáng kiến điều tra đổi mới
Kinh nghiệm của những quốc gia đang phát triển cho thấy rằng những thất bại trong hướng dẫn điều tra nhằm kiểm soát một vài khía cạnh nào đó có vẻ quan trọng hơn của đổi mới trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển đã hạn chế tính hữu ích và sự liên quan của những điều tra này Điều này đã dẫn tới những tranh luận về những nhân tố hợp thành của đổi mới - đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia phát triển và làm thế nào mà chúng được chuyển tải vào trong một bộ câu
Trang 15hỏi điều tra có thể áp dụng cho cả các quốc gia đang phát triển khác, chẳng hạn cho các mục tiêu xếp hạng/đánh giá hay đơn thuần là so sánh quốc tế Liên quan tới vấn đề này hàng loạt câu hỏi chưa được giải đáp về việc làm thế nào để xây dựng các chỉ số đổi mới hữu ích từ các dữ liệu điều tra và làm thế nào để đưa được những thông tin này vào trong quá trình hoạch định chính sách đổi mới sau đó
Trong bối cảnh đó các nước Châu Mỹ la tinh thông qua mạng lưới Mạng lưới Chỉ số KH&CN Châu Mỹ La tinh (Iberoamerican Network of Science and Technology Indicators (RICYT) đã soạn thảo một cuốn cẩm nang dành riêng cho khu vực Châu Mỹ Latinh, sau đó trở nên quen
thuộc với tên gọi Cẩm nang Bogota (RICYT, 2001) sau lần xuất bản đầu tiên vào năm 2001
Ngoại trừ Brazil, Cẩm nang Bogota và bộ câu hỏi điều tra rộng của nó đã trở thành cơ sở/nền tảng của hầu hết các cuộc điều tra về đổi mới thực hiện ở Châu Mỹ Latinh Trong giai đoạn 2001-2005 một số nước Châu Mỹ la tinh đã tiến hành ba vòng điều tra đổi mới
Trong khi đó các nước ở Châu phi cũng xây dựng cho mình một bộ chỉ số điều tra đổi mới cho mình với sự trợ giúp về mặt kỹ thuật của Viện Công nghệ mới thuộc Trường đại học Liên hợp quốc (UNU-INTECH) Hơn 20 quốc gia Châu Phi đã tham gia thực hiện cuộc điều tra này Tài liệu này do nhóm chuyên gia đề xuất nhằm cung cấp một khung khái niệm và các hướng dẫn cho việc hình thành các chỉ số thống kê về khoa học, công nghệ và các hoạt động đổi mới cũng như các chính sách vĩ mô của mỗi quốc gia có liên quan được đặt trong bối cảnh đổi mới hệ thống
Điều tra đổi mới theo hướng dẫn Bogota ở Châu Mỹ la tinh và sáng kiến điều tra đổi mới ở Châu Phi đều thống nhất khuyến nghị các nước đang phát triển cần có cách tiếp cận rộng hơn
về đổi mới trong bối cảnh của các nước đang phát triển để xem xét quá trình doanh nghiệp thực hiện và làm chủ năng lực thiết kế và sản xuất các sản phẩm và dịch vụ mới, những thay đổi nhỏ trong thiết kế sản phẩm và chất lượng, thay đổi phương thức sản xuất, cách thức quản
lý tri thức, áp dụng đổi mới quá trình thông qua mua máy và trang thiết bị hoặc mua li-xăng công nghệ
Các nước ASEAN hiện đang nỗ lực xây dựng một hệ thống chỉ số Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Mục tiêu của Chương trình hành động Hà Nội là thành lập cơ chế tìm kiếm công nghệ và thể chế hoá việc thành lập một hệ thống các chỉ số KH&CN Trong hợp tác với Hàn
Trang 16Quốc, các nước ASEAN đã thực hiện Dự án “Xây dựng các chỉ số cạnh tranh công nghệ” bắt đầu từ 2004 Tuy nhiên Dự án này không chủ đích hoàn thiện hoặc xây dựng các chỉ số hiện có
mà xây dựng các chỉ số từ các số liệu thống kê thu được từ điều tra NC&TK cũng như điều tra
ý kiến chuyên gia xuất bản trong Cuốn Niên Giám Cạnh tranh thế giới của Viện IMD thực hiện
2.2.2 Kinh nghiệm của Thái lan
Một vài nét về bối cảnh thực hiện điều tra đổi mới của Thái Lan
Cuộc điều tra về NC, TK và đổi mới ở Thái Lan 2008-2009 do Cục Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia thực hiện (NSTDA) nhằm mục đích: (i) Hình thành một cơ sở dữ liệu về đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp ở Thái Lan; (ii) Tăng cường sự hiểu biết về mức
độ và bản chất của hoạt động NC&TK và các hoạt động đổi mới khác trong các doanh nghiệp Thái Lan; (iii) Cung cấp một bức tranh chi tiết hơn về môi trường hoạt động KH&CN trong khu vực doanh nghiệp Thái Lan; và (iv) Xác định các biện pháp chính sách mang tính quyết định nhằm hỗ trợ các hoạt động NC&TK và đổi mới
Cuộc điều tra đầu tiên về NC, TK và đổi mới được thực hiện ở Thái Lan vào năm 2000, theo dự tính thì định kỳ cứ 3 năm thì Cục Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia sẽ thực hiện việc điều tra này Các cuộc điều tra tiếp là vào năm 2003, 2006 và 2009 Tuy nhiên sau cuộc điều tra năm 2003, phải đến năm 2007 thì hoạt động điều tra về NC, TK và đổi mới ở Thái Lan mới được tiếp tục
Các doanh nghiệp thuộc 2 lĩnh vực lớn của nền kinh tế quốc dân ở Thái Lan là cơ khí chế tạo và dịch vụ đã được lựa chọn để thực hiện các điều tra về NC, TK và đổi mới Bộ phiếu điều tra về
NC, TK và đổi mới ở Thái Lan gồm 5 phần:
• Phần A: Thông tin chung;
• Phần B: Hoạt động NC&TK;
• Phần C: Các hoạt động đổi mới;
• Phần D: Hợp tác với bên ngoài về NC&TK và đổi mới;
• Phần E: Môi trường NC&TK và đổi mới
Trang 17Đối tượng tham gia là tất cả các doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và dịch vụ có thu nhập bình quân năm lớn hơn 12 triệu bath (theo con số được báo cáo tới Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Bộ thương mại Thái Lan) Đây là một cuộc điều tra với quy mô của quốc gia tuy nhiên tỷ lệ trả lời phiếu điều tra từ các doanh nghiệp chỉ là 42% Một số doanh nghiệp tỏ ra miễn cưỡng trong việc trả lời phiếu điều tra (thậm chí một vài doanh nghiệp còn từ chối tham gia cuộc điều tra này), do vậy NSTDA đã tìm kiếm các cách tiếp cận linh hoạt hơn hay cung cấp các khuyến khích nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tham gia một cách tích cực vào cuộc điều tra
Bộ phiếu điều tra về NC, TK và đổi mới trong lĩnh vực cơ khí chế tạo ở Thái Lan 2009)
(2008-Phần A: thông tin chung về doanh nghiệp gồm 7 câu hỏi về các nội dung sau
- Năm thành lập doanh nghiệp;
- Hình thức sở hữu của công ty;
- Doanh số bán hàng của công ty trong năm 2008-2009;
- Doanh số bán hàng của công ty trong năm 2008-2009 chia theo các thị trường nội địa và xuất khẩu;
- Tỷ lệ % doanh số bán hàng của công ty chia theo các loại mặt hàng (các sản phẩm được doanh nghiệp chế tạo theo thiết kế của công ty mẹ, các sản phẩm được doanh nghiệp chế tạo theo thiết kế của người mua,…);
- Số lượng lao động của doanh nghiệp tính đến tháng 12 năm 2008;
- Tỷ lệ lao động của doanh nghiệp chia theo giới tính;
- Các hoạt động công nghệ mà doanh nghiệp đã thực hiện trong 2 năm qua ở Thái Lan như nhập khẩu công nghệ, thích nghi công nghệ nhập, thiết kế, kiểm nghiệm, …
Trang 18- Ước tính con số chi tiêu cho NC&TK ở doanh nghiệp trong 2008-2009;
- Các nguồn này có từ đâu? Hoàn toàn của doanh nghiệp? sự đóng góp của các doanh nghiệp trong và ngoài nước khác? sự đóng góp của chính phủ, các viện nghiên cứu?
- Kinh phí cho hoạt động NC&TK ở doanh nghiệp được dùng vào hoạt động nào là chủ yếu? nâng cấp các quy trình hiện tại hay phát triển các quy trình mới; nâng cấp sản phẩm hiện có hay phát triển sản phẩm mới, …
- Số lượng nhân lực NC&TK ở doanh nghiệp;
- Lý do mà doanh nghiệp không thực hiện hoạt động NC&TK?
Phần C: các hoạt động đổi mới gồm đổi mới sản phẩm/quy trình và đổi mới tổ chức/thị trường
Trong đó phần liên quan đến nội dung đổi mới sản phẩm/quy trình gồm 7 câu hỏi về các vấn đề sau:
- Các sản phẩm/quy trình này được phát triển như thế nào? chủ yếu do doanh nghiệp tự thực hiện hay có sự hợp tác với doanh nghiệp khác, với các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu, …
- Loại hình đổi mới sản phẩm nào của doanh nghiệp được thực hiện trong thời gian 2009? Đưa ra thị trường sản phẩm mới hoặc sản phẩm đã được cải tiến một cách đáng kể?
Trang 192008 Doanh thu của các sản phẩm/quy trình này trong năm 20082008 2009? sản phẩm mới đối với thị trường? sản phẩm mới đối với doanh nghiệp? sản phẩm được cải tiến một cách đáng kể? sản phẩm được thay đổi nhỏ?
- Mô tả chi tiết đổi mới một sản phẩm/quy trình mà doanh nghiệp đã thực hiện?
- Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới của doanh nghiệp?
- Đánh giá những cản trở khi thực hiện đổi mới ở doanh nghiệp
Phần D: Hợp tác bên ngoài về NC&TK và đổi mới
Phần này gồm 4 câu hỏi về các nội dung sau;
- Đánh giá tầm quan trọng của các nguồn thông tin cho hoạt động NC&TK và đổi mới của doanh nghiệp như từ khách hàng, từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, từ các viện nghiên cứu, trường đại học, …
- Đánh giá mức độ hợp tác với các đối các ngoài doanh nghiệp về hoạt động NC&TK và đổi mới;
- Đánh giá tần suất tham gia hợp tác giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học liên quan đến hoạt động NC&TK và đổi mới của doanh nghiệp;
- Những lý do nào là quan trọng nhất thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành hợp tác với các đối tác khác?
Phần E: Hỗ trợ về phát triển công nghệ
Phần này gồm 5 câu hỏi liên quan đến các vấn đề sau:
- Các chương trình và dịch vụ khuyến khích do chính phủ cung cấp được doanh nghiệp sử dụng;
Trang 20- Các chương trình và dịch vụ khuyến khích do NSTDA cung cấp được doanh nghiệp sử dụng;
- Các khoản vốn mạo hiểm dành cho các hoạt động NC&TK và đổi mới mà doanh nghiệp đã nhận được trong thời gian 2008-2009;
- Nhận xét của doanh nghiệp về các chương trình khuyến khích và các dịch vụ hiện hành do các cơ quan của chính phủ cung cấp; theo doanh nghiệp cần có thêm các hoạt động hỗ trợ nào khác từ phía chính phủ;
- Ý kiến của doanh nghiệp về việc Chính phủ cần làm gì để thúc đẩy hoạt động NC&TK và đổi mới ở Thái Lan
Một số gợi suy cho điều tra đổi mới của doanh nghiệp ở Việt nam từ bài học kinh nghiệm của Thái lan
Từ kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy cuộc điều tra về NC, TK và đổi mới được tiến hành ở quy
mô quốc gia theo định kỳ là 3 năm một lần (đây là một trong những cuộc điều tra mang tính pháp lý), tuy nhiên tỷ lệ trả lời phiếu từ phía doanh nghiệp chỉ đạt 42% vậy đây là một thách thức lớn đối với cuộc điều tra đổi mới ở Việt Nam khi được thực hiện điều tra đổi mới lần đầu, có nhiều khái niệm còn mới đối với bản thân doanh nghiệp
Xác định được một danh sách các doanh nghiệp sẽ tiến hành điều tra đổi mới phù hợp với mục tiêu đặt ra của đề tài đóng một vai trò đặc biệt trong thành công của hoạt động điều tra bởi từ kết quả nghiên cứu của đề tài trong năm 2007 cho thấy “Điều tra đổi mới của doanh nghiệp là một hoạt động quan trọng trong quản lý nhà nước về đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước Cùng với những số liệu thống kê KH&CN hàng năm của quốc gia, những số liệu thu được trong điều tra đổi mới sẽ góp phần hình thành bức tranh về năng lực KH&CN và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế” Tuy nhiên, do hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu và ở mức độ thấp, thậm chí có khá nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đầy đủ cả chiến lược kinh doanh và cũng chưa có hoạch định gì về quản lý chất lượng sản phẩm và dịch vụ nên quá trình điều tra về đổi mới với các doanh nghiệp cần phải tiến hành theo 2 bước:
Trang 21Bước 1: xác định danh sách đối tượng điều tra đổi mới bằng một cuộc điều tra sơ bộ rộng
rãi các doanh nghiệp để chọn ra những doanh nghiệp thực sự có chiến lược kinh doanh và những ý đồ nâng cao năng lực cạnh tranh bằng hoạt động đổi mới
Bước 2: Tiến hành điều tra đổi mới của các doanh nghiệp có quan tâm và thực sự có hoạt
động đổi mới theo phiếu điều tra đã soạn thảo
Phương pháp tiến hành điều tra theo hai bước như vậy sẽ hạn chế một số các các doanh nghiệp tuy thuộc đối tượng điều tra nhưng thực sự không đóng góp được gì cho hoạt động điều tra đồng thời sẽ tiết kiệm được nhiều công sức và chi phí
Bộ phiếu điều tra đổi mới ở Thái lan trong hai ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm được
Đề tài nghiên cứu tiếp thu và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam Lý do Đề tài lựa chọn kinh nghiệm của Thái lan là về trình độ phát triển của Thái lan đặc biệt về khoa hoc, công nghệ và đổi mới ở doanh nghiệp không quá cao hơn so với Việt Nam Ngoài ra Thái lan cũng đã lựa chọn và chắt lọc kinh nghiệm của một số nươc phát triển như Hàn Quốc
2.3 Một số bài học gợi suy cho Việt Nam trong việc xây dựng chỉ số đổi mới và tiến hành điều tra đổi mới
Bài học thứ nhất là quá trình điều tra đổi mới ở các nước đang phát triển đã tạo điều kiện cho việc tổ chức hàng loạt các cuộc tranh luận về những nhân tố cơ bản hợp thành của năng lực đổi mới doanh nghiệp và chuyển tải những nhân tố đó vào một bộ câu hỏi điều tra đổi mới giúp cho việc xếp hạng và so sánh quốc tế theo chuẩn quốc tế Trong quá trình điều tra đổi mới này, hàng loạt câu hỏi chưa được giải đáp như làm thế nào để xây dựng các chỉ số đổi mới hữu ích
từ các dữ liệu điều tra và đưa những thông tin thu được từ cuộc điều tra đổi mới vào trong quá trình hoạch định chính sách đổi mới quốc gia
Bài học thứ hai là chỉ số đổi mới phải thể hiện được bốn yếu tố đặc trưng của hệ thống đổi mới phù hợp với điều kiện phát triển của các nước đang phát triển, đó là:
• Khả năng tìm kiếm các công nghệ ẩn chứa trong phương tiện máy móc phục vụ cho đổi mới sản phẩm và đổi mới quá trình là một bộ phận quan trọng của đổi mới;
Trang 22• Những thay đổi nhỏ, từng bước mang tính tiệm tiến (incremental change) được xem là những hoạt động đổi mới thường hay diễn ra ở các nước đang phát triển, cùng với việc thay đổi các sản phẩm và quá trình;
• Những thay đổi về tổ chức cũng rất quan trọng đối với quá trình đổi mới Bên cạnh những tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, thay đổi về tổ chức cũng góp phần xây dựng năng lực làm chủ công nghệ được tích tụ trong trang thiết bị (loại hình đổi mới thường hay xảy ra) tại doanh nghiệp;
• Đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp có tác động rất lớn về kinh tế, do vậy cần hướng
nỗ lực ưu tiên điều tra đổi mới trong ngành nông nghiệp
Bài học thứ ba là bên cạnh những yếu tố quan trọng đối với điều tra đổi mới (nguồn nhân lực, các mối liên kết, hệ thống đảm bảo chất lượng), điều tra đổi mới cũng cần đề cập đến những hoạt động khác như mua thiết bị phần cứng và chương trình phần mềm, thiết kế công nghiệp, hoạt động thiết kế, xây dựng và điều hành (engineering activities), thuê hoặc cho thuê máy, trang thiết bị, hệ thống phần mềm của doanh nghiệp và năng lực bắt chước kỹ thuật (reverse engineering)
Bài học thứ tư liên quan đến đặc trưng đổi mới ở doanh nghiệp thu được từ cuộc điều tra đổi mới, đó là đa số các doanh nghiệp không tiến hành hoạt động đổi mới một cách chính thức, ít thực hiện các dự án NC&TK, hoạt động đổi mới của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào các công nghệ tích hợp trong trang thiết bị, chưa chú trọng đến tầm quan trọng của chuyển đổi về mặt tổ chức trong quá trình đổi mới và đầu tư hạn chế của doanh nghiệp cho hoạt động đổi mới
Bài học thứ năm là cần có một định nghĩa rộng về hoạt động đổi mới nhằm phản ánh đầy đủ hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Theo cách hiểu đó, hoạt động đổi mới không chỉ bao gồm những cải tiến có tính mới đối với doanh nghiệp đã thực hiện chúng Các doanh nghiệp thực hiện những nỗ lực đổi mới công nghệ cũng sẽ bao gồm những doanh nghiệp mà những nỗ lực của họ về đổi mới dù thất bại hoặc chưa được kết thúc vẫn được tính đến
Bài học thứ sáu về nhóm chỉ số đổi mới doanh nghiệp, bên cạnh hai nhóm chỉ số đổi mới cơ bản là đổi mới sản phẩm và đổi mới quá trình, đổi mới liên quan đến phát triển thị trường và
Trang 23hình thức tổ chức mới cũng như tính lưu chuyển (mobility) về nhân lực KH&CN cũng trở thành vấn đề quan tâm của các nhà hoạch định chính sách Khoa học, Công nghệ và Đổi mới
Trước khi đề cập đến việc xây dựng bộ chỉ số đổi mới của doanh nghiệp, một số khái niệm cơ bản như đổi mới, năng lực đổi mới của doanh nghiệp cần được thống nhất Chương tiếp theo sẽ cung cấp những khái niệm cơ bản đó
2.4 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp
2.4.1 Quan niệm về đổi mới
Hiện nay tồn tại khá nhiều quan niệm và định nghĩa về đổi mới Có người đã tổng kết và thống
kê được có tới hơn 40 định nghĩa về đổi mới - innovation Trong tạp chí “The Innovation Journal- The Public Sector Innovation Journal; <http://www.innovation.cc> ; Innovation Journal > Discussion Papers) đã tiến hành một cuộc trao đổi trên mạng về quan niệm đổi mới –innovation và đã nhận được khá nhiều câu trả lời thú vị Xin dẫn ra đây một câu trả lời của Joerg Gemuenden mà theo chúng tôi là có thể vận dụng được nhiều vào vấn đề nghiên cứu của
đề tài này :
“Đổi mới là một quá trình, gồm nhiều hoạt động, do nhiều tác nhân (actors) của một hoặc nhiều tổ chức tiến hành, trong đó có nhiều sự kết hợp mới các phương tiện hoặc mục đích, chúng là mới đối với một đơn vị sáng tạo hoặc thích nghi, được triển khai hoặc sản xuất hoặc thực thi hoặc chuyển giao tới những đối tác thị trường mới hay cũ”2
Chúng tôi cũng xin trích dẫn 10 định nghĩa chọn lọc tiêu biểu trong hộp sau đây và xin để nguyên văn để tiện cho việc tham khảo:
Mười định nghĩa về Innovation:
1."The three stages in the process of innovation: invention, translation and commercialization."
Bruce D Merrifield 1986 Forces of Change Affecting High Technology Industries A speech by
2 Joerg Gemuenden 2009 Trao đổi xung quang khái niệm về Đổi mới từ Mạng lưới Quản lý Đổi mới Tạp chí Đỏi mới http://www.innovation.cc/discussion-papers/definition.htm#Gemuenden
Trang 24U.S Assistant Secretary of Commerce
2 Invention: the power of inventing or being invented; ingenuity or creativity; something originating in
an experiment Innovation: the act or process of innovating; something newly introduced, new
method, custom, device, etc; change in the way of doing things; renew, alter
Webster's New World Dictionary 1982 Second College Edition
3 Phases of Growth: entrepreneurial; divergent; inventive; creative; exploratory management;
duplication; modification; improvement; commonality/likeness shared leadership; divergence and
innovation; sharing and integrating differentness; partnering/vision
"Innovators can hold a situation in chaos for long periods of time without having to reach a
resolution won't give up have a long-term commitment to their dream innovators introduce a
maximum of tension into the thinking process, unifying concepts that often appear to be opposed,
solving problems which appear impossible."
George Land and Beth Jarman 1992 Breakpoint and Beyond: Mastering the Future Today New York,
NY: Harper/Collins Publishers
4 "This (innovation) life cycle is an S-shaped logistic curve consisting of three distinct phases:
emergence (the development of the product or service, its manufacturing capabilities, and its place
in the market), growth (where the product family pervades the market), and maturity (where the
market is saturated and growth slows)."
William G Howard, Jr and Bruce R Guile 1992 Profiting from Innovation New York, NY: The Free
Press p.12
5 "Innovation cuts across a broad range of activities, institutions and time spans If any part of the
pipeline is broken or constricted, the flow of benefits is slowed This is felt ultimately in lower
productivity and lowered standards of living In this sense, the cost of capital is crucial not only at the
early stages of research and product development but also at the later stages when high-technology
products are installed in production processes, in both manufacturing and service industries, as new
tools to improve worker effectiveness."
James Botkin, Dan Dimancescu and Ray Stata 1983 The Innovators: Rediscovering America's Creative
Energy New York, NY: Harper and Row
6 Matrix of the four types of Innovations:
I Architectural Innovation
II Market Niche Innovation
III Regular Innovation
IV Revolutionary Innovation
William J Abernathy, Kim B Clark, and Alan M Kantrow 1983 Industrial Renaissance New York,
NY: Basic Books
7 "Continuous innovation occurs largely because a few key executives have a broad vision of what their
organizations can accomplish for the world and lead their enterprises toward it They appreciate the
Trang 25role of innovation in achieving their goals and consciously manage their concerns, value systems and
atmospheres to support it."
James Brian Quinn 1986 Innovation and Corporate Strategy: Managed Chaos In Technology in the
Modern Corporation: A Strategic Perspective New York, NY: Pergamon Press p.170
8 Five Stages of the Innovation Process:
Modesto A Maidique 1980 Entrepreneurs, Champions and Technological Innovation Sloan
Management Review (Winter)
9 "The literature on organizational innovation is rich in lessons describes processes that are also
prevalent in the natural universe Innovation is fostered by information gathered from new
connections; from insights gained by journeys into other disciplines or places; from active, collegial
networks and fluid, open boundaries Innovation arises from ongoing circles of exchange, where
information is not just accumulated or stored, but created Knowledge is generated anew from
connections that weren't there before."
Margaret J Wheatley 1992 Leadership and the New Science San Francisco, CA: Berrett-Koehler
Publishers p.113
10 "To explain innovation, we need a new theory of organizational knowledge creation The
cornerstone of our epistemology is the distinction between tacit and explicit knowledge the key to
knowledge creation lies in the mobilization and conversion of tacit knowledge."
Ikujiro Nonaka and Hirotaka Takeuchi 1995 The Knowledge-Creating Company New York, NY:
Oxford University Press p.56
Wikipedia, một tự điển trên mạng, đã đưa ra những định nghĩa kinh điển của khái niệm đổi mới sau đây:
1 Hành động đưa vào một điều gì mới (The American Heritage Dictionary)
2 Việc giới thiệu một cái mới (Merriam-Webster Online)
3 Một ý tưởng, phương pháp hoặc thiết bị mới (Merriam-Webster Online)
4 Sự khai thác thành công những ý tưởng mới (Department of Trade and Industry, UK)
5 Sự thay đổi tạo ra một thứ nguyên (dimension) mới về kết quả hoạt động (performance)
Peter Drucker (Hesselbein, 2002)
6 Quá trình tạo ra những cải tiến, hoàn thiện qua việc áp dụng những cái mới
Trang 26Trong các lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, chính sách của nhà nước, một cái gì mới phải có sự
khác biệt một cách thực chất chứ không phải là sự thay đổi bên ngoài Trong kinh tế học, sự thay đổi phải làm tăng giá trị, giá trị đối với khách hàng, đối với nhà sản xuất Những đổi mới
là nhằm tới việc làm ra một cái gì tốt hơn hẳn, việc xúc tiến nhiều đổi mới sẽ tạo ra tăng trưởng cho toàn bộ nền kinh tế
Thuật ngữ đổi mới liên quan tới những thay đổi cơ bản hoặc gia tăng đối với sản phẩm, quá trình hoặc dịch vụ Mục tiêu, thường không nói ra, của đổi mới là nhằm giải quyết một vấn đề Đổi mới là một đề tài quan trọng trong nghiên cứu kinh tế, kinh doanh, công nghệ, xã hội học
và kỹ thuật Do đó, đổi mới được coi là động lực chủ yếu của nền kinh tế, những nhân tố tạo ra đổi mới được coi là then chốt đối với các nhà hoạch định chính sách phát triển
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này - đưa ra được hệ thống chỉ số để xem xét, đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp- nhóm nghiên cứu đề xuất nên thu hẹp khái niệm này và định nghĩa được coi là thích hợp nhất là định nghĩa của Schumpeter đã được dùng trong Oslo Manual của OECD và Bogota Manual của các nước Châu Mỹ Latin và vùng Caribea Đây cũng là định nghĩa đã được các nước ASEAN thống nhất sử dụng trong những điều tra của mình về năng lực đổi mới của doanh nghiệp
Theo Schumpeter (Schumpeter J, 1934), đổi mới nằm ở trung tâm của tiến bộ kinh tế, nó bao gồm các mặt sau:
• Tạo ra một sản phẩm mới hoặc thay đổi về tính chất sản phẩm hiện có
• Đổi mới quy trình mang tính mới đối với một ngành sản xuất
• Mở ra một thị trường mới
• Phát triển các nguồn cung ứng mới về nguyên liệu thô hoặc các đầu vào khác
• Thay đổi trong tổ chức công nghiệp
2.4.2 Năng lực đổi mới của doanh nghiệp
Với cách tiếp cận trước đây, mô hình đổi mới tại doanh nghiệp được xem xét một cách tuyến tính Quá trình đổi mới công nghệ, sản phẩm và dịch vụ được hình dung theo các bước như
Trang 27sau: Nghiên cứu khoa học và Triển khai thực nghiệm → Thiết kế Thử nghiệm → Quy trình công nghệ mới / Sản phẩm mới → Sản xuất và Đưa ra thị trường
Cách nhìn này đến nay không còn phù hợp, vì trên thực tế, rất nhiều quy trình công nghệ có thể được tạo ra và áp dụng không thông qua nghiên cứu triển khai mà có thể chuyển giao trực tiếp
từ các doanh nghiệp khác Liên kết chủ yếu hiện nay trong quá trình đổi mới của doanh nghiệp
là các liên kết ngang, theo mạng lưới chứ không chỉ bao gồm các liên kết dọc và đóng kín trong nội bộ doanh nghiệp, theo ngành và lĩnh vực hoạt động
Cách tiếp cận mới trong xem xét năng lực đổi mới của doanh nghiệp chính là vận dụng khái niệm hệ thống quốc gia về đổi mới và năng lực đổi mới của doanh nghiệp được hình thành trong hệ thống đó Cách tiếp cận này đã được vận dụng trong hầu hết các quốc gia trên thế giới, các nước công nghiệp, các nước công nghiệp mới (NICs) cho tới các nước đang phát triển Với
sự mở rộng của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đi cùng tiến trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới, cách tiếp cận mới này đang thực sự trở thành một công cụ hữu hiệu nhằm đổi mới chính sách trong quá trình phát triển của toàn cầu và thúc đẩy quá trình đổi mới của các doanh nghiệp
Hệ thống quốc gia về đổi mới (National Innovation Systems - NIS) được định nghĩa là tập hợp các thiết chế (institutions), chúng tự mình hoặc liên kết cùng nhau đóng góp vào việc phát triển
và phổ biến những công nghệ mới, cung cấp khuôn khổ để nhà nước thực thi những chính sách thúc đẩy quá trình đổi mới Như vậy, hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) gồm các thiết chế liên quan với nhau nhằm sáng tạo, tích luỹ, và chuyển giao kiến thức, kỹ năng và những tạo tác (artefacts) xác định nên những công nghệ mới (Metcalfe, 1995)
Với cách tiếp cận hệ thống quốc gia về đổi mới, kết quả đổi mới của một nền kinh tế không chỉ phụ thuộc vào từng thiết chế riêng biệt (doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, trường đại học) hoạt động ra sao mà còn phụ thuộc vào sự tương tác của chúng như những yếu tố của hệ thống sáng tạo và sử dụng kiến thức, và sự tương tác của chúng với các thiết chế xã hội (các giá trị, chuẩn mực, khuôn khổ thể chế, chính sách) (Smith, 1996)
Với cách tiếp cận NIS, các doanh nghiệp (DN) nằm ở trung tâm của hệ thống tương tác bao gồm Chính phủ (CP), Các trường đại học, các Tổ chức nghiên cứu công, như trong sơ đồ sau:
Trang 28Năng lực đổi mới của doanh nghiệp, với tư cách là một phần tử của hệ thống, bao gồm các yếu
tố sau đây:
• Năng lực nghiên cứu và triển khai, thiết kế, thử nghiệm, chế thử: được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm năng lực tự tổ chức hoạt động này của doanh nghiệp (có các bộ phận làm nghiên cứu, các cơ sở thí nghiệm, v.v.) hoặc được xem xét trên năng lực hợp tác với các tổ chức KH&CN bên ngoài, năng lực liên kết, hợp đồng nghiên cứu với các tổ chức KH&CN bên ngoài;
• Năng lực học tập, tiếp thu các công nghệ được chuyển giao thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ Năng lực này được hiểu ở nhiều mức khác nhau từ thấp đến cao: Từ nắm bắt kỹ thuật và công nghệ thông qua việc mua sắm và sử dụng máy móc, trang bị kỹ thuật mới cho tới mua bán licence, tự tạo công nghệ và sản phẩm mới;
• Năng lực đổi mới tổ chức và quản lý, sử dụng các quy trình kiểm soát chất lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm;
• Năng lực đổi mới tiếp thị, mở rộng thị phần, tìm đến những thị trường mới Năng lực liên kết, tìm kiếm những thị trường ngách và hình thành chiến lược liên kết kinh doanh
Đại học
Cơ sở
NC
Doanh nghiệp
CP
Trang 29• Năng lực tìm kiếm nững nguồn nguyên liệu, nhiên liệu mới để giảm giá thành và cải tiến sản phẩm
Năng lực đổi mới của doanh nghiệp cần được khảo sát trong mối tương tác với các thiết chế khác của hệ thống đổi mới quốc gia Năng lực này sẽ được gia tăng cùng với sự gia tăng sức mạnh của hệ thống đổi mới quốc gia nói chung
2.4.3 Những Đặc thù về đổi mới của doanh nghiệp ở các nước đang phát triển
Thuật ngữ “các nước đang phát triển” liên quan tới một tập hợp không thuần nhất các nước, có rất nhiều khác biệt về trình độ phát triển Trong số này bao gồm cả những quốc gia có tầm vóc phát triển khá nhanh và mạnh và có nhiều ảnh hưởng về đổi mới Tại đây, chúng tôi chỉ nói về những đặc điểm mang tính phổ biến của đa số các nước trong khối này, đặc biệt là các đặc thù gần giống với hiện trạng các doanh nghiệp Việt Nam
Theo các tác giả Polculch, Lugones và Peirano (Polculch and Lugones, 2005), đổi mới trong
doanh nghiệp tại các nước đang phát triển có những đặc thù sau:
Trước hết, hầu hết các đổi mới là những thay đổi mang tính tiệm tiến (incremental change),
chẳng hạn trong lần điều tra đầu tiên về đổi mới của Nam Phi, có tới 86% đổi mới trong công nghiệp của Nam Phi có tính chất tiệm tiến Điều này cũng đúng trong bối cảnh Việt Nam, cuộc điều tra khảo sát hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp vốn trong nước theo Dự án SAREC
3 (2001) của Viện NISTPASS cho thấy những đổi mới chủ yếu là những cải tiến nhỏ.(Nguyễn
Võ Hưng và Nguyễn Thanh Hà, 2003)
Những hệ thống đổi mới yếu: Tại các nền kinh tế chậm phát triển có ít hơn các nguồn lực đầu
tư cho đổi mới của cả hệ thống, do đó làm giảm tiềm năng đổi mới của doanh nghiệp Chính phủ đóng vai trò chủ yếu trong đầu tư và thực hiện hoạt động NC&TK, chủ yếu là vì các doanh nghiệp thiếu nguồn lực cho hoạt động NC&TK
Dòng thông tin trong hệ thống đổi mới quốc gia bị phân mảnh và trong một số trường hợp không có sự liên kết giữa các tác nhân khoa học và công nghệ Sự thiếu và yếu trong liên kết là thách thức cho các doanh nghiệp khi phải khắc phục những vấn đề công nghệ, và làm cho các
Trang 30doanh nghiệp hướng tới các giải pháp chủ yếu là nắm bắt công nghệ thông qua mua máy móc thiết bị
Những rào cản trong tích luỹ năng lực của doanh nghiệp là cao và khó khắc phục, đặc biệt là thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, thiếu liên kết trong nước và quốc tế và thiếu những kiến thức hàm chứa trong đường lối tổ chức
Thêm vào đó, khung cảnh đổi mới trong các nước đang phát triển được định hình sâu sắc bởi những nhân tố hệ thống ngoại lai như là: sự không vững chắc của kinh tế vĩ mô; doanh thu doanh nghiệp cao; cơ sở hạ tầng (đôi khi thiếu những dịch vụ cơ bản như là điện hoặc công nghệ thông tin cũ kỹ); sự dễ thay đổi của thể chế; thiếu nhận thức xã hội về đổi mới; tính chất chống đổi mới của doanh nghiệp; thiếu các nhà kinh doanh; có nhiều rào cản khi tạo dựng doanh nghiệp; và sự thiếu những công cụ chính sách công hỗ trợ kinh doanh và đào tạo về quản lý
Do những nét đặc biệt trên, quá trình đổi mới ở các nước đang phát triển có 4 đặc điểm
sau:
(i) Nắm bắt những công nghệ ‘hàm chứa’ (các thiết bị) cho cả đổi mới sản phẩm và
quá trình là thành tố chính của đổi mới
(ii) Những thay đổi nhỏ và tiệm tiến có thể coi là dạng hoạt động đổi mới phổ biến nhất
ở một số nước đang phát triển cùng với những áp dụng cải tiến các sản phẩm hoặc quá trình hiện có
(iii) Sự thay đổi về tổ chức là đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình đổi mới Bên cạnh tác
động trực tiếp của nó đối với kết quả của doanh nghiệp, nó cũng góp phần vào việc chuẩn bị cho doanh nghiệp có thể hấp thụ những công nghệ mới ẩn chứa trong máy móc và những thiết bị khác Tính chất ngoại sinh thường chiếm ưu thế trong các hình mẫu công nghệ, tổ chức và quản lý Thí dụ: các doanh nghiệp ‘công nghệ cao’ thường cùng tồn tại với những doanh nghiệp phi chính thức (nhiều khi chiếm đa số), với cơ cấu tổ chức thường thiếu ‘tính chuyên nghiệp’ Điều này tạo ra khá nhiều khoảng trống cho những thay đổi tổ chức, chúng thường độc lập với những quá trình đổi mới về sản phẩm và quy trình công nghệ
Trang 31(iv) Những đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp có tác động kinh tế lớn do tỷ trọng của
ngành nông nghiệp khá cao trong toàn bộ nền kinh tế nói chung
Những đặc thù này của quá trình đổi mới tại các nước đang phát triển cần được lưu ý trong việc xây dựng hệ thống chỉ số đổi mới Những nhận xét trên có thể lý giải cho sự cần thiết phải xây dựng hệ thống chỉ số đổi mới phù hợp hơn mà không nên áp dụng một cách máy móc những chỉ dẫn của Oslo Manual
2.4.4 Những yếu tố cấu thành của hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp
Với những mục tiêu nhằm điều tra đánh giá hiện trạng, năng lực đổi mới của doanh nghiệp, hệ thống chỉ số đổi mới của doanh nghiệp cần bao gồm những nhóm chỉ số sau đây:
A Nhóm chỉ số thể hiện mục tiêu và nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp
Nhóm chỉ số này thể hiện mục tiêu và nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp Những mục tiêu của đổi mới trong doanh nghiệp thường như sau:
• Nâng cao tính linh hoạt của sản phẩm
• Giảm chi phí sản xuất
• Nâng cao chất lượng sản phẩm
• Cải thiện điều kiện làm việc
• Giảm tác hại môi trường
Doanh nghiệp có thể đánh giá tầm quan trọng của mỗi loại mục tiêu và nhu cầu bức thiết của các mục tiêu đổi mới đó đối với doanh nghiệp mình Việc xử lý số liệu sẽ cho ra các chỉ tiêu thể hiện mục tiêu và nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp theo hệ thống phân loại của nhóm F
Trang 32B Nhóm chỉ số về hiện trạng hoạt động đổi mới của doanh nghiệp
Nhóm chỉ số này cho biết các loại hoạt động đổi mới mà doanh nghiệp đã/ đang tiến hành Các hoạt động có thể là:
• NC&TK,
• Nắm bắt công nghệ qua sử dụng máy móc thiết bị nhập,
• Nắm bắt công nghệ qua các hợp đồng mua bán licence, chuyển giao công nghệ,
• Những đổi mới về quản lý doanh nghiệp,
• Đổi mới về tiếp thị,
• Thiết kế sản phẩm mới
• Mức độ thành công và đánh giá tầm quan trọng của các hoạt động đó
C Nhóm chỉ số về nguồn lực cho đổi mới của doanh nghiệp
Đây là nhóm chỉ số nói lên giá trị các nguồn lực cho đổi mới của doanh nghiệp Các nguồn lực bao gồm:
• Nhân lực (các loại nhân lực chuyên môn hoá theo các lĩnh vực côngnghệ, NC&TK, quản lý, sản xuất) với các chỉ tiêu về trình độ chuyên môn, tuổi đời, thâm niên, năng lực sáng tạo, v.v
• Tài chính cho các hoạt động đổi mới: khối lượng đầu tư; nguồn tài chính; phân bố sử dụng tài chính cho các loại hoạt động đổi mới, v.v
• Thông tin cho đổi mới của doanh nghiệp: nguồn thông tin; các loại nhu cầu thông tin; những hạn chế và ách tắc về thông tin công nghệ và thị trường, trang thiết bị cho thông tin quản lý và công nghệ, v.v
• Trang thiết bị, cơ sở vật chất cho hoạt động đổi mới
D Nhóm chỉ số về kết quả hoạt động đổi mới của doanh nghiệp
Bao gồm các chỉ số nói lên kết quả của hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp, bao gồm:
• Kết quả NC&TK
Trang 33• Số đầu sản phẩm mới và mức độ mới: (i) mới đối với doanh nghiệp; (ii) mới đối với thị trường trong nước; (iii) mới đối với thị trường nước ngoài
• Các quy trình sản xuất mới và cải tiến, cơ khí hoá và tự động hoá sản xuất
• Những đổi mới về tổ chức và quản lý doanh nghiệp: sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý, ISO, v.v
• Kết quả đổi mới tiếp thị: mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu, tìm ra những thị trường ngách
• Tác động của đổi mới trên những khía cạnh: (i) nâng cao lợi nhuận doanh nghiệp; quay vòng vốn; tăng thị phần; tăng tính cạnh tranh; tăng năng suất lao động; tác dụng môi trường; chất lượng dịch vụ; cải thiện quan hệ lao động
E Nhóm chỉ số về môi trường cho hoạt động đổi mới của doanh nghiệp
Bao gồm cá chỉ số nói lên những vấn đề về môi trường pháp lý, quan hệ thuận lợi hay khó khăn đối với các thiết chế công trong hoạt động của doanh nghiệp và đổi mới
• Đánh giá môi trường pháp lý thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động đổi mới
• Đánh giá môi trường kinh tế, xã hội đối với hoạt động đổi mới
• Đánh giá các thiết chế của hệ thống đổi mới quốc gia tạo thuận lợi hay khó khăn cho đổi mới của doanh nghiệp, xét trên những hoạt động phục vụ cho đổi mới như: (i) Thử nghiệm, phân tích, đo đạc; (ii) Tìm kiếm thông tin công nghệ và thị trường, xử lý và phân tích; (iii) Hội thảo và tổ chức các lớp đào tạo; (iv) Các dự án NC&TK; (v) Thiết
kế sản phẩm và quy trình sản xuất; (vi) Tư vấn đổi mới tổ chức; (vii) Hỗ trợ kỹ thuật trong giải quyết các vấn đề công nghệ và môi trường
Các thiết chế này bao gồm: (i) Các trường đại học công và tư; (ii) Các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ; (iii) Các cơ sở đào tạo kỹ thuật; (iv) Các phòng thí nghiệm đo đạc thử nghiệm; (v) Những tổ chức môi giới trung gian; (vi) Các nhà cung cấp; (vii) Các doanh nghiệp liên quan; (viii) Công ty mẹ; (ix) Các doanh nghiệp khác; (x) Các nhà tư vấn
Trang 34Chương 3: Điều tra đổi mới của doanh nghiệp trong ngành chế tạo
cơ khí và chế biến thực phẩm ở Việt Nam
3.1 Giới thiệu về điều tra đổi mới
3.1.1 Mục đích điều tra
Đổi mới nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng đang ngày càng trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng suất, sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ Tuy nhiên, các chính sách đó trên thực tế đã có tác động như thế nào đến hoạt động đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp, hiện vẫn còn là vấn đề cần nghiên cứu Do đó, việc tìm hiểu về tình hình đổi mới nói chung và đổi mới công nghệ nỏi riêng của doanh nghiệp trong thời gian qua cũng như những đánh giá của doanh nghiệp về các cơ chế chính sách hỗ trợ hiện hành là một công việc cần thiết
và có ý nghĩa, phục vụ cho quá trình nghiên cứu, hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt cho việc triển khai Luật Chuyển giao Công nghệ và Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia
Với ý nghĩa đó, điều tra đổi mới của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp ở Việt Nam được thực hiện nhằm mục đích3:
• Xác định thử nghiệm ban đầu năng lực đổi mới ở một số doanh nghiệp lựa chọn trong 2 ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm
• Phân tích các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới nói chung và đổi mới công nghệ nới riêng của doanh nghiệp
3 Như đã trình bày ở phần 1.3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của Đề tài, việc đánh giá thử năng lực đổi mới của doanh nghiệp trong không phải là mục tiêu hàng đầu của Đề tài
Trang 353.1.2 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra: các doanh nghiệp đang hoạt động trong hai ngành chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm Những doanh nghiệp này hoạt động theo Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày
01/07/2006 và các doanh nghiệp được thành lập, chịu sự điều tiết bởi các Luật ban hành trước Luật Doanh nghiệp
3.1.3 Quy mô và phạm vi điều tra
Theo Đề cương Đề tài nghiên cứu đã được phê duyệt, quy mô và phạm vi của chương trình điều tra đổi mới bao gồm 60 doanh nghiệp trong lĩnh vực chế tạo cơ khí và chế biến thực phẩm trên địa bàn Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ, thuộc 2 loại hình sở hữu: DNNN, DNTN Các doanh nghiệp khảo sát được phân bổ theo lĩnh vực hoạt động, địa điểm và loại hình sở hữu như trong Bảng 1 dưới đây Danh sách các doanh nghiệp xem Phụ lục 3
Việc phân bổ các doanh nghiệp được khảo sát theo lĩnh vực hoạt động, loại hình sở hữu và địa bàn nhằm mục đích nghiên cứu xem các yếu tố này có hay không có ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới của doanh nghiệp Vì vậy, việc lựa chọn mẫu phải đảm bảo tính đại diện về lĩnh vực hoạt động, loại hình sở hữu cũng như địa bàn
Trang 36Bảng 1 Số doanh nghiệp chia theo loại hình doanh nghiệp, ngành và địa bàn
Tổng số Doanh nghiệp Doanh nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp Tư nhân
3.1.4 Nội dung điều tra
Điều tra đổi mới của doanh nghiệp sẽ thu thập thông tin theo các nội dung chính như sau:
Phần A: thông tin chung về doanh nghiệp gồm 7 câu hỏi về các nội dung sau
- Năm thành lập doanh nghiệp;
- Hình thức sở hữu của công ty;
- Doanh số bán hàng của công ty trong năm 2008-2009;
Trang 37- Doanh số bán hàng của công ty trong năm 2008-2009 chia theo các thị trường nội địa và xuất khẩu;
- Tỷ lệ % doanh số bán hàng của công ty chia theo các loại mặt hàng (các sản phẩm được doanh nghiệp chế tạo theo thiết kế của công ty mẹ, các sản phẩm được doanh nghiệp chế tạo theo thiết kế của người mua,…);
- Số lượng lao động của doanh nghiệp tính đến tháng 12 năm 2009;
- Tỷ lệ lao động của doanh nghiệp chia theo giới tính;
- Các hoạt động công nghệ mà doanh nghiệp đã thực hiện trong 2 năm qua ở Việt Nam như nhập khẩu công nghệ, thích nghi công nghệ nhập, thiết kế, kiểm nghiệm, …
Phần B: Hoạt động NC&TK
Phần này gồm 13 câu hỏi xung quanh nội dung doanh nghiệp đã thực hiện các hoạt động
NC&TK nào ở Việt Nam trong giai đoạn 2008-2009 Nếu có:
- Mô tả hoạt động NC&TK ở doanh nghiệp cụ thể là gì? Các sản phẩm và các quy trình nào được phát triển;
- Ước tính con số chi tiêu cho NC&TK ở doanh nghiệp trong 2008-2009;
- Các nguồn này có từ đâu? Hoàn toàn của doanh nghiệp? sự đóng góp của các doanh nghiệp trong và ngoài nước khác? sự đóng góp của chính phủ, các viện nghiên cứu?
- Kinh phí cho hoạt động NC&TK ở doanh nghiệp được dùng vào hoạt động nào là chủ yếu? nâng cấp các quy trình hiện tại hay phát triển các quy trình mới; nâng cấp sản phẩm hiện có hay phát triển sản phẩm mới, …
- Số lượng nhân lực NC&TK ở doanh nghiệp;
- Lý do mà doanh nghiệp không thực hiện hoạt động NC&TK?
Trang 38Phần C: Các hoạt động đổi mới gồm đổi mới sản phẩm/quy trình và đổi mới tổ chức/thị trường
Trong đó phần liên quan đến nội dung đổi mới sản phẩm/quy trình gồm 7 câu hỏi về các vấn đề sau:
- Các sản phẩm/quy trình này được phát triển như thế nào? chủ yếu do doanh nghiệp tự thực hiện hay có sự hợp tác với doanh nghiệp khác, với các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu, …
- Loại hình đổi mới sản phẩm nào của doanh nghiệp được thực hiện trong thời gian 2009? Đưa ra thị trường sản phẩm mới hoặc sản phẩm đã được cải tiến một cách đáng kể?
2008 Doanh thu của các sản phẩm/quy trình này trong năm 20082008 2009? sản phẩm mới đối với thị trường? sản phẩm mới đối với doanh nghiệp? sản phẩm được cải tiến một cách đáng kể? sản phẩm được thay đổi nhỏ?
- Mô tả chi tiết đổi mới một sản phẩm/quy trình mà doanh nghiệp đã thực hiện?
- Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động đổi mới của doanh nghiệp?
- Đánh giá những cản trở khi thực hiện đổi mới ở doanh nghiệp
Phần D: Hợp tác bên ngoài về NC&TK và đổi mới
Phần này gồm 4 câu hỏi về các nội dung sau;
- Đánh giá tầm quan trọng của các nguồn thông tin cho hoạt động NC&TK và đổi mới của doanh nghiệp như từ khách hàng, từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước, từ các viện nghiên cứu, trường đại học, …
- Đánh giá mức độ hợp tác với các đối các ngoài doanh nghiệp về hoạt động NC&TK và đổi mới;
- Đánh giá tần suất tham gia hợp tác giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học liên quan đến hoạt động NC&TK và đổi mới của doanh nghiệp;
Trang 39- Những lý do nào là quan trọng nhất thúc đẩy doanh nghiệp tiến hành hợp tác với các đối tác khác?
Phần E: Hỗ trợ về phát triển công nghệ
Phần này gồm 5 câu hỏi liên quan đến các vấn đề sau:
- Các chương trình và dịch vụ khuyến khích do chính phủ cung cấp được doanh nghiệp sử dụng;
- Các chương trình và dịch vụ khuyến khích do Bộ KH&CN cung cấp được doanh nghiệp sử dụng;
- Các khoản vốn mạo hiểm dành cho các hoạt động NC&TK và đổi mới mà doanh nghiệp đã nhận được trong thời gian 2008-2009;
- Nhận xét của doanh nghiệp về các chương trình khuyến khích và các dịch vụ hiện hành do các cơ quan của chính phủ cung cấp; theo doanh nghiệp cần có thêm các hoạt động hỗ trợ nào khác từ phía chính phủ;
- Ý kiến của doanh nghiệp về việc Chính phủ cần làm gì để thúc đẩy hoạt động NC&TK và đổi mới ở Việt Nam
3.1.5 Phiếu điều tra
Trang 40• Khó khăn trong việc thu xếp thời gian phỏng vấn: đề tài tiến hành điều tra vào đúng thời điểm khó khăn của doanh nghiệp, và trùng với thời điểm các doanh nghiệp tổng kết 6 tháng cuối năm, đa số doanh nghiệp bận kiểm toán nên không bố trí được thời gian và phân công cán bộ để tiếp thành viên nhóm nghiên cứu Đối với một số doanh nghiệp từ chối tham gia
vì những lý do trên, đơn vị thực hiện điều tra phải tìm và liên hệ với các doanh nghiệp khác
để thay thế Đối với những doanh nghiệp hứa sẽ tham gia nhưng chưa thu xếp được thời gian và cán bộ, đơn vị thực hiện phải liên hệ lại nhiều lần để hẹn gặp
• Khó khăn trong việc thu thập số liệu trong và sau khi phỏng vấn: Do lãnh đạo doanh nghiệp bận không thể tham gia phỏng vấn, một số doanh nghiệp cử nhân viên (kế toán, thư ký, hoặc cán bộ phòng kỹ thuật) tiếp thành viên nhóm nghiên cứu Trong khi đó, thông tin cần hỏi vừa mới4 và mang tính tổng hợp, do các bộ phận khác nhau trong công ty quản lý (về tài chính, về nhân sự, về công nghệ, vv ), vừa ở tầm khái quát vĩ mô (kế hoạch trong tương lai, đánh giá về văn bản luật, đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng, kiến nghị về chính sách, vv ) nên người được phỏng vấn không đủ thẩm quyền và năng lực để cung cấp Họ thường từ chối không trả lời hoặc đề nghị sẽ cung cấp câu trả lời sau Ngoài ra, một số doanh nghiệp không sẵn sàng cung cấp những thông tin được cho là "nhạy cảm" như doanh thu, đầu tư cho đổi mới công nghệ, chi phí đào tạo, vì những doanh nghiệp đó đang chuẩn bị cổ phần hoá và lên sàn giao dịch chứng khoán
Bên cạnh đó, việc thu thập số liệu sau khi phỏng vấn cũng rất khó khăn và mất nhiều thời gian do người trả lời phòng vấn đi công tác, nghỉ phép, bận các việc khác của công ty nên chưa trả lời được, hoặc né tránh trả lời khi đơn vị thực hiện khảo sát liên hệ qua điện thoại
3.1.6.2 Những hạn chế của kết quả khảo sát
Mặc dù khảo sát được tiến hành thông qua trực tiếp phỏng vấn, nhưng thông tin thu được về tình hình của doanh nghiệp liên quan đến đổi mới nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng lại được phản ánh gián tiếp qua cách nhìn chủ quan của những người trả lời phỏng vấn Ngoài ra, việc
4 Khái niệm về đổi mới hiểu theo nghĩa rộng nhất trong đó bao gồm cả đổi mới công nghệ không chỉ mới đối với các doanh nhân mà với các học giả và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ ở Việt nam