1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012

131 442 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2012
Tác giả Thạc sĩ Trần Anh Tuấn
Trường học Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng
Chuyên ngành Kinh tế phát triển, Công nghệ thông tin
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Đại hội lần thứ X - Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “…Khẩn trương tổ chức thị trường khoa học và công nghệ, thực hiện tốt bảo hộ sở hữu trí tuệ; đẩy mạnh phát triển các dịch vụ về

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Cơ quản chủ trì đề tài: TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG

Tầng 5, 70 Trần Hưng Đạo – Hà Nội

Chủ nhiệm đề tài: Thạc sĩ TRẦN ANH TUẤN

9137

HÀ NỘI, 11/2011

Trang 2

Nhóm nghiên cứu ĐỀ TÀI Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ

Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ đến năm 2020

Chủ nhiệm đề tài:

Thạc sĩ Trần Anh Tuấn

Các thành viên tham gia:

Kỹ sư Nguyễn Văn Bản - Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Thạc sĩ Nguyễn Tùng Cương – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng

Cử nhân Vũ Văn Đàm – Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng

Cử nhân Ngô Xuân Khoa - Học viện Chính sách phát triển

Cử nhân Lại Hà Phương – Quận Đoàn Hà Đông Thạc sĩ Nguyễn Trọng Thanh – Đại học Kinh tế Quốc dân Hà nội

Kỹ sư Trương Văn Thịnh - Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM TRONG, NGOÀI

NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ

1.1 Khái niệm hàng hóa khoa học và công nghệ 2

1.2 Khái niệm thị trường công nghệ 3 1.3 Nhu cầu hàng hóa khoa học và công nghệ 4

1.4 Cung cấp hàng hóa khoa học và công nghệ 5

1.5 Các trở ngại trong mua bán hàng hóa khoa học và công nghệ 7

1.6 Mô hình phát triển thị trường công nghệ thời kỳ công nghiệp hóa 9

II GIỚI THIỆU KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ VÙNG KINH TẾ

TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

I ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1 Vị trí, vai trò và đặc điểm điều kiện phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ 27

1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 29

II ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

2.1 Nhận xét về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 34

2.2 Nhận xét về mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ 35

2.3 Nhận xét về cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ khoa học và công nghệ 35

2.4 Nhận xét về đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ 36

2.5 Nhận xét về nguồn thông tin khoa học và công nghệ 38

2.6 Nhận xét chung về tiềm lực khoa học và công nghệ 39

2.7 Tiềm năng phát triển thị trường công nghệ ở vùng KTTĐ Bắc bộ 40

III ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MUA, BÁN VÀ TẠO RA HÀNG HÓA CÔNG NGHỆ

3.1 Các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ khoa học và công nghệ 41

3.3 Các nguồn vốn và hoạt động khoa học và công nghệ được chú trọng đầu tư 51

3.4 Tình hình thực hiện đề tài, dự án và áp dụng các kết quả nghiên cứu phát triển 51

IV THỰC TRẠNG TỔ CHỨC TRUNG GIAN, MÔI GIỚI

4.1 Các loại hình tổ chức trung gian môi giới 53

4.2 Hình thức tổ chức dịch vụ trung gian, môi giới 54

V THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG THỂ CHẾ

5.1 Tình hình vận dụng văn bản khi mua bán hàng hóa công nghệ 60

5.2 Khó khăn do cơ chế, chính sách khi mua bán hàng hóa công nghệ 61

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ TẠI VÙNG KINH TẾ

TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2020

I DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ 65

II ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

2.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội 70 2.2 Định hướng phát triển khoa học và công nghệ 71

Trang 4

III ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ

IV ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÀNG HÓA CÔNG NGHỆ

4.1 Dự báo phát triển các loại hàng hóa công nghệ 77 4.2 Mục tiêu phát triển các loại hàng hóa công nghệ 78

V ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC TRUNG GIAN MÔI GIỚI

5.1 Dự báo phát triển tổ chức trung gian môi giới 79 5.2 Mục tiêu phát triển tổ chức trung gian môi giới 79 5.3 Định hướng phát triển tổ chức trung gian môi giới 80

CHƯƠNG IV: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHÍNH GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN THỊ

TRƯỜNG CÔNG NGHỆ TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

II GIẢI PHÁP VỀ TÀI CHÍNH VÀ ĐẦU TƯ 87 III GIẢI PHÁP VỀ NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

PHỤ LỤC

Trang 5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG BÁO CÁO

1 APCTT Trung tâm chuyển giao công nghệ châu Á - Thái bình dương

2 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái bình dương

3 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á

4 BCHTW Ban chấp hành Trung ương

5 CGCN Chuyển giao công nghệ

6 CIEM Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

8 CNCNC Công nghiệp công nghệ cao

9 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

10 CSDL Cơ sở dữ liệu

11 DNNN Doanh nghiệp nhà nước

12 DNTN Doanh nghiệp tư nhân

13 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

24 UNCTAD Liên hiệp quốc tế về thương mại và phát triển

25 UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp liên hiệp quốc

26 XHCN Xã hội chủ nghĩa

27 XDCB Xây dựng cơ bản

28 WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1.] “Công nghệ và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam” Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ xuất bản năm 2003

[2.] Dự thảo Đề án "Chương trình Quốc gia phát triển thị trường công

nghệ", Bộ Khoa học và Công nghệ - năm 2010

[3.] "Nghiên cứu cơ chế và chính sách phát triển thị trường công nghệ ở Việt

Nam", Thạc sĩ Nguyễn Võ Hưng - Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và

công nghệ - năm 2003

[4.] “Nghiên cứu cơ sở lý luận về trung tâm giao dịch khoa học và công

nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam”, Thạc sĩ Lê Thị Khánh Vân – Trung tâm

thông tin khoa học và công nghệ Quốc gia - năm 2008

[5.] “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách và giải pháp xây

dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tiến sĩ Hồ Đức Việt - Ủy ban Khoa học,

công nghệ và môi trường Quốc hội - năm 2007

[6.] Đề tài "Nghiên cứu phát triển hoạt động tư vấn, môi giới chuyển giao

công nghệ ở Việt Nam", Tiến sĩ Hoàng Xuân Long Viện Chiến lược và Chính sách

khoa học và công nghệ - năm 2008

[7.] "Nghiên cứu phân tích hiện trạng hoạt động và đề xuất giải pháp phát

triển mạng lưới tổ chức môi giới chuyển giao công nghệ", Kỹ sư Tạ Việt Dũng -

Cục Ứng dụng công nghệ - năm 2009

[8.] “Phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam”, Viện Nghiên

cứu quản lý kinh tế Trung ương xuất bản năm 2005

[9.] Đề án "Quy hoạch tổng thể phát triển vùng KTTĐ Bắc bộ đến năm

2020", Bộ Kế hoạch và Đầu tư - năm 2009

[10.] "Nghiên cứu xây dựng quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ 3

vùng KTTĐ đến năm 2020", Văn phòng phối hợp phát triển môi trường KH&CN -

năm 2008

[11.] “Thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải

pháp”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hường – Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ

Chí Minh - năm 2006

[12.] Luật Khoa học và Công nghệ, năm 2000

[13.] Luật Sở hữu trí tuệ, năm 2005

[14.] Luật Chuyển giao công nghệ, năm2006

Trang 7

MỞ ĐẦU

Trang 8

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khoa học và công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng đối với mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội xét trên phạm vi toàn cầu, đối với từng quốc gia và mỗi vùng lãnh thổ Nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nhân tố nặng cân nhất xác lập

vị trí cạnh tranh ở mọi cấp độ và là nguồn lực quan trọng hàng đầu tạo nên tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, ở nước ta đóng góp của khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua còn rất hạn chế Nguyên nhân chủ yếu là do sự gắn kết giữa khoa học và công nghệ với hoạt động thực tiễn còn hết sức lỏng lẻo Để khắc phục tình trạng này, một trong những giải pháp có hiệu quả nhất là phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Tại Đại hội lần thứ X - Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “…Khẩn trương

tổ chức thị trường khoa học và công nghệ, thực hiện tốt bảo hộ sở hữu trí tuệ; đẩy mạnh phát triển các dịch vụ về thông tin, chuyển giao công nghệ…,…phát triển thị trường khoa học và công nghệ trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn sản phẩm khoa học và công nghệ (trừ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển) trở thành hàng hóa…”

Hiện nay, thị trường công nghệ ở Việt Nam vẫn còn rất sơ khai, với lượng giao dịch còn nhỏ Tuy nhiên, một số điều kiện tiền đề cho thị trường công nghệ vận hành đã được hình thành Các quy định pháp lý cho hoạt động chuyển giao công nghệ, nhất là chuyển giao từ nước ngoài đã được thiết lập Các quy định về bảo hộ quyền sở hữu cũng được điều chỉnh tương đối phù hợp với những quy định của luật pháp quốc tế Hình thức hợp đồng về trao đổi sản phẩm và dịch vụ khoa học và công nghệ giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học với các tổ chức khác và với doanh nghiệp đã trở nên phổ biến, các quỹ đầu tư mạo hiểm đã hình thành ở Việt Nam

Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ bao gồm 7 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh) có vị trí địa chính trị - kinh tế và tiềm năng mở rộng giao lưu thương mại, văn hóa, ngoại giao với các nước trong vùng và trên thế giới Trong những năm qua hoạt động khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện tốt để tiếp thu và vận dụng có hiệu quả nhiều công nghệ tiên tiến được chuyển giao vào sản xuất ở một số ngành quan trọng: giao thông vận tải, sản xuất công nghiệp, chế biến lương thực,…đã góp phần quan trọng vào quá phát triển kinh tế - xã hội của vùng

Song, những yếu tố để tạo nên một thị trường công nghệ sôi động vẫn chưa hình thành đầy đủ, còn thiếu các cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa và tạo môi trường pháp lý cho sự hình thành và phát triển của thị trường công nghệ,…Do đó

chưa “tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa

học và công nghệ; đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp” và cũng chưa “tạo động lực phát huy mạnh mẽ năng lực nội sinh, giải phóng sức sáng tạo, nâng cao

Trang 9

chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ” như Hội nghị vùng kinh tế

trọng điểm Bắc bộ đã kết luận

Để góp phần giải quyết những bất cập nêu trên, đồng thời tạo thêm cơ sở giúp các nhà hoạch định chính sách của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ sớm đề ra định hướng, chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển thị trường công nghệ

của vùng Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp

phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ đến năm 2020”

được thực hiện theo Quyết định số 41/QĐ-BKHCN ngày 14 tháng 01năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trước thời điểm thực hiện đề tài này, các nghiên cứu về thị trường công nghệ đã được tiến hành ở Việt Nam một cách có hệ thống, bới những nhóm tác giả uyên bác và giàu kinh nghiệm:

* Nghiên cứu của nhóm tác giả Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và

công nghệ được tổng kết trong cuốn sách “Công nghệ và phát triển thị trường công

nghệ ở Việt Nam” xuất bản năm 2003

* Nghiên cứu của nhóm tác giả Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung

ươngđược tổng kết trong cuốn sách “Phát triển thị trường khoa học và công nghệ

ở Việt Nam”, xuất bản năm 2005

* Nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hường – Học viện Chính trị - Hành

chính Quốc gia Hồ Chí Minh trong khuôn khổ đề tài “Thị trường khoa học và công

nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp”, tổng kết năm 2006

* Nghiên cứu của Tiến sĩ Hồ Đức Việt - Ủy ban Khoa học, công nghệ và

môi trường Quốc hội trong khuôn khổ đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu

luận cứ khoa học cho các chính sách và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tổng kết tháng 7 năm 2007

* Nghiên cứu của Thạc sĩ Lê Thị Khánh Vân – Trung tâm thông tin khoa

học và công nghệ Quốc gia trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận về

trung tâm giao dịch khoa học và công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam”, tổng

kết tháng 3 năm 2008

Nhìn chung, các công trình đã công bố đã nghiên cứu một cách có hệ thống

từ cơ sở lý luận, thực trạng đến đề xuất các giải pháp phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam

Đề tài đã kế thừa một cách triệt để, có chọn lọc các tinh hoa của các nghiên cứu này, đồng thời bổ sung những nội dung mới nhằm cụ thể hóa các vấn đề để kiến nghị những giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề xuất được các giải pháp nhằm góp phần phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

3 Phương pháp nghiên cứu và tổ chức thực hiện:

Do khối lượng công việc trong mỗi nội dung không ít; đặc điểm và tính chất cũng khá riêng biệt, nên đề tài tổ chức thực hiện thành các chuyên đề khác nhau Các chuyên đề đã lựa chọn phương pháp thích hợp để tiếp cận và giải quyết vấn đề cho phù hợp với thực tiễn Cách giải quyết của mỗi chuyên đề có khác nhau, nhưng phương pháp nghiên cứu đều theo định hướng của đề tài là:

- Thu thập, tổng hợp thông tin, kết quả các đề tài nghiên cứu trong và người nước từ các nguồn hiện có (lưu trữ và Internet,…), phân tích, đánh giá, rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết

- Nghiên cứu, thẩm định, phân tích số liệu đã thu thập khi khảo sát thực tiễn; so sánh giữa thực tiễn và văn bản hiện hành, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp

- Hội thảo lấy ý kiến chuyên gia để hoàn thiện đề xuất giải pháp

4 Kết cấu của Báo cáo tổng kết đề tài:

Báo cáo tổng kết đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề cơ sở lý luận và kinh nghiệm trong, ngoài nước về thị trường công nghệ

Chương 2 Đánh giá thực trạng thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Chương 3 Đề xuất một số giải pháp chính góp phần phát triển thị trường công nghệ tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Các khuyến nghị

Hy vọng nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và những ai quan tâm đến phát triển thị trường công nghệ ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Đây là một chủ đề rất mới mẻ và phức tạp, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng sau nhiều nỗ lực chúng tôi vẫn không thể vượt qua những hạn chế, những thiếu sót trong kết quả nghiên cứu này Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến phê bình, góp ý từ phía độc giả với sự trân trọng và biết ơn

Nhóm nghiên cứu TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG

Trang 11

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM TRONG, NGOÀI NƯỚC

VỀ PHÁT TRIỂNTHỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ

Trang 12

I – MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ

Hình thành và phát triển thị trường công nghệ là một trong những nhiệm vụ

đã được Đảng và Nhà nước ta đề cập trong các văn kiện quan trọng gần đây như: Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa VIII trình Đại hội IX của Đảng, Báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta giai đoạn 2001 – 2010 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001); Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000); Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu BCHTW Đảng khóa IX (năm 2002) Tuy nhiên cho tới nay, khái niệm và những vấn đề lý luận chung về loại thị trường này vẫn chưa được làm rõ, do vậy dẫn đến gặp khó khăn trong quá trình triển khai trong thực tiễn Vì vậy dưới đây nhóm nghiên cứu xin đề cập tới một số vấn đề lý luận

cơ bản về thị trường công nghệ trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu trong

và ngoài nước về chủ đề này

1.1 Khái niệm hàng hóa KH&CN

Hoạt động KH&CN sản sinh ra nhiều loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau Sản phẩm của hoạt động KH&CN là kết quả của hoạt động này, chẳng hạn như: phầm mềm tin học, mẫu máy làm kem tự động, sáng chế về thuốc ho từ thảo dược,

bí quyết dệt lụa Dịch vụ của hoạt động KH&CN là việc thực hiện những hoạt động KH&CN theo đặt hàng, chẳng hạn làm nghiên cứu và phát triển, thiết kế công nghiệp, bảo trì máy móc thiết bị, cung cấp thông tin KH&CN,…Từ đấy có thể thấy rằng, hàng hóa KH&CN bao gồm các sản phẩm và dịch vụ của hoạt động KH&CN, cụ thể như sau:

1 Bản quyền sở hữu, quyền sử dụng những đối tượng sở hữu công nghiệp

có nội dung công nghệ như: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng mới, thiết kế bố trí mạch tích hợp, được phép chuyển giao và đang trong trong thời hạn được pháp luật Việt Nam bảo hộ

2 Bản quyền các tác phẩm KH&CN, bản quyền phần mềm đang trong thời hạn pháp luật Việt Nam bảo hộ

3 Bí quyết công nghệ, kiến thức dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, tài liệu thiết kế sơ bộ và thiết kế kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, phầm mềm máy tính là một bộ phận hợp thành của quy trình công nghệ, các giải pháp hợp lý hóa sản xuất

4 Nguyên mẫu (proptotype) sản phẩm, máy móc chứa đựng thiết kế, các thông số kỹ thuật, công nghệ cho phép chế tạo hàng loạt sản phẩm, máy móc đó

5 Dịch vụ kỹ thuật, bao gồm: tư vấn kỹ thuật; tư vấn thiết kế nhà máy; tư vấn lựa chọn, mua sắm công nghệ; tư vấn quản lý công nghệ; tư vấn thiết kế sản phẩm, thiết kế quy trình công nghệ; hướng dẫn lắp đặt, vận hành thử dây chuyền

Trang 13

thiết bị, hướng dẫn thực hiện các quy trình công nghệ tiêu chuẩn; thử nghiệm, kiểm nghiệm các thông số kỹ thuật hoặc công năng của mẫu sản phẩm; đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của công nhân, cán bộ

kỹ thuật và cán bộ quản lý

6 Dịch vụ nghiên cứu và phát triển theo đặt hàng

1.2 Khái niệm về thị trường công nghệ

Trong nghiên cứu này thị trường công nghệ được hiểu bao gồm những hoạt

động mua bán các hàng hóa KH&CN, những thể chế (quy tắc, cơ chế vận hành) và các tổ chức đảm bảo cho việc mua - bán được thực hiện thuận lợi trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia thị trường Phát triển thị trường công nghệ tức là thúc đẩy

hoạt động mua – bán, phát triển nhu cầu, mở rộng nguồn và chất lượng cung cấp

và xây dựng những thể chế hỗ trợ, những tổ chức xúc tiến, nhằm làm tăng số lượng, chất lượng và sự đa dạng của hoạt động mua bán

Giống như các loại thị trường khác, thị trường công nghệ bao gồm các thành tố cơ bản như:

1 Hàng hóa mua bán (tài sản trí tuệ);

2 Chủ thể tham gia thị trường, bao gồm: người bán (bên cung), người mua (bên cầu), mạng lưới dịch vụ môi giới, hỗ trợ mua bán công nghệ và các tổ chức xúc tiến thị trường;

3 Cơ chế, luật lệ, quy tắc vận hành và các tổ chức xúc tiến thị trường

Thế mạnh của thị trường nói chung, thị trường hàng hóa KH&CN nói riêng, chỉ có thể phát huy khi thị trường vận hành bình thường, tức là khi thể chế của nó đảm bảo: cung, cầu phát triển bình thường; quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán được xác định rõ ràng; chi phí giao dịch thấp; thị trường có tính cạnh tranh; số lượng giao dịch đủ lớn; không gây ra những tác động xã hội tiêu cực

Khác với những hàng hóa thông thường, đa số hàng hóa KH&CN mang tính tri thức, việc người này sử dụng không làm mất đi khả năng sử dụng của người khác

và chính điều này khiến hàng hóa KH&CN mang tính chất điển hình của một loại hàng hóa công (một hàng hóa có thể bán, chuyển giao được nhiều lần) Do vậy việc, việc mua bán chính thức cần đến những thể chế đặc biệt như pháp luật về sở hữu trí tuệ Ngoài ra, hàng hóa KH&CN còn chứa đựng nhiều yếu tố vô hình, việc mua bán thường phát sinh nhiều ràng buộc về quyền sở hữu, quyền khai thác giữa các bên liên quan, luôn có bất bình đẳng thông tin giữa người mua và người bán về chất lượng và giá trị công nghệ Nói tóm lại, chi phí giao dịch trong các thương vụ về hàng hóa KH&CN thường cao, khiến thị trường có thể bị thu hẹp hoặc đóng băng

Trang 14

1.3 Nhu cầu hàng hóa KH&CN

Hàng hóa KH&CN được dùng như một đầu vào cần thiết của một hoạt động khác như sản xuất - kinh doanh, dịch vụ y tế, ngân hàng, quản lý nhà nước,…Nhu cầu đối với từng loại hàng hóa KH&CN rất khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển Nhu cầu đối với hàng hóa KH&CN có thể nhằm phục vụ những mục đích công ích hoặc tư lợi Với mục tiêu can thiệp chính sách, nghiên cứu này sẽ phân tích nhu cầu hàng hóa KH&CN theo loại hình tổ chức trong nền kinh tế Có rất nhiều loại hình tổ chức khác nhau, tuy nhiên có thể tập trung vào một số loại cơ bản, đó là: các thực thể hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận, gọi chung là doanh nghiệp; các cơ

cơ quan Nhà nước hoạt động nhằm mục tiêu công ích; các tổ chức phi chính phủ hoạt động không vì lợi nhuận

- Nhu cầu từ phía doanh nghiệp: Nhu cầu hàng hóa KH&CN của doanh nghiệp rất đa dạng, bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là chiến lược kinh doanh, năng lực công nghệ, tiềm lực tài chính và đặc thù của ngành sản xuất Trong giai đoạn phát triển hiện nay ở nước ta, khi tăng trưởng chủ yếu dựa trên

sự mở rộng về vốn và lao động để cung cấp những sản phẩm đã phổ biến (ít ra là trên thế giới) thì nhu cầu đối với hàng hóa KH&CN của doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp chủ yếu được gắn với mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất Tuy nhiên, cùng với sự phát triển, đã xuất hiện những doanh nghiệp đi xa hơn năng lực sản xuất, bắt đầu xây dựng năng lực thiết kế Nhu cầu thực sự đối với hàng hóa KH&CN cũng phát triển

- Nhu cầu từ phía Nhà nước: Nhà nước cần hàng hóa KH&CN để: (1) vận hành bộ máy nhà nước được hiệu quả; (2) cung cấp ưu đãi hoặc miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng ngân sách hoặc cho toàn bộ cộng đồng; (3) giải quyết những vấn đề công ích phát sinh từ đời sống, có ý nghĩa chiến lược, xã hội quan trọng

Cũng như doanh nghiệp, để đáp ứng nhu cầu đối với hàng hóa KH&CN như trên, Nhà nước có thể chọn giải pháp thị trường, tức là mua sản phẩm KH&CN có sẵn hoặc thuê dịch vụ KH&CN để có kết quả như mong muốn Mặc khác Nhà nước

có thể chọn giải pháp phi thị trường như tự tổ chức để cung cấp hàng hóa KH&CN mong muốn Cho tới nay tư duy tự làm vẫn là chủ yếu nhưng xu thế chuyển sang thị trường cũng đã bắt đầu xuất hiện và đây cũng là yếu tố quan trọng đẻ phát triển thị trường hàng hóa KH&CN

- Nhu cầu từ phía cá nhân: Trong đời sống phong phú và đa dạng, nhu cầu cá nhân đối với tri thức KH&CN cũng rất lớn Cá nhân có thể thỏa mãn nhu cầu này thông qua việc đọc và xem các ấn phẩm KH&CN dưới nhiều hình thức khác nhau

Cá nhân cũng có thể tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức hoặc tìm kiếm tư vấn từ các tổ chức, cá nhân thích hợp Có thể nói thị trường hàng hóa KH&CN phục vụ

Trang 15

nhu cầu cá nhân là rất lớn và ngày càng phát triển Khác với doanh nghiệp và nhà nước, việc đáp ứng nhu cầu tri thức KH&CN của cá nhân thông qua đọc hoặc xem các ấn phẩm KH&CN thường phải thông qua trung gian là các nhà xuất bản Ở đây vấn đề bản quyền tác giả là then chốt để thị trường có thể hoạt động bình thường

1.4 Cung cấp hàng hóa KH&CN

Thị trường hàng hóa KH&CN sẽ không tồn tại nếu không có những nhà cung cấp Nhà cung cấp hàng hóa KH&CN có thể là doanh nghiệp, các tổ chức KH&CN, Nhà nước và các nhà sáng chế độc lập Có nhà cung cấp phát triển hàng hóa KH&CN trước hết phục vụ cho chính họ, việc bán ra thị trường chỉ là "dẫn xuất" của việc bán sản phẩm Có những tổ chức sản xuất hàng hóa KH&CN chủ yếu là để bán (như các tổ chức KH&CN hay các nhà sáng chế độc lập), việc tự tiêu dùng (như

tự tổ chức sản xuất dựa trên công nghệ được phát triển) chỉ là giải pháp bất đắc dĩ

Hàng hóa KH&CN có thể được cung cấp bởi các tổ chức trong nước (bao gồm cả các tổ chức có vốn nước ngoài nhưng là pháp nhân của nước đó như các công ty có vốn đầu tư nước ngoài), cũng có thể bởi các nhà cung cấp nước ngoài Việc cung cấp hàng hóa KH&CN có thể dựa trên nguyên tắc thị trường, cũng có thể

là phi thị trường, tùy từng trường hợp cụ thể

- Cung cấp hàng hóa KH&CN từ nhà nước: Với tính chất hàng hóa công, đầu

tư nhân để tạo ra hàng hóa KH&CN sẽ luôn ở dưới mức tối ưu xã hội Ngay cả khi

hệ thống luật pháp về sở hữu trí tuệ phát huy đầy đủ hiệu lực thì đầu tư của khu vực

tư nhân cho việc tạo ra hàng hóa KH&CN cũng không đạt được mức tối ưu xã hội Hơn nữa, bản thân hệ thống này cũng chứa đựng những hạn chế nội tại, gây lãng phí một phần lợi ích xã hội

Do vậy, can thiệp của Nhà nước được coi là cần thiết Về lý thuyết, Nhà nước có nhiều cách can thiệp khác nhau và thực tế các cách can thiệp này đều đã được sử dụng Mỗi cách dựa trên những nguyên lý khác nhau, có những ưu nhược điểm khác nhau

Loại can thiệp thứa nhất được sử dụng phổ biến ở nước ta cho đến nay là nhà nước trực tiếp đóng vai trò sản xuất hàng hóa KH&CN để cung cấp ưu đãi hoặc miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng Nhà nước làm việc này thông qua hoạt động của những tổ chức KH&CN do Nhà nước thành lập, giao nhiệm vụ cấp kinh phí và trực tiếp quản lý như các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu, trường đại học, thậm chí là doanh nghiệp nhà nước

Loại can thiệp thứ hai là nhà nước gián tiếp tạo ra hàng hóa KH&CN bằng các đặt hàng các tổ chức KH&CN độc lập thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước

Loại can thiệp thứ ba là nhà nước mua lại hàng hóa KH&CN đã được các tổ chức KH&CN độc lập tạo ra, sau đó cung cấp cho các đối tượng thụ hưởng

Trang 16

Loại can thiệp thứ tư là nhà nước hỗ trợ về tài chính, chẳng hạn như cấp kinh phí cho các tổ chức KH&CN độc lập để họ có thêm điều kiện thực hiện những dự án tạo ra hàng hóa KH&CN của họ Ở đây Nhà nước không đặt hàng và thường không sở hữu hàng hóa KH&CN được tạo ra Bản thân việc hàng hóa KH&CN này được tạo ra đã đáng được khuyến khích, cách này này thường được làm thông qua các quỹ

- Cung cấp hàng hóa KH&CN từ tổ chức KH&CN: Các tổ chức KH&CN thường được được coi là bên cung hàng hóa KH&CN, mặc dù đôi khi họ cũng là người mua Sản phẩm chủ yếu của các tổ chức KH&CN, đặc biệt là các tổ chức NC&PT là những công nghệ ở dạng chưa hoàn chỉnh, công nghệ ở quy mô phòng thí nghiệm, là những ý tưởng mới, giải pháp mới, có thể đã được cấp văn bằng bảo hộ sáng chế (pa-tăng), có thể chưa nhưng vẫn có giá trị thương mại tiềm tàng Các nhà sáng chế độc lập cũng có thể coi là một dạng đặc biệt của tổ chức KH&CN và sản phẩm lao động sáng tạo của họ cũng thường là những ý tưởng mới, giải pháp mới

Trong trường hợp thị trường công nghệ chưa phát triển, thì công nghệ ở dạng chưa hoàn chỉnh của các tổ chức NC&PT rất khó bán Nếu không được nhà nước bao cấp hay nhận được hợp đồng thực hiện NC&PT (của nhà nước hay của doanh nghiệp), các tổ chức này sẽ phải chạy theo việc "ăn xổi" hơn như nghiên cứu chế tạo phụ tùng, thiết bị thay thế nhập khẩu, cung ứng dịch vụ thử nghiệm (do có sẵn các thiết bị thí nghiệm) hay các dịch vụ kỹ thuật thông thường khác Thậm chí

họ có thể tổ chức sản xuất ở quy mô nhất định một số sản phẩm thị trường có nhu cầu Việc sản xuất này có thể dựa trên công nghệ do họ phát triển nhưng cũng có thể dựa trên công nghệ du nhập từ bên ngoài

- Cung cấp hàng hóa KH&CN từ doanh nghiệp: Doanh nghiệp vừa thuộc bêm cầu, vừa thuộc bên cung hàng hóa KH&CN (chủ yếu là công nghệ) Do chi phí giao dịch cao, nhiều doanh nghiệp tự phát triển công nghệ để đáp ứng nhu cầu của họ và việc chào bán công nghệ chỉ đơn thuần là bán sản phẩm Thay vì mở rộng quy mô sản xuất để tiêu thụ sản phẩm tại thị trường mới, họ có thể bán công nghệ cho các doanh nghiệp khác để những người này sản xuất và khai thác thị trường

Phát triển công nghệ ở doanh nghiệp được thực hiện ở những quy mô khác nhau Các tập đoàn lớn, các tổng công ty thường có các trung tâm hoặc viện NC%PT riêng, được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ, có nguồn kinh phí hoạt động và thu hút được nhiều nhà khoa học giỏi Hoạt động KH&CN tại doanh nghiệp thường tập trung vào nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, nhằm mục tiêu phát triển những công nghệ duy trì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Do là một bộ phận của doanh nghiệp nên các cơ sở NC&PT này được thừa hưởng nhiều tri thức và kinh nghiệm mà doanh nghiệp tích lũy được trong nhiều năm kinh doanh Hoạt động

Trang 17

NC&PT ở những doanh nghiệp này có thể tạo ra những ý tưởng mới, giải pháp mới, công nghệ mới, một số có thể đăng ký pa-tăng,…Những kết quả này có thể được doanh nghiệp sử dụng cho các mục đích khác nhau Chúng có thể được bán ra bên ngoài hoặc được phát triển tiếp thành đổi mới

Những doanh nghiệp có tiềm lực như mô tả trên đây thường có nhiều loại hàng hóa KH&CN để bán Đó có thể là công nghệ chưa hoàn chỉnh (sáng chế chưa được phát triển thành đổi mới) nhưng quan trọng hơn là ở dạng hoàn chỉnh, đã được khẳng định về kỹ thuật và thương mại Công nghệ hoàn chỉnh cho phép người mua công nghệ tiến hành sản xuất sản phẩm đã được công nhận rộng rãi trên thị trường Bên bán công nghệ thậm chí có thể bao tiêu một phần sản phẩm, hay giúp bên mua tiếp cận các nguồn cung cấp nguyên vật liệu cần thiết Đây là khác biệt của công nghệ doanh nghiệp so với công nghệ của các tổ chức KH&CN chuyên nghiệp

1.5 Các trở ngại trong mua bán hàng hóa KH&CN

- Quyền sở hữu đối với hàng hóa KH&CN: Điểm cơ bản trong quan hệ mua bán là vấn đề sở hữu Quyền đối với tài sản của người bán trước và sau khi giao dịch mua bán xảy ra, cũng như quyền đối với tài sản của người mua sau khi giao dịch xảy ra, phải được quy định rõ ràng và được pháp luật hoặc một thể chế tương đương bảo vệ

Bản chất tri thức của hàng hóa KH&CN khiến vấn đề quyền tài sản đối với hàng hóa KH&CN trở nên phức tạp Ngoài ra tính chất của một hàng hóa công đặt ra vấn đề cân đối lợi ích giữa sở hữu tư nhân đối với hàng hóa KH&CN và việc xã hội được hưởng lợi tối đa nhờ được sử dụng hàng hóa này Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và pháp luật khác đã được liên tục phát triển và mở rộng để giải quyết phần nào những quan hệ tài sản phức tạp trên đây, không chủ trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ mà còn trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia

- Bất bình đẳng về thông tin: Khác với những hàng hóa thông thường, với nhiều nội dung mang bản chất thông tin, phi hiện vật, cơ hội cho người mua và bán công nghệ gặp được nhau (chưa nói đến chuyện thực hiện được giao dịch) không hề

dễ dàng Bất bình đẳng về thông tin giữa người mua và người bán có thể khiến thị trường hàng hóa KH&CN bị đình trệ, mặc dù người bán muốn bán và người mua muốn mua Các nghiên cứu chỉ ra rằng, tình trạng này có thể được giải quyết phần nào nhờ các tổ chức trung gian có uy tín đứng ra bảo lãnh hay cung cấp dịch vụ thẩm định Dịch vụ thẩm định phải được đặt chủ yếu trên cơ sở uy tín của cơ quan cung cấp dịch vụ, chứ không phải tư cách pháp nhân của cơ quan này

- Chi phí giao dịch trong mua bán công nghệ quá cao thì giao dịch có thể không thực hiện được Việc bên nào phải gánh chi phí giao dịch còn tùy thuộc vào đối tượng hay loại công nghệ được mua bán, cũng như những điều kiện khác Mua bán công

Trang 18

nghệ hay chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp cũng thường bị tác động bởi chi phí giao dịch cao Trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, đặc với những công nghệ mới, có tính cạnh tranh cao, để đảm bảo lợi ích của mình, bên bán thường đưa ra hợp đồng với những điều khoản ràng buộc bên mua, như quy định không được bộc lộ công nghệ cho bên thứ ba Quy định là vậy nhưng nếu việc thực thi hợp đồng không nằm trong tầm kiểm soát của bên bán do vậy có thể gây thiệt hại hoặc nếu muốn kiểm soát thì rất tốn kém, cũng là một loại thiệt hại thì bên có công nghệ chưa chắc đã muốn bán và giao dịch có thể không xảy ra Đây là một cản trở cho việc mua công nghệ tiên tiến của các nước phát triển

- Tổ chức trung gian môi giới: là các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đổi mới, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm KH&CN Tùy theo từng loại hình, chức năng, quy mô và chuyên môn hóa khác nhau, các tổ chức này thực hiện cung cấp các loại hình dịch vụ thông tin và môi giới, dịch vụ sở hữu trí tuệ, dịch vụ thương thảo, đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ, dịch vụ đánh giá, định giá công nghệ,…Thực tế, cũng có nhiều tổ chức vừa cung cấp một số dịch vụ chuyên sâu, đồng thời thực hiện chức năng tích hợp hệ thống các loại hình dịch vụ khác với mục tiêu đáp ứng nhu cầu về dịch vụ trọn gói cho khách hàng

Các tổ chức trung gian môi giới được thành lập và hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau Các tổ chức này bao gồm các cơ quan chức năng của nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp tư vấn độc lập, NGOs,…

Giao dịch mua bán chỉ có thể xảy ra khi người mua và người bán có tiếp xúc, trực tiếp (không qua môi giới) hay gián tiếp (qua môi giới), vật lý (giao dịch trực tiếp) hay ảo (qua phương tiện truyền thông) Chợ là một trong những thể chế như vậy, chợ cung cấp hạ tầng, dịch vụ kèm theo để người mua, người bán gặp nhau, thỏa thuận và thực hiện các giao dịch Từ chỗ chỉ là chợ vật lý, có giới hạn về không gian và thời gian, hiện nay còn thêm loại hình chợ ảo cho phép mở rộng giới hạn về không gian và thời gian của chợ

Cùng với chợ là hoạt động môi giới, với nhiều loại hoạt động môi giới và cấp

độ khác nhau nhưng có cùng chức năng là xúc tiến tiếp xúc giữa người bán và người mua Sự khác biệt giữa hoạt động môi giới và chợ là hoạt động môi giới chỉ dựa vào những thông tin mà người môi giới có được Ngoài ra cơ quan môi giới có thể đi xa hơn việc giúp người mua, người bán gặp nhau, để cung cấp những dịch vụ khác như: dàn xếp giá cả, bảo lãnh về tính chân thực của công nghệ chào bán hoặc bảo lãnh tín dụng cần thiết đẻ giao dịch có thể thực hiện được

Trang 19

1.6 Mô hình phát triển thị trường công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa

- Đặc tính hàng hóa KH&CN của từng giai đoạn công nghiệp hóa

Kinh nghiệm của thế giới cho thấy khoảng 10% các đề tài nghiên cứu khoa học tạo ra được công nghệ mới và thông thường phải mất thời gian 15 năm từ khi bắt tay nghiên cứu khoa học cho đến khi tạo ra được sản phẩm mới ứng dụng vào sản xuất (công nghệ đẩy) Đầu tư cho KH&CN như vậy là đầu tư có nhiều rủi ro, song đây là con đường duy nhất để một nước có được công nghệ mới Các nước dẫn đầu về công nghệ phải chấp nhận đầu tư cho nghiên cứu khoa học theo cách này để tạo ra công nghệ mới Đây là cách công nghiệp hóa của các nước phát triển

Âu, Mỹ đã đi qua

Các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc và thậm chí Nhật Bản tiến hành công nghiệp hóa theo cách khác, đó là tiến hành nghiên cứu cải tiến các công nghệ nhập từ nước ngoài và như vậy họ có thể phát triển được năng lực công nghệ rất nhanh và tự phát triển công nghệ của tiêng mình bằng cách kết hợp công nghệ do mình sáng tạo với một phần công nghệ của nước ngoài Điểm ưu việt của cách làm này là tiết kiệm thời gian và tạo ra công nghệ đáp ứng nhanh yêu cầu trong nước Điều này cũng giúp tạo ra sự tự chủ về công nghệ và tích lũy được kinh nghiệm về các bí quyết kỹ thuật Hệ quả là họ có được cả năng lực biết cách chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành công nghệ

UNIDO đã tổng kết quá trình công nghiệp hóa của môt nước và thấy rằng quá trình này phải trải qua 5 giai đoạn và cũng nhận thấy rằng phát triển năng lực công nghệ (tạo ra hàng hóa KH&CN có hàm lượng chất xám cao) gắn liền với quá trình công nghiệp hóa Như vậy, năng lực KH&CN của bất kỳ quốc gia nào cũng phải phát triển có hệ thống theo 5 giai đoạn phát triển công nghiệp hóa như sau:

1 Giai đoạn truyền thống: tại giai đoạn này, khoa học hoặc công nghệ hiện đại đều chưa được áp dụng Trình độ công nghệ đạt mức công nghệ được tạo ra từ kinh nghiệm có trước đó Đây là trình độ của các nước công nghiệp kém phát triển

2 Giai đoạn công nghệ phụ thuộc nước ngoài: ở giai đoạn này, công việc phát triển đơn giản là sử dụng công nghệ nhập để phát triển sản xuất hoặc phổ biến, nhân rộng công nghệ nhập chưa có cải tiến ra ở trong nước Trình động công nghệ này thường tìm thấy ở các nước công nghệ đang công nghiệp hóa, có hiểu biết về kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật công nghiệp và kỹ thuật cơ bản để có thể tự lựa chọn, vận hành được công nghệ thích hợp cho mình

3 Giai đoạn bắt chước công nghệ nước ngoài: giai đoạn này bắt đầu bằng việc kết hợp năng lực công nghệ trong nước với công nghệ nhập để đuổi theo các nước dẫn đầu về công nghệ Các nước ở giai đoạn này có thể gọi là nước bán công nghiệp với một năng lực nhất định về cải tiến công nghệ Năng lực của các kỹ sư

Trang 20

vào thời điểm này là có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm và công nghệ sản xuất, dịch vụ tư vấn và tìm các giải pháp công nghệ Các kỹ sư nắm bắt tốt các nguồn thông tin, vấn đề bản quyền và sáng chế Hoạt động nghiên cứu và triển khai được tiến hành chủ yếu cho việc hỗ trợ bắt chước công nghệ

4 Gian đoạn củng cố, mở rộng phát triển công nghệ: ở trình độ này là các nước đã công nghiệp hóa cũ và mới Để đạt trình độ này ở các nước phải có năng lực nghiên cứu và triển khai tốt và có năng lực không những nhân rộng công nghệ đang hiện có mà cả tạo ra công nghệ mới bằng cách kết hợp giữa công nghệ nhập ngoại với công nghệ của mình hoặc nâng cấp công nghệ, nâng cao hoạt động của công nghệ

5 Giai đoạn dẫn đầu về công nghệ: đây là giai đoạn phát triển cao nhất với năng lực đổi mới công nghệ được hoàn thiện Đó là các nước công nghiệp dẫn đầu có đầy đủ năng lực từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến các nghiên cứu tiên tiến và có cả năng lực sáng tạo ra công nghệ mới và áp dụng hiệu quả vào sản xuất

- Năng lực công nghệ của doanh nghiệp và tổ chức KH&CN trong quá trình công nghiệp hóa

Theo kinh nghiệm của các nước đang công nghiệp hóa, sự phát triển năng lực công nghệ của doanh nghiệp sẽ quyết định đến tính chất hoạt động của tổ chức nghiên cứu phát triển độc lập và các trường đại học, tức là quyết định đến loại hàng hóa sản phẩm KH&CN nào được ưu chuộng trên thị trường vào từng giai đoạn công nghiệp hóa

• Các loại hàng hóa KH&CN của doanh nghiệp trong tiến trình công nghiệp hóa

Việc chuyển giao công nghệ từ tổ chức nghiên cứu phát triển sang sản xuất phải qua nhiều bước như: thiết kế, thiết lập kỹ thuật sản xuất hoặc quy trình công nghệ và cả những hoạt động tiếp thị (marketing) cho sản phẩm mới Các hoạt động này cùng với hoạt động nghiên cứu phát triển có liên quan chặt chẽ với hệ thống sản xuất và thị trường của doanh nghiệp Từ thực tế khách quan như vậy, phần lớn quá trình chuyển giao công nghệ nêu trên cần diễn ra ở trong doanh nghiệp thì công nghệ được tạo ra mới áp dụng ngay được cho doanh nghiệp đó Để triển khai khâu này, doanh nghiệp có thể bố trí một tổ chức thực hiện quá trình chuyển giao công nghệ Điều này có tác dụng làm rõ điểm dừng của các hoạt động nghiên cứu phát triển của các tổ chức nghiên cứu phát triển (ngoài doanh nghiệp) và điểm bắt đầu công việc nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp Các tổ chức nghiên cứu phát triển độc lập sẽ làm nghiên cứu phát triển như được hiểu và sẽ dừng quá trình này trước khi công đoạn chuyển giao bắt đầu hoặc ở giai đoạn sớm hơn Và bắt đầu từ đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự tiến hành một số công đoạn hoàn thiện công nghệ đến trước khi có thể thực sự ứng dụng công nghệ vào sản xuất Nhưng

Trang 21

thường ở các nước đang công nghiệp hóa, doanh nghiệp công nghiệp chỉ tiến hành hoạt động sản xuất và có ít các hoạt động có thể gọi là làm phát triển hoặc nghiên cứu, hơn nữa các doanh nghiệp cũng không có hạ tầng cơ sở dành cho công tác hoàn thiện công nghệ Điều này có thể tồn tại ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa nhưng từ giai đoạn 3 trở đi doanh nghiệp cần phải có lực lượng thực hiện nghiên cứu phát triển để tạo ra có nhu cầu đầu vào cho các nghiên cứu phát triển từ phía bên ngoài Nếu các tổ chức nghiên cứu phát triển chỉ thực hiện các nghiên cứu thuần túy và doanh nghiệp chỉ tiến hành hoạt động sản xuất thuần túy thì việc chuyển giao giữa chúng trở nên rất thấp và hàng hóa cung cầu không trao đổi được với nhau Tầm quan trọng của vấn đề này được ghi nhận theo hai cách tại các nước

đã trải qua công nghiệp hóa:

- Một mặt, hiệu quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu phát triển sẽ bị hạn chế rất nhiều như năng lực công nghệ để hoàn thiện kết quả nghiên cứu phát triển ở trong các ngành công nghiệp không có Nói cách khác cần phải có sự phát triển tương thích về năng lực công nghệ ở cả bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ, chỉ có như thế bên cầu công nghệ mới tiếp thu được công nghệ do bên cung tạo ra

- Mặt khác, nhiều nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bổ sung cho nhau giữa các hoạt động đổi mới bên trong các doanh nghiệp và việc sử dụng các tổ chức nghiên cứu phát triển bên ngoài doanh nghiệp Các doanh nghiệp không có tổ chức nghiên cứu phát triển ở bên trong thì không bao giờ trở thành khách hang của các tổ chức nghiên cứu phát triển và việc giao cho các tổ chức nghiên cứu phát triển nằm ngoài doanh nghiệp làm thay hoạt động nghiên phát triển của doanh nghiệp thì sẽ không bao giờ có được kết quả như mong muốn Chính việc kém triển khai các hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp sẽ hạn chế phát triển các liên kết với các tổ chức nghiên cứu công lập bên ngoài vì rằng vai trò của nghiên cứu bên ngoài chỉ là bổ sung cho nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp, tức là không đóng vai trò thay thế cho nghiên cứu phát triển trong doanh nghiệp Từ đây cũng cho thấy chính sự thiếu hụt cán bộ nghiên cứu trình độ cao trong doanh nghiệp sẽ không tạo được sự giao tiếp với các viện nghiên cứu và do vậy sẽ tồn tại khoảng cách giữa bên doanh nghiệp và bên các tổ chức nghiên cứu

• Phát triển hành hóa KH&CN của doanh nghiệp trong tiến trình công nghiệp hóa

Việc thay đổi căn bản hoạt động nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp và

tổ chức nghiên cứu phát triển có thể triển khai được rất nhanh chóng Trên thực tế Hàn Quốc đã chuyển đổi hoạt động này chỉ trong một thập niên cuối những năm

1980 Xuất phát từ một cấu trúc 80% nghiên cứu phát triển được thực hiện bởi các

tổ chức bên ngoài doanh nghiệp, chỉ có 20% được thực hiện trong doanh nghiệp,

Trang 22

chỉ sau 10 năm tình hình đã ngược lại 80% nghiên cứu phát triển được trong doanh nghiệp, chỉ có 20% được thực hiện bởi các tổ chức bên ngoài doanh nghiệp

Thực hiện cách làm này cần phải tiến hành phối hợp cả hai bên cung và bên cầu Đối với bên cầu có thể thấy việc nâng cao áp lực cạnh tranh mà doanh nghiệp đang gặp phải sẽ thúc ép doanh nghiệp tăng cường các đổi mới kỹ thuật và do vậy phải đầu tư vào năng lực cần thiết để tạo ra các thay đổi đó Mặc dù vậy, doanh nghiệp cũng gặp phải một loạt các vấn đề về chi phí, mạo hiểm khi tiến hành các đầu tư như vậy Một loạt các biện pháp tập trung vào bên cung của quá trình tích lũy công nghệ có thể giúp cho việc giảm thiểu các khó khăn này Một số các giải pháp đã thường được sử dụng như khuyến khích tài chính, hành chính Nhưng tác động của công cụ tài chính và sự khả thi về quản lý hành chính còn là một câu hỏi Một cách tích cực hơn có thể là triển khai nhiều thể loại chương trình để "bẻ ghi" các nguồn lực công ích dành cho nghiên cứu phát triển và hoạt động liên quan về cho các doanh nghiệp hơn là về cho các tổ chức nghiên cứu phát triển công lập Cách tiếp cận này có thể áp dụng cho việc đào tạo nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN, theo đó, các hoạt động đào tạo về công nghệ được tài trợ từ nhà nước sẽ được giao cho các doanh nghiệp tự thực hiện

Một cách tiếp cận khác đó là chuyển tổ chức nghiên cứu phát triển về doanh nghiệp, đó là việc làm cho các tổ chức nghiên cứu phát triển gắn trực tiếp hơn với doanh nghiệp Đây là một chính sách đã được thực hiện ở Trung Quốc vào cuối những năm 1981 Cách tiếp cận này tỏ ra thành công hơn vào những năm 1970 khi Viện Công nghệ điện tử Hàn Quốc đã được bán cho một Cheabol rất lớn có nhu cầu phát triển năng lực nghiên cứu cho riêng mình

• Phát triển hàng hóa KH&CN của tổ chức nghiên cứu phát triển trong tiến

trình công nghiệp hóa

Nhiều tổ chức nghiên cứu phát triển có vai trò rất khiêm tốn trong việc đóng góp cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp ở giai đoạn 2 và 3, nguyên nhân là năng lực của các tổ chức nghiên cứu phát triển này không phù hợp với các yêu cầu

về công nghệ của doanh nghiệp ở giai đoạn này Có thể chia thành hai loại công việc mà các tổ chức nghiên cứu phát triển có thể giúp cho các doanh nghiệp ở giai đoạn công nghiệp hóa 2 và 3 như sau:

- Tìm và phổ biến các công nghệ hiện hữu trong nước nhưng đối với doanh nghiệp khác ở trong nước vẫn là mới

- Phổ biến các công nghệ tốt nhất trong thực tế đang có ở trong nước và hỗ trợ việc ứng dụng, sử dụng chúng

Với hai công việc trên thì một loạt các dịch vụ có thể được cung cấp từ các

tổ chức nghiên cứu phát triển như: tư vấn kỹ thuật, đào tạo, cung cấp thông tin

Trang 23

So với liên kết về phát triển công nghệ mới và đổi mới công nghệ thì hiệu quả hoạt động của việc cung cấp dịch vụ phụ thuộc rất ít vào những gì doanh nghiệp đã tích lũy được về nghiên cứu phát triển và các năng lực công nghệ khác

Có hai vấn đề đặt ra khi phát triển dịch vụ này:

- Thứ nhất, đối với các tổ chức nghiên cứu phát triển mới thành lập, trong nhiều trường hợp, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu doanh nghiệp được xem xét là điều kiện tiên quyết cho hoạt động của các tổ chức KH&CN mới này Do vậy trong quá trình công nghiệp hóa, tổ chức KH&CN phải điều chỉnh năng lực cung cấp các hàng hoá sản phẩm KH&CN cho phù hợp với các loại hàng hóa và sản phẩm KH&CN mà doanh nghiệp yêu cầu

- Thứ hai, các tổ chức KH&CN hiện tại đang có các năng lực công nghệ không phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp thì phải thay đổi quan điểm và phải xác định vị trí của dịch vụ phải là mục tiêu tiên quyết của tổ chức KH&CN, đặc biệt là nguồn lực có kỹ năng, tri thức

• Ươm tạo công nghệ và thành lập doanh nghiệp mới

Đáng lẽ tìm cách chuyển giao kết quả nghiên cứu phát triển vào các doanh nghiệp hoặc cung cấp cho doanh nghiệp những dịch vụ liên quan đến công nghệ, các tổ chức nghiên cứu phát triển có thể tiến hành chuyển giao kết quả nghiên cứu

là các công nghệ mới mà tổ chức nghiên cứu phát triển tạo ra Có hai loại hình tổ chức doanh nghiệp mới được thành lập:

- Thứ nhất, là doanh nghiệp “spin-off” (các doanh nghiệp được thành lập dựa trên kết quả nghiên cứu của tổ chức nghiên cứu phát triển và tách thành doanh nghiệp độc lập) “Spin-off” là việc chuyển một số người cùng với công nghệ mới tạo ra rời khỏi tổ chức nghiên cứu phát triển sang môi trường sản xuất, thị trường Trong bối cảnh này, quá trình chuyển hóa công nghệ được tiếp tục, đó là việc bổ sung them các nguồn lực, kỹ năng kinh doanh và yêu cầu của môi trường sản xuất

và thị trường

- Thứ hai, đó là việc bổ sung các bộ phận sản xuất (gọi là spin-out) cho tổ chức nghiên cứu phát triển và chuyển thành doanh nghiệp Theo đó, tổ chức nghiên cứu phát triển sẽ tìm kiếm, bổ sung các nguồn lực cho hoạt động kỹ thuật, sản xuất, thị trường, quản lý Cùng với việc bổ sung chức năng sản xuất, tổ chức nghiên cứu phát triển vẫn giữ chức năng nghiên cứu phát triển và trở thành đơn vị nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp

Trang 24

II – GIỚI THIỆU KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.1 Kinh nghiệm ngoài nước

2.1.1 Kinh nghiệm phát triển thị trường công nghệ của Trung Quốc

- Quan niệm thị trường công nghệ của Trung Quốc: Trước đây, Trung Quốc

quan niệm tri thức khoa học là sản phẩm của chung trong xã hội, là một thức sản phẩm công ích Nhưng qua một thời gian phát triển cơ chế thị trường, tri thức KH&CN đã trở thành hàng hóa và thị trường công nghệ được xem như là một thể chế mới của quản lý KH&CN nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi sản phẩm NC&PT giữa người tạo sản phẩm (tổ chức nghiên cứu và phát triển) và người sử dụng sản phẩm (doanh nghiệp) Hoạt động trao đổi sản phẩm KH&CN gồm các hình thức: Phát triển công nghệ theo hợp đồng, chuyển giao công nghệ,

tư vấn công nghệ và dịch vụ công nghệ (thiết kế, chế tạo…)

- Một số kinh nghiệm phát triển thị trường KH&CN

+ Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động các tổ chức NC&PT: Từ năm 1996 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành chuyển các viện nghiên cứu ứng dụng thành các doanh nghiệp KH&CN Các tổ chức nghiên cứu cơ bản hoặc cung cấp dịch vụ công cộng phi lợi nhuận vẫn có sự hỗ trợ của Nhà nước, vẫn là đơn vị sự nghiệp hoặc nghiên cứu phi lợi nhuận

Quá trình chuyển cơ chế đối với các viện NC&PT của Trung Quốc đã có tác động tích cực trong việc gắn nghiên cứu với sản xuất, huy động nhiều nguồn kinh phí, đặc biệt từ sản xuất để phát triển KH&CN, tạo ra nhiều sản phẩm cho thị trường KH&CN Thực hiện cơ chế mới, hầu hết các viện đã xây dựng bộ phận thị trường, các nhà khoa học đã tìm đến các doanh nghiệp tìm hiểu nhu cầu đổi mới công nghệ và xúc tiến hợp đồng Các viện đều có các đơn vị phát triển công nghệ

để phục vụ giải quyết các yêu cầu của sản xuất

+ Khuyến khích phát triển các tổ chức trung gian, môi giới: Trung Quốc rất quan tâm việc phát triển hệ thống các tổ chức trung gian, môi giới nhằm tạo quan

hệ kết nối cung-cầu Hệ thống các cơ quan trung gian này bao gồm các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, các đơn vị thuộc các tổ chức nghề nghiệp, các hiệp hội, các

tổ chức cá nhân

Các tổ chức tư nhân hoặc trực thuộc các tổ chức nghề nghiệp, hiệp hội hoạt động theo phương thức tự hạch toán, được Nhà nước tạo điều kiện hoạt động, ưu đãi về thuế

Các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước trong lĩnh vực trung gian, môi giới chuyển giao công nghệ bao gồm các trung tâm thông tin, tư vấn, đào tạo, môi giới

Trang 25

chuyển giao công nghệ, các sàn giao dịch công nghệ, các trung tâm phát triển sức sản xuất…Các cơ quan này có những mô hình tổ chức với mức độ thâm nhập thị trường khác nhau, hoạt động theo phương thức sự nghiệp có thu, hạch toán một phần, được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên và các hoạt động Nhà nước yêu cầu hoặc đạt hàng theo kế hoạch được duyệt hàng năm Phần thu từ các dịch vụ được chi cho đầu tư phát triển, chi trả thêm lương cán bộ…Các đơn vị này được Nhà nước đầu tư rất lớn về cơ sở hạ tầng Hiện nay, Trung Quốc có khoảng 60.000 trung tâm thông tin, tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ với khoảng trên 1,2 triệu cán bộ, thực hiện nhiệm vụ gắn kết giữa các tổ chức KH&CN với các doanh nghiệp Cán bộ làm công tác trung gian, môi giới được Nhà nước Trung Quốc chú ý đào tạo

+ Một số chính sách hỗ trợ phát triển KH&CN: Trung Quốc đã thành lập Quỹ phát triển công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Quỹ có hai nguồn vốn chính: từ Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, quỹ chỉ hỗ trợ các doanh nghiệp ở giai đoạn sản xuất thử nghiệm Trung Quốc khuyến khích thành lập các Quỹ đầu tư mạo hiểm (chủ yếu của các nhà đầu tư nước ngoài) để đầu tư vào các dự án công nghệ có triển vọng Trung Quốc đã thành lập quỹ phát triển sáng chế để đầu tư nghiên cứu, hoàn thiện sáng chế

Trung Quốc xác định chủ thể của sáng tạo, đổi mới công nghệ là các doanh nghiệp Do vậy đã có rấ nhiều giải pháp khuyến khích doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ Doanh nghiệp nào nếu dành lợi nhuận trước thuế

để mua công nghệ sẽ được Nhà nước miễn thuế thu nhập cho phần kinh phí đó Hàng năm, doanh nghiệp được trích 5% doanh thu (không tính thuế) để nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Trung Quốc rất chú ý đào tạo cán bộ làm công tác trung gian, môi giới

+ Một số mô hình thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ

1 Trung tâm dịch vụ KH&CN thuộc Hiệp hội thị trường công nghệ: Trung tâm làm dịch vụ môi giới, tư vấn chuyển giao công nghệ, hoạt động trên nguyên tắc tự hạch toán Một số hoạt động chủ yếu của Trung tâm là: xây dựng hệ thống thông tin về các viện NC&PT; kết nối cung cầu, lựa chọn công nghệ, ký kết hợp đồng công nghệ; tổ chức các hội thảo, tọa đàm, triển lãm công nghệ Đây là mô hình một trung tâm nhỏ, giống như các trung tâm thông tin KH&CN, trung tâm dịch vụ tư vấn KH&CN ở Việt Nam

2 Sàn giao dịch công nghệ Thượng Hải: Sàn giao dịch được Bộ KH&CN Trung Quốc và UBND thành phố Thượng Hải thành lập năm 1993 Đây là đơn vị công ích, phi lợi nhuận của Nhà nước, hoạt động theo mô hình tương tự như một đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam Tôn chỉ hoạt động là: thúc đẩy trao đổi công

Trang 26

nghệ cao và mới đủ các ngành nghề cho tất cả các doanh nghiệp trong và người nước Phương châm hoạt động là tìm vốn cho kỹ thuật; tìm kỹ thuật cho người có vốn; tìm thị trường cho sản phẩm và tìm sản phẩm cho thị trường

Sàn giao dịch phục vụ theo chế độ hội viên, hội viên là các đơn vị có tư cách pháp nhân, phải đăng ký tham gia và nộp hội phí; có khả năng và nhu cầu về thông tin Các hoạt động chủ yếu của sàn giao dịch này là: tổ chức các triển lãm, hội chợ, hội nghị, hội thảo; dịch vụ nhân lực KH&CN; tư vấn; đào tạo; cung cấp thông tin;…

3 Trung tâm sức sản xuất Quảng Đông: thành lập năm 1994 trực thuộc Sở KH&CN Quảng Đông Đây là một đơn vị công ích, phi lợi nhuận của Nhà nước (hoạt động theo mô hình tương tự như một đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam) nhằm cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trung tâm có nhiệm vụ thúc đẩy tiến bộ công nghệ và năng lực đổi mới của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cải thiện sự phát triển của chúng Đồng thời cung cấp dịch vụ đa dạng và tổng thể trong các lĩnh vực thông tin công nghệ, ươm tạo công nghệ cao, giao dịch sản phẩm, phát triển sản phẩm mới, tư vấn, trao đổi và hợp tác quốc tế

Trung tâm tập trung vào việc đưa kỹ thuật tiến bộ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ; xây dựng hệ thống đổi mới (sáng tạo) của tỉnh; phát triển công nghệ cao và mới; cải tạo các ngành nghề truyền thống

Triết lý của Quảng Đông khác với một số tỉnh khác của Trung Quốc trong hỗ trợ và thúc đẩy chuyển giao công nghệ ở chỗ: Quảng Đông cho rằng, hiện nay ở tỉnh, thông tin công nghệ đã được phổ biến rộng rãi, các doanh nghiệp đã có mối liên hệ tương đối chặt chẽ với các cơ quan NC&PT nên việc cung cấp thông tin đơn thuần, thúc đẩy chuyển giao công nghệ không thích hợp nữa Quảng Đông chuyển sang hỗ trợ phát triển sức sản xuất, ươm tạo công nghệ, đào tạo nhân lực,

tư vấn, cung cấp công nghệ, nghiên cứu chiến lược phát triển doanh nghiệp, tổ chức thông tin công nghệ

Phương thức và kinh phí hoạt động của Trung tâm này giống như của Sàn giao dịch công nghệ Thượng Hải Đây là một mô hình thúc đẩy phát triển công nghệ toàn diện, có thể nói là mô hình ươm tạo doanh nghiệp KH&CN

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển thị trường công nghệ của CHLB Đức

- Quan niệm của CHLB Đức về phát triển thị trường KH&CN: Khi bàn về chính

sách đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, liên kết, hợp tác giữa viện, trường với doanh nghiệp, ở CHLB Đức người ta ít nói đến thuật ngữ thị trường công nghệ hay Thị trường KH&CN mà chủ yếu dùng thuật ngữ chuyển giao công nghệ (CGCN) Chính sách của Nhà nước tập trung vào tạo ra các

Trang 27

công nghệ và chủ yếu là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nội dung của công tác chuyển giao theo quan niệm của CHLB Đức là chuyển giao các tri thức, bí quyết kỹ thuật, công nghệ áp dụng vào thực tiễn, kể cả việc hoàn thiện công nghệ và thành lập doanh nghiệp mới trên cơ sở các kết quả nghiên cứu ra

Trên thực tế, Nhà nước Đức thường tạo ra các điều kiện khung, các biện pháp khuyến khích, cụ thể là Nhà nước hỗ trợ tăng cường năng lực làm NC&PT, khuyến khích chuyển đổi cơ cấu, giúp đỡ các dự án chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việc mua bán, chuyển giao công nghệ giữa viện và doanh nghiệp vừa và nhỏ được Nhà nước khuyến khích bằng các công cụ nêu trên và có thể phân

ra thành 2 nhóm: Chuyển giao công nghệ gián tiếp và Chuyển giao công nghệ trực tiếp Ngoài ra còn có các tổ chức hiệp hội của những tổ chức hỗ trợ chuyển giao công nghệ cũng được thành lập và hoạt động rất mạnh để giúp đỡ các tổ chức này tham gia có hiệu quả vào hoạt động chuyển giao công nghệ

- Hình thức chuyển giao công nghệ gián tiếp (qua trung gian, môi giới) Các tổ chức trung gian, môi giới: Tổ chức trung gian, môi giới thường được

gọi bằng một khái niệm chung là Trung tâm công nghệ và có chức năng hỗ trợ cho các hoạt động chuyển giao công nghệ tiến hành nhanh hơn và có hiệu quả hơn Hình thái tổ chức của Trung tâm này đa dạng gồm:

Các Trung tâm tư vấn: Thực hiện các dịch vụ tư vấn, giúp đỡ trọn gói một việc

tư vấn chuyển giao (chủ yếu dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ), giúp đỡ tìm kiếm thông tin và xử lý theo yêu cầu, môi giới các đối tác hợp tác và đối tác chuyển giao, tổ chức các mạng liên kết, các quan hệ hợp tác liên kết với các đối tác…

Các Trung tâm thông tin pa - tăng: Chỉ dẫn về bảo vệ và hỗ trợ patent, giúp tìm kiếm patent, tổ chức, môi giới làm việc với các nhà sáng chế, tổ chức các hội thảo, lớp học…

Các Trung tâm hỗ trợ khởi lập doanh nghiệp (incubator): Tư vấn hỗ trợ các doanh nghiệp trẻ giai đoạn khởi lập, duy trì các hỗ trợ cho doanh nghiệp tiếp tục phát triển, cung ứng cơ sở hạ tầng và các diện tích cho thuê (phòng họp, phòng thí nghiệm…)Tiến hành các dịch vụ chung (điện thoại, văn thư…), Môi giới các dịch

vụ và tiến hành các tư vấn (ngân hàng, kế toán…)

Tên các Trung tâm nêu trên thể hiện chức năng chính của Trung tâm, trên thực tế thì các Trung tâm hoạt động theo phương thức kết hợp các chức năng kể trên Các dạng Trung tâm công nghệ được thành lập trên khắp các Bang của CHLB Đức, đặc biệt được chú trọng ở các Bang mới thành lập và do chính quyền Bang kết hợp với các tác nhân khác đứng ra thành lập Từ khi thành lập bang mới, công việc này được xúc tiến một cách mạnh mẽ để vực dậy nền kinh tế của phần Đông Đức trước đây nay đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế

Trang 28

Đối vơi các Bang mới, việc phát triển các công nghệ và triển khai chúng thành các sản phẩm mới, quy trình sản xuất mới là vấn đề then chốt của việc cạnh tranh của các doanh nghiệp Một hình thức tổ chức có chức năng hỗn hợp giữa tư vấn và chuyển giao sẽ giúp cho quá trình trên diễn ra dễ dàng và nhanh hơn

Bổ sung cho các hình thái tổ chức nêu trên là các cơ sở hỗ trợ đổi mới công nghệ và các Trung tâm chuyển giao công nghệ đặc thù và liên ngành Các Trung tâm này giải quyết các vấn đề liên vùng, đặc thù cho ngành và công nghệ Nhiệm

vụ của các cơ sở hỗ trợ đổi mới và các Trung tâm chuyển giao công nghệ đặc thù này là giúp đỡ khởi sự và chuyển hóa các đổi mới của doanh nghiệp từ khi nảy sinh ý tưởng đến thâm nhập thị trường

- Hình thức hỗ trợ và chuyển giao công nghệ trực tiếp

Giải pháp để thực hiện chuyển giao trực tiếp và hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp đã được CHLB Đức triển khai dưới dạng các chương trình

hỗ trợ trực tiếp cho đổi mới doanh nghiệp, ví dụ Chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ (Pro-Inno) bao gồm các chương trình con đặc trưng như: Chương trình nghiên cứu chung giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp, chương trình nghiên cứu

ủy thác giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp, Chương trình hỗ trợ phát triển nhân lực KH&CN giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp Các chương trình này đều chú

ý và đặc biệt nhấn mạnh đến việc ưu đãi đối với doanh nghiệp ở phần Đông Đức

và Đông Berlin, nới có nhiều chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung (XHCN) sang kinh tế thị trường Các Chương trình trên do Bộ nghiên cứu và đào tạo liên bang (BMBF) tiến hàng đến năm 1998 và Bộ kinh tế liên bang (BMWi) tiếp tục thực hiện từ năm 1998 đến nay Các Chương trình này được giao cho Hiệp hội nghiên cứu của các ngành công nghiệp Đức (AiF) chủ trì thực hiện với vai trò tổ chức tuyển chọn và theo dõi thực hiện (một dạng của bang quản lý chương trình) Việc hỗ trợ đổi mới công nghệ cũng do các Bang tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, ví dụ Bang Sắc-xông đã thành lập Quỹ đổi mới công nghệ để hỗ trợ đổi mới và chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Bang

Hiệp hội nghiên cứu của các ngành công nghiệp Đức (AiF) được thành lập cách đây 50 năm Các ngành công nghiệp Đức tham gia hiệp hội đưa ra nhu cầu nghiên cứu chung để cùng nhau giải quyết, sau đó kết quả được chuyển giao cho tất

cả doanh nghiệp trong Hiệp hội Đó là công nghệ mà tất cả các hội viên đều cần (ví

dụ công nghệ đóng gói bao bì cho công nghiệp, công nghệ xử lý môi trường), còn những vấn đề công nghệ đặc thì của từng doanh nghiệp có thể tự lập dự án xin hỗ trợ kinh phí của Nhà nước thuộc các chương trình nghiên cứu của Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, AiF khi đó có vai trò như ban quản lý đề tài, sẽ ký hợp đồng với BMBF hoặc BMWi, đặt hàng với các trường đại học, viện nghiên cứu

Trang 29

Một số chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ được CHLB Đức tổ chức thực hiện cụ thể như:

+ Chương trình hỗ trợ đổi mới doanh nghiệp vừa và nhỏ (Pro-Inno) với nhiệm

vụ hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu doanh nghiệp, hỗ trợ nâng cao trình độ cho cán

bộ NC&PT của doanh nghiệp

+ Chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ ở các bang mới, với hỗ trợ khởi lập doanh nghiệp; thúc đẩy chuyển hóa tri thức thành công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác phát triển sản phẩm mới

+ Chương trình hỗ trợ thâm nhập thị trường thông qua mạng lưới đổi mới, với nhiệm vụ hỗ trợ sự gắn kết tình nguyện của các doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu…với nhau để phát triển môt sản phẩm đến khâu thâm nhập thị trường

- Tổ chức trung gian, liên kết hỗ trợ đổi mới công nghệ

Hiệp hội, liên kết mạng lưới hỗ trợ đổi mới công nghệ, khảo lập doanh nghiệp công nghệ ở CHLB Đức có thể đưa ra một vài ví dụ như:

+ Trung tâm đổi mới công nghệ của Béc-lin là tổ chức phi lợi nhuận có chức năng hỗ trợ cho đổi mới kinh tế để phát triển kinh tế - xã hội của Béc-lin như hỗ trợ các dự án có tính đổi mới; tư vấn chính sách phát triển của thành phố; liên kết các nhà khoa học với kinh tế - xã hội

+ Hiệp hội các Trung tâm hỗ trợ đổi mới công nghệ và khởi lập doanh nghiệp Đức cho thuê địa điểm để tạo điều kiện thuận lợi ban đầu cho doanh nghiệp: Các thành viên có nhiệm vụ chung là hỗ trợ thông tin, tư vấn kinh doanh, hỗ trợ kỹ thuật; cho thuê địa điểm để tạo điều kiện thuận lợi ban đầu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ khi mới thành lập

+ Hiệp hội nghiên cứu các ngàng công nghiệp Đức: xúc tiến, tổ chức nghiên cứu chung giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành

2.2 Kinh nghiệm trong nước

2.2.1 Kinh nghiệm phát triển thị trường công nghệ Thành phố của Hà Nội

- Hoạt động nghiên cứu và phát triển tạo hàng hóa công nghệ:Hoạt động

nghiên cứu phát triển của Thủ đô trong những năm qua đã có bước chuyển biến mạnh mẽ thông qua việc kiện toàn tổ chức KH&CN và tiến hành các biện pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý KH&CN, cụ thể như sau:

+ Các chương trình KH&CN đã được sắp xếp đổi mới một bước nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng áp dụng vào thực tiễn Quy trình quản lý chương trình đề tài được cải tiến Qua đó đã tăng cường khả năng cung hàng hóa KH&CN của các

tổ chức KH&CN và tạo nhiều hàng hóa có hàm lượng chất xám cao hơn, khả năng ứng dụng nhiều hơn

Trang 30

+ Tăng cường đầu tư và đang dạng hóa các nguồn đầu tư cho nghiên cứu phát triển KiInh phí xây dựng cơ bản tuy hạn hẹp nhưng vẫn đầu tư khoảng 3 - 3,5% cho các dự án phát triển cơ sở KH&CN Cùng với nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp cũng đầu tư cho KH&CN Tổng chi ngân sách cho SNKHCN đến nay khoảng trên 300 tỷ đồng Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, các đơn vị chủ trì thực hiện đề tài, dự án đầu tư khoảng trên 330 tỷ đồng (gần bằng 54% tổng số vốn đầu tư)

+ Với lợi thế là trung tâm lớn về khoa học – giáo dục, tập trung đông các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức KH&CN, tập trung đông đội ngũ các chuyên gia, nhà khoa học, những năm qua hoạt động KH&CN của Hà Nội đã thu hút có hiệu quả tài năng, trí tuệ của các nhà khoa học trên địa bàn, góp phần quan trọng trong việc nâng cao hàm lượng chất xám trong kết quả KH&CN của các đề tài, dự án

+ Đã chú trọng tăng cường hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp và các đơn vị hành chính sự nghiệp đầu tư, nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến Kết quả mang lại những lợi ích thiết thực, tạo điều kiện để doanh nghiệp, tổ chức liên tục cải tiến hệ thống quản lý, nâng cao chất lượng, uy tín, khả năng cạnh tranh, mở rộng thị phần, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ

Tuy nhiên, theo đánh giá chung thì hoạt động nghiên cứu và phát triển của

Hà nội vẫn còn bất cập, đó là: KH&CN chưa trở thành động lực để nâng cao vị thế

và phát triển kinh tế - xã hội thủ đô, chưa xây dựng được cơ chế đồng bộ hóa, được mua bán, chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn đem lại hiệu quả cao chưa được như mong muốn Cơ chế tài chính còn nhiều bất cập, không kích thích được khả năng sáng tạo, đầu tư chất xám của nhà khoa học cho đề tài dự án

– Hoạt động thị trường công nghệ: Nói chung các yếu tố cơ bản của thị trường

công nghệ ở Hà nội đã được hình thành Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, các hình thức mua bán, chuyển giao công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ chưa phát triển Các loại hàng hóa KH&CN được mua bán, chuyển giao chủ yếu là:

- Nhập máy móc thiết bị, hệ thống thiết bị đồng bộ: hầu hết tri thức công nghệ được chuyển giao thông qua kinh này thường chỉ là các kỹ năng vận hành hệ thống sản xuất để làm ra các sản phẩm tương đối ổn định, đạt năng suất, chất lượng

và chi phí ở mức hợp lý; các kỹ năng thiết kế và các bí quyết công nghệ ít khi được chuyển giao cùng với thiết bị nhập khẩu

- Nhập một phần hệ thống thiết bị: nhiều doanh nghiệp chỉ nhập một phần hệ thống thiết bị, phần còn lại đơn vị tự nghiên cứu, chế tạo hoặc đặt hàng với các tổ chức nghiên cứu, các cơ sở chế tạo để hoàn thiện hệ thống thiết bị, dây chuyền sản xuất

Trang 31

- Công nghệ chế tạo trong nước nói chung và Hà Nội nói riêng chiếm tỷ lệ rất thấp so với giá trị sản xuất công nghiệp, chưa có nhiều doanh nghiệp cung cấp thiết bị được thị trường công nhận, sản phẩm chứa đựng hàm lượng chất xám không cao

- Số lượng các giao dịch mua bán công nghệ đi kèm các sáng chế, giải pháp hữu ích ở Hà Nội có sự tham gia của cơ quan quản lý, song không đáng kể Nội dung chuyển giao công nghệ là truyền đạt kỹ năng vận hành hệ thống, kỹ năng giám sát chất lượng Công nghệ gắn với sáng chế, giải pháp hữu ích được chào bán tại các chợ công nghệ chiếm tỷ lệ thấp Công nghệ được chuyển giao chủ yếu là trực tiếp giữa tổ chức KH&CN và cơ sở sản xuất khi có sự hướng dẫn, giúp đỡ của

Sở KH&CN Các kết quả nghiên cứu chuyển giao chủ yếu theo sự chỉ đạo của các

cơ quan nhà nước, chưa mang tính thị trường

- Quản lý nhà nước đối với thị trường công nghệ: Để thúc đẩy thị trường

công nghệ phát triển, Thành phố đã triển khai một số giải pháp như sau:

Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp, ban hành chính sách hỗ trợ (tài chính, thuế) khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Tăng cường thông tin, phổ biến kiến thức KH&CN, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND thành phố Hồ Chí Minh, UBND thành phố Hải Phòng

tổ chức 3 lần Chợ công nghệ và thiết bị tại Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh thu hút đông đảo các doanh nghiệp tham gia trao đổi, mua bán nhiều thiết bị, công nghệ trị giá hàng trăm tỷ đồng

Tuy nhiên, quản lý nhà nước của Hà Nội đối với thị trường KH&CN cũng bộc

- Thành phố chưa có chính sách hỗ trợ thương mại hóa kết quả NC&PT, vai trò Nhà nước định hướng, điều tiết thị trường KH&CN còn mờ nhạt

2.2.2 Kinh nghiệp phát triển thị trường công nghệ thành phố Hồ Chí Minh

- Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp (chương trình 04)

Để giải quyết vấn đề tiếp thu công nghệ - làm chủ công nghệ - sáng tạo công nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang triển khai nhiều chương trình, dự án hỗ

Trang 32

trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị-công nghệ, cải tiến quản lý, tăng năng suất lao động, giảm giá thành, nâng cao khả năng cạnh tranh trong xu thế hội nhập Nổi bật nhất là Chương trình Hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hóa với chi phí thấp, tạo ưu thế cạnh tranh tổng hợp và đẩy mạnh xuất khẩu (gọi tắt là Chương trình 04, theo chỉ thị 04/2000/CT-UB-KT ngày 23/02/2000 của UBND Thành phố)

Sau hơn 4 năm triển khai, ngoài những kết quả đáng khích lệ trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp như tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về hệ thống quản lý chất lượng quốc tế, kỹ năng xúc tiến thương mại, sở hữu trí tuệ, bảo

hộ nhãn hiệu hàng hóa, Chương trình 04 đã đạt được một số thành công trong công việc gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh:

- Hình thành và phát triển mô hình “Tam giác liên kết: Doanh nghiệp-Nhà nước-Cơ quan nghiên cứu khoa học trong hoạt động KH&CN thông qua các nội dung như: Hỗ trợ thiết kế, chế tạo thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến với chi phí thấp so với giá nhập khẩu, khai thác thế mạnh của các cơ quan nghiên cứu, đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa của một số ngành sản xuất, làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp

- Thiết kế chế tạo 34 loại thiết bị, công nghệ thay thế nhập khẩu với giá thành chỉ bằng 35-70% giá nhập khẩu, kinh phí đầu tư gần 24 tỷ đồng Đã chuyển giao 250 thiết

bị, tiết kiệm được 18 triệu USD (hơn 270 tỷ đồng) nhập thiết bị cho doanh nghiệp, đã xuất khẩu sang Thái Lan, Lào, Campuchia, Úc, Đài Loan với trị giá gần 1,5 triệu USD

- Thành lập Trung tâm thiết kế chế tạo thiết bị mới Neptech (Thành phố đầu

tư giai đoạn I với kinh phí 29 tỷ đồng) Dự án cũng được sự hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ về trang thiết bị Đây là giải pháp thu hút đội ngũ KH&CN nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm một số thiết bị - công nghệ, góp phần hiện đại hóa một số ngành sản xuất nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp, đẩy nhanh thương mại hóa các kết quả nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế thành phố và chủ động hội nhập

- Tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị (Techmart):Chợ công nghệ và thiết bị

được xem là một trong những giải pháp cần thiết để tạo lập thị trường KH&CN tại Thành phố Hoạt động chính của Chợ là kết nối các quan hệ cung cầu, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động giao dịch, tiếp xúc, thương thảo, thỏa thuận các điều kiện mua bán, cung cấp chuyển giao công nghệ và thiết bị theo yêu cầu, tiến tới ký kết hợp đồng hoặc thiết lập các bản ghi nhớ Đây là môi trường gắn kết lực lượng doanh nghiệp sản xuất, trong đó cơ quan quản lý giữ vai trò cầu nối, hỗ trợ thúc đẩy phát triển

Hiện tại, TP Hồ Chí Minh đang duy trì và phát triển 04 mô hình Chợ Công nghệ và Thiết bị (Techmart)

Trang 33

- Chợ công nghệ và thiết bị đa ngành: Chợ được tổ chức theo định kỳ hàng năm Mô hình này vừa huy động tập hợp được rộng rãi lực lượng KH&CN tham gia vừa là dịp để cổ động khuyến khích tôn vinh các thành quả của hoạt động khoa học

và công nghệ, thu hút được sự quan tâm của nhiều đối tượng khách hàng Tuy nhiên cần có thời gian chuẩn bị dài, chi phí lớn và phải có địa điểm tổ chức thích hợp

- Chợ công nghệ và thiết bị chuyên ngành hoặc lĩnh vực hẹp: Chợ được tổ chức không theo định kỳ Ưu thế của mô hình này là có thể tổ chức thực hiện linh động ở mọi nơi, mọi lúc, đáp ứng nhanh chóng kịp thời, không phụ thuộc nhiều vào thời gian, địa điểm và chi phí tổ chức

- Chợ công nghệ và thiết bị thường xuyên: Chợ được tổ chức tại một địa điểm cố định tại 79 Trương Định, Quận 1, tạo thành đầu mối cung cấp thông tin và kết nối giao dịch mua bán các loại công nghệ và thiết bị mở cửa hàng ngày Đây là

mô hình – hướng tới tổ chức thành một sàn giao dịch hàng hóa KH&CN

- Chợ công nghệ và thiết bị trên mạng (Techmart online) có địa chỉ:

www.Techmart.cesti.gov.vn Đây là mô hình phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin và xu thế hội nhập TP Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên tổ chức Techmart online, trong đó bao gồm cả tạo ra một kênh giao dịch thường xuyên hậu Techmart Đến nay đã có trên 500 đơn vị tham gia giới thiệu chào bán 2.700 thiết

bị, công nghệ, giải pháp phần mền, hàng ngàn giao dịch mua bán được kết nối, với nhiều vạn lượt người truy nhập vào Techmart online

Bên cạnh việc tổ chức các Chợ công nghệ và thiết bị, các hoạt động liên kết hợp tác với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học - kỹ thuật thành phố, các viện, trường, trung tâm nghiên cứu và các sở, ban ngành trong hoạt động NC&PT, đào tạo nguồn nhân lực, thực thi quyền sở hữu công nghiệp cũng được thực hiện và thu được những thành công đáng kể Thành phố đã đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các tỉnh để thương mại hóa các sản phẩm KH&CN và phát triển thị trường công nghệ trong khuôn khổ Chương trình hợp tác kinh tế - xã hội giữa Thành phố và các địa phương (Đà Nẵng, Đồng Nai, Đắc Lắc, Gia Lai, Cần Thơ, Quy Nhơn)

2.2.3 Kinh nghiệm phát triển thị trường KH&CN của Đà Nẵng

- Hoạt động NC&PT tạo hàng hóa KH&CN: Từ năm 2007 đến 2009, thành

phố Đà Nẵng đã có 140 đề tài cấp thành phố được triển khai, trong đó, có 97 đề tài được nghiệm thu Ngoài ra, hàng năm các ngành, doanh nghiệp, cơ sở còn có hàng trăm đề tài nghiên cứu giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra Xem xét các kết quả từ năm 2005 trở về trước cho thấy, có 92% đề tài đã được ứng dụng vào thực

tế Các đề tài thuộc lĩnh vực KH&CN đã được ứng dụng vào thực tế Các đề tài thuộc lĩnh vực KH&CN đã góp phần đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ, đa

Trang 34

dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tại một số doanh nghiệp, ngay trong năm đầu tiên áp dụng kết quả NC&PT, doanh thu và lợi nhuận đã tăng lên đáng kể

- Phát triển bên cung và bên cầu hàng hóa KH&CN: Đến thời điểm này,

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 49 tổ chức KH&CN của trung ương và địa phương Trong đó, trường Đại học Đà Nẵng có 10 Trung tâm, 30 tổ chức thuộc thành phố hoạt động trong các lĩnh vực đào tạo, dịch vụ công nghệ thông tin và hoạt động sự nghiệp phục vụ quản lý nhà nước Cơ sở vật chất kỹ thuật của một số

tổ chức KH&CN từng bước đầu tư, hiện đại hóa như Trung tâm Công nghệ phần mềm, Trạm Quan trắc môi trường Trường Đại học Đà Nẵng đã xây dựng được một số phòng thí nghiệm có trình độ hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới…Tuy nhiên, mạng lưới tổ chức NC&PT còn rất mỏng, cơ sở vật chất thiếu, lạc hậu Nguồn lực thông tin KH&CN, nhất là cơ sở dữ liệu nghèo nàn

Các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ và đã nâng cao được chất lượng sản phẩm Đa số công nghệ, thiết bị được đầu tư ở một số công đoạn quyết định nhằm tăng năng lực công nghệ, năng suất và chất lượng sản phẩm Khối doanh nghiệp nhà nước hoạt động ít hiệu quả, quy mô vốn nhỏ, trình độ công nghệ, năng lực cạnh tranh hạn chế Với nhiều doanh nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ chưa trở thành nhu cầu bức xúc để nâng cao năng lực cạnh tranh Doanh nghiệp khối ngoài quốc doanh còn non yếu, do vậy đã không tạo nên được yêu cầu về hàng hóa KH&CN đối với khu vực NC&PT Các trường Đại học trên địa bàn chưa đóng được vai trò là người cung cấp chính trên thị trường

Trang 35

CHƯƠNG II

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ

Trang 36

I – ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI VÙNG KTTĐ BẮC BỘ

1.1 Vị trí, vai trò và đặc điểm điều kiện phát triển của vùng KTTĐ Bắc bộ

- Nằm trong vòng cung biển Đông - biển Hoa Nam, Trung Quốc - biển Nhật Bản, có đường biên giới trên đất liền với Trung Quốc Vùng KTTĐ Bắc bộ có vị trí địa chính trị - kinh tế và tiềm năng mở rộng giao lưu quốc tế về kinh tế thương mại, văn hoá và đối ngoại quan trọng nhất của Việt Nam ở khu vực phía Bắc và vịnh Bắc bộ trong quan hệ với các nước thuộc khu vực Đông Bắc Á và Trung Quốc, vừa là khu vực thị trường lớn vừa là khu vực có những quốc gia và nền kinh

tế lớn

- Nằm ở khu vực đồng bằng sông Hồng, Thủ đô Hà Nội là đầu mối giao thương đường bộ, đường sắt, đường hàng không trong nước và quốc tế, khu vực ven biển Hải Phòng - Quảng Ninh là hành lang kinh tế ven biển có cụm cảng cửa ngõ ra biển lớn nhất của miền Bắc, địa bàn là nơi tập trung hầu hết các cơ sở công nghiệp và dịch vụ quan trọng của khu vực phía Bắc Vùng KTTĐ Bắc bộ có vị trí, vai trò là vùng hạt nhân, địa bàn động lực thúc đẩy phát triển KT - XH, đô thị hoá

và công nghiệp hoá của cả khu vực Đồng bằng sông Hồng và tác động lôi kéo các khu vực miền núi phía Bắc, khu vực Bắc trung Bộ phát triển đồng thời có ảnh hưởng lan toả quan trọng đến quá trình phát triển trên phạm vi cả nước

Trang 37

1.1.2 Đặc điểm điều kiện phát triển nổi bật của vùng KTTĐ Bắc bộ

- Nằm ở vị trí tiếp cận thuận lợi thị trường miền Bắc và thị trường lớn Trung Quốc; nguồn lao động dồi dào, cần cù, tay nghề khéo léo và có kỹ thuật; đất đai phần lớn là đồng bằng thuận lợi cho triển khai xây dựng hạ tầng và phát triển khu công nghiệp; tài nguyên khoáng sản có một số loại như than đá, sắt, măng gan, ti tan, đồng - niken, thiếc, vàng, đất hiếm, Apatit, Graphit, đá vôi, sét, cao lanh trong

đó than đá chiếm gần 90%, măng gan 42%, ti tan 64%, cao lanh 49% trữ lượng khai thác công nghiệp của cả nước tạo cho vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp yêu cầu lao động

kỹ thuật cao

- Vùng có Thủ đô Hà Nội, đầu mối giao lưu quốc tế của cả nước, có lợi thế về

mở rộng hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, phát triển giao lưu thương mại, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ tài chính- ngân hàng ở trong nước và vươn ra quốc tế

- Vùng có tiềm năng, thế mạnh về phát triển kinh tế biển với đường bờ biển chạy dài gần 300 km có một số vũng, vịnh có thể xây dựng cảng biển nước sâu, phát triển khu công nghiệp đóng tàu trọng tải lớn, phát triển khu kinh tế, du lịch ven biển và biển đảo Ngoài ra trong vùng biển còn có nguồn lợi thuỷ sản phong phú, tiềm năng sa khoáng dồi dào và triển vọng khai thác dầu khí để phát triển các ngành công nghiệp khai thác biển

- Vùng có thế mạnh nổi trội về phát triển kinh tế du lịch, nguồn tài nguyên

du lịch phong phú và đặc sắc do thiên nhiên ưu đãi và bề dày văn hoá lịch sử đem lại Tài nguyên du lịch nhân văn, trong vùng tập trung gần một nửa số di tích lịch

sử, văn hoá vật thể và phi vật thể được Nhà nước xếp hạng trong cả nước, nhiều tỉnh, thành phố trong vùng có mật độ di tích rất cao như Hà Nội (38 di tích/100

km2) và Bắc Ninh (15 di tích/100 km2), ngoài ra còn có nhiều lễ hội truyền thống, phong tục tập quán lao động, sinh hoạt hội hè của dân cư vùng châu thổ sông Hồng Tài nguyên du lịch sinh thái đa dạng, bao gồm đầy đủ các cảnh quan sinh thái đồng bằng, núi rừng, bờ biển và biển đảo trong đó ở nhiều nơi có thể xây dựng các khu du lịch sinh thái, nghỉ mát bãi biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí

có tầm cỡ quốc gia, quốc tế như vịnh Hạ Long, Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn, Ba Vì, Suối Hai, Tam Đảo

Trang 38

b) Hạn chế

- Vùng KTTĐ Bắc bộ là có quĩ đất so với đầu người thấp nhất trong cả nước, mật độ dân cư rất cao bình quân 890 người/km2 Dân số nông nghiệp còn khá lớn chiếm trên 50% dân số, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người chưa đến 500 m2 do đó làm hạn chế đến phát triển nông nghiệp và chuyển đổi sử dụng đất sang sản xuất phi nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng và đô thị

- Điều kiện khí hậu gió mùa có mùa đông lạnh làm hạn chế đến khả năng và chu kỳ sinh trưởng của nhiều loại cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Thời tiết hàng năm thường có mưa bão lớn ở khu vực ven biển, kèm theo lũ lụt, triều dâng, ở trong đồng bằng là nước lũ trên các sông gây áp lực lên đê điều, gây khó khăn, cản trở đến sản xuất và sinh hoạt

- Vùng có diện tích phần lớn là đồng bằng, phần phía Bắc và phía Tây của vùng nằm trong khu vực chuyển tiếp của vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc nên mang tính chất của nhóm đồi núi, đất dốc làm hạn chế đến canh tác Phần đồng bằng gồm chủ yếu là đất phù sa cổ và đất phù sa cũ nằm trong đê, đất chua hàm lượng mùn thấp, sử dụng đất để canh tác đòi hỏi phải đầu tư khá nhiều cho hệ thống thuỷ lợi kênh mương, đê kè và phải cải tạo đất tốn khá nhiều công sức Khu vực ven biển chủ yếu là đất bãi bồi, đất mặn và đất cát ít thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, đất cát có sức chịu tải thấp do đó để sử dụng cho xây dựng đòi hỏi suất đầu tư công trình khá cao làm hạn chế đến hiệu quả đầu tư trong xây dựng

- Hạn chế về nguồn nước ngầm cho khai thác công nghiệp, khu vực ven biển Hải Phòng - Quảng Ninh, nguồn nước ngầm cho sinh hoạt và sản xuất hạn chế cả

về trữ lượng và chất lượng nước cho khai thác nước công nghiệp, gây khó khăn đến phát triển các điểm dân cư đô thị, các khu công nghiệp và du lịch, thường phải đầu tư tốn kém xây dựng các đường ống để lấy nước từ các nguồn nước mặt Khu vực đồng bằng trong vùng Thủ đô Hà Nội, nguồn nước ngầm ở khu vực phía Nam cần xử lý tốt mới bảo đảm an toàn nước sạch cho sinh hoạt

- Dân cư có truyền thống văn hoá lúa nước lâu đời nhưng một bộ phận lớn còn mang nặng tâm lý sản xuất nhỏ, bảo thủ, thoả mãn sớm, tác phong công nghiệp trong lao động và sinh hoạt chưa hình thành rõ nét trong xã hội làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nguồn nhân lực và cản trở khai thác hiệu quả nguồn lực con người của vùng

1.2 – Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

1.2.1 Kết quả và thành tựu

Tình hình chung về phát triển KT-XH của vùng KTTĐ Bắc bộ giai đoạn

2006 - 2010 về cơ bản chưa có đột phá lớn nhưng vẫn đạt được nhiều kết quả tiến

Trang 39

bộ trên các lĩnh vực so với giai đoạn 2001 - 2005 và khá cao so với mức chung của

cả nước

a) Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

- Tăng trưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,3% (giai đoạn 2006 - 2010) so với gần 9% trong giai đoạn 2001 - 2005, cao gấp 1,5 lần so với mức bình quân chung của cả nước, trong đó khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,8%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 14,7%; khu vực dịch vụ tăng 10,3% GDP của vùng năm 2009 chiếm 18,7% GDP của cả nước GDP bình quân đầu người đạt 734 USD cao gấp 1,15 lần so với mức bình quân chung của cả nước (640 USD)

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá nhanh theo hướng phi nông nghiệp và sản xuất hàng hóa, tỷ trọng các khu vực trong cơ cấu kinh tế bao gồm khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 11,7%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 43,1%; khu vực dịch vụ chiếm 45,2% Trong 5 năm, tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng thêm được 4,9 điểm % trong cơ cấu GDP (cả nước tăng thêm 4 điểm %) Tốc độ đô thị hóa tăng bình quân 5,5% năm

- Thu - chi ngân sách: thu ngân sách tăng bình quân 19% so với mức 18,3% của cả nước, tổng thu ngân sách của năm 2009 đạt 54.721 tỷ đồng, tỷ lệ huy động ngân sách so với GDP đạt 34,8% Chi ngân sách hàng năm tăng bình quân 22%, năm 2009 tổng chi ngân sách 26.132 tỷ đồng, tỷ lệ chi ngân sách so với thu ngân sách và so với GDP là 48% và 16,6%

b) Phát triển các ngành kinh tế

- Công nghiệp:

Sản xuất công nghiệp tăng khá nhanh, GTSX tăng bình quân 18,3% so với mức 17,3% của giai đoạn 2001 - 2005 và cao gấp 1,15 lần mức bình quân chung của cả nước Một số ngành công nghiệp như đóng và sửa chữa tàu biển, cơ khí lắp ráp, điện tử, thép, xi măng, dệt may có GTSX tăng nhanh bình quân đạt trên 18%

Đến năm 2008, trong vùng đã thành lập 22 KCN bao gồm 10 KCN đã hoàn thành XDCB và 12 KCN đang trong thời kỳ vừa hoàn thành XDCB vừa hoạt động từng phần, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 40% Số lượng dự án đã thu hút được vào các KCN là 483 dự án trong đó có 227 dự án đầu tư nước ngoài và 256 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 2.023 triệu USD và 14.971 tỷ đồng

- Nông nghiệp:

Nông nghiệp tiếp tục phát triển khá vững chắc theo hướng sản xuất hàng hoá với trình độ thâm canh ngày càng cao Cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi đang chuyển dịch dần theo hướng sản xuất các sản phẩm có giá trị hàng hóa cao như sản

Trang 40

xuất rau quả vụ đông, hoa cây cảnh, nuôi trồng thủy sản Năm 2009, GTSX nông nghiệp đạt 186.169 tỷ đồng (giá so sánh), tốc độ tăng bình quân 3,8% trong giai đoạn 2006 - 2010 Các tỉnh có GTSX nông nghiệp lớn trong vùng là Hà Nội (5.907

tỷ đ), Hải Dương (2.996 tỷ đồng)

- Dịch vụ:

Khu vực dịch vụ phát triển với nhịp độ ngày càng tăng và thu hút nhiều lao động, các dịch vụ quan trọng như vận tải, viễn thông, tài chính - ngân hàng, thương mại đều đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng kinh tế chung Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trong vùng tăng bình quân 17,9%; năm 2009 đạt 246.539 tỷ đồng cao gấp 2,3 lần mức của năm 2005, trong đó riêng

Hà Nội đạt 157.494 tỷ đồng chiếm 63,8% so với toàn vùng

Dịch vụ vận tải được mở rộng và đa dạng hoá phương thức vận chuyển, khối lượng hành khách và khối lượng hàng hoá vận chuyển của vận tải thuộc các tỉnh, thành phố trong vùng Khối lượng hàng hoá vận chuyển thông qua cảng Hải Phòng

và cảng Quảng Ninh trong năm 2008 ước đạt 12,5 triệu tấn và 2,1 triệu tấn Dịch

vụ viễn thông phát triển mạnh, tổng số thuê bao điện thoại trong vùng đến hết năm

2009 có 4.659 nghìn thuê bao, tăng bình quân 27,2% trong 2006 - 2008, riêng Hà Nội có 2.496 nghìn thuê bao chiếm 53% so với toàn vùng

Các dịch vụ du lịch, tài chính, ngân hàng, tư vấn có nhiều đổi mới về mô hình kinh doanh với chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao

c) Thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển doanh nghiệp

- Thu hút đầu tư nước ngoài: Môi trường thu hút đầu tư của vùng được cải thiện thông thoáng hơn trước, một số tỉnh trong vùng tích cực đổi mới cơ chế chính sách và đơn giản hoá thủ tục hành chính đã thu hút được nhiều dự án đầu tư, tạo thêm được nhiều việc làm cho lao động ở địa phương và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn so với trước Đến hết năm 2009, toàn vùng đã thu hút được 1.543 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 18.049,1 triệu USD chiếm 27,8% so với cả nước trong đó vốn pháp định đầu tư trực tiếp nước ngoài 6.378,6 triệu USD chiếm 26,2% so với cả nước Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và Vĩnh Phúc là những địa phương có nhiều dự án đầu tư nước ngoài nhất trong vùng, trong đó Hà Nội có 816 dự án (vốn đầu tư nước ngoài 4.248,6 triệu USD), Hải Phòng 232 dự án (820,2 triệu USD), Quảng Ninh 125 dự án (363,4 triệu USD), Vĩnh Phúc 111 dự án (275,5 triệu USD)

- Phát triển doanh nghiệp: Giai đoạn vừa qua, số lượng doanh nghiệp trong vùng tăng lên nhanh chóng, bình quân khoảng 17% năm Nhiều doanh nghiệp ở các địa phương đang dần lớn mạnh, mở rộng qui mô sản xuất đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế và ngân sách của các tỉnh, thành phố Đến năm 2009, toàn

Ngày đăng: 26/05/2014, 14:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 – SỐ LƯỢNG VĂN BẰNG BẢO HỘ ĐƯỢC CẤP NĂM 2009 - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 2 – SỐ LƯỢNG VĂN BẰNG BẢO HỘ ĐƯỢC CẤP NĂM 2009 (Trang 51)
Bảng 5 – CÁC LOẠI HÀNG HÓA KH&CN ĐƯỢC BÁN - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 5 – CÁC LOẠI HÀNG HÓA KH&CN ĐƯỢC BÁN (Trang 59)
Bảng 8 – SỐ LƯỢNG ĐỀ TÀI, DỰ ÁN VÀ TỶ LỆ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 8 – SỐ LƯỢNG ĐỀ TÀI, DỰ ÁN VÀ TỶ LỆ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG (Trang 61)
Bảng 2 – Tình hình lao động đến 12/2009 - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 2 – Tình hình lao động đến 12/2009 (Trang 118)
Bảng 3 - Phân loại hoạt động mua theo nguồn công cấp - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 3 Phân loại hoạt động mua theo nguồn công cấp (Trang 119)
Bảng 4 - Phân loại hoạt động theo người mua - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 4 Phân loại hoạt động theo người mua (Trang 120)
Bảng 6 - Phân loại sản phẩm đã bán theo người cung cấp - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 6 Phân loại sản phẩm đã bán theo người cung cấp (Trang 122)
Bảng 7 - Tình hình mua hàng hóa KH&CN của các đơn vị điều tra - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 7 Tình hình mua hàng hóa KH&CN của các đơn vị điều tra (Trang 123)
Bảng 9 – Tình hình triển khai đề tài và tỷ lệ kết quả được ứng dụng - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 9 – Tình hình triển khai đề tài và tỷ lệ kết quả được ứng dụng (Trang 124)
Bảng 8 - So sáng lượng hàng hóa KH&CN mua và bán - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 8 So sáng lượng hàng hóa KH&CN mua và bán (Trang 124)
Bảng 13 - Những khó khăn do không mua được hàng - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 13 Những khó khăn do không mua được hàng (Trang 127)
Bảng 12 - Tình hình bán hàng hóa của các đơn vị - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 12 Tình hình bán hàng hóa của các đơn vị (Trang 127)
Bảng 16 - Tỷ lệ các loại nguyên nhân gây khó khăn cho việc bán hàng - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 16 Tỷ lệ các loại nguyên nhân gây khó khăn cho việc bán hàng (Trang 129)
Bảng 17 - Phân loại khó khăn không bán được hàng theo loại hàng hóa - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 17 Phân loại khó khăn không bán được hàng theo loại hàng hóa (Trang 130)
Bảng 18 - Những khó khăn do yếu tố chính sách gây ra - Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển thị trường công nghệ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ đến năm 2012
Bảng 18 Những khó khăn do yếu tố chính sách gây ra (Trang 131)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w