Output file ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA VĂN HỌC *** LÊ THỊ DUNG THƠ BÙI GIÁNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TƢ DUY NGHỆ THUẬT NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN BÁ THÀ[.]
Trang 2
MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1
-1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 4
-2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
-3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ - 6 -
3.1/ Giai đoạn trước năm 1975 6
-3.2/ Giai đoạn sau 1975 8
-4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
-5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 14
-PHẦN NỘI DUNG 15
-CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM THƠ BÙI GIÁNG 15
-1.1 Một số vấn đề về tư duy nghệ thuật 15
-1.1.1 Khái niệm tư duy 15
-1.1.2 Khái niệm tư duy nghệ thuật 16
-1.2 Quan niệm thơ của Bùi Giáng 18
1.2.1/ Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 18
1.2.2/ Quan niệm thơ 21
1.2.2.1/ “Thơ chơi” 21
1.2.2.2/ Thơ là cảm xúc 24
1.2.2.3/ Sáng tạo một cách ngẫu hứng 27
1.2.2.4/ Thơ là bất khả tri 29
CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ BÙI GIÁNG 33 2.1/ “Tháp Bay on” của cái tôi 33
2.1.1/ Cái tôi yêu đời buổi “mưa nguồn” 36
2.1.2/ Cái tôi mộng mị hoài vọng về tình yêu xa xôi 40
-2.1.3/ Cái tôi “cuồng khấu” đi tìm cội nguồn và những ám ảnh về lẽ sinh tử 46
-2.1.4/ Cái tôi thông tuệ với những triết lý, chiêm nghiệm về cuộc đời và lẽ vô thường 52
2.2/ “Em”: người đẹp và những ám ảnh 56
2.2.1/ Kiều nữ và sự cuồng si 56
Trang 3
2.2.2/ “Em” hay những ám ảnh khôn cùng về cái đã qua, cái khó nắm bắt 59
2.3/ “Mẹ”: Niềm mơ đi giữa cõi thực 62
2.3.1/ Mẫu thân sùng kính 62
2.3.2/ “Nguyên Lý Mẹ” rộn ràng trong thơ 65
CHƯƠNG 3: BIỂU TƯỢNG VÀ NGÔN NGỮ THƠ BÙI GIÁNG 71
3.1/ Biểu tượng 71
-3.1.1/ Cố quận: niềm hoài niệm … 72
3.1.2/ Sa mạc: nỗi cô đơn tự đoạ đày 74
3.1.3/ Tim máu: phần “người” trong sáng, đầy nhiễu động 76
3.1.4/ Đười ươi: “tinh thể người” Bùi Giáng 78
3.2/ Ngôn ngữ thơ Bùi Giáng 80
-3.2.1/ Ẩn ngữ đậm đặc và khả năng biểu hiện của thứ ngôn ngữ đa nội lực 80
-3.2.2/ Ngôn ngữ đa dạng, linh hoạt vừa uyên bác, vừa “lem luốc bụi giang hồ” 84
-3.2.3/ “Cái nếp gấp vô ngần trong ngôn ngữ” và những “giới hạn” của Bùi Giáng trong thơ 88
-3.2.3.1 Bùi Giáng phủ nhận khả năng tái hiện hiện thực của ngôn ngữ 89
-3.2.3 2 Sự tuỳ tiện trong sử dụng ngôn ngữ và sự sáo, nhàm trong cách lặp 90
3.2.4/ Ngôn ngữ trong thơ lục bát Bùi Giáng 95
-KẾT LUẬN - 101 -
Trang 4
PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thế giới nghệ thuật hay tác phẩm của nhà văn vốn được xem là một
“thế giới mở” đối với người đọc, người thưởng thức, khám phá Tiếp cận tác phẩm theo hướng nào để đạt được hiệu quả lớn nhất tuỳ thuộc vào khả năng, năng lực của từng loại độc giả Tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng – một dạng hoạt động trí tuệ của con người nhằm hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật, cũng là một hoạt động nhận thức có tính nghệ thuật nhằm phản ánh hiện thực theo một lý tưởng thẩm mỹ Chính vì vậy, tiếp cận văn chương nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng
từ góc độ tư duy nghệ thuật là hướng tiếp cận có chiều sâu, mang tính hệ thống và toàn diện Từ ý nghĩa và khả năng ấy, chúng tôi đã chọn “tư duy nghệ thuật” như một “công cụ trí tuệ” nhằm tiếp cận, khám phá thế giới nghệ thuật, thế giới thơ của Trung Niên thi sĩ – Bùi Giáng
Bùi Giáng vốn được xem là ngôi sao sớm toả sáng trên nền trời văn học đô thị miền Nam Việt Nam trước 1975 Nhưng ông cũng là ngôi sao
kì dị bậc nhất, một mình một thứ ánh sáng khó có thể nhầm lẫn Cuộc rong chơi hết mình giữa cuộc đời và cuộc tận hiến tận cùng cho thi ca của người nghệ sĩ đặc biệt này đã khiến không ít người kinh ngạc, băn khoăn
và cảm phục Là một hiện tượng thơ tương đối phức tạp, với khối lượng khá lớn các sáng tác gồm hơn 20 tập thơ, hơn 20 tác phẩm khảo luận và nghiên cứu, phê bình và hàng chục tác phẩm dịch thuật văn chương, thơ
ca, triết học của nhiều tác gia lớn trên thế giới Xuất hiện trên thi đàn vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX cho đến lúc từ giã cõi đời (năm 1998),
có lẽ tài sản quý giá nhất ông để lại vẫn là thơ ca Tuy nhiên, cho đến nay, việc nhìn nhận, đánh giá đầy đủ giá trị thơ văn và vị trí của tác giả này trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam nói chung vẫn chưa nhiều so với “tài sản” ông để lại Thiếu những công trình nghiên cứu thật sự công phu, toàn diện, đánh giá đầy đủ những thành tựu, hạn chế và đóng góp
Trang 5
của Bùi Giáng cho thơ ca dân tộc Nhiều bài viết nhỏ lẻ, thường là những cảm nhận bước đầu có phần chủ quan của những người gần gũi nhà thơ, người yêu thơ và yêu người thơ Bởi vậy, chọn thơ Bùi Giáng làm đối tượng khám phá chúng tôi mong muốn góp thêm một cách nhìn về thơ ông, qua đó góp phần đưa thơ Bùi Giáng tiếp cận gần hơn với văn học đương thời và với cả những độc giả còn xa lạ với thơ của “thi sĩ kì dị” này
2 ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chọn đề tài “Thơ Bùi Giáng nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật” luận
văn hướng đến tìm hiểu quan niệm nghệ thuật, khảo sát đặc trưng, ý nghĩa của hệ thống nhân vật trữ tình, biểu tượng và ngôn ngữ thơ của Bùi Giáng Do vậy, đối tượng nghiên cứu ở đây là các tập thơ của thi sĩ Nhưng, vì nhiều lí do khách quan, chẳng hạn thơ Bùi Giáng bị mất mát, thất lạc nhiều, đặc biệt là những tập thơ được sáng tác trước năm 1975 vẫn chưa được tập hợp đầy đủ, nên chúng tôi chưa có điều kiện khảo sát hết toàn bộ thơ của ông Tuy nhiên, có thể khẳng định, những tập thơ
được đề cập trong công trình này như “Mưa nguồn”, “Rớt hột phiêu bồng”, “Rong rêu”, “Mười hai con mắt”, “Mùa màng tháng tư”… là
những tác phẩm tương đối tiêu biểu cả về nội dung và nghệ thuật của thế giới thơ Bùi Giáng Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng tư liệu là các bài viết của Bùi Giáng trong một số tác phẩm như “Ngày tháng ngao du”, “Tư tưởng hiện đại”, “Mùa xuân trong thi ca”…đây không hẳn là tác phẩm thơ hay văn thuần tuý mà có sự đan xen cả hai thể loại, bởi với Bùi Giáng
“Văn xuôi cũng phải buộc là thơ” (Tư tưởng hiện đại) Hơn nữa, những
cuốn sách này thể hiện tương đối toàn diện quan niệm thơ ca của Bùi thi
sĩ Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cố gắng đặt thơ ông vào dòng chảy văn học dân tộc, trong sự đối sánh với một số nhà thơ khác nhằm tìm ra cái riêng và sự đóng góp của Bùi Giáng vào gương mặt thơ ca dân tộc
Trang 6
Nghiên cứu thơ Bùi Giáng từ góc độ tư duy nghệ thuật chúng tôi hi vọng sẽ hé mở được nhiều vấn đề lí thú trong thế giới nghệ thuật còn nhiều bí ẩn này, qua đó phát hiện những tìm tòi, đổi mới, cái dòng riêng
và đóng góp của Bùi Giáng cho thơ ca hiện đại Việt Nam
3.1/ Giai đoạn trước năm 1975
Sự xuất hiện của một loạt các tập thơ như “Mưa nguồn” (1962),
“Màu hoa trên ngàn”(1963), “Ngàn thu rớt hột”(1963)… gắn cùng cái tên Bùi Giáng đã thu hút sự chú ý của độc giả và ngay sau đó bắt đầu có
những bài viết về thơ và cả con người nhà thơ Nam Chữ trong “Bùi Giáng, về cố quận” [79; 43-45] khen ngôn ngữ thơ Bùi Giáng là thứ
“ngôn từ tài tử” đã góp phần “đánh dấu một bước chuyển mình của thi
ca hôm nay”, bởi “những dung từ khó khăn nhất, những âm vận ngắn củn nhất…trở nên linh hoạt dị thường, đều trở nên nhẹ nhàng và âm điệu réo rắt” Trần Tuấn Kiệt trong “Chung quanh vấn đề Bùi Giáng” khẳng định rằng: “Chúng ta muốn nói về thơ của Bùi Giáng chúng ta phải viết lại cả khu rừng văn học từ cổ chí kim” [79;77] Hay như Trần Hữu Cư với “Bùi Giáng, trên đường về cố hương” đã lưu ý đến yếu tố hồn quê trong thơ Bùi Giáng, tác giả này cho rằng: “Tất cả những gì ông đang làm… là làm một cuộc lên đường tìm lại một “màu hoa trên ngàn”, “một tinh thể quê hương”cho thời hiện đại…hoài vọng một “cõi” nào đó của xưa kia” [79;66]…
Các đề tài về tình yêu và người đẹp đã trở thành một nội dung nổi bật trong thơ Bùi Giáng giai đoạn này, theo đó, các nhà ngiên cứu cũng
Trang 7
đã dành cho nó sự lưu tâm đặc biệt Cao Huy Khanh là một trong nhiều
người quan tâm đến mảng đề tài này, ông cho rằng: “Mê gái là một vấn
đề siêu hình ác liệt (gái chiêm bao ” trong thơ Bùi Giáng [79;61] Ngoài
ra tác giả này cũng bước đầu nhận ra triết lý về cuộc sống của Bùi Giáng:
“Văn chương Bùi Giáng là một nỗ lực giải quyết và thực hiện tư tưởng triết lí sinh tồn một cách sống động và thơ mộng (phố thị)” [79;60] Bên
cạnh đó, việc xác định tư tưởng trong thơ Bùi Giáng cũng là một trong những vấn đề thu hút sự khám phá của nhiều người, với nhiều ý kiến khác nhau Nam Chữ cho rằng thơ Bùi Giáng không “chịu ảnh hưởng của nền triết học u mặc phương Tây hay một thứ căn để mọi chủ thuyết siêu hình,
tố thần bí hoá hay phục dịch cho một thứ đường hướng rõ rệt, đứng ngoài hết mọi phái siêu hình, tượng trưng, phiếm thần hay thần bí”
[79;47]
Trên phương diện hình thức nghệ thuật, nhiều tác giả thể hiện rõ sự tâm đắc đối với cách sử dụng ngôn ngữ bình dân và thể loại lục bát của Bùi Giáng Cao Huy Khanh nhận định rằng “Nhà thơ Bùi Giáng cốt yếu
là một hiện tượng ngôn ngữ độc đáo, ngôn ngữ thành tựu từ mối đam mê nguồn thơ lục bát (đặc biệt là Truyện Kiều) phối hợp với âm điệu ca dao thuần túy dân tộc ” [79;64] Nguyễn Đình Tuyển trong “Những nhà thơ hôm nay ” khen “lời thơ thâm trầm, trang nhã mà không xa lời ca nơi đồng ruộng, thôn trang: bình dị mà tân kỳ” …
Tóm lại, thời kỳ này đã có nhiều bài phê bình về thơ Bùi Giáng, trong đó không ít tác giả đã thể hiện sự tìm tòi, phát hiện khá chính xác các giá trị thơ của Trung niên thi sĩ trên cả hai phương diện nội dung và hình thức Tuy nhiên, bên cạnh đó nhiều bài viết cũng thể hiện thái độ khen, chê nhưng còn khá chung chung Những lời khen thường ít đi kèm với các dẫn chứng cụ thể, mang đậm tính chủ quan của người nhận xét nên tính thuyết phục chưa cao Không phủ nhận thơ Bùi Giáng hay nhưng vẫn còn không ít hạn chế mà các tác giả hoặc chưa nhận ra hoặc không
Trang 8
muốn thừa nhận Điều này, một phần xuất phát từ cách nhìn nhận của người đánh giá, mặt khác do độ lùi thời gian chưa đủ giúp các tác giả có cách nhìn nhận sâu sắc, thấu đáo về thơ Bùi Giáng
3.2/ Giai đoạn sau 1975
Đất nước thống nhất và văn chương cũng được “thu về một mối”, được tạo cơ hội để phát triển sâu rộng hơn Các giá trị văn chương trong quá khứ lẫn hiện tại bắt đầu được chú ý tìm hiểu, nghiên cứu kĩ càng hơn
Bộ phận văn học đô thị miền Nam 1945 – 1975 theo đó cũng thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả Với việc cho xuất bản lại một số tác phẩm thơ, khảo luận, dịch thuật (năm 1993) Bùi Giáng là một trong những nhà thơ bắt đầu được nhìn nhận một cách tổng thể cả về thơ ca và con người Nhiều nhà phê bình, nghiên cứu đã “gặp nhau” khi khẳng định Bùi Giáng là một “hiện tượng thơ” của văn học đô thị miền Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung NXB Trẻ (tháng 11/1997) giới thiệu tập
“Đêm ngắm trăng” của thi sĩ này như sau: “những cái “không ổn” kết hợp hài hoà với những cái gọi là “ổn” trong tác phẩm Bùi Giáng để làm
được nói đến rất nhiều trong sinh hoạt văn nghệ ở miền Nam với nhiều
mỹ cảm Có thể nói Bùi Giáng là một hiện tượng “siêu quậy” trong sáng tác ” Các tác giả đã dành nhiều công sức để khai thác các giá trị nghệ thuật thơ Bùi Giáng, làm nổi bật các hình ảnh ruộng đồng, thiên nhiên và người nữ Huỳnh văn Hoa trong “Đi tìm xuân qua “Mưa nguồn” của Bùi
Giáng” đã nhận định rằng: “Ông thổi vào “Mưa nguồn” một hơi thở rất nhiều hương đồng gió nội Phải chăng ông mượn điển tích Tô Vũ… từng chăn dê gửi tình yêu đến với bát ngát thiên nhiên…Xuân như suối nguồn chảy ra từ một cõi uyên nguyên nào, không cụ thể Đó là thứ xuân đầu chứa đầy chiêm bao, huyền thoại, hư ảo quyện với cuộc đời thực nhiều
mơ mộng Sau “Mưa nguồn” cánh cửa thơ ông uyên áo quá, khó đi vào ”
[16;11] Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những nhận xét mang tính suy diễn, khó chấp nhận về hình ảnh thiên nhiên trong thơ Bùi Giáng Chẳng
Trang 9
hạn: “Bùi Giáng xót xa, đau đớn có thể chết đi được (chứ điên nhằm nhò
nhiên… Bùi Giáng mong muốn người ta khẩn trương ý thức bảo tồn cái mầm sống vốn rất mong manh…” [79;12], nhận xét này được dành cho
bốn câu thơ nằm trong tập “Mưa nguồn”: Em về mấy thế kỉ sau/ Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?/ Ta đi còn gửi đôi dòng/ Lá rơi có dội ở trong sương mù”! Nói về tình yêu dành cho người nữ của Bùi
Giáng, Đào Hiếu cho rằng: “Bùi Giáng là chàng si tình số một trên cõi đời này và vì mê gái mà chàng thi sĩ tài hoa kia sẵn sàng phá huỷ thi ca của mình, phá huỷ thân xác của mình Và chính điều đó – chứ không phải thi ca, tư tưởng hay sự uyên bác – đã làm cho ông vĩ đại” [79; 40] Nhưng Hồ Bửu Khánh lại chê Bùi Giáng “bỡn cợt thơ và “quấy rối tình dục” tư tưởng của ông Toàn bộ suy nghĩ của ông chỉ là sự tập hợp những khát vọng vụn vặt về tình ái và lẽ tử sinh” [79;38]…
Nói đến tư tưởng của Bùi Giáng trong thơ, Lê Khiêm Trung trong
“Nguyên khởi về cõi tinh mật Bùi Giáng” khẳng định: “tâm thức của Bùi Giáng mang đầy những khắc khoải hiện sinh… Cách nhìn đời của Bùi Giáng phần nào chịu ảnh hưởng của trào lưu triết học hiện sinh, mang nặng tính chất bi quan nhưng không tuyệt vọng” [79; 45-48] Thơ Bùi
Giáng khó tiếp cận và cảm thụ bởi thơ ông chịu sự tác động của nhiều tư tưởng khác nhau, có cả tư tưởng phật giáo phương Đông lẫn tư tưởng phương Tây với triết học Heidergger, Camus… Điều này khiến thơ ông
“bí ẩn và siêu thực, đầy dấu vết của tiềm thức dụ ngôn” [79;57] Cố gắng gạt bớt những sương khói để “Đi vào cõi thơ Bùi Giáng”, Trần Hữu Dũng nhận thấy Bùi Giáng đã “xoá nhoà ranh giới giữa văn chương cao cấp và văn chương bình dân, ông hoà nhịp với Nguyễn Du, Nerval, Whitman và
cả với các nhà thơ hiện đại ngày nay không một chút khiên cưỡng nào”
[79;43] Còn Trương Vũ Thiên An lại cho rằng “Khó mà thấy được chính kiến của Bùi Giáng trong thơ ông… Và công bằng mà nói cách viết của ông nhiều lúc cực kì khó hiểu Thành ra ông cứ … điên!” [79; 49-54]…
Trang 10
Bàn về hình thức nghệ thuật thơ Bùi Giáng, bên cạnh việc nhấn mạnh tính đa dạng đến phức tạp của nó, một lần nữa các nhà nghiên cứu lại quay trở lại với thể lục bát và khẳng định Bùi Giáng đặc biệt sở trường
ở thể thơ này Bùi Giáng dùng cái lối cà rỡn trào lộng của người dân Quảng Nam, đặc biệt là cách nói lái tinh quái như cách cố tình đem cái tài hoa của mình trộn lẫn với cái thô tục, điều đó đã phần nào cho thấy sự
“không ngừng nỗ lực sáng tạo nên một phong cách ngôn ngữ riêng biệt –
ngôn ngữ Bùi Giáng” Vũ Đức Sao Biển cho rằng Bùi Giáng đã “đem nụ cười vào thi ca trữ tình, lãng mạn… có sự rong chơi của ngôn ngữ Cách sáng tạo của anh cực kì hồn nhiên, thơ mộng” [1;35-37] Hay Nguyễn Lương Vỵ khen Bùi Giáng có tài “tung hứng những ẩn ngữ một cách nghiêm cẩn u hoài, , tiếu lâm tục tĩu một cách thượng thừa, thánh thiện”
[79; 41]…
Sự khẳng định các giá trị nội dung, nghệ thuật trong thơ Bùi Giáng giai đoạn này một lần nữa khẳng định Bùi Giáng có sức thu hút các nhà nghiên cứu Thiên nhiên nơi quê nhà hay tình yêu dành cho những người phụ nữ đẹp là những hình ảnh thường xuyên đi về trong thơ Trung niên thi sĩ Đồng thời, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy sự phức tạp trong tư tưởng Bùi Giáng chính là nhân tố gây nên sự khó hiểu và các ẩn ngữ trong thơ, cũng như gây nên nhiều ý kiến, đánh giá bất tương đồng Tuy nhiên, nhiều người đã cùng chung quan điểm khi cho rằng Bùi Giáng là một “hiện tượng thơ”, một “hiện tượng dị biệt” cả trong thơ lẫn cuộc sống
Ngoài các tác giả trong nước có bài nghiện cứu về thơ Bùi Giáng, nhiều tác giả Hải ngoại cũng xem thi sĩ này là đối tượng tìm tòi, khám
phá Nguyễn Hưng Quốc trong “Thơ, cuộc hoà giải vô tận hay một cái nhìn về quá trình vận động của thơ Việt Nam” cho rằng: Bùi Giáng đã
“vượt ra ngoài chủ nghĩa hiện đại”, ông “xoá nhoà những đường biên về giọng điệu, xoá nhoà ranh giới giữa truyền thống và hiện đại…làm cho cái thiêng liêng trở thành bình thường, cái thô tục trở thành cái thơ
Trang 11
mộng…xoá nhoà cái gọi là văn hoá cao cấp với văn hoá bình dân, xoá nhoà luôn cả chính chất nghiêm nghị, nghiêm túc…”, ngoài ra tác giả này còn khẳng định Bùi Giáng là “nhà thơ hậu hiện đại chủ nghĩa” bởi ông
có “khá nhiều bài thơ là loại thơ không thể giảng” [51;45-57] Nhận định
này chưa thật sự khách quan, phần nhiều suy diễn theo chủ định của người viết nhằm phục vụ mục đích khác ngoài thơ văn
Ngày 07/10/1998 Bùi Giáng qua đời Ngay sau đó đã có một loạt bài viết đăng trên các báo, tạp chí để vĩnh biệt nhà thơ, đồng thời khẳng định
“Bùi Giáng chẳng bao giờ mất đi giữa cuộc đời này…” Cao Vũ Huy Miên với “Ngàn thu rớt hột ” say cuồng nhặt chơi” đăng trên Sài Gòn giải phóng, Sơn Nam với “Thơ Bùi Giáng” trên Tuổi trẻ chủ nhật, “Đi thiêm thiếp cõi mai sau lạ lùng” của Ý Nhi trên Phụ nữ chủ nhật, Thu Bồn trên Văn nghệ TP HCM với “Tại thể bơ vơ Bùi Giáng”, hay
Phanxipăng với “Bùi Giáng – một tài hoa kì dị” đăng 4 kỳ trên Thế giới mới… Tháng 3/2005 Báo Thanh niên đăng liên tiếp các kỳ về “Bùi Giáng – thi sĩ kì dị” của nhiều tác giả như Trần Đình Thu, Đặng Tiến, Thanh
Thảo, Cung văn Nguyễn Vạn Hồng, Hoàng Kim Các bài viết đã tập trung lí giải thơ ca, con người Bùi Giáng, đặc biệt chú ý đến “con người bất thường” Bùi Giáng ở tốc độ viết sách, tình yêu dành cho nàng Kiều, cho loài vật; khai thác sự ảnh hưởng của Nguyễn Du và Heidegger đối với thơ của thi nhân…
Đề tài tình yêu trong thơ Bùi Giáng một lần nữa trở lại Nhiều tác giả thời kỳ này đã bàn về sức ám ảnh tình yêu đối với người nữ, người vợ cũ trong kí ức lẫn trong thơ Bùi Giáng Vũ Hoàng Thư khen ngợi Bùi Giáng
“là một thi sĩ ngợi ca tình yêu lãng mạn” [99], Vũ Đức Sao Biển khẳng định “Bùi Giáng khởi đầu sự nghiệp thi ca của mình với những tập thơ tình, những bài thơ tình nồng nàn, say đắm” … Bên cạnh đó, nhiều tác
giả còn đề cập đến tình yêu dành cho quê hương xứ sở của thi nhân Về hình thức nghệ thuật, nhiều tác giả tập trung tứ thơ, giọng điệu thơ độc đáo, đồng thời thêm một lần nữa khẳng định sự đặc sắc trong ngôn ngữ
Trang 12
thơ, khả năng sử dụng ngôn ngữ đời thường và thể thơ lục bát – thể thơ truyền thống được “thổi hồn vào đó hồn thơ của riêng ông” Đồng thời có tác giả cũng chỉ ra một trong những hạn chế trong thơ Bùi Giáng là sự lặp lại chính mình ngay cả trong thơ, khiến cho nhiều hình ảnh đẹp dùng nhiều lần trở nên sáo …
Viết về Bùi Giáng giai đoạn này, Bùi Công Thuấn là người đưa ra khá nhiều chính kiến khá thú vị Tác giả này đã lý giải trạng thái “điên”
của Bùi Giáng là “một thái độ sống có ý thức”, “một thái độ chọn lựa hiện sinh” và khẳng định thơ Bùi Giáng là “thơ tư tưởng, tôn vinh những người phụ nữ là mẫu thân, là nỗi đau kiếp nhân sinh”, “thơ Bùi Giáng tài hoa ở câu chữ, những câu chứa đầy bí mật…” Tác giả này cho rằng giá trị thơ Bùi Giáng nằm ở sự thay đổi các kiểu tư duy đột ngột “từ tư duy hình tượng sang tư duy cụ thể, rồi lại chuyển sang tư duy triết học Tư tưởng là tư tưởng của kinh Kim Cang, kinh Hoa Nghiêm, tư tưởng Thiền,
tư tưởng Nguyễn Du – Bùi Giáng mượn tư tưởng ấy để thể hiện hồn mình ” và thiên nhiên trong thơ là “thiên nhiên khái niệm, mang tính trí tuệ, tính tư tưởng cao của thơ Đường, mang cái nhìn Hoa Nghiêm, màu sắc Kiều của Nguyễn Du…” [98]…
Tóm lại, bắt đầu từ những tác phẩm đầu tay đến những trang bản thảo cuối cùng còn dang dở, Bùi Giáng đã tạo ra một thế giới thơ ca độc đáo, khác biệt, thậm chí là khác người của riêng mình Người ta xem ông
là một “hiện tượng thơ”, một “hiện tượng kì dị” cả trong thơ lẫn đời thường Ông và thơ ông như thanh nam châm, duy có điều đó là thứ nam châm không phải hút được tất cả kim loại, nó chỉ có sức hút và hút một cách mãnh liệt với những người thực sự yêu và tìm thấy trong thơ ông những giá trị Và dù khen hay chê, người ta vẫn không thể phủ nhận một điều rằng, Bùi Giáng - thơ và người thơ là cả một dấu hỏi lớn cần được khám phá Sự khám phá, lý giải, nhận xét của các nhà nghiên cứu, phê bình, của bạn đọc yêu thơ trước, sau năm 1975 và cả khi Bùi Giáng mất đến nay đều hướng đến làm rõ và nêu bật các giá trị nội dung, nghệ thuật
Trang 13
trong thơ; đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của thơ Bùi Giáng ở cả 2 phương diện ấy Về nội dung: nổi bật nhất vẫn là tình yêu với người nữ, quê nhà, trần gian, sự kết hợp nhiều tư tưởng và triết lý sống của nhà thơ
Về nghệ thuật: độc đáo nhất là sự sáng tạo trong thể thơ lục bát và cách
sử dụng ngôn từ Một số hạn chế, như: sự lặp lại, nhiều ẩn ngữ, tư tưởng phức tạp… Viết về ông không chỉ có các nhà phê bình trong nước mà còn nhiều cây bút hải ngoại mang tư tưởng chính trị phản động, có cái nhìn thiếu khách quan, suy diễn Do vậy, khi tìm hiểu về Bùi Giáng ta có thể bắt gặp những ý kiến nhiều khi trái chiều Điều này đòi hỏi cái nhìn và sự đánh giá khách quan của bạn đọc sáng suốt, căn cứ trên tác phẩm và tôn trọng tác phẩm
Còn với riêng Bùi Giáng, cái “tâm nguyện bình sinh” của ông gửi
đến người đọc vẫn là “Mong mỏi một điều duy nhất: đừng bao giờ bạn đọc bận tâm về bất cứ lời bàn bạc nào thật hay giả của bất cứ “bạn hữu” nào đó xưa nay của tôi ở Việt Nam hay ở hải ngoại” (Bùi Giáng, 2008, Rớt hột phiêu bồng – Di cảo thơ VI, NXB Văn nghệ)
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu Khoa học xã hội như:
+ phương pháp phân tích, tổng hợp đối với các bài thơ cụ thể, được
sử dụng làm dẫn chứng nhằm làm sáng rõ các luận điểm được khái quát + phương pháp thống kê, so sánh để có được các kết luận chính xác
về giá trị và hạn chế của thơ ca Bùi Giáng,
+ phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội để làm sáng rõ ảnh hưởng của các luồng tư tưởng xã hôi trong thơ Bùi Giáng
Trang 14
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, chúng tôi còn kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp loại hình, phương pháp nghiên cứu văn hoá…
5 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về Tư duy nghệ thuật và Quan niệm thơ
của Bùi Giáng
Chương 2: Nhân vật trữ tình trong thơ Bùi Giáng
Chương 3: Biểu tượng và ngôn ngữ thơ Bùi Giáng
Trang 15
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Một số vấn đề về Tư duy nghệ thuật và Quan niệm thơ của Bùi Giáng
Nói đến tư duy là nói đến ngôn ngữ Bởi ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là cái vỏ vật chất của tư tưởng Tuy nhiên, nếu không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ánh có tính bản năng trước hiện thực Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những tiếng kêu bập bẹ của đứa trẻ sơ sinh Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo Đến lượt mình, ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu được vào bản chất của sự vật
Người ta đã đưa ra nhiều cách để phân loại tư duy, một trong số đó
là căn cứ vào các tập hợp của hình thái ý thức xã hội Theo con đường của các hình thái ý thức xã hội thì tư duy được chia thành 3 nhóm lớn, bao gồm: tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật và tư duy tôn giáo Trong tư duy nghệ thuật thì tư duy thơ ca có ảnh hưởng chi phối và phổ biến hơn
cả
Trang 16
1.1.2 Về khái niệm tư duy nghệ thuật, Từ điển thuật ngữ văn học
định nghĩa như sau: “Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật” Bản chất
của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định Sự chuyên môn hoá lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó
Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hoá hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ Phương tiện của
nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được Cơ sở của nó là tình cảm Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể có), có thể cảm thấy theo xác suất, khả năng và tất yếu Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tính chất phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt Bằng trí tưởng tượng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng tỏ các bộ phận còn bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng chưa biết” tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua những dấu hiện phát sinh đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra Nhờ các đặc điểm này mà tư duy nghệ thuật có thể khắc phục sự hạn hẹp của tư duy lý thuyết, nắm bắt được các khía cạnh bị lối tư duy ấy bỏ qua
Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó Ngôn ngữ đó là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện Nó có mã nghệ thuật, tức là hệ thống năng động gồm các quy tắc sử dụng kí hiệu để giữ gìn, tổ chức và truyền đạt thông tin Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là
lí tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hoá các kết quả nhận thức Đặc điểm của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn dụ Trên cơ sở của tư duy nghệ thuật người ta tạo ra
Trang 17
các tư tưởng và quan niệm nghệ thuật, lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật Dạng tư duy này chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng biết cảm nhận một cách nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, nắm bắt tinh thần thời đại, dự báo tương lai và tài năng sáng tạo nghệ thuật [12; 381-382]
Từ góc độ triết học và văn học, trong tác phẩm “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam”, PGS.TS Nguyễn Bá Thành đã đưa ra các
kiến giải về tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng Tác giả
cho rằng: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hoá hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo”.[55;36]
Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú nhờ khả năng biểu hiện của ngôn ngữ thơ phong phú và đa dạng Mặt khác, phương tiện ngôn ngữ của tư duy thơ là một phương tiện giao tiếp có tính
xã hội hoá cao độ Vì vậy thơ có thể biểu hiện được nhiều tâm trạng, nhiều dạng cảm xúc, nhiều nội dung cụ thể và trực tiếp Biểu tượng thi ca vừa mang tính chất biểu tượng thính giác, vừa mang tính chất biểu tượng
thị giác, nghĩa là trong thơ vừa có nhạc, vừa có hoạ Cho nên “Tư duy thơ
là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ” Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là là sự thể
hiện cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện của cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ Tuy nhiên, do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định… Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại Về mặt nội dung nhận thức, có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động
Trang 181.2 Quan niệm thơ của Bùi Giáng
1.2.1/ Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại làng Vĩnh Trinh, xã Thanh Châu (nay là Duy Châu) huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Mảnh đất vùng duyên hải nam Trung bộ đầy nắng gió in đậm trong tâm trí, kí ức nhà thơ
và đã không ít lần Bùi Giáng nhắc đến: “Hồi nhỏ tôi được sinh ra và lớn lên trong miền quê hẻo lánh Chung quanh có ruộng đồng, sông núi trùng điệp, những đám cỏ chạy suốt tuổi thơ Làng tôi xưa kia có nhiều cỏ mọc,
cỏ mọc từ trong làng ra ngoài ruộng, tới những cồn, gò, đồi núi thật xanh” [83] Bùi Giáng vừa là tên thật, vừa là bút danh của ông trong đa số các tác phẩm Ngoài ra thi sĩ này còn một số bút danh khá đặc biệt, cũng rất thơ như Trung niên thi sĩ, Thi sĩ buổi hoàng hôn, Bùi Giàng Dúi, Người chăn trâu, Đười Ươi thi sĩ, Bùi Giáng Búi… Ông từng là học trò của thầy Lê Trí Viễn ở tại trường Bảo An (1936), đến năm 1939 ông học trường Thuận Hóa với các Giáo sư Cao Xuân Huy, Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Nguyễn Đức Nguyên… và nhiều người trong số họ đã cho rằng Bùi Giáng là “học sinh độc đáo và văn chương sâu sắc” Bùi Giáng lập gia đình năm 1945, ba năm sau vợ ông qua đời Nhiều người cho rằng sự mất mát bất ngờ này đã mãi ám ảnh Bùi Giáng và ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác của ông, đặc biệt là thơ Có một thời gian Bùi Giáng nhập ngũ, trở thành bộ đội công binh, chiến đấu ở chiến trường Quảng Nam (khoảng từ năm 1949 đến 1952) Sau khi xuất ngũ ông vào Sài Gòn bắt đầu mày mò tự học tiếng nước ngoài, soạn “sách giáo khoa” và dạy học Bắt đầu thời kỳ Đệ nhất cộng hoà (Ngô Đình Diệm, 1954 - 1963) các hoạt động văn hoá, văn nghệ trở nên sôi nổi, Bùi Giáng cũng có thơ gửi đăng
Trang 19
báo Không lâu sau Bùi Giáng nghỉ dạy để chuyên tâm vào làm thơ, nghiên cứu và dịch thuật Năm 1969 căn gác gỗ trong hẽm đường Phan Thanh Giản, nơi Bùi Giáng sống và làm việc bị cháy rụi, mang theo nhiều sách, tài liệu và bản thảo dở dang Sự việc này kèm theo những hiểu lầm trong gia đình và nhiều biến cố xã hội trước đó đã tác động mạnh đến tâm
lý Bùi Giáng khiến ông “nổi cơn điên” Bùi Giáng được đưa đến nhà thương điên Biên Hoà Rời viện, Bùi Giáng bắt đầu “cuộc sống lang
thang”, không biết bao lần ngủ gầm cầu xó chợ, ăn bất cứ thứ gì người ta cho, khoác lên người đủ thứ y phục bất kể lành, rách, sạch, bẩn và “trang điểm” cho chúng bằng các phụ kiện lỉnh kỉnh những xoong chảo, dép, vỏ lon… Nhưng, trái ngược với hành trạng dị biệt ấy, người đọc ngày càng biết đến Bùi Giáng bởi số lượng tác phẩm ông sáng tác ngày càng nhiều, cũng như yêu mến ông - con người hồn nhiên, trí tuệ, bất thường và miệt mài lao động
Từ khi bị bệnh ông sống trong khu nội xá Đại học Vạn Hạnh và Bùi Giáng không ở cố định tại đây mà đi khắp nơi Một người gần gũi với ông
kể lại rằng một lần gặp Bùi Giáng ngoài đường liền hỏi “Nhà thương Biên Hoà trị cái tẩu hoả hay nhỉ?” ông trả lời “Chữa trị quái gì đâu Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình nhiều Do vậy mà mình tự động thôi điên” [theo Trần Đình Thu] Đến năm 1977,
bệnh Bùi Giáng nặng hơn, ông được chuyển vào Biên Hoà Bác sĩ ghi
nhận “Bùi Giáng định hướng lực (không gian, thờ gian, bản thân) tạm đúng, bị ảo thanh và ảo thị rõ rệt, tư duy phi tán, hoang tưởng tự cao, thiếu hoà hợp, lúc tỉnh táo lại ý thức được bệnh của mình ” [47] Sự “trái
chiều” giữa lời Bùi Giáng tự nhận xét về mình với nhận định của bác sĩ phần nào lý giải được sự trái chiều giữa các nhà nghiên cứu khi lý giải
“hiện tượng Bùi Giáng” cũng như trả lời câu hỏi “Bùi Giáng có điên
Trang 20nhàng như một câu ông vẫn thường nói “vui thôi mà”
Sinh thời, Bùi Giáng đã tóm tắt tiểu sử đời mình chỉ bằng một câu:
“Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ và chết đi giữa cỏ cây ly
kỳ gay cấn”!
Bùi Giáng để lại một khối lượng sáng tác khá lớn với gần 60 đầu sách thuộc nhiều thể loại, gồm: 15 tác phẩm dịch (xuất bản trước năm 1975), ông dịch các sáng tác của A.Camus, A.Gide, A.Saint Exupéry…; khoảng 20 tác phẩm khảo luận, nghiên cứu, phê bình về các tác giả văn học trong nhà trường như Tản Đà, Bà Huyện Thanh Quan…về triết học
và thơ ca; khoảng 20 tập thơ trong đó có 9 tập xuất bản trước năm 1975 (Mưa nguồn (1962), Ngàn thu rớt hột (1963), Lá hoa cồn (1963), Màu hoa trên ngàn (1963), Sa mạc trường ca (1963), Sa mạc phát tiết (1969), Mùa thu thi ca (1970), Bài ca quần đảo (1973), Thơ Bùi Giáng (1973)),
số còn lại xuất bản sau năm 1975, đặc biệt nhà thơ này có 6 tập di cảo thơ
đã được tập hợp và xuất bản trong thời gian từ năm 2005 đến 2008 (Mười hai con mắt, Thơ vô tận vui, Tuyết băng vô tận xứ, Mùa màng tháng tư, Thơ vịnh hoạ, Rớt hột phiêu bồng)
Bùi Giáng sống giữa thời kỳ đất nước có nhiều biến động nhất, cùng với những biến cố xảy ra trong cuộc sống cá nhân đã tác động mạnh mẽ đến con người, hành động và nhất là tâm lý nhà thơ Thế nhưng, sự “định hướng” trong văn hoá văn nghệ đương thời dường như lại không chi phối mạnh mẽ đến thơ ông Đọc thơ của Trung niên thi sĩ người ta có cảm giác như Bùi Giáng đã “bơi” riêng mình một “dòng thơ” Điều này được thể
Trang 21Với Bùi Giáng, làm thơ cốt chỉ để “vui thôi mà”, cho nên thơ ca với
ông là một cuộc chơi và người làm thơ phải là người “chịu chơi” Ông tự
nhận rằng “Thơ văn tôi làm cũng có lố bịch, nhưng lố bịch một cách thơ dại, khiến người đọc vui vẻ trường thọ Khoảng mười một năm nữa, sẽ chẳng còn ai đọc văn Nietzsche Trái lại, thơ văn của tôi người ta sẽ thiết tha đọc ríu rít “ràng rịt mãi cho tới ngày tận thế(!!!)”
Giọt mờ bến cát chia xa
Hiên thềm đau cỏ gú ra đau hồng
Tường vi hai độ ra bông
Ra hoàng hậu đợi ra đồng chiều nay
Nghiêng mình mục tử cầm tay
Ra hoàng hậu đợi chiều nay ra đồng
Lố bịch như thế khiến cõi đời thơ mộng ra Chúng ta không còn ngạc nhiên gì nữa nếu thấy bao nhiêu hoàng hậu trong sử xanh đều yêu mến Bùi Giáng và xa lánh Nietzsche, xa lánh Lão Tử, xa lánh những ông thiền sư” (Ngày tháng ngao du, tr 73) Thơ ông làm là thứ thơ “lố bịch” nhưng
có hề gì nếu nó khiến người ta “vui vẻ trường thọ”! Có thể có người sẽ nghĩ rằng thi sĩ này ngớ ngẩn? Bùi Giáng đáp rằng “Quả là thi sĩ có ngớ ngẩn nhưng ngớ ngẩn xum xuê với lá cỏ lá cây, lá lau lá lách, cũng như sẵn sàng tịch hạp ẩn tàng phơi mở với la de, rượu đế, tàu bay tàu thủy, tàu lặn tàu ngầm Nghĩa là: nó ngơ ngẩn chan hoà trên mọi mặt biển dâu – và nó ghì thân ở lại vô thường để chịu chơi gay cấn hơn là đáo bỉ ngạn (bà là mật kim cương) – và cũng chính vì thế nó thể hội viên dung ba la mật hơn mấy ông trụ trì thượng toạ nữa là khác Nó chỉ chìm đắm trầm luân, mới thể nghiệm sao gọi là chơi vơi phiêu nhiên giải thoát” (Mùa
Trang 22
thể coi là sự “thể nghiệm” như vậy :
“Cánh chim bay nhạt bóng hình
Êm đềm chiều toả quang minh ánh vàng
Bụi hồng đã vắng ngổn ngang
Thơ còn vương ngát đã vàng diệu linh
Chiều bồng trong cõi mông mênh
Giữa dòng tan hợp làm thinh cho rồi
Hoàng hôn khói toả muôn nơi
Cũng chính vì cái “ngớ ngẩn xum xuê”, “ngớ ngẩn chan hoà” ấy mà thi sĩ này mới càng khác “kiểu”, khác người, mới hoá thân thành chuồn
chuồn mà tự nhận “Làm thơ hay hơn ông Nguyễn Du, ấy là con chuồn chuồn Làm thơ dở hơn ông Nguyễn Du, ấy là con chuồn chuồn Chẳng còn biết sao gọi là hay, sao gọi là dở, ấy là con chuồn chuồn Dở tức là hay, hay tức là dở, ấy là con chuồn chuồn…” (Ngày tháng ngao du, tr79)
Bởi thế nên con người ấy hình dung không ít lần bê bối:
“Lão già say rượu nói nhăng
Làm thơ lẩm cẩm gia tăng tâm tình
Máu tim chia sẻ thân hình
Nửa dâng Thần Rượu nửa trình Nàng Thơ”
Với Bùi Giáng, làm thơ cũng là một cách “dìu ba đào về chân trời khác”: “…Mọi làn sóng bành bái trong mấy cuốn thơ của tôi chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác Đi vào giữa trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm hoạ trần gian mang trên hai cánh mỏng bay đi Bay về Tử Trúc Lâm, bay về sương Hy Lạp, ghé Clavaire viếng thăm một vong hồn bát ngát, rồi quay trở về đồng ruộng
Trang 23
làm mục tử chăn trâu Làm mục tử không xong bỏ trâu bò chạy lạc, phá
con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn bao dong phương trượng Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao:
vụ mục đích cụ thể, hợp với luân lý, luân thường nào đó ở đời Ông
khẳng định, nếu “cứ mưu toan luận lý hoài thì còn chi là cái tình mộng? Thà chìm đắm tơi bời trong si mê còn hơn là dửng dưng sáng suốt để linh hồn khô cỗi điêu linh” (Tư tưởng hiện đại, tr28) Cho nên rất dễ bắt gặp
trong thơ ông những hình ảnh mộng mị, những cơn mê liên hồi Riêng tập
thơ “Mười hai con mắt” đã có tới 25 bài lấy tiêu đề “Chuyện chiêm bao”:
“Ngủ yên bên lá cỏ chiều
Giữa trời thu mỏng gió dìu mây trôi
Ngủ yên bên suối bên đồi
Bên rừng thu tạnh bên người xót xa
Cát lầm ngọc trắng ố hoa
Bên đời thổn thức thiết tha bên người
Ngủ yên cây cỏ ngậm ngùi
Một giờ yên ngủ lấp vùi trăm năm
Tỉnh ra tìm lại chỗ nằm
Chốn xa xôi ấy đêm rằm trăng soi”
Trang 24
Từ quan niệm ấy Bùi Giáng cho rằng: “Mỗi người hãy tự mình tìm trở lại chân lý cho đời mình, gột rửa những mớ hệ thống lý luận đã có sẵn để nhận chân thực tại của đời sống và nội tâm Đừng quá ham mê biện luận mà trở thành mù quáng…Một mực chấp kinh thì không còn thấy nỗi đời hồng nhan lận đận” (Tư tưởng hiện đại, tr32) Điều thi sĩ
quan tâm trước nhất không phải là đúng – sai mà là tình mộng – tâm hồn Thiếu những yếu tố ấy, thơ chỉ còn là một mớ chết cứng những con chữ được đặt cạnh nhau:
“Buồn phố thị cũng xa bay như gió
Cộ xe nhiều cũng nhảy bỗng như hươu
Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó
Bến đào nguyên anh khoác áo khinh cừu
Thế là bỗng dưng anh thành thi sĩ làm thơ từ sáng đến chiều Nguyện rằng: giờ nào cũng là giờ của thơ, của nhạc; mùa nào cũng là mùa vĩnh viễn của xuân, sóng nào cũng là sóng phơi trường mộng, bể nào cũng là bể vàng kim hải, trang đời nào cũng là “trang hồng phố Hội
ra hoa, trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai…” (Rong rêu)
1.2.2.2/ Thơ là cảm xúc
Đi qua ngày tháng ngao du để “nhặt nhạnh” và lắp ghép những câu chuyện không một chút ăn nhập hay dây mơ rễ má với nhau, nhưng có vẻ
như Bùi Giáng vẫn đủ “tỉnh táo” để đặt câu hỏi “Thi ca là gì?” Chỉ có
điều, câu trả lời của ông dường như chưa đúng trọng tâm cho lắm hay do người đọc chưa đủ khả năng để lĩnh hội điều ông đang bàn đến? Tuy nhiên, nếu tạm gạt sang một bên những câu chữ khó hiểu và lối lập luận
“không giống ai” của thi sĩ thì ít nhiều chúng ta vẫn kịp nhận ra điều ông
muốn nói, rằng: “Bao nhiêu những luận bàn bác học, bao nhiêu những lối
hồ đồ phân định trường phái cho thi ca, thảy thảy đều là những trò ma quái, hoặc là những lối phỉnh gạt trẻ con? Muốn luận bàn góp ý gì cũng được, nhưng điều nên suy nghĩ trước tiên là: tại sao tất cả những bài thơ của những ông thiền sư làm ra đều không phải là thơ? Và tại sao
Trang 25
những lời lem luốc nhất của Nguyễn Du vẫn nằm trong một cảnh giới bát ngát hơn mọi cõi thiền cõi thánh? ” Có thể nhận thấy Bùi Giáng đặc
biệt coi trọng cảm xúc trong thơ hay với ông thơ phải là cảm xúc?!
Bùi Giáng sớm có “tình cảm đặc biệt” với “Đoạn trường tân thanh” nên không có gì ngạc nhiên khi thi sĩ này thường lấy Nguyễn Du và thơ của Đại thi hào dân tộc ra làm chuẩn mực Trong “Bài tựa thứ nhất” của
“Tư tưởng hiện đại” Bùi Giáng đã viết thế này:
“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
Trong văn học sử cổ kim không có vần thơ nào mênh mông như hai câu thơ đơn giản lơ mơ đó của Nguyễn Du Nếu chịu nghe rõ lời và tiếng của thơ, thì ta phải nhìn nhận rằng hai câu lục bát Việt Nam kia quả là mạch nước ngầm chảy suốt cả cõi bờ triết học heidegger…Hai câu thơ bình thản đi tới, bao phủ mọi câu hỏi tồn thể và thời gian, về hư vô và vĩnh viễn…” Đẹp mênh mông và lơ mơ cũng chính là cái đẹp tự trong
cảm xúc, cảm nhận của Bùi Giáng về hai câu Kiều Bên cạnh đó, điều khiến ông quan tâm nữa là ngôn ngữ thơ – thứ ngôn ngữ mà muốn sử
dụng được cũng cần có “bí quyết: “Cái bí quyết của thi tài sáng tạo cũng như thi tài dịch thuật là: tạo nên một vùng sương bóng cho ngôn ngữ Sương bóng đó có thể bắt gặp bóng sương Hy Lạp hay Đường Thi, hay Tây Trúc – không hề gì Không hề gì Miễn là nó mở ra một chân trời cho chiêm bao chịu chơi”! (Mùa Xuân trong thi ca ) Một thứ “chiêm bao
chịu chơi” không bến bờ, không giới hạn được thi sĩ tô thêm sắc màu Lưu trai:
“Du dương bờ cõi một miền
Tứ chi mình mẩy cỏ triền miên phơi
Thiên thu lời tạ bên lời
Hư vô hữu thể bên đời ngủ yên
Trang hồng hạnh gió đưa nghiêng
Tàn canh vẽ bóng sơn tuyền đã sai
Trang 26
Xuân xanh xô cổng chạy dài
Bỏ sương tuyết phủ phượng đài phía sau
…
Phiền sương xuy ảnh phiêu bồng
Sầu song thuý dựng điệp trùng trắng mây…”
(Không bờ - Mưa nguồn)
Thơ ca trước hết phải là nó, cũng như “ngôn ngữ thi ca là của riêng thi ca” Bùi Giáng đã khẳng định dứt khoát quan điểm của mình về ngôn ngữ thơ: “…Người ta quên mất rằng ngôn ngữ thi ca là của riêng thi ca Chúng không có liên can chi tới cái ngôn ngữ máy móc Chúng nằm trong cái mạch sinh động tuôn trào như một làn phi tuyền từ lòng đất
người đối diện với cõi thế lưu ly Nó quên bẵng mọi thứ nhân tuần cập kê trong xã hội ganh đua Vì thế nó khai trừ cái “kí ức” lếu láo, cái “kinh
ngát trong những cuộc lữ dị thường “Trải qua một cuộc biển dâu… ”
[20;133] Xin đừng hỏi “cái kí ức mênh mông, cái kinh nghiệm bát ngát ”
ấy của Bùi Giáng là gì Ông không giải thích và chúng tôi, bằng vốn
“kinh nghiệm” và sự hiểu biết khá hạn hẹp về con người thơ này cũng khó tìm ra lời giải đáp Chỉ những điều ông nói trong thơ mới hi vọng cho
ta hiểu chút gì đó gọi là Chẳng hạn khi ông ca ngợi cái vẻ đẹp lãng đãng sương khói của người thiếu nữ:
“Màu trôi loãng chiều hôm nay hôm qua buổi sáng buổi sương bởi không gian về như về giữa chiêm bao triền miên như gió Em thơm màu hồng ngọc phương hà mây mờ thung lũng sóng Thu Bồn về chảy ở Duy Xuyên có vòm cây nghiêng lá Xanh hay vàng hay tím nhạt em quên Vì
em chưa muốn nhớ trong một lúc gió lá tưng bừng không nhớ cũng không quên
…
Trang 27
Anh chạy qua ghé khắp Âu châu mấy mươi miền lục địa nghe ngàn con sông vỗ dưới sóng chân cầu có người thiếu nữ đứng nghe anh kể rằng riêng em thơm mùa cây lá ướt hỏi người thiếu nữ nầy có nghe thấy
em thơm, Lục địa Âu châu ngừng binh đao nghe sông biển vỗ sóng bảo người thiếu nữ bước theo anh… ”
nguồn)
Hoặc trong khói biếc của chiều hôm, người ta thấy thi sĩ đang nhặt nhạnh những nỗi sầu rơi rớt:
“Khói giăng mờ trắng biển xa
Thuyền sương khua nhẹ ánh tà dương bay
Nhánh sầu năm cũ lắt lay
Chút buồn vương nhạt ngày dài cho hoa
Khói mù giăng khuất ngày qua
Cho ngàn xưa lạnh cho ta nhớ người”
1.2.2.3/ Sáng tạo một cách ngẫu hứng
Bùi Giáng có lối “luận bàn” về người sáng tạo khá thú vị Ông cho
rằng: “Phàm bọn nào là thi sĩ mà dấn thân vào cuộc biên khảo chịu chơi, thì cũng tỷ như việc đốn củi, đẵn cây vậy
Thằng thy sỹ ở trong một cõi tư tưởng riêng biệt, nó quen thuộc lối
đi nẻo về trong những rừng thiêng sơ thuỷ, nên nó biết rõ khu vực nào có
gỗ non, gỗ già, gỗ mun, gỗ gụ, gỗ kiền kiền Và từ đó mà đi?
Từ đó, nó thường chịu chơi gác bỏ bớt cuộc sáng tạo của riêng nó,
để hì hục khai phá gai góc um tùm, dọn lối tới những khu vực gỗ gụ, gỗ kiền kiền Thỉnh thoảng nó cũng đốn gỗ, hạ cây xuống sẵn để nằm yên đó Rồi nó thấy mỏi rụi máu me, bèn ngâm thơ khoẻ khắn đường hô hấp Và
nó vác rìu búa về nằm ngủ ở trong cái hang hốc đìu hiu của nó
Từ đó về sau những người thợ ở phồn hoa đô hội sẽ có dịp lên rừng, gặp cơ hội tươm tất, thì tha hồ tới đẽo gọt gỗ gụ, gỗ mun, cưa ra từng
Trang 28
mảng gọn gàng, vác lên lưng, chạy về phồn hoa hò hét tưng bừng bảo rằng ta là kẻ đầu tiên khám phá, kẻ duy nhất kiến trúc sư tài bồi tạo hoá, phôi dựng nên lớp lớp gỗ kiền kiền lãng đãng, gỗ gụ, gỗ mun bát ngát lư hương vừa ngún chiên đàn
Và cũng từ đó mà nảy ra cuộc âm u vây hãm cái hang hốc đìu hiu của thằng thi sĩ bốc khói mưa nguồn từ một thuở ban sơ
Sáng tạo là một cuộc chơi không phải chỉ giới hạn ở không gian quen thuộc Đôi khi thi sĩ cũng phải dời “cõi tư tưởng riêng biệt”, gác bỏ bớt “cuộc sáng tạo” của riêng mình để dấn thân “chịu chơi” vào rừng thiêng nhằm khai phá gai góc, dọn đường tới khu vực có thứ gỗ quý đang nằm ẩn sâu, khuất lấp
Sáng tạo không thể đồng hành cùng sự bắt chước Khám phá phải là quá trình đầy thử thách, khó khăn mới có thành quả như mong muốn, nếu không sẽ chẳng bao giờ tìm đến bản chất của đối tượng được khám phá cũng như không thể tìm được chân giá trị đích thực của nghệ thuật và cái đẹp
Đó phải chăng là điều Bùi Giáng muốn nhắc nhở chính mình và bạn văn?
Sự không bình thường trong suy nghĩ, hành động của Bùi Giáng mà người đời gọi là “điên” – một Bùi Giáng điên điên, khùng khùng - hình như không có quan hệ họ hàng với một Bùi Giáng hết sức nghiêm túc trong sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên, nghiêm túc nhưng nhà thơ này vẫn
luôn coi trọng sự ngẫu hứng: “Đã là con người quay chong chóng trên
Trang 29giờ tôi không còn sống Tôi sống trong cơn dại cơn điên Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống Tôi lạy cả miền không gian đừng có bắt tôi chết thêm một trận thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật…Người yêu đừng bén mảng tới Bạn bè hãy đi xa Để tôi một mình tha hồ tôi điên tôi dại Ai có đến gần thì hãy thử điên dại như tôi ” [20; 89] Quan niệm
ấy còn xuất phát từ một lý do khác: từ bản chất của thơ Bùi Giáng cho
rằng: “Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch diễn gì được Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng thơ Thì có lẽ muốn diễn
tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, hoặc một cơn gió thu Mà muốn thực hiện sự đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác Thế có nghĩa là: muốn bàn tới một bài thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài thơ khác
Người xưa am hiểu điều đó nên họ chỉ vịnh thơ, chớ không bao giờ điên rồ gì mà luận bàn về thơ Người đời này trái lại Họ buộc phải luận thơ cho có mạch lạc luận lý, không được “bốc đồng” (!) vịnh lăng nhăng Cái chỗ ngu sy đó là điều bất khả tư nghị vậy
Sự ngu sy đã tràn lan khắp chốn, thì kẻ hiểu thơ đành phải tuân theo khắp chốn để mở trận ngu sy
Trang 30
Từ đó nảy ra bao nhiêu trận luận về thơ theo lối bổ củi, dịch thơ theo lối gặm xương gà (gặm được chút da, nhưng không hút được cái tuỷ)
Muốn hút được chất tuỷ đành phải liều nhắm mắt cắn mạnh một cái Cắn mạnh một cái, thì gãy mất hai cái răng Thì còn bù vào đâu mà hút tuỷ được nữa Kể đà thiểu não lòng người bấy nay.” [20;149]
Bùi Giáng nói là nói vậy, theo quan điểm của ông Còn người đọc, chúng ta không thể biểu hiện thái độ yêu, ghét, khen, chê – mà điều này, trong một chừng mực nào đó, là hết sức cần thiết nếu muốn tìm được giá trị đích thực của thơ ca ẩn sau ngôn ngữ - nếu ta không hiểu chút gì về tác phẩm Vả lại, khi đọc những dòng trên của thi sĩ họ Bùi, chúng tôi không khỏi không thắc mắc Phải chăng đó cũng là cách để Bùi Giáng “biện luận” cho những bài thơ khó hiểu, rắc rối, đầy những ẩn ngữ rối rắm của mình? Hay thi sĩ cố tình làm mình làm mẩy với người đọc đương thời lẫn hậu thế để thơ ông mãi là một cõi bịt bùng, khó hiểu như con người ông vốn không một ai có thể hiểu tường tận? Điều này chỉ là giả thiết của chúng tôi, còn câu trả lời có lẽ chỉ ông là rõ hơn ai hết
Bảo vệ quan điểm của mình thế nhưng Bùi Giáng không hẳn là người khó tính, cứng nhắc Ông đã mở ra cho người đọc một lối nhỏ để
bước vào thế giới nghệ thuật rộng rinh vốn được ông hứng khởi xây chỗ
nọ, đắp chỗ kia mỗi khi Nàng Thơ tràn về khiến ông quay cuồng và thơ
cứ thế tuôn trào như không phải thi sĩ đang sáng tạo mà chỉ là đang viết
lại theo ý đã được nàng chiếu cố mà thành: “Đừng theo phương pháp hoặc pháp phương gì cả Cứ triền miên đọc thơ như hít không khí – Lúc
hô hấp ta đâu có bận tâm tìm hiểu không khí là gì, hít vào là gì, phổi tim
là gì Thì tại sao đọc thơ, lại ru rú bo bo phải hiểu ngay cho rành mạch? Cái lối cưỡng cơn ép buộc đó, vô hình chung đã phá vỡ không biết bao nhiêu linh hồn bát ngát Cái loại sách học làm người hoặc luyện thi đã giết chết không biết bao nhiêu bé con đi học và con bé người tiêu dao du
Trang 31
” (Mùa xuân trong thi ca, tr22) Hãy “đi vão cõi thơ theo lối ngẫu nhiên tao ngộ Cơ duyên sẽ dun dủi… Chẳng nên gò ép cưỡng cầu” [20;79]
“Phương pháp” của Bùi Giáng là không theo một phương pháp nào
cả Hãy mở rộng tâm hồn cảm nhận và để mặc cho thơ dẫn dắt ta đi Nêu lên quan niệm ấy dường như Bùi Giáng đang muốn lên án lối “cảm”,
“bình” áp đặt, cưỡng ép, buộc thơ phải khoác lên mình nhiều tấm áo màu
mè không phù hợp, khiến nó không còn là nó và vô hình chung phá vỡ trong nó bao nhiêu “linh hồn bát ngát”
cao của tư duy hướng nội Tư tưởng quán xuyến của Bùi Giáng về thơ là
“vui thôi mà” - cuộc vui không giới hạn và đi bên ngoài khuôn khổ cổ lẫn
kim để phục vụ và cũng là thoả mãn duy nhất nhu cầu của chủ thể chịu chơi Làm thơ, với Bùi Giáng là cách “dìu ba đào về chân trời khác”, một chân trời đầy chiêm bao mộng mị, ở đó thi sĩ thoải mái khóc cười, thoải mái chạy nhảy và thơ, với những vần bất tuyệt nhất cũng về trong thế giới mộng mị, hư thực ấy Thơ Bùi Giáng không luận lý như con người nhà thơ vốn không ưa gì mớ hệ thống luận lý, bởi chính nó là nguyên nhân khiến cái tình mộng bị tiêu biến mất, thậm chí người ta có thể trở nên mù quáng nếu quá ham mê biện luận Dù là những sáng tác trước hay sau năm 1975, trong thơ Bùi Giáng rất ít khi bắt gặp “dấu ấn” thể hiện sự định hướng đầy màu sắc chính trị đối với văn học nghệ thuật - vốn được
sử dụng như công cụ tuyên truyền đắc lực, phục vụ các mục đích khác, ngoài nghệ thuật Bùi Giáng thoát ra ngoài cái “vòng kim cô” ấy một phần cũng bởi chứng bệnh “điên” trong ông thường xuyên tái phát, khiến
người ta khó có thể nhìn thi sĩ lẫn thơ ông bằng con mắt “bình thường”
Trang 32
Với Bùi Giáng, tài năng của người sáng tạo thể hiện rõ nhất ở cách
sử dụng ngôn ngữ Bí quyết ấy nằm ở khả năng tạo cho ngôn ngữ một vùng “sương bóng”, để ngôn ngữ thi ca phải là “của riêng thi ca”, nó không có quan hệ thúc bá gì với thứ “ngôn ngữ máy móc” của xã hội ganh đua
Thi tài sáng tạo cũng là người biết tạm dời bỏ cái thế giới quen thuộc
để dấn thân khai phá cái mới mẻ Nếu không có cuộc dấn thân thực sự ấy thì những người thợ làm thơ chốn phồn hoa sẽ chẳng bao giờ nắm bắt hết được cái tinh thể còn ẩn tàng trong những gỗ gụ, gỗ mun của rừng thiêng
Thông thường thì, mỗi nhà thơ khi đề ra quan niệm nghệ thuật cho riêng mình cũng ví như họ đang vạch ra con đường đi và mỗi người sẽ hoàn thành hành trình sáng tạo của mình dựa trên sự định hướng – con đường ấy Tuy nhiên, với Bùi Giáng, điều đó lại không hoàn toàn đúng Nghĩa là giữa quan niệm và thực tế sáng tạo - cụ thể là các tác phẩm thơ của ông - nhiều chỗ xuất hiện điểm “vênh” Chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ những điểm “vênh” ấy ở các chương sau Lý do có thể lý giải cho sự bất thống nhất ấy có lẽ vẫn xuất phát từ sự “không bình thường” trong hành động và lối suy tưởng của Thi Sĩ Buổi Hoàng Hôn – Đười Ươi Thi Sĩ
Trang 33
Chương 2: Nhân vật trữ tình trong thơ Bùi Giáng
Nhân vật trữ tình là hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, là phương thức bộc lộ ý thức tác giả Nhân vật trữ tình là con người “đồng dạng” của tác giả - nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình (một chùm thơ, toàn bộ trường ca hay toàn bộ sáng tác thơ) như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể…
Hiện có những tranh cãi về khái niệm này Thông thường người ta xem nhân vật trữ tình là hình tượng khái quát như một tính cách văn học được xây dựng trên cơ sở lấy các sự thật của tiểu sử tác giả làm nguyên mẫu Đó là một “cái tôi” đã được sáng tạo ra Ý kiến khác nhấn mạnh rằng cũng với hình tượng ấy nhà thơ cũng thổ lộ tình cảm thật chân thành của mình trong những tình huống trữ tình và người đọc không lầm khi tin những tình cảm ấy là thật Bởi vậy, không được đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả
Nhân vật trữ tình trong thơ Bùi Giáng là hình ảnh của con người trăm phương nghìn ngả
2.1/ “Tháp Bay - on” của cái tôi
“Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên rằng một hai ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm”
Thêm một lần nữa Bùi Giáng “trích ngang” tiểu sử đời mình bằng mấy câu thơ ngắn gọn, tưởng đơn giản nhưng kỳ thực lại hết sức khó
hiểu, phức tạp
Trang 34
Cung Tích Biền, nhà văn đồng hương với Bùi Giáng đã “hoạ” lại
hình ảnh thi sĩ này thuở sinh thời: “Bùi Giáng sinh thời có khuôn mặt kỳ
dị với một cặp mắt của rắn Nó tròn vành vạnh, sắc sảo; khi Bùi Giáng nhìn tự nhiên là rất thông minh, hiền từ; khi trừng trừng chú mục nó biểu
lộ một tinh lực rực lửa, kỳ bí; nó có hai màu đen trắng quặn nhau, như cái hình vẽ biểu tượng cho thái cực; đôi mắt ấy luôn rực sáng, như hai vì sao; nó là cái lò luyện đan để tất cả lời thơ phi phàm bốc khói mây
không phân tranh Hai đặc trưng này hoạ ra một Bùi Giáng trọn đời phiêu bồng, ngoài Cõi, không tơ hào đến mảy may danh vọng, quyền lực, không vợ con, không mái nhà; ông sống tha thiết với cuộc đời nhưng thường trực ngay ngã ba ngã tư những con đường lem luốc bụi giang hồ;
dù thơ ông rất trang trọng, trí huệ” [20;192]
Trong tranh của Trịnh Thanh Tùng, Bùi Giáng lại được thể hiện trong hình dong một ẩn sĩ thích lang thang, có vẻ ngoài khá cầu kỳ bê bối
do mấy lần vải vóc, khăn áo quấn lên người Đôi tay vẻ như quá dài, bâng quơ giữ lấy chiếc gậy Duy nhất khuôn mặt toát lên vẻ cương nghị do đôi mắt đang hướng hết sức chăm chú vào một vật hoặc một điểm nào đó
Còn chúng tôi, dù đã nhìn rất kỹ tấm hình chụp Bùi Giáng in trên bìa
cuốn “Ngày tháng ngao du”: cặp kính tròn, khuôn mặt nhìn nghiêng, tư
lự, bảng lảng khói thuốc nhưng cố gắng đến mấy người nhìn cũng không thể đọc ra được điều gì từ ánh nhìn và tư thế ấy Chúng tôi cũng đặc biệt
ấn tượng với bức chân dung tự hoạ của ông Chỉ với đôi nét bút Bùi Giáng đã phác thảo lại khuôn mặt mình – một khuôn mặt nham nhở, nghệch ngoặc, không rõ tâm trạng buồn, vui – một khuôn mặt vẻ như không để lộ điều gì!
Tuy nhiên, dù có cố đưa ra lời này, ý nọ về chân dung Bùi thi sĩ thì thực chất người viết vẫn đang làm cái việc là nhìn tranh rồi chỉ ra đâu là chim, đâu là cây, đâu là mặt nước, bầu trời … chứ chẳng thể nào nhận ra dụng ý cuối cùng trong sự sắp đặt các sự vật ấy Chính vì vậy, hãy để thi
Trang 35
sĩ này tự nói về mình: “Nhe răng cười trong bóng tối…không bao giờ bắt chuồn chuồn mà cứ bảo mình luôn luôn bắt chuồn chuồn…không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài…suốt năm khắc khoải loay hoay
mà tự cho mình thanh thoát phiêu bồng…chán chường thi ca mà vẫn cứ
gian lộng lẫy…chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh” [17;32]…
Tất cả những “bức tranh” bằng ngôn ngữ lẫn đường nét nêu trên đều
là con người Bùi Giáng Kì dị, bí hiểm, trẻ dại, hồn nhiên, thậm chí khác
biệt đến mâu thuẫn lại mới là ông Chính vì vậy, có người đã nói “viết đôi lời hay nhiều lời về Bùi Giáng không bằng đọc Bùi Giáng Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng Mà sống như Bùi Giáng thì thật vui mà thật khó vậy” [20;166] Cũng bởi “khó” mà đúng hơn là không thể sống được
như Bùi thi sĩ nên việc hiểu được ông quả là “nhiệm vụ bất khả thi” với không ít người Cho nên, đến tận bây giờ, Bùi Giáng vẫn còn là một ẩn
số, một ẩn ngữ đối với lớp hậu sinh Một người trong gia tộc họ Bùi - dịch giả, nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn đã nói về Bùi Giáng
như sau: “Khen hay chê, thích hay không, anh vẫn thuộc vào loại thiên tài không định nghĩa được làm bằng một thứ nguyên liệu rất hiếm, là một giống chim lạ rất dễ tuyệt chủng mà trời đất – không nỡ làm dứt mạch Văn, làm cạn nòiTình – lâu lâu lại cho phục sinh một lần Thứ nguyên liệu ấy rất nhẹ đồng cân nên ít bãm bụi, lung linh sương bóng, khó nắm
gắng sức lên một tí thì không đo lường được” [20;167] Điều đó cũng có
nghĩa, muốn đi vào thế giới nghệ thuật Bùi Giáng, người đọc không còn cách nào khác là gắng hết “sức bình sinh” của cả trí tuệ lẫn tâm hồn Và,
nói như nhà văn Cung Tích Biền, “Viết về Bùi Giáng là tôi làm cái việc chỉ vào cục gạch mà bảo rằng đây là Như Lai phu nhân”! [20;190] Khó
hiểu và đầy bí mật – đó mới là Bùi Giáng!
Trang 36
Hiểu Bùi Giáng trong thơ trước hết là tìm được những khía cạnh biểu hiện của cái tôi trữ tình Các nét tính cách trong con người Bùi Giáng càng mâu thuẫn và va đập mạnh thì cái tôi trữ tình trong thơ càng
đa màu sắc, đa diện mạo Đó là cả một ngọn “tháp Bay - on” của cái tôi!
Có thể nói, biểu hiện đầy đủ cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy là đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ Với lối tư duy thơ hướng nội, cái tôi trữ tình trong thơ Bùi Giáng được thể hiện qua những suy ngẫm về cuộc sống, tình yêu, những chiêm nghiệm, triết lý về
lẽ sinh tử, nguồn cội…
2.1.1/ Cái tôi yêu đời buổi “mƣa nguồn”
“Cõi đời ơi, khi tôi đã chết rồi, thì trong cõi vắng lặng của người chỉ một lời này còn lại: “Tôi đã từng yêu”!” Xin được mượn ý thơ của
R.Tagor để khởi sự cho việc tìm hiểu tình yêu cuộc sống, yêu đời trong
thơ Bùi Giáng, đặc biệt là trong tập “Mưa nguồn” Theo nhận định của nhiều người, “Mưa nguồn” có thể xem là tác phẩm “tỉnh táo” nhất của
Bùi Giáng, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả yêu thơ; là tác phẩm khởi đầu cho nguồn thơ sẽ cuồn cuộn tuôn chảy về sau Và quan trọng hơn, nó giúp ta có được cái nhìn chân xác về con người thơ này ở giai
đoạn đầu bước chân vào đền thơ dân tộc Bởi “chỉ với tập thơ Mưa nguồn, Bùi Giáng đã tạo được cho mình một diện mạo rất Việt Nam, rất
cuộc sống trần thế, yêu cuộc chơi mà ông đã dấn thân với tất cả hồn xác:
“ (…) Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ơi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở với trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay với kiễng chân cao”
Trang 37
Lời thơ trong sáng, tươi thắm và tha thiết nghe thật gần lối thơ Xuân Diệu thời kỳ Thơ Mới:
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây và cỏ rạng…” (Vội vàng)
Và cũng như Xuân Diệu, Bùi Giáng đã “Sống toàn tâm, toàn ý, sống toàn hồn/ Sống toàn thân và thức nhọn giác quan” với cuộc đời, cho dù
trần gian phôi pha, thời gian huỷ diệt nhưng nhà thơ chấp nhận quy luật
ấy nên đã ghì siết hai tay “Nàng Thơ đẹp của trần gian ứa lệ” mà rằng:
“Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu…”
Yêu cuộc sống là yêu tất cả những gì quanh ta, yêu những cái ta có, yêu “nguyên vẹn”, đủ đầy bằng cả tâm hồn và thể xác Với Bùi Giáng, cuộc sống cũng là cuộc rong chơi, mà cuộc sống vốn hữu hạn nên cuộc chơi cũng không thể “liên tồn” Ý thức nhẹ nhàng về sự ra đi giống như việc tạm dừng cuộc rong chơi ở “cõi tạm” đã khiến nhà thơ có được thái
độ thoải mái để chấp nhận quy luật sống trần thế Bởi, cái đích cuối cùng
là được sống, được yêu, được đắm say trọn vẹn… thi sĩ đã đạt được Và như vậy là đủ!
Vạn vật xung quanh cũng chính là động lực thúc giục con người sống hết mình và mở rộng tâm hồn để đón lấy những dư vang từ cuộc sống Bản chất của cuộc sống là sự đan xen hai thái cực đối lập: khổ đau, cay đắng và hạnh phúc, niềm vui Cho nên, yêu cuộc sống là yêu cả cái
Trang 38
bản chất ấy của nó Điều này có thể xem là “một nỗ lực giải quyết và thực hiện tư tưởng triết lý tồn sinh một cách sống động và thơ mộng” [21;60]
trong thơ Bùi Giáng
Điều đó cũng đúng như nhận định của Kiều Văn: “Xuyên suốt thơ Bùi Giáng là một tư tưởng, một thái độ: trần gian là cõi tạm của con người, cõi ấy có đầy rẫy bi kịch nhưng cũng có muôn vàn cái đẹp và con người cần phải biết tận hưởng những cái đẹp chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc” [78] Khoảnh khắc ấy đến khi con người và vạn vật giao hoà:
“Những nhành mai sớm sương bên lá
Những nhành liễu chiều gió bên cây
Cũng lay lắt bởi đời xuân em ạ
Thế nên chi anh cũng viết giòng này”
Con người Bùi Giáng vốn sống tự do, tự nhiên, ông luôn muốn “kiệt tận miên bạc bình sinh để sống cho đậm đà thơ mộng Vì không làm thế thì cái sống sẽ tợ tợ như cái chết” Chính vì vậy, trong quan niệm của
ông, sống là sự tận hiến, phụng hiến hết mình cho cuộc đời Hãy luôn tìm
niềm vui trong từng giây phút để ngày cũ qua đi ta lại có thêm một ngày mới để thương yêu và cũng để từ đó trong con người ấy mãi đập rộn ràng một trái tim khát sống, đam mê sự sống trần gian, một trái tim nóng bỏng ham muốn “ràng rịt với muôn dây” đời bằng niềm lạc quan, tin tưởng:
“Mai sau hẹn với ban đầu
Chờ nhau ngõ khác ngó màu nguyên xuân”
Trang 39“Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù để thoả dạ yêu em
Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thuỷ
Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên”
Sống thật sự cũng là cuộc tự nguyện hi sinh! Đó là quan niệm của riêng Bùi Giáng, thể hiện thái độ của ông đối với cuộc sống và hơn hết nó phù hợp với con người và cách sống của thi sĩ này Bùi Giáng hi sinh cái phần “người bình thường” như hầu hết những kẻ đang cười nói, đi lại trên trái đất và nhận hết về mình cái phần “bất thường” để được sống “cuồng si”, thơ dại hồn nhiên cùng châu chấu, chuồn chuồn, lánh xa danh vọng nơi phồn hoa phố thị Có lẽ, Bùi Giáng là một trong số rất ít nhà thơ dám sống và đã sống như một “thi sĩ” thực thụ!
Có thể nói, yêu đời, thiết tha với cuộc sống đã trở thành triết lý và là một trong những biểu hiện nổi bật nhất của cái tôi trữ tình trong thơ Bùi Giáng Đó là triết lý sống lạc quan, yêu đến mê mệt cuộc chơi lãng đãng:
“Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn/ Hết tâm hồn và hết cả da xương” - thứ tình yêu ban sơ, nguyện vẹn, tròn đầy, vô điều kiện và
không hề vương luỵ vật chất Phải chăng, vì quá si mê cuộc sống mà thi sĩ này phát cuồng hay ông muốn trở nên “rồ dại” mới có thể dồn hết sức lực, tâm hồn cho tình yêu ấy? Ở điểm này Bùi Giáng đã “gặp gỡ” Xuân Diệu – cái tôi yêu đời nổi bật nhất của Thơ Mới khi Hoàng tử thơ tình nguyện rằng:
“Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngư”
chỉ có điều, lời thơ Xuân Diệu là sự đúc kết của cả quá trình sống lâu dài,
nó xuất phát từ cảm hứng với hiện tại Còn Bùi Giáng, những câu thơ thể
Trang 40
hiện thái độ yêu mến cuộc sống được tác giả viết khi bắt đầu là Trung niên thi sĩ, khi xã hội bấy giờ đầy những biến động Và kể từ đó, cái tâm
nguyện “yêu trần gian nguyên vẹn” đã trở thành lý tưởng, thành kim chỉ
nam trong hành trình sống và hành trình thơ của thi sĩ họ Bùi
Từ cái tôi yêu đời buổi đầu, đi qua một chặng đường dài với không ít
“va vấp”, nó đã có thêm nhiều “khuôn mặt” mới Tuy nhiên, thiết nghĩ,
dù biểu hiện bằng thái độ thế nào đi nữa thì những cái tôi mới ấy ít nhiều đều có “dấu ấn” của cái tôi yêu đời buổi “mưa nguồn”
2.1.2/ Cái tôi mộng mị hoài vọng về tình yêu xa xôi
M Gorki – nhà văn Nga rất mực hiện thực - đã từng nói về tình yêu
bằng một câu rất “thơ”, rằng “Tình yêu, đó là thơ ca cuộc đời Cuộc sống thiếu tình yêu không phải là sống mà chỉ là sự tồn tại!” Tình yêu gợi cảm
hứng cho thi tài sáng tạo và đến lượt mình, thơ ca khiến tình yêu thăng hoa trên những cung bậc cảm xúc đặc biệt, diệu kỳ Người ta có thể lên lịch cho cuộc đời mình bằng nhiều việc cụ thể nhưng khó có thể lên lịch
cho tình cảm biểu hiện Bởi vì, “Sương mù cũng như tình yêu
Chơi đùa trên những quả đồi
Và đem lại những vẻ đẹp huy hoàng đột ngột ”
Mũi tên thần tình ái găm vào trái tim nhân loại đã làm nên “những vẻ đẹp huy hoàng đột ngột” nhưng cũng có thể khiến tim người nhỏ máu khi
“yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người” (Xuân Diệu) Vị trí của Tình
yêu và sắc thái của nó trong thơ Bùi Giáng mang đầy đủ những yếu tố ấy Nghĩa là, với Bùi Giáng, tình yêu là hơi thở, là không khí của riêng ông,
nó giúp ông sống – theo một kiểu rất Bùi Giáng – chứ không phải tồn tại như vẻ ngoài Trạng thái yêu đương trong thơ Thi sĩ Buổi Hoàng Hôn luôn là “đã qua” để hoài vọng và “ở xa” để hi vọng; có cả “vẻ đẹp huy hoàng” lẫn “bóng đêm ảm đạm” Và, dù là tình yêu “đã qua” hay quanh quẩn “đâu đó” thì nó vẫn mãi là “tình yêu xa xôi” khiến cái tôi trữ tình trở thành kẻ mộng mị trên hành trình níu giữ, kiếm tìm