Đề án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững
Trang 1GIAI ĐOẠN 2012-2015, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 32/2012/NQ-HĐND ngày 19/7/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hà Tĩnh có 362.740,9 ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm 60,2% diện tích
tự nhiên của tỉnh, trong đó có 173.281,0 ha quy hoạch sản xuất, đây là tiềmnăng, lợi thế to lớn cần được phát huy, khai thác có hiệu quả Trong những nămqua, mặc dầu trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nguồn lực đầu tư của Nhànước còn hạn chế, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, nhưng lâm nghiệp Hà Tĩnhvẫn đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Diện tích rừng tăng nhanh qua cácnăm, độ che phủ rừng năm 2011 đạt 53,23%, lợi ích kinh tế từ rừng được khẳngđịnh, giá trị sản xuất và xuất khẩu tăng nhanh Công tác bảo vệ, phát triển rừngngày càng được xã hội hóa, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, gópphần xóa đói, giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế của tỉnh Rừng đã và đang giữ vaitrò to lớn cho phòng hộ, chống xói mòn và bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh
Tuy vậy công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vẫn bộc lộ nhiều vấn
đề hạn chế; rừng vẫn tiếp tục bị khai thác trái phép và diễn biến phức tạp, chấtlượng rừng tự nhiên ngày càng suy giảm; công tác giao, khoán rừng, đất rừngcòn nhiều bất cập; cơ sở hạ tầng kỹ thuật của lâm nghiệp vẫn còn thấp kém; hiệuquả sản xuất lâm nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh;việc sắp xếp tổ chức sản xuất và quản lý bảo vệ rừng còn chưa hợp lý
Với tình hình thực trạng hiện nay, đòi hỏi sự quan tâm của cấp ủy chínhquyền các cấp, các ngành, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo ranhững chuyển biến mới cho hoạt động lâm nghiệp của tỉnh, đóng góp nhiều hơnnữa cho phát triển kinh tế, xã hội và phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái
Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban chấp hànhÐảng bộ tỉnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009 -
2015 và định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày16/7/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số08-NQ/TU của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn xây dựng Đề án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững giai đoạn2012-2015 và định hướng đến 2020 với những nội dung chính sau:
Trang 2CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ
ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ẤN
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH, ngày 03/12/2004;
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc thihành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng;
- Nghị định số 200/2004/NĐ-CP, ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việcsắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh;
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phêduyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020;
- Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một sốchính sách phát triển rừng sản xuất đoạn 2007 - 2015;
- Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ vềban hành quy chế quản lý rừng;
- Thông tư 86/2005/TTBNV ngày 22/8/2005 của Bộ Nội vụ về hướng dẫnbiên chế ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng khi thực hiện đề án sắp xếp đổimới và phát triển lâm trường quốc doanh;
- Thông tư 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp vàPTNT hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng;
- Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2011 của Chính phủ về tổchức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng;
- Nghị định 05/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ
về quỹ bảo vệ và phát triển rừng;
- Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLB-BNN-BNV ngày 15/5/2008 của BộNN&PTNT và Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
và nhiệm vụ quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp xã về nông nghiệp vàphát triển nông thôn;
- Quyết định số 3209/QĐ-UBND, ngày 29/12/2006 của UBND tỉnh HàTĩnh về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng ở Hà Tĩnh;
- Quyết định số 176/QĐ-UBND, ngày 16/01/2009 của UBND tỉnh HàTĩnh về việc phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh giaiđoạn 2008 - 2020;
- Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban chấp hành Ðảng bộtỉnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009 - 2015 vàđịnh hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của UBND tỉnh về việcban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU của Tỉnh ủy;
- Quyết định số 57/QD-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ,phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020;
Trang 3- Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 17/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về đẩymạnh tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước;
- Quyết định số 07/2012/QD-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chínhphủ, ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;
- Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 của BộNN&PTNT về quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản;
- Nghị quyết số 26/2011/NQ-HĐND ngày 16/12/2011 của Hội đồng nhândân tỉnh về việc phê duyệt Đề án sắp xếp, kiện toàn các cơ quan hành chính, đơn
vị sự nghiệp, Ban quản lý dự án và tổ chức hội
Trang 4Phần 1 THỰC TRẠNG VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 5 NĂM QUA
I NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1 Diện tích rừng tăng nhanh, độ che phủ rừng đạt 53,23%; giá trị, hiệu quả kinh tế từ rừng tăng rõ rệt, đã giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo
Trong những năm qua nhiều chương trình, dự án và phong trào trồng rừngcủa nhân dân đã triển khai trồng mới, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, bảo vệ rừng,đặc biệt là dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và một số dự án trồng rừng kinh tếnhư dự án trồng rừng nguyên liệu của Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam, dự
án trồng rừng nguyên liệu Hanviha…vv Hàng năm trồng mới bình quân từ7.000 – 8.000 ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, bảo vệ hàng chục nghìn ha nhờ
đó mà diện tích rừng tăng nhanh, đặc biệt đã trồng thêm hơn 38.000 ha rừng sảnxuất, đưa độ che phủ rừng từ 47,7% năm 2006 lên 53,23% năm 2011 (bình quân
cả nước 40,0 %), góp phần to lớn cho phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái củatỉnh
Giá trị kinh tế từ rừng ngày càng được khẳng định Giá trị sản xuất vàxuất khẩu tăng nhanh, năm 2006 giá trị sản xuất theo giá so sánh đạt 187 tỷđồng, xuất khẩu đạt 10,2 triệu USD thì đến năm 2010 giá trị sản xuất đạt 210,43
tỷ đồng (chiếm 9,5 % giá trị SX Nông nghiệp và bằng 1,4 % GDP của tỉnh), giátrị xuất khẩu đạt 32,3 triệu USD, chiếm 51,7 % tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh
Hoạt động bảo vệ, phát triển rừng đã giải quyết việc làm cho hơn 40.000lao động, tăng thu nhập cho nhân dân vùng rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo,
ổn định đời sống, từ đó góp phần làm giảm áp lực xâm hại rừng
2 Quy hoạch 3 loại rừng được xác lập đáp ứng yêu cầu chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cũng đã được xây dựng từ cấp tỉnh đến tất cả các huyện, đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy phát triển lâm nghiệp của tỉnh
Thực hiện Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 5/12/2005 của Thủ tướngChính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng, Hà Tĩnh là tỉnh đầu tiên của
cả nước được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1404/QĐ-TTgngày 30/10/2006 Đến nay sau 5 năm thực hiện, quy hoạch đã được đánh giá cótầm chiến lược, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, phục vụ tốt choviệc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Quy hoạch 3 loại rừng đã xáclập được các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ cảnh quanmôi trường, chắn sóng chắn cát ven biển và phòng hộ chắn sóng ven sông; rừngđược giao cho các Ban quản lý rừng và các tổ chức quản lý bảo vệ và phát triểngóp phần to lớn bảo vệ môi tường sinh thái, hạn chế thiên tai Rừng sản xuấttăng nhanh đã tạo thành các khu rừng liền vùng, liền khoảnh; các tổ chức hộ giađình đã tích cực thuê và nhận đất nhận rừng để đầu tư phát triển sản xuất
Trang 5Trên cơ sở quy hoạch 3 loại rừng, đã xây dựng quy hoạch bảo vệ và pháttriển rừng cấp tỉnh, cấp huyện giai đoạn 2008 – 2020 được Ủy ban nhân dân tỉnhphê duyệt Các quy hoạch được phê duyệt là cơ sở pháp lý và là cẩm nang phục
vụ cho các cấp trong quản lý, điều hành, chỉ đạo về bảo vệ, phát triển rừng củaTỉnh trong những năm qua Quá trình thực hiện quy hoạch đã góp phần quantrọng trong việc khai thác tiềm năng lợi thế về rừng, đất rừng cho mục tiêu tăngtrưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, hạn chế thiên tai, giải quyết việc làm, xóa đóigiảm nghèo ở nông thôn, miền núi, cung cấp lâm sản đáp ứng nhu cầu dân sinh
và xuất khẩu…vv
3 Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý được xác lập từ tỉnh đến huyện,
xã và chủ rừng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo vệ phát triển rừng trong những năm qua
Ở cấp tỉnh Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan tham mưu cho UBNDtỉnh quản lý Nhà nước về Lâm nghiệp, tham mưu cho Giám đốc Sở có 2 chi cục
là Lâm nghiệp và Kiểm lâm với đầy đủ phòng ban chuyên môn, Chi cục Kiểmlâm còn có một đội kiểm lâm cơ động và PCCCR hoạt động kiểm tra, kiểm soátlâm sản và PCCCR Ở cấp huyện có Hạt Kiểm lâm và Phòng Nôngnghiệp&PTNT tham mưu cho UBND huyện quản lý Nhà nước về lâm nghiệptrên địa bàn huyện, các hạt Kiểm lâm có các trạm Kiểm lâm địa bàn để kiểm tra,giám sát hoạt động bảo vệ rừng Ở cấp xã có cán bộ Kiểm lâm địa bàn thammưu cho Chủ tịch UBND xã quản lý Nhà nước về lâm nghiệp
Cơ bản các khu rừng phòng hộ, đặc dụng tập trung đều có Ban quản lýrừng, với các phòng chuyên môn để quản lý rừng, các trạm bảo vệ rừng chốt giữ
ở những vị trí trọng yếu để bảo vệ rừng, các Ban còn bố trí lực lượng hoạt độngsản xuất cung ứng cây giống cho phát triển rừng và tham gia thực hiện cácchương trình, dự án Các khu rừng sản xuất tập trung do các Công ty quản lý đã
bố trí đầy đủ phòng, ban làm công tác quản lý, chỉ đạo và bố trí các trạm bảo vệcửa rừng Ngoài ra còn có các đơn vị, tổ chức khác như Quân đội, Đoàn thanhniên, hợp tác xã, được giao đất, giao rừng để quản lý, bảo vệ và phát triển
Như vậy, cơ bản hệ thống tổ chức bộ máy về quản lý, bảo vệ và phát triểnrừng của tỉnh đã phủ kín, không còn bỏ trống nhiệm vụ Các ban quản lý rừng,các công ty vừa thực hiện chức năng chính còn có vai trò là các đầu mối để tiếnhành chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về lâm nghiệp, hoạtđộng dịch vụ kỹ thuật, vật tư, giống, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho nông dântrong phát triển rừng, phát triển kinh tế trang trại Hệ thống bộ máy quản lý trên
đã phát huy vai trò, đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừngcủa tỉnh
4 Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được quan tâm làm thường xuyên, có chất lượng
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được các cấp, cácngành quan tâm, chỉ đạo thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm vớinội dung, hình thức đa dạng, nên thu hút được nhiều thành phần, đối tượng thamgia
Trang 6Từ năm 2006 đến tháng 8 năm 2011 đã tổ chức được 2.817 cuộc tuyêntruyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật trên đài phát thanh truyền hìnhtỉnh, huyện, truyền thanh các xã và tuyên truyền lưu động tại các thôn, xóm; tổchức nói chuyện chuyên đề, thi tìm hiểu và ký 367.254 bản cam kết về BVR-PCCCR với học sinh của 1.618 trường; tổ chức ký 286.459 bản cam kết bảo vệrừng ở 2.618 thôn; tổ chức diễn tập 101 cuộc PCCCR (tỉnh 5 cuộc; huyện, xã 96cuộc); 135 cuộc tập huấn nghiệp vụ cho các đối tượng là lãnh đạo, cán bộ cáchuyện, xã và lực lượng bảo vệ rừng, với trên 10.000 người tham gia; xây dựng,
tu sữa 1.200 biển tường, biển báo, 5.000 pa nô, áp phích, in ấn 40.000 tờ rơi, tờbướm các loại
Ngoài ra, trong những ngày nắng nóng, khả năng cháy rừng cao đã xâydựng các bản tin cảnh báo nguy cơ cháy rừng để phát trên truyền hình tỉnh,huyện và truyền thanh các xã nhằm cảnh báo cho chủ rừng, chính quyền địaphương, các hộ gia đình có biện pháp phòng ngừa, chủ động phương án huyđộng lực lượng, phương tiện ứng cứu khi xảy ra cháy rừng
Thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhận thức
về bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư đã được nâng lên rõ rệt,góp phần xã hội hóa công tác lâm nghiệp
5 Việc xử lý các vụ việc vi phạm đảm bảo kịp thời, đúng pháp luật, không để xảy ra khiếu kiện
Từ năm 2006 đến tháng 8 năm 2011 các cấp, các ngành đã phát hiện xử lý4.431 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó khởi tố hình
sự 13 vụ với 17 bị can, tịch thu trên 7.649 m3 gỗ các loại và 8.071 kg động vậtrừng, 145 phương tiện các loại Việc xử lý các hành vi vi phạm được thực hiệnđảm bảo kịp thời, đúng người, đúng hành vi, đúng pháp luật, không để xảy ra saisót dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện Nhiều đối tượng sau khi bị xử lý đã từ bỏhành vi xâm hại rừng, chuyển sang việc làm mới, tham gia bảo vệ rừng, qua đây
có tác dụng giáo dục, răn đe các đối tượng khác
6 Cơ bản diện tích rừng và đất rừng đã có chủ quản lý, đã được cấp giấy chứng nhận QSDD và đóng mốc ranh giới quản lý
Thực hiện chủ trương giao đất gắn với giao rừng, đến nay toàn tỉnh đãgiao 312.153 ha/362.740,9 ha rừng và đất lâm nghiệp, đạt 86%, trong đó 9 banquản lý rừng phòng hộ, đặc dụng quản lý 174.894 ha; 2 đơn vị sản xuất kinhdoanh rừng tự nhiên quản lý 60.665 ha; 10 đơn vị và tổ chức kinh doanh quản lý43.469 ha và 13.999 hộ gia đình, cá nhân quản lý 33.125 ha Số diện tích còn lạiđang do UBND các xã quản lý là 50.450 ha Hầu hết các tổ chức, hộ gia đìnhđược giao đất, thuê đất gắn với giao rừng, thuê rừng đã được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất; các chủ rừng Nhà nước được đóng mốc ranh giới trênthực địa
7 Đã áp dụng nhiều giải pháp kỹ thuật lâm sinh, ứng dụng có hiệu quả khoa học công nghệ trong sản xuất cây giống, trồng, chăm sóc, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng vv, nhằm nâng cao độ che phủ cũng như chất lượng rừng
Trang 7Trong trồng rừng đã lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp với từng điều kiệnlập địa của từng vùng, từng lô, khoảnh cụ thể Các giống mới được tạo từ mô,hom có chất lượng như cây Keo lai, Bạch đàn lai đã được đưa vào trồng rừngnguyên liệu, qua thực tiễn cho thấy rừng sinh trưởng nhanh, đồng đều, sinh khốitương đối khá, năng suất rừng trồng từ chổ 5 - 7 m3/ha/năm đã tăng lên 10-15
m3/ha/năm; cây cao su đã được đưa vào trồng trên đất lâm nghiệp với diện tíchtrên 5.000 ha góp phần to lớn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đem lại hiệu quảkinh tế cao; các loài cây bản địa như Lim, De, Cồng…vv đã được đưa vào trồngnâng cấp rừng phòng hộ, trồng làm giàu rừng và tra dặm trong khoanh nuôi gópphần tăng độ tàn che, nâng cao tính bền vững, tăng giá trị và đa dạng sinh họccho rừng Qua các mô hình trồng rừng bằng các loài cây bản địa như: Mô hìnhtrồng 21 ha cây Lim xanh, cây Dó Trầm ở Truông Bát; 28 ha rừng Dó Trầm,Trám Trắng ở huyện Hương Sơn; 250 ha mô hình trồng bổ sung cây bản địadưới tán rừng trồng của các hộ dân xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn; mô hìnhtrồng nâng cấp rừng phòng hộ bằng các loài cây bản địa ở Ban quản lý KBTN
Kẻ Gỗ (770 ha) cho thấy việc trồng rừng, trồng nâng cấp rừng bằng các loài câybản địa đã làm thay đổi cấu trúc tầng tán, tăng khả năng phòng hộ bền vững củarừng và đây là hướng đi đúng cần thực hiện trong thời gian tới
Trong Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng đã áp dụng việc luỗng phát dâyleo, bụi rậm, kết hợp trồng bổ sung cây bản địa, điều tiết mật độ cây tái sinh…
vv, góp phần nâng cao chất lượng rừng, đây là một giải pháp lâm sinh đã manglại hiệu quả cao trong nâng cao chất lượng rừng và duy trì đa dạng sinh học
Công tác giống đã được quan tâm tích cực, đã lựa chọn được tập đoàngiống đảm bảo chất lượng bao gồm cả cây bản địa và cây nhập nội cho trồng,khoanh nuôi, làm giàu rừng và thực hiện quản lý giống theo chuỗi hành trình,cấp chứng chỉ lô giống theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn Một số loài giống năng suất cao đã được trồng và nhân rộng ở Hà Tĩnhnhư Keo lai BV10, BV 16, Bạch đàn Urô… gần đây đã đưa một số loài giốngmới vào trồng mô hình như Keo lai BV33, Keo chịu hạn, Tràm bán ngậpnước…
II NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM
1 Rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm cả về diện tích, chất lượng và đa dạng sinh học
Năm 2006 toàn tỉnh có 214.958 ha rừng tự nhiên, chiếm 71,74 % diện tích
có rừng Từ đó đến nay nhờ áp dụng các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến táisinh, làm giàu rừng nên đã có trên 7.800 ha rừng tự nhiên mới được hình thành.Tuy nhiên, trong thời gian qua do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nên có một
số diện tích rừng tự nhiên phải chuyển đổi mục đích sử dụng sang làm thủy điện,thủy lợi, khu tái định cư, đường tuần tra biên giới… và chuyển rừng tự nhiênnghèo sang trồng cao su Đến hết năm 2010 toàn tỉnh còn 210.083 ha rừng tựnhiên, giảm 4.875 ha so với năm 2006
Trước đây trong rừng tự nhiên các loài gỗ quí như Lim, Sến, Dổi … đủ điềukiện khai thác còn tương đối nhiều, nhưng hiện nay còn lại rất ít, chất lượngrừng đã giảm sút đáng kể, diện tích rừng giàu còn lại ít và ở vùng cao, sâu,
Trang 8những vùng thuận lợi cho sản xuất kinh doanh chủ yếu còn lại rừng nghèo vàtrung bình có giá trị kinh tế không cao.
Cùng với việc khai thác gỗ trái phép thì tình trạng săn bắt động vật rừngtrái phép và khai thác dược liệu, lâm sản ngoài gỗ quá mức, tùy tiện, thiếu kiểmsoát đã làm cho hệ sinh thái rừng bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài động,thực vật quý đang có nguy cơ tuyệt chủng
2 Công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu
Nhiều quy hoạch về phát triển lâm nghiệp đã được phê duyệt nhưng khi
có nhu cầu phát triển trên các lĩnh vực khác thì phải điều chỉnh, làm cho quyhoạch lâm nghiệp bị xáo trộn, trở thành thứ yếu so với quy hoạch các ngànhkhác Mặt khác quá trình chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về bảo vệ, phát triểnrừng ở các cấp vẫn còn chưa theo sát mục tiêu, nhiệm vụ quy hoạch đặt ra.Nhiều chương trình, nhiệm vụ, giải pháp đã đưa ra trong quy hoạch nhưng chưa
cụ thể hóa bằng các hoạt động cụ thể, thiếu sự quan tâm chỉ đạo thực hiện vàthiếu nguồn lực đầu tư nên kết quả thực hiện chưa đạt mục tiêu đề ra ban đầu.Bên cạnh đó hàng năm chưa xây dựng kế hoạch để thực hiện việc giám sát đánhgiá tình hình thực hiện quy hoạch nhằm có biện pháp điều chỉnh, chỉ đạo kịpthời
3 Việc giao, cho thuê, khoán rừng, đất rừng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế
Việc giao đất, giao rừng trước đây còn có sự chồng chéo, trùng lặp giữa
hộ gia đình với tổ chức, giữa tổ chức với tổ chức, hồ sơ giao đất cho hộ thiếu rõràng, khó nhận biết trên thực địa (bản đồ không có tọa độ, không mô tả rõ ràng),rừng được giao nhưng chưa đánh giá chất lượng, trữ lượng và giá trị nên gâykhó khăn cho công tác quản lý, đầu tư phát triển rừng
Phần lớn rừng và đất rừng đang do các chủ rừng Nhà nước quản lý sửdụng với 279.028 ha, chiếm 77% tổng diện tích quy hoạch lâm nghiệp, thực tếnày là chưa phù hợp với chủ trương xã hội hóa lâm nghiệp Trong khi chỉ giaođược cho 13.999 hộ gia đình với 33.125 ha (bình quân 2,36 ha/hộ), chỉ chiếm9,1% tổng diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp, diện tích giao cho các doanhnghiệp ngoài quốc doanh là chưa đáng kể
Sau khi rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/CT-TTg đã phátsinh bất cập về cơ cấu diện tích sử dụng rừng, đất rừng:
Các đơn vị sản xuất kinh doanh nhưng được giao quản lý nhiều rừngphòng hộ (như ở Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp và dịch vụ HươngSơn trên 24.000 ha, Chúc A trên 9.000 ha) Diện tích rừng phòng hộ được giaolớn không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thiếu sự đầu tư của Nhà nước,doanh nghiệp phải lấy từ hiệu quả sản xuất kinh doanh để bảo vệ rừng tạo nêngánh nặng cho DN, từ đó công tác bảo vệ rừng có phần hạn chế và làm giảm vaitrò, hiệu quả SXKD
Các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng được giao quản lý đất rừng sảnxuất lớn (như Ban QL khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ 5.403 ha, Ban quản lý
Trang 9rừng Phòng hộ Ngàn Sâu 7.616 ha, Nam Hà Tĩnh 11.625 ha, ) Diện tích rừngsản xuất được giao lớn, không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, lại thiếu nguồnlực đầu tư nên chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của rừng, đất rừng và cóphần làm giảm vai trò quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dụng
Trong khi các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu được giao,thuê đất, rừng để sản xuất, kinh doanh, nhưng việc tổ chức giao rừng cho hộ giađình cá nhân quá chậm, hiện nay vẫn còn khoảng 50.450 ha rừng và đất lâmnghiệp đang do UBND các xã quản lý, chiếm 14 % tổng diện tích đất lâmnghiệp (trong đó có 39.746 ha quy hoạch sản xuất), tập trung chủ yếu ở huyệnHương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh và Vũ Quang
Việc khoán rừng và đất lâm nghiệp ở một số đơn vị chủ rừng còn chưathực hiện đúng quy định, công tác quản lý hồ sơ còn thiếu chặt chẽ; quyền,nghĩa vụ và chính sách hưởng lợi giữa bên giao khoán và bên nhận khoán chưađược xác lập rõ ràng, nên hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng chưa cao
4 Việc điều tra, kiểm kê, thống kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng số liệu còn thiếu độ tin cậy
Công tác kiểm kê, thống kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng mới chỉdừng lại ở việc thống kê, báo cáo, chưa có chương trình điều tra, kiểm kê, ứngdụng các phần mềm vào thống kê, theo dõi diễn biến rừng hàng năm
Các cấp, các ngành chưa quan tâm đầu tư kinh phí, trang thiết bị cho côngtác kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng nên công tác theo dõi diễn biến rừng hàngnăm đang dừng lại ở mức độ thống kê, báo cáo nên số liệu thiếu tin cậy Năm
2005, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã phê duyệt dự án theo dõi diễn biến rừng và đấtlâm nghiệp trên địa bàn (Quyết định số 2605/QĐ/UBND- NL2) với tổng kinhphí 1,73 tỷ đồng, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được vì thiếu kinh phí
Số liệu về hiện trạng tài nguyên rừng đến nay sau 12 năm chưa được kiểm
kê lại nên phải kế thừa từ số liệu gốc kiểm kê năm 1999, hàng năm có bổ sung,cập nhật ở những vùng có biến động lớn và vùng có đầu tư khảo sát xây dựngphương án, đề án, dự án nhưng độ tin cậy không cao Do vậy, các cơ quan quản
lý, các chủ rừng không nắm chắc chất lượng, trữ lượng rừng được giao quản lý,gây khó khăn cho công tác kiểm tra, quản lý của các cấp
5 Tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán, chế biến lâm sản trái phép và lấn chiếm rừng, đất rừng vẫn xảy ra thường xuyên, có nơi nghiêm trọng
Nhìn chung, tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán, chế lâm sản tráiphép diễn ra nhiều nơi trên địa bàn tỉnh, với nhiều hình thức, mức độ khác nhau
Từ 2006 đến tháng 8 năm 2011 trên địa bàn toàn tỉnh đã xử lý 4.431 vụ vi phạm,tịch thu 7.649 m3 gỗ các loại và 8.071 kg động vật rừng, trong đó số vụ vi phạmtrong tỉnh 4.226 vụ, chiếm 95,4 %, gồm: vi phạm về khai thác, vận chuyển3.914 vụ, chế biến 312 vụ Các huyện có số vụ vi phạm nhiều là Hương Sơn(Sơn Hồng, Sơn Kim I), Hương Khê (Hương Lâm, Phú Gia) và Vũ Quang(Hương Quang), Kỳ Anh (Kỳ Sơn, Kỳ Thượng) Một số vụ vi phạm có tính chấtnghiêm trọng, như vụ tập kết gỗ trái phép có số lượng lớn tại xã Kỳ Sơn, huyện
Trang 10Kỳ Anh (năm 2009), tại xã Sơn Hồng, huyện hương Sơn năm 2011, năm2012 nhưng chủ rừng, chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã không biết;việc buôn bán, chế biến gỗ không rõ nguồn gốc xảy ra tại một số nơi như: xãHương Lâm huyện Hương Khê, Thái Yên ở Đức Thọ, Hầu hết các vụ việc nêutrên khi các cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện, các phương tiện thông tin đạichúng đưa tin, khi đó chủ rừng và chính quyền địa phương các xã mới vào cuộc.Nhiều nơi người dân xem việc khai thác gỗ trái phép như là một nghề làm ăn vàthậm chí tổ chức cả một số đông để thực hiện, nhưng chính quyền xã thiếu kiểmsoát và không có biện pháp chấn chỉnh Bên cạnh đó, tình hình chống người thihành công vụ xảy ra nhiều và ngày càng nghiêm trọng Hành vi chống đối củalâm tặc ngày càng côn đồ và có tính chất nghiêm trọng hơn như tổ chức đôngngười để bao vây cướp tang vật, tấn công, đe dọa tính mạng người làm công tácbảo vệ rừng (chém lực lượng bảo vệ rừng, ném mìn đe dọa tính mạng gia đìnhcán bộ như ở Khu BTTN Kẻ Gỗ, Vườn Quốc Gia Vũ Quang; phá hoại phươngtiện của các lực lượng bảo vệ rừng tại Sơn Lĩnh, Sơn Hồng, )
Những năm gần đây, do sức ép về nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng,nên nhân dân đã tự ý xâm hại, lấn chiếm rừng, đất rừng để phát triển kinh tế.Toàn tỉnh đã xảy ra 180 vụ xâm hại, lấn chiếm rừng, đất rừng trái phép với diệntích 87 ha để trồng rừng, trồng cây nguyên liệu làm thiệt hại đến tài nguyên rừng(chủ yếu tại huyện Kỳ Anh) Song do chủ động nắm bắt tình hình, các cấp, cácngành, chủ rừng đã phát hiện và xử lý kịp thời nên đến nay tình hình lấn chiếmrừng, đất rừng cơ bản đã được chấn chỉnh
6 Việc huy động nguồn lực, các thành phần kinh tế đầu tư vào bảo
vệ, phát triển rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên vẫn còn nhiều hạn chế
Việc đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng chưa được các cấp chính quyềnquan tâm đúng mức theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, chủ yếuđang dựa vào nguồn ngân sách Trung ương từ dự án 661 và huy động nguồn lựctrong dân đầu tư trồng rừng sản xuất Ngân sách tỉnh đầu tư hàng năm quá ít,ngân sách huyện, xã hầu như không có Chưa có cơ chế thu hút các nguồn vốntín dụng, vốn vay ưu đãi đầu tư vào bảo vệ, phát triển rừng trên diện tích đượcgiao, khoán, cho thuê
Việc huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư bảo vệ và phát triểnrừng còn nhiều hạn chế Thời gian qua trên địa bàn tỉnh mới chỉ có 2 doanhnghiệp thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt nam đầu tư trồng cây cao su, 2Doanh nghiệp là Công ty Lâm nghiệp Hà Tĩnh và Công ty HAVIHA đầu tưtrồng rừng nguyên liệu, hiện tại chưa thu hút được nhiều Doanh nghiệp đầu tưcho lĩnh vực lâm nghiệp 5 năm qua bằng các nguồn vốn khác nhau, cả tỉnh chỉhuy động được hơn 437 tỷ đồng để đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng, trong
đó vốn từ tập đoàn CN cao su hơn 227 tỷ đồng
Việc đầu tư bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên, chỉ mới dừng lại ở khâu bảo
vệ là chính và tập trung cho rừng phòng hộ, đặc dung Chưa thu hút được cácthành phần kinh tế, nhất là các Doanh nghiệp đầu tư vào chiều sâu sản xuất kinhdoanh tổng hợp theo hướng bền vững, lâu dài, đặc biệt là làm giàu rừng tự nhiênsản xuất, trồng cây gỗ lớn, cây lâm sản phi gỗ gắn với chế biến các sản phẩm đồ
Trang 11gỗ cao cấp Hiện tại mới chỉ có 2 Công ty TNHH MTV lâm nghiệp và dịch vụHương Sơn, Chúc A sản xuất kinh doanh gỗ lớn, nhưng chủ yếu đang tổ chứckhai thác chính gỗ rừng theo kế hoạch hàng năm và trích một phần kinh phí đầu
tư cho công tác bảo vệ rừng
7 Việc phát triển rừng sản xuất chưa thực sự đi theo hướng thâm canh, tăng năng suất và giá trị; tình trạng trồng rừng quảng canh, thiếu kỹ thuật của các hộ dân vẫn còn phổ biến
Việc phát triển rừng sản xuất từ trước đến nay chủ yếu do các hộ gia đình
và một số công ty lớn tự bỏ vốn đầu tư, ngân sách hỗ trợ còn hạn chế, người dânmiền núi điều kiện đang còn khó khăn, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật nên chưa cóđiều kiện đầu tư trồng rừng thâm canh mà chủ yếu đang tự phát, quảng canh,nên năng suất rừng trồng chưa cao Các chính sách khuyến khích phát triển một
số loài cây chủ lực, cây bản địa quý hiếm như Lim, Gõ, Sến, Táu, Giổi,…phục
vụ nhu cầu gia dụng và xuất khẩu chưa được quan tâm, chậm ban hành Cácdoanh nghiệp chưa thực sự trăn trở để đầu tư thâm canh, kinh doanh tổng hợp từrừng
8 Hệ thống chế biến lâm sản phát triển thiếu quy hoạch, thiếu sự kiểm soát của Nhà nước; công nghệ chế biến chậm đổi mới, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh, giá trị gia tăng chưa cao (đang chủ yếu bán sản phẩm thô, nhất là nguyên liệu gỗ rừng trồng)
Hầu hết các cơ sở chế biến lâm sản được xây dựng tự phát không theo quyhoạch, chưa gắn với nguồn nguyên liệu (Thống kê đến 15/8/2011, toàn tỉnh có
289 xưởng cưa xẻ hoạt động, trong đó số xưởng có đăng ký kinh doanh là 118xưởng, số xưởng không có giấy phép ĐKKD là 171 xưởng, chiếm 59,2% tổng
số xưởng)
Một số ít cơ sở chế biến lớn như: Công ty liên doanh sản xuất dăm giấyViệt Nhật, Công ty chế biến gỗ xuất khẩu Đại Phát, Công ty trồng rừng và sảnxuất nguyên liệu giấy Hanviha, Công ty Cổ phần Việt Hà, Công ty TNHH XuânLâm, công ty TNHH Hoàng Anh…là xây dựng đúng quy hoạch, số còn lại chủyếu là các cơ sở nhỏ lẻ, phát triển tự phát, phân bố chủ yếu trong các khu dân
cư, không theo quy hoạch và không gắn với nguồn nguyên liệu, sản xuất không
ổn định; công nghệ thiết bị còn lạc hậu, sản phẩm thô, chưa có sức cạnh tranh,giá trị lâm sản chưa cao
Việc cấp phép các cơ sở chế biến lâm sản chưa thống nhất và thiếu phốihợp giữa các cơ quan liên quan, chưa có sự tham gia của ngành lâm nghiệp đây
là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành; chưa căn cứ khả năng cung ứngnguồn nguyên liệu đầu vào và nhu cầu thực tế của các địa phương để cấp phép
Nguồn nguyên liệu đưa vào chế biến của các cơ sở sản xuất lớn hầu hết cónguồn gốc, còn các cơ sở sản xuất nhỏ, đặc biệt là làng nghề truyền thống đang
sử dụng nhiều gỗ rừng tự nhiên trôi nổi trên thị trường, không rõ nguồn gốc; thủtục về kiểm soát nguồn nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra thiếu chặt chẽnên việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng khó thực hiện
Trang 12III NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
- Đời sống nhân dân miền núi gặp rất nhiều khó khăn, thiếu việc làm, thunhập không ổn định, đời sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và nghềrừng Ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừngcủa nhân dân, đặc biệt là người dân vùng sâu, vùng xa còn hạn chế
- Nhu cầu sử dụng lâm sản của xã hội ngày càng tăng, giá trị các sảnphẩm gỗ tăng cao, nhất là gỗ rừng tự nhiên, gỗ quý, trong khi gỗ rừng trồng vàcác vật liệu thay thế khác chưa đáp ứng được Mặt khác hoạt động của "lâm tặc"ngày càng tinh vi, có tổ chức và ngang ngược
- Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ngày càng caonên một số diện tích rừng tự nhiên phải chuyển mục đích sử dụng ra khỏi lâmnghiệp phục vụ công trình thủy lợi, thủy điện, khu tái định cư, đường giaothông…vv
- Sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cho hoạt động lâm nghiệp vẫn cònhạn chế Một số chủ trương, dự án được phê duyệt, triển khai thực hiện nhưnglại không được cấp kinh phí như công tác giao rừng, dự án theo dõi diễn biến tàinguyên rừng, kiểm kê, trồng khoanh nuôi, bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dụng
1.2 Về chủ quan.
- Chính quyền nhiều xã, huyện, một số chủ rừng và cơ quan chuyên mônchưa ý thức đầy đủ và thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của mình theo quy địnhcủa pháp luật Một số nơi còn thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý,thậm chí làm ngơ, bao che cho hành vi vi phạm Một số cán bộ kiểm lâm và bảo
vệ rừng của chủ rừng thiếu tinh thần trách nhiệm, có biểu hiện thông đồng, tiếptay cho các hành vi xâm hại rừng trái phép
- Việc điều hành, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của các cấp, của các cơ quanchuyên môn còn chưa thường xuyên, thiếu kế hoạch cụ thể và chưa quyết liệt,nhất là việc kiểm tra vận chuyển, chế biến lâm sản, kiểm tra việc chấp hànhnhiệm vụ của cấp dưới Công tác báo cáo, nắm bắt thông tin, tổ chức dự báo tìnhhình chưa đảm bảo nên nhiều việc chưa có biện pháp xử lý kịp thời, hiệu quả
- Tổ chức bộ máy quản lý lâm nghiệp còn bất cập, nhiều việc còn chồngchéo không được phân định rõ Biên chế của lực lượng Kiểm lâm và bảo vệrừng còn thiếu 131 người so với tiêu chuẩn quy định, cấp xã thiếu cán bộ chuyên
Trang 13trách về lâm nghiệp Năng lực trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức, viênchức trong các cơ quan quản lý, các chủ rừng còn nhiều hạn chế Trang thiết bị,phương tiện cho công tác bảo vệ rừng còn thiếu chưa tương xứng với nhiệm vụđược giao, cơ sở vật chất còn nghèo nàn; hệ thống trạm trại còn bất cập; đờisống vật chất, tinh thần của cán bộ, công chức, nhất là ở vùng rừng núi xa xôi,hẻo lánh còn gặp nhiều khó khăn
- Các chủ rừng chưa chủ động thực hiện quyền của mình theo quy địnhcủa pháp luật, chưa quan quan tâm tìm biện pháp nhằm khai thác có hiệu quảtiềm năng rừng, đất rừng được giao quản lý, để nâng cao đời sống cho cán bộ,viên chức, những người làm rừng Trong khi đó tỉnh chưa có chính sách khuyếnkhích và tạo điều kiện thỏa đáng để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vàobảo vệ, phát triển rừng, nhất là rừng tự nhiên Các thủ tục hành chính trong việcthuê, giao đất, giao rừng còn nhiều tầng nấc, phức tạp
- Trách nhiệm của các cấp, các ngành, của chủ rừng đã được pháp luậtquy định, nhưng công tác phân cấp, phân công chưa rõ ràng, đầy đủ và chưa cóchế tài, hình thức kỷ luật, khen thưởng thỏa đáng Ý thức trách nhiệm cộng đồngcủa nhân dân có nơi chưa cao, khi có sự việc cần huy động còn khó khăn
- Sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng (giữa Kiểm lâm với Công an,Quân đội) trong tổ chức thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng chưa thườngxuyên, tính chủ động của các ngành còn hạn chế, nhiều lúc, nhiều nơi còn thiếugắn bó, tinh thần trách nhiệm, hiệu quả phối hợp chưa cao; việc điều tra, xử lýcác vụ chống người thi hành công vụ còn chưa nghiêm minh, kéo dài, chưatrừng trị thích đáng kẻ chủ mưu, nên chưa có tác dụng giáo dục, răn đe đốitượng vi phạm, dẫn tới một số đối tượng phá rừng, khai thác rừng trái phép cóbiểu hiện coi thường pháp luật, thách thức cơ quan công quyền
2 Bài học kinh nghiệm
- Một là: Ở đâu người đứng đầu các tổ chức có năng lực, nêu cao tinh
thần trách nhiệm, tâm huyết với nhiệm vụ được giao thì ở đó rừng sẽ được bảo
vệ và phát triển tốt hơn
- Hai là: Nơi nào thực hiện tốt công tác giao, khoán đất rừng, đảm bảo lợi
ích hài hòa giữa bên giao, nhận khoán thì ở đó nhân dân gắn bó với rừng hơn,rừng sẽ được bảo vệ tốt hơn và ngày càng phát triển
- Ba là: Địa phương nào mà cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm vào
cuộc, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sát thực tế, có chương trình hoạt động cụ thể,khoa học thì ở đó rừng được quản lý bảo vệ và phát triển tốt hơn
- Bốn là: Ở đâu các vụ vi phạm được xử lý nghiêm minh, kịp thời, dứt
điểm, có tính răn đe giáo dục cao thì ở đó tình hình vi phạm pháp luật giảm
- Năm là: Đơn vị chủ rừng nào phối hợp gắn bó chặt chẽ với chính quyền
địa phương thì ở đó mọi hoạt động lâm nghiệp sẽ thuận lợi, đưa lại hiệu quảthiết thực
Phần 2 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
Trang 14Giai đoạn 2012-2015 và định hướng đến 2020
I PHƯƠNG HƯỚNG
Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa công tác lâm nghiệp, khuyến khích cácthành phần kinh tế và toàn xã hội cùng tham gia bảo vệ và phát triển rừng, khaithác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế về rừng, đất rừng, vì mục tiêu phòng hộ, bảo
vệ môi trường, sinh thái và tăng trưởng bền vững kinh tế của tỉnh
Tập trung bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, đặc biệt là rừng phòng hộ đầunguồn, các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ven biển Triển khai đồng bộ, cóhiệu quả các biện pháp phòng chống cháy rừng, lấn chiếm rừng, khai thác, vậnchuyển, buôn bán, chế biến lâm sản trái phép
Đẩy mạnh công tác giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuêđất lâm nghiệp, trong đó quan tâm cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tếngoài quốc doanh thuê để phát triển sản xuất Khuyến khích và hỗ trợ trồng rừngthâm canh, trồng cây bản địa gỗ lớn, hình thành các vùng nguyên liệu tập trunggắn với chế biến sâu các sản phẩm
Xác định công tác bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của cả hệthống chính trị và phải dựa vào nhân dân
II MỤC TIÊU
1 Mục tiêu chung
Quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả, bền vững 362.740,9 ha rừng và đấtrừng hiện có, nâng cao chất lượng và giá trị của rừng nhằm đảm bảo vai tròphòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyếtviệc làm, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an ninh quốc phòng và xây dựng nôngthôn mới của tỉnh
2 Mục tiêu cụ thể
* Phấn đấu đến hết năm 2015 đạt các mục tiêu sau:
- Độ che phủ rừng đạt 54%, chất lượng của rừng tự nhiên ngày càng đượccải thiện
- Kiểm soát chặt chẽ khai thác, vận chuyển, buôn bán, chế biến lâm sản;giảm số vụ và diện tích thiệt hại do cháy rừng gây ra
- Toàn bộ diện tích rừng, đất rừng đều có chủ quản lý
- Giá trị sản xuất theo giá so sánh đạt 250 tỷ đồng, tăng trưởng 3,5%/năm
- Giá trị xuất khẩu đạt 50 triệu USD
- Giải quyết việc làm cho khoảng 55.000 lao động
* Mục tiêu định hướng đến hết năm 2020:
Độ che phủ rừng đạt 56%, rừng và đất rừng cơ bản được quản lý ổn định,bền vững; tăng trưởng giá trị SX theo giá so sánh ước đạt 4%/năm; giá trị xuấtkhẩu gỗ và lâm sản đạt khoảng 70 triệu USD; Giải quyết việc làm cho 70 ngànlao động
III NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Trang 151 Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức, vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân
Tổ chức thực hiện thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dụcpháp luật về bảo vệ và phát triển rừng Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn,phối hợp với các Sở, ngành liên quan xây dựng chương trình, kế hoạch và nộidung phổ biến, giáo dục pháp luật cụ thể, phù hợp với từng nhóm đối tượng và
tổ chức thực hiện có hiệu quả Đảm bảo 100% người đứng đầu chính quyền địaphương các cấp, các tổ chức, cơ quan chuyên môn nhận thức đầy đủ về vai trò,trách nhiệm của mình và nắm chắc các chủ trương, chính sách, pháp luật về lâmnghiệp Cơ bản các hộ dân sống gần rừng, trong rừng được tuyên truyền, tiếpcận và hiểu biết các chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chú trọng một số nội dung sau:
- Tổ chức phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật về lâm nghiệpcho cán bộ chính quyền cấp xã, cán bộ thôn xóm, lực lượng bảo vệ rừng, bìnhquân mỗi huyện 2 lớp/năm;
- Tập huấn nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ rừng, cán bộ phòng ban cáchuyện, cán bộ, dân quân tự vệ các xã, bình quân mỗi huyện 2 lớp/năm;
- Tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ bảo vệ rừng, PCCCR cho các cơquan chuyên môn tỉnh, huyện, bình quân 02 lớp/năm;
- Tổ chức các buổi tọa đàm, nói chuyện chuyên đề trong các trường học,cộng đồng dân cư sống ở các khu vực gần rừng, trong rừng, bình quân mỗi xã 10cuộc/năm;
- Tổ chức phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ và pháttriển rừng, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trong thời điểm nắng nóng, nguy cơ xảy
ra cháy rừng cao trên đài phát thanh, truyền hình tỉnh, huyện, phát thanh các xã;
- Tổ chức các hội thi tìm hiểu pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.Ngân sách đầu tư thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật 4,8 tỷ đồng,bình quân mỗi năm 1,2 tỷ đồng
2 Tăng cường quản lý quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, hàng năm thực hiện việc giao chỉ tiêu kế hoạch từ tỉnh đến huyện, xã Quan tâm rà soát điều chỉnh các quy hoạch đáp ứng yêu cầu phát triển, đặc biệt là phát triển rừng sản xuất
Tăng cường kiểm soát, quản lý quy hoạch, đảm bảo việc cấp phép, quyếtđịnh các vấn đề như chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, cho thuê rừng, thựchiện các chương trình, dự án phải trên cơ sở quy hoạch được duyệt, chấm dứttình trạng quy hoạch chạy theo yêu cầu của nhà đầu tư Các cơ quan chuyênmôn theo chức năng, nhiệm vụ của mình quan tâm xây dựng các chương trình,
kế hoạch nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp mà quyhoạch bảo vệ, phát triển rừng cấp tỉnh, cấp huyện đã được phê duyệt Hàng nămUBND tỉnh giao chỉ tiêu kế hoạch về bảo vệ và phát triển rừng cho cấp huyện,
để cấp huyện chủ động tham gia công tác BVPTR trên địa bàn Quá trình chỉ
Trang 16đạo thực hiện quy hoạch cần kiểm tra, giám sát, đánh giá kịp thời, để đạt đượcmục tiêu mà quy hoạch đề ra
Phê duyệt kết quả rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh đãđược Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thẩm định Sau điều chỉnh quyhoạch 3 loại rừng và khi có kết quả kiểm kê rừng cần xem xét điều chỉnh quyhoạch bảo vệ và phát triển rừng ở các cấp cho phù hợp với tình hình thực tế,trong đó chú trọng làm rõ về phát triển rừng sản xuất, theo hướng hình thành cácvùng sản xuất tập trung gắn với chế biến, như vùng trồng rừng nguyên liệu, cao
su, sản xuất kinh doanh gỗ lớn, lâm sản ngoài gỗ
Quan tâm tăng cường năng lực, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tintrong công tác điều tra, quy hoạch, đảm bảo xây dựng các quy hoạch, dự án cóchất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển
3 Tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy mô diện tích quản lý của các chủ rừng Nhà nước đảm bảo sử dụng ổn định, có hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và năng lực quản lý của từng đơn vị và góp phần thực hiện chiến lược xã hội hóa công tác lâm nghiệp của tỉnh
Tập trung rà soát diện tích quản lý của các chủ rừng nhà nước để xem xétcắt chuyển theo hướng: Diện tích rừng phòng hộ tập trung có quy mô trên 2.000
ha của các doanh nghiệp thì cần cắt chuyển để giao cho các ban quản lý rừngphòng hộ quản lý Diện tích quy hoạch rừng sản xuất tập trung có quy mô từ1.000ha trở lên (trường hợp đặc biệt thì từ 500 ha trở lên) đang do các Ban quản
lý rừng quản lý thì xem xét thu hồi chuyển về địa phương để giao cho hộ giađình hoặc cho các tổ chức kinh tế thuê Diện tích rừng phòng hộ và rừng sảnxuất manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, gần dân có quy mô liền vùng dưới 500 ha thìxem xét giao cho hộ, các tổ chức hoặc cộng đồng dân cư quản lý
Định hướng cụ thể để rà soát, xem xét cắt chuyển như sau:
- Đối với doanh nghiệp: Xem xét tách chuyển khoảng 19.259 ha (trong đó
có 18.254 ha rừng phòng hộ) của Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp vàdịch vụ Hương Sơn để tổ chức lại ban QLRPH Ngàn Phố; tách chuyển khoảng7.000 ha (trong đó có 5.666 ha rừng phòng hộ) của Công ty TNHH một thànhviên lâm nghiệp và dịch vụ Chúc A sang Ban QLRPH Ngàn Sâu, để tổ chức lạiBan
- Đối với các ban quản lý rừng: Giữ nguyên, ổn định diện tích hiện đangquản lý của Ban quản lý rừng PH Hồng Lĩnh và Vườn Quốc Gia Vũ Quang.Soát xét, cắt chuyển khoảng 4.237 ha rừng sản xuất của Ban QLRPH Ngàn sâu,8.152 ha của PH Nam Hà Tĩnh (trong đó có 880 ha rừng phòng hộ), 752 ha của
PH Sông Tiêm, 3.248 ha của PH Ngàn Phố (trong đó có 260 ha phòng hộ),2.454 ha của PH Cẩm Xuyên (trong đó có 1.106 ha rừng phòng hộ), 3.947 hacủa PH Thạch Hà (trong đó có 1.097 ha phòng hộ) để cho các tổ chức kinh tếthuê, chuyển về cho địa phương để giao cho hộ gia đình (nếu địa phương, các tổchức kinh tế có nhu cầu) Đối với diện tích rừng và đất quy hoạch lâm nghiệpven biển của Ban QLRPH Cẩm Xuyên, Thạch Hà và Nam Hà Tĩnh cắt ra sẽ giao