Tên gọi sành quét men nâu là do bên ngoài của đồ sành có màu nâu, được quét bằng chổi và để lại các vệt quét.. Màu nâu quét trên đồ sành, chưa hẳn đã là men bởi nếu nó được quét một lớp
Trang 1ĐỒ SÀNH THÉ KỶ VII - IX
Ở ĐỊA ĐIÊM ĐƯỜNG HẦM, BÃI XE NGẦM
TẠI 36 ĐIỆN BIÊN PHỦ, BA ĐÌNH, HÀ NỘI
TRẦN ANH DŨNG *
* Hội Khảo cổ học Việt Nam
Địa điểm Vườn Hồng (còn có tên gọi khác là Đường hầm và Bãi xe ngầm Nhà Quốc Hội) tại số 36 đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội được khai quật năm 2008 - 2009 Địa điểm Vườn Hồng cách trục trung tâm Hoàng thành Thăng Long khoảng 200m về phía tây và cách nền điện Kính Thiên khoảng 100m về phía nam
Neu như đồ sành ở các giai đoạn sau như thời Lý, Trần, Lê thì chúng ta cũng đã có những hiểu biết nhất định, nhưng đồ sành ở các thế kỷ VII - IX thì hầu như còn là một ẩn số Việc nghiên cứu, tìm hiểu và nhận diện được hệ thống đồ sành ở giai đoạn này, đặc biệt là đồ sành do Việt Nam sản xuất vì thế trở nên rất quan trọng và là một trong những vấn đề cơ bản của Khảo cổ học
Đe nhận diện và giám định được niên đại của đồ sành đã là một điều khó, nhận diện được
đồ sành thế kỷ VII - IX lại càng khó hơn, bởi lần đầu tiên tại địa điểm Vườn Hồng chúng ta bắt gặp khá nhiều dòng sành của cả Việt Nam và Trung Quốc, trong khi việc nhận diện chúng lại chưa có tiền lệ Nhờ vào kết quả đào thăm dò và khai quật Khảo cổ học từ hàng loạt các lò sản xuất sành từ thế
kỷ I - X như các lò Tam Thọ (Thanh Hóa), Đồng Đậu, Thanh Lãng, Lũng Ngoại (Vĩnh Phúc), Đại Lai, Bãi Định, Đương Xá (Bắc Ninh) nên chúng ta đã nhận diện được đồ sành được sản xuất ở từng khu
lò Dầu vậy, việc nhận diện đồ sành của nhiều lò và nhiều thời cùng tập trung tại một địa điểm như Vườn Hồng thì lại là vấn đề không đơn giản
Điều rất đặc biệt là, đồ sành Việt Nam, được sản xuất ở giai đoạn này, tại lò Lũng Ngoại và xung quanh, với mô tip hoa văn trang trí sóng nước khá giống với đồ gốm giai đoạn Đồng Đậu và
Gò Mun của vàn hóa Đông Sơn thời dựng nước, đã cho thấy xu hướng, khát khao tìm về cội nguồn của những thợ gốm dân gian (Trần Anh Dũng, Ngô Sĩ Hồng 1986: 78-83)
Có rất nhiều vấn đề được đặt ra khi nghiên cứu đồ sành từ thế kỷ VII IX Hy vọng bài viết này là sự mở đầu có ích cho việc nghiên cứu đồ sành nói chung và đồ sành thế kỷ VII - IX nói riêng
1 Đồ sành Việt Nam
Tại Hoàng thành Thăng Long, mặc dù đã có nhiều đợt khai quật ở khu vực trung tâm và xung quanh nhưng chưa có vị trí nào lại có số lượng lớn đồ sành gia dụng thế kỷ VII - IX như ở địa điểm Vườn Hồng Tại đây đã phát hiện được số lượng lớn đồ sành cỏ niên đại thế kỷ vn - IX được sản
Trang 2xuất tại Việt Nam và Trung Quốc, trong đó đồ sành sản xuất tại Việt Nam chiếm số lượng chủ yếu Với tổng số 2.978 hiện vật sành phát hiện được ở địa điểm Vườn Hồng thì có tới 2.738 hiện vật sành sản xuất tại Việt Nam, trong bối cảnh Việt Nam đang bị nhà Đường (Trung Quốc) chiếm đóng (Bảng 7).
Bảng 1. Phân bố đồ sành Việt Nam và Trung Quốc ờđịa điểm Vườn Hồng
Hố
Cộng Men nâu
Sành xám
Men men nâu Men đen Không có men Mãnh
v3
Đù dáng
Mảnh vờ
Đù dáng
Mành v9
Đủ dáng
Mãnh vỡ
Đủ dáng
Đồ sành Việt Nam thu được ở địa điểm Vườn Hồng chiếm số lượng chủ yếu, với 2.738/2.978 hiện vật, chiếm 91,94%; đồ sành Trung Quốc chỉ có 240 hiện vật, chiếm gần 8,06%; Sành Việt Nam có 2 dòng: Dòng sành quét màu nâu và dòng sành màu xám không quét màu
1.1 Dòng sành quét màu nãu lò Lũng Ngoại
Dòng sành quét màu nâu ở Vườn Hồng chiếm số lượng nhiều nhất, có 2.657 /2.738 hiện vật đồ sành Việt Nam, chiếm tỷ lệ 97,04%; trong đó có 14 hiện vật còn đủ dáng là vò, binh và 2.643 hiện vật là mảnh vỡ Dòng sành màu xám không quét màu có 81 hiện vật, đều là mảnh vỡ, chiếm tỷ lệ gần 2,96% Tên gọi sành quét men nâu là do bên ngoài của đồ sành có màu nâu, được quét bằng chổi và
để lại các vệt quét Màu sắc của sành chưa ổn định, trong đó màu chủ đạo là màu nâu nên chúng tôi tạm gọi là dòng sành quét màu nâu Do quá trình nung và hỏa biến nên một số đồ sành có màu xám rêu, một số khác màu xám tro, một số nữa thì có lớp men nâu đen rất bóng và màu nâu xám
Màu nâu quét trên đồ sành, chưa hẳn đã là men bởi nếu nó được quét một lớp mỏng thì chưa tạo thành men chỉ để lại các vệt nâu nhạt, khi được quét một lóp màu dày hoặc hai lớp màu chồng lên nhau thì sẽ tạo ra một lớp men
Trang 358 Khảo cổ học, số 2 - 2022
Căn cứ để xếp nhóm sành này vào khung niên đại thế kỷ VII - IX và để nhận diện được nguồn gốc được sản xuất của chúng là dựa vào việc so sánh với những đồ sành cùng loại được phát hiện tại lò Lũng Ngoại (xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) qua chất liệu, hình dáng loại hình hiện vật, qua bộ phận tai gắn trên vai vò, kiểu loại miệng, kỹ thuật quét màu nâu Ở giai đoạn thế kỉ VII - IX chỉ có duy nhất các lò gốm ở Lũng Ngoại là có kỹ thuật quét màu nâu hoặc xám tạo một lớp áo và men cho đồ sành Khi so sánh trực tiếp mẫu sành quét men nâu của lò Lũng Ngoại với dòng sành quét màu nâu ở Vườn Hồng thi thấy chúng giống nhau
1 1.1 Vài nét về các dòng sành ử khu lò Lũng Ngoại
Vĩnh Phúc là một trong những trung tâm sản xuất gốm có quy mô lớn ở giai đoạn trước thế
kỉ X Trong số 10 khu lò gốm phát hiện được ở giai đoạn này thì đã có tới 4 khu lò nằm trong địa bàn của tỉnh Vĩnh Phúc Các khu lò gốm tập trung ở các huyện Bình Xuyên, Yên Lạc và Vĩnh Tường ngày nay Đây là khu vực có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề gốm, với địa hình đồi gò thấp ven sông Cà Lồ (một nhánh của sông Hồng), và sông Ba Hanh vùng nguyên liệu là sét trắng rất phong phú gần như nằm lộ thiên ở chân gò hay chân đồi thấp và nguyên liệu sỏi đầu ruồi
bị laterit hóa ưên các đỉnh đồi thấp Khi những đồ sành được sử dụng nguyên liệu là sét trắng thi xương gốm màu trắng đục ngả vàng khá giống đồ gốm men ở lò Tuần Châu, chỉ khác ở lớp men và lớp áo phủ bên ngoài
Khu lò nung gốm cổ Lũng Ngoại (xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phát hiện vào năm 2000 Khu lò gốm nằm ở bờ phía đông của con sông Phan bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo Khu lò gốm kéo dài khoảng gần Ikm, phía bắc từ khu vực UBND xã, phía nam đến đinh Lũng Ngoại, cách di chỉ thời kim khí Lũng Hòa 800m về phía tây, cách sông Hồng, nơi gần nhất 2,5km, cách Việt Trì 4km về phía tây, cách thị xã Vĩnh Yên 14km về phía tây bắc
Các lò gốm nằm ở thềm bờ sông cổ của sông Ba Hanh nơi có khá nhiều các mỏ sét thường thuận lợi cho việc làm gốm Các lò gốm được đắp bằng đất sét tập trung thành từng cụm 3 -5 lò và
có kết cấu giống nhau, phân bố chủ yếu ở khu vực UBND xã Lũng Hòa và khu gò cao gần đền thờ
Lê Thị Ngọc Trinh - một nữ tướng của Hai Bà Trưng Sự phân bố của các lò gốm ven sông giống như phân bố của những làng Việt cổ, trong phạm vi chiều dài khoảng 800 - 900m
Năm 2000, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã khai quật 1 lò gốm ở khu vực phía nam, cách đền thờ Lê Thị Ngọc Trinh khoảng hơn 100m Theo kết quả khai quật của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, các lò gốm ở khu vực này đã bị phá hủy hết, lúc đó chỉ còn lại 1 lò nung gốm còn nguyên vẹn Lò dài 5,5m, chỗ rộng nhất là 2,6m, vòm lò cao 1,3 - l,5m, cửa lò ở hướng tây Cửa được gia cố thêm bằng gạch, cao 0,90m, lò dốc 15° Toàn bộ lò gốm đã được xuất lộ, hiện vật ttong lò chưa được nghiên cứu thì đến đêm mưa to và bị một số thanh niên càn quấy phá tan Hiện vật thu được chủ yếu
là vò sành, ưong đó có cả loại vò có tai hình con rùa đắp nổi, mảnh chậu sành, đĩa sành, bát sành, vòi ấm sành, âu sành miệng rộng đáy thót (Ngô Thế Phong 2001)
Đầu năm 2003, Viện Khảo cổ học cùng Bảo tàng tỉnh Vĩnh Phúc đã điều tra tại xã Lũng Hòa và được biết, trong khi đào lấy đất, nhân dân đã làm lộ ra thêm một số lò gốm khác Vào thời điểm này, chúng tôi đã phát hiện dấu tích của 9 lò nung gốm nữa, con số này chắc chắn là ít hơn thực tế nhiều Viện Khảo cổ học đã đào thăm dò 3 lò gốm
Di vật thu đựơc tại lò số 1 có 1.534 đồ sành, chủ yếu là loại sành dày, là mảnh của các loại
vò, chậu, bát, chì lưới, khuôn tạo bát, bàn đập gốm sành Tại lò số 3, chúng tôi thu được 692, trong
đó có 419 hiện vật sành, thuộc các loại hình: vò, chậu, ấm, đĩa, bát chủ yếu là mảnh của loại vò sành có 4 tai ngang, miệng và thân ngắn, miệng và đáy rộng gần bằng nhau Tai gốm, đều được làm
Trang 4riêng sau đó mới gắn vào vai bình hoặc vò, tai cong hình chữ c được nặn tay, phần lớn dài 4,9 - 6cm, bề mặt quai rộng từ 1,2 - l,5cm Một số ít tai khác dài 5,7cm, bề mặt quai rộng l,6cm
Di vật thu đựơc tại lò số 3 gồm có đồ sành, đồ gốm cứng, gạch múi bưởi và ngói Gạch dày từ 2,8 - 3,5cm, mặt gạch có vết chải Ngói có 3 viên, đều là loại ngói cong, mặt trong có vết chải Có 2 chiếc bát to bị vỡ được tìm thấy ở sát đáy lò, bát loe ngả, men trắng phớt xanh xỉn, hơi ngả vàng, lòng và đáy trong ngoài đôi chỗ men đọng giọt Thân bên ngoài men chảy tự do thành vệt, xương trắng đục ngả vàng, chân đế đặc, để mộc, lòng bát còn lại 3 dấu cạo men hình tứ giác xếp theo hình nan hoa bánh xe Bát cao 4,7cm, đường kính miệng 16,8cm, đường kính đế 6,6cm
Hoa văn trang trí trên đồ sành Lũng Ngoại là văn sóng nước khắc chìm rất đa dạng: sóng nước đứt quãng, sóng gấp khúc đầu sóng nhọn, sóng đứt khúc đầu cong, sóng doãng phổ biến nhất là văn sóng nước kết họp với các đường kẻ ngang, được tạo bởi kỹ thuật khắc vạch bằng que một răng, hai răng và nhiều răng Loại hình hoa văn thừng kết hợp với các đường khắc vạch tạo thành hình ca rô chéo, văn chải, văn thừng được thể hiện trên gốm cứng, chủ yếu là ở loại hình nồi Sành khá dày (từ 0,7 - 1,2cm)
Sành của lò Lũng Ngoại có 2 dòng: Sành quét màu và không quét màu Sành quét màu cũng
có thể tạo thành men hoặc không, sắc màu không ổn định, gồm các màu vàng đất, nâu rỉ sắt, màu vàng lẫn đen nhạt, vàng lẫn xám, hoặc loang lổ như da báo, xanh rêu Nhiều mảnh tráng màu nâu
gỉ sắt, màu vàng đất, màu vàng của gạch nung non, mầu xám nhạt màu chỉ được quét từ ở 2/3 từ miệng xuống Đa số là bị cháy men, có lê đó là một trong những nguyên nhân chúng khiến chúng bị dính men và bị vỡ
Chất liệu sành có 2 loại: Sét trắng trộn với sỏi đầu ruồi giã nhỏ hoặc sét thường trộn với hạt cát mịn; Dòng sành không quét màu, bề mặt sành thường có mầu ghi xám, xám xanh, xám nhạt, nâu - tím, xương tím nhạt, xám đen (Trần Anh Dũng, Hà Văn cẩn 2003: 341-343)
Khu lò Lũng Ngoại có niên đại thế kỷ VIII - IX, cùng thời gian với niên đại của những đồ sành Việt Nam phát hiện được ở địa điểm Vườn Hồng
1 1.2 Dòng sành quét màu nâu lò Lũng Ngoại phát hiện được ờ địa điểm Vườn Hồng
a Hiện vật còn đủ dáng
Tổng số có 14 hiện vật, gồm: 12 vò thân dáng hình trụ, miệng loe xiên, 1 nắp đậy và 1 hiện vật là 2 bình thân dáng hình thoi, có 2 miệng lồng vào nhau giống như bình chống kiến Miệng bên ngoài loe xiên, miệng bên trong thành đứng Hiện vật còn đủ dáng được phân bố ở các ho G2, 5,11, 12,15,17, 18vàG19
Căn cứ vào hình dáng miệng, chúng tôi chia làm các loại, kiểu như sau:
- về loại hình miệng, tất cả các loại hình sành Việt Nam và Trung Quốc được chia 4 loại theo kiểu dáng miệng: Miệng loe, miệng đứng, miệng cong khum và kết hợp cả 2 miệng loe xiên và miệng đứng
Miệng loại I: Miệng loe, tống số có 11 hiện vật nguyên dáng;
Miệng loại II: Miệng đứng, có 1 hiện vật nguyên dáng;
Miệng loại III: Miệng cong khum;
Miệng loại IV: Đồ sành có 2 miệng, miệng ngoài loe, miệng trong đứng có 2 hiện vật nguyên dáng Đối với dòng sành quét màu nâu còn dáng, chỉ có 3 loại miệng, không có miệng loại 3
Trang 560 Khảo cổ học, số 2 - 2022
- về loại hình kiểu, cũng có 3 kiểu (Bảng 2).
Loại I kiểu 1: Miệng loe xiên, kiểu vành miệng trong ngoài không có đường cắt vát;
Loại I kiểu 2: Kiểu vành miệng vát ngoài không tạo gờ;
Loại I kiểu 6: Kiểu vành miệng vát ngoài, tạo gờ ở ngoài
Bảng 2 Loại kiểu sành đủ dáng quét màu nâu thế kỷ VII - IX
Loại II Loại
* Một số hiện vật tiêu biểu
Vò loại I kiểu 1: Có 1 hiện vật ký hiệu 12.VH.G2.MT132:SA:101, dáng hình trụ tròn, thấp,
vò sứt miệng, vỡ một tai Miệng trong ngoài loe xiên, vai xuôi, thân thẳng, đáy bằng, thân bên ngoài quét hai lớp màu nâu Lớp bên trong mỏng, thưa, để lại vệt chổi quét, lớp bên ngoài quét dày, chồng lên lỏfp bên trong và để lại nhiều vết men đọng giọt Một phần thân giáp đáy để mộc Trên vai vò gan 6 tai ngang Be mặt của tai vồng cao ở giữa, hai đầu tai có vết miết tay theo chiều ngang Bên trong lòng của tai để lại vết gốm mộc chứng tỏ tai được gắn trước, sau đó mới quét màu Thân bên ngoài của vò để lại nhiều vết lồi lõm của kỹ thuật dải cuộn và vết đập sửa Màu/men chủ yếu quét bên ngoài, bên trong được quét loáng thoáng Phần thân giáp đáy bên trong có các vết ấn tay, tuy đã được xóa nhưng không hết Lòng đáy bên trong được xóa hết những dấu ấn tay Đáy vò bên ngoài được làm rất phang Phần thân giáp đáy được cạo rất kỹ, tạo với đáy thành một đường vuông thành sắc cạnh Qua những chỗ để mộc thì thấy xương gốm màu xám trắng để lộ ra những hạt sỏi đầu ruồi màu đen, nhỏ li ti đã cho thấy chất liệu đồ sành ở đây bao gồm đất sét tương đối trắng có trộn lẫn những hạt sỏi đầu ruồi được giã nhỏ nhằm tạo nên độ cứng của xương gốm và khiến cho đồ sành chịu được nhiệt độ cao Vò có đường kính miệng ll,5cm, đường kính đáy 13,5cm, cao 20cm, khoảng cách giữa các tai là 5cm (Hĩnh 1).
Các loại vò tiêu biểu (Nguồn: Tác giả)
Trang 6Vò loại I kiểu 2: Vành miệng và thành miệng trong loe xiên, vành miệng ngoài vát Tổng số
có 6 hiện vật, tiêu biểu cho vò kiểu này là:
Vò ký hiệu 12.VH.G11.L3.SA:1O6 (Hình 2), dáng hình trụ tròn, thấp Vò còn đủ 6 tai ngang, các đầu tai được miết cả chiều dọc và chiều ngang Vò bị vỡ và thủng một phần đáy, gắn chắp nhiều chỗ Thân có dính mảnh của hiện vật khác Toàn thân bên ngoài quét men màu nâu xám Màu/men quét gần kín thân bên ngoài, có chỗ quét không đều, đọng giọt và để lại vết chổi quét Màu được quét theo chiều từ trên xuống và quét theo chiều ngang Thân lồi lõm để lại dấu vết dải cuộn Thân bên trong có vuốt sửa những đường dải cuộn Đáy xóa hết vết ấn tay Đường kính miệng 12cm, đường kính đáy 13,2cm, cao 20cm, khoảng cách các tai 5 - 6,5cm
Vò ký hiệu 12.VH.G1 l.L10.SA:108 (Hình 3), dáng hình trụ tròn, rất thấp, vai gắn 6 tai ngang còn đủ, tai miết theo chiều ngang Xương màu xám trắng nổi nhiều hạt sỏi đầu ruồi Đáy tương đối phẳng Vành miệng ngoài quét một lớp mỏng màu nâu, nham nhở Thân quét 2 lớp nâu Lớp ngoài chi quét từ vai xuống đến gần hết thân tạo thành lớp men màu nâu xám và chảy thành từng vệt Thân bên ngoài dính tai của một hiện vật khác Điều này cho thấy những vò sành khi nung được xếp gần nhau Vỉ thế tai của hiện vật này dính vào thân của hiện vật khác Đáy phẳng Phần thân giáp đáy được cạo rất kĩ tạo với đáy thành một đường vuông thành sắc cạnh Thành và lòng bên ưong có xóa các vết ấn tay Đường kính miệng 10,7cm, đường kính đáy 12,5cm, cao 15,5cm, khoảng cách các tai 3-4cm
Vò loại I kiểu 6: 4 hiện vật, vò có vành miệng và thành miệng ưong loe xiên, vành miệng ngoài vát tạo gờ ở thành miệng trong
Vò ký hiệu 12.VH.G19.L8.SA: 113, dáng hình trụ tròn, tương đối cao, vỡ gắn chắp từ nhiều mảnh, sứt miệng Dáng hình trụ, vai xuôi, cổ hơi thắt Vành miệng ngoài có chỗ tráng men, có chỗ
để mộc Còn đủ 6 tai, đầu tai được miết theo chiều chéo và ngang Thân bên ngoài được quét 2 lớp màu So với các vò khác thì lớp màu ở chiếc vò này, bên trong dày hơn, được quét theo chiều chéo nên tạo được lớp men có màu nâu xám Lớp men bên ngoài khá dày, được quét từ cổ xuống đến gần hết thân tạo một lớp men có màu nâu bóng Lớp men ngoài cũng được quét theo chiều chéo, có chỗ theo chiều dọc Dưới vai vò có khắc chữ Hán Trong lòng có những vệt men quét không đều Đáy lồi lõm do xương gốm phồng rộp và có dính miệng hoặc đáy của một đồ gốm khác nhưng không tạo thành cả đường tròn mà chỉ tạo thành 1 phần đường tròn chứng tỏ đồ vật trên khi nung bị xô lệch khỏi vị trí ban đầu Thành và lòng bên trong trước khi quét men được cạo sửa Đường kính miệng 12cm, đường kính đáy 13cm, cao 19cm, khoảng cách các tai là 4-6cm
Vò loại III: Miệng đứng, vành miệng vát ra ngoài Có 1 hiện vật ký hiệu 12.VH.G15.L3.SA:159
(Hĩnh 4), sứt miệng, thân một số chỗ dính hiện vật khác, dáng thân hình trụ tròn, thấp Đáy tương đối phẳng Có dấu tròn của miệng một hiện vật khác đặt xếp nung ở bên dưới Còn đủ 6 tai, trong đó 1 tai sứt, 2 đầu tai được miết theo chiều ngang, một số tai để lại vết ấn ngón tay trỏ Xương màu tráng xám pha sỏi đầu ruồi Ngoài cũng quét hai lớp mầu Lớp trong mỏng quét theo chiều chéo, lớp men ngoài mỏng quét theo chiều ngang chỉ ở phần vai Những vệt men chảy xuống thân và đáy là từ lớp men bên ngoài này Trên vai khắc chùn chữ “bát” Đáy phẳng Đáy và thân bên ngoài được cạo sửa cẩn thận, vuông thành sắc cạnh Lòng bên trong và đáy bên ngoài có rất nhiều hạt sỏi đầu ruồi Thành và đáy bên
Trang 762 Khảo cổ học, số 2 - 2022
trong trước khi quét men đã được cạo sửa Đường kính miệng 10,5cm, đường kính đáy 12,5cm, cao 17cm, khoảng cách các tai 4cm
Bình loại IV: 2 hiện vật, thành miệng ngoài loe, thành miệng trong đứng (Bình sành có 2 miệng) Bình và vò đều lấy chung tiêu chuẩn phân loại, kiểu theo dáng miệng, vành miệng
Bình ký hiệu 12.VH.G5.L7.SA:168 (Hình 5), dáng thân hình thoi, phình rộng nhất ở giữa thân, thu nhỏ dần về phía đáy và cổ Miệng ngoài loe rộng, giống hình đĩa, thành miệng cong khum Thành miệng trong đứng, vành miệng bên trong vê tròn Thành miệng trong cao hơn thành miệng ngoài Vò bị thủng một đoạn thân, vỡ gắn chắp Đáy lõm, có tô lớp màu hồng, xương màu xám Thân bên ngoài có nhiều vệt cạo sửa tạo thành những đường gân nổi song song với nhau, cổ quét lóp men dày màu nâu Vai, lòng miệng ngoài, thân ngoài và trong của vành miệng trong và thân vò có quét các vệt men nâu theo chiều ngang Các vệt men được quét không đều nhau, chỗ có chỗ không khiến cho chồ được quét màu ở thân bình trở nên loang lổ Lòng của bình cũng tạo các vệt gân nổi do cạo sửa Bình được làm riêng phần thân và miệng sau đó gắn chắp 2 bộ phận này lại với nhau nên bên trong để lại vết gắn chắp Chất liệu sét rất mịn, đường kính miệng ngoài ll,7cm, đường kính miệng trong 7,5cm, đường kính đáy 8,3cm, cao 20,5cm
Bình ký hiệu 12VH.G2L4.NK310.SA: 169, dáng thân hình thoi, tương đối cao, gắn chắp từ nhiều mảnh, thủng thân và một số chỗ ở cổ, vỡ một số đoạn ở thành miệng ngoài và trong Trong ngoài quét màu xám, giữa màu nâu nhạt Đáy lõm, có tô màu hồng nhạt Phần vai, cổ, vành miệng ngoài, lòng miệng ngoài, thành miệng trong có quét các vệt men màu nâu Các vệt men được quét không đều, chỗ có chỗ không khiến cho men trên vò trở nên loang lổ Thành của vành miệng trong
và thành của vành miệng ngoài cao hơn bình có ký hiệu 12.VH.G5.L7.SA: 168 Lòng của bình cũng
có các vệt cạo theo chiều ngang tạo những đường gân nổi song song nhau Bình được làm từ chất liệu sét mịn, mỏng, đều, thuộc loại sành cao cấp Đường kính miệng ngoài 13cm, đường kính miệng trong 7cm, đường kính đáy 8,8cm, cao 24cm (Hình 6).
b Mảnh vỡ
về số lượng, tổng số mảnh vỡ của dòng sành quét men nâu là 2.643 hiện vật, trong đó: Mảnh miệng có 656 hiện vật; mảnh thân 1.461 hiện vật và mảnh đáy là 526 hiện vật
về màu men, có 3 loại chính là
men màu nâu nhạt, nâu xám (Hĩnh 7) và
nâu đen bóng, trong đó màu nâu nhạt có
1.140 hiện vật; nâu xám 1089 hiện vật;
nâu đen bóng 414 hiện vật (Hình 8)
về loại, kiểu miệng, tiêu chuẩn
phân loại, kiểu của mảnh vỡ cũng giống
như ở hiện vật còn đủ dáng Tổng số có
656 mảnh miệng, phân bố ở tất cả 21 hố, gồm có các loại, kiểu miệng sau:
Những mảnh vỡ có các màu men (Nguồn: Tác già)
Miệng loại I
- Loại I kiểu 1.' 77 hiện vật Vành miệng không vát trong và ngoài;
Trang 8- Loại I kiểu 2: 376 hiện vật Vành miệng vát ngoài;
- Loại I kiểu 3: Không có Vành miệng vát ở trong;
- Loại I kiểu 4: 32 hiện vật Vành miệng vát ngoài tạo gờ nhỏ ở ngoài;
- Loại I kiểu 5: 7 hiện vật Vành miệng vát ngoài tạo gờ cả trong và ngoài;
- Loại I kiểu 6: 117 hiện vật Vành miệng vát ra ngoài tạo gờ miệng ở trong
Miệng loại II: 62 hiện vật Miệng đứng, vành miệng vát ra ngoài
Miệng loại III: Cong khum: không có tại Vườn Hồng nhưng tại khu lò Lũng Ngoại đào thám sát năm 2013 đã tìm thấy khá nhiều
Miệng loại IV: Bình chống kiến có 2 hiện vật:
- Mảnh có tai dọc ký hiệu G14.L6.HĐĐ44.SA:170 Vỡ miệng trong và ngoài, chỉ còn lại 1 tai gắn dọc Cuống qoai trên được bóp từ 2 phía trong và ngoài Cuống quai dưới ấn từ trên xuống Ngoài phủ men rêu Trong màu xám nhạt, có các đường cạo sứa Giữa màu nâu Xưrnig không được lọc kỹ, có dính hạt sỏi son
Mảnh thứ 2 ký hiệu G12.MT07.SA:171 Miệng bên ưong còn, miệng ngoài vỡ Trong ngoài phủ men xám rêu, bong tróc
1.1.3 Dòng sành màu xám lò Lũng Ngoại phát hiện được ở địa điểm Vườn Hồng
Tổng số có 81 hiện vật đều bị vỡ nhỏ Dòng sành xám có các sắc độ xám ghi, xám xanh, với các dặc trưng như sau:
a Chất liệu: Dòng sành xám - sản phẩm của lò Lũng Ngoại được tìm thấy ở địa điểm Vườn Hồng được làm từ chất liệu sét pha hạt cát mịn và sỏi đầu ruồi với tỷ lệ thấp nên bề mặt tương đối mịn, sành dầy và bề mặt nhằn hơn sành của lò Đương Xá Dòng gốm này có chất liệu mịn hơn Mặt trong và ngoài được xoa nhẵn Chất liệu sét được pha trộn hạt cát mịn khi tạo những đồ gốm có kích thước lớn để tránh làm biến dạng đồ gốm khi nung Những đồ gốm không có hoa văn thường mịn hơn đối với đồ gốm có kích thước nhỏ, còn đối với những đồ gốm có kích thước nhỏ thì tỉ lệ pha hạt cát nhiều hơn và thường nối những hạt cát nhỏ mịn trên bề mặt Đối với những đồ gốm được tạo hoa văn sóng nước thì hầu hết đồ gốm được tạo từ chất liệu sét pha hạt cát mịn Một số mảnh gốm thì thấy có 2 lóp tương đối giống kỹ thuật sản xuất sành thời Trần
b về kiểu loại miệng, có một số kiểu tương đối giống đồ sành thời Đinh - Lê đặc biệt là miệng loại I kiểu 4
c về hoa văn trang trí. Chủ đạo là văn sóng nước kết hợp với kẻ ngang rất giống với nhiều mảnh đồ sành khai quật ở lò Lũng Ngoại (Vĩnh Phúc) năm 2013 So với hoa văn sóng nước của giai
Trang 964 Khảo cồ học, số 2 - 2022
đoạn Đinh -Tiền Lê thì các băng sóng nước ở đây được khắc chìm trên vai đồ sành tương đối quy chỉnh với các đường kẻ thẳng, khoảng cách đều nhau Băng sóng nước được vẽ bằng que nhiều răng nên các ngọn sóng, đoạn sóng rất đều về khoảng cách và chi tiết từng mô tip Những đường kẻ ngang rất thấng, rõ ràng, thường có 3 đến 6 đường kẻ ngang Một số khác không có đường kẻ ngang Nhưng các lớp sóng đều rất thẳng hàng Sóng được ve bằng que 3-4 răng Phong cách sóng nước và kẻ ngang chịu ảnh hưởng rất rõ của gốm Đồng Đậu (Hình 9-11).
Các loại hoa văn trang trí (Nguồn: Tác giả)
Hình 11
12VH.G13.MT2B 8A 759 12VHG6L103A 755 12VHG811OSA 75«
d về hình dáng và kỹ thuật gắn tai gốm: Tai được gắn theo chiều ngang Kỹ thuật gắn tai gốm, đối với vò thấp hình trụ thì gắn 6 tai ngang, kích thước tai nhỏ, khoảng cách mỗi tai khá ngắn Tai gắn trên tai vò kích thước trung bình hoặc lớn thường khá to, bẹt, vồng cao ở giữa Kỹ thuật miết gắn tai ở 2 đầu tai được vuốt ngang hoặc chéo, đôi khi để lại vết ấn bằng 2 ngón tay trỏ và ngón giữa, không có vết miết bằng 2 ngón tay cái tạo vệt tròn như sành lò Đương Xá
Be mặt tai khá rộng Một số vò lớn bề mặt tai
rộng tới 3,2 cm Hai đầu quai được miết ngang, để lại
nhiều vết miết tay Quan sát một số tai gốm thì thấy, tai
gốm nằm đè lên mô tip trang trí và đường miết tay đã
xoá một đoạn hoa văn trang trí Điều này cho thấy các
tai ở vai đồ gốm được làm sau khi người ta trang trí
xong, về kích thước tai gốm so với nhiều đồ gốm được
khai quật ở Lũng Ngoại mà chúng tôi dẫn ra ở đây hoàn
toàn trùng khóp nhau sóng gấp khúc (Hình 12).
Dòng sành xám của lò Lũng Ngoại được phân bố
ở hầu hết các hố khai quật tại địa điểm Vườn Hồng: 19 /21 hố khai quật (Bảng 3)
e Mảnh miệng: 35 hiện vật, đều là miệng loại I Dựa vào hình dáng vành miệng chúng tôi phân làm 3 kiểu:
- Loại I kiểu 2 (LI K2): 2 hiện vật Vành miệng vát ngoài, không tạo gờ
- Loại I kiểu 4 (LI K4): 27 hiện vật Vành miệng vát ra ngoài, tạo gờ ở ngoài
Loại I kiểu 5 (LI K5) 6 hiện vật Vành miệng vát ra ngoài tạo gờ cả trong và ngoài Miệng sành có 2 nhóm: nhóm ở vai có văn sóng nước và nhóm còn lại không có hoa văn ở vai (Bảng 4).
Hoa văn trang trí ở mảnh miệng: 6 mảnh, hoa văn sóng nước trang trí ở phần vai Loại, kiểu của mô tip hoa văn được phân loại theo cùng tiêu chí trong hệ thống mô tip hoa văn trang trí đồ
Hình 12 Các tai gốm được trang trí
(Nguồn: Tác giả)
Trang 10sành của các lò Lũng Ngoại, Đương Xá mà chúng tôi đã xây dựng lên bởi có mối liên hệ truyền thống và kế thừa
Hoa văn sóng nước trên mảnh miệng sành Lũng Ngoại
Loại IV kiểu 3 (LIV K3) 3 hiện vật Văn sóng gấp khúc kẻ ngang
Loại IV kiểu 1 (LIV Kl) 2 hiện vật Văn đường kẻ ngang
Mảnh miệng không xác định được kiểu loại: 1 hiện vật
Bảng 3. Phân bố dòng sành xám ờ các hố
miệng
Mảnh
Bảng 4. Phân bố loại/kỉểu miệng sành xám thế kỉ VII-IX
Hố
Loại
Cộng
Có hoa văn
Không hoa văn
Có hoa văn
Không hoa văn
Có hoa văn
Không hoa văn
Tổng
g Mành thán: 46 hiện vật, đều có hoa văn sóng nước, với 3 loại kiểu hoa văn như sau:
LI Kiểu 3 (LI K3): 1 hiện vật Sóng nước doãng
Loại II Kiểu 3 (LIIK3): 34 hiện vật, sóng nước gấp khúc
Loại III Kiểu 2 (LIIIK2): 11 hiện vật Sóng gấp khúc kết họp với các đường kẻ ngang
2 Đồ sành mang phong cách Trung Hoa
Từ the kỷ VII - IX, đồ sành thương mại từ Trung Quốc cũng được nhập khẩu vào Việt Nam Bang chứng là tại khu trung tâm của Hoàng thành Thăng Long và đặc biệt là tại Vườn Hồng, không chỉ có một số lượng lớn đồ gốm sứ của lò Việt Châu đã được phát hiện, mà còn có nhiều dòng sành khác cũng được tìm thấy Bản thân chính quyền đô hộ, do nhu cầu sinh hoạt và xây dựng trị sở, cũng đã mở các lò sản xuất vật liệu xây dựng, mà bằng chứng của việc này đã được tìm thấy qua các viên gạch xây mộ táng thời Đông Hán bị chảy men do bị nung đốt nhiều lần, đã cho thấy chúng
đã được tái sử dụng lại để xây lò nung vật liệu kiến trúc và cả các đồ gốm gia dụng khác theo phong cách Trung Hoa đương đại Một số đồ sành cao cấp khác đang trong quá trinh tạo tác dở dang cũng
đã được tim thấy tại Vườn Hồng, vì vậy việc nhận diện đâu là sành nhập khẩu, đâu là đồ sành phong cách Trung Hoa được sản xuất tại Việt Nam cũng là điều hết sức cần thiết