i MỤC LỤC Lời cam đoan i Lời cảm ơn ii Mục lục i Danh mục các chữ viết tắt v Danh mục bảng vii Danh mục hình ix Trích yếu luận án x Thesis abstract xii Phần 1 Mở đầu 1 1 1 Tính cấp thiết của đề tài 1[.]
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục i
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận án x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 4
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 4
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về bệnh viêm phổi ở lợn và vacxin phòng bệnh 5
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam về bệnh viêm phổi ở lợn và vacxin phòng bệnh 12
2.3 Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi ở lợn 14
2.3.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae 14
2.3.2 Bệnh viêm phổi do vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra ở lợn 17
2.4 Vi khuẩn Pasteurella multocida và bệnh viêm phổi ở lợn 19
2.4.1 Vi khuẩn P multocida 19
2.4.2 Bệnh viêm phổi lợn do vi khuẩn P multocida gây ra 21
Trang 22.5 Vi khuẩn Streptococcus suis và bệnh do vi khuẩn gây ra ở lợn 25
2.5.1 Vi khuẩn S suis 25
2.5.2 Bệnh do vi khuẩn S suis gây ra ở lợn 29
2.6 Các chất bổ trợ thường dùng trong sản xuất vacxin 30
2.6.1 Chất bổ trợ của vacxin 30
2.6.2 Muối khoáng 33
2.6.3 Chất nhũ tương 33
2.6.4 Cytokine 35
2.6.5 Saponin 35
2.6.6 Các chất cao phân tử 35
Phần 3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 36
3.1 Địa điểm nghiên cứu 36
3.2 Thời gian nghiên cứu 36
3.3 Vật liệu nghiên cứu 36
3.4 Nội dung nghiên cứu 37
3.4.1 Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể của lợn mắc bệnh do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra 37
3.4.2 Nghiên cứu đánh giá khả năng ổn định đặc tính sinh học của bộ giống sản xuất vacxin phòng bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra 37
3.4.3 Nghiên cứu quy trình sản xuất vacxin đa giá vô hoạt nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra 37
3.5 Phương pháp nghiên cứu 38
3.5.1 Phương pháp nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể của lợn mắc bệnh do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P mutocida và S suis gây ra 38
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu đánh giá khả năng ổn định đặc tính sinh học của giống sản xuất vacxin phòng bệnh do vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis gây ra 41
3.5.3 Phương pháp nghiên cứu quy trình sản xuất vacxin đa giá vô hoạt nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis gây ra 43
Trang 33.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 50
Phần 4 Kết quả và thảo luận 51
4.1 Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể của lợn mắc
bệnh do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra 51
4.1.1 Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể của lợn mắc
bệnh do vi khuẩn A pneumoniae gây ra 51
4.1.2 Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể của lợn mắc
bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra 54
4.1.3 Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể của lợn mắc
bệnh do vi khuẩn S suis gây ra 56
4.2 Kết quả đánh giá khả năng ổn định đặc tính sinh học của giống sản xuất
vacxin phòng bệnh do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và
S suis gây ra 59
4.2.1 Kết quả đánh giá khả năng ổn định đặc tính sinh học của giống sản xuất
vacxin phòng bệnh do vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra 59
4.2.2 Kết quả đánh giá khả năng ổn định đặc tính sinh học của giống sản xuất
vacxin phòng bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra 65
4.2.3 Kết quả đánh giá khả năng ổn định đặc tính sinh học của giống sản xuất
vacxin phòng bệnh do vi khuẩn S suis gây ra 70
4.3 Nghiên cứu quy trình sản xuất vacxin đa giá vô hoạt nhũ dầu phòng bệnh
viêm phổi ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và
S suis gây ra 75
4.3.1 Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất vacxin đa giá vô hoạt nhũ dầu phòng
bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis
gây ra 75
4.3.2 Kết quả đánh giá chất lượng vacxin bán thành phẩm 77
4.3.3 Kết quả so sánh khả năng sinh miễn dịch của vacxin đa giá bổ trợ keo phèn và
vacxin đa giá bổ trợ nhũ dầu chống lại vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis 83
4.3.4 Kết quả xác định liều tiêm vacxin viêm phổi lợn 90
4.3.5 Kết quả xây dựng quy trình sản xuất vacxin đa giá vô hoạt bổ trợ nhũ dầu
phòng bệnh viêm phổi ở lợn 92
Trang 44.3.6 Kết quả xây dựng quy trình sử dụng vacxin đa giá vô hoạt bổ trợ nhũ dầu
phòng bệnh viêm phổi cho lợn 99
Phần 5 Kết luận và đề nghị 103
5.1 Kết luận 103
5.2 Đề nghị 104
Danh mục công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án 105
Tài liệu tham khảo 106
Phụ lục 117
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
A pleuropneumoniae Actinobacillus pleuropneumoniae
BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
M hyopneumoniae Mycoplasma hyopneumoniae
P multocida Pasteurella multocida
RT-PCR Reverse transcription polymerase chain reaction
Trang 6Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
3.1 Trình tự mồi dùng để xác định gen omlA của A pleuropneumoniae 39
3.2 Trình tự các cặp mồi dùng để xác định serotype A, D của Pasteurella multocida 40
3.3 Trình tự mồi dùng để xác định gen gdh của Streptococcus suis theo tiêu chuẩn quốc gia- TCVN 8400-2:2010 40
3.4 Thành phần phản ứng 40
3.5 Chu trình nhiệt 40
3.6 Trình tự các cặp mồi dùng để xác định gen quy định sản sinh ba loại độc tố Apx của A pleuropneumoniae 41
3.7 Trình tự các cặp mồi dùng để xác định một số gen mã hoá các yếu tố độc lực của Streptococcus suis 42
3.8 Trình tự các mồi dùng để xác định các serotype 1, 2, 7, 9 của Streptococcus suis 42
4.1 Kết quả đánh giá khả năng gây bệnh ở lợn của vi khuẩn A pleuropneumoniae 51
4.2 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của lợn được gây nhiễm
A pleuropneumoniae 52
4.3 Kết quả đánh giá khả năng gây bệnh ở lợn của vi khuẩn P multocida 54
4.4 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của lợn được gây nhiễm
P multocida 55
4.5 Kết quả đánh giá khả năng gây bệnh ở lợn của vi khuẩn S suis 56
4.6 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của lợn được gây nhiễm S suis 58
4.7 Kết quả kiểm tra đặc tính sinh hóa của giống sản xuất A pleuropneumoniae 61
4.8 Kết quả xác định gen sản sinh độc tố của giống sản xuất A pleuropneumoniae 62
4.9 Kết quả đánh giá khả năng gây bệnh ở chuột của vi khuẩn A pleuropneumoniae 65
4.10 Kết quả kiểm tra đặc tính sinh hóa của giống sản xuất P multocida 67
4.11 Kết quả xác định yếu tố độc lực của giống sản xuất P multocida 68
4.12 Kết quả đánh giá khả năng gây bệnh ở chuột của vi khuẩn P.multocida 70
4.13 Kết quả kiểm tra đặc tính sinh hóa của giống sản xuất S suis 72
4.14 Kết quả xác định yếu tố độc lực của giống sản xuất S suis 73
4.15 Kết quả xác định serotype của các chủng S suis 74
Trang 84.16 Kết quả đánh giá khả năng gây bệnh ở chuột của vi khuẩn S suis 74
4.17 Kết quả nuôi cấy vi khuẩn bằng phương pháp lên men sục khí 76
4.18 Kết quả kiểm tra đậm độ, thuần khiết và vô trùng của lô giống đơn giá 77
4.19 Kết quả kiểm tra thuần khiết và vô trùng của vacxin đa giá bán thành phẩm 78
4.20 Kết quả kiểm tra an toàn của vacxin bán thành phẩm trên chuột nhắt trắng 79
4.21 Kết quả kiểm tra an toàn của vacxin bán thành phẩm trên lợn 79
4.22 Kết quả thử hiệu lực của vacxin trên chuột nhắt trắng bằng phương pháp thay thế 80
4.23 Kết quả kiểm tra hiệu lực vacxin trên lợn bằng phương pháp trọng tài 82
4.24 Kết quả kiểm tra kháng thể trên lợn tiêm vacxin vô hoạt nhũ dầu phòng viêm phổi lợn kháng lại vi khuẩn A pleuropneumoniae (serotype 2, serotype 5a, serotype 5b), P multocida (serotype A, serotype B), và S suis serotype 2 84
4.25 Kết quả so sánh hình thành kháng thể kháng vi khuẩn A pleuropneumoniae của vacxin đa giá bổ trợ keo phèn và vacxin đa giá bổ trợ nhũ dầu bằng phương pháp ELISA 86
4.26 Kết quả so sánh hiệu giá kháng thể kháng vi khuẩn P multocida của vacxin đa giá bổ trợ keo phèn và vacxin đa giá bổ trợ nhũ dầu 88
4.27 Kết quả so sánh hiệu giá kháng thể kháng vi khuẩn S suis của vacxin đa giá bổ trợ keo phèn và vacxin đa giá bổ trợ nhũ dầu 89
4.28 Kết quả xác định kháng thể ở lợn tiêm vacxin với liều tiêm khác nhau 90
4.29 Kết quả thử hiệu lực của vacxin bảo quản ở nhiệt độ 18 - 25oC trên chuột nhắt trắng bằng phương pháp thay thế (Canh trùng tiêm: A.pp + P multocida + S suis) 101
4.30 Kết quả thử hiệu lực của vacxin bảo quản ở nhiệt độ 4o- 8oC trên chuột nhắt trắng bằng phương pháp thay thế 102
Trang 9DANH MỤC HÌNH
3.1 Tóm tắt quy trình sản xuất vacxin viêm phổi đa giá bổ trợ nhũ dầu 44
4.1 Một số bệnh tích đại thể của lợn được gây nhiễm A.pleuropneumoniae 52
4.2 Sản phẩm của kỹ thuật PCR xác định vi khuẩn A pleuropneumoniae 53
4.3 Một số bệnh tích đại thể của lợn được gây nhiễm P multocida 55
4.4 Sản phẩm của kỹ thuật PCR xác định vi khuẩn P multocida 56
4.5 Một số triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể của lợn được gây nhiễm S suis 58
4.6 Sản phẩm của kỹ thuật PCR xác định S suis 59
4.7 Khuẩn lạc A pleuropneumoniae và thái vi khuẩn khi soi trên kính hiển vi 60
4.8 Sản phẩm PCR xác định độc tố Apx của A pleuropneumoniae 63
4.9 Vi khuẩn A1 là A pleuropneumoniae và có chứa gen apxIICA, apxIIICA, apxIBD và apxIIIBD 63
4.10 Vi khuẩn A2 là A peuropneumoniae và có chứa gen apxICA, apxIICA và apxIBD 63
4.11 Vi khuẩn A3 là A pleuropneumoniae và có chứa gen apxIIICA, apxIBD và apxIIIBD 64
4.12 Khuẩn lạc P multocida và thái vi khuẩn khi soi trên kính hiển vi 66
4.13 Sản phẩm của phản ứng PCR xác định serotype của P multocida 68
4.14 Mẫu P4 là vi khuẩn P multocida thuộc Serotype A 69
4.15 Mẫu P5 là vi khuẩn P multocida thuộc Serotype D 69
4.16 Khuẩn lạc S suis và thái vi khuẩn khi soi trên kính hiển vi 71
4.17 Vi khuẩn St là vi khuẩn S suis và có chứa gen sly, mrp và arcA 73
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN ÁN Tên tác giả: Đỗ Tất Đạt
Tên luận án: Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của lợn mắc viêm phổi do
Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis và sử dụng
vacxin phòng bệnh
Chuyên ngành: Bệnh lý học và chữa bệnh vật nuôi Mã số: 9.64.01.02
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Xác định được đặc điểm biến đổi bệnh lý của lợn mắc bệnh viêm phổi do vi khuẩn
Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus suis gây ra
Xây dựng quy trình sản xuất và quy trình sử dụng vacxin đa giá vô hoạt có bổ trợ
nhũ dầu đạt hiệu quả cao trong phòng bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn Actinobacillus
pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và Streptococcus suis gây ra
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nuôi cấy vi khuẩn và giám định đặc tính sinh hóa
- Phương pháp PCR xác định Actinobacillus pleuropneumoniaevà các độc tố của
vi khuẩn
- Phương pháp PCR xác định Pasteurella multocida và các serotype của vi khuẩn
- Phương pháp PCR xác định Streptococcus suis serotype 2 và các độc tố của
vi khuẩn
- Phương pháp đánh giá độc lực vi khuẩn trên chuột và lợn
- Phương pháp chế tạo vacxin đa giá vô hoạt nhũ dầu
- Phương pháp kiểm nghiệm vacxin
- Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả chính và kết luận
Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể của lợn mắc bệnh
viêm phổi do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và
Streptococcus suis gây ra
Các chủng vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida và
Streptococcus suis được lựa chọn để gây bệnh thực nghiệm trên lợn đều có độc lực cao,
gây chết lợn trong thời gian ngắn Các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của lợn
gây nhiễm Actinobacillus pleuropneumoniae bao gồm: sốt, khó thở, ho, hắt hơi, bỏ ăn,
Trang 11viêm dính phổi và thành ngực, bọt khí nhầy lẫn máu nhiều trong khí quản Các triệu chứng
lâm sàng và bệnh tích đại thể của lợn gây nhiễm Pasteurella multocida bao gồm: sốt, ho,
thở khó, da đỏ tím và viêm phổi thùy Các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của
lợn gây nhiễm Streptococcus suis bao gồm: sốt, ho, thở khó, có triệu chứng thần kinh,
viêm phổi, viêm khớp, viêm màng não
Kết quả đánh giá khả năng ổn định đặc tính sinh học của giống sản xuất vacxin
phòng bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae,
Pasteurella multocida và Streptococcus suis gây ra
Giống sản xuất của các chủng vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae,
Pasteurella multocida và Streptococcus suis được kiểm tra sự ổn định về đặc tính sinh học
và đều đạt tiêu chuẩn về đặc điểm nuôi cấy, hình thái, sinh hóa cũng như yếu tố độc lực
Kết quả nghiên cứu quy trình sản xuất vacxin đa giá vô hoạt nhũ dầu phòng
bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella
multocida và Streptococcus suis gây ra
Quy trình sản xuất vacxin đa giá vô hoạt bao gồm các bước như sau:
- Sản xuất kháng nguyên Actinobacillus pleuropneumoniae
- Sản xuất kháng nguyên Pasteurella multocida
- Sản xuất kháng nguyên vi khuẩn Streptococcus suis serotype 2
- Pha trộn các loại kháng nguyên với nhũ dầu IMS để chế tạo bán thành phẩm
- Kiểm nghiệm bán thành phẩm với các chỉ tiêu vô trùng, an toàn, hiệu lực
Quy trình sử dụng vacxin đa giá vô hoạt nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi ở lợn như sau:
- Lợn từ 21 ngày tuổi, sau cai sữa: tiêm 1 mũi 1 duy nhất: 2 ml/con cho lợn 21 đến
28 ngày tuổi
- Lợn nái chửa: 1 năm tiêm 2 lần, mỗi 1 lần tiêm cần tiêm 2 mũi khác nhau:
+ Mũi 1: 2 ml/con, tiêm cho lợn nái chửa trước khi đẻ 1 tháng
+ Mũi 2: 2 ml/con, sau mũi 1: 7 đến 10 ngày
- Lợn đực giống: 1 năm tiêm 2 lần, mỗi 1 lần tiêm cần tiêm 2 mũi khác nhau:
+ Mũi 1: 2 ml/con
+ Mũi 2: 2 ml/con cách mũi tiêm 1 từ 7 đến 10 ngày
Trang 12THESIS ABSTRACT
PhD candidate: Do Tat Dat
Thesis title: Study on pathological features of swine pneumonia caused by Actinobaccilus
pleuropneumoniae, Pasteurella multocida, Streptococcus suis and vaccine development
Major: Veterinary pathology and therapeutics of the diseases of domestic animals Code: 9.64.01.02
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
Identify pathological characteristics of pigs infected with Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida and Streptococcus suis
Building the process of producing and using inactivated multiple oil-emulsion vaccine with oil emulsions, which are the most effective
Materials and Methods
- Bacterial culturing and biochemical characterization tests
- PCR for determining Actinobacillus pleuropneumoniaeand bacterial toxins
- PCR for determining Pasteurella multocida and bacterial serotypes
- PCR for determining Streptococcus suis serotype 2 and bacterial toxins
- Virulent tests in mice and pigs
- Producing inactivated multiple vaccine with oil emulsifiers
- Vaccine testing method
- Data analysis
Main findings and conclusions
Research results of clinical symptoms, gross lesions of pigs infected by Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida and Streptococcus suis
The strains of Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida and Streptococcus suis selected to cause experimental disease in pigs are highly pathogenic
and cause death in a short time Clinical symptoms and general lesions of pigs infected
with Actinobacillus pleuropneumoniaeinclude: Fever, breathing difficulty, cough,
sneezing, anorexia, pleurisy, mucous and blood bubbles in the trachea Clinical symptoms
and general lesions of pigs infected with Pasteurella multocida include fever, cough,
breathing difficulty, purple-red skin and lobar pneumonia Clinical symptoms and general
Trang 13lesions of pigs infected with Streptococcus suis include fever, cough, breathing difficulty,
neurological symptoms, pneumonia, arthritis, meningitis
Results of evaluating the stability of biological properties of the working seeds of Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida and Streptococcus suis
Working seeds of Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida and Streptococcus suis tested for biological stability all met the criteria of culture,
morphology, biochemistry as well as virulence factors
Results of research on process of producing inactivated oil-emulsion polyvalent vaccine to prevent respiratory disease in pigs caused by Actinobacillus pleuropneumoniae, Pasteurella multocida and Streptococcus suis
The process of manufacturing inactivated multiple vaccines includes the following steps:
- Producing antigen of Actinobacillus pleuropneumoniae
- Producing antigen of Pasteurella multocida
- Producing antigen of Streptococcus suis serotype 2
- Mix antigens with IMS oil emulsion to make semi-finished products
- Testing of semi-finished products for sterility, purity, safety and potency
The process of using inactivated oil emulsion multiple vaccines to prevent pneumonia in pigs is as follows:
- Pigs from 21 days of age, after weaning: Only onetime injection: 2ml/pig of 21 to
28 days old
- Pregnant sows: 2 injections a year, each is seperated into 2 different injections: + The 1st injection: 2 ml/pig, give pregnant sows a month before farrowing
+ The 2nd injection: 2 ml/pig after 7 - 10 days
- Boars: 2 injections a year, each is seperated into 2 different shots:
+ The 1st injection: 2 ml/pig
+ The 2nd injection: 2 ml/pig after 7 - 10 days
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong ngành công nghiệp chăn nuôi ở Việt Nam thì chăn nuôi lợn đóng
vai trò quan trọng Tính đến đầu năm 2020, mặc dù ngành chăn nuôi lợn nước
ta đã phải trải qua đợt dịch tả lợn Châu Phi gây thiệt hại nặng nề, tổng số lợn
trong cả nước vẫn còn khoảng 20 triệu lợn (Tổng cục Thống kê, 2020) Tuy
nhiên, ngành chăn nuôi lợn vẫn luôn phải gánh chịu nhiều thiệt hại do những
bệnh truyền nhiễm khác gây ra, vì vậy việc phòng chống bệnh nhằm giảm thiệt
hại, nâng cao năng suất chăn nuôi luôn cần được coi trọng, phòng bệnh bằng
vacxin là một trong những giải pháp quan trọng
Trong các bệnh thường gặp trên lợn, những bệnh về đường hô hấp được xếp
vào nhóm bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế Bệnh đường hô hấp ở lợn hiện nay
nguyên nhân do nhiều mầm bệnh gây ra, trong đó có cả sự kết hợp của virus và vi
khuẩn gây bệnh, khiến việc điều trị bệnh gặp không ít khó khăn Trong số những
vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp ở lợn, vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae
(A pleuropneumoniae), Pasteurella multocida (P multocida) và Streptococcus
suis (S suis) thường gây viêm phổi kế phát, giết chết rất nhiều lợn ở các lứa
tuổi, đặc biệt quan trọng là lợn sau cai sữa, gây tổn thất nặng nề cho ngành chăn
nuôi lợn ở nước ta (Cù Hữu Phú & cs., 2005)
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công ty khác nhau nghiên cứu chế tạo
vacxin phòng bệnh viêm phổi cho lợn do vi khuẩn gây ra, như vacxin Porcilis
phòng bệnh phổi cho lợn do vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae (M hyopneumoniae), P multocida serotype A, D và Bordetella bronchiseptica
(B bronchiseptica) gây ra của Intervet sản xuất, vacxin M+ PAC và vacxin Myco
Shield phòng bệnh do vi khuẩn M hyopneumoniae gây ra của Intervet sản xuất,
vacxin Bayovac SuiShot của hãng Bayer chế tạo là vacxin vô hoạt phòng bệnh
viêm phổi cho lợn trên 5 tuần tuổi đã sử dụng 2 chủng A.pleuropneumoniae
serotype 2, 5 và 1 chủng P multocida serotype D; Vacxin Coglapix phòng bệnh
viêm phổi cho lợn do A pleuropneumoniae nhưng không ghi rõ là serotype sử
dụng chế vacxin; vacxin Hyogen phòng viêm phổi địa phương do M
hyopneumoniae vv Như vậy, các vacxin nhập ngoại đã và đang được sử dụng
tại các trang trại chăn nuôi lợn ở nước ta là vacxin phòng bệnh viêm phổi ở lợn
Trang 15được chế tạo từ chủng vi khuẩn Actinobacillus hoặc M hyopneumoniae,
P multocida nhưng các chủng vi khuẩn sử dụng chế vacxin chưa hoàn toàn phù
hợp với những nguyên nhân gây bệnh viêm phổi ở lợn tại thực địa, đồng thời
vacxin nhập ngoại lại có giá thành cao
Tại Việt Nam vacxin đa giá vô hoạt có bổ trợ keo phèn phòng bệnh viêm
phổi cho lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae, S suis và P.multocida gây ra
là kế thừa và phát triển từ đề tài cấp Nhà nước kết quả nghiên cứu của Dự án
SXTN đã được nghiệm thu năm 2014 và đưa vào sản xuất của Viện Thú y Hiện
nay ở nước ta duy nhất có công ty Marphavet sản xuất và được phép lưu hành
vacxin đa giá vô hoạt với bổ trợ keo phèn để phòng viêm phổi cho lợn từ 4 tuần
tuổi trở lên trên phạm vi cả nước Vacxin được chế tạo là vacxin đa giá vô hoạt
bao gồm cả 3 loại vi khuẩn A pleuropneumoniae, S suis và P multocida là
nguyên nhân chủ yếu chủ yếu gây bệnh viêm phổiở lợn Tuy nhiên việc sử dụng
bổ trợ keo phèn trong chế tạo vacxin vẫn có những hạn chế nhất định về hiệu
lực, khả năng gây đáp ứng và độ dài miễn dịch chưa cao
Hiện nay tại Việt Nam chưa có vacxin viêm phổi đa giá vô hoạt có bổ trợ
nhũ dầu phòng bệnh cho lợn được chế tạo gồm cả 3 loại vi khuẩn
A pleuropneumoniae, P.multocida và S suis Vacxin đa giá có bổ trợ nhũ dầu
sẽ làm tăng hiệu lực phòng bệnh của vacxin, liều vacxin tiêm giảm, đặc biệt
là thời gian miễn dịch của vacxin được kéo dài hơn nhiều nhờ phức hợp nhũ
kháng nguyên Trong quá trình điều tra nghiên cứu vi khuẩn gây viêm phổi ở
lợn của tác giả Cù Hữu Phú (2011), Nguyễn Thị Thu Hằng & cs (2009), Lê
Văn Dương (2013) đã xác định được những vi khuẩn gây bệnh viêm phổi ở
lợn tại nước ta chủ yếu là do những vi khuẩn sau: (1) vi khuẩn
A pleuropneumoniae gồm 3 chủng: 2, 5a, 5b; (2) vi khuẩn P multocida gồm
2 chủng A, D và (3) vi khuẩn S suis serotype 2
Xuất phát từ tình hình thực tiễn của sản xuất, đáp ứng được cơ sở khoa
học cho việc phòng chống bệnh viêm phổi ở lợn, việc nghiên cứu một số đặc
điểm bệnh lý của lợn mắc viêm phổi do A pleuropneumoniae, P multocida và
S suis và sử dụng vacxin phòng chống bệnh là yêu cầu cần thiết, nhằm đưa ra
các giải pháp phòng trị bệnh viêm phổi ở lợn hiệu quả cao, giảm thiệt hại cho
nghành chăn nuôi lợn
Trang 161.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý và xây dựng giải pháp phòng chống
bệnh viêm phổiở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis bằng
vacxin đa giá vô hoạt có bổ trợ nhũ dầu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được đặc điểm biến đổi bệnh lý chủ yếu của lợn mắc bệnh viêm
phổi do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra
- Xây dựng quy trình sản xuất và quy trình sử dụng, bảo quản vacxin viêm
phổi đa giá vô hoạt có bổ trợ nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi có hiệu quả cao trên
đàn lợn cho người chăn nuôi
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bộ giống vi khuẩn A pleuropneumoniae serotype 2, 5a và 5b ; vi khuẩn
P multocida serotype A và D; vi khuẩn S suis serotype 2 được sử dụng làm giống
gốc (Master seed) lưu giữ tại Trung tâm nghiên cứu phát triển vacxin Công ty
Marphavet
- Lợn mắc bệnh viêm phổi do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida
và S suis gây ra
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu các đặc tính vi sinh vật hóa học, cấu trúc
kháng nguyên, độc lực và khả năng sử dụng làm chủng giống sản xuất vacxin của
các vi khuẩn A pleuropneumoniae serotype 2, 5a và 5b; vi khuẩn P multocida
serotype A và D; vi khuẩn S suis serotype 2 được lưu giữ tại Trung tâm nghiên
cứu phát triển vacxin Công ty Marphavet
Địa điểm nghiên cứu gồm: Bộ môn Vi trùng - Viện Thú y Quốc gia; Viện
Công nghệ sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam; Phòng thí nghiệm trọng
điểm khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Trung tâm nghiên cứu phát
triển vacxin; nhà máy sản xuất vacxin theo tiêu chuẩn GMP WHO thuộc Công ty
CP thuốc thú y Marphavet và một số cơ sở chăn nuôi lợn
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2020
Trang 171.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Chế tạo thành công vacxin đa giá vô hoạt nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi
ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae serotype 2, 5a, 5b; P multocida serotype
A, D và S suis serotype 2 gây ra tại Việt Nam ở quy mô phòng thí nghiệm
- Xây dựng được quy trình sản xuất, sử dụng và bảo quản vacxin đa giá vô
hoạt nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi ở lợn lần đầu tiên tại Việt Nam ở quy mô
phòng thí nghiệm Vacxin đa giá phòng bệnh viêm phổi do vi khuẩn
A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra trên lợn, có chất bổ trợ nhũ
dầu đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam, giúp tăng hiệu quả phòng bệnh, kéo dài
thời gian miễn dịch và khả năng bảo hộ so với vacxin cùng loại có bổ trợ keo phèn
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần bổ sung thêm các thông tin về
quy trình sản xuất, sử dụng và bảo quản vacxin đa giá nhũ dầu phòng bệnh viêm
phổi ở lợn do vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra tại
Việt Nam tại quy mô phòng thí nghiệm Kết quả này đồng thời là cơ sở cho việc
nghiên cứu sản xuất vacxin đa giá có chất bổ trợ nhũ dầu phòng bệnh viêm phổi ở
lợn trên dây chuyền sản xuất vacxin quy mô công nghiệp
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả gây bệnh thực nghiệm với các vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis cùng với bệnh tích lâm sàng của lợn mắc bệnh được sử
dụng là phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm phổi do vi khuẩn
A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra cho lợn nhanh chóng, có hiệu
quả kinh tế cao
- Vacxin vô hoạt đa giá nhũ dầu sản xuất thành công sẽ được sử dụng rộng
rãi trong thực tế sản xuất, góp phần khống chế hiệu quả bệnh viêm phổi do vi khuẩn
A pleuropneumoniae, P multocida và S suis gây ra ở lợn nuôi tại Việt Nam
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ BỆNH VIÊM PHỔI
Ở LỢN VÀ VACXIN PHÒNG BỆNH
Bệnh viêm phổi - màng phổi được Pattison phát hiện lần đầu tiên vào năm
1957 (Pattison & cs., 1957) và đã được Shope (1964) mô tả ca bệnh cấp tính với
các triệu chứng tương tự ở đàn lợn nuôi tại một trang trại thuộc Argentina và gọi
tên mầm bệnh là Haemophilus pleuroneumonia Về sau, với kết quả nghiên cứu
ADN, Haemophilus pleuroneumonia được xếp vào giống Actinobacillus và được
đặt tên là Acitinobacillus pleuropneumoniae Đây là một cầu trực khuẩn gram âm,
có giáp mô Hiện có 15 serotype được phân bố theo từng vùng Mỗi serotype có
thể tạo ra ngoại độc tố Apx I, II hoặc III Các ngoại độc tố này chính là tác nhân
chính gây thương tổn trên phổi và làm giảm năng suất của lợn (Herczeg & cs.,
2014) Các serotype có độc lực cao là 1, 5, 9, 11 và 12 và các serotype có độc thấp
là 3 và 6 Vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra thiệt hại rất lớn Trong trường hợp
cấp tính, tỉ lệ chết có thể lên đến 15% (Krejci & cs., 2011) Trong trường hợp mãn
tính, A pleuropneumoniae làm giảm 84g tăng trọng/ngày, tăng tiêu tốn thức ăn,
đồng thời tăng thời gian xuất chuồng thêm 6 ngày (Rohrbach & cs., 1993) Trên
thế giới, phòng chống và kiểm soát bệnh viêm phổi - màng phổi cho lợn có thể
được thực hiện theo một số phương thức khác nhau Các vacxin đã được nghiên
cứu và phát triển cho căn bệnh này chủ yếu ở hai nhóm chính là vacxin chứa vi
sinh vật chết (vô hoạt) và vacxin tiểu đơn vị Tiêm chủng bằng các vi sinh vật chết
cá biệt có thể cho miễn dịch và phản ứng chéo với các kiểu huyết thanh (Nielsen,
1985) Hầu hết các nghiên cứu đã được thử nghiệm trên lợn con, tuy nhiên tiêm
chủng cho lợn nái và lợn cái hậu bị cũng đã được thực hiện và cho hiệu quả ở mức
nhất định (Torremorell & cs., 1997) Các loại bổ trợ sử dụng trong vacxin có thể
tạo ra các tổn thương u hạt không mong muốn tại vị trí tiêm (Straw & cs., 1985)
Vacxin sống dựa trên việc sử dụng một đột biến không vỏ bọc của vi khuẩn
A pleuropneumoniae đã được thương mại hóa tại Hoa Kỳ trong những năm 1990
(Inzana & cs., 1993) Vào những năm đầu của thế kỷ 21, một thế hệ vacxin mới,
vacxin tiểu đơn vị bao gồm ba ngoại độc tố RTX chính (ApxI, ApxII, và ApxIII)
và một protein 42 kDa bên ngoài màng của A pleuropneumoniae đã được nghiên
cứu cho thấy có khả năng bảo vệ cao chống lại tất cả 12 kiểu huyết thanh chính
(kiểu huyết thanh 1-12) trong điều kiện thí nghiệm cũng như trong các thử nghiệm
thực tế (Van Den Bosch & Frey, 2003)
Trang 19Bệnh viêm phổi do Pasteurella gây ra là kết quả của sự lây nhiễm của vi khuẩn P multocida cho phổi Bệnh thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh viêm
phổi cục bộ hay ở những bệnh ghép ở đường hô hấp ở lợn (PRDC) Hội chứng này
là một trong những bệnh gây thiệt hại cho lợn đặc biệt khi chúng sản sinh tăng lên Những tài liệu đã công bố thừa nhận rằng những tổn thương ở bệnh viêm phổi khi giết mổ rất điển hình, thậm chí cả ở những đàn lợn được quản lý tốt Những báo cáo qua nghiên cứu nhiều năm tập chung ở lợn với những bệnh tích viêm phổi tại lúc mổ khám dao động từ thấp là 30% đến cao nhất là 80% Những số liệu gần đây tại Mỹ cho thấy trong 6634 mẫu lấy từ lợn để kiểm tra phổ biến là 74% lợn bị viêm phổi và 13 % với chứng viêm màng phổi
Theo Bahnson (1994) với tất cả những đàn đã được nghiên cứu cho thấy một số những con vật với những bệnh tích nổi bật ở dạng viêm phổi khi giết mổ Bệnh viêm phổi ở lợn trên thực tế là một bệnh gây thiệt hại về kinh tế mặc dù hiện nay việc tính toán những tổn thất gây ra thật khó khăn và đã có nhiều những kết quả đã được công bố trên diện rộng Noyes & cs (1990), đã thực hiện một nghiên cứu chụp ảnh X quang phổi lợn trong đàn lợn thương mại để đánh giá quá trình mang bệnh viêm phổi và đã tìm ra một sự tương giao quan trọng giữa phạm vi của thời gian tồn tại những tổn thương ở phổi và trọng lượng của những con vật đó ở
180 ngày tuổi Bahnson (1994) đã so sánh những lô lợn đã đến hạn giết mổ được chuyển để giết thịt, lô mà được đánh giá cao nhất về bệnh viêm phổi đã có 7,8% thấp hơn tỷ lệ thực tế, sự khác biệt này có thể xem như sự tác động kinh tế
Bệnh viêm phổi do Pasteurella xuất hiện rộng khắp trên thế giới và ở tất cả
các điều kiện khí hậu và chăn nuôi Hệ thống không mầm bệnh đặc biệt (SPF) ở
cấp quốc gia đã đạt được mức độ kiểm soát triệt để loài Mycoplasma hyopneumoniae Tuy nhiên vi khuẩn P multocida thường cư trú ở đường hô hấp
(mũi) của lợn do vậy thực sự rất khó tiêu diệt và nó có thể tìm thấy trong các đàn lợn có tình trạng sức khoẻ khá tốt, như vậy bằng SPF hay những đàn mắc bệnh
thâp nhất Từ đó vi khuẩn P multocida gây bệnh kết hợp với những tác nhân khác,
sự tiêu diệt tận gốc vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae cũng không mang lại
điều kiện khống chế bệnh viêm phổi hoàn toàn
Ở Đức và Hà Lan, P multocida được coi là tác nhân gây bệnh khởi đầu quan
trọng ở PAR (viêm teo mũi tiến triển) Điều trị bằng thuốc và vacxin, với những
vacxin phòng Bordetella trong các đàn lợn bị PAR sẽ làm giảm B bronchiseptica nhưng lại ảnh hưởng đến bệnh PAR ở những đàn này P multocida được tìm thấy
Trang 20như là một tác nhân chính Khi làm giảm P multocida trong những đàn này là
giảm bệnh PAR
P multocida phát triển trong chất nhầy bán dung dịch trên thành màng nhầy
của mũi chứ không phải trên các biểu mô của mũi, bởi vậy những nghiên cứu này
trực tiếp nghiên cứu từ việc gây bệnh Gây bệnh thuần khiết của cả hai serotype A
và D của P multocida làm cho mũi yếu dần đi với nhiều con lợn thí nghiệm Nhỏ
dịch gây bệnh thuần khiết P multocida vào mũi và nhỏ nhắc lại 4 ngày để tạo ra
P multocida mà đã cho kết quả PAR Độc tố P multocida vẫn gây ra bệnh teo,
bao gồm cả những ảnh hưởng với lợn 12 và 16 tuần tuổi Sự khác về sự tổn thương
mũi làm giảm sự tăng trưởng của độc tố P multocida
Những ghi nhận đầu tiên về bệnh do S suis gây ra ở lợn được Jansen và Van
Dorssen mô tả ở Hà Lan vào năm 1951 và tại Anh vào năm 1954 (Field & cs., 1954)
De Moor (1963) lần đầu tiên đã phân lập được vi khuẩn Streptococcus gây dung
huyết dạng alpha, dựa vào kết quả giám định đặc tính sinh hóa và định serotype đã
xếp vào nhóm Lancefield R, S, RS và T Elliott & cs (1966) thấy rằng các vi khuẩn
nhóm S do Moor phân lập giống với PM Streptococcus mà ông phân lập đều thuộc
nhóm Lancefield D và đề nghị gọi là S suis serotype 1 Windsor & Elliott (1975) đã
phân lập chủng S suis tương ứng với nhóm R do Moor phân lập và đề nghị gọi là
S suis serotype 2 Clifton-Hadley (1984) thông báo phân lập được vi khuẩn S suis
thuộc nhóm T từ hạch amidan, dịch âm đạo và bao quy đầu của lợn và được
Gottschalk & cs (1989) gọi là S suis serotype 15
Theo Thacker (2006) dịch viêm phổi địa phương là kết quả của sự nhiễm vi
khuẩn M hyopneumoniae và những vi khuẩn cộng phát khác như P multocida,
S suis, Haemophilus parasuis hay A pleuropneumoniae Vi khuẩn
M hyopneumoniae được tìm thấy chủ yếu trên bề mặt màng nhầy của khí quản, phế
quản và phế nang Dấu hiệu ban đầu của sự nhiễm bệnh chính là vi khuẩn này bám
trên biểu mô nhung mao Zhang & cs (1995) đã xác định protein P97 của vi khuẩn
là yếu tố bám dính vào vi nhung mao Các yếu tố bám dính khác có thể kể đến gồm:
glycoprotein 110 kDa, protein P159 được tách sau khi đồng hoán với các protein
kDa 27, 51, và 110 và một protein 146kDa M hyopneumoniae tác động lên hệ thống
làm sạch trên màng nhầy bằng cách phá vỡ hệ thống nhung mao trên bề mặt biểu
mô, và làm biến đổi hệ miễn dịch trên đường hô hấp Vì thế, M hyopneumoniae
khiến cho lợn dễ bị nhiễm các bệnh hô hấp khác như các vi khuẩn, kí sinh trùng và
vi rút Trên thế giới đã có một số nước sản xuất được vacxin phòng bệnh suyễn lợn
như vacxin vô hoạt bổ trợ dầu Respisure của hãng Pfizer; vacxin M+PAC của hãng
Trang 21Schering Plough Animal Health - Anh quốc và vacxin HYORESP của hãng Merial
là loại vacxin vô hoạt bổ trợ Aluminium
Cho đến nay, hầu hết các loại vacxin được sử dụng trong lĩnh vực thú y để
chống lại các bệnh nhiễm khuẩn S suis ở lợn là những chất bacterin thương mại
đều cho những kết quả chưa cao (Reams & cs., 1996; Torremorell & cs., 1997; Halbur & cs., 2000) Nguyên nhân đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng, tuy nhiên các nhà khoa học cho rằng có thể là do sự thay đổi của các kháng nguyên bảo vệ hoặc mất tính kháng nguyên của vi khuẩn gây ra bởi nhiệt hoặc do xử lý bằng formalin (Holt & cs., 1990) và tính miễn dịch yếu của vi khuẩn có vỏ bọc (Del Campo Sepulveda & cs., 1996) Sự khác biệt về mức kháng thể có trong lợn con ở các nhóm tuổi có thể là do sự khác biệt về mức kháng thể từ mẹ và tỷ lệ hấp thu các kháng thể từ mẹ của lợn con Ngoài ra, tá dược sử dụng cũng đóng một vai trò quan trọng (Wisselink & cs., 2001) cho thấy một bacterin với chất nhũ tương nước, trong dầu như một tá dược đã cho các kết quả tốt hơn so với cùng bacterin nhưng với tá dược là hydroxide nhôm
Các nhà khoa học cũng đã chế tạo thử nghiệm nhiều loại vacxin khác nhau như vacxin toàn khuẩn, vacxin sống nhược độc, vacxin tiểu phần (chế từ kháng nguyên giáp mô hoặc các protein thành tế bào) Tuy nhiên, kết quả cho miễn dịch bảo hộ ở chuột hoặc lợn thí nghiệm được tiêm các loại vacxin này cũng rất thất thường và không ổn định Trong trường hợp cần khống chế dịch bệnh lây lan thì việc lựa chọn dùng vacxin vẫn là phương thức tối ưu nhất để bảo vệ đàn lợn Tại Trung Quốc, năm 1994 đã dùng vacxin đông khô chế từ chủng nhược độc của vi
khuẩn S suis chủng ST171, tiêm cho lợn từ cai sữa đến trưởng thành và nái có
chửa ở thời kỳ đầu cho kết quả phòng bệnh cao Khi sử dụng cho thêm nước muối sinh lý có bổ trợ keo phèn 20% hòa thành huyễn dịch tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với liều 1ml/con Sau khi tiêm 7 ngày đã sinh miễn dịch, miễn dịch cao nhất sau
14 ngày và thời gian miễn dịch kéo dài được 6 tháng Sau đó vào năm 2005, tại
Trung Quốc cũng đã kiểm soát được bệnh do S suis gây ra ở lợn bằng vacxin vô hoạt chế từ các chủng S suis serotype 2
Do tầm quan trọng gây tổn thất kinh tế cao của bệnh viêm phổi - màng phổi trong ngành chăn nuôi lợn công nghiệp, đã kích thích các nhà khoa học nghiên cứu
chuyên sâu trong những năm qua nhằm phát triển vacxin A pleuropneumoniae để
phòng bệnh Nhiều nghiên cứu đã được thông báo và một số vacxin đã được đưa
ra thị trường Sự phát triển vacxin A pleuropneumoniae bắt đầu từ vacxin vô hoạt
toàn khuẩn, tiếp theo là vacxin tiểu phần (vacxin subunit), vacxin sống nhược độc
Trang 22và hiện nay các nhà nghiên cứu đang phát triển vacxin ADN
* Vacxin vô hoạt toàn khuẩn:
Vacxin A pleuropneumoniae vô hoạt toàn khuẩn được coi là một vacxin thương mại “thế hệ đầu tiên” chống lại nhiễm trùng A pleuropneumoniae, bao
gồm vi khuẩn bị bất hoạt bằng nhiệt hoặc formalin Vacxin vô hoạt có lợi thế là trình diện hết được các yếu tố quyết định kháng nguyên cho hệ thống miễn dịch
và không có trường hợp bị cường độc hóa trở lại như vacxin nhược độc Tuy
nhiên, việc sử dụng vacxin A pleuropneumoniae vô hoạt toàn khuẩn bị hạn chế
khi công cường độc và vacxin chỉ có tác dụng bảo vệ được một phần và vẫn còn một tỷ lệ tử vong thấp (Jolie & cs., 1995; Furesz & cs., 1997) Hơn nữa, vacxin
vô hoạt toàn khuẩn có miễn dịch bảo hộ chéo kém (Jolie & cs., 1995) và gần như không ngăn được tình trạng mang trùng ở lợn khỏe Một trong những vấn đề lớn gặp phải trong việc sử dụng vacxin vô hoạt là chỉ có miễn dịch với các serotype tương đồng và thường không bảo vệ được với serotype khác khi công cường độc (Higgins & cs., 1985; Thacker & Mulks, 1988) Hiệu quả thấp của vacxin vô hoạt cũng có thể có liên quan đến miễn dịch dịch thể (Furesz & cs., 1997) và các tế bào bạch cầu hiển thị (Appleyard & cs., 2002; Fenwick & Henry, 1994) Trong thực tế, vacxin toàn khuẩn vô hoạt không để lại vi khuẩn trên đường hô hấp, một
vị trí có tầm quan trọng trong kích thích miễn dịch
* Vacxin vô hoạt toàn khuẩn không vật chất di truyền:
Một phát triển mới đối với vacxin vô hoạt toàn khuẩn đã mở ra một triển
vọng cho vacxin A pleuropneumoniae trên lĩnh vực miễn dịch kháng nguyên đó
là vacxin "bóng" được bất hoạt di truyền học, chỉ còn vỏ tế bào trống rỗng, sản sinh bởi chiết xuất có điều khiển của thực khuẩn thể PhiX174 phân hủy gen E Biểu hiện của gen này từ một plasmid ở vi khuẩn Gram âm dẫn đến việc hình thành một đường hầm E protein cụ thể mà sau đó kết quả là tế bào chất bên trong tế bào thoát ra mà không có bất kỳ một tác động vật lý hay hóa học làm biến đổi cấu trúc
bề mặt của vi khuẩn (Witte & cs., 1992)
* Vacxin A pleuropneumoniae tiểu phần
Các yếu tố độc lực và thành phần của vacxin tiểu phần
+ Vỏ vi khuẩn (capsule) và thành tế bào vi khuẩn (lipopolysaccharide) có tính không đồng nhất cao giữa các serotype theo Perry (1990); Dubreuil & cs (2000) Vì vậy, tiêm phòng bằng các thành phần này của vi khuẩn không thể bảo
hộ tốt chống lại các serotype khác Do đó, việc nghiên cứu vacxin tiểu phần chủ
Trang 23yếu tập trung vào việc tìm kháng nguyên bảo tồn như OMPs và lipoprotein Tuy
nhiên, các thí nghiệm đánh giá năng lực tiềm năng của OMPs và lipoprotein để
gây miễn dịch bảo vệ cho thấy khả năng miễn dịch bị giới hạn khi phân tích bằng
miễn dịch đánh dấu với huyết thanh đã miễn dịch theo Cruz & cs (1996)
+ Vacxin tiểu phần với các thành phần là các protein trong hệ thống thu nạp
sắt của A pleuropneumoniae đã được chú ý và đánh giá cao như là vacxin tiểu
phần (Pleurostar Novartis) có chứa transferin-binding protein B của
A pleuropneumoniae serotype 7 Kết quả thử nghiệm cho thấy lợn được tiêm
vacxin, được bảo hộ một phần khi công cường độc bằng A pleuropneumoniae
serotype 9 (Van Overbeke & cs., 2001) Vacxin chứa FhuA và HgbA là protein bề
mặt màng tế bào hấp thụ cho ferrichrome và hemoglobin tương ứng, đã được chứng
minh cũng có khả năng bảo hộ miễn dịch với tất cả serotype và bioserotype của
A pleuropneumoniae (Mikael & cs., 2002; Srikumar & cs., 2004; Shakarji & cs.,
2006) Ở những lợn gây bệnh thí nghiệm, HgbA đã được xác định như là một yếu
tố quan trọng mà độc tính của chúng được quan tâm như một vacxin tiểu phần tiềm
năng (Shakarji & cs., 2006)
+ Vacxin tiểu phần với các ngoại độc tố Apx: Apx là ngoại độc tố do
A pleuropneumoniae sản sinh ra trong quá trình sống, thuộc thành viên của họ độc
tố RTX Apx đại diện cho các yếu tố độc tính chính của A pleuropneumoniae và
được coi là yếu tố miễn dịch mạnh nhất Tầm quan trọng của độc tố Apx trong
miễn dịch bảo vệ chống lại viêm phổi - màng phổi đã được chứng minh trong nhiều
nghiên cứu như Inzana & cs (1991) Kết quả thí nghiệm đã chứng minh lợn đã có
miễn dịch trung hòa đối với độc tố Apx sau khi được tiêm Apx vacxin của tác giả
Cruijsen Tl & cs (1992); Jansen & cs (1994) Hiện nay trên thị trường thế giới, hầu
như tất cả các vacxin A pleuropneumoniae với mục đích thương mại đều là vacxin
tiểu phần được gọi là vacxin “thế hệ thứ hai” và có độc tố Apx (Chiers & cs., 1998;
Van Overbeke & cs., 2001; Habrun & cs., 2002; Van Den Bosch & Frey, 2003;
Tumamao & cs., 2004; Meeusen & cs., 2007)
Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu thì vacxin tiểu phần có chứa độc tố có
nhược điểm là có yếu tố độc tính rất nhiều (ví dụ như các chất độc ApxIV) và đôi
khi chỉ được bộc lộ trong điều kiện in vivo (Schaller & cs., 1999) Các nghiên cứu
hiện nay vẫn đang tiếp tục tìm kiếm mới trong tự nhiên (in vivo) biểu hiện kháng
nguyên miễn dịch sử dụng công cụ mạnh mẽ về di truyền
* Vacxin A pleuropneumoniae sống nhược độc
Việc sử dụng các vi khuẩn sống nhược độc sản xuất vacxin có thể dẫn tới
Trang 24việc vi khuẩn lây sang vật chủ trong cùng đàn không được tiêm vacxin, sự lưu
hành của vi khuẩn nhược độc trong thực tế là khó kiểm soát và vì thế nếu đặc tính
nhược độc không ổn định, vi sinh vật có thể trở lại cường độc hoặc đột biến Cho
dù có một số nhược điểm nhưng vacxin sống nhược độc và vacxin tiểu phần vẫn
đại diện cho hướng nghiên cứu hứa hẹn nhất trong lĩnh vực phòng bệnh do
A pleuropneumoniae gây nên
Lý do chủ yếu sử dụng vacxin nhược độc sống là một tiếp cận tốt trong phòng
chống bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn vì lợn bị nhiễm bệnh sống sót trong tự
nhiên có khả năng bảo vệ chống nhiễm trùng cùng loại và một phần với
A pleuropneumoniae khác loại (Nielsen, 1984; Cruijsen & cs., 1995; Haesebrouck
& cs., 1996) Điều này cho thấy chỉ có vi khuẩn sống mới có khả năng miễn dịch
bảo vệ chéo thông qua điều kiện tự nhiên sản sinh miễn dịch bảo vệ Theo nghiên
cứu của Prideaux & cs (1998) khi sử dụng chủng A pleuropneumoniae HS93C
Amp sống (thuộc serotype 7 được chèn gen apxIIC bất hoạt) đã phát hiện thấy tiết
ra độc tố ApxII không hoạt động và những lợn thí nghiệm đã được bảo hộ chéo
với các serotype trước các thí nghiệm công cường độc Susan & cs (2005) đã tiến
hành nghiên cứu việc tiêm phòng vacxin nhược độc sống đã bất hoạt sản sinh
ApxII và đột biến các gen napA, hlyX, fur, tatA Vacxin được đưa qua đường mũi,
kết quả là các lợn thí nghiệm có đáp ứng miễn dịch cao Park & cs (2009) cũng sử
dụng vacxin sống đã bất hoạt hai gen bài xuất độc tố là apxIIIB và apxIIID với
A pleuropneumoniae 1536 thuộc serotype 2 thành chủng đột biến
(1536DeltaBDeltaD) cho lợn thí nghiệm, sau đó công cường độc bằng chủng độc
ban đầu chưa gây đột biến Kết quả lợn thí nghiệm có miễn dịch chống lại sau khi
công Như vậy, khi độc tố Apx bị bất hoạt bài xuất có thể làm giảm độc tính của
A pleuropneumoniae và đây có thể là chiến lược hiệu quả cho sự phát triển vacxin
nhược độc sống cho A pleuropneumoniae
Nghiên cứu về hiệu quả của tiêm phòng vacxin, Ramjeet & cs (2008b) đã
cho thấy hiệu quả của tiêm phòng vacxin sống nhược độc A pleuropneumoniae
an toàn, hiệu quả, ổn định và chi phí sản xuất thấp Tuy nhiên, việc sử dụng các
vi khuẩn sống trong tiêm chủng thường mới chỉ được giới hạn trong các thử
nghiệm Chủng vi khuẩn dùng tiêm phòng thường vẫn tồn tại trong vật chủ cho
đến khi giết mổ Do đó, các nghiên cứu tiếp theo nhằm tăng tính an toàn của
vacxin với mục đích cải thiện hiệu quả của vacxin tiểu phần hoặc ADN, sẽ đáp
ứng cho nhu cầu của thị trường
* Vacxin ADN và triển vọng phát triển
Trang 25Với các dữ liệu gen và công nghệ ADN microarray của Ramjeet & cs
(2008a) đã tiến hành nghiên cứu xác định nhiều gen có trong A pleuropneumoniae
nhằm xác định nhân tố mới tiềm năng cho vacxin Kết quả nghiên cứu gen cho phép xử lý một cách hiệu quả một trong những vấn đề khó khăn nhất gặp phải đối
với A pleuropneumoniae là sự tồn tại của 15 serotype khác biệt Sử
dụng DNA microarrays, các tác giả đã xác định gen được biểu hiện trong điều kiện sao chép giống hệt trong môi trường tự nhiên Với những kết quả thu được, các tác giả đã xác định mục tiêu tiềm năng mới với serotype và bioserotype trong điều kiện tự nhiên, tiến tới có một vacxin thế hệ mới hoàn thiện cho việc phòng bệnh
viêm phổi - màng phổi do A pleuropneumoniae gây nên trong tương lai gần
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM VỀ BỆNH VIÊM PHỔI
Ở LỢN VÀ VACXIN PHÒNG BỆNH
Việt Nam là một nước có số đầu lợn đứng trong top 10 của thế giới, với đà tăng trưởng trong những năm gần đây tương đối khả quan Tuy nhiên, chúng ta đang phải đối mặt với những vấn đề thách thức như ô nhiễm môi trường chăn nuôi, dịch bệnh… ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn Trong
đó có các bệnh viêm phổi do các loại vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida
và S suis gây ra
Các nghiên cứu ở trong nước cho thấy, khi lợn mắc hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản thường gặp các loại vi khuẩn gây bệnh kế phát trong đường hô hấp
như A pleuropneumoniae, P multocida, S suis serotype 2, Bordetella bronchiseptica (Nguyễn Hữu Nam & Nguyễn Thị Lan 2007; Bùi Quang Anh &
cs 2008; Nguyễn Thị Kim Lan & cs 2017; Cù Hữu Phú 2005) đã làm cho dịch trầm trọng với bệnh lý nặng, kéo dài và tỷ lệ chết cao Theo Lê Văn Dương (2013) tại các ổ dịch lợn mắc hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản tại tỉnh Bắc Giang đã
phân lập được các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida, S suis, trong đó cao nhất là S suis (55,10%), tiếp sau là A pleuropneumoniae (19,59%)
và thấp nhất là P multocida (17,44%) Các tác giả đã nghiên cứu chế tạo
Autovaccine từ các chủng vi khuẩn trên phân lập được dùng để phòng bệnh viêm phổi cho lợn, kết quả cho thấy Autovaccine thử nghiệm có khả năng phòng bệnh viêm phổi cho lợn, cho đáp ứng miễn dịch trên bốn tháng và hiệu lực bảo hộ là 93,33%
Bệnh do P multocida gây ra thường được gọi là bệnh tụ huyết trùng ở lợn
Bệnh hay xảy ra ở thể cấp tính với biểu hiện sốt rất cao, khó thở, thở thể bụng, kiệt sức Ở lợn chết và sắp chết có hiện tượng đỏ tím vùng bụng do trúng nội độc
Trang 26tố (Nguyễn Bá Hiên & cs., 2013) Theo Nguyễn Thị Kim Lan & cs (2017), vi
khuẩn P multocida phân lập tại Bắc Ninh thuộc serotype A và D, có khả năng
mẫn cảm với các kháng sinh Ceftiofur, Amoxicillin và Flofeincol Tại Việt Nam
hiện đang lưu hành một số loại vacxin phòng bệnh này như vacxin tụ huyết trùng
lợn vô hoạt (Công ty Vetvaco), vacxin tụ huyết trùng lợn (Công ty Hanvet) và
vacxin kép tụ huyết trùng-phó thương hàn lợn của Phân viện Thú y miền Trung
Bệnh viêm phổi - màng phổi gây tổn thất kinh tế nặng nề trong ngành công
nghiệp chăn nuôi lợn Tại Việt Nam, bệnh vẫn chưa được kiểm soát và vẫn xuất
hiện ở nhiều nơi trong cả nước Năm 2018, trong một nghiên cứu về bệnh tại tỉnh
Bến Tre, các nhà khoa học đã phân lập được A pleuropneumoniae với tỷ lệ dương
tính là 24,62% thuộc các serotype 4, 6, 9, 10 và 11 (Phan Kim Thanh & cs., 2018)
Tại Bắc Ninh theo Nguyễn Thị Kim Lan & cs (2017) đã phân lập được
A pleuropneumoniae với tỷ lệ dương tính là 63,63% (serotype 2) và 36,36%
(serotype 5) Trong những năm qua các nhà khoa học đã nghiên cứu chuyên sâu
nhằm phát triển vacxin phòng bệnh này ra thị trường Hiện đã có một số loại vacxin
được nghiên cứu sản xuất gồm các vacxin vô hoạt và vacxin có chứa một số thành
phần cấu tạo của vi khuẩn Vacxin vô hoạt toàn khuẩn đặc hiệu theo chủng huyết
thanh, có thể có miễn dịch chéo với các chủng huyết thanh khác Các vacxin thử
nghiệm chủ yếu là vacxin chuồng đơn giá được chế tạo từ vi khuẩn
A pleuropneumoniae bị làm yếu, giảm độc lực, hoặc các vi khuẩn đã chết hoặc
các thành phần cấu tạo của chúng dùng theo đường khí dung hoặc đường uống đã
cho thấy có tác dụng bảo vệ nhất định Vacxin dùng tiêm cho lợn con khi kháng
thể thụ động nhận được từ lợn mẹ đã giảm đi giúp đàn lợn giảm tỷ lệ tử vong, giảm
thuốc điều trị và cải thiện hiệu quả chuyển hoá thức ăn, chất lượng thịt cũng được
nâng cao, lợn ít bị viêm phổi Tại Việt Nam đang lưu hành một số loại vacxin
phòng bệnh viêm phổi - màng phổi như Polypleurosin (của hãng Bioveta); vacxin
Pleurostar APP và Parapleuro Shield P (của hãng Novartis); vacxin Porcilis APP
(của hãng Intervet)
Bệnh liên cầu ở lợn do S suis gây ra được quan tâm nhiều do vi khuẩn có
khả năng lây sang và gây bệnh cho người Tại Thừa Thiên Huế Bùi Thị Hiền &
cs (2015) đã đánh giá sự lưu hành của liên cầu khuẩn lợn và thấy có 65,83% lợn
khỏe mang trùng vi khuẩn Streptococcus và có 17,31% dương tính với S suis
hiện nay chưa có vacxin đặc hiệu để tiêm phòng cho lợn Hầu hết các loại vacxin
vô hoạt được sản xuất trên thế giới là vacxin chuồng và hiệu quả bảo hộ của các
loại vacxin này cũng chưa được xác định một cách rõ ràng Có thể liệt kê ra một
Trang 27số nguyên nhân của hiện tượng này như sự thoái hoá của kháng nguyên bảo hộ
hoặc vi khuẩn bị mất tính kháng nguyên do quá trình xử lý bằng nhiệt hoặc
formalin, do sự sản sinh kháng thể đối với các kháng nguyên mà không có liên
quan đến độc lực của vi khuẩn và sự thiếu hụt các chủng S suis hay serotype liên
quan đến quá trình sinh bệnh Ở Việt Nam, từ các kết quả nghiên cứu về bệnh do
cầu khuẩn gây ra ở lợn, Khương Thị Bích Ngọc (1996) đã chế tạo vacxin cầu
khuẩn chết có bổ trợ keo phèn tiêm phòng cho lợn nái, đạt hiệu quả bảo hộ tương
đối cao 70-80% Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng vacxin liên cầu khuẩn để tiêm
phòng cho đàn lợn ở nước ta chưa được phổ biến rộng rãi, bệnh liên cầu khuẩn
vẫn thường xuyên xảy ra ở lợn gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều công ty khác nhau nghiên cứu chế tạo
vacxin phòng viêm phổi cho lợn do vi khuẩn gây ra Các vacxin nhập ngoại đã
và đang được sử dụng tại các trang trại chăn nuôi lợn tại nước ta nhưng chưa
hoàn toàn phù hợp với những nguyên nhân gây viêm phổi ở lợn tại thực địa mà
giá thành lại cao Trong quá trình điều tra nghiên cứu vi khuẩn gây viêm phổi ở
lợn của tác giả Cù Hữu Phú (2005); Nguyễn Thị Thu Hằng (2009); Lê Văn Dương
(2013) đã xác định được những vi khuẩn gây bệnh hô hấp phức hợp ở lợn tại
nước ta chủ yếu là do những vi khuẩn sau: (1) vi khuẩn A pleuropneumoniae
gồm 3 chủng: 2, 5a, 5b; (2) vi khuẩn P multocida gồm 2 chủng A, D và (3) vi
khuẩn S suis serotype 2
Ở nước ta hiện tại duy nhất có công ty Marphavet sản xuất và được phép
lưu hành vacxin đa giá vô hoạt với bổ trợ keo phèn để phòng viêm phổi cho lợn
từ 4 tuần tuổi trở lên trên phạm vi cả nước Vacxin được chế tạo là vacxin đa
giá bao gồm cả 3 loại vi khuẩn A pleuropneumoniae serotype 2, 5a, 5b,
P multocida serotype A và D và S suis serotype 2 chủ yếu gây viêm phổi ở lợn
Tuy nhiên dùng bổ trợ keo phèn vẫn có những hạn chế nhất định vì hiệu lực và
khả năng gây đáp ứng và độ dài miễn dịch chưa cao Để khắc phục những nhược
điểm chủ yếu này việc nghiên cứu quy trình sản xuất vacxin đa giá vô hoạt dùng
bổ trợ nhũ dầu thay vì bổ trợ keo phèn là vấn đề đòi hỏi cần thiết hiện nay của
sản xuất
2.3 VI KHUẨN ACTINOBACILLUS PLEUROPNEUMONIAE VÀ BỆNH
VIÊM PHỔI Ở LỢN
2.3.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae
Vi khuẩn A pleuropneumoniae là một tác nhân quan trọng gây bệnh viêm
phổi - màng phổi ở lợn Theo Quinn & cs (2015), bệnh viêm phổi - màng phổi
Trang 28thường xuất hiện ở lợn giai đoạn dưới 6 tháng tuổi Từ năm 1978, Kilian & cs (1978)
đã đặt tên là Haemophilus pleuropneumoniae, nhưng về sau đã được xếp vào giống Actinobacillus và đặt tên là A pleuropneumoniae do đã xác định được chúng có sự tương đồng về ADN giữa H pleuropneumoniae và A ligrieressi (Pohl & cs., 1983)
A pleuropneumoniae là loại cầu trực khuẩn nhỏ, gram âm, có vỏ, không có
khả năng di động, có tới 95% vi khuẩn này gây dung huyết thạch máu, dung huyết
dạng Vi khuẩn A pleuropneumoniae không mọc trên môi trường thạch máu
thông thường trừ khi thạch máu được bổ sung NAD và chúng mọc xung quanh
các khuẩn lạc của tụ cầu do Staphylococcus aureus (S aureus trong quá trình
phát triển trên thạch máu đã phá huỷ hồng cầu có trong máu và sản sinh ra chất
NAD) Vi khuẩn A pleuropneumoniae hình thành khuẩn lạc 0,5 – 1 mm sau 24
h nuôi cấy trên thạch máu có cấy kèm tụ cầu và hình thành vùng dung huyết , nhất là khi sử dụng máu cừu
Vi khuẩn A pleuropneumoniae có 12 serotype, riêng serotype 5 lại được chia
thành 5a và 5b Một số serotype có tính tương đồng kháng nguyên như serotype 1
- 9 và 11, serotype 3, 6 và 8; serotype 4 và 7 (Perry, 1990) Sự phân bố các serotype
ở các nước có sự khác nhau: serotype 2 thường gặp ở Thuỵ Điển, Đan Mạch; serotype 1, 5 ở Mỹ và Canada; serotype 1 - 9 ở Mexico; serotype 2, 9, 11 ở Newzealand Các serotype khác nhau có độc lực khác nhau phụ thuộc vào khả năng sản sinh giáp mô, khả năng dung huyết và yếu tố gây độc tế bào Các serotype
1, 2, 5, 9, 10 và 11 có độc lực cao hơn các serotype khác
Ba sản phẩm ngoại tế bào được biết đến nhiều nhất là ba loại độc tố tế bào thuộc họ RTX của độc tố và được Frey & cs (1993) đặt tên:
+ ApX I có khả năng gây dung huyết mạnh có trọng lượng phân tử 105-110 kDa, có ở các chủng thuộc serotype 1, 5, 9, 10 và 11 và được mã hoá bởi nhóm gen apx bao gồm apX IC, apX IIA, apX IB và apX ID cho gen hoạt hoá, cấu trúc và
2 gen bài xuất
+ ApX II là chất dung huyết có trọng lượng phân tử 103 - 105 kDa được thấy
ở các chủng trên trừ serotype 10 và được điều khiển bằng những gen tương tự Các gen bài suất protein được điều khiển bởi ApX I
+ ApX III là độc tố không gây dung huyết có trọng lượng phân tử 120 kDa được thấy ở chủng thuộc serotype 2, 3, 4, 6 và 8 và quyết định bởi nhóm gen ApX III Người ta đã xác định được nhiều gen và nhóm gen (ví dụ nhóm gen apx III)
Trang 29Về dịch tễ học: bệnh viêm phổi truyền nhiễm của lợn có phân bố rộng rãi
Nó ngày càng trở nên quan trọng do việc chăn nuôi lợn ngày một phát triển Bệnh
có mặt và lan truyền ở hầu hết các nước châu Âu và một phần ở Mỹ, Canada, Mexico, Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc Mặc dù chỉ một vài chủng huyết thanh là thịnh hành trên những nước nhất định, như chủng huyết thanh 2 ở Thụy Điển, Đức
và Thụy Sĩ và chủng huyết thanh 1 và 5 ở Mỹ và Canada nhưng cũng có thể thấy một số chủng huyết thanh ở cùng một nước Một số chủng huyết thanh (serotype) được coi là ít độc (ví dụ: serotype 3) có độc lực rất thấp và về dịch tễ chúng không quan trọng ở một số nước nhất định nhưng lại có thể gây nên dịch ở một số nước khác (Desrosiers & cs., 1984; Brandreth & Smith, 1985) Mối liên quan quốc tế của các chủng huyết thanh có một ý nghĩa đặc biệt vì nó chỉ ra sự lan truyền bệnh trong quá trình xuất khẩu động vật
Hofer & cs (1996) đã tìm thấy ở Áo thường có các chủng huyết thanh 4 - 6
và 10 Clota & cs (1996) đã thấy rằng một số khu vực của một số nước như Catalonia, Tây Ban Nha có 11 chủng huyết thanh nhưng phần nhiều là 1, 2, 4, 7,
9 và 11
Thiệt hại kinh tế quan trọng của bệnh chủ yếu là do lợn chết, năng xuất giảm
và giá thành cao trong các đợt bệnh bùng nổ Ở các đàn lợn bị nhiễm khuẩn mãn tính, Hunneman (1996) thấy tốc độ tăng trọng hàng ngày không bị ảnh hưởng, mặc
dù một nghiên cứu tiến hành bởi Harley & cs (1988) cho thấy rằng sự viêm màng phổi khi giết thịt thấy ở các con lợn già hơn 1 ngày tuổi và những con lợn có biểu hiện lâm sàng được giết thịt chậm hơn 8 ngày Rohrbach & cs (1993) đã cho thấy rằng sự nhiễm khuẩn ở 1 đàn làm chậm 5,64 ngày sự mổ thịt ở cân nặng 113,6 kg
A pleuropneumoniae ký sinh ở đường hô hấp có tính đặc hiệu lớn với lợn
Trong nhiễm trùng tối cấp tính và cấp tính vi khuẩn không chỉ thấy ở các tổn thương ở phổi và ở máu mà còn ở chất tiết đường mũi Các trường hợp sống sót sau nhiễm khuẩn cấp tính trở thành lợn lành mang bệnh, tác nhân gây bệnh thường thấy ở những vùng hoại tử ở phổi, amidan và ở mũi (Kume & cs., 1984) Thời gian
ủ bệnh có thể hoàn toàn đa dạng, người ta thấy rằng tiếp xúc với số lượng lớn của
vi khuẩn dẫn đến gây chết động vật sau một vài giờ hoặc sau vài ngày Sự nhiễm trùng ở mức độ thấp có thể dẫn tới thể bệnh ẩn trên lâm sàng
Tất cả lợn ở các lứa tuổi đều bị cảm nhiễm, nhưng nhờ có kháng thể trung hoà độc tố nên có sự thay đổi thể bệnh ở những đàn có tính chất bệnh dịch Trong trường hợp cấp tính của bệnh thì tỷ lệ chết thường cao Tỷ lệ chết cũng
Trang 30phụ thuộc vào độc lực của vi khuẩn và sự lưu hành bệnh trong môi trường nhưng
thường là cao
Cả thể bệnh và tỷ lệ tử vong sẽ bị trầm trọng hơn khi có mặt của các bệnh
khác như bệnh Aujeszky và hội chứng sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS), mặc dù
có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng việc nhiễm trùng đồng thời
A pleuropneumoniae và PRRSV không phải lúc nào cũng luôn làm bệnh trầm
trọng hơn so với khi nhiễm trùng riêng rẽ (Pol & cs., 1997)
Con đường chính của lan tràn bệnh là do không khí và bệnh được truyền từ
con lợn bệnh sang con lợn lành qua tiếp xúc trực tiếp hoặc qua các hạt nhỏ ở những
khoảng cách gần Trong trường hợp bệnh bùng nổ cấp tính, bệnh không nhất thiết
xảy ra ở mọi chuồng trại, bởi vì vai trò của các hạt khí dung đã di chuyển theo
không khí trong việc lan truyền bệnh ở các khoảng cách dài hơn trong những
chuồng trại hoặc sự lây gián tiếp với các chất tiết bị nhiễm trùng từ các con lợn bị
ốm cấp tính qua trung gian các công nhân làm việc ở trang trại Chưa xác định
được chắc chắn vai trò trong việc lây truyền bệnh qua các loài gặm nhấm nhỏ hoặc
chim Vi khuẩn này sống sót ở môi trường tự nhiên trong một thời gian ngắn Tuy
nhiên, khi được bảo vệ bởi chất nhầy hoặc các chất hữu cơ khác thì nó có thể sống
trong ít ngày và nó có thể sống được 30 ngày ở nước sạch với nhiệt độ 4°C
2.3.2 Bệnh viêm phổi do vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra ở lợn
Vi khuẩn A pleuropneumoniae là một tác nhân chính gây bệnh viêm phổi -
màng phổi ở lợn
Viêm phổi - màng phổi là một bệnh nhiễm trùng quan trọng ở đường hô hấp
của lợn và xảy ra ở hầu hết các nước có nền công nghiệp chăn nuôi lợn Bệnh này
quan trọng ở chỗ nó có thể gây viêm phổi mà kết quả là lợn bị chết hoặc có thể trở
thành bệnh mãn tính hoặc các thể nhẹ trên nhiều lứa lợn dẫn đến thiệt hại do lợn
chết hay giảm năng suất, tăng giá thành do việc dùng thuốc hoặc vacxin
Thể quá cấp tính và cấp tính của bệnh có gây nên hiệu ứng toàn thân tương
tự như nhiễm khuẩn máu ở trên người Có sự khác nhau về độc lực giữa các
serotype và thậm chí ở cùng một serotype Sự khác nhau đó là do sự khác nhau ở
cấu trúc vỏ, khác nhau về thành phần LPS hoặc chủng loại dung huyết Trên thực
tế những serotype 1, 5, 9, 10 và 11 có độc lực mạnh hơn các serotype khác
Bệnh lý học của viêm phổi - màng phổi đã được nghiên cứu một cách kỹ
lưỡng về cả vấn đề phát triển của các tổn thương lẫn mối liên quan giữa vi khuẩn
và tổn thương tổ chức ở mức độ phân tử Sự nhiễm trùng thường xảy ra do mầm
Trang 31bệnh trong không khí hoặc do tiếp xúc, những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng vi khuẩn thường tồn tại ở các amidan, và dính bám vào biểu mô phế nang
Vi khuẩn A pleuropneumoniae ở phổi nhanh chóng bị thực bào hoặc dính
lên đại thực bào của phế nang và sản sinh ra độc tố Apx I, Apx II, và Apx III Hầu hết các độc tố có khả năng gây độc cho đại thực bào của phế nang, các tế bào nội
mô, tế bào biểu mô phế nang, tế bào nội mô của mao mạch ở thành phế nang, nhất
là Apx III rất có hoạt tính chống lại đại thực bào của phế nang Các vi khuẩn có vỏ
có khả năng chống lại được sự thực bào và dường như cũng kháng lại sự hoạt động của bổ thể Sự hư hại do các độc tố và cytokines đi kèm với hiện tượng nhiễm trùng là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện và tăng tổn thương
Những tổn thương ở phổi là hậu quả của những sự thay đổi độc tố có thể được nhìn thấy sau 3 giờ nhiễm trùng thử nghiệm và trở nên dần dần rõ ràng hơn Vách phế nang trở nên phù thũng và sự xung huyết các mao quản tăng lên Mạch bạch huyết dãn ra cùng với dịch phù, fibrin và các tế bào viêm Sự ngưng tập tiểu cầu và sự tập trung các tế bào bạch cầu trung tính cũng có thể được thấy ở vách phế nang bị tổn thương và cả huyết khối động mạch cùng sự hoại tử thành mạch
có thể phát triển gây nhồi huyết Những vi khuẩn có thể thấy ở các vách phế nang
bị nhiễm trùng và cũng có thể xuất hiện nhiễm vi khuẩn huyết Bờ của tổn thương trở lên bị lấp đầy bởi xác chết hoặc đại thực bào bị tổn thương hoặc những mảnh vụn của tế bào và nhanh chóng phân ranh giới rõ với vùng phổi xung quanh sau
4 ngày nhiễm bệnh Có dịch mủ với những vi khuẩn ở các phế quản Với thời gian những tổn thương ở vùng trung tâm trở lên hoại tử và sự lành bệnh xảy đến với sự xơ hóa
Nhiễm trùng thực nghiệm hay nhiễm trùng tự nhiên đều kích thích tạo đáp ứng miễn dịch, kháng thể sản sinh và có hiệu quả sau khoảng 10 - 14 ngày nhiễm bệnh Những kháng thể này ở mức cao trong vòng 4 - 6 tuần nhiễm bệnh
và có thể tồn tại ở mức thấp sau một vài tháng hoặc thậm chí biến mất sau khi trị liệu vi khuẩn
Các miễn dịch này sẽ được truyền thụ động cho con cái và kháng thể này có thể tồn tại khoảng 5 - 9 tuần nhưng sự phòng chống bệnh có thể chỉ ở khoáng dưới
3 tuần ở một vài trường hợp Các kháng thể chống lại nhiều thành phần cấu trúc
và sản phẩm của vi khuẩn, bao gồm vỏ, LPS kháng nguyên, độc tố (chúng có thể
bị trung hoà), các thành phần Protein màng ngoài, Superoxide Dismustase và proteine mang sắt Cả hai loại kháng thể tại chỗ IgA và kháng thể trong huyết thanh IgG đều được tạo thành
Trang 322.4 VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA VÀ BỆNH VIÊM PHỔI
Ở LỢN
2.4.1 Vi khuẩn P multocida
Vi khuẩn P multocida là loại cầu trực khuẩn nhỏ, ngắn, có hình trứng, bầu
dục hay hình cầu, bắt màu gram âm, không lông, không di động, không hình thành
nha bào Rất nhiều nhóm vi khuẩn P multocida tồn tại nội sinh trong động vật và
gây bệnh khi động vật bị suy giảm sức đề kháng (Quinn & cs., 2015) Kích thước
vi khuẩn 0,25 - 0,4 m x 0,4 - 1,5 m, vi khuẩn thường đứng riêng lẻ, đôi khi
ghép đôi hoặc tạo thành chuỗi ngắn Vi khuẩn phân lập từ lợn thì có dạng tròn hơn
0,8- 1,0 m P multocida là vi sinh vật yếm khí tuỳ tiện, mọc tốt trên hầu hết các
môi trường thông thường giàu dinh dưỡng Phản ứng Oxydaza, Indol dương tính,
không di động, Ureaza âm tính, không mọc trên môi trường thạch MacConkey,
không dung huyết và không đòi hỏi nhân tố X và V Những đặc điểm này giúp
phân biệt vi khuẩn P multocida với các vi khuẩn cùng nhóm mà những nhóm này
có liên quan trong những bệnh về phổi lợn có tên như: P haemolytica,
Actinobacillus suis và A pleuropneumoniae
Vi khuẩn P multocida phát triển tốt ở nhiệt độ 370C với pH là 7,2- 7,6 Vi
khuẩn mọc kém ở nhiệt độ phòng, pH< 6 và pH > 8,5 Vi khuẩn mọc tốt hơn nếu
cho thêm 5 - 10% huyết thanh động vật
Trong quá trình nuôi cấy vi khuẩn ở môi trường lỏng, người ta có thể dùng
phương pháp sục khí để tăng cường sự phát triển của vi khuẩn P multocida Khi
so sánh phương pháp nuôi cấy sục khí và nuôi cấy tĩnh thấy số lượng vi khuẩn tăng
gấp 20 lần ở cùng loại môi trường Người ta đã áp dụng phương pháp sục khí để
tăng cường sự phát triển của vi khuẩn P multocida và rút ngắn thời gian nuôi cấy
trong sản xuất vacxin phòng bệnh
Carter (1955) đã phân P multocida thành 5 serotype kháng nguyên giáp mô
khác nhau là serotype A, B, D, E và F Theo Carter (1967) giáp mô của chủng
serotype A có cấu tạo bởi axit Hyaluronic nhưng có một sự liên quan mật thiết với
các thành phần khác như Polysaccharit, Protein và Lipit
P multocida có kháng nguyên rất phức tạp và cấu trúc từng loại kháng
nguyên cũng luôn thay đổi Kháng nguyên của P multocida có 2 loại chính là
kháng nguyên vỏ (K) và kháng nguyên thân (O) P multocida có 5 serotype kháng
nguyên vỏ A, B, D, E và F Trong đó A, B và D đã được xác định gây bệnh cho
lợn, tuy nhiên serotype B cũng không phải là nguyên nhân chính ở những ổ dịch
Trang 33cho lợn ngoài tự nhiên ở Bắc Mỹ và Châu Âu Serotype phổ biến nhất được phân
lập trong bệnh viêm phổi lợn là serotype A
P multocida cũng có 16 serotype kháng nguyên thân Những chủng thuộc
serotype 3 và 5 cũng đã được phát hiện là rất phổ biến ở lợn Với những chủng A:3,
A:5, D:5 và D:3 Việc xác định serotype của P multocida gồm 2 hệ thống là: hệ
thống dựa vào kháng nguyên giáp mô và hệ thống dựa vào kháng nguyên thân
- Yếu tố độc lực:
Độc tố của P multocida không chiết tách được, đây là độc tố chủ yếu gây
viêm teo mũi ở lợn Độc lực của các chủng P multocida từ phổi đã được Pijoan &
cs (1984) phát hiện lần đầu tiên vào năm 1984 Kielstein (1986) đã phát hiện ra
rằng những chủng có độc lực thường được tìm thấy khi phân lập vi khuẩn từ các
ca bệnh cấp tính chứ không phải từ phổi lấy ở lò giết mổ
Kháng nguyên vỏ là nhân tố rất quan trọng trong yếu tố gây bệnh, đặc
biệt ở serotype A Điều này giúp vi khuẩn tránh được sự thực bào trong quá
trình đại thực bào ở phổi Theo Pijoan & Fuentes (1987), một số chủng
P multocida có thể gây ra chứng viêm màng phổi và các ổ áp xe trong thí
nghiệm gây nhiễm ở lợn Maheswaran & Thies (1979) đã thông báo rằng P
multocida bị hấp thu trong quá trình đại thực bào tại phổi lợn xảy ra rất chậm
thậm chí trong sự hiện diện của Opsonin, tương tự như những kết quả đã tìm
được của Fuentes & Pijoan (1987)
Gần đây có giả thuyết cho rằng kháng nguyên Capsule đã được bộc lộ khi vi
khuẩn phát triển dưới điều kiện nghèo sắt (Jacques & cs., 1994) Những sự phát
triển ở điều kiện này gần giống như những thí nghiệm đã được chứng minh trong
phòng thí nghiệm Vì thế sự liên quan của kháng nguyên capsule đến độc lực có
thể đã được đánh giá cao từ trước kia
Các yếu tố độc lực này khác nhau ở các chủng, ở những chủng có độc lực
yếu trong phổi không xác định rõ tính chất Tuy nhiên Iwamatsu & cs (1991) đã
tìm thấy những chủng thuộc serotype D hay những chủng gây độc (của cả 2
serotype) ở những ổ áp xe nhưng không có trong bệnh viêm màng phổi
- Sự cư trú ở màng nhày:
Sự cư trú của vi khuẩn P multocida là vấn đề quan trọng để hiểu được sự
phát sinh bệnh của vi khuẩn này Jacques & Foiry (1987) đã tìm được cả 2 serotype
A và D cư trú rất ít khi phân lập ở tế bào biểu mô thuộc ống khí quản, nhưng chủng
thuộc serotype A thì cư trú nhiều hơn Sau đó ông chỉ ra rằng chủng thuộc serotype
Trang 34A hầu hết đều bám ở lớp lông mao của tế bào biểu mô
Pijoan & Trigo (1990) cũng đã phát hiện thấy sự bám rải rác của các chủng thuộc serotype A và D nhưng nhận thấy rằng những chủng serotype D thường bám
ở những tế bào không có lông mao và sau đó đã thấy ở một số chủng gây độc đặc biệt phát hiện có lông trên bề mặt của chúng, tuy nhiên vai trò của những cấu trúc này trong việc bám dính vẫn là vấn đề phải xem xét từ trước đến nay Ngược lại
với sự gắn kết yếu với bề mặt tế bào biểu mô, vi khuẩn P multocida đã thực sự
gắn kết chặt chẽ ở niêm dịch nhầy ở mũi, nhiều câu hỏi được đặt ra như nơi gắn kết thông thường ở đâu và điểm nào là nơi cư trú
Sự cư trú tại dịch nhày ở lợn con còn đang bú mẹ đang là vấn đề rất quan trọng trong các chương trình tách đàn cai sữa sớm (SEW) Pijoan (1995) đã giả định rằng những lợn mới được cai sữa sớm (ở 15 ngày tuổi hay ít hơn) thì không
khu trú đồng nhất với những vi khuẩn như P multocida, M hyoneumoniae, kết
quả là ở những lợn đã cai sữa được chia vào khu chăn nuôi các đàn đã nuôi lâu thì thấy rằng ở những đàn này có sự khác nhau về tỷ lệ mang trùng của những gia súc trong các đàn, những đàn có tỷ lệ mang trùng thấp thì có nguy cơ phát triển những triệu chứng lâm sàng nghiêm trọng bởi vì một số lợn trong đàn đã
có lây nhiễm rất muộn, đồng thời lúc đó gia súc không có sẵn kháng thể thụ động từ lợn mẹ Điều này có thể giải thích tại sao trong hệ thống tách đàn cai sữa sớm (SEW) đôi khi vẫn thấy sự phát ra hội chứng bệnh đường hô hấp (PRDC) muộn
2.4.2 Bệnh viêm phổi lợn do vi khuẩn P multocida gây ra
Bệnh viêm phổi do Pasteurella gây ra là kết quả của sự lây nhiễm của vi khuẩn P multocida cho phổi Bệnh thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh viêm
phổi cục bộ hay ở những bệnh ghép ở đường hô hấp ở lợn Hội chứng này là một trong những bệnh gây thiệt hại cho lợn đặc biệt khi chúng sản sinh tăng lên Nhiều nghiên cứu đã cho biết: ở đàn lợn bệnh, bệnh tích viêm phổi khi mổ khám dao động từ 30% đến 80% Những số liệu gần đây tại Mỹ cho thấy trong
6634 mẫu lấy từ lợn để kiểm tra phổ biến là 74% lợn bị viêm phổi và 13 % với
chứng viêm màng phổi
Dịch tễ học của P multocida đã không được hiểu cặn kẽ, hiện nay vi khuẩn
này vẫn phát hiện thấy trong tất cả các đàn và có thể phân lập từ mũi và hạch hầu của những cá thể khoẻ mạnh bình thường Sự lây truyền bệnh đã được giả định là qua không khí, nhưng dường như nó không quan trọng, Backbo & Nielsen (1988)
đã cho rằng sự lây nhiễm P multocida là qua không khí Trong đàn đang bị mắc
Trang 35bệnh viêm teo mũi người ta có thể phân lập vi khuẩn ở 29 đàn trong 44 đàn nghiên cứu, tuy nhiên số lượng vi khuẩn phân lập được thì thấp (144 CFU/ml) từ đó kết luận rằng không có mối quan hệ giữa vi khuẩn với tính nghiêm trọng của triệu chứng lâm sàng của bệnh Mặc dù sự lây truyền bệnh qua không khí có thể có lúc xảy ra trong đàn, có thể sự tiếp xúc giữa mũi lợn với nhau là cách phổ biến nhất cho sự lây nhiễm, cả hai kiểu truyền dọc và truyền ngang của sự lây nhiễm xảy ra, mặc dù vậy ở trong các trang trại sự lây nhiễm chủ yếu là theo kiểu truyền ngang với chủng vi khuẩn chiếm ưu thế trong bệnh viêm phổi (Zhao & cs., 1993) Những
giả thuyết về sự tồn tại của những chủng P multocida có độc tính thay đổi thất
thường với một trong nhiều chủng có độc tính cao gây ra hầu hết những bệnh trong quần thể, những nguồn lây nhiễm vi khuẩn từ bên ngoài bao gồm chuột và những loài gặm nhấm khác, mặc dù gà và phân gà cũng được coi là nguồn lây nhiễm Tuy nhiên không ngoại trừ khả năng là không phổ biến nguồn vi khuẩn này trong các trang trại có qui mô hiện đại
Sự lây nhiễm thí nghiệm đối với vi khuẩn P multocida rất khó thực hiện, ở
những lợn khoẻ khả năng chịu đựng những liều lớn khi lây nhiễm vào mũi lợn thậm chí trong khí quản Sự làm sạch phổi rất có hiệu quả và không thể phân lập được vi khuẩn sau 30 phút lây nhiễm
Phương pháp thí nghiệm với bệnh đó là sử dụng vi khuẩn serotype B
(Farcing, 1986), lây nhiễm trước đó với Mycoplasma hay vi khuẩn khác (Fuentes
& Pijoan, 1986; Ciprian & cs., 1988) hay sự tấn công ồ ạt vào trong phổi, từ đó
đưa kết luận rằng P multocida không phải là tác nhân đầu tiên gây ra bệnh viêm
phổi nhưng lại là sự lây nhiễm kế phát sau các tác nhân khác
Vi khuẩn kích thích phản ứng mưng mủ nhanh đặc trưng bởi sự có mặt các
tế bào bạch cầu trung tính xuyên mạch, điều này có thể là phản ứng của cơ thể vật chủ với Lipopolysacharide của vi khuẩn Phản ứng này kích thích giải phóng
ra các tế bào ổ viêm, sự chết đột ngột có thể là do sốc nội độc tố và hoạt động hô hấp bị rối loạn
Tính nghiêm trọng của triệu chứng lâm sàng rất khác nhau tuỳ thuộc vào
từng chủng vi khuẩn P multocida có liên quan cùng với tình trạng miễn dịch của
con vật
Thể cấp tính: ở thể này thông thường là do hầu hết các chủng thuộc serotype
B, những chủng này rất ít, hay không gặp ở Châu âu và Bắc mỹ Những con vật mắc bệnh thường thấy chứng khó thở, cố ra sức để thở, gõ vào bụng có âm đục
“bịch, bịch”, hóp bụng vào để thở, sốt cao nhiệt độ lên tới 41-42oC, tỷ lệ chết cao
Trang 36(5-40%) Trong trường hợp những con vật chết và hấp hối có thể thấy những vết
đổi màu tím ở vùng bụng (có thể là do sốc nội độc tố)
Thể thứ cấp tính: thể này kết hợp với chủng vi khuẩn P multocida gây
bệnh viêm phổi, ở thể này hiện tượng ho và thở thể bụng thường thấy ở những lợn lớn hay những lợn đủ trọng lượng để xuất chuồng Ho ở những lợn ở lứa tuổi này thường được coi là tiêu chuẩn bệnh nghiêm trọng Triệu chứng lâm sàng của
bệnh ở thể này giống như viêm màng phổi do A pleuropneumoniae, nhưng những đặc điểm phân biệt chính là bệnh viêm phổi do Pasteurella thì hiếm khi gây ra
chết bất ngờ, hơn nữa lợn mắc bệnh song có thể tồn tại một thời gian dài Gần đây bùng nổ những vụ dịch do PRDC ở lợn đã đến hạn giết mổ (khoảng 16- 18 tuần tuổi) ở những trại đang sử dụng phương pháp tách đàn và cai sữa sớm (SEW)
đã thấy xuất hiện những lợn có triệu chứng ho và thở thể bụng ở lợn nhưng không
phải do bệnh viêm phổi (Dee, 1997)
Thể mãn tính: đây là thể đặc trưng thường thấy của bệnh, thỉnh thoảng xuất
hiện ho, sốt nhẹ hoặc không Những con vật bị ảnh hưởng thường ở giai đoạn cuối của giai đoạn nuôi dưỡng hay lớn hơn (10- 16 tuần tuổi) Những dấu hiệu không
thể phân biệt được khi vi khuẩn lây nhiễm sau khi bội nhiễm M hyopneumoniae,
P multocida thì tiếp tục và kịch liệt hơn khi tiền nhiễm Mycoplasmosis
Bệnh tích do P multocida: chủ yếu là ở phần xoang ngực và thường kèm với
bệnh tích của M hyopneumoniae Đặc trưng của bệnh này là quan sát thấy ở thuỳ
đỉnh và mặt sau của phổi, cùng với việc có bọt khí trong khí quản Có sự phân ranh giới rõ ràng giữa vùng tổ chức phổi bị tổ thương và vùng tổ chức phổi bình thường Phần bị ảnh hưởng của phổi sẽ có sự biến đổi mầu sắc từ mầu đỏ sang mầu xám
xanh phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh
Các trường hợp bệnh nghiêm trọng có thể xuất hiện viêm phế mạc và apse ở các mức độ khác nhau Trong các trường hợp này thường thấy phế mạc dính chặt vào thành xoang ngực, và phế mạc có vùng mờ đục, và khô Đấy chính là bệnh
tích chủ yếu để phân biệt được bệnh viêm phổi do Pasterella với viêm phổi do Actinobacillus, trong đó thường thấy mủ chảy ra có mầu vàng và dính cùng với rất
nhiều sợi fibrin (Pijoan, 1989)
Dấu hiệu bệnh này cũng thể hiện mối liên quan giữa việc gây bệnh viêm phế
quản do Pasterella với bệnh viêm cầu thận cũng do Pasterella (Buttenschon, 1991)
Tác giả này cũng kết luận rằng hai bệnh này có liên quan với nhau bởi quá trình vi khuẩn phát tán từ những bệnh tích ở phổi
Trang 37Khi những bệnh tích của sự lây nhiễm P multocida không có biểu hiện đặc
trưng thì không thể sử dụng chỉ tiêu chuẩn để tiến hành chẩn đoán đúng Lịch sử của ổ dịch, lịch sử của bệnh lý và sự phân lập vi khuẩn nên được sử dụng để củng
cố cho lý thuyết chẩn đoán căn bản Phương pháp huyết thanh học không chứng minh hiệu quả cho chẩn đoán và cũng không có Test huyết thanh nào co giá trị để
chưng minh sự lây nhiễm P multocida
Vi khuẩn P multocida là vi khuẩn dễ nuôi cấy từ những mẫu đưa đến phòng
thí nghiệm, những mẫu được lấy tốt nhất cho sự phân lập vi khuẩn bao gồm: dịch khi quản và những mô tế bào phổi đã bị nhiễm bệnh được lấy từ khoảng giữa mô
tế bào lây nhiễm và tế bào bình thường Những mẫu lấy qua bông từ mũi cũng
được xem là mẫu tốt cho việc phân lập P multocida (Schos & Alt, 1995), những
mẫu dịch thấm này nên được nhúng trong môi trường vận chuyển phù hợp như Stuarts Những mẫu phổi phải được đưa đến càng nhanh càng tốt và tránh bị tạp, tất cả các mẫu phải được bảo quản lạnh (không đóng băng) cho đến khi cấy
Việc nuôi cấy vi khuẩn P multocida có thể đạt kết quả trong phòng thí
nghiệm với những phương tiện tối thiểu nhất Những mẫu đạt chất lượng tốt thì sẽ tìm thấy vi khuẩn khi cấy trực tiếp trên đĩa thạch máu hay thạch Glucose, nếu những mẫu khi đưa về mà bị nhiễm tạp khuẩn thì chúng có thể được pha loãng theo từng kỳ 10 lần một, cấy vào nước thịt BHI để qua đêm sau đó cấy ra đĩa thay thế dần cách chọn lựa sử dụng (Pijoan & cs., 1993b) Ackenman & cs (1983b) đã phân lập thành công từ những hạch hầu và xương xoắn của những lợn trưởng thành,
sử dụng bằng thạch máu có 3,75 U/ml Bacitracin; 5mg/ml Clindamycin; 0,75mg/ml Amphotericin B Sự phân lập có thể tăng lên do việc tiêm truyền canh
trùng vào xoang bụng của chuột bạch và sau đó cấy lại vi khuẩn P multocida sau
24 giờ từ gan và dịch báng
Việc điều trị bệnh lây nhiễm vi khuẩn P multocida bằng thuốc kháng sinh
thường khó khăn hoặc không thành công, điều này một phần là do tính kháng thuỗc
rộng rãi ở vi khuẩn P multocida được phân lập ở Mỹ và cũng khó khăn khi tập
trung thuốc kháng sinh cho bệnh viêm phổi
Kháng sinh rất đa dạng và sự kết hợp giữa các loại kháng sinh đã được sử dụng thường xuyên (Farvington, 1986), trong đó bao gồm kháng sinh ngoài đường tiêu hoá (kháng sinh không dùng bằng uông và ăn) như: Oxytetracyline 11mg/kg; oxytetracyline chậm: 20 mg/kg; Procaine penicilli 66.000 U/kg; Benzathine penicillin 32.000 U/kg và rất nhiều loại kháng sinh khác Tuy nhiên việc sử dụng thuốc còn ít có hiệu quả do sự kháng thuốc của vi khuẩn
Trang 38Cole & cs (1991) đã tìm thấy một số các Plasmid trung gian kháng thuốc với
Streptomycin và Sulfonamid giữa 29 nông trường được điều tra, phân lập
Gutiewez Martin & Rodrigues Ferri (1993) đã phân lập trên 59 mẫu ở Tây ban
nha, ông đã nhận thấy sự tác động tốt với Penicillin, Aminoglycoside, Tetracilin,
Erthromycin, Colistin và Rifampicin với một số thì lại kháng với các loại kháng
sinh Tylosin, Vancomycin và Tiamulin
Những thuốc Tetracilin sử dụng đơn, Tetraciline hoặc Tetracilin kết hợp với
Sulfamethazin hay Sulfathiazol hay penicillin và Tylosin kết hợp với
Sulfamethazin đã được khuyến cao sử dụng cho mục đích điều trị Có thể nói
rằng phối hợp kháng sinh hiệu quả nhất là khi kết hợp Tính kháng khuẩn của
những kháng sinh này đã được tập trung xem xét qua sự tồn dư thuốc, bởi vì
chính điều này nên việc sử dụng kháng sinh cần phỉa hạn chế nghiêm ngặt và
theo dõi cẩn thận Tiamulin (40 ppm trong thức ăn) trong một số thí nghiệm để
cải thiện trọng lượng bình quân, tuy nhiên vì hiện tượng viêm phổi không giảm
đi nhiều lại chính là do loại kháng sinh này (Pott & Edward, 1990) cách thức hoạt
động bởi chính những sự cải thiện đạt được này không rõ ràng Tiamulin đã được
xem như là một loại kháng sinh cho kêt quả không ổn định để điều trị
P multocida, tuy vậy hiệu quả chính của nó trong bệnh viêm phổi là khống chế
M hyopneumoniae
Noiyes & cs (1986) đã nhận thấy sự giảm thông thoáng dưới mức tối thiểu
được khuyến cáo (0,5 CFM/ lợn) không có kết quả ngăn chặn lợn con lây nhiễm
với 2 bệnh do B bronchiseptica và P multocida, tương tự như vậy Rafai (1987)
cũng cho rằng Stress lạnh thậm chí còn dẫn đến giảm chức năng miễn dịch của
những lợn con đang bú, tương tự cũng không có kết quả đối với sự lây nhiễm P
multocida Sự thay đổi môi trường thường xuyên dần mở rộng ra tuy nhiên rất
tốn kém khi tiến hành và duy trì như vậy và không chắc chắn những thay đổi này
mang lại kết quả tốt trong việc giảm những bệnh đường hô hấp, hay nói cách
khác sự cải tiến và những thay đổi trong cách quản lý có thể làm giảm việc lây
lan vi khuẩn
2.5 VI KHUẨN STREPTOCOCCUS SUIS VÀ BỆNH DO VI KHUẨN GÂY
RA Ở LỢN
2.5.1 Vi khuẩn S suis
Vi khuẩn S suis có hình cầu hoặc hình trứng, đường kính có khi đến 1 m,
chúng thường đứng riêng lẻ, xếp thành đôi hoặc thành từng chuỗi ngắn như chuỗi
hạt, có độ dài ngắn không đều nhau Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện
Trang 39môi trường Vi khuẩn bắt màu Gram dương, yếm khí tùy tiện và không di động
Vi khuẩn không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp mô
Các vi khuẩn được nuôi cấy sau 18 giờ chủ yếu có dạng hình cầu, kích thước 0,5 - 1 m, đứng thành dạng chuỗi 5 - 10 tế bào Trong canh trùng già, sau 30 giờ nuôi cấy, vi khuẩn có thể thay đổi tính chất bắt màu, chuỗi cũng thấy dài hơn
Vi khuẩn S suis phát triển tốt trong điều kiện yếm khí tùy tiện
- Trên môi trường thạch máu: sau 24 giờ nuôi cấy, hình thành khuẩn lạc nhỏ, hơi vồng và sáng trắng Có thể quan sát thấy các kiểu dung huyết gồm:
+ Dung huyết kiểu α: vùng dung huyết xung quanh khuẩn lạc thường có màu xanh (dung huyết từng phần hay dung huyết không hoàn toàn)
+ Dung huyết kiểu β: bao quanh khuẩn lạc là một vùng tan máu hoàn toàn trong suốt, có bờ rõ ràng do Hemoglobin bị phân hủy hoàn toàn
+ Dung huyết kiểu (còn gọi là không dung huyết): không làm biến đổi thạch máu
Vi khuẩn có khả năng lên men đường Glucose, Lactose, Succrose, Inulin, Trehaloza, Maltoza, Fructoza, không lên men các loại đường Ribose, Arabinose, Sorbitol, Mannitol, Dextrose và Xylose
Vi khuẩn không chứa men Catalase và Oxidase, vì vậy phản ứng Catalase và Oxidase âm tính
Vi khuẩn dễ bị diệt bởi nhiều chất sát trùng như: phenol, iod, hypochloride, axit phenic 3%-5% diệt vi khuẩn trong vòng 3-15 phút, trong formol 1% vi khuẩn
bị diệt trong vòng 60 phút, cồn nguyên chất không có tác dụng đối với vi khuẩn, cồn 70oC diệt vi khuẩn trong vòng 30 phút, tím gentian 1/300.000 cũng có tác dụng diệt vi khuẩn
Các chất sát trùng thông thường dùng để vệ sinh chuồng trại có thể giết chết
S suis serotype 2 trong vòng chưa đến 1 phút
Các Streptococcus dung huyết kiểu Alpha từ các trường hợp nhiễm trùng
huyết ở lợn được de Moor mô tả đặc tính sinh hoá và huyết thanh học lần đầu tiên vào giữa những năm 1956 và 1963 là các nhóm Lancefield mới R, S, RS và T (de Moor, 1963) Ở Anh Eliott (1966) cho rằng nhóm S của de Moor giống với PM Streptococcus của ông và cả 2 đều thuộc nhóm D của Lacefield, ông đề nghị gọi
tên là S suis serotype capsular 2 Năm 1975, Windor & Elliot đã phân lập được Streptococcus khác từ lợn tương ứng với nhóm R của Moor, và đặt tên chúng là S
suis serotype 2 Serotype 1 thường gây bệnh viêm màng não ở lợn sơ sinh, trong
Trang 40khi đó serotype 2 gây ra cho tất cả mọi lứa tuổi Các chủng phân lập được phản ứng với cả kháng huyết thanh serotype 1 và 2 được gọi là serotype capsular 1/2 (bắt nguồn từ nhóm RS)
Việc phân lập các Streptococcus thuộc nhóm T từ hạch ami đan, dịch âm đạo
và bao qui đầu đã được thông báo bởi Clifton & Hadley năm 1984 Chủng tương
ứng với nhóm T được gọi là S suis serotype capsular 12 (Gottschalk, 1989)
Giữa những năm 1983 và 1995, tổng số có 32 serotype capsular đã được
mô tả trong tổng số là 35 chủng (Perch & cs., 1983; Higgins & cs., 1995) Các chủng tương ứng bắt nguồn từ những lợn bệnh ngoại trừ serotype capsular 14 phân lập từ người, các serotype capsular 17, 18, 19 và 21 phân lập từ những lợn khoẻ Serotype capsular 20 và 31 phân lập bê mắc bệnh và serotype 33 từ một con cừu bệnh (Gottschakc & cs., 1989; Higgins & cs., 1995) Năm 1987, Kilpper- Balz &
Schleifer đã chính thức đặt tên S suis như là một loài vi khuẩn mới, loài này có
dáng vẻ riêng về tính di truyền và không có mối quan hệ đặc biệt nào với các loài
Streptococcus khác đã xét nghiệm (Bently & cs., 1991) Sự đa dạng về di truyền trong số các thành viên của loài S suis là rất quan trọng, điều này phải tính đến
trong chẩn đoán, điều tra và phòng bệnh theo (Hampson & cs., 1993; Harel, 1994)
Những thông báo đầu tiên về sự lây nhiễm của S suis đã được công bố bởi Jansen và Van dorssen ở Hà lan (1951) và Field (1954) ở Anh Từ đó về sau S suis
đã được báo cáo ở tất cả các nước, có ngành công nghiệp chăn nuôi lợn quan trọng
và trong hơn một thập kỷ qua sự lây nhiễm gắn với vi khuẩn này đã được theo dõi
ở cả những hoạt động chăn nuôi lợn mạnh theo truyền thống và hiện đại
Ở những lợn bị bệnh thì của serotype 2 chiếm ưu thế ở hầu hết các quốc gia, ở Scandinavia serotype 7 đã chiếm ưu thế trong vài năm (Perch & cs., 1983; Sihnonen & cs., 1988), nhưng vào những năm 1990 thì serotype 2 lại thịnh hành hơn serotype 7 (Nielsen & Pers, 1997) Ở Nhật serotype capsular 2 cũng là serotype thịnh hành nhất (28%) sau đó là serotype 7 (11%) (Kataoka & cs., 1993)
Hầu hết các vi khuẩn S suis phân lập từ những lợn bệnh thường thuộc một
số giới hạn các serotype capsular, thường là giữa serotype 1 và 8 (Galina & cs., 1992; Higgins & Gottschalk, 1996; Hoggvà cs., 1996; Katoka & cs., 1993; Prieto
& cs., 1994; Reams & cs., 1996)
Một số chủng thuộc những serotype capsular ít phổ biến có liên quan đến
những trường hợp nhiễm trùng nghiêm trọng S suis serotype capsular 9 có liên
quan đến những ổ dịch nhiễm trùng huyết, viêm màng não và viêm phổi ở lợn cai sữa (Orr & cs., 1989; Gogolewski & cs., 1990) Maclennam & cs (1996) đã thông