1 20 20 20 20 20 Lớp niêm mạc là lớp biểu mô, tuỳ theo chức năng mà có loại biểu mô khác nhau, Ví dụ ở thực quản nơi dễ bị nhiệt độ gây tổn thương hay hậu môn nơi dễ bị kích thích Biên tập viên: Trần Tiến Phong Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương Nhận định chung Hệ tiêu hóa là cơ quan có nhiệm vụ tiêu hóa và hấp thụ thức ăn. Bắt đầu từ ổ miệng nơi nhận thức ăn, tận cùng ở hậu môn nơi thải chất cặn bã không tiêu hóa được. Hệ tiêu hóa Hình. Hệ tiêu hóa Từ trên xuống dưới hệ tiêu hóa gồm có các thành phần sau: ổ miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non và Ruột già. Ngoại trừ ổ miệng và hầu có hình dạng đặc biệt, các phần còn lại có dạng hình ống rỗng nên được gọi là ống tiêu hoá. Ngoài các thành phần trên, hệ tiêu hoá còn có các tuyến tiêu hoá là các tuyến nước bọt, gan và tụy. Cấu tạo của ống tiêu hóa Nói chung ống tiêu hoá cấu tạo gồm các lớp từ trong ra ngoài: Lớp niêm mạc là lớp biểu mô, tuỳ theo chức năng mà có loại biểu mô khác nhau. Ví dụ: ở thực quản nơi dễ bị nhiệt độ gây tổn thương hay hậu môn nơi dễ bị kích thích bởi phân nên có cấu tạo là lớp biểu mô lát tầng, trong khi đó dạ dày và ruột non là biểu mô trụ đơn... Lớp dưới niêm mạc. Lớp cơ: gồm tầng vòng ở trong và tầng dọc ở ngoài. Tấm dưới thanh mạc. Lớp thanh mạc: là phúc mạc tạng, chỉ có ở phần ống tiêu hoá nằm trong ổ phúc mạc. Cấu tạo thành ống tiêu hóa Hình. Cấu tạo thành ống tiêu hóa 1. Lớp thanh mạc 2. Tấm dưới thanh mạc 3. Lớp cơ 4. Lớp dưới niêm mạc 5. Lớp niêm mạc Các danh mục Sổ tay cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh lý Triệu chứng học nội khoa Triệu chứng học ngoại khoa Bệnh học nội khoa Bài giảng bệnh học nội khoa Bệnh học ngoại khoa Bệnh học nhi khoa Bài giảng sản phụ khoa Bài giảng truyền nhiễm Bệnh học và điều trị đông y Bài giảng tai mũi họng Bài giảng răng hàm mặt Bài giảng nhãn khoa Bài giảng da liễu Thực hành chẩn đoán và điều trị Bệnh học nội thần kinh Bệnh học lao Đại cương về bệnh ung thư Nội khoa miễn dịch dị ứng Sách châm cứu học Bài giảng sinh lý bệnh Bài giảng miễn dịch Bài giảng giải phẫu bệnh Gây mê hồi sức Sinh lý y học Phôi thai học Bài giảng dược lý lâm sàng Chẩn đoán hình ảnh Y pháp trong y học Sách điện tâm đồ Các bài thuốc đông y hiệu nghiệm Sách siêu âm tim Xét nghiệm sinh hóa trong lâm sàng Tâm lý học và lâm sàng Thực hành tim mạch Cẩm nang điều trị Thực hành chẩn đoán điện tâm đồ bệnh lý Điều dưỡng học nội khoa Phương pháp viết báo trong nghiên cứu y học Hồi sức cấp cứu toàn tập Điều dưỡng truyền nhiễm Kỹ thuật điều dưỡng cơ bản Giải phẫu cơ thể người Bài giảng huyết học và truyền máu Những kỹ năng lâm sàng Bài giảng vi sinh y học Bệnh nội khoa: hướng dẫn điều trị
Trang 1SIÊU ÂM GIẢI PHẪU
Trang 2DÀN BÀI
I Mô học
II Các lớp của ống tiêu hóa
III Kỹ thuật khảo sát
IV Hình ảnh siêu âm các thành phần của ống tiêu hóa
Trang 3MÔ HỌC CỦA ỐNG TIÊU HÓA
1 Mô học: 5 lớp
Từ trong ra ngoài các lớp của ruột
non là niêm mạc (M.), lớp dưới niêm
mạc (S.M.), lớp cơ vòng (C.M.), lớp
cơ dọc (L.M.) và thanh mạc (S.)
Trang 4HÌNH ẢNH SIÊU ÂM CỦA
ỐNG TIÊU HÓA
Dấu vân tay trên hình ảnh siêu
âm của đường tiêu hóa bình
thường
Cấu trúc siêu âm gồm năm lớp
cổ điển của thành ruột dễ dàng
nhận thấy nhất bằng cách
nghiên cứu thành dạ dày chứa
đầy chất lỏng.
Trang 5HÌNH ẢNH SIÊU ÂM CỦA
Ba lớp luôn luôn thấy được trên
siêu âm là niêm mạc sâu, dưới
niêm và lớp cơ (hình minh họa)
Cấu trúc siêu âm về cơ bản giống
nhau từ dạ dày đến trực tràng.
Trang 6Ở bệnh nhân bị chướng hơi nặng, cấu trúc thành ruột ba
lớp chỉ có thể được nhận biết bằng đầu dò 12 MHz.
Trang 7LỚP NIÊM SÂU
Lớp niêm mạc sâu có hồi âm kém và
có độ dày thay đổi Nó gồm các mô
tuyến bên trong và một phần nhỏ các
niêm mạc cơ.
Đặc biệt ở đoạn cuối hồi tràng của
trẻ em và thanh thiếu niên, các mô
bạch huyết giảm âm hiện diện rất
nhiều, tạo thành những mảng Peyer
(p) có thể rất lớn và không đối xứng
Trang 8LỚP DƯỚI NIÊM
Lớp dưới niêm mạc chứa các
mạch máu, dây thần kinh và mỡ,
có hồi âm dày do có nhiều mô
liên kết lỏng lẻo.
Ở bệnh nhân viêm loét đại tràng
này, các mạch máu nổi rõ (mũi
tên) ở lớp dưới niêm mạc và
thấy được bằng SA Doppler màu
trong hình bên phải.
Trang 9LỚP CƠ
Lớp cơ giảm âm và có màu đen nằm phía bên ngoài
nên rất dễ nhận biết
Gồm hai lớp: lớp cơ vòng bên trong và lớp cơ dọc bên
ngoài, hợp tác để tạo ra các chuyển động nhu động
Hai lớp cơ này được ngăn cách bởi một lớp mô liên kết
mỏng, chứa mô thần kinh của đám rối Auerbach
Lớp mô liên kết mỏng này (các đầu mũi tên) có hồi âm
dày trên siêu âm và có thể thấy trong ruột non của bệnh
nhân gầy
Mặc dù không có liên quan về mặt lâm sàng, việc thấy
được đám rối Auerbach riêng biệt trên siêu âm, nhấn
mạnh độ phân giải cao của siêu âm so với CT và MRI
Trang 10LỚP CƠ
Cơ của ruột già khác với ruột non
Lớp cơ dọc được giới hạn trong ba dải định
hướng theo chiều dọc, được gọi là dải dọc
đại tràng Trong đại tràng trống và bị đè ép
ở bệnh nhân gầy, ba dải này (đầu mũi tên),
thường thấy trên siêu âm là sự dày lên khu
trú của lớp cơ, ngăn cách với lớp cơ vòng
bằng một đường phản âm dày mỏng
Trang 11LỚP THANH MẠC
Thanh mạc hoặc phúc mạc tạng
là lớp hồi âm dày bên ngoài
mỏng nhưng rất chắc, thường
hòa lẫn với mô mỡ hồi âm dày
của mạc treo và mạc nối bao
quanh ruột
Nếu có dịch trong ổ bụng,
thanh mạc hồi âm dày(mũi tên)
có thể xác định được, như trong
các quai hồi tràng này
Trang 12Kỹ thuật này yêu cầu đè ép tùy mức độ,
một đầu dò tần số cao và gel siêu âm có
độ nhớt không quá cao
Giống như trong việc cắt cỏ, các làn
đường chồng lên nhau là cần thiết, để
không bỏ sót bất kỳ bệnh lý nào
Trang 13Kỹ thuật đè ép
Ưu điểm của việc đè ép:
- Đưa đầu dò gần ruột hơn cho phép thăm khám đầu dò tần
số cao
- Đè xẹp hoặc đẩy khí trong ruột ra vùng khảo sát
Kỹ thuật đè phải được chọn lọc và thao tác nhẹ nhàng, không
gây đau, tránh đẩy ruột hoàn toàn ra khỏi vùng khảo sát
Sự đè ép có chọn lọc được thực hiện tốt ngay cả trong trường
hợp có viêm phúc mạc
Hình CT cho thấy các mối quan hệ giải phẫu trong ổ bụng bị
thay đổi như thế nào bằng cách đè ép
Trong quá trình đè ép, thành ruột mặt trước và mặt sau ép
vào nhau, loại bỏ tác động xáo trộn của khí và các chất chứa
khác trong ruột
Trang 14Kỹ thuật đè ép
CT cho thấy đại tràng co thắt (mũi tên) ở bệnh nhân
béo phì Khi đè ép nhẹ (giữa), đại tràng co lại có thể
thấy bằng đầu dò 12 MHz
Khi đè ép vừa phải (bên phải), đại tràng thư giãn có
thể thấy dạng phẳng dựa vào cơ psoas nằm ở mặt
lưng
CT của một bệnh nhân béo phì bị viêm loét đại tràng
không hoạt động ĐT Sigma nằm cách da 9 cm
Trong quá trình đè ép (đầu mũi tên) khoảng cách này
giảm xuống còn 2.5 cms cho phép sử dụng đầu dò
tần số cao
Trang 15Chuẩn bị bệnh nhân
1 Ăn sáng nhẹ Uống nhiều nước
2 Không có chỉ định cho việc nhịn ăn tuyệt đối
(khó chịu, nguy hiểm cho bệnh nhân tiểu
đường, bệnh nhân có thể bỏ qua thuốc quan
trọng)
3 Không yêu cầu bàng quang đầy (gây khó
chịu cho bệnh nhân, cản trở việc thăm khám
SA do khó đè ép, đẩy ruột ra xa về phía sau)
4 Nước tiểu chiếm nửa bàng quang là tốt nhất,
nhưng khó hướng dẫn để thực hiện
Một nửa bàng quang đầy cho phép kiểm tra tối
ưu bàng quang và niệu quản đoạn xa, tử cung và
buồng trứng ở phụ nữ (hình ảnh)
Trang 16Một trường hợp u thực quản chỗ nối
thực quản với dạ dày: dày thành
không đối xứng, mất cấu trúc lớp tạo
thành khối hồi âm rất kém.
Trang 17DẠ DÀY
Hầu hết bệnh nhân đến siêu âm, dạ dày trống rỗng,
do không được uống đủ nước trước khi khám, hoặc
bị nôn liên quan đến vấn đề cấp tính ở bụng
Nếu dạ dày chứa nhiều dịch và bệnh nhân không
uống nước trước đó, có thể là dấu hiệu cần ghi
nhận Vì có thể là tắc nghẽn cơ học, liệt dạ dày hoặc
tăng tiết với ứ trệ do viêm loét dạ dày tá tràng
Hang vị và hành tá tràng là những phần dễ thấy
nhất trên siêu âm
Môn vị là sự dày lên khu trú của lớp cơ cách xa
hang vị
Thành của hành tá tràng mỏng hơn thành của dạ
dày
Trang 18DẠ DÀY
Uống nhiều nước và xoay bệnh nhân nằm nghiêng
về bên phải có thể giúp quan sát hang vị và tá tràng:
không khí đi lên đáy dạ dày, dịch đi vào hang vị và
hành tá tràng Điều này đặc biệt hữu ích ở người lớn
bị bệnh loét dạ dày tá tràng
Hình bên trái cho thấy một ổ loét dạ dày (mũi tên)
Lưu ý sự mất cấu trúc lớp trong thành dạ dày và dấu
thâm nhiễm mỡ đại diện cho mạc treo và mạc nối,
cố gắng bịt kín lỗ thủng sắp xảy ra do vết loét dạ
dày đang tiến triển
Hình bên phải cho thấy một vết loét (mũi tên) ở mặt
bụng của bóng tá tràng chứa đầy dịch
Trang 19Ổ loét dạ dày và
tá tràng
Uống nhiều nước và xoay bệnh nhân nằm nghiêng
về bên phải có thể giúp quan sát hang vị và tá tràng:
không khí đi lên đáy dạ dày, dịch đi vào hang vị và
hành tá tràng Điều này đặc biệt hữu ích ở người lớn
bị bệnh loét dạ dày tá tràng
Hình bên trái cho thấy một ổ loét dạ dày (mũi tên)
Lưu ý sự mất cấu trúc lớp trong thành dạ dày và dấu
thâm nhiễm mỡ đại diện cho mạc treo và mạc nối,
cố gắng bịt kín lỗ thủng sắp xảy ra do vết loét dạ
dày đang tiến triển
Hình bên phải cho thấy một vết loét (mũi tên) ở mặt
bụng của bóng tá tràng chứa đầy dịch
Trang 20Tá tràng đoạn xuống
và đoạn ngang
Tá tràng nằm ngang và đi xuống hiếm khi
được tiếp cận bằng siêu âm
Khi được tìm kiếm đặc biệt, có thể xác
định được túi thừa tá tràng lớn chứa đầy
khí, hiện diện trong 10-15% dân số bình
thường
Chúng biểu hiện là những đường cong
phản âm dày do chứa khí nằm cạnh đầu
tụy
Lưu ý rằng những bệnh nhân này thường
có ống mật chủ rộng hơn những bệnh
nhân bình thường
Trang 21Ruột non
Ruột non bình thường có thể dễ dàng thấy
được trên siêu âm và được nhận biết bởi nhu
động liên tục và sống động, ngay cả khi lòng
ruột trống
Lưu ý nhiều nốt hình tròn nhỏ hồi âm kém
(đen) với bờ viền tăng âm trong lớp dưới
niêm mạc (trắng) Chúng đại diện cho các
mạch máu bình thường 0,4 - 0,5 mm
Chú ý đường tăng âm mỏng trong lớp cơ, đại
diện cho mô liên kết ngăn cách giữa lớp cơ
dọc và cơ vòng, chứa đám rối Auerbach
Trang 22Hỗng tràng
Hỗng tràng (nằm ở một phần tư bụng trên trái)
chứa nhiều nếp van ruột hơn hồi tràng (nằm ở một
phần tư dưới phải)
Việc đo độ dày thành ruột trên siêu âm rất khó vì độ
dày thay đổi theo chuyển động của nhu động
Ở hình bên, bề dày ruột trên mặt cắt dọc và cắt
ngang với đè ép nhẹ khác nhau đáng kể, nhưng cải
thiện hơn khi đè ép vừa phải
Vì hiếm khi thấy rõ được thanh mạc phản âm mỏng
nên độ dày của thành ruột được đo từ đường viền
ngoài của lớp cơ mặt bụng đến đường viền ngoài
của lớp cơ lưng , và sau đó được chia cho hai
(giống cách đo của bs phẫu thuật)
Thông thường, độ dày thành ruột non khi đè xẹp
Trang 23Hồi tràng
Trái ngược với hầu hết các quai ruột bị bệnh,
các quai ruột non bình thường có thể đè ép tốt
trong quá trình thư giãn
So sánh hồi tràng đoạn cuối bình thường (trái)
và hồi tràng do bệnh Crohn (phải), không đè
Trang 24Hồi tràng đoạn cuối
Hồi tràng đoạn cuối thường có thể được xác
định một cách riêng biệt do vị trí cụ thể của
nó và đường đi từ khung chậu về phía rãnh
đại tràng phải
Sự đổ vào manh tràng của đoạn cuối hồi tràng
bình thường chỉ có thể thấy ở những bệnh
nhân gầy với manh tràng trống
Vị trí của van hồi tràng có thể rất khác nhau,
nhưng thường gặp ở bên phải của rốn
Lưu ý sự tăng sản bạch huyết của các mảng
Peyer ở đoạn cuối hồi tràng
Trang 25Hồi tràng đoạn cuối
Trang 26Hồi tràng đoạn cuối
Đây là những hình ảnh của đoạn cuối hồi
tràng ở ba trẻ em và thanh thiếu niên khác
nhau với các mảng Peyer lớn biểu hiện dày
lên không đối xứng, giảm âm của niêm mạc
sâu
Với mỗi khi tiếp xúc với kháng nguyên mới,
mô bạch huyết sẽ được kích hoạt trở lại
Ở những bệnh nhân trẻ, các hạch mạc treo và
các mảng Peyer đều có kích thước lớn hơn
nhiều so với ở người lớn
Trang 27Hồi tràng đoạn cuối
Các mô bạch huyết bị kích thích ở trẻ không
chỉ tạo ra các mảng Peyer ưu thế ở đoạn cuối
hồi tràng và các hạch mạc treo phì đại, mà còn
làm dày lớp niêm mạc sâu của ruột thừa (hình
dưới phải)
Lưu ý đôi khi những chỗ lồi lõm giống như
polyp (hình trên bên phải), có thể hoạt động
như điểm dẫn trong lồng ruột cổ điển ở trẻ
nhỏ
Trang 28Lồng ruột
Lồng ruột
Đây là hình ảnh siêu âm ở một trẻ 2 tuổi bị
lồng hồi – mang tràng từng cơn, được thăm
khám giữa các cơn lồng ruột
Hồi tràng với nhiều mảng Peyer’s sa xuống
vào trong manh tràng
Trang 29Lồng ruột
Hình ảnh kinh điển trên siêu âm về lồng hồi
-manh tràng ở hai đứa trẻ khác nhau
Trong cả hai, hồi tràng bị lồng có vị trí không đối
xứng, do mỡ mạc treo có hồi âm dày được gắn với
hồi tràng và bị kéo vào cùng với hồi tràng, kèm
với các hạch bạch huyết
Các hạch này bị phì đại trong bệnh cảnh tăng sản
bạch huyết chung và không nằm trong lòng hồi
tràng Do đó nó không phải là điểm dẫn chính Ở
hình bên phải, ruột thừa () cũng được kéo vào
Lưu ý hình ảnh nhiều lớp của thành trước khối
lồng ruột, đại diện cho ba lớp thành ruột bị gấp
Trang 30Lồng ruột
Trong quá trình khám siêu âm, thỉnh thoảng có
trường hợp lồng ruột nhỏ thoáng qua, lồng hồi
tràng- hồi tràng
Ngoài việc thiếu các triệu chứng đi kèm, chúng có
thể được phân biệt với lồng ruột có triệu chứng
thực sự, với các đặc điểm như nhỏ hơn (<2 cm),
có thể đè ép, thoáng qua và không có điểm dẫn
Những lần lồng ruột thoáng qua này có thể liên
quan đến bệnh celiac (không dung nạp Gluten) và
điều quan trọng là phải loại trừ tình trạng này
bằng xét nghiệm máu
Trang 31Mạc nối, mạc treo và hạch bạch huyết
Mạc nối bình thường thường không thấy
được trên siêu âm
Khi nó dày lên, như trong bệnh ác tính (di
căn) hoặc hiếm hơn là trong viêm phúc
mạc do lao, nó có thể biểu hiện dưới dạng
bánh mạc nối, đặc biệt nếu có kèm theo
báng bụng
Trang 32Mạc nối, mạc treo và hạch bạch huyết
Siêu âm cũng có thể thấy được khối mạc
nối (các đầu mũi tên) trong nhồi máu một
đoạn mạc nối, với mạc nối bị phù nề do
nhồi máu xuất huyết tĩnh mạch
CĐPB: Viêm bờm mỡ
Trang 33Mạc nối, mạc treo và hạch bạch huyết
Ruột non dính với mạc treo được xếp như
hình nan quạt, thấy được khi trong xoang
phúc mạc có nhiều dịch
Phần mạc treo có chứa lượng mỡ khác
nhau, và phần mạc treo được gấp, chứa mỡ
và có dạng nhiều lớp, đặc biệt là khi bị đè
ép trên siêu âm
Trang 34Mạc nối, mạc treo và hạch bạch huyết
Ở người béo phì, mạc treo chứa
nhiều mỡ và có thể thấy trên siêu âm
là một cấu trúc nhiều lớp, phẳng,
chịu đè ép tốt
Trong một mặt cắt, có thể nhầm lẫn
là thành ruột dày lên (các mũi tên
trong hình bên trái)
Xoay đầu dò 90 độ (hình bên phải),
sẽ dễ dàng nhận ra ngay là một cấu
trúc phẳng (các mũi tên), không phải
hình ống như ruột
Trang 35Chúng có nguồn cung cấp máu mỏng
manh (đầu mũi tên trắng), dễ bị nhồi
máu xuất huyết (viêm bờm mỡ)
Bờm mỡ bình thường chỉ thấy trên
siêu âm và CT trong trường hợp báng
bụng
Trang 36Hạch mạc treo
Trong mạc treo có thể nhìn thấy các
hạch bạch huyết, chủ yếu ở vùng bên
phải của rốn
Khi đè ép ở những bệnh nhân gầy,
các hạch xuất hiện gần với cơ psoas
và bó mạch chậu
Kích thước của hạch có thể thay đổi,
trong trường hợp này kích thước ba
chiều là 3 x 11 x 16 mm
Mặc dù đường kính ngang và dọc có
thể lớn hơn, nhưng đường kính trục
ngắn ở người lớn không được vượt
Trang 37với bất thường, là hình quả hạnh so với quả ô
liu Ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em từ 5 đến 10
tuổi, các hạch mạc treo lớn hơn nhiều so với
người lớn, với đường kính trục ngắn đến 10
mm
Những hạch mạc treo lớn này ở trẻ em, có thể
liên quan đến nhiễm vi-rút, nhưng cũng có thể
gặp ở trẻ khỏe mạnh
Trang 38Hạch mạc treo
Các hạch mạc treo bình thường có trung tâm
hạch c phản âm tương đối dày và vùng ngoại
vi có phản âm kém, đại diện cho các trung tâm
mầm thuộc vùng vỏ của hạch
Trang 39Ruột thừa
Một bác sĩ siêu âm có kinh nghiệm có thể xác
định toàn bộ ruột thừa bình thường - bao gồm
phần cuối đầu tận - ở khoảng 30% bệnh nhân
người lớn và 80% trẻ em
Siêu âm thấy được toàn bộ ruột thừa bình
thường có thể chẩn đoán loại trừ viêm ruột
thừa
Ruột thừa bình thường có các lớp giống như ở
thành ruột bình thường Ở hình bên, tất cả
năm lớp đều có thể nhìn thấy bao gồm cả
thanh mạc, nhờ ít dịch màng bụng
Lưu ý lòng ruột thừa trống và nếp phúc mạc
quanh ruột thừa hình tam giác bình thường
Trang 40Ruột thừa
Để đè ép ruột thừa, bắt buộc
phải có một cấu trúc khá vững
chắc phía bên dưới như động
mạch chậu, cơ psoas hoặc thân
đốt sống.
Trang 41Ruột thừa
Ruột thừa bình thường (các đầu mũi
tên) phân biệt với ruột non bởi vị
trí, kích thước, không có nhu động
ruột, gắn với mỏm manh tràng (c.p.)
và có đầu tận (các mũi tên)
Trang 42Ruột thừa
Đường kính của ruột thừa trên siêu âm đo giống
như cách đo ruột: đè ép vừa phải, đo từ đường
viền ngoài của lớp cơ phía trước đến đường viền
ngoài của lớp cơ phía sau
Đường kính của ruột thừa bình thường (T) là 4,5
mm và của ruột thừa viêm (P) 8,5 mm
Trong nhiều sách giáo khoa, giá trị giới hạn 6
mm được báo cáo, tuy nhiên đây không phải là
giá trị đáng tin cậy
Tác giả Rettenbacher thực hiện một nghiên cứu
lớn và phát hiện rằng đk của ruột thừa bình
thường là 6 mm hoặc lớn hơn trong 27% trường
Trang 43Ruột thừa
CT đo đường kính ruột thừa lớn hơn so với SA
Đường kính CT trung bình của ruột thừa bình
thường là 6,5-8 mm (khoảng 3 đến 14 mm)
Nguyên nhân có thể do thanh mạc được bao gồm
trong khi đo và không có sự đè ép Ngoài ra,
đường bờ của ruột thừa trên CT khá mờ, làm cho
đo đk ít chính xác hơn
Hình bên cho thấy CT của một ruột thừa bình
thường, chứa phân, kích thước 8.5 mm
Hình giữa là hình SA của một RT bình thường ở
một bệnh nhân khác có kích thước 7.5 mm, hình
bên phải hiển thị cùng một ruột thừa đó có thực
hiện nghiệm pháp đè ép nén (5.5 mm)
Trang 44Ruột thừa
Đk RT bình trên SA là 6 mm hoặc nhỏ hơn trong
73% trường hợp
Hình bên: RT bình thường trong khi đè ép trên 10
bệnh nhân khác nhau với đường kính trước sau
thay đổi từ 2-10 mm (Lưu ý cùng một tỷ lệ cm)
Trong năm hình dưới, lòng RT chứa đầy chất
phân có hồi âm khác nhau, làm cho ruột thừa khó
đè ép hơn
Đặc điểm quan trọng nhất gợi ý VRT là thâm
nhiễm mô mỡ xung quanh, sau đó là đường kính
lớn, không đè ép được, sung huyết và có vị trí cố
định không đổi Một số đặc điểm khác nữa như tụ
Trang 45Ruột thừa
Đôi lúc có thể gặp đầu tận (đầu mũi tên) của
ruột thừa không thấy được lòng do bị xơ hóa
(hình bên)
Không giống như RT bị viêm, RT bình
thường không có vị trí cố định và khi khám
trên siêu âm có thể xuất hiện ở những vị trí
khác nhau trong khoang bụng
Nếu RT có hình dạng cong, các đoạn riêng lẻ
(mũi tên) có thể nằm gần nhau, trong khi
ruột thừa bị viêm trở nên cứng hơn và căng
ra ở một mức độ nào đó