1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHẪU SIÊU ÂM ỐNG TIÊU HÓA BS LÂM

57 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Phẫu Siêu Âm Ống Tiêu Hóa BS Lâm
Trường học Bệnh viện TP Thủ Đức
Chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh y học
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thủ Đức
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 4,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 20 20 20 20 20 Lớp niêm mạc là lớp biểu mô, tuỳ theo chức năng mà có loại biểu mô khác nhau, Ví dụ ở thực quản nơi dễ bị nhiệt độ gây tổn thương hay hậu môn nơi dễ bị kích thích Biên tập viên: Trần Tiến Phong Đánh giá: Trần Trà My, Trần Phương Phương Nhận định chung Hệ tiêu hóa là cơ quan có nhiệm vụ tiêu hóa và hấp thụ thức ăn. Bắt đầu từ ổ miệng nơi nhận thức ăn, tận cùng ở hậu môn nơi thải chất cặn bã không tiêu hóa được. Hệ tiêu hóa Hình. Hệ tiêu hóa Từ trên xuống dưới hệ tiêu hóa gồm có các thành phần sau: ổ miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non và Ruột già. Ngoại trừ ổ miệng và hầu có hình dạng đặc biệt, các phần còn lại có dạng hình ống rỗng nên được gọi là ống tiêu hoá. Ngoài các thành phần trên, hệ tiêu hoá còn có các tuyến tiêu hoá là các tuyến nước bọt, gan và tụy. Cấu tạo của ống tiêu hóa Nói chung ống tiêu hoá cấu tạo gồm các lớp từ trong ra ngoài: Lớp niêm mạc là lớp biểu mô, tuỳ theo chức năng mà có loại biểu mô khác nhau. Ví dụ: ở thực quản nơi dễ bị nhiệt độ gây tổn thương hay hậu môn nơi dễ bị kích thích bởi phân nên có cấu tạo là lớp biểu mô lát tầng, trong khi đó dạ dày và ruột non là biểu mô trụ đơn... Lớp dưới niêm mạc. Lớp cơ: gồm tầng vòng ở trong và tầng dọc ở ngoài. Tấm dưới thanh mạc. Lớp thanh mạc: là phúc mạc tạng, chỉ có ở phần ống tiêu hoá nằm trong ổ phúc mạc. Cấu tạo thành ống tiêu hóa Hình. Cấu tạo thành ống tiêu hóa 1. Lớp thanh mạc 2. Tấm dưới thanh mạc 3. Lớp cơ 4. Lớp dưới niêm mạc 5. Lớp niêm mạc Các danh mục Sổ tay cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh lý Triệu chứng học nội khoa Triệu chứng học ngoại khoa Bệnh học nội khoa Bài giảng bệnh học nội khoa Bệnh học ngoại khoa Bệnh học nhi khoa Bài giảng sản phụ khoa Bài giảng truyền nhiễm Bệnh học và điều trị đông y Bài giảng tai mũi họng Bài giảng răng hàm mặt Bài giảng nhãn khoa Bài giảng da liễu Thực hành chẩn đoán và điều trị Bệnh học nội thần kinh Bệnh học lao Đại cương về bệnh ung thư Nội khoa miễn dịch dị ứng Sách châm cứu học Bài giảng sinh lý bệnh Bài giảng miễn dịch Bài giảng giải phẫu bệnh Gây mê hồi sức Sinh lý y học Phôi thai học Bài giảng dược lý lâm sàng Chẩn đoán hình ảnh Y pháp trong y học Sách điện tâm đồ Các bài thuốc đông y hiệu nghiệm Sách siêu âm tim Xét nghiệm sinh hóa trong lâm sàng Tâm lý học và lâm sàng Thực hành tim mạch Cẩm nang điều trị Thực hành chẩn đoán điện tâm đồ bệnh lý Điều dưỡng học nội khoa Phương pháp viết báo trong nghiên cứu y học Hồi sức cấp cứu toàn tập Điều dưỡng truyền nhiễm Kỹ thuật điều dưỡng cơ bản Giải phẫu cơ thể người Bài giảng huyết học và truyền máu Những kỹ năng lâm sàng Bài giảng vi sinh y học Bệnh nội khoa: hướng dẫn điều trị

Trang 1

SIÊU ÂM GIẢI PHẪU

Trang 2

DÀN BÀI

I Mô học

II Các lớp của ống tiêu hóa

III Kỹ thuật khảo sát

IV Hình ảnh siêu âm các thành phần của ống tiêu hóa

Trang 3

MÔ HỌC CỦA ỐNG TIÊU HÓA

1 Mô học: 5 lớp

Từ trong ra ngoài các lớp của ruột

non là niêm mạc (M.), lớp dưới niêm

mạc (S.M.), lớp cơ vòng (C.M.), lớp

cơ dọc (L.M.) và thanh mạc (S.)

Trang 4

HÌNH ẢNH SIÊU ÂM CỦA

ỐNG TIÊU HÓA

Dấu vân tay trên hình ảnh siêu

âm của đường tiêu hóa bình

thường

Cấu trúc siêu âm gồm năm lớp

cổ điển của thành ruột dễ dàng

nhận thấy nhất bằng cách

nghiên cứu thành dạ dày chứa

đầy chất lỏng.

Trang 5

HÌNH ẢNH SIÊU ÂM CỦA

Ba lớp luôn luôn thấy được trên

siêu âm là niêm mạc sâu, dưới

niêm và lớp cơ (hình minh họa)

Cấu trúc siêu âm về cơ bản giống

nhau từ dạ dày đến trực tràng.

Trang 6

Ở bệnh nhân bị chướng hơi nặng, cấu trúc thành ruột ba

lớp chỉ có thể được nhận biết bằng đầu dò 12 MHz.

Trang 7

LỚP NIÊM SÂU

Lớp niêm mạc sâu có hồi âm kém và

có độ dày thay đổi Nó gồm các mô

tuyến bên trong và một phần nhỏ các

niêm mạc cơ.

Đặc biệt ở đoạn cuối hồi tràng của

trẻ em và thanh thiếu niên, các mô

bạch huyết giảm âm hiện diện rất

nhiều, tạo thành những mảng Peyer

(p) có thể rất lớn và không đối xứng

Trang 8

LỚP DƯỚI NIÊM

Lớp dưới niêm mạc chứa các

mạch máu, dây thần kinh và mỡ,

có hồi âm dày do có nhiều mô

liên kết lỏng lẻo.

Ở bệnh nhân viêm loét đại tràng

này, các mạch máu nổi rõ (mũi

tên) ở lớp dưới niêm mạc và

thấy được bằng SA Doppler màu

trong hình bên phải.

Trang 9

LỚP CƠ

Lớp cơ giảm âm và có màu đen nằm phía bên ngoài

nên rất dễ nhận biết

Gồm hai lớp: lớp cơ vòng bên trong và lớp cơ dọc bên

ngoài, hợp tác để tạo ra các chuyển động nhu động

Hai lớp cơ này được ngăn cách bởi một lớp mô liên kết

mỏng, chứa mô thần kinh của đám rối Auerbach

Lớp mô liên kết mỏng này (các đầu mũi tên) có hồi âm

dày trên siêu âm và có thể thấy trong ruột non của bệnh

nhân gầy

Mặc dù không có liên quan về mặt lâm sàng, việc thấy

được đám rối Auerbach riêng biệt trên siêu âm, nhấn

mạnh độ phân giải cao của siêu âm so với CT và MRI

Trang 10

LỚP CƠ

Cơ của ruột già khác với ruột non

Lớp cơ dọc được giới hạn trong ba dải định

hướng theo chiều dọc, được gọi là dải dọc

đại tràng Trong đại tràng trống và bị đè ép

ở bệnh nhân gầy, ba dải này (đầu mũi tên),

thường thấy trên siêu âm là sự dày lên khu

trú của lớp cơ, ngăn cách với lớp cơ vòng

bằng một đường phản âm dày mỏng

Trang 11

LỚP THANH MẠC

Thanh mạc hoặc phúc mạc tạng

là lớp hồi âm dày bên ngoài

mỏng nhưng rất chắc, thường

hòa lẫn với mô mỡ hồi âm dày

của mạc treo và mạc nối bao

quanh ruột

Nếu có dịch trong ổ bụng,

thanh mạc hồi âm dày(mũi tên)

có thể xác định được, như trong

các quai hồi tràng này

Trang 12

Kỹ thuật này yêu cầu đè ép tùy mức độ,

một đầu dò tần số cao và gel siêu âm có

độ nhớt không quá cao

Giống như trong việc cắt cỏ, các làn

đường chồng lên nhau là cần thiết, để

không bỏ sót bất kỳ bệnh lý nào

Trang 13

Kỹ thuật đè ép

Ưu điểm của việc đè ép:

- Đưa đầu dò gần ruột hơn cho phép thăm khám đầu dò tần

số cao

- Đè xẹp hoặc đẩy khí trong ruột ra vùng khảo sát

Kỹ thuật đè phải được chọn lọc và thao tác nhẹ nhàng, không

gây đau, tránh đẩy ruột hoàn toàn ra khỏi vùng khảo sát

Sự đè ép có chọn lọc được thực hiện tốt ngay cả trong trường

hợp có viêm phúc mạc

Hình CT cho thấy các mối quan hệ giải phẫu trong ổ bụng bị

thay đổi như thế nào bằng cách đè ép

Trong quá trình đè ép, thành ruột mặt trước và mặt sau ép

vào nhau, loại bỏ tác động xáo trộn của khí và các chất chứa

khác trong ruột

Trang 14

Kỹ thuật đè ép

CT cho thấy đại tràng co thắt (mũi tên) ở bệnh nhân

béo phì Khi đè ép nhẹ (giữa), đại tràng co lại có thể

thấy bằng đầu dò 12 MHz

Khi đè ép vừa phải (bên phải), đại tràng thư giãn có

thể thấy dạng phẳng dựa vào cơ psoas nằm ở mặt

lưng

CT của một bệnh nhân béo phì bị viêm loét đại tràng

không hoạt động ĐT Sigma nằm cách da 9 cm

Trong quá trình đè ép (đầu mũi tên) khoảng cách này

giảm xuống còn 2.5 cms cho phép sử dụng đầu dò

tần số cao

Trang 15

Chuẩn bị bệnh nhân

1 Ăn sáng nhẹ Uống nhiều nước

2 Không có chỉ định cho việc nhịn ăn tuyệt đối

(khó chịu, nguy hiểm cho bệnh nhân tiểu

đường, bệnh nhân có thể bỏ qua thuốc quan

trọng)

3 Không yêu cầu bàng quang đầy (gây khó

chịu cho bệnh nhân, cản trở việc thăm khám

SA do khó đè ép, đẩy ruột ra xa về phía sau)

4 Nước tiểu chiếm nửa bàng quang là tốt nhất,

nhưng khó hướng dẫn để thực hiện

Một nửa bàng quang đầy cho phép kiểm tra tối

ưu bàng quang và niệu quản đoạn xa, tử cung và

buồng trứng ở phụ nữ (hình ảnh)

Trang 16

Một trường hợp u thực quản chỗ nối

thực quản với dạ dày: dày thành

không đối xứng, mất cấu trúc lớp tạo

thành khối hồi âm rất kém.

Trang 17

DẠ DÀY

Hầu hết bệnh nhân đến siêu âm, dạ dày trống rỗng,

do không được uống đủ nước trước khi khám, hoặc

bị nôn liên quan đến vấn đề cấp tính ở bụng

Nếu dạ dày chứa nhiều dịch và bệnh nhân không

uống nước trước đó, có thể là dấu hiệu cần ghi

nhận Vì có thể là tắc nghẽn cơ học, liệt dạ dày hoặc

tăng tiết với ứ trệ do viêm loét dạ dày tá tràng

Hang vị và hành tá tràng là những phần dễ thấy

nhất trên siêu âm

Môn vị là sự dày lên khu trú của lớp cơ cách xa

hang vị

Thành của hành tá tràng mỏng hơn thành của dạ

dày

Trang 18

DẠ DÀY

Uống nhiều nước và xoay bệnh nhân nằm nghiêng

về bên phải có thể giúp quan sát hang vị và tá tràng:

không khí đi lên đáy dạ dày, dịch đi vào hang vị và

hành tá tràng Điều này đặc biệt hữu ích ở người lớn

bị bệnh loét dạ dày tá tràng

Hình bên trái cho thấy một ổ loét dạ dày (mũi tên)

Lưu ý sự mất cấu trúc lớp trong thành dạ dày và dấu

thâm nhiễm mỡ đại diện cho mạc treo và mạc nối,

cố gắng bịt kín lỗ thủng sắp xảy ra do vết loét dạ

dày đang tiến triển

Hình bên phải cho thấy một vết loét (mũi tên) ở mặt

bụng của bóng tá tràng chứa đầy dịch

Trang 19

Ổ loét dạ dày và

tá tràng

Uống nhiều nước và xoay bệnh nhân nằm nghiêng

về bên phải có thể giúp quan sát hang vị và tá tràng:

không khí đi lên đáy dạ dày, dịch đi vào hang vị và

hành tá tràng Điều này đặc biệt hữu ích ở người lớn

bị bệnh loét dạ dày tá tràng

Hình bên trái cho thấy một ổ loét dạ dày (mũi tên)

Lưu ý sự mất cấu trúc lớp trong thành dạ dày và dấu

thâm nhiễm mỡ đại diện cho mạc treo và mạc nối,

cố gắng bịt kín lỗ thủng sắp xảy ra do vết loét dạ

dày đang tiến triển

Hình bên phải cho thấy một vết loét (mũi tên) ở mặt

bụng của bóng tá tràng chứa đầy dịch

Trang 20

Tá tràng đoạn xuống

và đoạn ngang

Tá tràng nằm ngang và đi xuống hiếm khi

được tiếp cận bằng siêu âm

Khi được tìm kiếm đặc biệt, có thể xác

định được túi thừa tá tràng lớn chứa đầy

khí, hiện diện trong 10-15% dân số bình

thường

Chúng biểu hiện là những đường cong

phản âm dày do chứa khí nằm cạnh đầu

tụy

Lưu ý rằng những bệnh nhân này thường

có ống mật chủ rộng hơn những bệnh

nhân bình thường

Trang 21

Ruột non

Ruột non bình thường có thể dễ dàng thấy

được trên siêu âm và được nhận biết bởi nhu

động liên tục và sống động, ngay cả khi lòng

ruột trống

Lưu ý nhiều nốt hình tròn nhỏ hồi âm kém

(đen) với bờ viền tăng âm trong lớp dưới

niêm mạc (trắng) Chúng đại diện cho các

mạch máu bình thường 0,4 - 0,5 mm

Chú ý đường tăng âm mỏng trong lớp cơ, đại

diện cho mô liên kết ngăn cách giữa lớp cơ

dọc và cơ vòng, chứa đám rối Auerbach

Trang 22

Hỗng tràng

Hỗng tràng (nằm ở một phần tư bụng trên trái)

chứa nhiều nếp van ruột hơn hồi tràng (nằm ở một

phần tư dưới phải)

Việc đo độ dày thành ruột trên siêu âm rất khó vì độ

dày thay đổi theo chuyển động của nhu động

Ở hình bên, bề dày ruột trên mặt cắt dọc và cắt

ngang với đè ép nhẹ khác nhau đáng kể, nhưng cải

thiện hơn khi đè ép vừa phải

Vì hiếm khi thấy rõ được thanh mạc phản âm mỏng

nên độ dày của thành ruột được đo từ đường viền

ngoài của lớp cơ mặt bụng đến đường viền ngoài

của lớp cơ lưng , và sau đó được chia cho hai

(giống cách đo của bs phẫu thuật)

Thông thường, độ dày thành ruột non khi đè xẹp

Trang 23

Hồi tràng

Trái ngược với hầu hết các quai ruột bị bệnh,

các quai ruột non bình thường có thể đè ép tốt

trong quá trình thư giãn

So sánh hồi tràng đoạn cuối bình thường (trái)

và hồi tràng do bệnh Crohn (phải), không đè

Trang 24

Hồi tràng đoạn cuối

Hồi tràng đoạn cuối thường có thể được xác

định một cách riêng biệt do vị trí cụ thể của

nó và đường đi từ khung chậu về phía rãnh

đại tràng phải

Sự đổ vào manh tràng của đoạn cuối hồi tràng

bình thường chỉ có thể thấy ở những bệnh

nhân gầy với manh tràng trống

Vị trí của van hồi tràng có thể rất khác nhau,

nhưng thường gặp ở bên phải của rốn

Lưu ý sự tăng sản bạch huyết của các mảng

Peyer ở đoạn cuối hồi tràng

Trang 25

Hồi tràng đoạn cuối

Trang 26

Hồi tràng đoạn cuối

Đây là những hình ảnh của đoạn cuối hồi

tràng ở ba trẻ em và thanh thiếu niên khác

nhau với các mảng Peyer lớn biểu hiện dày

lên không đối xứng, giảm âm của niêm mạc

sâu

Với mỗi khi tiếp xúc với kháng nguyên mới,

mô bạch huyết sẽ được kích hoạt trở lại

Ở những bệnh nhân trẻ, các hạch mạc treo và

các mảng Peyer đều có kích thước lớn hơn

nhiều so với ở người lớn

Trang 27

Hồi tràng đoạn cuối

Các mô bạch huyết bị kích thích ở trẻ không

chỉ tạo ra các mảng Peyer ưu thế ở đoạn cuối

hồi tràng và các hạch mạc treo phì đại, mà còn

làm dày lớp niêm mạc sâu của ruột thừa (hình

dưới phải)

Lưu ý đôi khi những chỗ lồi lõm giống như

polyp (hình trên bên phải), có thể hoạt động

như điểm dẫn trong lồng ruột cổ điển ở trẻ

nhỏ

Trang 28

Lồng ruột

Lồng ruột

Đây là hình ảnh siêu âm ở một trẻ 2 tuổi bị

lồng hồi – mang tràng từng cơn, được thăm

khám giữa các cơn lồng ruột

Hồi tràng với nhiều mảng Peyer’s sa xuống

vào trong manh tràng

Trang 29

Lồng ruột

Hình ảnh kinh điển trên siêu âm về lồng hồi

-manh tràng ở hai đứa trẻ khác nhau

Trong cả hai, hồi tràng bị lồng có vị trí không đối

xứng, do mỡ mạc treo có hồi âm dày được gắn với

hồi tràng và bị kéo vào cùng với hồi tràng, kèm

với các hạch bạch huyết

Các hạch này bị phì đại trong bệnh cảnh tăng sản

bạch huyết chung và không nằm trong lòng hồi

tràng Do đó nó không phải là điểm dẫn chính Ở

hình bên phải, ruột thừa () cũng được kéo vào

Lưu ý hình ảnh nhiều lớp của thành trước khối

lồng ruột, đại diện cho ba lớp thành ruột bị gấp

Trang 30

Lồng ruột

Trong quá trình khám siêu âm, thỉnh thoảng có

trường hợp lồng ruột nhỏ thoáng qua, lồng hồi

tràng- hồi tràng

Ngoài việc thiếu các triệu chứng đi kèm, chúng có

thể được phân biệt với lồng ruột có triệu chứng

thực sự, với các đặc điểm như nhỏ hơn (<2 cm),

có thể đè ép, thoáng qua và không có điểm dẫn

Những lần lồng ruột thoáng qua này có thể liên

quan đến bệnh celiac (không dung nạp Gluten) và

điều quan trọng là phải loại trừ tình trạng này

bằng xét nghiệm máu

Trang 31

Mạc nối, mạc treo và hạch bạch huyết

Mạc nối bình thường thường không thấy

được trên siêu âm

Khi nó dày lên, như trong bệnh ác tính (di

căn) hoặc hiếm hơn là trong viêm phúc

mạc do lao, nó có thể biểu hiện dưới dạng

bánh mạc nối, đặc biệt nếu có kèm theo

báng bụng

Trang 32

Mạc nối, mạc treo và hạch bạch huyết

Siêu âm cũng có thể thấy được khối mạc

nối (các đầu mũi tên) trong nhồi máu một

đoạn mạc nối, với mạc nối bị phù nề do

nhồi máu xuất huyết tĩnh mạch

CĐPB: Viêm bờm mỡ

Trang 33

Mạc nối, mạc treo và hạch bạch huyết

Ruột non dính với mạc treo được xếp như

hình nan quạt, thấy được khi trong xoang

phúc mạc có nhiều dịch

Phần mạc treo có chứa lượng mỡ khác

nhau, và phần mạc treo được gấp, chứa mỡ

và có dạng nhiều lớp, đặc biệt là khi bị đè

ép trên siêu âm

Trang 34

Mạc nối, mạc treo và hạch bạch huyết

Ở người béo phì, mạc treo chứa

nhiều mỡ và có thể thấy trên siêu âm

là một cấu trúc nhiều lớp, phẳng,

chịu đè ép tốt

Trong một mặt cắt, có thể nhầm lẫn

là thành ruột dày lên (các mũi tên

trong hình bên trái)

Xoay đầu dò 90 độ (hình bên phải),

sẽ dễ dàng nhận ra ngay là một cấu

trúc phẳng (các mũi tên), không phải

hình ống như ruột

Trang 35

Chúng có nguồn cung cấp máu mỏng

manh (đầu mũi tên trắng), dễ bị nhồi

máu xuất huyết (viêm bờm mỡ)

Bờm mỡ bình thường chỉ thấy trên

siêu âm và CT trong trường hợp báng

bụng

Trang 36

Hạch mạc treo

Trong mạc treo có thể nhìn thấy các

hạch bạch huyết, chủ yếu ở vùng bên

phải của rốn

Khi đè ép ở những bệnh nhân gầy,

các hạch xuất hiện gần với cơ psoas

và bó mạch chậu

Kích thước của hạch có thể thay đổi,

trong trường hợp này kích thước ba

chiều là 3 x 11 x 16 mm

Mặc dù đường kính ngang và dọc có

thể lớn hơn, nhưng đường kính trục

ngắn ở người lớn không được vượt

Trang 37

với bất thường, là hình quả hạnh so với quả ô

liu Ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em từ 5 đến 10

tuổi, các hạch mạc treo lớn hơn nhiều so với

người lớn, với đường kính trục ngắn đến 10

mm

Những hạch mạc treo lớn này ở trẻ em, có thể

liên quan đến nhiễm vi-rút, nhưng cũng có thể

gặp ở trẻ khỏe mạnh

Trang 38

Hạch mạc treo

Các hạch mạc treo bình thường có trung tâm

hạch c phản âm tương đối dày và vùng ngoại

vi có phản âm kém, đại diện cho các trung tâm

mầm thuộc vùng vỏ của hạch

Trang 39

Ruột thừa

Một bác sĩ siêu âm có kinh nghiệm có thể xác

định toàn bộ ruột thừa bình thường - bao gồm

phần cuối đầu tận - ở khoảng 30% bệnh nhân

người lớn và 80% trẻ em

Siêu âm thấy được toàn bộ ruột thừa bình

thường có thể chẩn đoán loại trừ viêm ruột

thừa

Ruột thừa bình thường có các lớp giống như ở

thành ruột bình thường Ở hình bên, tất cả

năm lớp đều có thể nhìn thấy bao gồm cả

thanh mạc, nhờ ít dịch màng bụng

Lưu ý lòng ruột thừa trống và nếp phúc mạc

quanh ruột thừa hình tam giác bình thường

Trang 40

Ruột thừa

Để đè ép ruột thừa, bắt buộc

phải có một cấu trúc khá vững

chắc phía bên dưới như động

mạch chậu, cơ psoas hoặc thân

đốt sống.

Trang 41

Ruột thừa

Ruột thừa bình thường (các đầu mũi

tên) phân biệt với ruột non bởi vị

trí, kích thước, không có nhu động

ruột, gắn với mỏm manh tràng (c.p.)

và có đầu tận (các mũi tên)

Trang 42

Ruột thừa

Đường kính của ruột thừa trên siêu âm đo giống

như cách đo ruột: đè ép vừa phải, đo từ đường

viền ngoài của lớp cơ phía trước đến đường viền

ngoài của lớp cơ phía sau

Đường kính của ruột thừa bình thường (T) là 4,5

mm và của ruột thừa viêm (P) 8,5 mm

Trong nhiều sách giáo khoa, giá trị giới hạn 6

mm được báo cáo, tuy nhiên đây không phải là

giá trị đáng tin cậy

Tác giả Rettenbacher thực hiện một nghiên cứu

lớn và phát hiện rằng đk của ruột thừa bình

thường là 6 mm hoặc lớn hơn trong 27% trường

Trang 43

Ruột thừa

CT đo đường kính ruột thừa lớn hơn so với SA

Đường kính CT trung bình của ruột thừa bình

thường là 6,5-8 mm (khoảng 3 đến 14 mm)

Nguyên nhân có thể do thanh mạc được bao gồm

trong khi đo và không có sự đè ép Ngoài ra,

đường bờ của ruột thừa trên CT khá mờ, làm cho

đo đk ít chính xác hơn

Hình bên cho thấy CT của một ruột thừa bình

thường, chứa phân, kích thước 8.5 mm

Hình giữa là hình SA của một RT bình thường ở

một bệnh nhân khác có kích thước 7.5 mm, hình

bên phải hiển thị cùng một ruột thừa đó có thực

hiện nghiệm pháp đè ép nén (5.5 mm)

Trang 44

Ruột thừa

Đk RT bình trên SA là 6 mm hoặc nhỏ hơn trong

73% trường hợp

Hình bên: RT bình thường trong khi đè ép trên 10

bệnh nhân khác nhau với đường kính trước sau

thay đổi từ 2-10 mm (Lưu ý cùng một tỷ lệ cm)

Trong năm hình dưới, lòng RT chứa đầy chất

phân có hồi âm khác nhau, làm cho ruột thừa khó

đè ép hơn

Đặc điểm quan trọng nhất gợi ý VRT là thâm

nhiễm mô mỡ xung quanh, sau đó là đường kính

lớn, không đè ép được, sung huyết và có vị trí cố

định không đổi Một số đặc điểm khác nữa như tụ

Trang 45

Ruột thừa

Đôi lúc có thể gặp đầu tận (đầu mũi tên) của

ruột thừa không thấy được lòng do bị xơ hóa

(hình bên)

Không giống như RT bị viêm, RT bình

thường không có vị trí cố định và khi khám

trên siêu âm có thể xuất hiện ở những vị trí

khác nhau trong khoang bụng

Nếu RT có hình dạng cong, các đoạn riêng lẻ

(mũi tên) có thể nằm gần nhau, trong khi

ruột thừa bị viêm trở nên cứng hơn và căng

ra ở một mức độ nào đó

Ngày đăng: 24/06/2023, 13:46

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm