Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính thế giới tới hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên Lớp
Khoá Giáo viên hướng dẫn
: Th©n ThÞ Xu©n : NhËt 6
: 44 H : ThS Vò ThÞ HiÒn
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu/ tính cấp thiết của đề tài:
Khủng hoảng tài chính đang diễn ra ngày càng liên tục và diễn biến phức tạp, gây ra những hậu quả rất nặng nề đối với cả các quốc gia công nghiệp phát triển lẫn các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Hệ thống tài chính quốc tế ngày càng mang tính toàn cầu nên sự “lây nhiễm” khủng hoảng tài chính – tiền tệ lan rất nhanh không chừa bất kỳ quốc gia nào.Trong thời gian gần đây, kinh tế thế giới đang hứng chịu một cuộc khủng hoảng tài chính lớn đang lan rộng ra toàn cầu Người ta chưa biết cuộc khủng hoảng này sẽ gây ra những hậu quả lớn tới mức nào
và khi nào sẽ dừng lại Thậm chí Tổng giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF) trong một phát biểu thời điểm đầu tháng 10-2008 đã bày tỏ lo ngại sẽ diễn ra đại suy thoái kinh tế toàn cầu Một chấn động như vậy, một quả bom kinh tế nổ ra ở một loạt nước mà giới quản lý và khoa học về kinh tế khó có thể nhận biết một cách rõ ràng
và dự báo được Sự tàn phá dữ dội của cuộc khủng hoảng này đã khiến rất nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới gặp nhiều khó khăn Và đương nhiên đó chính là các đối tác quan trọng của Việt Nam.Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng đang đứng trước khó khăn và những thách thức lớn lao gây ra bởi cuộc khủng hoảng Một quốc gia mà đóng góp vào GDP chủ yếu là nhờ vào hoạt động xuất khẩu thì rõ ràng chúng ta phải nghiên cứu cũng như xem xét lại nghiêm túc khách quan chính sách kinh tế đối ngoại của mình, đặc biệt là cơ chế điều hành xuất nhập khẩu để từ đó tìm ra hướng đi đúng nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng đồng thời đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện mới có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Trên cơ sở tham khảo mô hình “ các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát
sinh khủng hoảng kinh tế - tài chính”, của GS.TS Nguyễn Thiện Nhân để hiểu rõ các yếu tố tiền đề của nguy cơ khủng hoảng Và từ đó có thể phân tích nguyên nhân, tìm hiểu nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính lần này ở những nước bị khủng hoảng nặng nề và qua đó rút ra bài học quí giá cho Việt Nam
2.2 Phân tích tác động và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tới hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam nhằm đề ra một số giải pháp đề phòng ảnh hưởng tiêu cực và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn mới
Trang 33 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu về khủng hoảng kinh tế tài chính trên thế giới nói chung và các khu vực nói riêng Tuy nhiên có thể nói với cuộc khủng hoảng lần này với lí do xảy ra quá bất ngờ và chưa một tổ chức nào có thể dự đoán chính xác về thời điểm mà khủng hoảng có thể dừng lại, nên lượng công trình nghiên cứu trong nước không nhiều.Một số công trình đã đang được nghiên cứu về các cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính:
1 - Giải pháp phòng ngừa khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Việt Nam của GS.TS Hồ Xuân Phương
2 - Khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu Á 1997-1999 của PGS.TS Nguyễn Thiện Nhân
3 - Khủng hoảng tài chính thế giới- Nhận định kinh tế Việt Nam năm 2008
và xu thế đầu tư 2008-2009 của Th.s Đinh Thế Hiển
4 - Thông tin chuyên đề khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và việc chủ động ứng phó của Việt Nam của viện nghiên cứu kinh tế trung ương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Các tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
- Pham vi nghiên cứu:
+ Nội dung: Tập trung nghiên cứu chủ yếu vào ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian gần đây và đề ra một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng đó
+ Không gian: Bức tranh tổng thể về khủng hoảng trên phạm vi quốc tế bao gồm một số nền kinh tế lớn bao gồm Mỹ, Nhật Bản và châu Âu vì đây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam
+ Thời gian:Khủng hoảng tài chính tiền tệ trên phạm vi thế giới ( nghiên cứu sâu và bắt nguồn từ Hoa Kỳ ) đến đầu năm 2009 Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam được nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ 2001 – 2009.Dự báo về tình hình của khủng hoảng và sự phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời gian tới ( năm 2009 và 2010)
5 Phương pháp nghiên cứu
Là phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu Phân tích các quan hệ kinh tế
vi mô và vĩ mô, đồng thời vận dụng phương pháp sơ đồ khối, mô phỏng của điều khiển học.Sự kết hợp này nhằm mục đích đơn giản và rõ ràng cho việc lý giải quá
Trang 4trình khủng hoảng bằng chữ công thức và bảng số liệu, đồ thị Phương pháp lập giả định được sử dụng để xác định giới hạn và phạm vi nghiên cứu hỗ trợ cho việc hệ thống hóa những tác động cụ thế của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
6 Bố cục của nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu chi tiết:
Đề tài nghiên cứu: “ Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính thế giới tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam” gồm có ba chương:
Chương I: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới
Chương II Ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG I: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
xu hướng: Qui mô khủng hoảng ngày càng lớn, tốc độ lan truyền nhanh hơn và khó
dự đoán trước
Tài chính được hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp các quỹ tiền tệ cùng với các mối quan hệ giữa chúng Trong nền kinh tế thị trường luôn có sự luân chuyển các luồng vốn tiền tệ và trong quá trình đó hình thành các quỹ tiền của tất cả các chủ thể trong xã hội mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên một hệ thống tài chính
Có thể định nghĩa về khủng hoảng tài chính tiền tệ là tình trạng tài chính (quĩ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn tới sụp đổ quĩ Nói cách khác, khủng hoảng tài chính- tiền tệ là sự thất bại của một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình Như vậy, khủng hoảng tài chính – tiền tệ là khái niệm bao trùm được sử dụng chung cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thường là khi nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó
Tham khảo mô hình mà GS.TS Nguyễn Thiện Nhân đã xây dựng về khủng hoảng kinh tế - tài chính chúng ta có thể tiếp cận một cách hợp lí và có được tầm nhìn bao quát, với phương pháp luận khoa học hiện đại
Mô hình kinh tế mà cho phép mô phỏng quá trình khủng hoảng kinh tế - tài chính nói chung, trước tiên có được sự xây dựng mô hình cho quá trình tích lũy ba nguy cơ là:
- Nguy cơ đồng tiền bị phá giá
- Nguy cơ phá sản ngân hàng và công ty tài chính
- Nguy cơ phá sản doanh nghiệp
Ngoài ra còn có một vấn đề chi phối mạnh đến thời điểm nổ ra các cuộc khủng hoảng là: nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán, cũng cần phải được đề cập trước
Trang 61.1.1 Mô hình “nguy cơ đồng tiền bị phá giá”
Nếu một quốc gia thực hiện chế độ tỉ giá cố định (theo một ngoại tệ hoặc một
số ngoại tệ), thì sẽ xuất hiện nguy cơ đồng tiền bị phá giá, tức là không còn khả năng duy trì tỉ giá cố định nữa Hai yếu tố trực tiếp liên quan đến quá trình này là:
- Cán cân thương mại (xuất khẩu – nhập khẩu)
- Dòng vốn vào và ra khỏi quốc gia
Hai vấn đề này lại do tỉ giá hối đoái và lãi suất tín dụng quyết định Vì vậy, trước khi xem mô hình ”Nguy cơ đồng tiền bị phá giá” chúng ta sẽ xem xét vấn đề
tỉ giá hối đoái và lãi suất tín dụng gắn với chu chuyển vốn
a Tỉ giá hối đoái với xuất nhập khẩu hàng hóa và thị trường vốn
Trong thị trường ngoại tệ được hình thành qua việc cung cầu ngoại tệ do xuất nhập khẩu hàng hóa thì:
- Xuất khẩu tăng thì cung ngoại tệ tăng (và ngược lại)
- Nhập khẩu tăng thì cầu ngoại tệ tăng (và ngược lại)
Nhưng còn nhân tố khác cũng làm tăng hay giảm cung cầu ngoại tệ Đó là dòng chu chuyển vốn quốc tế Một quốc gia thu hút vốn từ bên ngoài sẽ làm tăng cung ngoại tệ và nhu cầu mang vốn ra ngoài sẽ làm tăng cầu ngoại tệ Ngày nay việc chu chuyển vốn đóng góp một vai trò hết sức quan trọng, chi phối thị trường ngoại tệ của một quốc gia
Điều kiện duy trì được tỉ giá hối đoái cố định:
Xét về mặt cơ bản và lâu dài muốn duy trì được tỉ giá hối đoái cố định, chỉ
có hai con đường:
1- Phải cân bằng được xuất nhập khẩu
2- Trong ngắn hạn, mặc dù có thâm hụt thương mại, song sử dụng vốn vay nước ngoài và vốn trong nước có hiệu quả cao, tăng nhanh được xuất khẩu, tạo điều kiện trả được vốn vay nước ngoài khi đến kì hạn, do đó mặc dù có thể tiếp tục vay nước ngoài trong tương lai song tổng nợ nước ngoài không vượt qua mức an toàn cho phép
b Mô hình “Nguy cơ đồng tiền bị phá giá”
Trên cơ sở mối quan hệ nhân quả tác động của tỉ giá hối đoái cố định và các quá trình tiếp diễn sau đó, ta có thể quan sát mô hình “Nguy cơ đồng tiền bị phá giá” theo sơ đồ dưới đây:
Khi lạm phát trong nước cao hơn ở các nước có đồng tiền mạnh và tỉ giá hối đoái được giữ cố định thì hàng trong nước xuất khẩu sẽ bị khó khăn hơn, do trở nên đắt hơn ở nước nhập khẩu, và hàng nhập khẩu vào nước sở tại sẽ dễ hơn, vì trở nên
rẻ hơn Kết quả là cán cân thương mại sẽ có xu hướng xấu hơn, lâu dài có thể
Trang 7Sơ đồ 1 Mô hình “Nguy cơ đồng tiền bị phá giá”
(Nguồn: GS.TS Nguyễn Thiện Nhân-Khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu Á 1997-1999)
1.1.2 Mô hình “nguy cơ phá sản doanh nghiệp”
Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại, phát triển hay phá sản doanh nghiệp
là một điều hết sức bình thường Lý thuyết kinh tế vi mô đã chỉ rõ: Cạnh tranh sẽ trừng phạt các doanh nghiệp có chi phí sản xuất cao và khuyến khích những doanh nghiệp có chi phí sản xuất thấp
Chính từ nguyên tắc này mà xuất hiện áp lực buộc các doanh nghiệp phải giảm chi phí sản xuất, vì đó là cơ sở cho sự tồn tại hay phá sản doanh nghiệp Ngoài những doanh nghiệp có chi phí sản xuất cao hơn giá bán trên thị trường tất yếu phải phá sản còn có những doanh nghiệp có chi phí sản xuất cận biên gần bằng giá bán, cũng dễ bị loại khỏi thị trường do một số doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường với chí phí thấp hơn hay các doanh nghiệp đã có trên thị trường có mức chi phí thấp hơn sẽ tăng năng lực sản xuất đẩy doanh nghiệp có chi phí cao ra khỏi thị trường
Ngân hàng, Công
ty nước ngoài
Vốn nước ngoài vào nhiều (ngắn hạn, dài hạn) (phát triển 3.7)
Nợ nước ngoài tăng
Tăng lãi suất
để thu hút vốn nước ngoài
Ngân hàng Trung ương không có khả năng can thiệp (bán ngoại tệ) để duy trì tỷ giá cố định, thả nổi tỷ giá
Rút vốn vì
sợ mất tài sản bằng tiền nội địa (pt 3.8)
Tỷ giá hối đoái tăng đột ngột
Rút tiền gửi mua ngoại tệ
Người dân sợ mất tài sản bằng tiền nội địa
Thâm hụt cán cân thương
mạ i
Dự trữ ngoại tệ giảm
Thị trường ngoại hối không chính thức: Nhu cầu ngoại tệ tăng
Lạm phát trong nước cao hơn lạm phát các nước có đồng tiền mạnh (USD, FRF,
DM Nhập khẩu lậu gia tăng
Quản lý kém
Hạn chế xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩ u
Trang 8Như vậy quá trình cạnh tranh tất yếu sẽ làm cho các doanh nghiệp kém hiệu quả nhất bị phá sản và trong trường hợp này nguồn lực trong xã hội ngày càng được sử dụng hiệu quả hơn Tuy nhiên, nếu nền kinh tế không có khả năng loại bỏ các doanh nghiệp kém hiệu quả (chi phí cao) thì có nghĩa là khuyến khích việc sử dụng tài nguyên một cách kém hiệu quả Việc sử dụng tài nguyên kém hiệu quả có thể trở thành một căn bệnh chung trong xã hội và số doanh nghiệp kém hiệu quả (chi phí cao) gia tăng hay lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp giảm sút
Quá trình này dẫn tới sự tích lũy, sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Nếu vì một lí do nào đó mà chi phí đầu vào tăng lên hay giá cả đầu ra giảm xuống đột ngột sẽ dẫn đến hàng loạt doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả phải phá sản Nhiều doanh nghiệp phá sản sẽ dẫn tới tình trạng thất nghiệp gia tăng và như thế thì tổng cầu lại giảm, các đơn đặt hàng sẽ giảm và doanh nghiệp khác lại phá sản Các doanh nghiệp phá sản sẽ không trả được nợ ngân hàng và có thể dẫn đến các ngân hàng phá sản
Nguy cơ phá sản doanh nghiệp do sự kém hiệu quả của doanh nghiệp và các điều kiện bên ngoài doanh nghiệp có thể được phân tích dưới sơ đồ sau:
Trang 9Sơ đồ 2 Mô hình “Nguy cơ phá sản doanh nghiệp”
(Nguồn: GS.TS Nguyễn Thiện Nhân-Khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu Á 1997-1999)
1.1.3 Mô hình “Nguy cơ phá sản ngân hàng và các công ty tài chính”
Các ngân hàng kinh doanh và các Công ty Tài chính là những mắt xích quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia, và chức năng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân và doanh nghiệp để sử dụng một cách có hiệu quả Vì mục tiêu lợi nhuận, các Ngân hàng và các công ty Tài chính chỉ cho các tổ chức, cá nhân vay tiền khi họ có thể hoàn trả vốn vay với lãi suất nhất định
Nếu một doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, các ngân hàng và các công
xuất tăng
Công nghệ lạc hậu
Sản phẩm không phù hợp
Áp lực cạnh tranh tăng liên tục
Nợ tăng, lợi nhuận thấp
Tỷ giá hối đoái tăng đột ngột
Doanh nghiệp phá sản
Trang 10ty tài chính sẽ không cho nó vay, điều này thúc đẩy nó sớm đóng cửa Ngƣợc lại, các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả sẽ đƣợc cho vay tiếp, giúp nó càng phát triển mạnh hơn
Bằng cách này, hệ thống ngân hàng tài chính góp phần rất quan trọng đảm bảo tính hiệu quả của lĩnh vực sản xuất và kinh doanh của cả xã hội Khi Ngân hàng
và các tổ chức tài chính hoạt động kém hiệu quả do cho các doanh nghiệp kém hiệu vay thị nguồn lực tài chính trong xã hội bị sử dụng lãng phí Giống nhƣ đối với doanh nghiệp, nếu nền kinh tế không có khả năng loại bỏ những Ngân hàng kém hiệu quả trong nền kinh tế thì sẽ dẫn đến quá trình tích lũy sự kém hiệu quả trong nền kinh tế và là một nguy cơ dẫn đến khủng hoảng kinh tế - tài chính
Theo Wibert Obascom “hệ thống Ngân hàng đƣợc xem là đang ở trong tình trạng khủng hoảng tài chính khi ít nhất là 50% Ngân hàng và các tổ chức tài chính
vỡ nợ”
Tuy nhiên trong thực tế thì có thể chỉ cần một vài ngân hàng vỡ nợ nhƣng đã
có tác động mang tính chất dây chuyền (do mất niềm tin) dẫn đến tình trạng sụp đổ hàng loạt các Ngân hàng, tổ chức tài chính Các yếu tố dẫn đến nguy cơ phá sản của các Ngân hàng và tổ chức tài chính:
Các doanh nghiệp – con nợ chính của Ngân hàng và các tổ chức tài chính – kinh doanh thua lỗ và phá sản ngày càng gia tăng
Nhu cầu rút vốn tăng lên đột ngột
Các ngân hàng tham gia đầu tƣ vào các dự án quá lạc quan
Cơ chế giám sát của Ngân hàng Trung ƣơng kém
Sự can thiệp của chính phủ
Luật pháp không cho phá sản
Áp lực của hiện đại hóa và cạnh tranh toàn cầu trên lĩnh vực dịch vụ Ngân hàng – Tài chính
Sự quản lý yếu kém của bản thân các Ngân hàng, công ty tài chính
Trang 11Mô hình “ Nguy cơ phá sản Ngân hàng”
Sơ đồ 3 Mô hình “Nguy cơ phá sản Ngân hàng, Công ty Tài chính”
(Nguồn: GS.TS Nguyễn Thiện Nhân-Khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu Á 1997-1999)
Quản lý
của Chính phủ
Môi trường cạnh tranh của các Ngân hàng Công ty Tài chính không lành mạnh
Ngân hàng Trung ương
Không có bảo hiểm
tiền gửi
Cho vay tái chiết khấu
Giám sát các Ngân hàng kinh doanh và Công ty tài chính
Sự hiện đại hoá và toàn cầu hoá dịch vụ Ngân hàng - Tài chính toàn cầu
- Cho các DN kém hiệu quả vay
- Đánh giá bất động sản thế chấp giá cao
- Nguồn vốn hoạt động chi phí cao rủi ro cao
Doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả,
sơ đồ 3.2
Rút vốn khi mất niềm tin
vào khả năng chi trả của
Ngân hàng KD, Công ty Tài
chính
Mất khả năng thanh toán
Phá sản
Luật pháp “không cho” phá sản
Cho vay
Không trả được nợ
các DN vay, bảo lãnh doanh nghiệp kém hiệu quả
Trang 121.1.4 Mô hình “ Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán”
Đầu tư nước ngoài và đầu tư từ ngân sách quốc gia là các công cụ, tiền đề để phát triển Song trong những điều kiện nhất định, các loại đầu tư này có thể tạo ra nguy cơ mất khả năng thanh toán của một quốc gia.Nếu tỉ giá hối đoái gần như cố định, lãi suất tín dụng trong nước cao hơn đáng kể ở nước ngoài thì đầu tư tài chính vào nước chủ nhà sẽ có hiệu quả cao với các nhà đầu tư nước ngoài Như vậy, đầu
tư tài chính của nước ngoài càng tăng thì số lãi suất phải trả và được chuyển qua ngoại tệ ra nước ngoài sẽ càng cao, có tác dụng làm giảm dự trữ ngoại tệ một quốc gia, đồng thời nợ quốc gia sẽ gia tăng Điều này tạo ra nguy cơ mất khả năng thanh toán của quốc gia
Nếu các doanh nghiệp vay ngoại tệ ngắn hạn, lại đầu tư vào các công trình xây dựng nhà ở, văn phòng, đường xá, viễn thông là các ngành chỉ đem lại doanh thu ngoại tệ rất ít, thì khi nợ tới hạn phải trả, sẽ không có nguồn ngoại tệ Đây chính
là nguy cơ mất khả năng thanh toán do cơ cấu đầu tư bằng vốn vay không hợp lý
Nếu vay nước ngoài qua con đường chính thức (ODA) mà nước chủ nhà lựa chọn các dự án kém hiệu quả thì khả năng hoàn vốn sẽ kém Đến hạn phải trả, Chính phủ phải xuất ngoại tệ để trả hoặc vay tiếp để trả nợ cũ Kết quả là dự trữ ngoại tệ giảm hoặc nợ nước ngoài của Chính phủ sẽ tăng
Trang 141.1.5 Mô hình “các nguy cơ khủng hoảng và cơ chế phát sinh khủng hoảng kinh tế – tài chính”
Khủng hoảng chỉ có thể nổ ra khi bên trong nền kinh tế quốc gia đã tích lũy bốn nguy cơ khủng hoảng là:
- Sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp
- Sự kém hiệu quả của các Ngân hàng, Công ty Tài chính
- Sự duy trì tỉ giá hối đoái gần như cố định
- Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán và khi bên ngoài có một số tác động quyết định là sự rút vốn tài chính của các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 161.2 Diễn biến, tính chất, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hiện nay
Khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã đạt đến cao trào trong thời gian gần đây và đang có xu hướng ngày càng trầm trọng và lan rộng, hình thành cuộc khủng hoảng mang tính toàn cầu Dự đoán kinh tế toàn cầu sẽ đi vào suy thoái kéo dài dưới tác động của khủng hoảng tài chính hiện tại Tăng trưởng kinh tế toàn cầu
có thể chỉ còn 2,5% trong năm 2009 so với 3,8% trong năm 2008
Có thể nói cuộc khủng hoảng lần này là sự kết hợp của tất cả các mô hình ở trên, trước tiên chúng ta sẽ xem xét diễn biến của cuộc khủng hoảng
1.2.1 Diễn biến của cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ ”hàng trăm năm mới có một lần”, theo lời ông Alan Sreenspan, cựu chủ tịch Cục Dự Trữ Liên Bang (FED), đã được dự báo từ năm 2006 Tuy nhiên, dự đoán cũng như phân tích của nhiều nhà kinh tế đã không
đủ sức thuyết phục để các cơ quan tài chính quyền lực nhất tại Mỹ và Châu Âu có biện pháp đề phòng Nguyên nhân trực tiếp của cơn địa chấn tài chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng và nhà đất tại Mỹ Bong bóng bất động sản càng lúc càng phình to đã đặt thị trường nhà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng như nhiều quốc gia châu Âu vào thế nguy hiểm Cho vay dưới chuẩn tăng mạnh là khởi điểm cho quả bong bóng tại thị trường nhà đất Các ngân hàng cho vay cầm cố bất động sản
mà không quan tâm tới khả năng chi trả của khách hàng Dư nợ trong lĩnh vực này tăng mạnh từ 160 tỷ USD năm 2001 lên 540 tỷ USD vào năm 2004 và bùng nổ thành 1.300 tỷ USD vào năm 2007 Theo ước tính vào cuối quí III năm 2008 hơn một nửa giá trị thị trường nhà đất Mỹ là tiền đi vay với một phần ba các khoản nợ là khó đòi Trước đó, để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm 2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quá lớn đối với người mua nhà Họ không thể trả được nợ vay và nhà thì bị tịch biên Thị trường bất động sản bắt đầu đóng băng và giá nhà đất bị sụt giảm mạnh Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động sản sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn tới khủng hoảng tài chính tại Mỹ và tràn sang nhiều nước châu Âu, khiến nhiều công ty lớn phá sản
Nạn nhân đầu tiên của cơn bão tài chính là Country Financial, tập đoàn tài chính từng nắm giữ 20% thị trường cho vay bất động sản Mỹ, chỉ trong vài tháng,
đã bị đẩy đến sát bờ vực phá sản do nợ khó đòi vào tháng 8/2007 Đến tháng 1/2008, ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về giá trị vốn hóa và tiền gửi, Bank of America, đã mua lại Country Financial với giá 4 tỷ USD Sau đó một tháng đến lượt Northern
Trang 17Rock, ngân hàng lớn thứ năm tại Anh, sau khi mất thanh khoản nghiêm trọng do thua lỗ từ cho vay thế chấp bất động sản, đã phải cầu cứu ngân hàng trung ương Anh Nhà đầu tư ùn ùn kéo đến rút tiền khiến Chính phủ buộc phải tiếp quản tập đoàn ngân hàng này; và đến ngày 17/02/2008, Northern Rock chính thức bị quốc hữu hóa Sự kiện Country Financial và Northern Rock là dấu hiệu báo trước cơn bão sắp đổ xuống thị trường tài chính toàn cầu cũng như làn sóng sát nhập, phá sản,
và bị chính phủ tiếp quản của các định chế tài chính
Đến ngày 28/02/2008 Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn nhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ Euro Chưa đầy một tháng sau, chính xác là ngày 17/3/2008, sự sụt giá không kiểm soát nổi của các khoản đầu tư tài chính- bất động sản đã buộc Tập đoàn môi giới chứng khoán Bear Stearns của Mỹ tê liệt và chấm dứt hoạt động sau 85 năm tồn tại Bear Stearns phải chấp nhận bán lại cho đối thủ JP Morgan Chase với giá 240 triệu USD, bao gồm cả trụ sở của hãng này
Chưa dừng lại ở đó, đến ngày 29/4/2008, Deutsche Bank lần đầu tiên trong 5 năm công bố một khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2
tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế chấp bất động sản Đến ngày 31/7/008, ngân hàng này công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD,
và Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu Trước đó, ngày 11/7/2008, chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày
Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra ngày 7/9/2008 khi hai tập đoàn chuyên cho vay cầm cố khổng lồ Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được chính phủ tiếp quản để trán khỏi nguy cơ phá sản Sự kiện này tiếp tục châm ngòi cho vụ
đổ vỡ với những tên tuổi lớn khác Ngày 15/9/2008, ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 Mỹ Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản Đúng 10 ngày sau, Washington Mutual Inc, một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ, đã tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng giá trị tài sản thiệt hại lên tới 307 tỷ USD Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, Ngân hàng đầu tư số một nước Mỹ, Merill Lynch bị thâu tóm bởi Bank of America Chính phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ USD vào AIG, Tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, để tránh cho thị trường tài
Trang 18chính nước này một kết cục tồi tệ hơn
Tháng 9 và 10/2008 trở thành giai đoạn đen tối với phố Wall khi chỉ số Dow Jones sụt tới 25% giá trị chỉ sau một tháng kể từ ngày 15/9/2008 Biến động tại phố Wall trở nên khó lường hơn với nhiều kỷ lục cả tăng và giảm tồn tại trong hàng chục năm đã bị phá Không chỉ ở phố Wall, tuần lễ từ 15 đến 21/9/2008 thị trường chứng khoán của cả thế giới chao đảo, từ Tokyo đến Thượng Hải, Seoul và Hồng Kông, các chỉ số chứng khoán đều tuột dốc mạnh.Tại Châu Âu, các thị trường chứng khoán Paris, Luandon, Franfurt, Amsterdam cùng chung số phận Thị trường chứng khoán Matxcova cũng lâm vào tình trạng hoảng loạn đến nỗi phải tạm đóng cửa để chờ cho cơn bão đi qua
Xen giữa nhứng sự kiện trên, 9 tháng đầu năm 2008 chứng kiến các cơn sốt giá dầu, lương thực, và lạm phát làm khuynh đảo nền kinh tế toàn cầu Đặc biệt là giá dầu, từ mức 90 USD một thùng vào đầu năm 2008 đã leo lên trên 100 USD vào 20/2/2008 và lập kỷ lục trên 147 USD một thùng vào 11/7/2008 Giá dầu leo thang kéo giá hàng hóa cơ bản và lương thực lên theo Trong đó, vàng lập kỷ lục trên
1000 USD một ounce vào ngày 17/3/2008 Còn giá lương thực đắt đỏ lại tạo ra căng thẳng thực sự tại nhiều nơi, thậm chí cả ở các quốc gia xuất khẩu lương thực Nạn lạm phát từ đó cũng xảy ra tràn lan tại nhiều quốc gia Tuy nhiên sau khi đạt đỉnh vào tháng 7/2008, giá dầu bất ngờ lao dốc không phanh Nguyên nhân của hiện tượng trên là nhu cầu sử dụng dầu tại nhiều quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn
Độ, sụt giảm mạnh do khó khăn về kinh tế Hiện giá nhiên liệu này chỉ còn khoảng
40 USD một thùng, mất hơn 100 USD, tương ứng gần 70% so với mức giá kỷ lục trước đó vài tháng, bất chấp những nỗ lực cắt giảm sản lượng của OPEC
Quay trở lại với diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính, tình trạng thị trường tài chính đóng băng ngày càng tồi tệ đã khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ, Anh, Nhật, EU và nhiều quốc gia khác phải cắt giảm lãi suất, từ đó lãi suất cơ bản từ 5% đã xuống chỉ còn 0,25% Không dừng lại ở điều chỉnh tài khóa, các quốc gia trên cũng tích cực bơm tiền nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các tập đoàn tài chính, cũng như kích thích hoạt động tiêu dùng và cho vay Trong đó, FED quyết định dùng 700 tỷ USD để mua lại nợ xấu của các ngân hàng TRước khi được thông qua ngày 1/110/2008, kế hoạch hỗ trợ lớn chưa từng có trong lịch sử đã vấp phải không ít phản đối tại Quốc hội Mỹ Đặc biệt tại vòng bỏ phiếu vào ngày 29/9/2008, Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch trên tạo ra một cú sốc thực sự với phố Wall khiến chỉ số Dow Jones trải qua ngày giảm điểm tồi tệ nhất trong lịch sử Không lâu sau khi kế
Trang 19hoạch trên được thông qua, vào các ngày 13-14/10/2008, các quốc gia châu Âu đã công bố gói giải pháp hỗ trợ kinh tế khổng lồ có trị giá lên tới 2.300 tỷ USD
Bước vào quý IV/2008, suy thoái kinh tế toàn cầu biểu hiện rõ sau khi các trung tâm kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU cùng lần lượt rơi vào suy thoái Kinh
tế Mỹ lâm vào suy thoái với tốc độ nhanh, khoảng âm 0,3% trong quý III/2008 Mức chi tiêu của người tiêu dùng, vốn đóng góp tới hai phần ba vào sự tăng trưởng kinh tế Mỹ, suy giảm mạnh nhất kể từ năm 1980 Thâm hụt ngân sách liên bang trong năm tài khóa 2008 tăng mạnh với mức kỷ lục 454,8 tỷ USD, cao gấp ba lần mức thâm hụt 161,5 tỷ USD trong tài khóa năm 2007, chủ yếu do chi phí quốc phòng tăng mạnh, nhất là phục vụ cho hai cuộc chiến tranh Iraq, Afghanistan Dự báo thâm hụt ngân sách liên bang trong tại khóa năm 2009 có thể lên tới 1000 tỷ USD Theo Bộ Lao động Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay của nước này lên đến 6,5% cao nhất trong 14 năm qua Theo dự báo, kinh tế Mỹ tiếp tục suy thoái trong năm
2009, tỷ lệ thất nghiệp có thể lên 8%, trong khi cac khoản tiền dự trữ và giá trị bất động sản giảm mạnh, chỉ số lòng tin của người dân Mỹ giảm xuống tới mức kỷ lục Điều này càng làm cho nền kinh tế số một thế giới lâm vào suy thoái trầm trọng hơn
Tiếp theo Mỹ, nền kinh tế thứ hai thế giới là Nhật Bản đã chính thức công bố suy thoái kinh tế vào ngày 18-11-2008 sau khi tăng trưởng âm liên tiếp trong hai quý
II và III/2008 Như vậy, đây là lần đầu tiên kể từ năm 2001, kinh tế Nhật Bản rơi vào suy thoái Trước đó, khu vực đồng tiền chung Euro cũng lần đầu tiên rơI vào suy thoáI kể từ khi hình thành năm 1999 Số liệu thống kê cho thấy GDP của 15 nước sử dụng đồng tiền chung Euro đã tăng trưởng âm liên tiếp trong hai quý II và III/2008 Đức là nền kinh tế lớn nhất châu Âu và đứng thứ ba thế giới chính thức rơi vào cuộc suy thoái lớn nhất trong vòng 12 năm qua, kinh tế Anh cũng lâm vào suy thoái, theo
dự báo năm 2009 sẽ chịu mức giảm mạnh nhất kể từ gần hai thập niên qua, số người thất nghiệp có thể lên tới 3 triệu người vào năm 2010 Số liệu thống kê của Italia cho biết nền kinh tế nước này rơi vào cuộc suy thoái nặng nề nhất kể từ năm 1992
Khủng hoảng tài chính cũng tràn qua Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Braxin,… là những nơi được dự đoán là ít chịu tác động nhất Kinh tế Trung Quốc vốn được coi
là một động lực tăng trưởng của kinh tế thế giới, sau nhiều năm tăng trưởng ở mức hai con số, đã giảm chỉ còn 9% trong quý III/2008 Ngân hàng thế giới cho biết tăng trưởng GDP của Trung Quốc chỉ đạt 7,5% trong năm 2008, mức thấp nhất trong vòng 19 năm qua Tốc độ tăng trưởng công nghiệp đã giảm sút nghiêm trọng từ 16% trong tháng 6 xuống còn 8,2% trong tháng 10/2008, thấp nhất trong 7 năm qua
Trang 20Xuất khẩu suy giảm do khủng hoảng tài chính, theo dự báo sẽ còn có khó khăn hơn trong năm 2009, kéo theo sự sụt giảm nhiều ngành sản xuất khác và làm tăng tỷ lệ thất nghiệp
Khủng hoảng tài chính tại Nga đang ngày càng trầm trọng khi đồng Rup mất giá mạnh, Chính phủ đã phải chi 58 tỷ USD để giữ giá đồng tiền này Trong khi đó, nguy cơ thâm hụt ngân sách của Nga rất lớn và kinh tế khó khăn, bởi thời kỳ thịnh vượng nhờ giá dầu lửa cao đã chấm dứt Nền kinh tế Nga vốn ổn định và mạnh lên trong thời gian khá dài nhờ xuất khẩu dầu lửa được giá, nhưng hiện đứng trước nhiều khó khăn do khủng hoảng tài chính và giá dầu thế giới giảm mạnh, xuống dưới 50USD/ thùng- đây là mức thấp nhất trong 4 năm qua Nga đang thực hiện các giải pháp nhằm thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng hiện nay Chính phủ dự định chi khoảng 190 tỷ USD nhằm hỗ trợ hệ thống tài chính và ngân hàng, các ngành kinh tế then chốt cũng như cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hầu hết các nền kinh tế lớn như Đông- Nam á đều định hướng xuất khẩu và phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài Do vậy, dù ở mức độ khác nhau các nước trong khu vực Đông- Nam á dễ bị tác động của xu hướng giảm sút thương mại và đầu tư trên thế giới hiện nay Trước mắt, lĩnh vực xuất khẩu, thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ khu vực đang chịu ảnh hưởng mạnh của cuốc khủng hoảng tài chính toàn cầu Singapore là quốc gia đầu tiên ở Đông- Nam á rơi vào suy thoái năm 2008, ba lĩnh vực trụ cột của kinh tế nước này là xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo, dịch vụ tài chính – ngân hàng và du lịch đều bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năm khoảng 3% Chính phủ đã phải tạm thời đình chỉ kế hoạch từng bước tăng giá đồng nội tệ SGD Các biện pháp kích thích cả gói có thể làm cho thâm hụt ngân sách năm 2008 tăng lên gấp ba lần Kinh tế Hàn Quốc cũng báo động đỏ khi đồng Won mất giá hơn 40% kể từ đầu năm và hiện ở mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 Chính phủ Hàn Quốc đã phải thực hiện một số biện pháp khẩn cấp như cắt giảm lãi suất và bơm tiền vào hệ thống tài chính Thái Lan cũng có những biểu hiện của suy thoái kinh tế Trong bối cảnh đó Pakistan là nước châu Á đầu tiên kêu gọi IMF trợ giúp 6,5 tỷ USD
Tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính tiếp tục dẫn đến sự giảm sút trong các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, cũng như chi tiêu của người dân
Hệ quả của tình trạng trên là nhiều doanh nghiệp phá sản và đẩy tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều quốc gia tăng cao, chỉ số lòng tin của người tiêu dùng rơi xuống mức thấp
Trang 21nhất trong nhiều năm Trong 3 tháng, tính tới đầu quý IV/2008, đã có hơn 30000 doanh nghiệp Mỹ phá sản
Chưa dừng lại ở đó, mọi chuyện còn có thể tồi tệ hơn nữa nếu ba nhà sản xuất xe hơi hàng đầu là Ford, General Motor và Chrysler phá sản Kể từ đầu năm đến nay, ngành công nghiệp xe hơi của Mỹ đã bị khủng hoảng tài chính “ quật” cho tơi tả Với việc doanh số bán xe trong tháng 10/2008 của Mỹ tụt xuống mức thấp nhất trong vòng 25 năm qua, và dự đoán sẽ tồi hơn do khủng hoáng tài chính, ba đại gia trên đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, mà trước mắt là cạn kiệt tiền mặt Chrysler từ ngày 18/12/2008 đã ngưng hoàn toàn hoạt động sản xuất tại khu vực Bắc mỹ Chính phủ Mỹ đang cân nhắc kế hoạch cho GM và Chrysler, hai tập đoàn nguy ngập nhất, vay gấp 14 tỷ USD trong thời gian ngắn, được trích từ nguồn hỗ trợ 700 tỷ USD dành cho việc mua nợ xấu của các ngân hàng Tuy nhiên, khoản tiền trên có lẽ chỉ như một liều thuốc tạm thời, đủ để hai hãng sống sót đến hết quý I/2009 Các kế hoạch dài hơn nhàm giải quyết khó khăn của ngành công nghiệp xe hơn khi đó được chuyển giao cho Chính phủ mới của tổng thống Barack Obama Theo ước tính của các chuyên gia kinh tế, nếu các công ty được coi là biểu tượng của nền công nghiệp xe hơi Mỹ phá sản, sẽ có thêm khoảng 2,5 triệu lao động bị mất việc làm Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ từ đó cũng sẽ leo thang với tốc độ chóng mặt
1.2.2 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
- Bắt đầu từ đầu năm 2001 (12/01/2001), để giúp nền kinh tế thoát khỏi sự trì trệ kéo dài (một phần lớn bị tác động bởi sự kiện 11/09/2001 nước Mỹ bị khủng bố
và Mỹ tấn công Afghanistan, Iraq), nguyên Thống đốc Hệ thống Dự trữ liên bang
Mỹ (Fed) Alan Green Span đã liên tục điều chỉnh hạ thấp lãi suất Federal Funds từ 6% xuống còn 1% vào ngày 25/06/2003, từ đó dẫn đến các ngân hàng thương mại cũng hạ lãi suất cho vay (từ 9-10%/năm xuống còn 4-5%/năm) Chính sách tiền tệ của NHTW được nới lỏng, dư nợ tín dụng của hệ thống NHTM cũng được mở rộng theo, nhiều khoản vay mua nhà dưới chuẩn được thực hiện với sự tiếp sức của các môi giới tín dụng và môi giới bất động sản (BĐS)
Nhờ vậy thị trường bất động sản trở nên nhộn nhịp cũng giống như ở nước ta năm 2007 và bong bóng BĐS đã hình thành với sự giúp sức của những nhà đầu cơ chuyên nghiệp Theo ước tính của các chuyên gia (trên Báo Thanh niên ngày 16/10/2008) thì dư nợ cho vay dưới chuẩn tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉ vào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 2007 Điều đó cho chúng ta thấy rằng khoản cho vay dưới chuẩn đã tăng lên một cách nhanh chóng Cũng theo ước tính của
Trang 22nhiều chuyên gia (Thời Báo Kinh tế VN ngày 03/10/2008) trong 22.000 tỷ USD giá trị bất động sản tại Mỹ thì có tới hơn 12.000 tỷ USD là tiền đi vay, trong đó khoảng 4.000 tỷ USD là nợ xấu Điều lưu ý là phần lớn các hợp đồng vay dài hạn thường được tính theo lãi suất khả biến và điều chỉnh theo tín hiệu thị trường
- Và cũng bắt đầu từ ngày 30/06/2004 FED đã chính thức điều chỉnh tăng lãi suất để chống lại lạm phát đang có khuynh hướng gia tăng trước chính sách tiền tệ nới lỏng FED đã liên tục điều chỉnh lãi suất FED FUNDS gia tăng từ 1% lên 1.25, 1.50, …và 5.25% vào ngày 30/06/2006, kéo theo lãi suất NHTM tăng từ 4% lên 8-9%/năm Các khoản tiền lãi vay phải trả của những người mua nhà đã gia tăng mạnh và đe dọa khả năng trả nợ Thị trường bất động sản Mỹ bắt đầu đóng băng và sụt giảm giá trị, nợ quá hạn, nợ khó đòi gia tăng và đó là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ hiện nay
-Mọi việc sẽ bớt phức tạp nếu dừng lại ở đó không “phái sinh” thêm nữa Tại
Mỹ, thị trường tài chính vốn dĩ là bà đỡ cho nền kinh tế nên nó đã bị lợi dụng trong ván bài này Cụ thể là các khoản nợ dưới chuẩn này lại là cơ sở để hình thành các sản phẩm chứng khoán phái sinh Các nhà đầu tư (các ngân hàng, công ty bảo hiểm…) mua lại các khoản thế chấp này (mortgages), sau đó các tổ chức tài chính
đã biến các hợp đồng cho vay bất động sản này làm tài sản bảo đảm để phát hành trái phiếu ra thị trường với tên gọi là “Mortgage backed securities – MBS” Các sản phẩm phái sinh này lại được các tổ chức định mức tín nhiệm (Credit rating agencies) đánh giá cao, nên dễ mua bán Bên cạnh đó, các hợp đồng tín dụng dưới chuẩn này còn được các tổ chức bảo hiểm (AIG là một điển hình) bảo lãnh dưới những hợp đồng hoán đổi CDS-Credit Default Swap (giống như mua bảo hiểm rủi ro) Khi nợ không đòi được tổ chức bảo hiểm phải bồi hoàn cho ngưới mua bảo hiểm (người cho vay)
-Điều lưu ý là cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại không đơn thuần chỉ là khủng hoảng tín dụng nhà đất mà nguyên do sâu xa hơn được tích lũy thời gian dài:
do bùng nổ tín dụng, sự bùng nổ nợ tiêu dùng, nhận thức xu hướng phát triển tồn tại mãi, sự tôn sùng về thị trường tự do không kiểm soát, sự sùng bái thị trường tài chính, kinh tế thị trường
1.2.2 Tính chất và đặc điểm của cuộc khủng hoảng
Cần đặc biệt chú ý đến một điểm sau đây:
Thứ nhất, cuộc khủng hoảng lần này nổ ra tại nước Mỹ, đây là đầu tàu kinh
tế thế giới, vì vậy rất dễ lan truyền ra toàn cầu Khi nước Mỹ dùng tới cả tiền tiết
Trang 23kiệm của thế giới để giải quyết vấn đề khủng hoảng của mình, rõ ràng khủng hoảng
sẽ lan rộng và tăng cấp
Theo Joseph E.Stiglitz, nguyên kinh tế gia trưởng của WB và là người đã đạt giải Nobel kinh tế năm 2001, Mỹ đã xuất khẩu món nợ dưới chuẩn độc hại của mình đi khắp thế giới, dưới dạng các loại giấy tờ có giá được đảm bảo bằng tài sản
Mỹ đã xuất khẩu triết lý kinh tế thị trường tự do ở mức mà ngay cả vị tu sỹ cao cấp nhất của trường phái đó là Alan Greenspan giờ cũng phải thừa nhận là sai lầm Mỹ
đã xuất khẩu một thứ văn hóa doanh nghiệp vô trách nhiệm đối với xã hội mà rõ nhất là việc mua bán quyền chọn cổ phiếu một cách thiếu minh bạch, thứ văn hóa
đã khiến người ta làm sai lệch sổ sách kế toán doanh nghiệp, mà đỉnh điểm là những
vụ scandal như Enron hay Worldcom mấy năm trước đây Và cuối cùng, Mỹ đã xuất khẩu cả sự suy thoái kinh tế đi bốn phương
Cũng do nổ ra tại Mỹ, nên có nhiều ý kiến cho rằng cuộc khủng hoảng này đánh dấu sự suy yếu vị thế kinh tế tài chính của Mỹ, cùng với những khó khăn và thách thức khác đang làm giảm vị thế và hình ảnh của Mỹ trên trường quốc tế Điều này sẽ đẩy nhanh sự chuyển dịch kinh tế thế giới sang một hệ thống đa cực hơn, thúc đẩy xu hướng dần hình thành thế giới đa cực trong thời gian tới
Thứ hai, cuộc khủng hoảng tài chính lần này tiến triển bất ngờ, nhanh và không được dự báo trước Trong thời gian hơn một năm vừa qua, tất cả các cơ quan
dự báo uy tín trên thế giới cũng như các nước phát triển và đang phát triển, thậm chí
là ở Mỹ một quốc gia được coi có thông tin tương đối công khai và chính xác, cũng
dự báo sai về tiến triển và hậu quả của cuộc khủng hoảng Cho đến nay, vẫn chưa có
cơ quan nào có thể đưa ra dự báo tương đối chắc chắn về diễn biến của cuộc khủng hoảng trong tương lai, đặc biệt là khi nó kết thúc, khi nào đà suy thoái của nền kinh
tế thế giới chấm dứt và bắt đầu hồi phục
Thứ ba, cuộc khủng hoảng lần này cớ mức độ ảnh hưởng sâu và rộng Không chỉ lan nhanh từ Mỹ ra toàn cầu, cuộc khủng hoảng còn lan mạnh sang nhiều lĩnh vực như: Từ tài chính sang kinh tế, từ kinh tế ảo sang kinh tế thực, từ kinh tế sang
xã hội, từ thực tiễn sang chính sách, từ chính sách sang chủ thuyết Sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã dẫn đến thất nghiệp gia tăng ở khắp mọi nơi trên thế giới, gây bất ổn về mặt xã hội, thậm chí ở một số nơi còn xảy ra khủng hoảng chính trị
Khủng hoảng tài chính không chỉ dẫn tới khủng hoảng về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, một số nhà kinh tế hàng đầu thế giới cho rằng nó còn dẫn tới sự phá sản của mô hình chủ nghĩa tư bản với kinh tế thị trường tự do mới mà định
Trang 24hướng chủ yếu là đẩy mạnh hoạt động của thị trường tự do, khuyến khích tư nhân hóa và hạn chế sự can thiệp kiểm soát của nhà nước Quay trở lại quá khứ, cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đã đánh dấu sự sụp đổ của tư tưởng tự do kinh tế,
lý thuyết kinh tế tự điều chỉnh với “bàn tay vô hình” là thị trường bị thất bại, dẫn đến sự ra đời của lý thuyết kinh tế “chủ nghĩa tư bản có điều tiết” của John Maynard Keynes năm 1936, với chủ trương nhà nước can thiệp, điều tiết nền kinh tế Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1974 - 1975, với những căn bệnh trầm trọng của chủ nghĩa tư bản như lạm phát gắn với suy thoái, khủng hoảng cơ cấu đã làm cho học thuyết của J.Keynes rơi vào khủng hoảng
Suốt trong thời gian dài từ những năm 80 của thế kỉ 20 đến nay, lý thuyết chi phối sự vận hành của nền kinh tế Mỹ bắt nguồn từ lý thuyết kinh tế thị trường tự do mới của Ronald Reagan và Magaret Thatcher Cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng lần này tại chính nước Mỹ đã khiến ông Greenspan sau hơn 18 năm làm chủ tịch FED, một người vốn tin tưởng tuyệt đối vào điều tiết của thị trường tự do, đã thừa nhận sự thất bại của mô hình chủ nghĩa tư bản kinh tế thị trường tự do mới Ông đề nghị chính phủ Mỹ xem xét ban hành các qui định quản lý kinh tế chặt chẽ hơn, để các định chế tài chính không thể mạo hiểm bỏ vốn vào các khoản đầu tư rủi
ro, sau đó chính phủ lại phải đứng ra cứu trợ, thiếu sự kiểm soát của nhà nước trong hoạt động của thị trường tài chính sẽ tiềm ẩn nguy cơ và dẫn đến khủng hoảng
GS Joseph E Stiglitz cũng thừa nhận thực tế nêu trên khi phát biểu rằng:
“Thế giới dường như đang tỏ ra không mặn mà với chủ nghĩa tự do mới, một chiếc túi chứa đầy những ý tưởng dựa trên nền tảng cơ bản là thị trường luôn luôn tự điều tiết, phân bổ hiệu quả các nguồn lực và phục vụ lợi ích chung” Theo ông sau một phần tư thế kỉ thử nghiệm ở các nước đang phát triển, đã xuất hiện nhiều trường hợp thất bại: không chỉ các nước áp dụng chính sách tự do mới thất bại trong cuộc chạy đua thúc đẩy tăng trưởng, mà ngay cả khi đã đạt được tăng trưởng thì lợi ích từ kết quả này lại được phân chia một cách không công bằng, chủ yếu tập trung vào những người giàu Trong một thế giới thừa thãi, vẫn có hàng triệu người ở các nước đang phát triển không được hưởng khẩu phần dinh dưỡng tối thiểu Đang tồn tại một khoảng cách rất lớn giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân Nếu hai lợi ích này không hài hòa, kinh tế thị trường không thể phát triển Và ông nhận định thêm: “Tư tưởng
tự do mới là một học thuyết chính trị phục vụ cho lợi ích cá nhân, nó không dựa trên nền tảng của một học thuyết kinh tế Nó cũng không dựa trên một kinh nghiệm lịch sử nào Đây là bài học duy nhất cần rút ra từ mối đe dọa đang đè nặng lên nền kinh tế thế giới hiện nay” Và đây chính là sự cáo chung của chủ nghĩa tự do mới
Trang 25hoảng tài chính tồi tệ “hàng trăm năm mới có một lần”, với hậu quả thực sự nặng nề thậm chí có thể tương đương với qui mô so với đại khủng hoảng 1929-1933 đã kéo lùi nền kinh tế thế giới thụt lùi khoảng 40 năm Tính sơ bộ từ mùa hè năm 2007 đến cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng đã thiêu rụi khoảng 35.000 tỷ USD vốn liếng của loài người Xem xét giải pháp của các nước đưa ra ta thấy qui mô cũng chưa từng
có Chẳng hạn Mỹ cho đến nay đã chi 1.300 tỷ USD (9,3%GDP), EU chi số tiền
200 tỷ Euro (chiếm 1,5%GDP), Trung Quốc bỏ ra 585 tỷ USD (chiếm 20%GDP)…để cứu vãn tình hình kinh tế Tuy nhiên, những số tiền này cũng chỉ như “muối bỏ biển” vì tỉ lệ nợ xấu của thế giới có thể lên tới hàng trăm nghìn tỷ USD Các gói giải pháp cứu hộ nêu trên thực tế cũng chưa đụng đến được nguyên nhân sâu sa của khủng hoảng là vấn đề thể chế (tài chính, tiền tệ…) và kết cấu kinh tế… Với ảnh hưởng sâu, rộng và đang diễn biến hết sức phức tạp, chưa có dấu hiệu cho thấy sự chấm dứt, chắc chắn cuộc khủng hoảng còn gây những tác động mạnh mang tính tàn phá đối với nền kinh tế thế giới và xã hội loài người
1.3 Cơ chế tác động của khủng hoảng tới hoạt động xuất nhập khẩu:
Để phân tích cơ chế ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tới xuất khẩu trước hết chúng ta hãy xem xét 2 vấn đề đó là chu kỳ kinh tế và các yếu tố tác động tới xuất khẩu:
Chu kỳ kinh tế bao gồm 3 giai đoạn : suy thoái phục hồi, hưng thịnh
Hình 1: Chu kì kinh tế
Trang 26- Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái
- Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế
- Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (hay còn gọi là pha bùng nổ) Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là:
- Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút
- Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại
Trước đây, theo lý thuyết của Mác, một chu kỳ kinh doanh thường được cho là
có bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, các nhà máy đóng cửa hàng loạt, v.v… không xảy ra nữa Vì thế, toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái Ở Việt Nam cho đến đầu thập niên 1990, trong một số sách về kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa, khi nói về chu kỳ kinh tế thường gọi tên bốn pha này là khủng hoảng, tiêu
Trang 27Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế là những biến động không mang tính quy luật Không có hai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau và cũng chưa có công thức hay phương pháp nào dự báo chính xác thời gian, thời điểm của các chu kỳ kinh tế Chính vì vậy chu kỳ kinh tế, đặc biệt là pha suy thoái sẽ khiến cho cả khu vực công cộng lẫn khu vực tư nhân gặp nhiều khó khăn Khi có suy thoái, sản lượng giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, các thị trường từ hàng hóa dịch vụ cho đến thị trường vốn thu hẹp dẫn đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội
Nguyên nhân
Chu kỳ kinh tế khiến cho kế hoạch kinh doanh của khu vực tư nhân và kế hoạch kinh tế của nhà nước gặp khó khăn Việc làm và lạm phát cũng thường biến động theo chu kỳ kinh tế Đặc biệt là trong những pha suy thoái, nền kinh tế và xã hội phải gánh chịu những tổn thất, chi phí khổng lồ Vì thế, chống chu kỳ là nhiệm
vụ được nhà nước đặt ra Tuy nhiên, vì cách lý giải nguyên nhân gây ra chu kỳ giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nên biện pháp chống chu kỳ
- Các trường phái theo chủ nghĩa kinh tế tự do mới thì cho rằng sở dĩ có chu
kỳ là do sự can thiệp của chính phủ hoặc do những cú sốc cung ngoài dự tính Vì thế, để không xảy ra chu kỳ hoặc để nền kinh tế nhanh chóng điều chỉnh sau các cú sốc cung, chính phủ không nên can thiệp gì cả Hình 3 minh họa một trường hợp suy thoái do tổng cung giảm: vì lý do nào đó (ví dụ giá đầu vào tăng đột biến) tổng cung giảm từ AS xuống AS' khiến cho sản lượng giảm từ Q xuống Q' nhưng giá cả lại tăng từ P lên P' (lạm phát tăng)
Một số lý thuyết chính lý giải nguyên nhân của chu kỳ kinh tế là:
- Lý thuyết tiền tệ: cho rằng chu kỳ kinh tế là do sự mở rộng hay thắt chặt của chính sách tiền tệ và tín dụng Đại diện tiêu biểu của lý thuyết này là nhà kinh tế học đoạt giải Nobel kinh tế năm 1976, người đứng đầu trường phái Chicago Milton
Trang 28Friedman Lý thuyết này tỏ ra phù hợp với cuộc suy thoái của kinh tế Hoa Kỳ
1981-1982 khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất danh nghĩa tới 18% để chống lạm phát
- Mô hình gia tốc - số nhân: do Paul Samuelson đưa ra, mô hình này cho rằng các biến động ngoại sinh được lan truyền theo cơ chế số nhân kết hợp với sự gia tốc trong đầu tư tạo ra những dao động có tính chu kỳ của GDP
- Lý thuyết chính trị: đại diện là các nhà kinh tế học William Nordhaus, Michal Kalecki, Lý thuyết này quy cho các chính trị gia là nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế vì họ hướng các chính sách tài khóa và tiền tệ để có thể thắng cử
- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng: với những đại diện như Robert Lucas, Jr., Robert Barro, Thomas Sargent phát biểu rằng những nhận thức sai lầm về sự vận động của giá cả, tiền lương đã khiến cho cung về lao động quá nhiều hoặc quá ít dẫn đến các chu kỳ của sản lượng và việc làm Một trong những phiên bản của lý thuyết này là tỷ lệ thất nghiệp cao trong suy thoái là do mức lương thực tế của công nhân cao hơn mức cân bằng của thị trường lao động
- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực hay tiêu cực về năng suất lao động trong một khu vực có thể lan tỏa trong nền kinh tế và gây ra những dao động có tính chu kỳ Những người ủng hộ lý thuyết này
là nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 2004 Edward Prescott, Charles Prosser,
Tuy vậy, cho dù mỗi lý thuyết trên đây đều có tính hiện thực, không có lý thuyết nào tỏ ra đúng đắn ở mọi lúc, mọi nơi
Ngày nay, quan sát các chu kỳ kinh tế ở các nền kinh tế công nghiệp phát triển, người ta phát hiện ra hiện tượng pha suy thoái càng ngày càng ngắn về thời gian và nhẹ về mức độ thu hẹp của GDP thực tế Một trong những nguyên nhân quan trọng là chính phủ các nước này đã hiểu biết và vận dụng tốt hơn những hiểu biết về kinh tế vĩ mô Bằng cách kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ, nhà nước có thể ngăn chặn một cuộc suy thoái biến thành khủng hoảng Chu kỳ
kinh doanh khốc liệt tàn phá chủ nghĩa tư bản trong những thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản đã được chế ngự
Trang 29Hình 2- Kinh tế suy thoái do giảm tổng cầu
Hình 3: Kinh tế suy thoái do giảm tổng cung
(Nguồn:Wikipedia)
Các yếu tố tác động tới xuất khẩu: có 4 yếu tố chính tác động tới xuất khẩu
đó là
- Tỉ giá hối đoái
- Yếu tố cung cầu
- Hàng rào thuế quan, phi thuế quan
- Cạnh tranh trên thị trường quốc tế (dựa vào lợi thế so sánh tương đối, chất lượng hàng hóa…)
Xét về yếu tố cung cầu thì lại chia ra nhiều tác nhân nhỏ hơn, đó là
Về phía cung (người xuất khẩu)
- Giá cả hàng xuất khẩu
- Chất lượng hàng xuất khẩu
Ngoài ra còn có những yếu tố khác như các ưu đãi thương mại mà người xuất khẩu dành cho người nhập khẩu, mối quan hệ đối tác lâu dài, hiệp định thương mại tự do kí kết giữa các chính phủ … Tuy nhiên giá cả và chất lượng hàng hóa vẫn
là những nhân tố chủ đạo
Trang 30Về phía cầu (người nhập khẩu)
- Thu nhập và xu hướng nhập khẩu cận biên MPM (MPM cho biết khi tăng thêm một đồng thu nhập thì người tiêu dùng dành bao nhiêu trong đó để mua hàng nhập khẩu)
- Giá cả hàng hóa trong nước
- Thị hiếu của người tiêu dùng
Ngoài ra còn có những yếu tố khác như vị trí địa lý, ưu đãi thương mại nhân được từ phía người xuất khẩu, các quy định quản lý ngoại hối, tác động phi kinh tế (vì sức khỏe thế giới tẩy chay không dùng đồ Trung Quốc)…
Như đã trình bày ở trên về đặc điểm của pha suy thoái (GDP giảm) và những nhân tố tác động đến xuất khẩu, ta có thể thấy cơ chế tác động của suy thoái lên xuất khẩu như sau:
* Suy thoái kinh tế GDP nước nhập khẩu giảm → Thu nhập người dân nước nhập khẩu giảm (MPM có thể giảm đi) → lượng cầu hàng nhập khẩu giảm →giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu
* Suy thoái kinh tế → giá cả trong nước giảm → giá hàng nhập khẩu cao tương đối so với giá hàng hóa trong nước → giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu
* Suy thoái kinh tế → thu nhập của người dân giảm →chuyển chi tiêu sang loại hàng nhập khẩu cùng chủng loại nhưng giá cả cạnh tranh hơn → giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu
* Suy thoái kinh tế → bảo hộ sản xuất trong nước dựng lên hàng rào thuế quan phi thuế quan cản trở nhập khẩu → giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu
(Với việc hầu hết các nước đều là thành viên của tổ chức WTO thì việc dựng hàng rào thương mại tức là vi phạm cam kết của WTO đi ngược lại xu hướng tự do hóa thương mại trên toàn thế giới Tuy nhiên vẫn có các ngoại lệ và chỉ xuất hiện ở các nước lớn như Mĩ, Nhật, EU…)
* Suy thoái kinh tế→nền kinh tế của các nước chịu ảnh hưởng từ suy thoái (các quốc gia phát triển) bị ngừng trệ →nhu cầu đầu tư ra nước ngoài (tại các nước kém và đang phát triển) sẽ giảm đi→thu hút đầu tư nước ngoài tại các quốc gia nhận đầu tư sẽ giảm đi→ giảm xuất khẩu của nước xuất khẩu
Các nhân tố khác như tỉ giá hối đoái cũng như giá cả chất lượng hàng hóa của người xuất khẩu ít có tác động tới lượng xuất khẩu trong thời gian này bởi với một chế độ tỉ giá hối đoái thả nổi có kiểm soát như hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới thì chính phủ luôn cố gắng duy trì một tỉ giá hối đoái có lợi cho xuất khẩu,
Trang 31còn về mặt chất lượng giá cả hàng hóa xuất khẩu nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến vấn đề kỹ thuật, công nghệ (chất lượng) và các yếu tố thị trường thế giới (đầu cơ, quy định của hiệp hội cartel…) là các yếu tố hoặc dài hạn hoặc nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp
1.4 Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới xuất nhập khẩu của một
số nền kinh tế lớn trên thế giới
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ từ cuối năm 2007 đã nhanh chóng lan rộng ra các nền kinh tế lớn, trở thành cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái toàn cầu và hiện đang diễn biến rất phức tạp
Nhiều quốc gia đã phải bơm vào nền kinh tế hàng trăm cho đến hàng nghìn
tỷ USD để cứu vãn tình hình và ổn định kinh tế Đó là chưa kể đến những thiệt hại tiếp theo từ kinh tế suy giảm, không tăng trưởng, rối loạn đang chờ phía trước Cho đến nay, tác động lớn nhất của cuộc khủng hoảng này là làm thay đổi hoàn toàn và sâu sắc ngành công nghiệp tài chính Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu Sự sụp đổ của những ngân hàng lớn đã gây nên những lo ngại và mất niềm tin của dân chúng Ngay cả các quỹ đầu tư tiền tệ, vốn được coi là góc an toàn bậc nhất trong hệ thống tài chính Mỹ, là nền tảng cho hoạt động đầu tư của nước này, cũng gặp khó khăn khi người dân ồ ạt rút tiền do những quan ngại về sự đổ vỡ tiếp theo
Trong báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới, tháng 10, công bố ngày 6-11-2008, IMF dự đoán nền kinh tế Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ giảm 0,7% trong năm
2009 thay vì mức dự báo tăng 0,1% trước đây Tăng trưởng kinh tế ở khu vực sử dụng đồng Euro được dự báo sẽ giảm 0,5% trong năm 2009 so với tăng 0,2% theo
dự báo hồi tháng 10 Nền kinh tế Nhật Bản dự kiến sẽ giảm 0,2% trong năm 2009, giảm mạnh so với mức dự báo tăng 0,5% hồi tháng trước
Cũng trong báo cáo này, IMF đã hạ mức dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 của các nước đang phát triển từ 6,1% (đưa ra hồi tháng 10-08) xuống còn 5,1% Đối với các nước đang phát triển ở châu Á, IMF dự báo tăng trưởng năm
2009 sẽ là 7,1%, thấp hơn 0,6% so với dự đoán trước đó
1.4.1 Mỹ
Thâm hụt thương mại của Mỹ tháng 12/2008 giảm 4% xuống 39,9 tỷ USD%, so với mức thâm hụt 41,6 tỷ USD tháng 11/2008 Đây là con số đã được điều chỉnh, trước
đó mức thâm hụt tháng 11 được công bố là 40,6 tỷ USD
Tính cả năm 2008, thâm hụt thương mại của Mỹ đã giảm xuống 677,1 tỷ USD từ mức 700,3 tỷ USD năm 2007
Trang 32Đây là tháng thứ 5 liên tiếp xuất khẩu và nhập khẩu của Mỹ đều giảm
Tháng 12/2008, giá trị nhập khẩu giảm 5,5% từ 183,9 tỷ USD xuống 173,7
tỷ USD, thấp nhất từ tháng 9/2005, chủ yếu là do nhu cầu mua ô tô của người Mỹ sụt giảm và giá dầu xuống thấp
Giá dầu nhập khẩu trung bình tháng 12 của Mỹ đã giảm xuống 49,93 USD/thùng, thấp nhất trong vòng 3 năm
Nhập khẩu các mặt hàng quần áo, nội thất và đồ tiêu dùng cũng giảm
Sức nhập khẩu của Mỹ giảm đã tác động mạnh đến nhiều nước khác Cán cân thương mại của Canada, vốn là nước chiếm thị phần lớn nhất trong thị trường nhập khẩu dầu và khí đốt của Mỹ, đã thâm hụt lần đầu tiên trong 3 thập kỷ
Tháng 12/2008 xuất khẩu giảm 6% xuống 133,8 tỷ USD Doanh số tại thị trường quốc tế của các mặt hàng ô tô, các phụ kiện và động cơ của Mỹ đã giảm xuống mức thấp nhất từ tháng 11/2004
Cán cân thương mại của Mỹ với Trung Quốc, Canada và EU đã giảm xuống lần lượt là 19,9 tỷ USD, 2,8 tỷ USD và 7 tỷ USD
GDP của Mỹ được dự báo là sẽ tiếp tục giảm trong quý này Quý 4/2008, kinh tế đã giảm 3,8% so với cùng kỳ 2007, nhiều nhất từ 1982
Nhiều nhà kinh tế đã chỉ trích những điều khoản “Buy American” trong kế hoạch kích thích kinh tế của Tổng thống Obama sẽ khơi mào cho sự trở lại của chủ nghĩa bảo hộ Điều khoản này bắt buộc các doanh nghiệp Mỹ phải sử dụng các nguồn nguyên liệu chính sản xuất trong nước trong các dự án của họ
Tuy nhiên, xuất khẩu của Mỹ đã phải chịu tác động ngược Do các nước khác
đã có những hành động đáp trả để bảo vệ các doanh nghiệp của mình
1.4.2 Nhật bản
Bộ Kinh tế Nhật Bản cho biết, xuất khẩu nước này trong tháng 12/2008 đã sụt giảm với tốc độ kỷ lục 35% so với cùng kỳ năm ngoái, sau khi đã giảm 26,7% trong tháng 11
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ, Trung Quốc và châu
Âu - các thị trường chính đối với những mặt hàng chủ lực của Nhật như xe hơi và hàng điện tử - giảm mạnh chưa từng có Trong đó, xuất khẩu của Nhật sang Trung Quốc giảm 35,5%; xuất khẩu sang Mỹ giảm 36,9% và xuất khẩu sang châu Âu giảm 41,8%
Xuất khẩu của Nhật sang châu Á, thị trường chiếm khoảng một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này, đã giảm tới 36,4%
Trang 33Nhập khẩu của Nhật trong quý 4 cũng giảm 21,5% so với cùng kỳ Tuy nhiên, trong quý này, Nhật Bản vẫn chịu thâm hụt quý thứ ba liên tiếp, ở mức 320,7
tỷ Yên (3,6 tỷ USD)
Tình trạng doanh thu và lợi nhuận lao dốc đang khiến nhiều công ty lớn của Nhật như Toyota, Sony, Honda… tiến hành cắt giảm hàng ngàn việc làm và đóng cửa nhiều dây chuyền sản xuất Hiện hãng Toyota đang dự định cắt giảm 4.500 việc làm tạm thời Hãng Honda thì cho biết, từ nay tới tháng 4 sẽ sa thải toàn bộ 3.100 công nhân làm việc tạm thời tại hãng
Kinh tế Nhật hiện đang ở trong một giai đoạn khó khăn hiếm gặp Thủ tướng nước này Taro Aso từng nhận xét, cuộc khủng hoảng đang diễn ra là cuộc khủng hoảng “trăm năm có một” Các số liệu thống kê đã công bố cho thấy, sản lượng của các nhà máy ở Nhật trong tháng 11 đã giảm tới 8,5%, mạnh nhất trong vòng hơn một nửa thế kỷ qua
Các nhà phân tích của Barclays Capital đã dự báo, trong quý 4/2008 vừa qua, kinh tế Nhật có thể đã tăng trưởng âm 12% so với cùng kỳ năm ngoái, quý sụt giảm mạnh nhất từ năm 1974 tới nay
Ngoài những khó khăn chung của kinh tế thế giới, các nhà xuất khẩu của Nhật Bản còn phải vật lộn với sự lên giá của đồng Yên so với các đồng tiền mạnh khác khiến hàng hóa của Nhật trở nên đắt đỏ hơn ở thị trường nước ngoài
Ước tính, cứ mỗi Yên giảm đi trong tỷ giá USD so với đồng tiền này sẽ khiến lợi nhuận hoạt động của hãng Honda giảm mất 18 tỷ Yên Hiện tỷ giá USD so với Yên Nhật là khoảng 90 Yên ăn 1 USD Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, cán cân tài khoản vãng lai của nước này bị thâm hụt là do ảnh hưởng của tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, khiến kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản giảm tới 46,3% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 3.282,2 tỷ Yên, trong khi kim ngạch xuất khẩu giảm 31,7% xuống 4.126,6 tỷ Yên
Trong số các thị trường xuất khẩu chủ chốt, xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ giảm tới 52,9% và sang châu Á giảm 46,7% so với cùng kỳ năm ngoái
Trong tháng 1, cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ của Nhật Bản thâm hụt tới 1.100,2 tỷ Yên, tăng 180,3 tỷ Yên so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó thâm hụt thương mại hàng hóa là 844,4 tỷ Yên và thâm hụt thương mại dịch vụ là 255,8
tỷ Yên Đây là tháng thứ 4 liên tiếp cán cân thương mại của Nhật Bản bị thâm hụt
Cùng ngày 9/3, tổ chức xếp hạng tín dụng tư nhân "Tokyo Shoko Research" công bố báo cáo cho biết trong tháng 2/2009, có 1.318 doanh nghiệp Nhật Bản
Trang 341.4.3 EU- Các nước châu Âu
Trong năm 2008, chỉ số tin tưởng đã rơi từ 75 xuống còn 67 điểm Theo giới chuyên gia, Châu Âu cần khẩn cấp có một giải pháp gây sốc trong lĩnh vực tiền tệ và ngân sách, để ngăn cản các nền kinh tế trong khu vực đồng Euro lún sâu vào suy thoái
Cuộc khủng hoảng thế giới gây ra những hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế Hoa Kỳ và Anh Quốc và giờ đây, các nước trong khu vực đồng Euro cũng đang hứng chịu những tác động ngày càng lớn Các chỉ số vừa công bố cho thấy tình hình kinh tế tại châu Âu xấu đi một cách nhanh chóng
Theo thông báo ngày 08/01 vừa qua của Ủy ban châu Âu, trong khu vực đồng Euro, chỉ số tin tưởng của giới chủ doanh nghiệp và người tiêu dùng đã tụt giảm nhanh trong năm 2008, mất đi 8 điểm, chỉ còn 67,1 điểm Đây là mức tồi tệ nhất kể từ năm 1985, khi châu Âu tiến hành điều tra trong lĩnh vực này
Vào giữa tháng 12, Ngân Hàng Thế Giới cho rằng trong năm 2009, tổng sản phẩm quốc nội PIB của khu vực đồng Euro sẽ giảm khoảng 0,6% Nhìn vào thực trạng kinh tế hiện nay, giới chuyên gia khẳng định, đó là một dự báo lạc quan lỗi thời Nền kinh tế châu Âu đang rơi vào một vòng xoáy luẩn quẩn mà không ai biết là đến khi nào thì lục địa già cỗi này nhanh chóng thoát ra khỏi khủng hoảng
Vào lúc mà kinh tế Ai Len, Tây Ban Nha đang gây lo ngại do thị trường tài chính, tín dụng và địa ốc bị đình đốn, không ít chuyên gia trông đợi vào nước Đức như một con đê, ngăn cản cơn lũ khủng hoảng Thế nhưng, con đê Đức đang có nguy
cơ bị vỡ, với nhiều chỉ số cho thấy nền kinh tế nước này bị hụt hơi : Trong tháng 10 năm 2008, xuất khẩu giảm 10,6%, dư thừa cán cân thương mại không ngừng co lại, chỉ còn khoảng 9,7 tỷ Euro trong tháng 11 so với 16,4 tỷ của tháng trước
Cuối năm 2008, lần đầu tiên kể từ 3 năm qua, thất nghiệp tại Đức đã vượt qua ngưỡng 3 triệu người Còn hệ thống ngân hàng, vốn vẫn được coi là vững chắc, thì đang trong trạng thái nguy ngập Điều chưa từng thấy là ngày 08/01/2009, Berlin đã phải quốc hữu hóa một phần ngân hàng thương mại đứng hàng thứ hai, Commerzbank, nhắm cứu cơ sở này khỏi bị phá sản Trưởng nhóm kinh tế gia của ngân hàng Deutsche Bank, ông Norbert Walter, dự báo là trong năm nay, 2009, tổng sản phẩm quốc nội của Đức có thể sẽ mất tới 4%
Giới chuyên gia nhấn mạnh là châu Âu cần khẩn cấp có một giải pháp mạnh, gây sốc, trong lĩnh vực tiền tệ và ngân sách, để ngăn cản các nền kinh tế trong khu vực đồng Euro lún sâu vào một cuộc suy thoái trầm trọng hơn
Trang 35CHƯƠNG II ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THẾ GIỚI TỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
2.1 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tới nền kinh tế Việt Nam
2.1.1 Những khó khăn bên trong của nền kinh tế Việt Nam (khi xảy ra khủng hoảng)
Thứ nhất, về tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 sụt giảm so với nhiều năm trước, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả tăng trưởng vẫn chưa có sự cải thiện rõ rệt Năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và của sản phẩm còn thấp
Thứ hai, lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất- kinh doanh và đời sống nhân dân: Các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hết sức khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại vì không đủ sức gánh chịu lãi suất vay quá cao Sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bị đình đốn, một số lâm vào tình trạng phá sản Đời sống của nhiều tầng lớp dân cư, chủ yếu là những người làm công ăn lương, nông dân, đồng bào vùng thiên tai bão lụt và đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn do lạm phát
Thứ ba, xuất khẩu chưa bền vững nhập siêu cao: Giá trị nhập siêu ở mức cao
đe dọa đến sự ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là cung cầu ngoại tệ và tỷ giá hối đoái Tình trạng nhập siêu gia tăng thể hiện sự yếu kém căn bản của một nền kinh tế dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và nguồn nhân lực chất lượng không cao với việc xuất khẩu các sản phẩm thô và gia công cho nước ngoài, ngành công nghiệp phụ trợ yếu kém
Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao nhưng vốn giải ngân thấp: Đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam tăng cao, thể hiện lòng tin của doanh nghiệp nước ngoài với môi trường kinh doanh ở Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần chú ý như: tỷ trọng vốn giải ngân so với vốn đăng kí chưa được cải thiện nhiều; vốn đăng kí vào các dự án bất động sản (văn phòng cho thuê, khu vui chơi giải trí, nhà ở, sân golf…) chiếm tỉ trọng khá cao so với đầu tư vào khu vực sản xuất; nông, lâm, ngư nghiệp vẫn là lĩnh vực kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài các yếu
tố thuộc về các nhà đầu tư nước ngoài, các nút thắt đối với việc thực hiện vốn đầu
tư (kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và thủ tục hành chính) vẫn chưa có
Trang 36sự cải thiện rõ ràng
Thứ năm, thị trường chứng khoán bị sụt giảm trong khi thị trường bất động sản trầm lắng: Thị trường chứng khoán có những biến động bất thường, ngoài tác động của sợ biến động thị trường tài chính quốc tế và tình trạng suy thoái kinh tế của nhiều nước công nghiệp phát triển, thì những biến động kinh tế vĩ mô trong nước và những khó khăn trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã ảnh hưởng mạnh tới sự biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam Chỉ số chứng khoán liên tục giảm sút trong những tháng gần đây Tuy chưa đóng vai trò là thước
đo phản ánh trạng thái của nền kinh tế, song sự sụt giảm mạnh của chỉ số chứng khoán cũng cho thấy những khó khăn lớn của nền kinh tế
Cùng với sự sụt giảm của chỉ số chứng khoán, sự đóng băng của thị trường bất động sản tiềm ẩn những nguy cơ gây nên bất ổn định kinh tế vĩ mô Theo báo cáo của ngân hàng thương mại, tổng dư nợ vốn cho vay đầu tư bất động sản trong
cả nước đã lên tới trên 115.000t tỷ đồng, chiếm 9,5% tổng dư nợ của toàn bộ nền kinh tế Số vốn đầu tư vào bất động sản lớn tập trung chủ yếu tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (khoảng 75% tổng dư nợ cho vay bất động sản của cả nước) Về
lý thuyết tỷ trọng này chưa phải đáng lo ngại, nhưng tình trạng khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và nguy cơ suy giảm kinh tế trong nước là những cảnh bảo về những nguy cơ có thể xảy ra từ tình trạng đóng băng của thị trường bất động sản, nhất là khi thị trường bất động sản chứa đựng yếu tố đầu cơ, chứ không phản ánh trung thực quan hệ cung cầu
Thứ sáu, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn: Các doanh nghiệp đặc biệt
là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, gặp nhiều khó khăn do những biến động bất lợi của môi trường kinh tế vĩ mô Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu có qui mô vừa và nhỏ, năng lực cạnh tranh còn thấp kém.Trong điều kiện khó khăn chung của cả nền kinh tế, các doanh nghiệp phải đối mặt với hàng loạt khó khăn chồng chất: giá cả các yếu tố đầu vào tăng cao, hàng hóa sản xuất ra khó tiêu thụ, sản xuất- kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bị thu hẹp, không có khả năng thanh tóa các khoản nợ đến hạn…Để giữ vững sản xuất- kinh doanh, các doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, nhưng việc tiếp cận đến nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng các khó khăn hơn so với trước đây Theo báo cáo của các ngân hàng thương mại, chỉ khoảng một nửa số doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại.Để góp phần kiềm chế lạm phát, thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, các ngân hàng thương mại phải tăng lãi suất huy động và tỉ lệ dự trữ bắt buộc, dẫn
Trang 37đến tăng lãi suất cho vay, khiến nhiều doanh nghiệp không chịu nổi Theo hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhóm doanh nghiệp bị tác động mạnh bởi lạm phát, đang hết sức khó khăn, bị phá sản hoặc đứng trước nguy cơ phá sản lên tới 20% tổng số các doanh nghiệp Với khả năng nội tại còn hạn chế, các doanh nghiệp không dễ vượt qua được những trở ngại của sự biến động kinh tế vĩ mô Khó khăn của các doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng chung của nền kinh
tế mà còn có những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội
Không chỉ các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gặp nhiều khó khăn, tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với các cơ sở sản xuất nông nghiệp và người nông dân.Trong những tháng cuối năm 2008, giá cả nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu như cao su, cà phê, gạo giảm mạnh do nhu cầu nhập khẩu của thế giới đi xuống, khiến cho người nông dân gặp nhiều khó khăn do chi phí đầu vào của sản xuất tăng cao trong những tháng đầu năm Mặc dù từ tháng 10/2008 đến nay, giá một số sản phẩm đầu vào đã giảm những vẫn chưa đủ bù đắp thiệt hại của người nông dân.Ngành chăn nuôi trong nước gặp nhiều khó khăn do bệnh dịch và giá thức
ăn chăn nuôi tăng mạnh trong thời gian vừa qua Mặt khác, ngành chăn nuôi Việt Nam lại đang phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ nước ngoài do quyết định giảm thuế nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi, khiến nhiều cơ sở chăn nuôi trong nước phải đóng cửa
Thú bẩy, tình trạng mất việc làm có xu hướng tăng lên: Theo số liệu chính thức, hết năm 2008, cả nước có gần 30.000 lao động làm việc trong các doanh nghiệp bị mất việc làm do suy giảm kinh tế Dự báo năm 2009 có thêm khoảng 150.000 lao động mất việc làm Tình trạng thất nghiệp gia tăng tác động xấu tới hệ thống an sinh xã hội
2.1.2 Ảnh hưởng của khủng hoảng đến một số lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã và sẽ ảnh hưởng đến một số hoạt động của kinh tế nước ta, nhưng mức độ tác động không lớn như các nước đang phát triển khác
2.1.2.1 Về hoạt động ngân hàng và thị trường tiền tệ
Tuy cuộc khủng hoảng chưa có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng, nhưng một số tác động gián tiếp là đáng kể Trước hết, đó là diễn biến của tỷ giá và lãi suất USD Tỷ giá USD với đồng Việt Nam trên thị trường có nhiều biến động do tâm lý của người dân Trước tình hình đó, Chính phủ và Ngân hàng Nhà
Trang 38nước Việt Nam đã có các biện pháp, chính sách để điều hành, ổn định tỷ giá, hạ lãi suất cơ bản, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, đặc biệt
là các doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, rà soát và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại
Những tác động đến hệ thống ngân hàng
Từ việc phân tích nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ nước Mỹ nêu trên, chúng ta có thể khẳng định là cuộc khủng hoảng này sẽ không có tác động đáng kể đến hệ thống ngân hàng Việt Nam, bởi lẽ:
Thứ nhất, mức độ hội nhập của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của hệ
thống ngân hàng nói riêng với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Mỹ và thế giới chưa sâu Các ngân hàng Việt Nam hiện nay chủ yếu làm cầu nối cung cấp dịch vụ thanh toán, bảo lãnh và bao thanh toán cho các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu Bên cạnh đó, lượng vốn của các ngân hàng Việt Nam vay trên thị trường quốc tế là không lớn nên có thể loại trừ khả năng xuất hiện hiệu ứng rút vốn ồ ạt gây nên rủi
ro về thanh khoản của hệ thống ngân hàng
Thứ hai, các ngân hàng và các tổ chức tài chính Việt Nam không sở hữu các
MBS của Mỹ, do vậy không phải gánh chịu những khoản lỗ phát sinh do công cụ này giảm giá Mặt khác, cấu trúc của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn khá đơn giản, các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng chưa phát triển, chưa có sự liên thông ở mức tinh vi giữa TTBĐS và TTCK thông qua các công cụ phái sinh tương tự như MBS của Mỹ Các ngân hàng Việt Nam đầu tư vào bất động sản chủ yếu thông qua hình thức trực tiếp là cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc bằng chính bất động sản hình thành từ vốn vay nên khả năng tạo hiệu ứng dây chuyền kiểu Mỹ khi bất động sản giảm giá là rất khó xảy ra
Tuy nhiên, mặc dù hệ thống ngân hàng Việt Nam không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra nhưng không phải là không có vấn
đề Những vấn đề mà hệ thống ngân hàng gặp phải chủ yếu phát sinh từ những yếu
tố nội tại
Trước hết, là vấn đề mô hình của hệ thống ngân hàng Theo Khoản 2, Điều 20
của Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội ban hành năm 1997 và được sửa đổi, bổ sung năm 2004 thì các loại hình ngân hàng ở Việt Nam bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác Nhưng dưới gốc độ lập pháp thì cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng về chức năng của từng loại ngân hàng Đặc
Trang 39biệt, chưa có một văn bản pháp quy nào được ban hành để điều chỉnh hoạt động của ngân hàng phát triển và NHĐT – là những hoạt động kinh doanh ngân hàng có rủi ro cao nhất Chính sự mập mờ này đã tạo điều kiện cho các NHTM, các CTTC “lấn sân”
Và trên thực tế, nhiều NHTM và các CTTC đã “không ngần ngại” đầu tư vào bất động sản và chứng khoán đã mang lại không ít hệ lụy cho nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào việc đẩy nền kinh tế đi đến lạm phát thời gian qua
Tiếp theo, là sự ra đời ồ ạt của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi
ngân hàng, đặc biệt là các CTTC Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta đã có trên 80 ngân hàng thương mại và trên 20 công ty tài chính Phần lớn các CTTC đều có nguồn góc vốn góp từ các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước lớn Với vai trò tạo vốn và điều hoà vốn giữa các thành viên trong tập đoàn, tổng công ty, cho nên CTTC dễ dàng bỏ qua những chuẩn mực cần thiết của hoạt động tín dụng trong việc tài trợ vốn cho các thành viên, các dự án của tập đoàn và tổng công ty Điều này không những làm cho rủi ro tín dụng tăng lên mà còn làm tăng nguy cơ “hiệu ứng dây chuyền” khi thị trường tiền tệ hoặc lĩnh vực kinh doanh chính của tập đoàn, tổng công ty có biến động mạnh Việc có quá nhiều ngân hàng (trong đó, có khoảng 25% ngân hàng có hiệu quả kinh doanh hạn chế) và các CTTC sẽ dẫn đến hai nguy
cơ lớn là khả năng huy động vốn để duy trì kinh doanh ổn định và khả năng quản trị ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn hiện nay
Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng gia tăng do tăng trưởng tín dụng
khá cao cũng đặt hệ thống ngân hàng trước những thách thức không nhỏ Theo số liệu
từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tổng dư nợ tín dụng cho vay kinh doanh bất động sản hiện nay khoảng 115.500 tỷ đồng, chiếm 9,15% trên tổng dư nợ toàn hệ thống Riêng năm 2007, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam năm
2007 là 53% - một con số khá cao cộng với khoảng 50% các khoảng dư nợ được thế chấp bằng bất động sản sẽ làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong những tháng cuối năm 2008 khi các khoản cho vay vào bất động sản trước đây lúc thị trường này còn hấp dẫn sẽ đáo hạn Trong tình hình TTBĐS vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc thì việc các ngân hàng phải đối diện với khoản lỗ lớn là khó tránh khỏi Tại Đại hội đồng cổ đông bất thường của Ngân hàng Eximbank đã công bố nợ quá hạn của ngân hàng này là 1.361 tỷ đồng, chiếm 6,09% tổng dư nợ, trong đó nợ xấu là 619 tỷ đồng và khoản nợ có khả năng bị mất là 200 tỷ đồng Theo lãnh đạo Eximbank, nợ xấu của ngân hàng này chủ yếu là các khoản cho vay bất động sản Hiện nay, dư nợ cho vay bất động sản của Eximbank là 4.000 tỷ đồng, chiếm 18,2% tổng dư nợ của ngân hàng
Trang 40Ngoài ra, nguy cơ về tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn đang còn
tiềm ẩn, mặc dù các giải pháp thắt chặt tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, kìm chế lạm phát của Chính phủ đã phát huy tác dụng Lãi suất cơ bản qua bốn đợt cắt giảm trong một thời gian ngắn đã được hạ xuống còn 10%, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng được giảm xuống đáng kể đi kèm theo việc tăng lãi suất trên tỷ lệ này, lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng và chiết khấu giấy tờ có cũng giảm khá mạnh Song song đó, NHNN đã mua lại tín phiếu bắt buộc phát hành cho các ngân hàng trước thời gian đáo hạn trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng Những động thái trên là dấu hiệu
“nới lỏng chính sách tiền tệ” một cách linh hoạt của Chính phủ nhằm tăng tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện để ngân hàng hạ lãi suất cho vay
để các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn Qua đó, kích thích sản xuất chống lại nguy cơ giảm phát và duy trì mức tăng trưởng của nền kinh tế Nhưng khi, lượng tiền mặt trong hệ thống tăng lên và các ngân hàng đã giảm đáng kể lãi suất cho vay tương đương với mức cuối năm 2007 thì các doanh nghiệp lại tỏ ra không mấy mặn
mà Nguyên nhân chủ yếu được xác định là do ảnh hưởng của đợt lạm phát trong nước vừa qua và của cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra đã làm sức mua trong nước và trên thị trường các nước vốn là nơi tiêu thụ truyền thống sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam giảm mạnh Như vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam lại đối diện với một thách thức mới Đó là tìm đầu ra cho những đồng vốn của mình Trong điều kiện TTBĐS “đóng băng” và TTCK liên tục tuột dốc thì rõ ràng đây thật sự là một bài toán khó
Một là, khủng hoảng tài chính với sức lan tỏa nhanh chóng đã tác động đến
các quốc gia vốn là thị trường xuất khẩu hàng hoá của nhiều doanh nghiệp niêm yết như Mỹ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…Khủng hoảng tài chính làm sức mua của các thị trường trên giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng đáng kể đến kế