Hà Nội 2023 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ VIÊN LAN HƯƠNG ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CÁC BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội[.]
Trang 1Hà Nội - 2023
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VIÊN LAN HƯƠNG
ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CÁC BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2Hà Nội - 2023
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VIÊN LAN HƯƠNG
ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CÁC BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9.22.20.24
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Nguyễn Thị Bích Hạnh
2 PGS TS Nguyễn Văn Chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu thống kê là hoàn toàn trung thực do tôi thực hiện, không sao chép của ai Đề tài nghiên cứu và các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Lê Viên Lan Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Bích Hạnh và PGS TSNguyễn Văn Chính - thầy cô đã luôn chỉ dạy tận tình, động viên và khích lệ tôi trongsuốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này; giúp tôi trưởng thành hơn trên conđường nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Học viện Khoa học
xã hội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trongquá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án
Tôi xin được tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc - Lãnh đạo cácphòng, ban, Khoa Ngoại ngữ và đồng nghiệp tại Học viện Quân y đã động viên,giúp đỡ và chia sẻ với tôi về mọi mặt trong quá trình tôi thực hiện luận án này.Tôi luôn ghi nhớ và trân trọng sự nhiệt tình của anh chị em, bạn bè đã luôn ởbên, động viên và góp ý cho tôi để kết quả nghiên cứu được trọn vẹn
Tôi xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ, chồng và các con, cùngtoàn thể đại gia đình - những người luôn thương yêu, chia sẻ, ủng hộ và sát cánhbên tôi trên từng bước đường nghiên cứu và phấn đấu
Hà Nội, tháng 5 năm 2023
Tác giả luận án
Lê Viên Lan Hương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở nước ngoài 7
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở trong nước 13 1.1.3 Tiếp cận theo hướng tri nhận 17
1.2 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu 17
1.2.1 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm 17
1.2.2 Cơ sở lý luận về ngôn ngữ y học và bản tin y tế 35
1.2.3 Cơ sở lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu (Contrastive Linguistics) 39
1.3 Tiểu kết 41
Chương 2: ĐỐI CHIẾU HIỆN TƯỢNG CHỒNG LẤN TRONG CÁC ẨN DỤ CÓ MIỀN ĐÍCH “BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH” TRONG BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT - TIẾNG ANH……… 43
2.1 Dẫn nhập 43
2.2 Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ CHIẾN TRANH 45
2.2.1 Ẩn dụ ý niệm CÁC LOẠI BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ KẺ THÙ TRONG CUỘC CHIẾN 46
2.2.2 Ẩn dụ ý niệm ĐỘI NGŨ Y BÁC SĨ, BỆNH NHÂN, LIỆU PHÁP Y SINH LÀ NHỮNG NGƯỜI LÍNH THAM CHIẾN 49
2.2.3 Ẩn dụ ý niệm LIỆU PHÁP Y SINH/ HỆ MIỄN DỊCH LÀ VŨ KHÍ SỬ DỤNG TRONG CUỘC CHIẾN 51
2.2.4 Ẩn dụ ý niệm PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ VÀ CƠ CHẾ PHÕNG VỆ CỦA CƠ THỂ LÀ CHIẾN THUẬT TRONG CHIẾN TRANH 54
2.2.5 Ẩn dụ ý niệm MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA BỆNH TẬT LÀ MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA CUỘC CHIẾN 57 2.2.6 Ẩn dụ ý niệm THẤT BẠI/ CHIẾN THẮNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH/ DỊCH
Trang 62.3 Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ THIÊN TAI 63
2.3 1 Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH NGUY HIỂM LÀ THIÊN TAI…… 64
2.3.2 Ẩn dụ ý niệm TÁC ĐỘNG CỦA BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH ĐẾN CỘNG ĐỒNG LÀ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA THIÊN TAI 68
2.4 Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT/DỊCH BỆNH LÀ TRẬN THI ĐẤU THỂ THAO 72 2.5 Tiểu kết 76
Chương 3: ĐỐI CHIẾU HIỆN TƯỢNG CHỒNG LẤN TRONG CÁC ẨN DỤ CÓ MIỀN ĐÍCH “THỰC THỂ Y SINH” TRONG BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT - TIẾNG ANH……… 80
3.1 Dẫn nhập 80
3.2 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƯỜI 81
3.2.1 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƯỜI SINH HỌC 81
3.2.2 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ TỘI PHẠM/ KHỦNG BỐ 103
3.2.3 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘI QUÂN PHÕNG VỆ 117
3.2 4 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ NGƯỜI LÍNH THAM CHIẾN…121 3.3 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ THÔNG TIN 126
3.3 1 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG KÝ TỰ VĂN BẢN127 3.3.2 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG TÍN HIỆU, MẬT MÃ… 130
3.4 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ MÁY MÓC 133
3.4.1 Ẩn dụ CÁC DẠNG THỰC THỂ Y SINH LÀ CÁC LOẠI/ BỘ PHẬN MÁY MÓC 134
3.4.2 Ẩn dụ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA MÁY MÓC 138
3.4.3 Ẩn dụ KHẢ NĂNG TỰ THIẾT KẾ, ĐIỀU CHỈNH CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ KỸ THUẬT THIẾT KẾ VÀ BẢO TRÌ MÁY MÓC 140
3.5 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ PHƯƠNG TIỆN 142
3.5.1 Ẩn dụ ý niệm KHẢ NĂNG XÂM NHẬP, ĐIỀU KHIỂN CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ KHẢ NĂNG XÂM NHẬP, ĐIỀU KHIỂN CỦA PHƯƠNG
Trang 73.5.2 Ẩn dụ ý niệm CHỨC NĂNG CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ CHỨC NĂNG
CỦA PHƯƠNG TIỆN 146
3.6 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG PHÕNG VỆ 148
3.7 Các ẩn dụ ý niệm chỉ xuất hiện trong bản tin y tế tiếng Anh 151
3.7.1 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ/ THÖ SĂN MỒI 151
3.7.2 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ MÓN ĂN 156
3.8 Tiểu kết chương 159
KẾT LUẬN 164
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 169
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 170 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀCHIẾN TRANH 45Bảng 2.2: Lược đồ ánh xạ BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ CHIẾN TRANH 45Bảng 2.3: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀTHIÊN TAI 63Bảng 2.4: Lược đồ ánh xạ BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ THIÊN TAI 64Bảng 2.5: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ BỆNH TẬT/DỊCH BỆNH LÀTRẬN THI ĐẤU THỂ THAO 72Bảng 2.6: Lược đồ ánh xạ BỆNH TẬT/DỊCH BỆNH LÀ TRẬN THI ĐẤU THỂTHAO 73Bảng 3.1: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ CONNGƯỜI SINH HỌC 82Bảng 3.2: Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƯỜI SINH HỌC 83Bảng 3.3 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ TỘIPHẠM/ KHỦNG BỐ 103Bảng 3.4: Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ TỘI PHẠM/ KHỦNG BỐ .104Bảng 3.5 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘIQUÂN PHÕNG VỆ 118Bảng 3.6 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ NGƯỜILÍNH THAM CHIẾN 122Bảng 3.7: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ THÔNGTIN 126Bảng 3.8 Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ THÔNG TIN 127Bảng 3.9: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÁYMÓC 134Bảng 3.10: Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÁY MÓC 134Bảng 3.11: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀPHƯƠNG TIỆN 142
Trang 10Bảng 3.12: Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ PHƯƠNG TIỆN 143Bảng 3.13 Thống kê tần suất xuất hiện của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆTHỐNG PHÕNG VỆ 148Bảng 3.14 Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG PHÕNG VỆ 148Bảng 3.15 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘNGVẬT HOANG DÃ/ THÖ SĂN MỒI 152Bảng 3.16 Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ/THÖ SĂN MỒI 152Bảng 3.17 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÓNĂN 157Bảng 3.18 Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÓN ĂN 157
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 2.1: Tần suất sử dụng của các tiểu loại ẩn dụ có miền đích BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH trong các bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh 44Hình 2.2: Tính tầng bậc của ẩn dụ có miền đích BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH trong các bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh 44Hình 3.1: Tần suất sử dụng của các tiểu loại ẩn dụ trong ẩn dụ có miền đích THỰC THỂ Y SINH trong các bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh 80Hình 3.2: Tính tầng bậc của ẩn dụ có miền đích THỰC THỂ Y SINH trong các bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh 81
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Những năm gần đây, NNH tri nhận đã trở thành một trào lưu nổi bật trongnghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với tư duy Một trong những trọng tâm của khuynhhướng này là việc tiếp cận ADYN và sự phản ánh chúng vào ngôn ngữ Nó khôngdừng lại ở việc miêu tả mà còn đạt nhiều thành tựu trong giải thích cơ chế hìnhthành và vận hành ngôn ngữ Cùng các hỗ trợ liên ngành, lý thuyết ADYN và việc
áp dụng lý thuyết này vào nghiên cứu diễn ngôn thực sự là một công cụ hữu hiệu đểtìm hiểu các đặc trưng ngôn ngữ và tư duy gắn liền với bối cảnh văn hóa, xã hội củacộng đồng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nền tảng kinh nghiệm trong tâm tríngười dùng ngôn ngữ
Với ưu thế đặc biệt trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giao tiếp, TA đã trở thànhmột ngôn ngữ quốc tế, được sử dụng rộng rãi trên thế giới Tại Việt Nam, TA luôn
là môn học nhận được sự quan tâm sâu sắc ở bất cứ bậc học nào Ở Học viện Quân
y, ngoài việc học TA cơ sở trong hai năm đầu, học viên còn được tiếp cận với TAchuyên ngành y Trong bối cảnh của nền cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ranhư vũ bão đã giúp cho việc cập nhật các thông tin mới một cách đơn giản, liên tục
và tức thời về mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có y tế, một lĩnh vực đượcnhiều người quan tâm bởi nó liên quan đến tiêu chí đánh giá hạnh phúc của conngười Hằng ngày, để nắm bắt được các tin tức mà không phải mất nhiều thời gian,
mọi người có thể dễ dàng truy cập vào các trang web, bản tin y tế trên vtv.vn, dantri.com.vn… và bản tin y tế trên trang cnn.com, nytimes.com… Đây là các kênh
thông tin có độ tin cậy cao, thu hút, phản ánh thông tin y tế nhanh chóng Tuynhiên, khi đọc các bài báo về y học bằng TA trên các kênh đó, bản thân tôi cùng cácđồng nghiệp cũng như nhiều học viên đã gặp không ít lúng túng trong quá trình dịchchuyển nghĩa các từ, cụm từ, từ TA sang TV, đặc biệt những chỗ tác giả sử dụng ýniệm AD, dẫn đến không chuyển tải hết nghĩa gốc mà người viết muốn đề cập đến.Hơn nữa, các nghiên cứu diễn ngôn y tế cho đến nay còn rất mới mẻ, chưa đượcquan tâm thích đáng Xuất phát từ tình hình thực tiễn, chúng tôi nhận thấy cần phải
có một nghiên cứu thấu đáo, cụ thể về vấn đề này, một mặt góp phần tìm ra phươngpháp giải quyết khó khăn và nâng cao chất lượng giảng dạy Mặt khác, làm phongphú thêm kho tàng diễn ngôn trong y học, giúp những người làm công tác y tế cóthể chủ động sử dụng những ý niệm AD trong công việc hằng ngày
Trang 13Nghiên cứu về AD tri nhận trong các văn bản y tế là một hướng tiếp cận rấtmới Mặc dù tần suất sử dụng ý niệm AD trong các văn bản y tế khá cao nhưng chođến nay ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Với phươngchâm kế thừa, tiếp nối hướng nghiên cứu của những người đi trước, đồng thời khai
thác những cái mới, chúng tôi quyết định tập trung đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Đối
chiếu AD cấu trúc trong các bản tin y tế TV và TA” để chỉ ra những mô hình AD
tri nhận chủ yếu mà người viết hay sử dụng nhằm mục đích tác động một cách mạnh
mẽ nhất đến người đọc Việc phân tích AD trong loại văn bản đặc thù này và đối chiếuvới những cách diễn đạt tương ứng trong TA sẽ góp phần soi sáng một số khía cạnhtrong cách thức tri nhận thế giới của người Anh và người Việt, đào sâu thêm một sốvấn đề về văn hóa ngôn ngữ, đồng thời bổ sung thêm một góc nhìn mới vào nhữngnghiên cứu về AD tri nhận, giúp cho việc giảng dạy và học tập TA chuyên ngành tạiHọc viện Quân y thêm phong phú, chất lượng, hiệu quả và lý thú hơn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết về ADYN nói chung và AD cấu trúc nói riêng, luận án xácđịnh và đối chiếu việc sử dụng các BTADYN trong các bản tin y tế TV và TA trêncác thời báo điện tử; xác định các điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ; từ
đó đề xuất một số hàm ý khi sử dụng các diễn ngôn y tế và ứng dụng trong các lĩnhvực ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích làm sáng tỏ việc sử dụng AD cấu trúc trong các bản tin y tế
TV và TA, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về ADYN trên thế giới và Việt Nam, đặcbiệt là nghiên cứu về ADYN trong các văn bản y tế nói chung và các bản tin y tếnói riêng
2 Hệ thống hoá các quan điểm lý luận về ADYN và các khái niệm có liênquan làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
3 Xác lập các BT ngôn ngữ của ADYN trong các bản tin y tế TV và TA: Các
mô hình ADYN nào được sử dụng, các ADYN được xây dựng trên cơ sở ánh xạ nào
và tần suất sử dụng các bản tin y tế, làm rõ hiện tượng chồng lấn AD giữa các MN
4 Miêu tả, phân tích, đối chiếu các mô hình ADYN, hiện tượng chồng lấn ADtrong 2 khối ngữ liệu để lý giải điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đókhẳng định mối quan hệ biện chứng giữa bộ ba Ngôn ngữ - Văn hóa - Tư duy
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các BTADYN trong các bản tin y tế TV
và TA
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngữ liệu nghiên cứu giới hạn trong phạm vi văn bản là các bản tin điện tửhằng ngày về y tế của Việt Nam và Mỹ trong khoảng thời gian giới hạn từ01/01/2019 - 31/08/2022 Do hạn chế về mặt thời gian và dung lượng, luận án chỉtập trung nghiên cứu các mô hình AD cấu trúc để làm rõ cơ chế ánh xạ; cách thứctri nhận và phân tích nghĩa AD của các đơn vị từ vựng, qua đó bước đầu kiến giảichức năng dụng học của các mô hình AD đó trong hai ngôn ngữ
4 Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc khảo sát và nghiên cứu đề tài, luận án sử dụng tổng hợp cácphương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phư ng pháp miêu t : Sử dụng để miêu tả cơ chế ẩn dụ, cơ chế ánh xạ và
chuyển di các thuộc tính giữa hai miền “nguồn” - “đích”, miêu tả sự chồng lấn giữacác AD có cùng chung cấu trúc khái niệm đích và phân tích, làm rõ tính dụng họccủa AD theo các khung lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận được sử dụng trong cácbản tin y tế TV và TA mà luận án khảo sát
- Phư ng pháp so sánh đối chiếu: Được sử dụng để so sánh các mô hình
ADYN trong khối ngữ liệu của hai ngôn ngữ Cụ thể, luận án đã tiến hành áp dụngphương thức đối chiếu hai chiều để tìm ra những n t tương đồng và dị biệt của ẩn dụcấu trúc trong các bản tin y tế TV và TA
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Được dùng để tập hợp, phân loại và thống kê
các BTAD trong khối ngữ liệu theo các nhóm để phục vụ mục tiêu nghiên cứu
4.2 Ngữ liệu nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng ngữ liệu gồm 500 bản tin TV với 357 BTAD và 500 bản tin
TA với 658 BTAD để tiến hành nghiên cứu Tư liệu là những bản tin được thu thập và
lựa chọn, chủ yếu trong chuyên mục Sức khoẻ và một số chuyên mục khác như Đời sống, Kinh tế, Bàn luận, Khoa học… từ những trang web có độ tin cậy cao và phổ biến
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam (http://vtv.vn; http://dantri.com.vn;http://vietnamnet.vn) và Mỹ (http://nytimes.com; http://cnn.com; ) Thời gian thuthập ngữ liệu trong thời
Trang 15gian 42 tháng (từ tháng 1/2019 đến tháng 8/2022) để đảm bảo tính cập nhật Ngữliệu bao gồm 45 mặt bệnh phổ biến như cảm cúm, cảm lạnh, sốt xuất huyết, sốt r t,miễn dịch, vaccine, các loại biến đổi gen, ung thư, vi khuẩn, virus, HIV, lão hoá,các loại u, di truyền, DNA, tế bào, bệnh parkinson, bệnh alzheimer
Sau khi thu thập, ngữ liệu được chia thành hai nhóm: ngữ liệu TV (được mãhoá từ V1 đến V500) và ngữ liệu TA (được mã hoá từ A1 đến A500) Với các ngữliệu TA, luận án sử dụng bản dịch thô (do nghiên cứu sinh dịch) cho các BT ngônngữ và được đặt trong ngoặc vuông sau BT nhằm làm sáng rõ ý niệm sử dụng trongcác diễn ngôn
Ngữ liệu được xử lý theo hai bước Bước đầu tiên: Dựa vào khung lý luận về
AD trong Chương 1, các BTAD trong các bản tin y tế thuộc khối ngữ liệu nghiêncứu được nhận diện Dựa vào các đặc điểm của MN, các AD tìm thấy được chiathành các MN, sau đó phân chia thành các tiểu loại tùy theo MN được sử dụng đểkích hoạt các AD này Khi đối chiếu với khung lý thuyết, luận án xếp các nhóm AD
có cùng chung miền đích thành một nhóm, từ đó tìm cách giải mã dựa trên cơ chếchiếu xạ và chuyển di thuộc tính giữa hai miền “nguồn’ và “đích” Bước thứ hai:Luận án tiến hành đối chiếu các AD tìm được trong mỗi tiểu loại giữa TV và TA đểkiến giải về điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó làm rõ mô hìnhchồng lấn AD trong bản tin y tế TV, TA
5 Đóng góp mới của luận án
5.1 Đóng góp về lý luận
Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhậnvới việc áp dụng thành tựu của các khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trongnhiều lĩnh vực, nhưng đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về đề tài ADcấu trúc trong các bản tin y tế - một lĩnh vực hiện còn bỏ ngỏ Kế thừa cơ sở lý luậncủa những nghiên cứu đi trước, luận án đã hệ thống một cách có chọn lọc nhữngkhái niệm cốt lõi về NNH tri nhận và ADYN qua việc đi vào nghiên cứu chuyên sâu
mô hình AD được tìm thấy trong ngữ liệu và kiến giải cho những tương đồng vàkhác biệt giữa hai ngôn ngữ, làm rõ tính chồng lấn trong các mô hình ẩn dụ
5.2 Đóng góp về thực tiễn
Các sơ đồ tầng bậc của AD cấu trúc được xây dựng nên để so sánh đối chiếu tầnsuất, ánh xạ và đặc trưng ngôn ngữ của các AD Từ đó xác định sự giống nhau vàkhác nhau trong cách tri nhận về các vấn đề liên quan đến sức khỏe nói chung, các mặtbệnh nói riêng, từ đó làm rõ hơn mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duytrong các
Trang 16thông tin liên quan đến lĩnh vực y tế và sức khoẻ Kết quả nghiên cứu góp phần bổsung và làm rõ phương thức tư duy về thế giới khách quan của hai cộng đồng ngônngữ nói chung, cách tri nhận về các vấn đề liên quan đến y tế công cộng, công táckhám chữa, điều trị, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nói riêng Đồng thời đây cũng cóthể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy,biên - phiên dịch trong các trường có đào tạo ngành Y khoa, Báo chí, giảng dạy tiếngAnh như một ngoại ngữ.
Luận án cũng chỉ ra các mô hình AD cấu trúc và tần suất sử dụng trong bản tin
y tế kết hợp một số bình luận về vai trò của AD cấu trúc trong các diễn ngôn y học.Đây là cơ sở tham khảo giúp những nhà nghiên cứu nói chung và những người làmtrong lĩnh vực y tế nói riêng nhận thức được tầm quan trọng trong việc lựa chọnngôn ngữ để phản ánh các vấn đề liên quan đến công tác chăm sóc y tế và khámchữa bệnh nói chung, đồng thời là cơ sở cho các biên tập viên sử dụng AD như mộtphương tiện giao tiếp và truyền tải thông tin hữu hiệu khi viết và biên tập những tintức y tế
6 Ý nghĩa của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần củng cố lý thuyết của NNH trinhận và làm rõ thêm về lý thuyết ADYN, lý thuyết về hiện tượng chồng lấn ẩn dụthông qua ngữ liệu bản tin y tế
Luận án cũng tiếp tục khẳng định ưu thế và vai trò của ADYN trong diễn ngôn,qua đó củng cố thêm tính đa dạng văn hóa của ADYN
Ở Việt Nam, đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống đầu tiên các
AD cấu trúc về sức khỏe nói chung và các mặt bệnh nói riêng trên thể loại bản tin y
tế Luận án mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về thể loại ngôn ngữ y tế mà lâu naychưa nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này trước hết sẽ có ý nghĩa đối với những độc giả của bản tin
y tế, những người làm công tác nghiên cứu ngôn ngữ hiểu sâu hơn về ẩn dụ ýniệm nói chung và AD cấu trúc nói riêng trong các diễn ngôn y tế theo góc độNNH tri nhận
Đồng thời, luận án cũng sẽ giúp cho những người làm công tác biên - phiêndịch tài liệu y tế, cho giảng viên biên soạn và thiết kế tài liệu giảng dạy TA chuyênngành, cho sinh viên đang theo học TA chuyên ngành y tế tại các trường đại họchiểu sâu hơn về ẩn dụ tri nhận trong các bản tin y tế tiếng Việt và tiếng Anh
Trang 17Ngoài ra, đối với lĩnh vực báo chí, các kết quả nghiên cứu của luận án có thểgiúp ích cho công tác viết tin, dịch tin tức cũng như bình luận các bản tin y tế.
7 Bố cục của luận án
Ngoài các phần chung như Phần mở đầu, Phần kết luận, Phụ lục và Tài liệutham khảo, luận án có kết cấu gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương này trình bày tổng hợp và phân tích các nghiên cứu có liên quan đếnngôn ngữ y học và ADYN trong các văn bản y tế Một số vấn đề lý luận chung vềADYN, hiện tượng chồng lấn AD, NNH so sánh đối chiếu, ngôn ngữ y học và bảntin y tế cũng được trình bày trong chương này
Chương 2: Đối chiếu hiện tượng chồng lấn trong các ADYN có MĐ “bệnh tật/ dịch bệnh” trong bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh
Dựa trên lý thuyết của AD cấu trúc, lý thuyết về hiện tượng chồng lấn ẩn dụ,các mô hình AD có chung MĐ “bệnh tật/ dịch bệnh” được sắp xếp và phân tích, lýgiải theo tầng bậc, theo các thuộc tính ánh xạ Các mô hình AD với MN khác nhaucùng tập hợp kiến tạo nên một ý MĐ được xác định là chồng lấn lên nhau nhờ cáctương đồng trong thuộc tính ánh xạ Các tri thức từ nhiều MN được kích hoạt vàchọn lọc để cùng làm rõ một ý niệm đích Từ đó, luận án đối chiếu để tìm ra nhữngđiểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ
Chương 3: Đối chiếu hiện tượng chồng lấn trong các ADYN có MĐ “thực thể y sinh” trong bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh
Chương này đi sâu phân tích các mô hình AD có MĐ “TTYS”, làm rõ tínhtầng bậc trong cấu trúc ẩn dụ Dựa trên lý thuyết của AD cấu trúc, lý thuyết về hiệntượng chồng lấn AD, luận án chỉ ra sự chồng lấn trong các cấu trúc ý niệm căn cứtrên các tri thức được chuyển di từ MN lên MĐ, các tương đồng ánh xạ giữa các môhình ý niệm Chứng minh hiện tượng nhiều MN cùng được huy động để cấu trúcnên một miền ý niệm đích là hiện tượng chồng lấn AD Tập hợp các MN được sửdụng để giải thích và làm rõ một MĐ tạo thành một ma trận miền
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở nước ngoài
Theo khảo sát của chúng tôi, về lĩnh vực ngôn ngữ y tế nói chung, các nhànghiên cứu đã tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau Nhìn chung, các nghiên cứuban đầu chủ yếu là các nghiên cứu lý thuyết, bắt đầu từ các giáo trình y khoa và từđiển chuyên ngành y khoa, các nghiên cứu chủ yếu tập trung dưới góc độ thuật ngữchuyên ngành Sau đó là các nghiên cứu ứng dụng với các hướng tiếp cận dựa trêncác bình diện như: phân tích diễn ngôn, lý thuyết giao tiếp và hành động ngôn ngữ,NNH xã hội và NNH tri nhận
Trên thế giới, giáo trình về y khoa khá đa dạng, được sắp xếp thành 12 loạinhư các giáo trình tập trung vào các thuật ngữ y khoa, các tiểu luận về y học, cáccâu chuyện về y đức, chăm sóc sức khỏe từng giai đoạn, từng mặt bệnh, cẩm nang
cho bác sĩ và sinh viên y khoa… Giáo trình điển hình có thể kể đến English for the Medical Professions (Beitler & Macdonald, 1982) [71], The Language of Medicine
in English (Bloom, 1982) [75], Human diseases (2003) [88] và English in Medicine: course in communication skills (2005) [99]… tập trung chủ yếu vào các kỹ năng
đọc hiểu để làm chủ các từ vựng chuyên ngành y khoa Trong khi Bloom (1982)thiết kế giáo trình với các chủ điểm chung, đơn giản như y học - lịch sử và văn hóadân gian, các trường hợp cấp cứu y tế, phòng ngừa và chăm sóc sức khỏe công nghệcao [75] thì Beitler & Macdonald (1982) lại tập trung vào các chuyên ngành sâuhơn như: Di truyền học, Giải phẫu và Sinh lý học… với mục đích giúp sinh viên ykhoa có thể tiếp cận các văn bản chuyên ngành phức tạp hơn [71]
Về các cuốn giáo trình dùng để giảng dạy và nghiên cứu tiếng Anh chuyên
ngành y, tác giả Eric H Glendinning & Ron Howard (2007) với “Profesional English in Use Medicine” đã đề cập đến các chủ đề đa dạng bao gồm các mặt bệnh
và triệu chứng, cách phòng và điều trị bệnh cũng như giới thiệu tổng quát các từvựng chuyên ngành liên quan đến các bộ phận và chức năng của cơ thể, đội ngũnhân viên y tế, các nghiên cứu chuyên sâu [99]
Về từ điển, bên cạnh Mosby's Medical Dictionary 9th Edition [139], Butterworths Medical Dictionary 2nd edition (1978) [136]; Encyclopedia and dictionary of medicine, nursing, and allied health (1983) [137], Dorland’s Illustrated Medical Dictionary [89] với ấn bản lần thứ 32 được coi là cuốn Từ điển
Trang 19Y khoa nổi tiếng trên thế giới, cung cấp những tri thức tổng quát và chuyên sâu chocác bác sĩ, các nhà nghiên cứu, các sinh viên ngành y và tất cả những ai muốn tìmhiểu về y học Cuốn sách cũng nêu lên đầy đủ những thuật chữa bệnh truyền thốngcủa các nền văn hóa phương Ðông và những thành tựu tiên tiến của y học phươngTây, từ lịch sử y học cổ đại đến các phân nhánh tỉ mỉ của y học hiện đại qua hơn120.000 mục từ kết hợp với 1.500 minh họa màu được chọn lọc cẩn thận để bổ sung
và làm sáng tỏ các định nghĩa
Tiếp cận dưới góc độ thuật ngữ, trên thế giới bên cạnh các nghiên cứu đặc điểm
cấu tạo thuật ngữ ngành Y, đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề chuyển dịch thuậtngữ như Pilegaard, Morten (1997) cùng các cộng sự [144], Berghammer (2006) [73],Mgr et Mgr Eva Dávidová (2011) [85], Adrian Naznean (2013) [140], AnnaBrowne (2016) [77], Ali Akbar Zeinali (2017) [159], Dzuganova (2017) [90]… Vớinghiên cứu của mình về sự hình thành từ chuyển dịch các thuật ngữ y học, AliAkbar Zeinali (2017) đã so sánh đối chiếu cấu tạo từ trong chuyển dịch thuật ngữ yhọc TA sang tiếng Ba Tư, đồng thời gợi mở ra các hướng khi dịch thuật TA y học.Mgr et Mgr Eva Dávidová (2011) [85] lại đi sâu phân tích phạm vi ảnhhưởng của tiếng Latinh đối với thuật ngữ y học TA Nghiên cứu chỉ ra rằng thuậtngữ TA chuyên ngành tiêu hóa được hình thành dựa trên từ gốc, ngữ nghĩa và hìnhthức từ
Anna Browne (2016) [77] cho rằng để dịch được văn bản y tế, người dịch bêncạnh việc phải có khả năng ngôn ngữ tốt còn cần đến kiến thức chuyên sâu về y học
và thuật ngữ y học Tuy nhiên, chỉ có một số ít những người thông thạo cả hai lĩnhvực, đáp ứng được nhu cầu thị trường dược phẩm và y tế ngày càng tăng Do đó, đểtránh được những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra trong dịch thuật dẫn đến hậu quảnghiêm trọng, các dịch giả nên hợp tác với các chuyên gia y tế
Nghiên cứu về vị trí của TA chuyên ngành y trong TA chuyên ngành nóichung và TA khoa học quốc tế, Dzuganova (2017) [90] nhận thấy sự cần thiết phảitạo ra các thuật ngữ mới cho các khái niệm mới Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra
sự không cân xứng giữa thuật ngữ giải phẫu và lâm sàng, phân tích các nguồn chính
để hình thành nên thuật ngữ y tế, đặc biệt là đi sâu tìm hiểu một số ưu điểm của cácthuật ngữ y khoa có nguồn gốc từ các thuật ngữ Hy Lạp và Latinh
Trên bình diện diễn ngôn và lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ: Công trình
“English in medical education: An intercultural approach to teaching language and values” được Peih-ying Lu & John Corbett (2012) [134] tập trung vào những phát
triển gần đây về giáo dục y tế và ngôn ngữ, cụ thể là sử dụng ngôn ngữ để giảiquyết các vấn đề liên quan đến lâm sàng Peih-ying Lu & John Corbett đã biến lớp
Trang 20học như một cơ sở y tế, giúp sinh viên y khoa hiểu được các diễn ngôn cụ thể trongmột loạt các tình huống lâm sàng giữa bác sĩ với bệnh nhân và bác sĩ với các đồngnghiệp Ngoài ra giáo trình còn giúp sinh viên phát triển các kỹ năng thuyết phục,phản biện trong một số tình huống cụ thể.
Dưới góc độ lý thuyết giao tiếp, các nhà nghiên cứu như Ainsworth Vaughn
(1994) [66]; Cicourel (1981) [81]; Frankel (1990) [96]; Hein và Wodak (1987)[107]; Mishler (1984) [138]; Robins and Wolf (1988) [146]; Sarangi và Stembrouk(1998) [148]; Waitzkin (1983, 1991) [153], [154]; West (1984) [156]; West andFrankel (1991) [155]; Wodak (1996); Davidson (2000) [86]… đã dành nhiều sựquan tâm đến diễn ngôn y tế đặc biệt là diễn ngôn giữa bác sĩ và bệnh nhân, chủ yếutập trung vào những khó khăn mà bệnh nhân và bác sĩ gặp phải khi giao tiếp với nhau.Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào một loại diễn ngôn, đó là “phỏng vấn y tế” Đây
là một loại tương tác có cấu trúc, được thực hành giữa bác sĩ và bệnh nhân, đượcgiảng dạy trong các trường y khoa, được thiết kế giúp bác sĩ nhanh chóng tiếp cận vớibệnh nhân trong chẩn đoán và điều trị Do đó, tương tác y tế là một loại điều tra bằnglời nói và thể chất, một sự kết hợp giữa các trải nghiệm không có tổ chức với các môhình và quy trình quen thuộc về tính dễ bị tổn thương của con người đối với bệnh tật.Tương tự, Siminoff LA, Graham GC, Gordon NH (2006) [150] ghi âm cáccuộc hội chẩn của 58 bác sĩ chuyên khoa ung thư và 405 bệnh nhân ung thư vú đểtìm ra mô hình giao tiếp giữa bác sĩ - bệnh nhân Kết quả cho thấy dựa vào đặc điểmcủa người bệnh như độ tuổi, chủng tộc, trình độ học vấn, thu nhập, có sự khác nhau
về số lượng các câu hỏi, mối quan tâm đến bệnh và bệnh nhân da trắng có nhiều môhình giao tiếp hơn số còn lại Từ đó cần chú trọng đến việc nâng cao kỹ năng giaotiếp của các bác sĩ lâm sàng để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh
Luận án của Berbyuk Lindström N (2008) [72] cũng cùng chia sẻ mối quantâm đến mô hình giao tiếp giữa bác sĩ không phải người Thuỵ Điển - bệnh nhân làngười Thuỵ Điển và bác sĩ không phải người Thuỵ Điển - nhân viên y tế Thuỵ Điển
để tìm ra mối quan hệ quyền lực trong tham vấn y tế đa văn hóa, đa ngôn ngữ.Như vậy giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân thu hút được nhiều sự quan tâmcủa các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nói chung và y tế nóiriêng Đây là mối quan hệ có tính chất phức tạp bởi đó là sự tương tác của các cánhân có vị trí không bình đẳng, thường là không tự nguyện và liên quan đến các vấn
Trang 21nhân ung thư nói riêng, như mục đích giao tiếp y tế; phân tích các mô hình giaotiếp; các hành vi giao tiếp trong quá trình tham vấn và ảnh hưởng của hành vi giaotiếp đến kết quả điều trị bệnh Từ đó nhận thấy giao tiếp y tế đã tạo ra mối quan hệthân thiện, gần gũi giữa bác sĩ với bệnh nhân; giúp các bác sĩ dễ dàng hơn trongviệc trao đổi các thông tin lâm sàng và đưa ra các quyết định lâm sàng điều trị bệnh.Bên cạnh đó Ong và cộng sự phân tích các cặp hành vi giao tiếp phổ biến trong quátrình tham vấn lâm sàng như: Hành vi công cụ (định hướng chữa bệnh) - hành vitình cảm (định hướng chăm sóc); hành vi bằng lời nói và hành vi không bằng lờinói; hành vi riêng tư; hành vi kiểm soát cao - thấp; các từ chuyên ngành y khoa -ngôn ngữ hằng ngày.
Warren J Ferguson & Lucy M Candib (2002) [95] đã đi sâu phân tích chấtlượng giao tiếp và mối quan hệ của bác sĩ - bệnh nhân dựa trên các yếu tố như vănhóa, tôn giáo, chủng tộc và ngôn ngữ Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tốtrên có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của mối quan hệ bác sĩ - bệnh nhân Vídụ: Bệnh nhân thuộc dân tộc thiểu số, không thành thạo TA sẽ ít nhận được sự đồngcảm từ bác sĩ do rào cản ngôn ngữ Từ đó khuyến khích bổ sung vào lực lượng y tếnhững bác sĩ thuộc dân tộc thiểu số để chất lượng giao tiếp cũng như quá trìnhkhám, chữa bệnh được cải thiện hơn
Tiếp cận theo hướng tri nhận, trên thế giới đã có một số công trình nghiên
cứu về medical metaphors, có thể kể đến như:
Paul Hodgkin (1985) [109] với công trình “Medicine is war: and other medical metaphors” đã cho thấy quá trình tri nhận về y học xoay quanh các AD cơ
bản như: CƠ THỂ CON NGƯỜI LÀ CỖ MÁY, Y HỌC LÀ CHIẾN TRANH, YHỌC LÀ CÂU CHUYỆN TRINH THÁM, SỨC KHỎE LÀ HƯỚNG LÊN, ỐMĐAU LÀ HƯỚNG XUỐNG… trong đó hình ảnh về quân sự xuất hiện ở mọi khía cạnh của ngôn ngữ, đặc biệt là y tế qua các dụ dẫn như:
He’s having a heart attack (Anh ấy bị đau tim)
Killer T cells (tế bào giết người T)
The body’s defences (đề kháng của c thể)
Van Rijn-van Tongeren, G W (1997) [152] tập trung nghiên cứu về vai tròcủa AD trong các văn bản y tế, đặc biệt là trong các nghiên cứu về ung thư để tìm racác phép AD thường gặp - cụ thể là các MN nào được sử dụng để ý niệm hóa MĐ -các khái niệm y học Tác giả nhận thấy các BTAD sau thường xuất hiện: TẾ BÀOUNG THƯ LÀ CON NGƯỜI - TẾ BÀO UNG THƯ LÀ KẺ THÙ - UNG THƯ LÀCHIẾN TRANH - HỆ GEN LÀ VĂN BẢN - TẾ BÀO LÀ MỘT BỘ MÁY… trong
đó AD về các tác nhân được sử dụng phổ biến nhất Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan
Trang 22hệ mật thiết giữa ADYN trong các diễn ngôn về ung thư học với một số lý thuyết yhọc nhất định khi phân tích sự tương ứng giữa hai miền ý niệm Thông qua sự diễn
ra tương tác giữa ba nhân tố: Chủ thể, khách thể và xã hội, Van Rijin-van Tongerennhận ra khoa học là một quá trình phát triển không ngừng, theo chiều xoáy trôn ốc
và phép AD là một phần không thể thiếu trong các văn bản y tế và làm đơn giản hóacác kiến thức y học Nó thực sự là công cụ nhận thức và giao tiếp sống còn của bác
sĩ và bệnh nhân
Mabeck, C E., & Olesen, F (1997) [135] với công trình “Metaphorically transmitted diseases: How do Mabeck, C E., & Olesen, F patients embody medical explanations?” đã xây dựng khung giao tiếp chung giữa bệnh nhân và bác sĩ; bên
cạnh đó giúp bệnh nhân hiểu được các giải thích lâm sàng của bệnh nhờ đơn giảnhóa các thuật ngữ y khoa thông qua mô hình AD CƠ THỂ CON NGƯỜI LÀ CỖMÁY Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có quan niệm chung về cơ thể conngười và các chức năng của cơ thể vận hành như một cỗ máy khi thường xuyên sử
dụng các từ mang tính kỹ thuật như: van tim, tuần hoàn máu, ống, khớp hình cầu, đường vận động… Khi có sự rối loạn chức năng ở một bộ phận nào đó thì các bác sĩ
chuyên khoa như các kỹ sư có thể can thiệp và sửa chữa những hỏng hóc trong hệthống máy móc đó
Reisfield & Wilson (2004) [145] đã nghiên cứu về ph p AD trong chuyênngành ung thư học, tập trung chủ yếu vào AD CHIẾN TRANH khi x t về mốiquan hệ bệnh nhân - bác sĩ cũng như sự trải nghiệm các giai đoạn của bệnh ADchiến tranh đã giúp đơn giản hóa những khái niệm sinh học phức tạp, giúp bệnhnhân bớt xáo trộn tâm lý khi tiếp nhận thông tin bệnh đột ngột, giúp họ kiểmsoát bệnh tốt hơn Bên cạnh đó tác giả nhận thấy ph p AD này còn được cáccông ty dược phẩm sử dụng để tiếp thị các tác nhân hóa trị liệu khi đưa ranhững hình ảnh như một bệnh nhân ung thư vú đeo găng tay đấm bốc màu hồng
có in tên thuốc với dòng chữ “ung thư vú giai đoạn đầu - đối thủ hằng ngày”.Hay trong một hình ảnh khác khi quảng cáo dược phẩm liposomal doxorubicinđiều trị ung thư cùng người phụ nữ cầm kiếm với khẩu hiệu “hãy chiến đấu hếtsức mình” Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng AD trongcác diễn ngôn lâm sàng cần được điều chỉnh để phù hợp với từng bệnh nhân dựatrên nhiều khía cạnh cụ thể như văn hóa, cảm xúc của bệnh nhân, các khía cạnh
cụ thể của bệnh hay tiên lượng bệnh
Thông qua ba tờ báo uy tín: Tờ The Liberty Times và The United Daily News ở Đài Loan và tờ Nhân dân Nhật báo ở Trung Quốc, Chiang & Duann (2007) đã
phân tích mô hình ý niệm BỆNH TẬT LÀ CHIẾN TRANH khi đi sâu vào nghiêncứu về bệnh SARS theo hướng phân tích của Charteris-Black (2004) Dữ liệu đãcho thấy các định hướng chính trị và tư tưởng cơ bản của báo chí được truyền tải
Trang 23thông qua việc sử dụng mô hình AD này SARS không còn là một căn bệnh nữa
mà đã trở thành một cuộc chiến, một thảm họa dưới góc độ chính trị
Urbonait và Šeškauskien (2007) [149] khi nghiên cứu ngẫu nhiên 600 bàibáo bằng TA và tiếng Lithuanian từ năm 2000 đến năm 2005 với MN là sức khỏetrong các diễn ngôn chính trị và kinh tế đã nhận ra hai ngôn ngữ đều sử dụng AD
về sức khỏe như bệnh tật và vết thương để khái niệm hóa các vấn đề về kinh tế vàchính trị Nhóm tác giả đã đưa ra bảy BTAD sức khỏe, trong đó BT BẤT ỔNCHÍNH TRỊ LÀ BỆNH TẬT (problem is aliment/ malfunction) được xuất hiệnvới tần suất nhiều nhất (63-64%) Từ đó có thể nhận thấy các vấn đề về kinh tếchính trị dường như gắn liền với bệnh tật, ốm đau và những điểm yếu của cơ thểcon người hơn là tình trạng tốt và cân bằng
Wiggins (2012) [157] cho biết trong nghiên cứu của mình về bệnh ung thưthường xuyên bắt gặp những thuật ngữ quân sự như: (battle, courageously fightagainst cancer, win, give up the fight, lose…) (chiến đấu, can đảm chiến đấuchống lại ung thư, chiến thắng, từ bỏ cuộc chiến, thua cuộc) Nghiên cứu nhận
ra rằng chỉ có AD với MN chiến tranh mới có thể lột tả hết được hình ảnh các
tế bào lympho chiến đấu với các tế bào “sát thủ” để giành giật sự sống chongười bệnh
Nie và cộng sự (2016) [142] đã xem x t đến cả hai khía cạnh khi sử dụng cácphép AD quân sự trong y học, cụ thể là trong việc chữa trị căn bệnh thế kỷ HIV Bêncạnh việc giúp nâng cao tinh thần của bệnh nhân và các chuyên gia chăm sóc sứckhỏe trong quá trình chữa bệnh, AD quân sự vô hình trung đã hạ thấp các nguy cơtiềm ẩn của căn bệnh thế kỷ dẫn đến việc có những người có chủ ý lây nhiễm bệnhnày với mục đích “phơi nhiễm bình thường” Qua đó, cần phải cân nhắc khi sử dụngnhững hệ thuật ngữ quân sự trong các nghiên cứu y tế và chăm sóc bệnh nhân.Bleakley, A (2017) [74] bác bỏ quan điểm cho rằng ngôn ngữ y tế là ngônngữ y học khách quan mà ph p AD không thể tồn tại trong môi trường khoa học nhưvậy Nghiên cứu đã chỉ ra cần phải nghiêm túc đánh giá lại vai trò của các ph p ADtrong việc hình thành nên một nền văn hóa y tế lành mạnh, đặc biệt là trong mốiquan hệ giữa bác sĩ với bệnh nhân Qua đó việc chẩn đoán và giao tiếp với bệnhnhân cần được chú trọng
Các nghiên cứu so sánh đối chiếu ADYN trong ngôn ngữ y tế giữa hai hoặcnhiều hơn hai ngôn ngữ, trên thế giới có thể kể đến các công trình như:
Françoise Salager-Meyer (1990) [147] đã khảo sát và phân tích sự tương đồngcủa 130.000 thuật ngữ y học TA, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha dưới góc nhìn
AD tri nhận Nghiên cứu chỉ ra mặc dù AD tri nhận chiếm số lượng rất nhỏ trong
Trang 24nguồn ngữ liệu nhưng lại thường đề cập đến các khái niệm quan trọng và người đọccần phải có những kiến thức nhất định mới có thể giải mã được Các thuật ngữ yhọc này chủ yếu nằm trong nhóm AD cấu trúc do nguồn gốc của các thuật ngữ chủyếu bắt nguồn từ gốc Latinh, mang tính khoa học và miêu tả cao.
Alshunnag (2016) [69] trong luận án “Translating conceptual metaphor in popular biomedical texts from English to Arabic” khi khảo sát cách thức chuyển
dịch 731 BTAD trong văn bản y sinh với nguồn ngữ liệu là các bài báo trên Tạp chíkhoa học học nổi tiếng Science American sang tiếng Ả Rập đã tìm ra rằng ADYNđóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra các lược đồ nhằm làm đơn giản hóacác kiến thức về y học trừu tượng bằng cách sử dụng các lĩnh vực cụ thể, quenthuộc hơn nhằm thu hút sự chú ý của độc giả Với việc áp dụng khung lý thuyếtADYN của Lakoff và Johnson (1980) [129], lý thuyết trường ngữ nghĩa của ADtrong việc xác định MN, MĐ của Kittay và Lehrer (1981) [113] và quy trình xác định
AD (MIP) được đề xuất bởi Group (2007) [104], tác giả tập trung phân tích sự ánh
xạ của MN THỰC THỂ Y SINH qua ba góc độ: cấu trúc, bản thể và định hướng,trong đó AD cấu trúc là phạm trù chiếm ưu thế, tiếp theo là AD bản thể và ít nổi bậtnhất là AD định hướng Qua số liệu thống kê cho thấy 72 ánh xạ của MN như chiếntranh, hành trình, thông tin, cạnh tranh, máy móc, thực phẩm, thực vật, thiên nhiên,thảm họa, nghệ thuật… được sử dụng để đại diện cho 4 khía cạnh chính của MĐ làbệnh tật, bộ phận cơ thể, vaccine và các nghiên cứu y sinh Bên cạnh đó, nghiên cứucòn cung cấp những hiểu biết sâu sắc khi chỉ ra những điểm tương đồng và khácbiệt trong chuyển dịch các mô hình AD ở hai nền văn hóa có hệ thống ngôn ngữ vàkhái niệm khác nhau - tiếng Ả Rập và TA, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học y
sinh.Như vậy, dưới góc độ tri nhận, các nghiên cứu về ngôn ngữ/ thuật ngữ y tế chủyếu dừng lại ở các diễn ngôn trực tiếp, hoặc là nghiên cứu từ điển Cũng có một sốcông trình tập trung nghiên cứu ADYN trong y học nhưng mới chỉ tập trung ở một
số mặt bệnh hiểm nghèo như ung thư, SARS và HIV, chưa đi sâu phân tích ở cácmặt bệnh phổ biến khác
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở trong nước
Dưới góc độ lý thuyết giao tiếp, Nguyễn Thị Tuyết Mai (2019) [141] góp
phần làm tăng sự hiểu biết về các bước thoại, các dấu hiệu từ vựng và các yếu tốchủ đạo tạo thành việc triển khai các bước thoại trong các báo cáo trường hợp lâmsàng TA và TV Thông qua phương pháp định lượng, định tính và đối chiếu, kết quảcho thấy thể loại diễn ngôn của các báo cáo ca bệnh đặc trưng gồm 12 bước thoạivới 22 bước tiểu thoại So với các báo cáo TA thiên về sử dụng nhiều động từ tường
Trang 25thuật thì các báo cáo TV thường mang nhiều thông tin hơn nhưng các từ, cụm từtrong các văn bản TV lại không đa dạng và sử dụng lặp đi lặp lại.
Tập trung nghiên cứu các thành ngữ TA và TV liên quan đến chủ đề sức khỏe,Trần Huy Sáng (2020) [46] đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, nghĩa biểu trưng củathành ngữ, đưa ra những phương thức đối chiếu thành ngữ và lý thuyết liên quanđến chuyển dịch và chuyển dịch thành ngữ liên quan đến chủ đề sức khoẻ Trên cơ
sở nghiên cứu về cấu trúc cú pháp, phạm vi biểu hiện ngữ nghĩa, những đặc trưng tưduy của hai cộng đồng văn hóa Anh - Việt về sức khỏe trở nên sáng tỏ hơn Bêncạnh việc xác định được các thành ngữ tương đương giữa hai nhóm thành ngữ, kếtquả nghiên cứu cũng đề xuất một số biện pháp chuyển dịch phù hợp các thành ngữ
có liên quan đến sức khỏe về thể chất, sức khỏe tinh thần và xã hội trong TA không
có dạng tương đương trong TV
Dưới góc độ thuật ngữ, trong Việt ngữ, có thể nhận thấy hai hướng tiếp cận
chính: Nghiên cứu các thuật ngữ Đông y và nghiên cứu các thuật ngữ Tây y
Đi sâu nghiên cứu các thuật ngữ Đông y, các tác giả đều tiếp cận dưới góc độcấu trúc luận để tìm hiểu về đặc điểm định danh, cấu tạo hay con đường hình thànhnên thuật ngữ để từ đó làm nổi bật đặc trưng định danh và cách thức biểu thị độcđáo của thuật ngữ chuyên ngành y Có thể kể tới các nghiên cứu của Nguyễn ThịKim Anh (2017) [1] với luận văn thạc sĩ NNH đã đi vào phân tích hệ thống thuậtngữ y học cổ truyền thống qua các giáo trình y học cổ truyền và các bài giảng y học
cổ truyền bằng TV Thuật ngữ y học cổ truyền Việt Nam là từ ngữ của ngành y học
cổ truyền biểu thị các khái niệm, chỉ tên các bộ phận cơ thể, kinh mạch, biểu hiệndiễn biến của bệnh và cơ thể con người Bên cạnh đó, luận văn còn nghiên cứu sâu
về đặc điểm định danh của thuật ngữ trong các khía cạnh: Con đường hình thành,kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của thuật ngữ X t theo kiểu ngữnghĩa của các thuật ngữ y học cổ truyền TV có thể khẳng định rằng, toàn bộ thuậtngữ y học cổ truyền TV là những đơn vị định danh trực tiếp Tuy nhiên, thuật ngữ yhọc cổ truyền còn nhiều điểm cần phải được nghiên cứu và điều chỉnh để phù hợpvới sự phát triển của ngành y học cổ truyền Nguyễn Chi Lê (2019) [38] khảo sát,miêu tả, phân tích các thuật ngữ Đông y TV, trên các phương diện: Đặc điểm cấu tạo,đặc điểm ngữ nghĩa và phương thức định danh như các thuật ngữ về lý luận y học cổtruyền, đông dược, phương tễ, châm cứu - huyệt vị, các chuyên khoa y học cổtruyền: nội, ngoại, sản, nhi, lão Với nguồn tư liệu khảo sát gồm các cuốn Từ điểnĐông y đã xuất bản, luận án đã nghiên cứu phương diện cấu tạo và định danh của hệthống thuật ngữ này để làm nổi bật tính chuyên môn, tính đặc thù, tính độc đáo củathuật ngữ Đông y trong TV về các mặt: Cách thức biểu thị, đặc điểm phân định nộidung
Trang 26biểu đạt theo tính chuyên môn Từ đó làm cơ sở định danh của hệ thuật ngữ chotừng nhóm lĩnh vực trong hệ thuật ngữ; làm cơ sở cho những miêu tả, phân tích,nhận x t, đánh giá và kết luận của luận án; làm rõ những n t tương đồng và n t khácbiệt về đặc trưng định danh của thuật ngữ Đông y TV.
Những công trình nghiên cứu về thuật ngữ Tây y với hướng tiếp cận vềđịnh danh và cấu tạo ngữ nghĩa, Phí Thị Việt Hà (2017) [14] đi sâu vào đánh giá
ưu điểm và nhược điểm của hệ thống thuật ngữ phụ sản TV từ đó đề xuất phươnghướng, giải pháp cụ thể nhằm chuẩn hóa theo các tiêu chí của NNH thông quaviệc nghiên cứu, so sánh điểm tương đồng và khác biệt của hệ thuật ngữ phụ sảntrong TA và TV dựa trên các phương diện đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa vàphương thức định danh Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu thuật ngữ chỉ bệnh trong
TA và cách chuyển dịch sang TV”, Nguyễn Thị Thu Hoài (2018) [23] khi khảo sát1.949 thuật ngữ chỉ bệnh đã tìm ra sự khác biệt lớn về tỷ lệ thuật ngữ là từ và ngữgiữa TA và TV; xác định 8 mô hình cấu tạo trong TA và 11 mô hình trong TV Bêncạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những thuật ngữ chỉ bệnh cơ bản đượcchia thành hai phạm trù ngữ nghĩa: Đặc trưng của bệnh và đặc điểm cơ thể người;đồng thời đánh giá mức độ tương đương khi chuyển dịch các thuật ngữ giữa 2 ngônngữ Tuy vậy, luận án mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát, nghiên cứu về thuật ngữ chỉbệnh trong phạm vi từ điển, chưa phải là những thuật ngữ trong các văn bản y họchay trong giao tiếp của các nhân viên y tế
Cùng chung mối quan tâm về thuật ngữ Tây y nhưng với hướng tiếp cậnnghiên cứu đồng đại, lịch đại với luận án “Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh vàcách phiên chuyển sang tiếng Việt”, Vương Thị Thu Minh (2005) [41] tìm hiểu về
cơ cấu hệ thống thuật ngữ y học TA về mặt nội dung, cấu trúc và lịch sử hình thành.Qua khảo sát 9.832 thuật ngữ y học TA, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp trongviệc phiên chuyển thuật ngữ y học giữa TA sang TV nhằm đảm bảo tính chính xác,tính quốc tế và chuẩn hóa thuật ngữ y học trong TV Trong khi đó, dựa trên lýthuyết về vay mượn và tiếp xúc ngôn ngữ có chọn lọc, Lưu Trọng Tuấn (2009)[57] lại đi sâu nghiên cứu từ việc ảnh hưởng và ràng buộc văn hóa của các thuậtngữ y học Việt Nam với các thuật ngữ tương đương trong tiếng Pháp, TA và tiếngTrung Qua đó có thể nhận thấy sự tiếp xúc ngôn ngữ có chọn lọc không nhữngcủng cố vững chắc hơn hệ thống thuật ngữ y học Việt Nam mà còn phải đạt được
sự phù hợp hài hòa với văn hóa người Việt
Dưới góc độ NNH chức năng hệ thống, Nguyễn Thanh Nga (2018) [42] đi sâu
nghiên cứu các nguồn liên nhân được sử dụng trong TA và TV, tập trung chủ yếuvào ngôn ngữ của bác sĩ và ý nghĩa liên nhân Nghiên cứu đã đóng góp những phát
Trang 27hiện lớn về sự khác biệt trong cách lựa chọn từ vựng thể hiện trong các cú của thức.Kết quả không những khẳng định sự cần thiết phải thay đổi lời thoại y khoa nhưnhiều nghiên cứu trước đó mà còn cung cấp những bằng chứng về các lợi ích tronglời thoại của bác sĩ Việt Nói một cách khác, quyền lực ẩn sau lời nói của người bác
sĩ nên cân nhắc tới những kỳ vọng, mong mỏi của người bệnh từ đó giúp các nhàgiáo dục ngôn ngữ y khoa có thể tận dụng bối cảnh lý thuyết về thức và tình tháicủa các nguồn liên nhân để hướng dẫn các sinh viên y khoa sử dụng ngôn ngữ lịch
sự, thân mật khi giao tiếp với bệnh nhân
Nguyễn Thị Kim Luyến (2019) [39] làm sáng tỏ phương thức biểu hiện nghĩaliên nhân trong các văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc TA thông qua các phươngtiện ngữ pháp-từ vựng đặc trưng bao gồm: thức và tình thái Từ bình diện thức, hainhóm ngôn liệu đều không sử dụng đầy đủ tất cả các phương tiện ngôn ngữ hiệnthực hóa tương thích và không tương thích các chức năng lời nói Điều này cho thấynghĩa liên nhân chưa được biểu hiện đầy đủ trên tất cả các phương tiện ngôn ngữ,
do đó phần nào làm cho thể loại văn bản này chưa thật sự đạt được mức độ tươngtác, gần gũi với người đọc Từ bình diện tình thái, kết quả nghiên cứu chỉ ra cáchtính tình thái được hiện thực hóa tương thích và không tương thích trong diễn ngônhướng dẫn sử dụng thuốc TA và TV thông qua cách sử dụng phương tiện tình tháitrong thể loại ngôn bản này Bên cạnh đó, luận án cũng đối chiếu liên hệ với TVtrong cùng thể loại ngôn bản nhằm tìm ra những n t tương đồng và dị biệt giữa haingôn ngữ, giúp chúng ta dễ dàng hình dung bức tranh ngôn ngữ y khoa dành chocộng đồng từ bình diện liên nhân
Từ phương diện ngữ vực (Register), Võ Thị Bê (2020) [2] tiến hành phân tíchbản chất và đặc điểm ngôn ngữ để tìm ra những đặc điểm nổi trội trong các văn bản
chuyên ngành dược học TA và TV, cụ thể trên hai ngữ liệu Tạp chí Nghiên cứu Dược học Anh (British Journal of Pharmaceutical Research) và Tạp chí Dược học - Bộ Y
tế Qua đó khám phá ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ,
về phương diện Trường, Không khí, và Cách thức, cụ thể trong những đặc điểm về Hệ thống chuyển tác, Tham thể/ Chủ ngữ, Thuật ngữ, Cấu trúc/ dạng, Thức, Tình thái, Đề ngữ, Quy chiếu và Liên kết logic trong hai loại văn bản trên Kết quả của nghiên cứu
đã góp phần làm phong phú thêm phương pháp phân tích diễn ngôn trong các văn bảnchuyên ngành khác trong TA và TV cũng như đóng góp vào việc nâng cao kỹ năngviết các ngôn bản khoa học chuyên ngành dược học, khả năng đọc hiểu các ngôn bảnnhanh hơn và thấu đáo hơn, và dịch các văn bản thuộc chuyên ngành dược học mộtcách hiệu quả
Trang 281.1.3 Tiếp cận theo hướng tri nhận
Tại Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đã bước đầu manh nha tìm hiểu
và phân tích ADYN liên quan đến lĩnh vực y tế nhưng mới chỉ dừng lại ở việc kháiquát ADYN trong phạm trù sức khỏe và bệnh tật, chưa phân tích sâu về ngôn ngữ y
tế, đặc biệt là AD tri nhận trong các bản tin y tế
Trong luận văn “ADYN sức khỏe và bệnh tật và đặc trưng tư duy văn hóa của người Việt”, Đỗ Thị Nga (2014) [43] đã phân tích làm rõ cơ sở ánh xạ, bản chất ánh xạ của ADYN từ MN sức khỏe và bệnh tật thông qua việc tập hợp, khảo
sát các nghiên cứu sự xuất hiện, phân bố của ý niệm trong tất cả những từ ngữ
chỉ phạm trù sức khỏe và bệnh tật trong ngôn ngữ sinh hoạt tự nhiên, ngôn ngữ
nghệ thuật và ngôn ngữ báo chí Với việc chọn nguồn ngữ liệu phong phú từ cáccuốn từ điển TV đã xuất bản, tác phẩm văn học hiện đại đến các bài báo điện tử
và thu thập từ lời ăn tiếng nói hằng ngày, kết hợp với hướng tiếp cận của văn hóa
xã hội, tâm lý học và NNH, luận văn không những làm sáng tỏ mối quan hệ giữa
MN - MĐ của hiện tượng chuyển di ý niệm đối với phạm trù sức khỏe và bệnh tật, khả năng hoạt động của những từ ngữ mà còn làm rõ cách thức tri nhận một
hiện tượng văn hóa của người Việt
Kết quả khảo sát trên cho thấy mặc dù ở Việt Nam có khá nhiều nghiên cứu vềlĩnh vực y học nói chung và ngôn ngữ y tế nói riêng nhưng chưa có luận văn thạc sĩ,luận án tiến sĩ hay công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu nào về ADYNtrong các diễn ngôn y tế, đặc biệt là trong các bản tin y tế để khảo sát vai trò củaADYN nhằm mang các kiến thức khoa học trở nên gần gũi hơn cũng như khơi dậymối quan tâm của người đọc trong loại văn bản đặc biệt này Chính vì vậy, trong xu
thế xã hội ngày càng phát triển, y học ngày càng tiến bộ thì việc lựa chọn đề tài Đối
chiếu AD cấu trúc trong các bản tin y tế TV và TA làm tư liệu nghiên cứu trở nên
cấp thiết và mang tính khoa học
Để có căn cứ cho những nghiên cứu ở các chương 2 và 3, chúng tôi đã hệthống hóa các lý thuyết liên quan đến đề tài bao gồm cơ sở lý luận về ADYN; NNHđối chiếu; ngôn ngữ y học và bản tin y tế nhằm xây dựng khung lý thuyết choluận án
1.2 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm
1.2.1.1 Khái niệm về ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm
Khái niệm về ẩn dụ
Có thể khẳng định, nghiên cứu và tìm hiểu về AD đóng vai trò quan trọng trong trào lưu tri nhận Dấu mốc đánh dấu cho quá trình nghiên cứu về AD là sự ra đời của
Trang 29cuốn sách Metaphors We Live by của Lakoff và Johnson vào năm 1980 Cuốn sách đãđưa ra những quan điểm mới mẻ, góp phần làm thay đổi bước ngoặt trong tư duynhận thức về AD Bởi vậy, trong luận án này, chúng tôi tập trung lựa chọn trình bày
khái niệm về AD theo giai đoạn: AD theo quan điểm của NNH tri nhận qua quá trình
tổng hợp các quan niệm về AD từ năm 1980 đến nay
Những năm 80 của thế kỷ XX, sự phát triển của NNH tri nhận với cột mốckhởi đầu của Lakoff & Johnson góp phần tạo ra bước ngoặt trong quan điểm, nhậnthức về AD
Đối lập với quan điểm truyền thống khi xem AD là sự lệch chuẩn khỏi cách sửdụng ngôn ngữ bình thường, việc thuyết giải AD phải được thực hiện thông quangôn ngữ sử dụng nghĩa đen; bởi vậy, ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen có vai trò lớnhơn so với ngôn ngữ mang tính AD thì Lakoff & Johnson [129] lại cho rằng AD làhiện tượng tri nhận hơn là một hiện tượng ngôn ngữ Những BTAD mà chúng ta bắtgặp trong các diễn ngôn là cái phản ánh AD tồn tại ở tầng bậc ý niệm Theo Lakoff
và Johnson [129], bản chất AD là cơ chế nhận thức mà thông qua nó những lĩnh vực
có tính trừu tượng được thay bằng những lĩnh vực có tính cụ thể hơn
Lakoff và Johnson cũng đã cụ thể hóa đặc điểm của AD theo quan điểm tri nhận
như sau: AD là hình thức biểu hiện của tư duy, không ph i là từ vựng (1), AD giúp khái niệm rõ ràng h n chứ không chỉ nhằm mục đích thẩm mỹ (2), AD thường không được cấu thành trên sự tư ng đồng (3), AD được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày bởi những người bình thường chứ không chỉ bởi những người có năng lực ngôn ngữ siêu phàm (4), AD không ph i là hình thức trang trí hoa mỹ của ngôn ngữ mà là quá trình tư duy và tri thức của con người (5).
Còn theo Trần Văn Cơ (2007) [5] thì AD tri nhận là “một trong những hình thức
ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được những tri thức mới… AD được xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác, và với ý nghĩa đó,
AD là một trong những phư ng thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ” Nhờ đó
mà con người nhận biết được về thế giới vật chất, thế giới tinh thần và thế giới cảmxúc cũng như hiểu được những đặc trưng văn hoá của người bản ngữ
Từ những cách giải nghĩa trên, theo quan điểm của NNH tri nhận, có thể hiểu
AD là phương thức biểu tượng tri thức, dưới dạng ngôn ngữ
Khái niệm về ẩn dụ ý niệm
Trong cuốn sách Metaphors We Live by, Lakoff và Johnson (1980) định
nghĩa: “ADYN là sự ý niệm hóa một miền tinh thần qua một miền tinh thần khác, gọi là sự ánh xạ (mapping) có hệ thống từ một miền này sang một miền khác nhằm
Trang 30tạo nên một mô hình tri nhận giúp lĩnh hội MĐ một cách hiệu qu h n” ADYN
được hình thành dựa trên kinh nghiệm của con người đối với thế giới, trong đó mộtmiền (thường là miền cụ thể) được dùng để hiểu một miền khác (thường là miềntrừu tượng hơn); miền thứ nhất được gọi là MN (source domain - MN), miền thứhai được gọi là MĐ (target domain - MĐ) [120: tr.5]
Theo Kövecses (2002), ADYN là: “Một ADYN là một tập hợp mang lại tính
hệ thống các tương đồng, hay các ánh xạ, giữa hai miền của kinh nghiệm.”
NNH tri nhận cũng đã phân biệt ADYN và AD ngôn ngữ (linguisticsmetaphor) Kövecses đã phân biệt và chỉ rõ rằng AD ngôn ngữ chỉ là các BTAD, làdạng cụ thể của ADYN, còn ADYN có tính trừu tượng và khát quát ADYN là cơ
sở ý niệm cho tất cả những BTAD được liệt kê theo nó Các BTAD có thể rất đadạng nhưng nếu nó chỉ được ánh xạ từ một MN duy nhất tới một MĐ tương ứng thì
đó chỉ là một ADYN Ví dụ (dẫn theo Lakoff và Johnson), ADYN LOVE IS AJOURNEY (TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH) có các BT ngôn ngữ
như: Look how far we’be come (hãy nhìn xem chúng ta đã đi được bao xa); We’re
at a crossroad (Chúng ta đang ở ngã ba đường); We can’t turn back now (Chúng ta không thể quay trở lại)…
Như vậy, ADYN là việc hiểu một miền ý niệm này thông qua một miền ý niệmkhác ADYN được hình thành dựa trên kinh nghiệm của con người đối với thế giới.ADYN là mô hình ý niệm dùng để tư duy và nó nằm trong tư duy của mỗi con người
C sở hình thành và đặc điểm của ẩn dụ ý niệm
- Cơ sở hình thành ẩn dụ ý niệm
Nếu quan điểm truyền thống cho rằng cơ sở hình thành AD là sự tương đồnggiữa hai thực thể được so sánh, thì NNH tri nhận khẳng định bên cạnh sự tươngđồng khách quan vốn có, ADYN còn được hình thành dựa trên kinh nghiệm của conngười Cụ thể, Kövecses cho rằng có hai nền tảng chính để hình thành nên ADYN:
Thứ nhất là sự tương liên về kinh nghiệm Động lực lớn nhất thúc đẩy sự
hình thành AD là sự tương liên trong trải nghiệm của con người Khi một sự kiệnxảy ra dẫn đến một sự kiện khác thì hai sự kiện này được cho là có tương liên vềtrải nghiệm Ví dụ (dẫn theo Kövecses), nếu đổ thêm chất lỏng vào vật chứa thì mựcchất lỏng trong vật chứa tăng lên, như vậy hai sự kiện này có quan hệ tỉ lệ thuận,mối quan hệ này là nền tảng tạo nên AD NHIỀU HƠN HƯỚNG LÊN TRÊN ADnày hoạt động dựa trên hai ý niệm: số lượng và chiều thẳng đứng Số lượng đượcthể hiện bằng thang đo NHIỀU/ ÍT, chiều thẳng đứng thể hiện bằng thang đoHƯỚNG LÊN TRÊN/ HƯỚNG XUỐNG DƯỚI Xuất phát từ trải nghiệm hàngngày, khi số lượng gia tăng thì chiều thẳng đứng gia tăng, tạo nên ADYN NHIỀU
Trang 31HƠN HƯỚNG LÊN TRÊN, ÍT HƠN HƯỚNG XUỐNG DƯỚI Những ví dụ tương
tự về sự tương liên giữa hai sự vật hình thành nên ADYN được tìm thấy rất phổbiến trong các ngôn ngữ
Thứ hai là sự tương đồng cấu trúc được cảm nhận ADYN cũng được hình
thành dựa trên sự tương đồng phi khách quan mà người nói cảm nhận về đối tượng
Ví dụ (dẫn theo Kövecses), trong ẩn dụ LIFE IS A GAMBLING GAME (cuộc đời
là một canh bạc), các BT ngôn ngữ I’ll take my chances (Tôi sẽ nắm lấy cơ hội của tôi), He won big (Anh ấy thắng lớn), It’s a toss-up (Đó là một trò chơi sấp ngửa) cho thấy con người khắc họa cuộc sống như một canh bạc, có may rủi, thắng thua, sấp ngửa Các hoạt động diễn ra trong cuộc sống và kết quả mà nó mang lại cũng
giống như việc thắng/ thua trong một ván bài Con người cảm nhận được sự tươngđồng giữa cuộc sống và trò đánh bạc, mặc dù sự tương đồng này không mang tínhkhách quan và không tồn tại từ trước Sự tương đồng giữa cấu trúc của một miền ýniệm này với cấu trúc của một miền ý niệm khác là một cơ sở quan trọng để hìnhthành nên AD và thường được gọi là AD tương đồng cấu trúc cảm nhận
- Đặc điểm của ADYN
ADYN có 7 đặc điểm nổi bật dưới đây:
Một là, ADYN có tính đ n hướng Nghĩa là các ADYN đều mang tính một
chiều: AD ánh xạ cấu trúc từ một MN sang một MĐ chứ không có ánh xạ tương ứngtheo chiều ngược lại Ví dụ, BỆNH TẬT được ý niệm hóa theo CHIẾN TRANH,nhưng không thể cấu trúc quy ước hóa CHIẾN TRANH theo BỆNH TẬT: “các loạibệnh tật, dịch bệnh” được miêu tả quy ước như “kẻ thù trong cuộc chiến” chứ “kẻ thùtrong cuộc chiến” không được miêu tả thành “các loại bệnh tật, dịch bệnh” … Vậynên, các thuật ngữ “đích” và “nguồn” mã hóa bản chất một chiều của ánh xạ
Hai là, ADYN có tính che giấu và nhấn mạnh Đặc điểm này được hiểu là khi
ý niệm đích được cấu trúc hóa theo một MN cụ thể, nó sẽ kích hoạt một khía cạnhnào đó của MĐ, đồng thời nó sẽ làm mờ những khía cạnh còn lại Ví dụ dẫn theoLakoff và Johnson dưới đây sẽ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm này AD ARGUMENT
IS WAR (Tranh luận là chiến tranh) nhấn mạnh đến bản chất đối nghịch của tranh
luận (Anh ta thắng cuộc tranh luận, Tôi đã không thể bảo vệ quan điểm đó…)
nhưng lại làm mờ đi khía cạnh về sự phát triển có trật tự và có tổ chức về một chủ
đề cụ thể Ngược lại, AD ARGUMENT IS A JOURNEY (Tranh luận là một cuộchành trình) lại nhấn mạnh đến sự phát triển có trật tự và có tổ chức của cuộc tranhluận (Chúng ta sẽ nhích lên từng bước một; Chúng ta đã có được nhiều lí lẽ), đồngthời che giấu các khía cạnh mang tính đối đầu
Trang 32Ba là, ADYN có tính hệ thống Các ADYN tương tác với nhau và tạo nên những
hệ thống AD tương đối phức tạp Ví dụ dẫn theo Lakoff và Johnson sẽ minh họa cụthể cho đặc điểm này: AD CUỘC ĐỜI LÀ MỘT HÀNH TRÌNH bao gồm hệ thống
AD TÌNH TRẠNG LÀ VỊ TRÍ (Anh ấy đang ở ngã ba cuộc đời), THAY ĐỔI LÀCHUYỂN ĐỘNG (Anh ấy đi từ tuổi 40 sang tuổi 50 mà không hề có dấu hiệu gì củakhủng hoảng trung niên), MỤC ĐÍCH LÀ ĐIỂM ĐẾN (Tôi dường như chẳng bao giờđến được nơi tôi muốn trong đời), PHƯƠNG TIỆN LÀ LỐI ĐI (Trong đời nó, nó đitheo một con đường trái với thói thường)
Bốn là, ADYN có tính tầng bậc Các ph p đồ họa AD không tồn tại riêng biệt
mà được tổ chức theo một cấu trúc tầng bậc, trong đó các ADYN ở cấp độ thấp hơn(còn gọi là AD hạ danh) thừa hưởng cấu trúc của AD có cấp độ cao hơn (còn gọi là
AD thượng danh) Ví dụ (dẫn theo Lakoff và Johnson): TÌNH YÊU LÀ MỘT HÀNHTRÌNH và NGHỀ NGHIỆP LÀ MỘT HÀNH TRÌNH là các AD bậc dưới của CUỘCSỐNG LÀ MỘT HÀNH TRÌNH Đến lượt mình, CUỘC SỐNG LÀ MỘT HÀNHTRÌNH lại là bậc dưới của AD HÀNH ĐỘNG LÀ CHUYỂN ĐỘNG ĐƯỢC ĐỊNHHƯỚNG Cùng cấp với AD này là các ý niệm TRẠNG THÁI LÀ NƠI CHỐN,THAY ĐỔI LÀ CHUYỂN ĐỘNG, NGUYÊN NHÂN LÀ LỰC TÁC ĐỘNG, HÀNHĐỘNG LÀ CHUYỂN ĐỘNG TỰ ĐẨY, PHƯƠNG TIỆN LÀ ĐƯỜNG ĐẾN ĐÍCH
Năm là, ADYN có tính phổ quát Theo Lakoff và Johnson, ADYN có tính
phổ quát bởi nó phản ánh quá trình tri nhận để thu nhận hình ảnh của con ngườinên mặc dù có sự khác biệt văn hóa giữa các ngôn ngữ, ADYN dường như không
có sự khác biệt lớn AD được phản ánh qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dântộc, nên cấu trúc AD của những ý niệm cơ bản tương hòa với những giá trị vănhóa nền tảng nhất
Sáu là, ADYN có tính biến thiên văn hóa Đặc điểm này đã được các nhà NNH
thừa nhận trong quá trình nghiên cứu của mình Deignan và cộng sự cho rằng một
số ADYN có thể mang tính phổ quát nhưng không thể có một hệ thống ADYN và
AD ngôn ngữ hoàn toàn như nhau tồn tại ở hai nền ngôn ngữ - văn hóa Bên cạnh
đó, Boers và Kövecses cũng thừa nhận sự biến thiên văn hóa trong AD Nếu Boerskhẳng định sự biến thiên văn hóa thể hiện rõ ràng trong AD cấu trúc khi MN cụ thểhoặc chi tiết hơn MĐ thì Kövecses lại chỉ ra sự biến thiên văn hóa trong ADYNtheo 3 hướng: biến thiên trong phạm vi các ADYN, biến thiên theo mức độ chi tiếthóa các ADYN và biến thiên theo mức độ nhấn mạnh AD hoặc hoán dụ
B y là, ADYN có tính tư ng hòa văn hóa Nghĩa là các cấu trúc AD luôn phù
hợp với phong tục tập quán, hoạt động tinh thần hay phương thức tư duy của mộtcộng đồng văn hóa và phản ánh những đặc trưng đó Điều này đã được Lakoff và
Trang 33Johnson khẳng định trong cuốn Metaphors We Live by: ADYN được hình thành
dựa trên các trải nghiệm của con người với nền văn hóa nên các cấu trúc AD cơ bảnđều tương hòa với những giá trị tiêu biểu nhất của nền văn hóa đó
Các đặc điểm kể trên sẽ được vận dụng để lí giải sự tương đồng và khác biệtcủa ADYN trong các diễn ngôn của các bản tin y tế ở Chương 2 và 3 của luận án
1.2.1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm
Theo lý thuyết ADYN của ngôn ngữ học tri nhận, AD không đơn thuần là một
ph p tu từ mà còn là một công cụ tư duy, giúp ta hiểu một miền ý niệm này dựa trênmột miền ý niệm khác AD không chỉ tồn tại trong văn bản hàn lâm, học thuật, vănhọc mà còn trong tất cả các hoạt động hằng ngày của con người nhưng vì quá gắnchặt trong cuộc sống đời thường nên người sử dụng không nhận biết đó là ẩn dụ.Các ẩn dụ ý niệm trong hệ thống ý niệm của con người quả thật ảnh hưởng đến cáchcon người suy nghĩ, hiểu, nội suy trong các hoạt động của cuộc sống hàng ngày, vìthế “nhiều ý niệm, nhất là những ý niệm trừu tượng được cấu trúc và thể hiện dướidạng AD”
Lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận về ẩn dụ ý niệm là một lý thuyết phức tạp,trong đó AD gồm nhiều thành tố tương tác với nhau, bao gồm (1) MN và MĐ (2) cơ
sở trải nghiệm (3) các biểu đạt ngôn ngữ (4) các ánh xạ, yếu tố k o theo, vùng trộn và(5) các mô hình văn hóa Nói một cách cụ thể, các ADYN bao gồm một MN và mộtMĐ
Ý niệm (concept) và sự ý niệm hoá (conceptualization)
Trong NNH tri nhận, các ý niệm là cơ sở cấu thành nên các mô hình tri nhận.Trần Văn Cơ (2007) [5] cho rằng ý niệm được hình thành từ bên trong của ý thức,
tư duy của con người, “là đ n vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần
và của ngôn ngữ bộ não (lingua mentalis), của toàn bộ bức tranh thế giới được
ph n ánh trong tâm lý con người” Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá
thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới bởi cấu trúc nội tại của ý niệmbao gồm nội dung thông tin về thế giới hiện thực, thế giới tưởng tượng, mangnhững nét phổ quát và mặt khác chứa đựng tất cả những gì biến ý niệm trở thành sựkiện văn hoá, chứa đựng nét đặc trưng văn hoá - dân tộc Do vậy ý niệm mang tínhdân tộc sâu sắc, bao gồm ba thành tố chính: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc -hình tượng và thành tố văn hoá
Theo Lý Toàn Thắng (2009) [50] nhờ có hoạt động tri nhận dựa trên hiểubiết và kinh nghiệm từ đời này sang đời khác mà những ý niệm được hình thành
Ý niệm không những mang tính phổ quát mà còn mang tính tương đối, mang đặcthù của mỗi nền văn hoá - dân tộc do ý niệm gắn liền với nền văn hoá và ngôn
Trang 34ngữ của mỗi dân tộc nhất định “Bức tranh thế giới” đa dạng được hình thành dướinhững lát cắt khác nhau của mỗi cộng đồng dân tộc, phản ánh một cách tri giác và
ý niệm hoá thế giới nhất định Chính bởi ý niệm gắn liền với ngôn ngữ và vănhoá mà ý niệm được chia thành hai loại: những ý niệm phổ quát và những ý niệmđặc thù dân tộc
Xét về cấu tạo, ý niệm có cấu tạo đa chiều Ý niệm không tồn tại độc lập,riêng lẻ mà kết nối với nhau tạo thành một hệ thống ý niệm Trong mỗi hệ thống ýniệm lại bao gồm những ý niệm cơ sở và ý niệm thứ cấp Ranh giới giữa hệ thống các
ý niệm đôi khi không được phân định rõ, có sự chồng lấn giữa các ý niệm
Ý niệm hóa là quá trình hình thành ý niệm Theo Nguyễn Thiện Giáp, ýniệm phản ánh các thuộc tính và bản chất của sự vật trong não bộ của con người,được hình thành từ những khái quát trừu tượng Ý niệm hóa là quá trình phát triểncủa nhận thức từ cảm tính sang lý tính, từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng Nó cấu trúc các phương diện trong kinh nghiệm của con người và truyềntải các nội dung ngôn ngữ
Miền (domain) - miền nguồn (source domain) - miền đích (target domain) Miền là một khái niệm quen thuộc, được sử dụng rộng rãi Đặc điểm chung nhất của khái niệm miền là xác định một khu vực, một phạm vi, một vùng đặc hữu
cụ thể trong lĩnh vực nhất định nào đó
Theo Langacker (1987), miền nghĩa là: Miền là “những thực thể tri nhận như
tr i nghiệm tinh thần, không gian trình hiện, ý niệm, hoặc phức hợp ý niệm”.
Như vậy, có thể hiểu miền là tập hợp các ý niệm có liên quan đến một nộidung tinh thần như thực thể tri nhận, thuộc tính, quan hệ Các thực thể tri nhậnthường được thể hiện bằng danh từ, chúng tạo thành các nhóm riêng lẻ, mỗi nhóm
sẽ gồm một số thành viên với các thuộc tính tương đồng Các thuộc tính và quan hệtạo thành hệ thống các phương diện của miền ý niệm, được thể hiện trong ngôn ngữbằng các từ loại phổ biến là tính từ và động từ
Với NNH tri nhận, khái niệm MN (source domain) và MĐ (target domain)
là thuật ngữ quy chiếu tới các miền ý niệm Trong đó MN được khái quát như
sau: “MN bao gồm một tập hợp các thực thể ngôn từ, các thuộc tính, các quá trình và các quan hệ, được liên kết ngữ nghĩa và dường như được lưu trữ cùng nhau trong tâm trí Chúng được thể hiện trong ngôn ngữ bằng các từ và các BT liên quan, có thể xem như tổ chức trong các nhóm tư ng tự những nhóm được
mô t là “các hệ từ vựng” hay “các trường từ vựng” bởi các nhà NNH” [87].
Trang 35Như vậy, MN là miền ý niệm trong đó các thực thể, quan hệ, thuộc tính của MNđược ánh xạ tới MĐ giúp cụ thể hóa các thực thể, quan hệ, thuộc tính trong MN.
MN có chức năng cung cấp, chuyển gán tri thức mới cho các ý niệm MĐ MN,
có thể hiểu, là một tập hợp các thực thể trực quan, dễ nhận biết đã được ý niệmhóa trong tâm trí con người
Theo Alice Deignan [87], “MĐ có xu hướng trừu tượng và rút ra cấu trúc của mình từ MN thông qua liên kết AD hay “ADYN” MĐ do đó được cho là có quan hệ giữa các thực thể, các thuộc tính và các quá trình ở MĐ được từ hóa (bằng) việc sử dụng các từ và các BT liên quan của MN Các từ và các BT liên quan đó đôi khi được gọi là “AD ngôn ngữ” hay “BTAD” để phân biệt với ADYN” Ta thấy, trái
ngược với MN, MĐ lại mang tính trừu tượng, khó nhận biết và mới mẻ Bởi thế,
MN được dùng để ánh xạ, phóng chiếu đến các MĐ khác nhau giúp con người nhậnthức dễ dàng hơn khi tri nhận các khái niệm phức tạp ở MĐ
Hay, Kövecses (2002) [118] đã định nghĩa: “MN là miền ý niệm mà từ đó người ta rút ra các BTAD để từ đó có thể hiểu một miền ý niệm khác; MĐ là miền ý niệm được hiểu thông qua cách sử dụng của MN” So sánh giữa hai miền ý niệm,
có thể thấy MN cụ thể, được khắc họa rõ ràng, dễ nhận biết hoặc đã được ý niệmhóa trong tâm trí của con người; ngược lại, MĐ lại trừu tượng, khó xác định và cònkhá mới mẻ trong nhận thức và kinh nghiệm của con người
Như vậy, miền ý niệm có tính độc lập tương đối, tồn tại trong tinh thần conngười, còn MN - MĐ gắn chặt với ADYN Miền ý niệm trong những trường hợp cụthể có thể trở thành MN hoặc MĐ
Kövecses đã liệt kê 13 MN phổ biến nhất trong ADYN, bao gồm CƠ THỂCON NGƯỜI, SỨC KHỎE VÀ BỆNH TẬT, MÁY MÓC VÀ THIẾT BỊ, TRÕCHƠI VÀ THỂ THAO, NẤU NƯỚNG VÀ MÓN ĂN, CHUYỂN ĐỘNG VÀĐỊNH HƯỚNG… và 13 MĐ có xu hướng sử dụng ADYN để quy chiếu, bao gồmTÌNH CẢM, MONG MUỐN, ĐẠO ĐỨC, XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, CÁCQUAN HỆ CON NGƯỜI, GIAO TIẾP, THỜI GIAN, CUỘC SỐNG VÀ CÁICHẾT, TÔN GIÁO…
Các khái niệm này là căn cứ để luận án tìm hiểu về miền ý niệm BỆNH TẬT
và THỰC THỂ Y SINH và các MN, MĐ có liên quan tới miền ý niệm này theoquan hệ AD
Ánh xạ (mapping)
Theo Kövecses (2002) [118], trong cấu trúc ADYN, ánh xạ là “một hệ thống
cố định các tư ng ứng giữa các yếu tố hợp thành MN và MĐ”.
Trang 36Còn theo Lakoff (1987) [122] “Ánh xạ (mapping) là sự phóng chiếu giữa những yếu tố tư ng ứng của MN đến các yếu tố tư ng ứng của MĐ” Tên ánh xạ đã được
Lakoff công thức hoá “DOMAIN IS SOURCE-DOMAIN or DOMAIN AS SOURCE-DOMAIN” (“MIỀN ĐÍCH là MIỀN NGUỒN hoặc MIỀNĐÍCH như thể MIỀN NGUỒN”) Như vậy, các thuộc tính của MN được gán gh p,sao phỏng cho MĐ Từ đó, MĐ tiếp nhận một phần các thuộc tính của MN để tạo nêntri thức mới trong ý niệm
TARGET-Sơ đồ ánh xạ (mapping) trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm là một hệ thống cố định củacác tương ứng giữa các yếu tố hợp thành MN và MĐ Khi hệ thống các tương ứngnày được kích hoạt từ MN, các sơ đồ ánh xạ có thể phóng chiếu sang MĐ Bởi vậy,
để hiểu được một ADYN (conceptual metaphor) thì phải hiểu được hệ thống sơ đồ ánh
Ví dụ như trong mô hình AD “Bệnh tật là chiến tranh” bao gồm hai miền không
gian “nguồn” và “đích”, trong đó các n t thuộc tính từ không gian MN “Chiến tranh”được lựa chọn, chiếu xạ lên MĐ khiến MĐ “Bệnh tật” mang một số n t tri thức của
MN “chiến tranh” MĐ thâu nhận có chọn lọc và mang một số tri thức mới từ MN Qua
đó, ta có thể hình dung các tương đồng ánh xạ của AD BỆNH TẬT LÀ CHIẾNTRANH thông qua lược đồ hình ảnh như sau:
sinh/ liệu pháp y sinh
Vũ khí sử dụng trong cuộc chiến Thuốc/ các liệu pháp y sinh/ hệ miễn dịch
Chiến thuật trong chiến tranh Các phác đồ trong điều trị bệnh/ các liệu
pháp y sinh
dịch bệnh, cơ chế bảo vệ của hệ miễn dịch
Trang 37Ánh xạ trong ADYN có một số thuộc tính như sau:
- Thứ nhất, tính bộ phận của ánh xạ AD:
Theo Lakoff and Johnson (2003; tr.53), ánh xạ ẩn dụ mang tính bộ phận, cónghĩa là chỉ một số bình diện nhất định từ MN được kích hoạt và chiếu xạ lên MĐ,những phương diện còn lại bị ẩn, che giấu đi Hay nói cách khác, sự ánh xạ giữa A
và B chỉ mang tính bộ phận - tức là chỉ một bộ phận của ý niệm nguồn B được ánh xạlên ý niệm đích A và chỉ một phần ý niệm đích A được bao hàm trong sự ánh xạ từ ýniệm nguồn B bởi ADYN được hình thành nên nhờ rất nhiều sự ánh xạ khác nhau.Một số ý niệm ở MN được “làm nổi bật” - tức là được sử dụng và được kích hoạt
để giúp chúng ta hiểu miền ý niệm đích, những phương diện còn lại thì bị “chegiấu” đi Chính vì vậy, hai không gian nguồn và đích không đồng nhất tuyệt đối
mà chỉ đồng nhất bộ phận
Ví dụ: trong ADYN TẾ BÀO LÀ HÀNG HÓA, MĐ TẾ BÀO chỉ thu nhận một số thuộc tính của MN HÀNG HÓA như: vận chuyển, mất, chiếm đoạt, sở hữu, đánh cắp, có giá trị… ngoài một số n t thuộc tính này ra, nhiều thuộc tính khác của
HÀNG HÓA không tham gia vào việc cấu trúc nghĩa của ý niệm TẾ BÀO, chẳng
hạn: niêm phong, thanh lý, hoa hồng, quẹt thẻ, chuyển kho n, tăng giá, nâng giá ….
Tính bộ phận của ADYN làm cho hai không gian nguồn và đích không đồng nhấttuyệt đối mà chỉ đồng nhất bộ phận mà thôi
- Thứ hai, tính đơn tuyến trong ánh xạ AD:
Sơ đồ ánh xạ trong AD tuân theo nguyên tắc bất biến (Lakoff, 1987) [122]; cụthể, cấu trúc lược đồ hình ảnh của MN được phóng chiếu vào MĐ theo một phươngthức nhất quán với cấu trúc có s n và cố định của MN Các sơ đồ ánh xạ khôngmang tính quy ước mà bắt nguồn từ sự vận động của thân thể con người trongkhông gian, từ các trải nghiệm cá nhân và những hiểu biết trong đời sống sinh hoạthàng ngày của con người Ngôn ngữ học tri nhận chia sơ đồ ánh xạ thành hai loạicăn cứ vào quá trình tri nhận của con người: sơ đồ ánh xạ ý niệm và sơ đồ ánh xạhình ảnh
ADYN có tính đơn tuyến, tức là ánh xạ được cấu trúc từ MN sang MDnhưng không có chiều ngược lại Trong ADYN TẾ BÀO LÀ HÀNG HÓA, chỉ cócác thuộc tính của MN (hàng hóa) được ánh xạ sang MĐ (tế bào) chứ không có sự
cấu trúc ngược lại Ví dụ, MĐ tế bào có các thuộc tính như: sinh trưởng, sinh s n, hoạt động, giao tiếp, chu kì sống, chết… không thể ánh xạ sang cho MN hàng hóa được.
Trang 38Theo quan điểm của các nhà NNH tri nhận, sự ánh xạ giữa MN và MĐ thườngdựa trên sự tương đồng giữa hai miền “nguồn - đích”, những tương liên trong kinhnghiệm, sự tương đồng cấu trúc trong tri giác, những cội rễ sinh học và văn hóa màhai ý niệm cùng bắt nguồn Do đó, cơ sở tri nhận của ánh xạ ADYN là kinh nghiệmhay những nền tảng kinh nghiệm Khi x t về phương diện tương quan giữa các miền
ý niệm, một miền ý niệm đích có thể là một tổ hợp miền bởi vì phải có hàng chụcmiền ý niệm nguồn mới giúp chúng ta hiểu được các phương diện hay các miền
“con” của nó
Thuộc tính cuối cùng của ánh xạ là ánh xạ không mang tính quy ước mà nóxuất phát từ vận động của con người trong không gian, từ các trải nghiệm cá nhân
và nhận thức trong cuộc sống hằng ngày
Tóm lại, ánh xạ giúp tạo nên cấu trúc mới, lược đồ mới chưa tồn tại trước
đó trong MĐ do sự phản chiếu từ mô hình tri nhận của MN Việc xác lập được sơ
đồ ánh xạ giữa hai miền cho ph p chúng ta tìm hiểu về ADYN Sự ánh xạ từ MNđến MĐ thường có nền tảng là những tương liên trong kinh nghiệm, tương đồng cấutrúc trong tri giác, những cội rễ sinh học và văn hóa mà hai ý niệm hình thành
Lược đồ hình nh (Image schema)
Khái niệm lược đồ hình ảnh (hay còn gọi là sơ đồ hình ảnh) được các nhà NNHtri nhận như Lakoff & Johnson (2003) [129], Lakoff & Tuner (2009) [132], Kövecses(2005) [119] khái quát hoá như một miền cấu trúc tinh thần tượng trưng cho một khíacạnh cuộc sống mà thông qua đó các kiến thức hiện có cũng như những hiểu biết trongtương lai được bộc lộ
Cho đến nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa về lược đồ hìnhảnh Trong khi Neisser cho rằng trong quá trình nhận thức và vận động hàngngày, lược đồ cấu trúc cũng rất dễ thay đổi thì Lakoff (1987, tr.267) [122] định
nghĩa lược đồ hình ảnh “là các cấu trúc tư ng đối đ n gi n x y ra liên tục trong tr i nghiệm c thể hàng ngày của chúng ta… Những cấu trúc này có ý nghĩa trực tiếp, trước nhất, vì chúng được tr i nghiệm trực tiếp và lặp lại nhờ b n chất tự nhiên của c thể và cách thức hành chức của nó trong môi trường của chúng ta” Cùng
chia sẻ mối quan tâm, Evan và Green (2006, tr.300) nhận thấy lược đồ hình ảnh bắtnguồn từ sự tương tác của con người với thế giới khách quan, là cách con ngườikhám phá các vật thể vật lý bằng cách tiếp xúc với chúng, vì vậy, lược đồ hình ảnh
có thể được dùng như MN cho các ánh xạ AD
Trang 39Ý nghĩa của lược đồ hình ảnh được Lakoff & Johnson (2003) [129] vàKövecses (2006) [120] nhấn mạnh vì đây chính là minh chứng cho luận điểmánh xạ ADYN được phóng chiếu từ các miền trừu tượng đến các miền cụ thể.Được khái quát từ hình ảnh tái diễn trong thực tế, các lược đồ hình ảnh làm nềncho con người tích lũy kinh nghiệm và nhận thức thế giới Khi nhìn một cảnh vậtnào đó, con người tự nhiên tổ chức nó theo các lược đồ hình ảnh Bởi vậy ta có thểnhận thấy, các kinh nghiệm thân thể và kinh nghiệm không gian là cơ sở hìnhthành nên lược đồ hình ảnh bởi vậy nó có ý nghĩa trực tiếp với con người Ví dụnhư lược đồ “cỗ máy” hình thành từ việc chúng ta nhận thấy sự tương đồng về cơchế cấu tạo, vận hành của máy móc xung quanh và chính cấu tạo, chức năng của
Bởi thế, các nhà ngôn ngữ học tri nhận đã đưa ra khẳng định rằng lược đồhình ảnh trong trí não con người chính là những trải nghiệm cơ thể lặp đi lặplại thường xuyên tạo nên những cấu trúc tri nhận Việc hình thành nên các lược
đồ hình ảnh chính là những cấu trúc xuất hiện lặp đi lặp lại trong hoạt độngkinh nghiệm của con người, không phải dựa trên sự tương tự mà có cơ sở từ cáctương quan kinh nghiệm
Các cấp độ của ẩn dụ
Theo thuyết ADYN thì AD gồm hai cấp độ là AD cơ sở (primary metaphor)
và AD phái sinh (complex metaphor)
AD cơ sở xuất phát từ những trải nghiệm mang tính chủ quan của con người,phần lớn là vô thức và mang tính phổ quát Mỗi AD cơ sở có một cấu trúc tối thiểu,xuất hiện tự nhiên, tự động và vô thức thông qua kinh nghiệm hàng ngày theonguyên lý đồng nhất AD phái sinh được hình thành bởi sự kết hợp ý niệm Nhữngkinh nghiệm giai đoạn đầu mang tính phổ quát dẫn đến hiện tượng đồng nhất phổquát, các hiện tượng đồng nhất này phát triển thành các ADYN quy ước (dt Trần BáTiến, tr.29) [56]
Trang 40Ví dụ: Để hiểu được MĐ của ý niệm TTYS LÀ CON NGƯỜI, hàng loạtmiền ý niệm nguồn có thể cần huy động đến như: HÀNH ĐỘNG CỦA TTYS
LÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI, VÒNG ĐỜI SINH HỌC CỦA TTYS LÀVÒNG ĐỜI SINH HỌC CỦA CON NGƯỜI, TỐ CHẤT CỦA TTYS LÀ
TỐ CHẤT CỦA CON NGƯỜI Như vậy, dựa trên cấu trúc tri nhận cơ sở, ADgiúp chúng ta hiểu và diễn đạt một khái niệm trừu tượng thông qua một kháiniệm khác cụ thể hơn Đây là cơ chế quan trọng giúp chúng ta phát hiện và giảithích những lập luận phức tạp
1.2.1.3 Hiện tượng chồng lấn ẩn dụ
Lakoff and Johnson (2003) [129] cho rằng cấu trúc ẩn dụ của một kháiniệm cho phép chúng ta xử lý một khía cạnh của khái niệm Như vậy, một ẩn dụhoạt động khi nó thỏa mãn một mục đích, cụ thể là hiểu một khía cạnh của kháiniệm Khi hai ẩn dụ thỏa mãn thành công hai mục đích, thì sự trùng lặp về mụcđích sẽ tương ứng với sự trùng lặp về ẩn dụ Những chồng chéo như vậy có thểđược đặc trưng hóa dưới dạng các hệ quả ẩn dụ được chia sẻ và các tương ứngchồng lấn ẩn dụ do chúng thiết lập Các cơ chế tạo nên hiện tượng chồng lấn ẩn
dụ thường chia làm 2 dạng: (i) có nhiều phép ẩn dụ cùng cấu trúc nên một kháiniệm duy nhất và (ii) khi thảo luận về một khái niệm, chúng ta sử dụng các kháiniệm khác mà bản thân chúng được hiểu theo nghĩa ẩn dụ Từ đó dẫn đến sựchồng chéo của các ẩn dụ ý niệm
Lakoff and Johnson (2003) [129] cho rằng, các ẩn dụ khác nhau có thể cấutrúc các khía cạnh khác nhau của một khái niệm duy nhất, ví dụ, TÌNH YÊU LÀMỘT CUỘC HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ CHIẾN TRANH, TÌNH YÊU LÀMỘT LỰC LƯỢNG VẬT LÝ, TÌNH YÊU LÀ SỰ ĐIÊN RỒ Mỗi trong số nàycung cấp một quan điểm về khái niệm TÌNH YÊU và cấu trúc một trong nhiềukhía cạnh của khái niệm Khi một MĐ được giải thích bởi nhiều MN, tức nhiều ph
p ẩn dụ khác nhau cùng nhằm giải thích, làm rõ một ý niệm đích thì khi đó xảy rahiện tượng chồng lấn ẩn dụ Một tập hợp các MN cùng được huy động để làm rõmột MĐ được gọi là Ma trận miền Cụ thể như MĐ “tranh luận” được làm rõ bởihàng loạt ánh xạ từ các MN: hành trình, toà nhà, thùng chứa, chiến tranh… khi
đó, các ý niệm TRANH LUẬN LÀ HÀNH TRÌNH, TRANH LUẬN LÀ TOÀNHÀ, TRANH LUẬN LÀ THÙNG CHỨA, TRANH LUẬN LÀ CHIẾN
TRANH “chồng” lên nhau và trộn với nhau theo cách chúng thực hiện Điều này