1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Phát triển nông thôn: Phần 2 - TS. Nguyễn Quang Phục

166 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Phát Triển Nông Thôn Qua Các Thời Kỳ Và Một Số Kinh Nghiệm Quốc Tế
Trường học Trường Đại học Nông Lâm
Chuyên ngành Phát triển nông thôn
Thể loại Giáo trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5.1.1 Chính sách phát triển nông thôn giai đoạn 1950-60 Chính sách phát triển những năm 1950 và những năm đầu thập kỷ 60 tập trung vào công nghiệp hóa, sử dụng những chiến lược và phương

Trang 1

Chương 5 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

QUA CÁC THỜI KỲ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

5.1 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN QUA CÁC

THỜI KỲ

Từ những năm 1950, thế giới từng chứng kiến nhiều sự thay đổi

nhanh chóng về điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội ở các nước đang

phát triển Theo đó, mục tiêu, chiến lược và phương pháp phát triển

nông thôn cũng không ngừng thay đổi để phù hợp với xu hướng phát

triển chung Phần này sẽ tóm tắt lại quá trình thay đổi của các quan điểm

và học thuyết về sự phát triển, và những đổi thay này đã ảnh hưởng như

thế nào đến chương trình và chính sách phát triển nông thôn của các

nước Thế giới thứ ba

Nhận thức và quan điểm của chính phủ các nước và các kế hoạch

gia thay đổi như thế nào cũng sẽ được thảo luận trong phần này Từ một

tiến trình đơn giản chuyển giao công nghệ và tư bản đến các vùng nông

thôn, ngày nay phát triển được xem là một quá trình chuyển biến xã hội

quan trọng Để đạt được sự bền vững nó đòi hỏi có sự tham gia của

người dân (Ellis và Biggs, 2001)

Mục tiêu:

Sau khi nghiên cứu chương này, người học sẽ:

1 Hiểu và phân tích chính sách phát triển nông thôn qua các thời kỳ

2 Hiểu, phân tích và vận dụng kinh nghiệm phát triển nông thôn

của các nước phát triển như Nhật Bản, Cộng đồng châu Âu vào điều

kiện thực tế tại Việt Nam

3 Hiểu, phân tích và vận dụng kinh nghiệm phát triển nông thôn

của các nước đang phát triển như Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc

vào điều kiện thực tế tại Việt Nam

Trang 2

5.1.1 Chính sách phát triển nông thôn giai đoạn 1950-60

Chính sách phát triển những năm 1950 và những năm đầu thập kỷ

60 tập trung vào công nghiệp hóa, sử dụng những chiến lược và phương pháp đã từng được sử dụng thành công trong công cuộc tái thiết đất nước ở các nước châu Âu bại trận trong chiến tranh Thế giới thứ II Mục đích là nhằm tăng nhanh tổng sản phẩm quốc dân và tăng trưởng kinh

tế thông qua việc chuyển giao kỹ thuật của châu Âu và tư bản đến với người dân địa phương Trong giai đoạn này, các nhà kinh tế và kế hoạch gia giữ vị trí hàng đầu trong việc lập các chính sách và kế hoạch hóa các chương trình phát triển

Giả sử căn bản là tăng trưởng kinh tế sẽ diễn ra nếu thực hiện kế hoạch hóa và điều tiết nền kinh tế từ trên xuống Một giả thuyết căn bản khác cho rằng tư bản là đầu vào chính yếu của quá trình phát triển Hy vọng rằng ích lợi của tăng trưởng kinh tế sớm hay muộn cuối cùng cũng

rỉ tới (trickle-down) với đại bộ phận dân chúng nghèo khổ Vì vậy, trong giai đoạn này những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn và lao động, phụ thuộc vào nhập khẩu và định hướng xuất khẩu được thúc đẩy Chi phí công cộng - phần lớn từ viện trợ nước ngoài - tập trung cho phát triển cơ

sở hạ tầng (giao thông vận tải, điện năng, cảng biển, nhà máy công nghiệp)

để có thể hạ thấp chi phí sản xuất và cải thiện điều kiện phân phối Bởi vì chiến lược chủ yếu là chuyển giao nguồn lực từ cấp quốc gia/nguồn viện trợ nước ngoài đến cấp địa phương, nên sự tham gia của người dân chú trọng đến việc thiết lập sự chắc chắn và thống nhất về mục tiêu Phương pháp phát triển từ trên xuống (top-down) này không xem trọng giá trị và kiến thức bản địa trong phát triển nông thôn

5.1.2 Chính sách phát triển nông thôn trong những năm 60

Chính sách phát triển trong những năm 1960 nhắm vào những khu vực trọng yếu mà được xem là những trở ngại đối với tăng trưởng kinh

tế Giai đoạn này tập trung giảm nghèo ở khu vực nông thôn bằng cách nâng cao sản lượng nông nghiệp mà tiêu biểu là cuộc Cách mạng Xanh Đối với phương pháp phát triển, chuyển giao công nghệ là chiến lược quan trọng, đầu tư nguồn lực tài chính và kỹ thuật dồi dào cho

Trang 3

nghiên cứu phát triển nông nghiệp, đào tạo, tín dụng, hợp tác xã mua bán và chương trình khuyến nông Cũng như thế, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ cũng nhằm phục vụ cho người dân

Khung 5-1 Cách mạng xanh - thành tựu và những hệ lụy

Cuộc Cách mạng Xanh, tức cuộc cách mạng trên lĩnh vực nông nghiệp,

đã bắt đầu từ thập niên 50 và 60 thế kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới,

trong đó có hai trung tâm của cuộc cách mạng này, vừa diễn ra sớm

vừa đạt được hiệu quả cao, đó là Mê-hi-cô và Ấn Độ Thực chất của

cuộc Cách mạng Xanh là bằng các biện pháp kỹ thuật, nhất là phân bón

và thuốc trừ sâu và việc cung cấp giống mới bằng lai tạo, đã làm tăng

năng suất đáng kể cho các loại cây trồng, nhất là lúa mì và lúa gạo

Ở Ấn Độ, nhờ tạo ra các giống lúa IR8 có năng suất 8 tấn - 10 tấn/ha,

nhiều giống hàm lượng dinh dưỡng cao, nên năng suất lương thực của

nước này tăng lên gấp 2 - 3 lần, từ 20 triệu tấn lên 60 triệu tấn/năm

Một số giống lúa mì, ngô có năng suất cao cũng được Ấn Độ tạo ra hay

nhập từ Mê-hi-cô, tạo nên sản lượng lúa mì và ngô của cả nước rất cao

Cách mạng Xanh đã khiến nước này cùng với nhiều nước khác ở châu

Á và châu Phi thoát khỏi nạn đói, hơn thế nữa, nó còn tạo ra nguồn

lương thực dồi dào để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước

Nhờ tăng năng suất cây trồng, ở Mỹ, nếu vào năm 1945 một lao động

trong nông nghiệp chỉ đáp ứng được nhu cầu về lương thực cho 14,6

người, thì năm 1977 con số đó đã tăng lên 56 người, khiến tỷ lệ lao

động trong nông nghiệp chỉ còn 4,5% tổng số lao động của nước này

Cùng với cuộc Cách mạng Xanh này, đã hình thành nên hai tổ chức

nghiên cứu quốc tế, đó là Trung tâm Cải tạo giống ngô và lúa mì ở Mê-hi-cô (CIMMYT) và Viện Nghiên cứu về lúa ở Phi-lip-pin (IRRI)

và Ấn Độ (IARI)

Ở Việt Nam, sản xuất nông nghiệp vào các thập niên 70 - 80 cũng chịu

những ảnh hưởng của Cách mạng Xanh Đặc biệt chính sách khoán hộ

được triển khai từ sau năm 1986 đã tạo nên sức phát triển cao của nông

nghiệp, với tổng sản lượng lương thực của cả nước tăng lên hơn 2 lần

Đất nước không chỉ bảo đảm được an ninh lương thực, mà còn trở thành

nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới, chỉ sau Ấn Độ

(Nguồn: Ngô Minh Khánh, 2008)

Trang 4

Người đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn này là các chuyên

gia chuyên ngành, các nhà kế hoạch hóa chương trình nhắm vào phân

phối lại những tài sản sản xuất, phát triển nguồn nhân lực, điều tiết tăng

trưởng dân số, và nâng cao khả năng sản xuất của những khu vực tụt

hậu trong nền kinh tế

Sự tham gia của người dân được thúc đẩy bằng cách cung cấp

thông tin cho họ để tranh thủ sự ủng hộ của họ đối với những chương

trình này Tuy nhiên, kinh nghiệm và tập quán canh tác của người dân

bản địa được coi là lạc hậu, là trở ngại cho sự phát triển; và vì vậy, cần

được trung hòa bằng cách giới thiệu những công nghệ nông nghiệp hiện

đại Chiến lược chuyển giao công nghệ này dựa vào hai giả thuyết: (i) Nông dân có thể tiếp cận nhanh chóng những giống mới; và (ii) Thu

thập của họ có thể tăng lên

5.1.3 Chính sách phát triển nông thôn những năm 70

Những năm 1970 khởi xướng những chính sách phát triển nông

thôn tìm kiếm tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Bản chất,

phương hướng và ý nghĩa của những thay đổi về mặt xã hội được chú

trọng ngang bằng (nếu như không muốn nói là hơn) so với cấp độ tăng

trưởng kinh tế Những thay đổi căn bản này trong chính sách phát triển

bắt nguồn từ chỗ nhận thức rằng, phát triển nông thôn không phải là vấn

đề kinh tế kỹ thuật đơn thuần, và những khó khăn ở các nước phát triển

thực sự khác biệt với những khó khăn của các nước đang thực hiện công

nghiệp hóa

Vì vậy, những chương trình phát triển nông thôn thường tập trung

giải quyết những nhu cầu cơ bản ở những nước đang phát triển, và nhắm

tới cải thiện tình trạng thu nhập và mức sống của những người nghèo

nhất trong cộng đồng những người nghèo ở nông thôn Phương pháp

này nhấn mạnh đến sự thống nhất, đồng tâm đồng lực của người nghèo

như là những thành viên tích cực tham gia vào tiến trình phát triển, khuyến khích người dân tham gia bằng cách nâng cao sự hiểu biết

của họ

Trang 5

Những người lập và thực hiện kế hoạch bắt đầu làm việc gần gũi hơn với cộng đồng địa phương trong việc thiết kế và quản lý các dự án phát triển nông thôn Chiến lược phát triển được xây dựng trên cơ sở đánh giá thực trạng môi trường tự nhiên, chính trị, kinh tế và văn hóa/truyền thống của cộng đồng và tham khảo ý kiến của cộng đồng nơi

kế hoạch sẽ được triển khai Các nhà quản lý và nhân viên phát triển cộng đồng trở thành những nhân vật chính yếu trong phương pháp phát triển dựa vào cộng đồng này

5.1.4 Chính sách phát triển nông thôn giai đoạn 1980-90

Trong những năm 1980, người ta thừa nhận rằng phát triển nông thôn là một tiến trình phức tạp, nó đòi hỏi: (i) Sự thống nhất đồng bộ của nhiều chương trình, nhiều ngành và nhiều tổ chức; (ii) Sự tham gia thực sự có ý nghĩa và cần có sự tham gia nhiều hơn nữa của người dân;

và (iii) Cần phải đào tạo quản lý và liên kết hỗ trợ có hiệu lực giữa các chương trình và các hoạt động cấp quốc gia, cấp tỉnh, và cấp địa phương Phát triển nông thôn được xem không chỉ là một quá trình cung cấp dịch vụ và chuyển giao nguồn lực đơn thuần mà nó được thừa nhận như là một tiến trình chính trị đòi hỏi những thay đổi về cấu trúc để cho người nghèo trở nên năng động hơn, bình đẳng hơn và tự quản lý Các chuyên gia về quản lý và chính trị đóng vai trò quan trọng trong giám sát và thực hiện có hiệu quả những chương trình phát triển theo quan điểm này Những chương trình này ngày càng thuộc về sự giám sát và quản lý của những người bán chuyên nghiệp và các nhân viên nhà nước địa phương Việc phân quyền trong quản lý, bao gồm cả những cơ chế quản lý, bắt đầu dựa vào và thích nghi với văn hóa và phong tục của địa phương Sự tham gia của người dân được xem như là một quá trình xây dựng năng lực, mà thông qua đó các tổ chức địa phương hoạt động như là những đơn vị phát triển tự chủ Ngoài ra, chiến lược phát triển này nhấn mạnh đến mối quan hệ bình đẳng giữa khu vực tập thể và tư nhân Các tổ chức phi chính phủ (non-gorvenment

Trang 6

organiations) và các tổ chức tư nhân tự nguyện đóng vai trò ngày càng lớn trong việc thúc đẩy và thực hiện các dự án phát triển nông thôn Việc khuyến khích sự ra đời của các tổ chức nhân dân tự quản đòi hỏi sự giúp đỡ tích cực của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ tham gia vào phát triển nông thôn Điều này giúp các tổ chức tự quản tổ chức

và phát triển năng lực của họ nhằm tiến hành những can thiệp có hiệu quả trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và gặt hái thành quả lao động của họ Trong bối cảnh này, sự bền vững của các hoạt động phát triển phụ thuộc vào việc khuyến khích và phát huy những giá trị văn hóa cũng như kiến thức và nguồn lực bản địa - như là nguồn năng lượng chính yếu của quá trình phát triển

5.1.5 Chính sách phát triển nông thôn giai đoạn hiện nay

Theo Ellis và Biggs (2001), từ cuối thập niên 1990 cho đến những năm 2000, phát triển nông thôn lại gắn với mục tiêu giảm nghèo của các quốc gia dựa trên phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Approach - SLA) Về mặt khái niệm, cách tiếp cận này có nguồn gốc từ các nghiên cứu phát triển liên quan đến đói nghèo và giảm nghèo, nổi bật nhất là các phân tích của Amartya Sen (1981) và Robert Chambers (1983) và một số học giả khác SLA đã trở thành một phương pháp tiếp cận thống trị trong quá trình thực hiện những can thiệp phát triển của các tổ chức quốc tế như Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP), Tổ chức quốc tẾ về chống nghèo đói và bất công (Oxfam), Viện quốc tế về phát triển bền vững (IISD),

Bộ phát triển quốc tế của Anh (DFID), Viện nghiên cứu phát triển (IDS)

và nhiều tổ chức khác

Tuy nhiên, quan điểm phát triển nông thôn đã có nhiều thay đổi

kể từ thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI Giai đoạn này, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ Sự phát triển của nông thôn luôn chịu ảnh hưởng bởi nhiều bên liên quan (nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, các nhà khoa học), và luôn có mối liên hệ với

Trang 7

nhiều cấp độ khác nhau (nông thôn – nông thôn, nông thôn – thành thị, quốc gia – khu vực, quốc tế) và bởi cả yếu tố khách quan (khí hậu, nguồn nước, tài nguyên đất) Vì vậy, hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu là hai chủ đề được quan tâm hàng đầu trong các chương trình phát triển nông thôn hiện nay

Bảng 5-1 Sự thay đổi trong chính sách phát triển nông thôn

cơ bản Ứng dụng Cách mạng Xanh

Chính sách tín dụng Chính sách nông nghiệp

Điều chỉnh cấu trúc Thị trường tự do

Tự quyết định giá cả Tăng cường vai trò của NGOs

Trang 8

Đánh giá nhanh nông thôn (RRA)

Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp

Chú trọng đến an ninh lương thực Giới trong phát triển (WID)

Giảm nghèo

Tài chính vi mô Phương pháp đánh giá nông thôn có

sự tham gia (PRA) Quan tâm đến các đối tượng liên quan Giới và phát triển (WAD)

Môi trường và sự phát triển bền vững Giảm nghèo

Sinh kế bền vững Quản trị tốt Phân quyền Tăng cường sự tham gia Hội nhập quốc

tế Thích ứng với BĐKH

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Trang 9

Bảng 5-2 Các chủ đề chủ yếu và trình tự trong phát triển nông thôn

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Hiện đại hóa, kinh tế hai khu vực

Các mô hình chủ đạo và sự chuyển đổi

Tăng năng suất và hiệu quả của nông trại nhỏ

Quá trình, tham gia, trao quyền

Sinh kế bền vững

Một số chủ đề phát triển nông thôn phổ biến

Phát triển cộng đồng

Tăng trưởng nông trại nhỏ

Phát triển nông thôn hỗn hợp

Tự do hóa thị trường

Tham gia

Giảm nghèo Hội nhập quốc tế Biến đổi khí hậu

Trang 10

5.2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 5.2.1 Kinh nghiệm của các nước phát triển

Việc tổng kết kinh nghiệm phát triển nông thôn của các quốc gia trên Thế giới có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các nước đang phát triển, vốn có điểm xuất phát rất thấp – dựa trên nền tảng sản xuất nông nghiệp và nền kinh tế nông thôn Mặc dù bối cảnh chính trị, kinh tế và

xã hội giữa các quốc gia có sự khác nhau, nhưng những bài học kinh nghiệm được rút ra từ những chính sách phát triển nông thôn thành công trên thế giới cũng có thể giúp cho các quốc gia đang phát triển tìm ra được hướng đi phù hợp, hạn chế những thất bại đã được chỉ ra, và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nông thôn

a) Kinh nghiệm phát triển nông thôn của Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, diện tích nhỏ, dân số lớn, song quốc gia này đã có sự phát triển vượt bậc, trở thành nước có nền kinh tế lớn mạnh, đứng thứ 3 trên thế giới với nền nông nghiệp hiện đại Đời sống nông dân được bảo đảm, các chính sách an sinh xã hội phát triển Hiện nay, chỉ có khoảng 3% dân

số Nhật làm nông nghiệp nhưng đã cung cấp lương thực, thực phẩm chất lượng cao, đảm bảo cho hơn 127 triệu người dân, đồng thời xuất khẩu nhờ nền nông nghiệp công nghệ cao với chuỗi giá trị hiệu quả (Gia Linh, 2019)

Quá trình đi lên trở thành nước có nền nông nghiệp hàng đầu thế giới của Nhật Bản bắt đầu từ những thay đổi ở tầm chính sách vĩ mô từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II Nhật Bản đã đi từ các bước đầu tiên

là cải cách đất nông nghiệp để xây dựng nhà nông tự chủ (trong 16 năm), thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ lúa sang sản phẩm có nhu cầu ngày càng cao trên cơ sở luật pháp (trong 30 năm) Từ những năm

90 của thế kỷ XX, Nhật Bản áp dụng mạnh hơn nguyên lý thị trường trong sản xuất nông nghiệp, bảo đảm hài hòa với đời sống nông thôn

Trang 11

Đặc biệt từ năm 2000 trở đi, Nhật Bản thực hiện theo chính sách nông nghiệp “Takebe” (tên của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp giai đoạn này) hướng tới mục tiêu cung cấp lương thực ổn định, ban hành luật pháp về

an toàn thực phẩm, luật pháp về giáo dục chế độ ăn uống, bảo đảm hài hòa giữa thành thị và nông thôn, môi trường nông thôn gần gũi với tự nhiên và xác lập cơ cấu nông nghiệp do doanh nghiệp nông nghiệp hoạt động hiệu quả (Trần Tiến Khai, 2015; Gia Linh, 2019)

Để có được sự thành công trong phát triển nền nông nghiệp gắn với nông thôn và nông dân, Nhật Bản đã xác định gia tăng giá trị cho người nông dân là nhiệm vụ quan trọng Ở mỗi giai đoạn, khi đứng trước những vấn đề mới, phức tạp… Chính phủ Nhật Bản đã giải quyết khá thành công thông qua việc ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp, như chính sách về đất đai, đầu tư, tín dụng, lao động, khoa học công nghệ và phát triển nông thôn Cụ thể, ngay từ khi cải tạo đất nông nghiệp, Chính phủ đã đưa máy móc cỡ lớn vào canh tác để nhà nông có nhiều thời gian nhàn rỗi, làm thêm nghề phụ hoặc làm cho các nhà máy Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản khuyến khích người nông dân tham gia hợp tác xã để đủ tài chính sở hữu các kho trữ lạnh, bảo quản tốt nông sản khi tới tay người tiêu dùng Từ đó nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp

Ngày nay, với tâm thế biến nông nghiệp thành ngành công nghiệp thứ 6 tại Nhật Bản, Chính phủ đã tạo cơ chế để không chỉ sản xuất thông thường mà còn gia công, chế biến nhiều sản phẩm khác nhau (kể cả sản phẩm du lịch) từ một loại nông sản Theo đó, các ý tưởng, hình thức triển khai các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp được xuất phát từ việc tìm hiểu và đưa ra các cơ chế biến ý tưởng thành khả thi, xem xét các chính sách khi được ban hành sẽ có lợi cho ai, thực hiện chuyển dịch lực lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp thành lợi thế của nhà nông và duy trì đất nông nghiệp tối ưu, đa dạng để nông thôn ngày càng phát triển, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu trong việc áp dụng công nghệ cao để sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng nông thôn (Gia Linh 2019; Ngọc Bảo, 2019)

Trang 12

Phương thức thực hiện và kết quả đạt được

Nhờ việc áp dụng và triển khai nhiều chính sách tam nông phù hợp, nền nông nghiệp Nhật Bản đang đứng hàng đầu thế giới về chất lượng và sản lượng Thu nhập và đời sống của người dân nông thôn ngày càng trở nên sung túc, giàu có hơn Kể từ năm 1996, thu nhập của nông dân đã cao hơn thu nhập của công nhân Các nhà nghiên cứu chính sách đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm dẫn đến sự thành công đó, bao gồm:

- Chính sách "ly nông bất ly hương” Nhật Bản đã thực hiện thành

công bằng việc áp dụng hai nhóm chính sách: tăng cường đầu tư cơ sở

hạ tầng để phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp lớn

về nông thôn để tạo sự gắn bó hài hòa phát triển nông thôn với phát triển công nghiệp, rút ngắn khoảng cách về mức sống giữa đô thị và nông thôn Đây là một thành công chưa từng có ở các nước công nghiệp hóa trước đây và đây cũng là thách thức lớn cho mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa (Gia Linh, 2019) Ở Nhật Bản, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến nông sản mà cả các ngành cơ khí, hóa chất đều được phân bố đều trên toàn quốc Từ khi bắt đầu công nghiệp hóa (năm 1883), 80% nhà máy quy mô lớn đã được xây dựng ở nông thôn; 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, và năm

1960 tỷ lệ này tăng lên 66% Nhờ chủ trương này mà ngành công nghiệp

sử dụng được một nguồn lao động rẻ từ nông thôn và dân cư nông thôn

có việc làm và đem lại thu nhập cao (Bảo Ngọc, 2019)

- Phát triển các hợp tác xã và tổ chức kinh tế dịch vụ Ở Nhật Bản,

hợp tác xã (HTX) có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nông nghiệp Đây là tổ chức được thành lập gắn liền với các hoạt động, đời sống của nông dân nhằm mục đích cải thiện đời sống nông dân Chính phủ Nhật Bản rất coi trọng thể chế HTX và ban hành nhiều chính sách

phát triển, mở rộng

HTX nông nghiệp được xây dựng trên nền tảng làng xã nông thôn Nhật Bản Trong mỗi làng xã, mối quan hệ đa dạng đã tồn tại từ rất lâu

Trang 13

giữa các gia đình, giữa những người nông dân Tận dụng ưu điểm này, HTX nông nghiệp được xây dựng trên cơ sở cộng đồng nông thôn để tạo quan hệ cộng đồng vững chắc Đó là một tổ chức bao quát các vấn

đề về nông nghiệp, nông thôn và hộ nông dân Tổ chức này được phân thành 3 cấp quản lý: cấp cơ sở, các liên đoàn cấp tỉnh và cấp trung ương; tạo thành một bộ máy thống nhất từ trung ương đến địa phương Hiện nay, trên 99% số hộ nông dân ở Nhật Bản đều trực thuộc tổ chức này Thông qua sức mạnh tập thể, mạng lưới HTX phân bố khắp cả nước đã cung cấp cho nông dân những dịch vụ nhanh chóng, chu đáo, hiệu quả (Trần Tiến Khai, 2015)

Một điểm nổi trội trong mô hình HTX nông nghiệp tại Nhật Bản

đó là mối liên kết giữa các bên liên quan rất chặt chẽ Cụ thể, các nhà

khoa học, doanh nghiệp và HTX phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân Đến nay, toàn

bộ nông dân Nhật Bản có thể tự cập nhật và chia sẻ các thông tin về giá

cả thị trường nông sản, dự báo thời tiết, sự đổi mới và tiến bộ khoa học

- kỹ thuật, thông qua một nền tảng trực tuyến kết nối các cá nhân với HTX Các HTX cũng hợp tác với các trường đại học và thành lập một liên minh gọi là “Liên đoàn Đại học HTX” (NFUCA) với sự tham gia của sinh viên, giảng viên của các trường vừa là người tiêu thụ nông sản

do HTX sản xuất, đồng thời quảng bá, đào tạo các công nghệ mới và liên kết thực hiện các nghiên cứu ứng dụng

Ngoài ra, các HTX Nhật Bản luôn có cơ chế mở trong kết nạp thành viên, đặt chất lượng sản phẩm lên hàng đầu và xây dựng thương hiệu quốc tế Đầu những năm 2000, các HTX đã mở rộng đối tượng thành viên, cho phép các công ty tư nhân và công ty nước ngoài gia nhập HTX để chuyên nghiệp hóa các hoạt động thương mại và marketing sản phẩm Tất cả các nông sản sản xuất bởi HTX nông nghiệp đều phải đảm bảo một quy chuẩn chất lượng chung (nông nghiệp 3H - Healthy, High quality, High technology - sức khỏe, chất lượng cao, công nghệ cao), được gắn cùng một nhãn hàng “JA” và có thể cạnh

Trang 14

tranh trên thị trường quốc tế Những nông dân tiên phong trong việc sản xuất sản phẩm nông nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế không phải lo lắng

về đầu ra sản phẩm, họ thường được ký hợp đồng bán sản phẩm cho các doanh nghiệp thu mua, chế biến và tiêu thụ với giá thành cao hơn Các HTX nông nghiệp đã hỗ trợ họ bằng cách cho vay vốn với lãi suất thấp

và tiến hành tiếp thị theo nhóm ở cấp độ làng xã (Bảo Ngọc, 2019)

- Xây dựng phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” Trong phong

trào xây dựng làng xã ở Nhật Bản, nổi bật nhất và có tầm ảnh hưởng nhất đến các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước châu Á và châu Phi là phong trào “mỗi làng một sản phẩm” (OVOP) do giáo sư Hiramatsu Morihiko, Chủ tịch tỉnh Oita khởi xướng năm 1979 (Trần Tiến Khai, 2015) Phong trào OVOP được xây dựng dựa trên ba nguyên

tắc chính:

Một là “Từ địa phương tiến ra toàn cầu” Nguyên tắc này thể hiện

mục tiêu cao nhất của sản xuất nông nghiệp Nhật Bản là chiếm lĩnh thị trường nông sản Thế giới Sản phẩm của OVOP được xác định ngay từ đầu là không những phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng tại địa phương, trong nước mà còn để cạnh tranh với sản phẩm của các nước khác trên thị trường quốc tế Do đó, chất lượng nông sản phải không ngừng được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu và tiêu chuẩn trong nước cũng như quốc tế OVOP không chỉ áp dụng trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn phát triển trong lĩnh vực khác như du lịch, văn hóa của địa phương

Hai là,“Tự tin - Sáng tạo” Phong trào OVOP quan tâm đến tất

cả các khâu của chu trình sản xuất - tiêu thụ sản phẩm nhằm khuyến khích những cách làm sáng tạo, bao gồm nghiên cứu mẫu mã, chất liệu, quy cách đóng gói bao bì; cách tiếp thị, quảng bá, đưa sản phẩm ra thị trường sao cho ấn tượng, thu hút khách hàng

Ba là, “Tập trung phát triển nguồn nhân lực” Tại Nhật Bản, nông

dân không những được đào tạo bài bản, có kiến thức về sản xuất nông nghiệp, hiểu biết sâu về sản phẩm, ứng dụng thành thạo khoa học - kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất hàng hóa, họ còn được cung cấp

Trang 15

những kiến thức về kinh doanh, về nghệ thuật marketing để có thể tự xây dựng các chiến lược kinh doanh, cạnh tranh sản phẩm của mình Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” đã đạt được nhiều thắng lợi rực rỡ Tâm điểm của phong trào là địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; tự chủ sáng tạo; và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, xúc tiến thương mại Thực chất của phong trào này là mô hình phát triển kinh tế khu vực, lấy các khu vực hành chính và sản phẩm đặc trưng của địa phương làm nền tảng dưới

sự định hướng và giúp đỡ của chính quyền các cấp Sự thành công này nhìn chung thể hiện ở ba điểm sau đây:

Một là, xóa bỏ khoảng cách giữa thành thị và nông thôn Sự khác

biệt về kết cấu hạ tầng sản xuất và đời sống giữa nông thôn và thành thị là không đáng kể

Hai là, tăng thu nhập cho người nông dân, thu nhập bình quân của

hộ gia đình đạt 5,5 triệu Yên, tương đương 44 nghìn USD/năm, trong đó thu nhập phi nông nghiệp chiếm 86%

Ba là, mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm phi nông nghiệp tại

khu vực nông thôn, kích thích nhu cầu tiêu dùng ở nông thôn theo hướng

đa dạng, chất lượng

Các kinh nghiệm dẫn đến thành công ở Nhật Bản rất rõ ràng, song điều quan trọng là rút ra bài học gì trong chính sách phát triển nông thôn

ở Việt Nam Sau đây là một số bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn phát triển nông thôn tại Nhật Bản:

Thứ nhất, để xây dựng nông thôn mới đạt được hiệu quả, cần phát huy tối đa vai trò chỉ đạo của Nhà nước Mục tiêu cuối cùng của công

cuộc xây dựng nông thôn mới là rút ngắn khoảng cách giữa thành thị

và nông thôn, xây dựng bộ mặt nông thôn hiện đại, đem lại lợi ích cho đông đảo nông dân Chính phủ cần chú ý phát huy vai trò chủ đạo của

Trang 16

Chính phủ trong các phương diện hoạch định chính sách, phân bổ nguồn tài nguyên, đầu tư xây dựng, để công cuộc xây dựng nông thôn mới được tiến hành một cách thuận lợi trong môi trường chính

sách phù hợp

Thứ hai, lấy phát triển kinh tế nông thôn, tăng thu nhập cho người

nông dân làm cốt lõi Hiện nay, thu nhập của nông dân Việt Nam còn

thấp, do nguồn thu chủ yếu từ nông nghiệp Kinh nghiệm của Nhật Bản

là cần tăng cường đổi mới khoa học, công nghệ trong nông nghiệp, đẩy

mạnh phát triển nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp đặc sắc, tạo nhiều

cơ hội việc làm nhằm tăng nguồn thu cho nông dân; tạo dựng môi

trường tiêu dùng thích hợp, nâng cao chất lượng sống và mức tiêu dùng

của nông dân

Thứ ba, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lòng tin và lòng quyết

tâm cho người nông dân Một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng nông

thôn là phải dựa vào sức mạnh của truyền thông, cơ chế, chính sách để

kêu gọi, gợi mở cho người nông dân, khích lệ người nông dân phát huy

tinh thần tự lực cánh sinh, hình thành nên động lực nội tại cho công

cuộc xây dựng nông thôn mới

Thứ tư, bảo vệ bản sắc nông thôn Ở bất kỳ quốc gia nào, nông

thôn đều là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất nông nghiệp Do đó, việc

phát triển nông thôn không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành

thị Nếu áp dụng mô hình phát triển của thành thị để xây dựng nông

thôn thì sớm muộn gì cũng sẽ đánh mất giá trị tốt đẹp tự có của nông

thôn và sẽ không phát huy được những bản sắc riêng của nông thôn

Thứ năm, Chính phủ cần tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ

tầng, tổ chức đào tạo nghề cho người dân, tạo điều kiện để xây dựng

các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Đây là điều

kiện để giúp người dân nông thôn dễ dàng tiếp cận việc làm, đa dạng

hóa sinh kế và có động lực để ở lại khu vực nông thôn Việc này vừa

giúp tăng thu nhập cho cư dân nông thôn vừa giúp giảm áp lực di cư

nông thôn - thành thị

Trang 17

b) Kinh nghiệm phát triển nông thôn của Liên hiệp Châu Âu

Ngay từ những năm cuối thập kỷ 80 Cộng đồng châu Âu rất quan tâm đến phát triển các vùng nông thôn trên lãnh thổ Trong giai đoạn 1989-1993, đã đưa ra nhiều chương trình và mô hình với nhiều sáng kiến cải cách nhằm thúc đẩy khu nông thôn phát triển Trong số đó, chương trình LEADER đẩy mạnh hợp tác trong phát triển nông thôn) được xem là thành công nhất

Từ những năm 1950, Liên hiệp châu Âu (EU) đã cấp tài chính cho những nước thành viên nhằm khuyến khích phát triển khu vực Tiền này được tập trung cho những nước hoặc vùng có nền kinh tế yếu kém nhất Trọng tâm của những chương trình này là những kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng to lớn và xây dựng những công trình công nghiệp mới khổng lồ nhằm tạo việc làm cho người dân

Vào những năm 1980, người ta nhận thấy rằng các chương trình này không giải quyết được các vấn đề cơ bản của nông thôn Thực tế

là, một số lượng lớn người dân đã rời bỏ nông thôn ra thành phố tìm việc làm, điều đó lại làm cộng đồng nông thôn trở nên yếu kém hơn (Dower, 2004)

Chương trình LEADER chính thức được ban hành năm 1991, với mục tiêu là cải thiện tiềm năng phát triển cho các khu vực nông thôn thông qua việc kêu gọi các sáng kiến địa phương, khuyến khích hình thành, phát triển các bí quyết (know-how) về phát triển địa phương và phổ biến những bí quyết này đến những vùng nông thôn khác Nguồn vốn của EU được đưa tới các nhóm hành động địa phương (Local Action Groups – LAGs) Các LAGs được hình thành và hoạt động dưới hình thức hợp tác chính thức giữa các tổ chức công cộng, tư nhân và tình nguyện viên trong khu vực; từ đó hoạch định việc thực hiện các chương trình LEADER của từng địa phương Theo quy định của chương trình này, mỗi nhóm hành động địa phương phụ trách một khu vực có khoảng 100.000 dân Nhóm phải làm một bản phân tích những

Trang 18

khó khăn và nhu cầu của vùng, cùng với một kế hoạch hành động và ngân sách để giải quyết nhu cầu đó

Năm 1991 đánh dấu giai đoạn khởi động của chương trình LEADER với sự ra đời của 217 nhóm LAGs đại diện cho 217 vùng nông thôn kém phát triển Sự khởi động này tạo ra cơ hội hình thành mạng lưới trao đổi và chia sẻ ý kiến và kinh nghiệm phát triển nông thôn giữa các nhóm với nhau Giai đoạn 2 của chương trình LEADER bắt đầu từ năm 1994 và kết thúc vào cuối năm 1999 Giai đoạn này đã thành lập được 900 nhóm LAGs Ngoài hình thành mạng lưới và chia

sẻ kinh nghiệm, trọng tâm của chương trình LEADER 2 là “hợp tác” và

“đổi mới” Kết thúc giai đoạn 2, các nhóm LAGs đã rất thành công trong thúc đẩy phát triển xã hội và kinh tế tại các vùng nông thôn khó khăn, cũng như thành công trong việc sử dụng nguồn lực của các tổ chức thành viên, cùng với sử dụng hiệu quả những hỗ trợ từ Chính phủ

và Liên hiệp châu Âu

Đến năm 2000, chương trình LEADER+ ra đời Khác với giai đoạn 1 và 2, chương trình này áp dụng cho toàn bộ khu vực nông thôn của châu Âu và tập trung vào công việc cải tiến và chuyển giao kinh nghiệm phát triển nông thôn cho các cộng đồng khác Từ 2000 đến

2006, châu Âu đã tài trợ 5 tỷ Euro cho các hoạt động của 892 nhóm LAGs được tuyển chọn từ 73 chương trình quốc gia hoặc vùng lãnh thổ Thông qua chương trình LEADER, các hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực mang tính tập thể được thực hiện, các nguồn lực được huy động

và các hình thức tổ chức địa phương được khuyến khích hình thành và tăng cường Nhờ LEADER mà các vùng nông thôn kém phát triển có thể gia nhập thị trường và tăng cường năng lực cạnh tranh Giai đoạn 1

đã tạo ra được 25 nghìn việc làm và giai đoạn 2 đã tạo ra được 100 nghìn việc làm cho các vùng nông thôn (Trần Tiến Khai, 2015)

Hơn một thập kỷ qua, hoạt động của các nhóm hành động địa phương được thành lập ở các nước châu Âu, đưa ra nhiều ý tưởng có thể áp dụng vào các dự án phát triển nông thôn ở các nước đang phát

Trang 19

triển, trong đó có Việt Nam Các ý tưởng này được thể hiện trong các nguyên tắc sau:

- Chọn một vùng nông thôn, hoạt động trên cơ sở hợp tác giữa

Chính phủ, Chính quyền địa phương, người dân và các tổ chức có lợi ích khác

- Tham gia hoàn toàn với cộng đồng địa phương, nâng cao năng

lực người dân địa phương để theo đuổi và duy trì chương trình phát triển của họ

- Duy trì và đẩy mạnh nông nghiệp, cho phép nông dân đa dạng

hóa nguồn thu nhập một cách thích hợp

- Phân tích thận trọng tiềm năng và nhu cầu của địa phương để hiểu

được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa ảnh hưởng đến vùng

đó và có thể là điểm xuất phát cho việc xây dựng chiến lược phát triển

- Phát triển lâm nghiệp như một hoạt động đa mục đích, mang lại

lợi ích xã hội, kinh tế và môi trường

- Gia tăng giá trị tại địa phương của các sản phẩm lương thực và

lâm sản (ví dụ, thông qua chế biến hoặc bán hàng trực tiếp)

- Thúc đẩy sản xuất, ngành nghề thủ công và dịch vụ

- Thúc đẩy du lịch nông thôn phát triển bền vững ở những nơi

thích hợp

- Đẩy mạnh dịch vụ xã hội và cơ sở hạ tầng ở các địa phương

- Bảo vệ, sử dụng hợp lý các di sản văn hóa, động vật hoang dã

và phong cảnh

- Tiếp cận phát triển nông thôn theo vùng là cách tiếp cận cơ bản của cộng đồng châu Âu Tiếp cận này cho phép hình thành và áp dụng

các sáng kiến địa phương nhằm giải quyết các vấn đề đặc thù của địa phương Vì vậy đã tạo ra sự linh hoạt và đa dạng về các giải pháp phát triển nông thôn, huy động các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục tiêu phát triển đặc thù của địa phương

Trang 20

- Tiếp cận từ dưới lên Sự hình thành các nhóm hành động địa

phương là nhân tố tổ chức cơ bản cho các sáng kiến phát triển nông thôn Các nhóm này bao gồm cả chính quyền địa phương và các đối tác khu vực tư nhân, tình nguyện viên và cộng đồng nông thôn Như vậy, các kế hoạch hành động sẽ có tính phù hợp rất cao với đặc thù của địa phương, phù hợp với nhu cầu của người dân ở đó Cách tiếp cận này cho phép phát huy tối đa dân chủ cơ sở và đề cao vai trò chủ động của cộng đồng địa phương trong quá trình hình thành, phát triển, xây dựng

kế hoạch và hành động phát triển nông thôn

- Có chiến lược cụ thể cho từng pha trong tiến trình phát triển nông thôn lâu dài Rõ ràng phát triển nông thôn được hoạch định như

là một quá trình dài hạn và chia nhỏ thành nhiều pha khác nhau Mỗi pha có mục tiêu, hành động và kết quả khác nhau tùy thuộc vào trình

độ phát triển của khu vực nông thôn và mong muốn của chính quyền địa phương sở tại

- Xây dựng các nguyên tắc phát triển nông thôn nhất quán ngay

từ đầu và phải được tuân thủ chặt chẽ Các nguyên tắc này vừa có tính

nguyên tắc trong tiếp cận nhưng lại cho phép tạo ra sự linh động, mềm dẻo ở việc đề xuất các sáng kiến, giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn

đề phát triển nông thôn ở từng vùng cụ thể

5.2.2 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển

a) Kinh nghiệm phát triển nông thôn của Hàn Quốc

Phong trào Làng mới (Saemaul Undong - SU) của Hàn Quốc ra đời trong bối cảnh nghèo đói đang hoành hành ở khắp các vùng nông thôn của cả nước Sau hàng thập kỷ bị Nhật Bản đô hộ, tiếp theo là Chiến tranh Thế giới lần thứ II, và cuộc nội chiến Nam - Bắc Triều Tiên vào những năm 50 của thế kỷ XX, Hàn Quốc gần như kiệt quệ về kinh tế (Trần Tiến Khai, 2015) Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong

Trang 21

những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo (Tuấn Anh, 2012)

Nhận thức được những khó khăn mà vùng nông thôn đang đối mặt, vào ngày 22 tháng 04 năm 1970, chính phủ Hàn Quốc dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Park Chung Hy đã phát động phong trào Làng mới dựa trên lập luận rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp chính mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Dựa trên cách lập luận này, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra

ba mục tiêu chính của phong trào SU, bao gồm 1) tạo thu nhập, 2) cải thiện kết cấu hạ tầng và môi trường nông thôn, và 3) nâng cao năng lực

và thay đổi thái độ của người dân nông thôn Tinh thần chủ đạo của phong trào SU sẽ dựa vào ba tiêu chí cơ bản, đó là: cần cù (chăm chỉ),

tự lực vượt khó, và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Theo đó, nhà nước chỉ bỏ ra một phần vật tư, người dân bỏ ra năm đến mười phần công sức

và tiền của, và chính họ là người quyết định loại công trình cần ưu tiên, quyết định thiết kế, chỉ đạo thực hiện, nghiệm thu công trình, và quy định mức đóng góp của người dân trong làng Tinh thần dân chủ ở cơ

sở được chú trọng để nâng cao hiệu quả của phong trào xây dựng nông thôn mới

Trong quá trình thực hiện, chính phủ đã thống nhất quan điểm rằng: đi từng bước, đừng quá nhiều, quá nhanh; chính quyền không được cưỡng ép người dân, và tất cả các dự án phải hướng đến nâng cao lợi ích của cộng đồng Với người dân, họ phải tự làm việc với tinh thần trách nhiệm để thay đổi số phận của mình Chính quyền sẽ ưu tiên giúp

đỡ những người có tinh thần cao về tự lực và hợp tác Với quan điểm chỉ đạo như vậy, chính phủ Hàn Quốc đã liên tục điều chỉnh chính sách

hỗ trợ phát triển để phù hợp hơn với tình hình thực tế

Chính phủ Hàn Quốc xác định rằng các nội dung để xây dựng dự

án phải thiết thực, tương đối đơn giản, dễ triển khai, nhanh có kết quả,

Trang 22

để khích lệ tinh thần người dân tin vào hiệu quả công việc, tin vào phong

trào, nhằm tạo đà để làm những dự án dài hơi hơn Vì vậy, ban đầu, có

10 nội dung được lựa chọn cho phong trào Làng mới, bao gồm: 1) Mở

rộng, làm mới đường vào thôn xóm; 2) Mở rộng, làm mới đường trong

thôn; 3) Làm vệ sinh thôn xóm; 4) Xây dựng khu giặt giũ chung; 5) Đào

giếng nước chung; 6) Cải tạo mái nhà từ lợp rạ sang mái ngói, xi măng;

7) Cải tạo hàng rào quanh nhà từ tường đất thành tường xây gạch, xi

măng; 8) Sửa cầu; 9) Sửa hệ thống đập, sông ngòi; và 10) Xây dựng

điểm gom phân bắc

Trong năm đầu tiên, chính phủ cấp miễn phí đồng loạt cho 35.000

làng trong cả nước, bình quân mỗi làng được cấp 355 bao xi măng (loại

40 kg) Công lao động và đất đai do người dân trong làng đóng góp Tất

cả các công việc liên quan đến công trình đều do hội đồng của làng quản

lý Hết năm thứ nhất, hạ tầng giao thông ở 16.600 xã được cải thiện rõ

rệt do biết tranh thủ sự hỗ trợ của chính phủ và vận động sự tham gia

tích cực của người dân, và kết quả là phong trào Làng mới đã làm nên

thành công bước đầu

Sang năm thứ 2, chỉ 16.600 làng có thành tích tốt được tôn vinh

khen thưởng và tiếp tục được chính phủ hỗ trợ 500 bao xi măng và

1 tấn thép cho mỗi làng Với phương châm rằng những làng tự biết giúp

chính mình để vượt qua khó khăn sẽ được chính phủ tiếp tục hỗ trợ, đã

tạo nên không khí cạnh tranh sôi nổi trong nông thôn cả nước, và cũng

là yếu tố thúc đẩy quan trọng của phong trào Ngoài ra, chính quyền đã

thực hiện việc đánh giá xếp loại các làng theo ba nhóm để khuyến khích

hoạt động của từng làng, đó là 1) nhóm làng tích cực nhất; 2) nhóm

trung bình; và 3) nhóm cơ bản Nếu được thăng nhóm xếp hạng nhờ đẩy

nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới thì mỗi làng sẽ được chính

phủ thưởng 2.000$ (Trần Tiến Khai, 2015) Động thái này đã tạo ra sự

chuyển biến rõ rệt trong những năm tiếp theo của phong trào Làng mới

Bên cạnh các nguồn lực đầu tư của chính phủ để làm thay đổi cơ

bản bộ mặt nông thôn, phong trào SU còn kích thích tinh thần thi đua

Trang 23

của người dân trong việc chỉnh trang nhà cửa và thay đổi tư duy sản xuất Kết quả là người dân thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói; đường giao thông trong làng được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng kỹ thuật canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Nông thôn đổi mới, người dân bắt đầu lấy lại sự tự tin, đặc biệt những người trước đây sống rất thờ ơ, giờ đây cũng bắt đầu tham gia để xây dựng ngôi làng của mình Nông thôn Hàn Quốc biểu hiện những dấu hiệu của

sự phát triển mạnh mẽ và theo hướng đô thị hóa

Trong vòng 8 năm (1971-1978) triển khai thực hiện phong trào

“Saemaul Undong”, tổng kinh phí đầu tư cho các dự án là 3.425 tỷ won (tương đương khoảng 3 tỷ USD) Trong đó, đóng góp trực tiếp của người dân chiếm 49,4%; hỗ trợ của chính phủ chỉ 27,8%; phần còn lại

là các khoản nông dân vay từ các tổ chức tín dụng Nếu tính cả phần vốn vay của người dân, sự đóng góp của họ lên đến 72,2% Với phương châm nhà nước và người dân cùng làm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cây cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối); kiên cố hóa 7.839km đê, kè; xây 24.140

hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp

và hy sinh của các hộ cho phong trào

Trang 24

Hình 5-1 Nông dân xây dựng giao thông nội đồng

(Nguồn: Thông tin Hàn Quốc, 2020)

Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 làng mới có 1 máy cày, thì đến năm 1975, trung bình mỗi làng đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm 1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần (Tuấn Anh, 2012)

“Saemaul Undong” đã được phát động cách đây hơn 40 năm nhưng dư âm của “Tinh thần Saemaul” vẫn thôi thúc người dân Hàn Quốc đến tận hôm nay; và đặc biệt, nó đang trở thành những bài học kinh nghiệm quý giá cho các nước đang phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã biến nông thôn đã trở thành một khu vực phát triển năng động, có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển SU

đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên

Trang 25

giàu có, trở thành một con rồng châu Á và đã đứng trong nhóm các nước phát triển G20 Chỉ trong 26 năm (1979-1986), Hàn Quốc đã thành công trong xây dựng nông thôn mới Về mặt thời gian, kỳ tích này của Hàn Quốc đã vượt xa những thành công về phát triển nông thôn của các nước phát triển khác như Nhật: 73 năm; Mỹ: 96 năm; và Anh: 116 năm Thắng lợi này đã được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học kinh nghiệm lớn:

- Phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông

thôn, với phương châm là: nhân dân quyết định và làm mọi việc, quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình

- Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và phát triển sản xuất theo

hướng xuất khẩu để tăng thu nhập cho người dân Khi kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị tiến hành chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ để giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, và xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ đầu tư xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến

và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất

- Đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ phục vụ phát triển nông

thôn Hàn Quốc, xác định đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện

và do dân bầu là nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước tài trợ kinh phí, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, và phát triển cộng đồng

- Phát huy dân chủ cơ sở để phát triển nông thôn Hàn Quốc cho

phép thành lập hội đồng phát triển cấp xã Hội đồng có quyền quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, và bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương

Trang 26

Các nguồn lực hỗ trợ xây dựng nông thôn mới được xã hội hóa; vì vậy, người dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp và giám sát công trình

- Phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng dựa trên cơ sở

tái cấu trúc các hợp tác xã (HTX) nhằm phục vụ trực tiếp nhu cầu của người dân Cán bộ lãnh đạo HTX do người dân bầu chọn Phong trào

SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX ở Hàn Quốc: hoạt động

đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng 10 năm, doanh thu bình quân của một HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won

- Phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh của

toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp,

hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng và bảo vệ rừng Nếu như năm 1970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước và đây được coi

là một kỳ tích của phong trào SU

b) Kinh nghiệm phát triển nông thôn của Thái Lan

- Chính sách trợ giá nông sản Chính phủ Thái Lan ban hành

nhiều ưu đãi về vốn và tăng cường bảo hiểm cho người nông dân được; thuế nông nghiệp được bãi bỏ Chính phủ hỗ trợ các chương trình tiếp thị, tìm kiếm địa chỉ xuất khẩu những sản phẩm sau thu hoạch và chế biến nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tiêu thụ nông sản thông qua việc đẩy mạnh hình thức hợp đồng “chính phủ với chính phủ”; và đồng bộ hóa các chính sách để bảo đảm tính liên thông từ khâu gieo trồng, sản xuất đến bao tiêu xuất khẩu và giảm rủi ro cho người nông dân Thái Lan đang thực hiện trợ giá cho nông dân trên các lĩnh vực nông sản chủ yếu như sau: gạo, cao su, trái cây Ví dụ, đối với gạo thơm, chính phủ Thái Lan đã mua với giá 6.500 baht/ tấn trong khi giá thị trường chỉ

Trang 27

5.000 – 5.200 baht/ tấn Để thực hiện tốt chính sách hỗ trợ này, Chính phủ sử dụng các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm

vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường (Trần Việt Dũng, 2015)

- Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ

mới trong nông nghiệp Do diện tích đất nông nghiệp có hạn (21,06

triệu hecta chiếm với 41,22% diện tích tự nhiên) nên Thái Lan đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học

kỹ thuật, nhằm cải tạo đất trồng, lai tạo các giống cây trồng mới có khả năng thích ứng với những vùng đất canh tác bạc màu, khô hạn Để giữ

và nâng cao độ phì nhiêu đất nông nghiệp, Thái Lan sử dụng các loại phân bón hữu cơ, phân vi sinh và thuốc trừ sâu sinh học Hiện nay, mức

độ cơ giới hóa đã bao phủ từng thửa ruộng Bí quyết thành công của nông dân Thái Lan chính là sự kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm canh tác truyền thống với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới Do điều kiện tự nhiên khác nhau nên nhiều vùng cần phải có những công nghệ và kỹ thuật canh tác đặc thù “Nút thắt cổ chai” trong việc nâng cao chất lượng nông sản theo hướng phát triển bền vững đã được các nhà khoa học tháo gỡ bằng công nghệ sinh học (công nghệ biến đổi gen)

- Mở cửa thị trường thích hợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm Chính phủ Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các

nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Ở Thái Lan xúc tiến công việc này là trách nhiệm của Cục xúc tiến Công nghiệp, Cục xúc tiến Nông nghiệp, Cục Hợp tác xã, Cục thủy sản, cơ quan tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp và Bộ nông nghiệp

Trang 28

- Chính sách cơ cấu lại công nghiệp nông thôn Chính phủ Thái

Lan đã tập trung vào các công việc như cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét, đánh giá đầy đủ các nguồn

Khung 5-2 Quỹ hỗ trợ nông dân của Chính phủ Thái Lan

Năm 2019, Bộ Thương mại Thái Lan đã phê duyệt quỹ hỗ trợ nông dân trị giá 59 tỷ baht (hơn 1,94 tỷ USD) dành cho các chương trình bảo đảm giá và trợ cấp cho gạo và dầu cọ Trong đó, 13,3 tỷ baht dành cho chương trình bảo đảm giá gạo, 21,4 tỷ baht dành cho dầu cọ và 25 tỷ baht để trợ cấp chi phí sản xuất cho người trồng lúa

Với sự hỗ trợ này, Chính phủ Thái Lan cam kết không để giá hạt cọ tươi xuống thấp hơn 4 baht/kg, trong đó mỗi gia đình được hỗ trợ tối

đa 25 rai (một rai tương đương 1.600 m2) Cuối tháng 10 năm 2019, Chính phủ Thái Lan phê duyệt thêm 24,27 tỷ baht cho giai đoạn đầu của chương trình trợ cấp người trồng cao su, với mục tiêu bảo đảm 1,4 triệu nông dân trồng cao su có thu nhập ổn định Theo đó, Chính phủ Thái Lan cam kết giữ giá tấm cao su cao cấp không dưới 60 baht/kg,

mủ cao su ở mức 57 baht/kg

Thông qua quỹ hỗ trợ nông dân để tạo một liên kết thị trường cho cây trồng trong mùa thu hoạch, đồng thời trì hoãn đưa sản phẩm ồ ạt ra thị trường vào thời điểm không thuận lợi nhằm kiềm chế sự sụt giảm giá

và đẩy nhanh xuất khẩu Đối với các sản phẩm có giá tiếp tục giảm, thí

dụ gạo trắng, sẽ cần các biện pháp bổ sung như tăng dự trữ trong kho

và hạn mức tín dụng thấp hơn cho các doanh nghiệp giúp trì hoãn việc bán gạo Quỹ hỗ trợ nông dân là một hoạt động độc lập, không liên quan các chương trình bảo lãnh và bảo đảm giá của chính phủ đối với một số sản phẩm nông nghiệp

Năm 2020, Bộ Thương mại Thái Lan đã phê duyệt quỹ hỗ trợ nông dân trị giá 4,38 tỷ baht (khoảng 145 triệu USD), tập trung 10 sản phẩm nông nghiệp chính của nước này, gồm gạo, bột sắn, dầu cọ, trái cây, tôm, thịt lợn, trứng, muối, hành và tỏi, trong trường hợp giá tiêu thụ sụt giảm trên thị trường

(Nguồn: Minh Đức, 2019)

Trang 29

tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị Trong những năm qua, công nghiệp chế biến

thực phẩm Thái Lan phát triển mạnh nhờ một số chính sách sau đây:

“Mỗi làng một sản phẩm” (One Tambon, One Product – OTOP)) Chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp với mục đích nâng cao chất lượng các mặt hàng nông sản gạo, dứa, tôm sú, cà phê bằng một chương trình “Mỗi làng một sản phẩm”, tức là mỗi làng làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao Trên thực tế chương trình này trung bình 06 tháng đem lại cho nông dân khoảng 84,2 triệu USD lợi nhuận Bên cạnh chương trình trên Chính phủ Thái Lan cũng thực hiện chương trình “Quỹ Làng” (Village Fund Progam) nghĩa là mỗi làng sẽ nhận được một triệu baht từ chính phủ để cho dân làng vay mượn Trên thực tế đã

có trên 75.000 ngôi làng ở Thái Lan được nhận khoản vay này

“Thái Lan là bếp ăn của thế giới” là chương trình nhằm khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có những hành động thiết thực để kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm, đảm bảo an toàn cho hàng nông sản xuất khẩu và người tiêu dùng

Hình 5-2 Bo Sang - làng nghề làm ô ở miền Bắc Thái Lan

(Nguồn: Quỳnh Dương, 2020)

Trang 30

- Đẩy mạnh đào tạo kỹ thuật canh tác, chuyển giao công nghệ cho nông dân Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học mở các khóa học

tại chỗ về kỹ thuật canh tác Thí dụ trường Chulalongkorn (lọt vào top

200 trường đại học hàng đầu thế giới) đã đầu tư thiết bị thí nghiệm hiện đại, hợp tác với chuyên gia từ những nước đi đầu trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp, đồng thời tạo cơ chế đãi ngộ cho nhiều nghiên cứu sinh trẻ sang nghiên cứu tại các trường đại học ở Mỹ, Nhật Bản và châu Âu

- Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ vào tất cả các khâu trong sản xuất nông nghiệp Thực tiễn cho thấy, nhờ áp dụng đồng bộ

công nghệ hiện đại trong các khâu cũng như ở tất cả các địa phương trên cả nước đã giúp Thái Lan tăng năng suất, giải phóng sức lao động của nông dân và cải thiện đáng kể thu nhập của họ Việt Nam cũng đã

có kinh nghiệm trong việc đón đầu một số thành tựu khoa học công nghệ mới, cho phép rút ngắn khoảng cách với các quốc gia khác trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Quá trình này cần phải được tiếp tục tại các vùng, miền, đối với tất cả các khâu khác nhau của chu trình sản xuất nông nghiệp và cần định hướng, quy hoạch phát triển và đầu tư của Nhà nước

- Ưu tiên phát triển những loại nông sản có chất lượng tốt, giá trị kinh tế cao Tuy là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới nhưng các số

liệu thống kê chỉ ra rằng loại gạo mà chúng ta sản xuất chưa có sức cạnh tranh cao với gạo của các nước Điều này dẫn đến một thực trạng là chúng ta để mất thị phần không nhỏ trong nước cho các loại gạo chất lượng cao của Thái Lan… Ở Thái Lan có xu hướng sản xuất gạo chất lượng cao và có sức cạnh tranh cao để xuất khẩu, nhằm tăng thu nhập cho nông dân Đây là vấn đề Việt Nam cần quan tâm, bởi lẽ, chúng ta cũng có nhiều loại lúa hay các cây, con trong nông nghiệp có chất lượng

cao và được ưa chuộng trên thị trường quốc tế

- Quan tâm, áp dụng rộng rãi chính sách bảo hiểm trong nông

Trang 31

nghiệp Ở Thái Lan, chính sách bảo hiểm nông nghiệp dành cho tất cả

nông dân và là bắt buộc đối với người vay vốn Phạm vi bảo hiểm áp dụng cho cây lương thực, cây lấy dầu, cây vườn, cây thương mại hàng năm Mức bồi thường nhiều loại cây, con từ 60-90% của sản lượng trung bình trong những năm trước Đây là những tham số có thể xem xét khi thực hiện bảo hiểm nông nghiệp cho nông dân Việt Nam, nhất

là trong những tình huống mùa màng thất bát, thiên tai

c) Kinh nghiệm phát triển nông thôn của Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất Thế giới, trong đó có

745 triệu nông dân chiếm 60% dân số cả nước (Lê Cảnh Dũng, 2015) Năm 1978, Hội nghị toàn thể Trung ương 3 khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra quyết sách mang tính lịch sử, chuyển sang xây dựng kinh tế thị trường, tiến hành cải cách mở cửa Tiến trình lịch sử vĩ đại của cải cách, phát triển nông thôn Trung Quốc, theo học giả Trác Vệ Hoa (2008), có thể chia thành 4 giai đoạn

- Từ năm 1978 đến năm 1984 là giai đoạn đột phá cải cách nông thôn Giai đoạn này, cải cách nông thôn bắt đầu từ việc nông dân đột

phá tự phát thể chế công xã nhân dân Một số vùng nông thôn của Trung Quốc đã tự phát hình thành các hình thức, chế độ trách nhiệm sản xuất nông nghiệp như khoán sản phẩm đến tổ, khoán sản phẩm, công việc đến hộ và được sự ủng hộ của Đảng Cùng với phổ biến rộng rãi chế độ khoán sản phẩm đến hộ gia đình, bắt đầu từ năm 1983, Trung Quốc đã tiến hành công tác tách chính quyền và công xã nhân dân, xóa bỏ công

xã nhân dân để thành lập xã Đến đầu năm 1984, cả nước đã thành lập được hơn 90 nghìn xã, thị trấn, hơn 900 nghìn thôn hành chính Cải cách của giai đoạn này đã làm thay đổi căn bản về tổ chức kinh tế vi mô

ở nông thôn Trung Quốc, bảo đảm cho nông dân quyền tự chủ kinh doanh tương đối độc lập, đã huy động mạnh mẽ tính tích cực sản xuất của nông dân, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất ở nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng với tốc độ cao, đặt cơ sở cho sự phát triển

Trang 32

của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện cho cải cách và phát triển toàn diện nông thôn sau này

- Từ năm 1985 đến năm 1991 là giai đoạn thúc đẩy toàn diện cải cách nông thôn Hai năm 1985 - 1986, Trung Quốc tiến hành cải cách

chế độ thống nhất thu mua, tiêu thụ nông sản, xác định rõ thực hiện hai chế độ thu mua là mua theo hợp đồng và mua theo giá trên thị trường Ngoài lương thực và bông, giá cả các loại nông sản khác do cung cầu trên thị trường điều tiết Cùng với việc thả nổi giá cả nông sản và thị trường bán buôn nông sản phát triển mạnh mẽ, một loạt thị trường bán buôn có tính khu vực và thị trường thương mại nông sản phát triển mạnh

ở các nơi Đồng thời, tích cực tiến hành điều chỉnh cơ cấu ngành nghề

ở nông thôn, khuyến khích phát triển nhiều loại hình kinh doanh, tối ưu hóa cơ cấu ngành trồng trọt, thúc đẩy nông, lâm, ngư nghiệp và chăn nuôi phát triển toàn diện, khuyến khích nông dân làm dịch vụ nông nghiệp, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển từ thuần nông truyền thống sang đa ngành Một loạt biện pháp trên đã thúc đẩy thị trường nông thôn sôi động, sự trỗi dậy của các xí nghiệp hương trấn vào giữa những năm

80 của thế kỷ XX Thông qua cải cách trong giai đoạn này, kinh tế hàng hóa dần dần được hình thành trong kinh tế nông nghiệp và nông thôn, đặt nền tảng cho kinh tế nông nghiệp và nông thôn quá độ toàn diện

chuyển sang kinh tế thị trường

- Từ năm 1992 đến năm 2001 là giai đoạn chuyển cải cách nông thôn từ toàn diện sang thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Tháng 2 - 1993, Trung Quốc ra thông báo nêu rõ thả nổi giá cả,

thả nổi kinh doanh dưới sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, thúc đẩy hơn nữa theo hướng sản xuất lương thực hàng hóa, xác định rõ thời hạn khoán đất sẽ kéo dài thêm 30 năm, đồng thời thực hiện chính sách "bảo đảm sản lượng, thả nổi giá cả" thu mua lương thực, tăng cường điều tiết

vĩ mô đối với thị trường lương thực Đồng thời, đẩy nhanh cải cách quyền sở hữu tài sản, đẩy nhanh tiến bộ kỹ thuật, cải thiện quản lý nội bộ; nhờ đó xí nghiệp hương trấn đã phát triển chưa từng thấy, trở thành

Trang 33

lực lượng chủ lực của kinh tế nông thôn và là trụ cột quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhà nước đã áp dụng một loạt chính sách và giải pháp nhằm tăng cường sự định hướng và quản lý hiệu quả hơn làn sóng

di cư lao động nông thôn – thành thị

- Từ năm 2002 đến nay là giai đoạn xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa Tháng 11-2002, Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung

Quốc đưa ra phương châm chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành thị và nông thôn, đánh dấu nhận thức của Đảng đối với cải cách, phát triển nông thôn được nâng lên một tầm cao mới Giai đoạn này, Trung Quốc nhấn mạnh việc giải quyết tốt vấn đề "Tam nông" là một trong số những nhiệm vụ quan trọng nhất của toàn Đảng, đề ra và thực hiện phương châm công nghiệp nuôi nông nghiệp, thành thị hỗ trợ nông thôn thúc đẩy xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa Từ năm

2004 đến 2008, một loạt chính sách đã được ban hành nhằm thúc đẩy

cải cách, phát triển nông thôn mạnh mẽ hơn Một là, thúc đẩy cải cách

thuế nông nghiệp, từ năm 2004 đã xóa bỏ thuế đối với đặc sản nông

nghiệp, năm 2006 đã xóa bỏ thuế nông nghiệp Hai là, thúc đẩy cải cách

tổng hợp nông thôn, bắt đầu từ năm 2006 triển khai công tác thí điểm cải cách tổng hợp nông thôn tập trung vào cải cách cơ quan xã, thị trấn,

giáo dục nghĩa vụ ở nông thôn và thể chế quản lý tài chính huyện, xã Ba

là, đẩy mạnh giải quyết vấn đề phát sinh do nông dân vào thành phố

làm thuê, tập trung giải quyết các vấn đề như việc làm, an sinh xã hội, nhà ở, giáo dục trẻ em, dịch vụ y tế khám chữa bệnh của nông dân, tạo

môi trường tốt đẹp cho nông dân làm thuê vào thành phố làm việc Bốn

là, mở cửa đối ngoại sâu rộng trong lĩnh vực nông nghiệp, từng bước

mở cửa đối ngoại nông nghiệp toàn diện, nhiều tầng nấc, nhiều lĩnh vực

Năm là, nâng cao hiệu quả thực hiện các sự nghiệp xã hội ở nông thôn,

ngân sách hỗ trợ đối với nông nghiệp và nông thôn, xây dựng chế độ y

tế hợp tác nông thôn kiểu mới và chế độ bảo đảm sinh hoạt tối thiểu cho nông thôn, miễn trừ toàn bộ học phí, xây dựng hệ thống dịch vụ văn hóa công cộng nông thôn

Trang 34

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển nông thôn

- Phải kiên trì địa vị nền tảng của nông nghiệp Không có hiện đại

hóa nông nghiệp thì không có hiện đại hóa đất nước, không có nông thôn phồn vinh, ổn định thì không có đất nước phồn vinh, ổn định, không có nông dân khá giả toàn diện thì không có nhân dân cả nước khá giả toàn diện Vì vậy, địa vị nền tảng của nông nghiệp chỉ có thể tăng cường, chứ không thể suy yếu, cần phải thường xuyên coi giải quyết vấn đề "Tam nông" là một trong những nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác nông thôn

- Quyền lợi thiết thực của nông dân phải được đảm bảo Đảng

luôn coi việc bảo đảm quyền lợi của nông dân là xuất phát điểm và đích của việc đề ra chính sách nông thôn Hội nghị toàn thể Trung ương 3 khóa XI của Đảng vạch rõ xuất phát điểm quan trọng hàng đầu của xác định chính sách nông nghiệp và chính sách kinh tế nông thôn là phát huy đầy đủ tính tích cực của hàng trăm triệu nông dân Trung Quốc Về kinh tế, cần phải quan tâm đầy đủ tới lợi ích vật chất của nông dân Về chính trị, bảo đảm thiết thực quyền lợi dân chủ của họ Cải cách nông thôn sở dĩ giành được thành công to lớn, chính là đã kiên trì xuất phát điểm đúng đắn này

- Tôn trọng và ghi nhận tinh thần sáng tạo của nông dân Cho

phép và khuyến khích nông dân mạnh dạn tìm tòi, tôn trọng và ghi nhận tính sáng tạo từ người nông dân, và kịp thời tổng kết những gì có tính quy luật từ trong sáng tạo thực tiễn của nông dân, không ngừng nâng lên thành chính sách, pháp luật, pháp quy của Đảng và Nhà nước

- Kết hợp hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế - xã hội của thành thị và nông thôn Cần xuất phát từ toàn cục, kiên trì chiến lược tổng thể

phát triển thành thị và nông thôn, vừa lấy cải cách và phát triển của nông thôn để thúc đẩy thành thị, vừa lấy cải cách và phát triển của thành thị để hỗ trợ nông thôn, khiến cho cải cách nông thôn và cải cách thành thị phối hợp lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau Theo đó, công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa nông nghiệp cũng được thúc đẩy nhịp nhàng

Trang 35

Khung 5-3 Thành tựu chủ yếu trong 30 năm phát triển nông

thôn Trung Quốc

Về sản lượng lương thực, từ năm 1978 đến 2007, sản lượng lương thực của Trung Quốc từ 305 triệu tấn tăng lên 502 triệu tấn, bình quân đầu người từ 318,7 kg tăng lên 381 kg; sản lượng thịt từ 8,563 triệu tấn tăng lên 68,657 triệu tấn, bình quân đầu người từ 9,1 kg tăng lên 52 kg Năm

2012, tổng sản lượng lương thực của Trung Quốc là 589,57 triệu tấn, tổng sản lượng bông là 6,84 triệu tấn; sản lượng thịt bò, thịt dê và thịt lợn là 82,2 triệu tấn, tổng sản lượng sữa bò là 37,44 triệu tấn; thì năm

2016, tổng sản lượng lương thực của Trung Quốc đạt 616,24 triệu tấn, tổng sản lượng bông là 5,34 triệu tấn, tổng sản phẩm dầu thực vật đạt 36,13 triệu tấn, sản lượng thịt là 85,4 triệu tấn, tổng sản lượng sữa bò đạt 36,02 triệu tấn

Về kinh tế nông thôn, nông nghiệp phát triển toàn diện, xí nghiệp hương trấn lớn mạnh nhanh chóng, ngành công nghiệp, dịch vụ nông thôn ngày một phồn vinh Cơ cấu sản xuất nông nghiệp với ngành trồng trọt là chủ yếu chuyển sang nông, lâm, ngư nghiệp và chăn nuôi cùng phát triển Giá trị sản xuất của xí nghiệp hương trấn trên toàn quốc từ 20,9 tỉ nhân dân tệ năm 1978 tăng lên 5.800 tỉ năm 2006 Hiện nay, toàn quốc có 226 triệu nông dân làm thuê hoặc kinh doanh, nông dân làm thuê trở thành bộ

Về phát triển xã hội, từ năm 1978 đến năm 2007, thu nhập ròng bình quân đầu người của nông dân từ 134 nhân dân tệ tăng lên tới 4.140 Số người nghèo ở nông thôn giảm mạnh, từ 250 triệu năm 1978 giảm xuống còn 14,79 triệu người năm 2007 Đến năm 2006, 95% số thôn của Trung Quốc đã có đường bộ, 98,7% có điện, 97,6% có điện thoại, 97,6% được phủ sóng truyền hình

Về xây dựng đời sống văn hóa, nhiều tập tục lạc hậu ở vùng nông thôn

đã được thay thế bằng nếp sống mới, số gia đình và số thôn đạt chuẩn

“Hộ gia đình mười sao”, “Gia đình bình an”, “Con cái hiếu thuận”,

“Thôn hài hòa”, “Thôn làng thành tín” ngày càng nhiều; trình độ văn hóa giáo dục của người dân ngày được nâng cao; trình độ văn minh của người dân nông thôn từ ăn, mặc, ở, đi, sử dụng đồ sinh hoạt, nói chuyện đến sự ứng xử đối với người và vật đều được nâng lên một cách rõ nét

(Nguồn: Trác Vệ Hoa, 2008)

Trang 36

- Cải cách phải xuất phát từ thực tế, thực hiện một cách tuần

tự Cải cách nông thôn cần áp dụng phương thức tuần tự từng bước

nhằm thúc đẩy, thông qua làm thí điểm để tích lũy kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện tư duy và giải pháp cải cách Ngoài ra, cần duy trì tính liên tục và tính kế thừa của các biện pháp cải cách, không bỏ lỡ thời cơ

để khiến cho công cuộc cải cách ngừng phát triển Thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển thì vấn đề xã hội nông thôn sẽ được duy trì ổn định

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Khái quát những nội dung chính về chính sách phát triển nông thôn trong những năm 1960?

2 Nêu những nội dung chính về chính sách phát triển nông thôn

từ cuối thập niên 1990 cho đến nay?

3 Đặc trưng của phong trào Làng mới (Saemaul Undong), từ đó chỉ ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển nông thôn?

4 Trình bày những kinh nghiệm phát triển nông thôn của Liên hiệp châu Âu Từ đó, chỉ ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển nông thôn?

5 Nếu những chính sách nổi bật trong phát triển nông thôn Trung Quốc trong những gần đây Trong điều kiện của Việt Nam, chúng ta nên vận dụng những kinh nghiệm của Trung Quốc như thế nào?

6 Những nét chính trong phong trào mỗi làng một sản phẩm của Thái Lan (OTOP) Khi vận dụng vào điều kiện nông thôn Việt Nam, chúng ta nên lưu ý điều gì?

7 Ở Nhật Bản, HTX luôn gắn liền với các hoạt động và đời sống của người nông dân Anh/ chị có suy nghĩ gì về vai trò của các HTX nông nghiệp trong phát triển nông thôn tại Việt Nam?

Trang 37

Chương 6 PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM

6.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM 6.1.1 Những thành tựu nổi bật trong phát triển nông thôn

a) Giai đoạn trước đổi mới đất nước (từ 1945 - trước 1986)

Ngay khi đất nước mới giành được độc lập, theo lời kêu gọi của Bác Hồ, ngành nông nghiệp đã phát động phong trào toàn dân tăng gia sản xuất, nông nghiệp đã hoàn thành sứ mệnh là nền tảng của kinh tế kháng chiến với những đóng góp to lớn giải quyết nạn đói các năm

1945, 1946 Tiếp đến, để khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965); Kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) và Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985) Kết quả, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng: khắc phục từng bước những hậu quả nặng

nề của chiến tranh; khôi phục phần lớn những cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá Tổng sản phẩm trong nước bình quân

Mục tiêu:

Sau khi nghiên cứu chương này, người học sẽ:

1 Hiểu và khái quát được tình hình phát triển nông thôn ở Việt Nam

2 Hiểu, phân tích các quan điểm, mục tiêu phát triển nông thôn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Hiểu, phân tích và vận dụng các định hướng, nhiệm vụ phát triển nông thôn trong bối cảnh hội nhập quốc tế

4 Hiểu, phân tích sự thay đổi trong chính sách phát triển nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ

5 Hiểu, phân tích và vận dụng được chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Trang 38

mỗi năm trong giai đoạn 1977-1985 tăng 4,65%, trong đó: nông, lâm nghiệp tăng 4,49%/năm Nông, lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng (chiếm 38,92% GDP trong giai đoạn này), thu nhập bình quân đầu người một tháng của gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp tăng từ 18,7 đồng (1976) lên 505,7 đồng (1984) (Nguyễn Thị Hương, 2020)

b) Giai đoạn sau đổi mới đất nước (từ 1986 - đến nay)

- Một trong những thành tựu kinh tế to lớn của thời kỳ đầu đổi mới (1986-2000) là phát triển sản xuất nông nghiệp, mà nội dung cơ bản là khoán đến hộ nông dân, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế

tự chủ ở nông thôn, đánh dấu sự mở đầu của thời kỳ đổi mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta Ngành nông nghiệp đã giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đưa Việt Nam từ nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới10

- Thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng (2001 đến nay), Việt Nam thực hiện hai chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là: chiến lược 2001-

2010 và chiến lược 2011-2020 nhằm xây dựng Việt Nam trở thành một nước "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Những thành tựu nổi bật trong phát triển nông thôn Việt Nam ở giai đoạn này là:

Một là, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường khu vực nông

thôn được tăng cường cả số lượng và chất lượng, tạo tiền đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Theo Tổng cục thống kê, tính đến 01/7/2020 tất cả các xã và gần 99% số thôn khu vực nông thôn đều đã có điện Tỷ lệ xã có đường ô tô từ trụ sở UBND xã đến trụ sở UBND huyện chiếm 99,67%, tỷ lệ xã có đường trục xã trải nhựa, bê tông đạt 99,16% Hệ thống kênh mương thủy nông có tổng chiều dài 167,86 nghìn km với tỷ lệ kiên cố hóa chiếm 45,02% Cả nước

10 Năm 2000, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 34,5 triệu tấn, gấp 2,1 lần năm 1986; lương thực có hạt bình quân đầu người đạt 444,8 kg, gấp 1,6 lần; xuất khẩu gạo đạt 3.477 nghìn tấn, gấp hơn 26 lần Thu nhập bình quân đầu người một tháng của dân cư tăng từ khoảng 1.600 đồng năm 1986 lên đến 295.000 đồng năm 1999 (Nguyễn Thị Hương, 2020)

Trang 39

có 99,61% xã có trường mầm non; 99,22% xã có trường tiểu học, 92,95% xã có trường trung học cơ sở 76,04% xã có nhà văn hóa xã, 94,30% tổng số xã khu vực nông thôn lắp đặt hệ thống loa truyền thanh

xã, 35,22% tổng số xã có điểm vui chơi giải trí và thể thao dành cho trẻ

em và người cao tuổi, 68,48% thôn có khu thể thao thôn và nơi sinh hoạt văn hóa thể thao (Tổng cục thống kê, 2021)

Hai là, hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh tế nông thôn có

bước phát triển mới Dịch vụ ngân hàng, tín dụng nông thôn phát triển rộng khắp, đóng vai trò tích cực trong cung ứng vốn cho khu vực nông thôn Mạng lưới khuyến nông được duy trì, đẩy mạnh hoạt động tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây trồng và vật nuôi Hoạt động thương mại, dịch vụ hỗ trợ sản xuất và phục vụ dân sinh phát triển đa dạng Công nghiệp nông thôn và làng nghề truyền thống được quy hoạch, đầu

tư phát triển đồng bộ, sản phẩm hàng hóa ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường Theo tổng cục thống kê, cuối năm 2020, 80,57% xã

có cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và 90,80% xã có cán

bộ thú y Cả nước có 4.346 xã có điểm/cửa hàng cung cấp giống cây trồng, 5.590 xã có điểm/cửa hàng cung cấp vật tư, nguyên liệu cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, 4.088 xã có điểm/cửa hàng thu mua sản phẩm nông, lâm, thủy sản và 5.347 xã có chợ; có 2.869 xã có doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm 34,58% tổng số xã khu vực nông thôn Cả nước có 1.011 xã và 2.436 thôn có làng nghề, chiếm 12,19% tổng số xã và 3,68% tổng số thôn khu vực nông thôn (Tổng cục Thống kê, 2021)

Ba là, sản xuất nông nghiệp vượt qua khó khăn về thiên tai và

dịch bệnh, phát triển ổn định Sản xuất nông nghiệp ở nước ta được tổ chức theo 3 hình thức sản xuất chủ yếu, bao gồm: kinh tế nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp Trong giai đoạn này, hình thức sản xuất và quy

mô sản xuất được cơ cấu lại phù hợp hơn với thực tiễn và yêu cầu của

sự phát triển – đó là ưu tiên phát triển những hình thức và quy mô sản xuất có năng suất, chất lượng, hiệu quả và giá trị hàng hóa cao Hợp tác

xã được củng cố phát triển, nhiều doanh nghiệp liên quan đến nông

Trang 40

nghiệp, nông thôn đã được thành lập Cụ thể: Năm 2019, cả nước có 7.418 hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thủy sản, sử dụng 77,70 nghìn lao động thường xuyên, bình quân mỗi hợp tác xã sử dụng 10,47 lao động;

có 7.471 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp tăng 94,25% so với 2015, sử dụng 249,24 nghìn lao động thường xuyên (Tổng cục Thống kê, 2021)

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, trong khi các ngành kinh tế khác tốc độ tăng trưởng đều giảm sâu

so với năm 2019 thì ngành nông nghiệp tiếp tục vững vai trò “trụ đỡ của nền kinh tế”, khi vừa đảm bảo được an sinh, an dân, lại vừa đạt mức tăng trưởng cả năm 2,9% cao hơn mức tăng 2,58% của cả nền kinh tế Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt kết quả cao kỷ lục 48,6 tỉ USD năm

2021, tăng 14,9% so với năm 2020; vượt mục tiêu 42 tỷ USD

Hình 6-1 Giá trị kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp giai đoạn

2011-2021

Bốn là, chất lượng cuộc sống dân cư nông thôn ngày càng được

cải thiện đáng kể Nâng cao đời sống người dân nông thôn là nhiệm vụ trung tâm, là quan hệ giữa phát triển kinh tế với sinh kế người dân nông thôn, môi trường sinh thái Cơ cấu thu nhập qua các năm đã có sự

Ngày đăng: 24/06/2023, 10:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm