song đã nổi trội một nghề truyềnthống, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyênnghiệp, có phờng hội, có quy trình công nghệ nhất định, sống chủ yếu bằngnghề đó
Trang 1Cùng với sự phát triển du lịch thế giới, trong thời gian qua nhờ các chínhsách đổi mới của Đảng và Nhà nớc, đặc biệt là chính sách mở cửa về đối ngoại
và kinh tế nên ngành du lịch Việt Nam đã có những bớc phát triển đáng kể,ngày càng đóng vai trò quan trọng, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nềnkinh tế quốc dân
Nằm trong chiến lợc phát triển chung của cả nớc, du lịch Bắc Ninh cũng
đợc chú trọng và đợc coi là một điểm du lịch vệ tinh của Hà Nội
Bắc Ninh là mảnh đất nơi sinh của dân tộc Việt, quê hơng của các vuanhà Lý - triều đại khai mở nền văn minh Đại Việt, một vùng đất “địa linh nhânkiệt”, nơi còn lu giữ và bảo tồn những di sản văn hoá mang đậm bản sắc dântộc Xung quanh Bắc Ninh là các điểm du lịch đặc biệt quan trọng của quốc gianh: Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dơng), Hà Nội ngàn năm văn hiến, Hạ Long - disản thiên nhiên thế giới Bắc Ninh cũng nằm trên tuyến du lịch xuyên Việt từ
Hà Nội đi Lạng Sơn lên phía Bắc và vào Nam theo 2 tuyến đừng bộ và đờng sắtquốc gia Đây còn là một thị trờng còn bỏ ngỏ, có tiềm năng kinh tế, giàutruyền thống văn hoá, giàu tính nhân văn Nhìn chung, với bề dày lịch sử vànhững di sản văn hoá phong phú và vị trí thuận lợi, Bắc Ninh có đầy đủ điềukiện và khả năng để phát triển du lịch Việc phát triển du lịch văn hoá Bắc Ninh
đặc biệt là phát triển du lịch làng nghề Bắc Ninh là một hớng mới để phát triển
du lịch tỉnh nhà
Đề tài “Khai thác làng nghề phục vụ mục đích du lịch ở tỉnh Bắc
Ninh” đợc thực hiện với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp
phát triển du lịch tỉnh, làm tăng lòng tự hào về quê hơng, đất nớc con ngời ViệtNam
Trang 22 Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ đề tài
2.1 Mục đích
Vận dụng cơ sở lý luận và phơng pháp luận về làng nghề và du lịch để
đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn và tiềm năng phát triển du lịch làng nghềtỉnh Bắc Ninh
2.3 Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực tài nguyên du lịchnhân văn, đặc biệt là các làng nghề tỉnh Bắc Ninh
3 Đối t ợng và ph ơng pháp nghiên cứu
3.1 Đối t ợng nghiên cứu
Các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh
3.2 Ph ơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp tiếp cận và phân tích hệ thống: để tìm kiếm và nêu lên
các mô hình của đối tợng nghiên cứu, thu thập, phân tích thông tin ban đầu Từ
đó vạch ra chỉ tiêu, định hớng thích hợp
- Phơng pháp khảo sát thực địa: nhằm thẩm định lại và bổ sung nguồn t
liệu đã có và kiểm chứng lại những kết quả xử lý t liệu, đánh giá tại chỗ nhữngkết luận khoa học của khoá luận
- Phơng pháp bản đồ: khoá luận sử dụng một hệ thống bản đồ chức năng
để nghiên cứu, bao gồm: bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng làng nghề để
đánh giá mức độ tập trung, mức độ phân hoá các làng nghề giữa các vùng lãnhthổ và bản đồ các tuyến điểm du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh
- Phơng pháp phân tích tổng hợp số liệu: để thực hiện khoá luận, việc
tiến hành nghiên cứu thu thập các tài liệu liên quan nh: giáo trình, sách báo, tạpchí, báo cáo rất cần thiết để từ đó tổng hợp, phân tích và đa ra kết luận
Trang 3- Phơng pháp toán và thống kê du lịch: đợc vận dụng để thống kê các di
tích lịch sử văn hoá, các làng nghề, thống kê đánh giá lợng khách, tỷ lệ doanhthu để từ đó xác định hiệu quả kinh tế
4 Những đóng góp và những điểm mới của khoá luận
- Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích thực trạng hoạt động của các làng nghề Bắc Ninh
- Đánh giá tiềm năng du lịch của các làng nghề Bắc Ninh
- Xây dựng một số tuyến du lịch làng nghề và du lịch kết hợp của tỉnh
- Bớc đầu đa ra một số định hớng và giải pháp để phát triển du lịch làngnghề Bắc Ninh
5 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dungcủa khoá luận bao gồm:
Chơng I: Cơ sở lý luận
Chơng II: Thực trạng hoạt động làng nghề Bắc Ninh
Chơng III: Phát triển du lịch làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh
Chơng IV: Những định hớng và giải pháp
Trang 4Chơng INhững cơ sở lý thuyết chung
1 Quan điểm và đặc điểm của làng nghề
1.1 Một số quan niệm làng nghề và ngành nghề truyền thống
Trong xã hội nông thôn Việt Nam từ hàng ngàn năm nay, làng đã là một
tế bào xã hội Làng Việt Nam có một vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử dântộc Trải qua những bớc thăng trầm của lịch sử, những nét thuần phong mỹ tục
cổ truyền ở nông thôn vẫn đợc duy trì và phát triển cho đến ngày nay
Từ buổi ban đầu, phần lớn ngời dân trong làng đều sinh sống bằng nôngnghiệp Về sau để đáp ứng những nhu cầu về sản xuất và sinh hoạt, có những
bộ phận dân c chuyển sang làm và sống bằng các nghề thủ công khác Họ liênkết chặt chẽ với nhau tạo thành các phờng hội: phờng gốm, phờng đúc đồng,phờng dệt vải, phờng làm mộc Từ đó các nghề đợc lan truyền và hình thànhlên các làng nghề Trải qua một thời gian dài phát triển đã có rất nhiều làngnghề phát triển mạnh, số hộ, số lao động làm nghề truyền thống và sống bằngnghề đó ngày càng tăng nhanh
Hiện nay có một số quan niệm về làng nghề nh sau:
Làng nghề là làng, tuy vẫn có trồng trọt, chăn nuôi và một số nghề phụkhác (đan lát, làm tơng, làm đậu phụ ) song đã nổi trội một nghề truyềnthống, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyênnghiệp, có phờng hội, có quy trình công nghệ nhất định, sống chủ yếu bằngnghề đó, sản xuất ra những mặt hàng thủ công, mỹ nghệ có tính hàng hoá [13]
Quan niệm này hàm ý về các làng nghề truyền thống, đó là những làngnghề nổi tiếng và đã tồn tại từ hàng ngàn năm nay
Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ cácnghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời Tại đây
có sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phờng hội, kiểu hệthống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn ý thứctuân thủ những quy ớc của xã hội và gia tộc [14]
Trang 5Nh vậy làng nghề là một thiết chế gồm 2 yếu tố cấu thành là “làng” và
“nghề” Các làng nghề gắn bó với các ngành nghề phi nông nghiệp, các ngànhnghề thủ công ở trong các thôn làng
Một số quan niệm khác lại cho rằng, làng nghề là làng ở nông thôn cómột (hoặc một số) nghề thủ công tách hẳn ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh
độc lập Về mặt định lợng, có thể hiểu làng nghề là một làng ở nông thôn có từ35% - 40% số hộ trở lên chuyên làm một (hoặc một số) nghề thủ công nghiệp
và có thể sinh sống bằng chính thu nhập của nghề đó (thu nhập của nghề chiếmtrên 50% tổng thu nhập của các hộ và giá trị sản lợng của nghề chiếm trên 50%giá trị sản lợng của địa phơng) [22]
Có thể nói đây là một quan niệm tơng đối đầy đủ về làng nghề hiện nay.Tuy nhiên, chỉ tiêu định hớng trên chỉ mang tính chất tơng đối, bởi vì đối vớitừng loại làng nghề khác nhau thì tỷ lệ nói trên cũng khác nhau Hơn nữa, quymô về số hộ và số lao động của các làng và các vùng cũng chênh lệch nhau
đáng kể Mặt khác, cùng với sự thăng trầm trong quá trình phát triển của từngnghề và làng nghề mà số lợng hộ và lao động làm nghề có sự biến đổi theo từnggiai đoạn khác nhau
Trớc đây khái niệm làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp.Ngày nay trên thế giới, khu vực kinh tế thứ 3 đang đóng vai trò quan trọng vàtrở thành lĩnh vực chiếm u thế về mặt tỷ trọng, thì các nghề buôn bán dịch vụ ởnông thôn cũng đợc xếp vào các làng nghề Nh vậy trong làng nghề sẽ có làngmột nghề và có làng nhiều nghề, có làng nghề truyền thống và làng nghề mới
- Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại, hoặc
có một nghề chiếm u thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có lác đác ở một vài hộkhông đáng kể
- Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỷ trọng các
nghề chiếm u thế gần tơng đơng nhau Trong nông thôn Việt Nam trớc đây loạilàng nghề một nghề xuất hiện và có xu hớng phát triển mạnh
- Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong
lịch sử (từ hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm) và tồn tại đến ngày nay
- Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan toả
của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời
kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trờng
Trang 6Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hoá và sự phát triển của nền kinh
tế thị trờng, công nghệ sản xuất trong các làng nghề không còn hoàn toàn là thủcông mà có rất nhiều nghề, nhiều công đoạn sản xuất đã sử dụng công nghệ -
kỹ thuật, cơ khí hiện đại và bán cơ khí Tại các làng nghề cũng đã xuất hiệnnhiều hộ, nhiều cơ sở chuyên làm dịch vụ đầu ra, đầu vào cho các hộ làm nghềkhác
Nh vậy, làng nghề đợc hiểu một các đầy đủ là những làng ở nông thôntồn tại các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm u thế về số hộ, số lao động và sốthu nhập so với nghề nông
Đối với những ngành nghề đợc xếp vào những ngành nghề tiểu thủ côngtruyền thống nhất thiết phải có các yếu tố sau:
- Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nớc ta
- Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề
- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề đông đảo
- Kỹ thuật và công nghệ mang tính truyền thống của dân tộc Việt Nam
- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nớc là chủ yếu
- Sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị
và chất lợng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹthuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá mang bản sắc của dân tộc ViệtNam
- Là nghề nghiệp nuôi sống bộ phận dân c trong cộng đồng, đóng góp
đáng kể vào ngân sách của Nhà nớc.[14]
Nh vậy, nghề thủ công truyền thống là những ngành nghề phi nôngnghiệp, đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử còn tồn tại tới ngày nay Nó bao gồmcả các ngành nghề mà phơng pháp sản xuất đã đợc cải tiến hoặc sử dụng nhữngmáy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất nhng vẫn tuân thủ công nghệ truyềnthống, thể hiện đợc nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Việt Nam
Ngành nghề truyền thống ở nớc ta rất phong phú và đa dạng Nhiềungành nghề đã tồn tại từ hàng ngàn năm, nhiều mặt hàng truyền thống đã nổitiếng khắp thế giới từ lâu đời Ngày nay, do sự phát triển của khoa học côngnghệ nên nhiều sản phẩm mới ra đời, có u thế và có sức cạnh tranh hơn nhữngsản phẩm truyền thống Vì vậy mà xuất hiện xu thế một số ngành nghề truyềnthống dần dần bị mất đi và một số ngành nghề mới xuất hiện để phù hợp với
đòi hỏi khách quan của thị trờng về cơ cấu, chất lợng và chủng loại sản phẩm
Trang 71.2 Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam
1.2.1 Làng nghề tồn tại ở nông thôn và gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp
Các làng nghề đều ra đời ở nông thôn sau đó tách dần khỏi nông nghiệpnhng không rời khỏi nông thôn Sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanhthủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau Ngời thợ thủ công trớchết và đồng thời là ngời nông dân Các gia đình nông dân vừa làm ruộng vừalàm nghề thủ công nghiệp Sự ra đời của các làng nghề đầu tiên là do nhu cầugiải quyết lợng lao động phụ, lao động d thừa nhàn rỗi giữa các mùa vụ và đápứng nhu cầu tiêu dùng của từng gia đình và của làng xã Về sau khi các nghềthủ công phát triển nó không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân trong làng
mà còn phục vụ cho nhu cầu của làng xã lân cận trong vùng Khi lực lợng sảnxuất đã phát triển thì thủ công nghiệp tách ra thành một ngành độc lập, vơn lênthành ngành sản xuất chính ở một số làng Song để đảm bảo cuộc sống, ngờidân bao giờ cũng vẫn duy trì nghề nông và đi buôn bán hoặc làm thêm nghềkhác Sự kết hợp đa nghề này thờng đợc thể hiện trong một làng hay trong từnggia đình nhng nó vẫn gắn chặt với nông thôn Làng nghề là một điểm đặc trngcủa nông thôn châu á, của phơng thức sản xuất châu á
1.2.2 Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thờng rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu.
Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, côngnghệ sản xuất mang tính đơn chiếc Nhiều loại sản phẩm sản xuất phải hoàntoàn dựa vào đôi bàn tay khéo léo của ngời thợ Có một số nghề chỉ cần công cụthủ công, thô sơ mà chính bản thân ngời thợ có thể tự làm ra Hiện nay, đã có
sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bớc trong công nghệ - kỹ thuật sản xuấtsong cho tới nay cũng chỉ có một số không nhiều có khả năng cơ giới hoá đợcmột số công đoạn trong sản xuất sản phẩm
1.2.3 Đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thờng là tại chỗ
Hầu hết các làng nghề đợc hình thành dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn cótrên địa bàn địa phơng Đặc biệt là các nghề thủ công chuyên sản xuất nhữngsản phẩm tiêu dùng nh đan lát mây tre, chế biến lơng thực thực phẩm (làmbánh, làm tơng, làm mắm ), sản xuất vật liệu xây dựng Một số ngành nghềcòn có thể tận dụng những phế liệu, phế phẩm trong công nghiệp, nông nghiệp
và sinh hoạt để làm nguyên liệu nên càng có sẵn Thậm chí một số mặt hàng
Trang 8thủ công mỹ nghệ, chạm khảm, sơn mài cũng có thể khai thác đợc nguồnnguyên liệu tại chỗ, địa phơng hoặc trong nớc Cũng có một số nguyên liệuphải nhập ngoại song không nhiều.
1.2.4 Phần lớn lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, óc thẩm mỹ đầy tính sáng tạo của các nghệ nhân và những ngời thợ Phơng pháp dạy nghề chủ yếu theo ph-
ơng thức truyền nghề
Lao động trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống chủyếu là lao động thủ công Trớc đây, hầu hết các công đoạn trong qui trình sảnxuất đều là lao động thủ công giản đơn Ngày nay do khoa học kỹ thuật pháttriển nhiều công đoạn sản xuất đã đợc áp dụng công nghệ mới song với một sốsản phẩm vẫn đòi hỏi phải duy trì kỹ thuật thủ công tinh xảo ở một số công
đoạn nhất định Hầu hết các làng nghề dù đợc hình thành bằng con đờng nào đichăng nữa thì cùng đều phải có các nghệ nhân làm nòng cốt, là ngời phát triểncác làng nghề Nghệ nhân đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các làngnghề Mỗi làng đều có một tổ nghề là ngời thầy đầu tiên dạy nghề, truyền nghề,
đem bí quyết nghề nghiệp ở nơi khác về truyền cho làng mình
Việc dạy nghề, trớc đây chủ yếu theo phơng thức truyền nghề trong gia
đình từ đời này sang đời khác, ít đợc phổ biến ra ngoài Thậm chí có những bíquyết nghề không đợc truyền cho con gái, vì vậy hầu hết các nghề chỉ đợc lutruyền trong phạm vi từng làng nghề Sau này khi các hợp tác xã làm nghề thủcông, các trung tâm dạy nghề ra đời thì phơng thức dạy nghề, truyền nghề cónhiều thay đổi, các bí quyết nghề nghiệp không còn đợc giữ bí mật nh trớc nữa.Phơng thức đào tạo nghề hiện nay chủ yếu theo lối truyền nghề kèm cặp
1.2.5 Sản phẩm các làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc dân tộc.
Có thể nói mỗi sản phẩm của làng nghề là một tác phẩm nghệ thuật Cácsản phẩm này vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao vì chúng vừaphục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí Mỗi sản phẩm đều là sự kết giaogiữa phơng pháp thủ công tinh sảo với sự sáng tạo nghệ thuật Các hàng thủcông truyền thống thờng mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi làngnghề
Các sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam vừa phản ánh những nétvăn hoá chung của dân tộc vừa có những nét riêng của làng nghề Ngay cả
Trang 9những ngời Việt Nam sống ở nớc ngoài khi nhớ về quê hơng là nhớ ngay đếncác dấu ấn đậm nét của mỗi làng nghề với những sản phẩm độc đáo Nh vậylàng nghề truyền thống không chỉ là những đơn vị kinh tế, thực hiện mục tiêusản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu mà còn mang nét đặc trng tiêu biểucủa nền văn hoá dân tộc, văn hoá cộng đồng làng xã Việt Nam.
1.2.6 Thị trờng tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính
và nhỏ hẹp của một bộ phận dân c, yếu tố cạnh tranh hầu nh không có Vì vậykhi bớc vào cơ chế thị trờng các làng nghề này đã gặp những khó khăn khôngnhỏ Tuy nhiên, các sản phẩm thuộc nhóm hàng thủ công mỹ nghệ có thị trờngtiêu thụ phong phú, đa dạng và rộng lớn hơn Các sản phẩm này vừa đáp ứng đ-
ợc nhu cầu tiêu dùng của ngời dân địa phơng trong nớc, vừa để xuất khẩu.Trong đó nhu cầu để xuất khẩu và bán cho khách tham quan du lịch thờngchiếm tỷ trọng lớn
1.2.7 Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô
hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp
t nhân.
Cho tới nay, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến trong cáclàng nghề là hộ gia đình Với hình thức này, hầu nh tất cả các thành viên tronggia đình đều tham gia vào những công việc khác nhau trong quá trình sản xuất -kinh doanh Tuỳ thuộc vào nhu cầu công việc mà các hộ gia đình có thể thuêthêm nhân công thờng xuyên hoặc thời vụ Đây là hình thức tổ chức thích hợpvới quy mô sản xuất nhỏ Tuy nhiên mô hình này hạn chế rất nhiều đến khảnăng phát triển sản xuất - kinh doanh
Tổ sản xuất là hình thức hợp tác, liên kết một số hộ gia đình cùng sảnxuất - kinh doanh một mặt hàng Đây là hình thức sản xuất đợc phát triển trongcác làng nghề vì nó làm tăng sức mạnh cho từng thành viên để phát triển sảnxuất - kinh doanh có hiệu quả
Trang 10Các doanh nghiệp t nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần đợc phát triển
từ một số tổ chức sản xuất hoặc một số hộ gia đình sản xuất - kinh doanh khá
đã bắt đầu hình thành ở nhiều làng nghề ở một số làng nghề, hình thức sảnxuất - kinh doanh này không chiếm tỷ trọng lớn về số lợng lao động song lại
đóng vai trò trung tâm liên kết, thực hiện các hợp đồng đặt hàng với các hộ gia
đình, giải quyết đầu ra, đầu vào, nơi sản xuất của các làng nghề với các thị ờng tiêu thụ khác nhau
tr-1.3 Phân loại làng nghề
Nếu dựa trên sản phẩm và phơng thức sản xuất chính để phân loại thì có
6 loại làng nghề sau:
- Làng nghề thủ công: làm ra các mặt hàng sử dụng hàng ngày nh: dao,
kéo, chiếu, mây tre đan gia dụng Đặc điểm của các làng nghề này là sản xuấtthủ công bằng tay và các công cụ đơn giản Do chi phí thấp nên loại hình nàykhá phổ biến
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ: làm ra các mặt hàng có giá trị văn hoá
nghệ thuật và trang trí nh đồ mỹ nghệ chạm khảm, chạm khắc tợng gỗ, đá, các
đồ mỹ nghệ bằng bạc, đồ thêu ren, dệt thảm, chế biến mây tre đan
- Làng nghề công nghiệp: sản xuất các hàng hoá thành phẩm và bán
thành phẩm nh sản xuất giấy, dệt, may mặc, gốm sứ, tái chế nhựa, kim loại,thuộc da
- Làng nghề chế biến lơng thực thực phẩm: chế biến các loại nông sản
nh xay xát, sản xuất miến dong, bún, bánh, sản xuất bia, nấu rợu, giết mổ vậtnuôi, chế biến hoa quả
- Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên liệu: sản xuất vật liệu xây dựng
đến cả họ và sau đó lan ra cả làng Thông qua lệ làng mà làng nghề định ra một
số quy ớc nh: không truyền nghề cho ngời làng khác, không truyền nghề chocon gái hoặc uống rợu ăn thề không để lộ bí quyết nghề Trải qua những bớc
Trang 11thăng trầm của lịch sử, có những nghề đợc lu giữ đến tận ngày nay, có nhữngnghề bị mai một hoặc mất hẳn và cũng có những nghề mới ra đời Trong đó cónhững nghề đạt tới trình độ nghệ thuật tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và sựphân công lao động khá cao.
2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề
Vào buổi đầu dựng nớc của ngời Việt Cổ (cách đây khoảng 4000 năm)
đã là thời đại kim khí với nền văn hoá Phùng Nguyên Đông Sơn Theo các nhàkhảo cổ học, qua nhiều năm nghiên cứu và khai quật các di chỉ đã khẳng địnhrằng vào thời kỳ này đã xuất hiện một số nghề thủ công truyền thống nh: luyệnkim, làm đồ gốm bằng bàn xoay, chế tạo thuỷ tinh, nghề mộc Những nghềnày đã đợc tổ chức có hệ thống theo cơ cấu làng xã
Nh vậy làng nghề cổ truyền Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm Những dichỉ khảo cổ cho biết vào thời kỳ dựng nớc (600 năm trớc Công Nguyên) cáclàng nghề đã xuất hiện trên lu vực sông Hồng khởi đầu cho một mô hình kinh
tế xã hội truyền thống [30]
Mặc dù bị kìm hãm và kém phát triển trong thời kỳ Bắc thuộc nhng cáclàng nghề truyền thống Việt Nam vẫn tồn tại trên cơ sở nền nông nghiệp Cùngvới sự phát triển của ngành nông nghiệp một số nghề thủ công mới cũng xuấthiện ở thời kỳ này nh nghề luyện đồng, luyện sắt, sản xuất vật liệu xây dựng Qua quá trình giao lu kinh tế - văn hoá với các nớc láng giềng đã góp phần thúc
đẩy công nghệ sản xuất phát triển Tiêu biểu nh nghề làm giấy, nghề mộc, nghềxây dựng Dựa vào nguồn tài liệu của các di chỉ khảo cổ thì trong thời kỳ Bắcthuộc nhân dân ta vẫn cố gắng duy trì các làng nghề nh nghề làm đá, đúc đồng,làm giấy
Từ thế kỷ XVI đợc sự quan tâm của vua quan nhà Lý – Trần, nôngnghiệp, thơng nghiệp và đặc biệt là thủ công nghiệp có sự phát triển mạnh mẽ.Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống đã xuất hiện trong thời kỳ này tiêubiểu nh nghề dệt ở Thăng Long, gốm Bát Tràng, đúc đồng Theo các tài liệuthời kỳ này có khoảng 64 làng nghề truyền thống, riêng Bắc Ninh đã có 14làng
Từ thời kỳ Hậu Lê đến nhà Nguyễn các làng nghề truyền thống phát triểnmạnh mẽ ở hầu hết các tỉnh xuất hiện thêm nhiều làng nghề nh: dệt, thêu, tơlụa Cả vùng đồng bằng sông Hồng có hàng trăm làng nghề trong đó đất KinhBắc chiếm số lợng phong phú nhất khoảng 52 làng nghề
Trang 12Nửa cuối thế kỷ XIX khi thức dân Pháp xâm lợc nớc ta chúng vẫnkhuyến khích phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống bằng việc đa cácsản phẩm sang Pháp và một số nớc để giới thiệu Song một số ngành nghề vẫn
bị mai một, thất truyền Thời kỳ này cũng du nhập một số nghề từ Pháp và một
số nớc khác
Sau Cách mạng tháng Tám cho đến thời kỳ đổi mới năm 1986, làng nghềViệt Nam có những bớc phát triển mới Hàng loạt các tổ chức sản xuất kinhdoanh, thu mua xuất khẩu hàng thủ công nghiệp ra đời Hàng thủ công mỹnghệ chủ yếu tiêu thụ ở các nớc XHCN Hàng xuất khẩu đợc chủ yếu dựa trêncác hiệp định tơng trợ thơng mại Do vậy ít chú ý đến chất lợng sản phẩm dẫn
đến làm ẩu, tay nghề của các nghệ nhân giảm xuống do không chịu sáng tạomẫu mã và đa dạng hoá sản phẩm Lớp trẻ không còn chú ý tiếp thu các nghềtruyền thống nữa Thời kỳ này các làng nghề gặp nhiều khó khăn, sản xuất bịgiảm sút, nhiều làng nghề bị mai một, suy tàn
Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ đầu những năm 90 trở đi với chínhsách khuyến khích thúc đẩy mọi thành phần kinh tế phát triển và việc xác lậpkinh tế hộ gia đình, giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân, giảitỏa những khó khăn ách tắc trong lu thông, phân phối sản phẩm đã tạo điềukiện cho nhiều làng nghề và ngành nghề thủ công truyền thống đợc khôi phục
và phát triển, đồng thời mở rộng, phát triển thêm nhiều làng nghề mới ở hầu hếtcác địa phơng trong cả nớc
3 Các nhân tố ảnh h ởng tới sự hình thành, phát triển của làng nghề
Nghiên cứu sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của các làng nghề trongsuốt chiều dài lịch sử ta thấy chúng chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố tự nhiên,kinh tế, xã hội Một số nhân tố chủ yếu ảnh hởng tới sự phát triển của các làngnghề gồm có:
3.1 Vị trí địa lý
Đây là yếu tố rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành và
đảm bảo sự tồn tại, phát triển lâu dài đối với bất cứ làng nghề thủ công nào ở
n-ớc ta
Hầu hết các làng nghề đều nằm ở vị trí thuận lợi về giao thông đờng thuỷhoặc đờng bộ và gần nguồn nhiên liệu Tại những lu vực sông Hồng, sông Mã,sông Chu, sông Thơng quy tụ rất nhiều làng nghề và đã tạo thành các trungtâm sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Nằm ở những đầu mối giao thông này
Trang 13cho phép các làng nghề có thể dễ dàng chuyên chở nguyên vật liêụ cũng nh trao
đổi và bán sản phẩm không những trong vùng mà còn thông thơng với các vùngkhác, kể cả xuất khẩu Đặc biệt, trớc kia do điều kiện giao thông đờng bộ chaphát triển thì yếu tố “bến sông bãi chợ” luôn đóng vai trò chính trong việc vậnchuyển, buôn bán của làng nghề Bên cạnh đó, để quyết định mở nghề lậpnghiệp, các tổ nghề còn đặc biệt quan tâm đến nguồn nguyên vật liệu thích hợpcho yêu cầu sản xuất lâu dài Vì vậy phần lớn các làng nghề đều hình thành nênnghề chính cho mình trên cơ sở nguồn nguyên liêụ sẵn có tại địa phơng Điểnhình nhất là các làng gốm Hơng Canh, Thổ Hà Một số làng nghề không cónguồn nguyên liệu tại địa phơng (nghề chạm khắc gỗ, nghề song mây đan ) lại
có những vị trí gần các bến cảng thuận lợi cho việc chuyên chở nguyên vật liệuphục vụ cho sản xuất và bán sản phẩm Có thể nói, đây là hai yếu tố quyết địnhtới sự tồn tại lâu dài của làng nghề
3.2 Nhu cầu của ng ời tiêu dùng và sức ép kinh tế
Từ trớc tới nay nhu cầu của con ngời đối với các mặt hàng thủ công là rấtlớn Đó là các nhu cầu ăn, ở, mặc, nhu cầu tôn giáo, tín ngỡng, thờ cúng Trớckia, khi cha có nền công nghiệp phát triển, mọi loại hàng tiêu dùng từ vật dụngsinh hoạt hàng ngày đến công cụ sản xuất, đồ thờ cúng, kể cả nhạc cụ, vũ khí
đều đợc làm bằng tay và phơng tiện sản xuất khá thô sơ Các sản phẩm thủcông lúc bấy giờ đều đợc sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt và sản xuất của ngờidân
Ngày nay, khi nền công nghiệp cơ khí đã phát triển, một số công đoạntrong sản xuất của các làng nghề đã sử dụng máy móc nhng nhu cầu về các sảnphẩm thủ công truyền thống không vì thế mà giảm đi Nhu cầu về các sản phẩmthủ công, nhất là các mặt hàng mỹ nghệ, hàng xuất khẩu lại tăng hơn trớc rấtnhiều Khi có nhu cầu về hàng thủ công mỹ nghệ thì tất yếu phải có sản xuấthàng thủ công Nhu cầu càng lớn, càng bền vững thì sản xuất ở các làng nghềcàng ổn định, phát triển lâu dài Ngợc lại, sự tồn tại và phát triển của các làngnghề cũng phụ thuộc vào khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội, có khả năngtiêu thụ lớn (sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ gia đình, mộc mỹ nghệ ) Tuynhiên có một số ngành nghề, làng nghề bị mai một, thậm chí bị tan rã do cácsản phẩm không còn phù hợp với thị trờng, không thay đổi mẫu mã, mặt hàng
và bị cạnh tranh bởi hàng công nghiệp (nghề làm nón, làm quạt, làm mật )
Trang 14Bên cạnh đó, ta cũng cần quan tâm tới sức ép kinh tế đối với các làngnghề Các làng nghề xuất hiện trớc tiên là để đáp ứng nhu cầu trong sản xuất vàtiêu dùng, nhng cũng có những làng nghề hình thành và phát triển do thiếu điềukiện sản xuất nông nghiệp Do đất chật, ngời đông, thu nhập không đảm bảocho đời sống của dân c trong vùng đã tạo nên sức ép buộc ngời dân phải pháttriển ngành nghề phi nông nghiệp Nhiều làng nghề tồn tại và phát triển mạnh
mẽ đến ngày nay đều có mật độ dân số cao, diện tích canh tác nông nghiệp trên
đầu ngời thấp, tiêu biểu nh làng Ninh Hiệp, làng Đồng Kỵ, làng tranh dân gian
Đông Hồ Có lẽ chính sức ép kinh tế cũng là một trong những nhân tố tạo chovùng đồng bằng sông Hồng trở thành nơi xuất hiện sớm nhất, tập trung nhất cáclàng nghề và ngành nghề thủ công
3.3 Trình độ tay nghề của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, kĩ thuật truyền thống và kinh nghiệm lâu đời của các làng nghề
Đây là một nhân tố rất quan trọng, với đôi bàn tay vàng các nghệ nhân đãtạo lên những sản phẩm quý giá, tinh xảo và độc đáo Cũng chính họ, nhữngnghệ nhân, thợ cả đã giữ gìn cho làng nghề tồn tại, đã đào tạo ra những nhómthợ mà trớc hết là con em trong gia đình, dòng họ, trong làng Cứ thế, nhữngthế hệ thợ thủ công kế tiếp, đan xen, đời sau nối tiếp đời trớc Do đó trong mỗilàng nghề thờng có một vài ba lớp thế hệ thợ cùng tham gia sản xuất, duy trì vàphát triển ngành nghề ngày càng thịnh vợng hơn
Về kỹ thuật, hầu hết các làng nghề đều sử dụng kỹ thuật truyền thống lâu
đời của Việt Nam trong sản xuất Mỗi nghề đều có kỹ thuật sản xuất riêng baogồm nhiều công đoạn từ khâu khai thác, chế biến đến hoàn thiện sản phẩm để
đa ra thị trờng tiêu thụ Trong đó còn bao gồm cả thủ pháp nghệ thuật Có nhiềulàng nghề làm chung một nghề, thờng có kỹ thuật chung nhng không vì thế màcác công đoạn kỹ thuật lại giống nhau Mỗi làng có cách ứng dụng kỹ thuậtchung ấy theo cách riêng của mình Thủ pháp nghệ thuật còn đa dạng hơn nữabởi mỗi nghệ nhân đều có thủ pháp nghệ thuật riêng dựa trên trình độ sáng tạo
và kinh nghiệm riêng của mình Chính vì thế mà thợ gốm Thổ Hà (Bắc Ninh)rất giàu kinh nghiệm sản xuất loại gốm đỏ, thợ gốm Phù Lãng (Bắc Ninh) lạichuyên sản xuất gốm màu da lơn Trong khi đó thợ gốm Bát Tràng lại có sảnphẩm đặc trng nhất là gốm sành (gọi là gốm đàn) Bên cạnh đó loại gốm menngọc, gốm men rạn, men nâu, gốm hoa lam đợc thợ gốm tài năng của Bát Trànglàm ra trong suốt mấy trăm năm nay đã trở thành sản phẩm tiêu biểu của nghề
Trang 15gốm Việt Nam Tính đa dạng và khác biệt trong yếu tố kỹ thuật của các nghệnhân đã tạo lên tính đa dạng phong phú cho các sản phẩm thủ công, đáp ứngnhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.
Mặt khác, các nghề cổ truyền trờng tồn đợc chính còn do kinh nghiệmlâu đời của họ Kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong thủ phápnghệ thuật của mỗi gia đình, dòng họ, làng nghề thờng nằm trong tay các nghệnhân, thợ cả và truyền từ đời này sang đời khác Bí quyết đó nh một thứ vũ khí
bí mật luôn đợc mỗi ngời thợ gìn giữ với đầy đủ ý thức và sự cẩn trọng
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ kỹ thuật
và công nghệ sản xuất có ảnh hởng trực tiếp đến năng suất lao động, chất lợng
và giá thành sản phẩm Do đó để đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng suất,chất lợng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trờng trong và ngoài nớc, các cơ sởsản xuất kinh doanh trong các làng nghề cần phải đổi mới trang thiết bị, ápdụng kỹ thuật mới, kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại để
đa ra những sản phẩm có chất lợng tốt, giá trị cao
3.4 Quy chế làng nghề và các chính sách của Nhà n ớc
Có thể nói đây là nhân tố tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinhdoanh của các làng nghề Các làng nghề thủ công lâu đời đều có các qui chế vềnghề thủ công hoặc thành văn bản riêng hoặc đợc ghi trong các Hơng ớc củalàng Thậm chí mỗi phờng nghề còn có những qui chế riêng dới dạng “lời thề”,
“lời nguyền” Các qui chế này đợc truyền qua các thế hệ bắt buộc các thànhviên phải thực hiện một cách nghiêm ngặt
Những qui định này là biện pháp để giữ bí mật, bí quyết nghề nghiệp củanhững ngời thợ trong làng nghề Nó có tác dụng tích cực để duy trì hoạt độnglâu dài của mỗi làng nghề Song sự độc quyền này cũng làm kìm hãm sự pháttriển của nghề nghiệp trong phạm vi cả nớc
Để đảm bảo phát triển nghề và làng nghề nhất thiết phải có hệ thốngchính sách và pháp luật của Nhà nớc Chúng ảnh hởng rất lớn tới sự phát triểnhay suy vong của làng nghề Ngay từ thời Lý - Trần, khi hàng hoá thủ công vàsản phẩm nông nghiệp dồi dào Nhà nớc đã cho phép mở các cảng biển Vân
Đồn, Vạn Ninh để trao đổi và buôn bán hàng hoá Nhà nớc phong kiến cũng rấtkhuyến khích nhân dân sản xuất và sử dụng hàng nội hóa Các Tổ nghề đợc tônvinh, các thợ giỏi đợc mời về kinh đô sản xuất hàng cao cấp phục vụ cho triều
đình những nghệ nhân sản xuất ra các sản phẩm cực kì tinh xảo, những công
Trang 16trình kiến trúc kì vĩ thờng đợc vua ban thởng, hậu đãi Trong chiến lợc khaithác thuộc địa, ngời Pháp cũng đã tiến hành những cuộc chấn hng nghề và làngnghề thủ công Việt Nam Sau này nghề và làng nghề nớc ta dù đã trải quanhững bớc thăng trầm song vẫn luôn gắn với những chính sách của Đảng vàNhà nớc Những năm gần đây, nhờ chính sách mở cửa, hội nhập của nền kinh tếnớc ta với các quốc gia trên thế giới đã tạo điều kiện cho các làng nghề mởrộng thị trờng xuất khẩu Ngợc lại, đây cũng là điều kiện cho hàng nớc ngoàitràn vào cạnh tranh và làm hạn chế sự phát triển của một số làng nghề Nếukhông có những chính sách phát triển hợp lí, không có sự kết hợp giữa đại côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp thì các làng nghề khó có điều kiện phát triển.
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển nh hiện nay các yếu tố nh vốn, cơ
sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng cũng có vai trò nhất định nhng nhìnchung 4 yếu tố trên không thể thiếu đợc trong lịch sử phát triển các làng nghềtruyền thống Việt Nam
4 Vai trò của việc phát triển làng nghề đối với ngành du lịch
4.1 Vai trò của làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn
Thứ nhất, phát triển làng nghề là biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho ngời lao động ở nông thôn, góp phần chuyển dịch nền kinh tế.
Sự phát triển của làng nghề không những thu hút lao động ở gia đìnhmình, làng xã mình mà còn thu hút đợc nhiều lao động từ các địa phơng khác
đến làm thuê Làng nghề phát triển còn kéo theo nhiều nghề dịch vụ khác pháttriển, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho ngời lao động Chẳng hạn nghề chếbiến lơng thực, thực phẩm tạo nhiều điều kiện cho chăn nuôi phát triển Tácdụng to lớn của các làng nghề là tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho ngờilao động Thu nhập từ sản xuất công nghiệp nông thôn thờng gấp 2 - 3 lần thunhập thuần nông, nó chiếm khoảng 70% thu nhập của các hộ nông dân kiêmnghề
Làng nghề còn là một mắt xích quan trọng nối liền giữa thành thị vànông thôn Sự phát triển của các làng nghề đã đóng góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế nông thôn theo hớng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nôngnghiệp, tăng giá trị sản xuất từ các ngành nghề thủ công và dịch vụ ở nông thônbằng cách điện khí hóa và cơ giới hóa công cụ sản xuất, giải phóng nhân côngtrong sản xuất nông nghiệp
Trang 17Việc phát triển làng nghề là một giải pháp quan trọng nhằm khai thácnguồn nhân lực ở nông thôn tạo điều kiện cho những ngời không có khả năngsản xuất nông nghiệp chuyển sang làm nghành nghề mà họ có u thế hơn.
Thứ hai, các làng nghề phát triển tạo ra khối lợng hàng hoá phong phú,
đa dạng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và sản xuất
Vai trò của các làng nghề thể hiện rõ nét trong việc phát triển kinh tế
Tr-ớc đây sản phẩm tiêu dùng thông thờng của các làng nghề đã cung cấp 88%cho đại bộ phận ngời dân và 12% tham gia xuất khẩu Những làng có nghềtruyền thống, bộ mặt nông thôn thay đổi rõ rệt so với các làng thuần nông L-ợng hàng hoá mà làng nghề trong cả nớc làm ra đã và đang đóng góp một phần
đáng kể cho nền kinh tế Nhiều làng nghề đã giữ vai trò quan trọng trong việcphát triển kinh tế - xã hội của địa phơng Qua đó chứng tỏ là các làng nghề thủcông đã có vị trí, tầm quan trọng không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn cả
ở lĩnh vực văn hoá xã hội Sản xuất của làng nghề thủ công phát triển theo hớngchuyên môn hóa, đa dạng hoá sản phẩm đã làm cho các làng nghề năng độnghơn Nó góp phần tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất chokinh tế nông thôn
Nếu trớc đây làng nghề chỉ đợc xem là kinh tế phụ của ngời dân để tậndụng thời gian nông nhàn và tăng thu nhập cho nông dân thì nay làng nghề làmột yếu tố quan trọng, một bộ phận chủ yếu trong chiến lợc công nghiệp hoá -hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở nớc ta Khai thác mọi nguồn lực để mởrộng và phát triển ngành nghề, làng nghề trong nông thôn là nhằm tạo ra nhiềusản phẩm hàng hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nớc
Thứ ba, phát triển làng nghề góp phần thúc đẩy gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân c ở nông thôn và tăng tích luỹ cho kinh tế hộ gia đình.
Hoạt động làng nghề, phố nghề mang lại thu nhập gấp 2 - 3 lần làm nôngnghiệp Sản xuất ngành nghề, chi phí lao động và diện tích thấp hơn nhiều sovới nông nghiệp, nghề phụ trở thành nghề chính Thu nhập từ làng nghề đã lànguồn tích lũy và làm giàu trong bớc đi ban đầu để chuyển từ sản xuất tự cung
tự cấp sang sản xuất hàng hoá Thực tiễn cho thấy nhiều làng nghề không còn
hộ đói nghèo, số hộ giàu ngày càng tăng nhanh Đối với họ nhiều nghề đã trởthành biểu tợng của sự thịnh vợng và phát triển trong tơng lai
Khi làng nghề truyền thống và làng nghề mới phát triển đã xuất hiện một
số ngời mạnh dạn rời bỏ nông nghiệp để làm nghề Đây chính là cơ sở vững
Trang 18chắc của việc nâng cao đời sống vật chất tinh thần của ngời lao động ở nhữnglàng nghề có uy tín nhiều hộ gia đình hàng năm tích luỹ đợc hàng trăm triệu
đồng Đời sống ngời làng nghề đợc cải thiện, những biểu hiện tiêu cực trong xãhội cũng từ đó dần dần bị đẩy lùi Trật tự kỷ cơng xã hội đợc thiết lập, mọi ngờiquen dần với cách sống và thực hiện theo hiến pháp và pháp luật
Thứ t, phát triển làng nghề góp phần bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Làng nghề là một cụm dân c sinh sống tạo thành làng quê hay phờng hội
Đó chính là cộng đồng nhỏ về văn hoá Những phong tục tập quán, đền thờ,miếu mạo của mỗi làng xã vừa có nét chung của văn hoá dân tộc, vừa có nétriêng của mỗi làng quê, làng nghề Các sản phẩm của làng nghề chính là sự kếttinh, sự giao lu và phát triển các giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc
Đó cũng chính là dấu ấn di sản văn hoá quý báu mà ông cha ta để lại cho thế hệsau Nó mang trong mình bản sắc văn hoá dân tộc mà các dân tộc khác không
có đợc Cho nên việc duy trì ngành nghề truyền thống, bảo tồn bản sắc văn hoádân tộc là vô cùng cần thiết
Đặc điểm sản xuất của làng nghề luôn gắn chặt với truyền thống văn hoácủa mỗi vùng nghề, làng nghề Bởi lẽ nghề nghiệp ảnh hởng trực tiếp đến vănhoá tinh thần, tác động đến tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán của làngnghề Những sản phẩm này đã vợt qua giá trị hàng hoá đơn thuần để trở thànhnhững sản phẩm văn hoá mang bản sắc truyền thống dân tộc
4.2 Vai trò của làng nghề đối với việc phát triển du lịch
Ngày nay, nhu cầu văn hoá của con ngời, của tập thể chính là động lựcthúc đẩy ngời ta đi du lịch Đi du lịch không chỉ đơn thuần để vui chơi giải trí
mà còn hớng tới mục đích cao hơn, đó là sự hiểu biết, học hỏi, nghiên cứu.Theo thang cấp bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu hiểu biết chính là nhu cầucao nhất của con ngời Con ngời khi đã thoả mãn đợc nhu cầu chủ yếu nh: ăn,
ở, nghỉ ngơi, vui chơi, an dỡng, giao lu thì họ đều hớng tới những giá trị tinhthần, nhân văn, nhân bản Họ muốn tự hoàn thiện bản thân và cân bằng lại nhâncách của mình
Sự khác biệt về văn hoá giữa quốc gia này với quốc gia khác, dân tộc nàyvới dân tộc khác, vùng này với vùng khác chính là nguyên nhân xuất hiện cácdòng khách du lịch từ nơi này đến nơi khác, từ nớc này sang nớc khác Trong
Trang 19khi đó, sản phẩm của các làng nghề lại chính là sự kết tinh, sự giao lu và pháttriển các giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc Chính vì vậy, các làngnghề ngày càng có sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong nớc và quốc tế.
Gần đây ngành du lịch nớc ta đã đặc biệt quan tâm đến loại hình du lịchlàng nghề Một số Công ty du lịch đã bắt đầu tiến hành các “tour” du lịch làngnghề theo những tuyến du lịch văn hoá và thơng mại Khách trong nớc và quốc
tế qua những chuyến đi ấy đã tận mắt thấy quy trình sản xuất, tạo tác sản phẩmthủ công mỹ nghệ của ngời thợ Không chỉ sửng sốt trớc tài khéo léo của cácnghệ nhân và thích thú các sản phẩm độc đáo, họ còn hiểu biết hơn về văn hoátruyền thống, đất nớc và con ngời Việt Nam
Khách du lịch đến làng nghề, dờng nh họ coi đó là cơ hội may mắn trong
đời mình Thờng thì họ đợc xem và chọn mua tuỳ thích một vài vật phẩm độc
đáo, có giá trị nghệ thuật làm quà lu niệm Còn với các nhà doanh nghiệp và
th-ơng nhân khác tại các làng nghề họ có thể tìm đợc đối tác, bạn hàng thậm chícả cơ hội đầu t Trên thực tế, đã có nhiều hợp đồng kinh tế đợc ký kết, thực hiện
có hiệu quả ngay sau các “tour” du lịch làng nghề
Nh vậy, các làng nghề phát triển đã góp phần tạo ra các sản phẩm du lịchmới lạ, độc đáo, hấp dẫn để thu hút du khách trong và ngoài nớc
Ngợc lại, khi du lịch phát triển tại các làng nghề sẽ tạo thêm việc làmcho ngời dân địa phơng bởi du lịch đòi hỏi lực lợng nhân công lớn Hơn nữa,
đây cũng là điều kiện vô cùng thuận lợi để mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩmcho các làng nghề
Trang 20Chơng IIthực trạng phát triển làng nghề Bắc Ninh
1 Khái quát chung
1.1 Vị trí địa lý
Bắc Ninh nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng với diện tích 804km2,nhỏ nhất trong 61 tỉnh thành phố của cả nớc Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang,phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dơng, phía Tây giáp Hà Nội và phíaNam giáp tỉnh Hng Yên Bắc Ninh có tọa độ địa lý nh sau:
Từ 20057’ đến 21022’ vĩ tuyến Bắc
Từ 105054’ đến 1060 kinh tuyến Đông
Về mặt hành chính, Bắc Ninh có một tỉnh lỵ là thị xã Bắc Ninh và 7huyện: Quế Võ, Yên Phong, Tiên Du, Từ Sơn, Thuận Thành, Gia Bình và LơngTài
Bắc Ninh là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, liền kề với thủ đô Hà Nội, nằmtrong khu vực tam giác kinh tế tăng trởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh,gần các khu, cụm công nghiệp lớn của vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ BắcNinh có điều kiện giao thông tơng đối thuận lợi, là giao điểm của hai quốc lộhuyết mạch 1A nối Hà Nội - Lạng Sơn và quốc lộ 18 nối Nội Bài - Quảng Ninh.Tỉnh nằm trên trục đờng sắt xuyên Việt với đoạn Bắc Ninh - Việt Yên dài 20kmnối Bắc Ninh với thủ đô Hà Nội và cửa khẩu quan trọng nhất nớc ta ở phía Bắc
- cửa khẩu Hữu Nghị Đặc biệt, khi nâng cấp đờng 18 hoàn thành, Bắc Ninh chỉcách sân bay quốc tế Nội Bài 20km Ngoài ra, Bắc Ninh còn có hệ thống giaothông nội tỉnh tơng đối phát triển nối với các trục đờng quan trọng 1A, 5, 18,
Trang 2138 tạo nên một mạng lới giao thông thuận lợi Đây là điều kiện giao lu hànghoá, trao đổi với bên ngoài, tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho việc phát triển kinh tế
- xã hội nói chung và ngành nghề truyền thống nói riêng
Đờng sông cũng là một lợi thế đáng kể của Bắc Ninh, ba con sông TháiBình, sông Đuống, sông Cầu chảy qua Bắc Ninh tạo một mạng lới đờng thuỷnối liền với các tỉnh bạn Bắc Ninh còn có cảng sông Thị Cầu với trọng tải200.000 tấn/ năm
1.2 Đặc điểm tự nhiên
1.2.1.Địa hình
Địa hình Bắc Ninh chủ yếu là đồng bằng châu thổ đợc bồi đắp bởi phù sasông Đuống và sông Thái Bình Do tác động của quá trình địa mạo cùng vớicác qúa trình nhân tạo nên ở Bắc Ninh có những dạng địa hình sau:
Đồng bằng tích tụ xâm thực đồi sót Yên Phong - Quế Võ có độ cao trêndới 100 m, đỉnh cao nhất có độ cao là 171m (núi Hàm Long - xã Nam Sơn -Quế Võ), có độ dốc trung bình 10 - 150 có nơi trên 250 Các đồi hình thành dobào mòn xâm thực, các thềm phù sa cổ cao 10 - 20 m
Đồng bằng tích tụ xâm thực xen ở các huyện Từ Sơn, Tiên Du, ThuậnThành, Gia Bình và Lơng Tài ở đây không có đồi sót, chỉ có phù sa mới bồi tụ
do sông Hồng, sông Thái Bình phủ trên lớp trầm tích biển Nay là vùng đất phù
sa trong đê nên không đợc bồi đắp nữa
Tóm lại, Bắc Ninh là một tỉnh đồng bằng kết hợp với những dãy núi thấpthiên nhiên thơ mộng với những thắng cảnh nh: Núi Phật Tích với chuyện VơngChất và Từ Thức, núi Nguyệt Hằng hay còn gọi là núi CôTô, khu núi Dạm gồm
đủ Tứ Linh, núi Lim (Hồng Ân Sơn) nơi hàng năm diễn ra hát quan họ Cácngọn núi này nằm xen kẽ trong các khu thị xã, thị trấn đây là quang cảnh đặcthù để phát triển du lịch đa dạng trên lãnh thổ, đặc biệt là du lịch cuối tuần,cắm trại, dã ngoại
1.2.2 Khí hậu
Cũng nh các tỉnh khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Ninh có khí hậunhiệt đới gió mùa ẩm, mùa đông lạnh và khô rõ rệt, mùa ma là mùa nóng từtháng 4 đến tháng 10, mùa khô cũng chính là mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3với một số đặc trng khí hậu:
Bức xạ tổng cộng/ năm: 120,6 kacl/ cm2
Bức xạ quang hợp: 59,8 kacl/ cm2
Trang 22 Đặc điểm chế độ nhiệt:
Bắc Ninh nhiệt độ trung bình năm 23,10C Nhiệt độ mùa hè trên 250C
(kéo dài 6 tháng), với tổng nhiệt lợng 800 – 1.2000C Mùa đông dài 3 tháng,
nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 200C, tổng nhiệt lợng 600 - 7000C Tổng giờ nắng
Đặc điểm lợng ma và chế độ ẩm.
Thời tiết chia làm hai mùa rõ rệt do ảnh hởng của gió mùa, mùa ma có
l-ợng ma và ngày ma chiếm u thế trong năm (ll-ợng ma chiếm 80% so với cả
năm), độ ẩm cao Mùa ma có giông bão, ma rào kéo dài
Mùa đông có gió Đông Bắc, lợng ma và số ngày ma giảm, độ ẩm xuống
khá thấp dới 70 - 80%, có khi tới 40 - 50% Có ma nhỏ và ma phùn ở cuối đông
sang xuân Ngoài hai mùa trên có mùa xuân và mùa thu chuyển tiếp không rõ
lắm và ngắn Lợng ma trung bình năm của Bắc Ninh là 1.638mm song lợng ma
phân bố không đều trong năm Mùa ma tập trung vào tháng 7, 8, 9 chiếm 75
-80% lợng ma cả năm Độ ẩm trung bình trên -80% Lợng bốc hơi bình quân 630
mm/ năm
Bảng 2: Lợng ma, lợng bốc hơi, độ ẩm tơng đối trung bình [28]
nămLợng m-
Trang 23Nhìn chung, khí hậu Bắc Ninh có điều kiện thuận lợi để phát triển dulịch So sánh với số liệu bảng 1, ta thấy Bắc Ninh có khí hậu khá thích hợp vớihoạt động của con ngời Hầu hết các tháng trong năm đều rất thuận lợi cho dulịch Hạn chế chính của khí hậu Bắc Ninh là lợng ma lớn và nắng nóng tập trungvào tháng 7, 8, 9 Tuy nhiên với khí hậu 4 mùa trong năm, phong cảnh thay đổitheo mùa tạo nên những nét hấp dẫn riêng nên hoạt động du lịch có thể diễn racả năm không bị ngắt quãng.
Tài nguyên nớc.
Bắc Ninh có một hệ thống sông ngòi, kênh mơng dày đặc, mật độ đờngthuỷ 1,0 - 1,2 km/km2 Với các con sông lớn: sông Đuống, sông Cầu, sông TháiBình hàng năm tiếp nhận trung bình lợng nớc ma từ 250 - 300 triệu m3
Thuỷ chế sông ngòi Bắc Ninh cũng có tính chất hai mùa rõ rệt và phân
bố chênh lệch rõ về lợng nớc chảy, nhiệt độ và chất lợng nớc Mùa hè ma nhiềunên thờng có lợng nớc lớn (30 - 35 l/s/km2) Mùa cạn chủ yếu vào mùa đôngvới lu lợng thấp (4 - 6 l/s/km2) lợng nớc chỉ bằng 20% so với cả năm
Nớc ngầm tỉnh Bắc Ninh khá phong phú: theo đánh giá của liên đoàn địachất 2, Bắc Ninh có khả năng khai thác đợc khoảng 400.000 m3/ ngày Nhìnchung, tài nguyên nớc của tỉnh Bắc Ninh phong phú, đa dạng tạo điều kiệnthuận lợi phát triển nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt cũng nh đáp ứng nhu cầu
du lịch Bên cạnh đó, mỗi con sông của Bắc Ninh lại mang trong mình mộttruyền thuyết đẹp, chuyện tình Mỵ Nơng - Trơng Chi trên sông Tiêu Tơng, consông Cầu “nớc chảy lơ thơ” hay vẻ đẹp hùng tráng của sông Đuống “ nằmnghiêng nghiêng trong kháng chiến trờng kỳ” Đó chính là tiềm năng để tạonên những tour du lịch đầy lý thú và bổ ích
ơi mát, trong lành
Về hệ động vật: do có địa hình đồng bằng, đồi thấp nên Bắc Ninh không
có các loại động vật hoang dã đặc trng nh các vùng núi khác Phần lớn là động
Trang 24vật nuôi nh: trâu, bò, lợn, gia cầm Số gia súc gia cầm nuôi với số lợng khálớn đủ để đáp ứng nhu cầu thực phẩm của ngời dân địa phơng và du khách.
Nói tóm lại, với thảm thực vật và hệ động vật phong phú, đa dạng, nhữngtriền đồi, dãy núi danh thắng nổi tiếng, dòng sông hiền hoà, thiên nhiên thơmộng, khí hậu điều hoà, Bắc Ninh có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển
du lịch
1.3 Đặc điểm về dân c và nguồn lao động
Đến năm 2001, toàn tỉnh Bắc Ninh có 957,7 nghìn ngời Trung bình mỗinăm dân số Bắc Ninh lại tăng thêm hơn 12 nghìn ngời Bắc Ninh là tỉnh có tỉ lệdân số tự nhiên giảm nhanh và tơng đối thấp so với cả nớc Nếu năm 1994 tỷ lệtăng dân số tự nhiên là 1,67% thì đến năm 1996 còn 1,49% Sự giảm mức giatăng chủ yếu là do giảm nhanh tỷ suất sinh Trong thời kỳ 1998 - 1999, mứctăng dân số tự nhiên của Bắc Ninh là 1,41%
Mật độ dân số.
Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh năm 1999 là1.178 ngời/km2 Mật độdân số này gấp 1,3 lần mật độ dân số Đồng bằng sông Hồng và đứng thứ nămtrong 61 tỉnh, thành phố của cả nớc
Bắc Ninh có mật độ dân c đông đúc nh vậy một phần là do nằm trongkhu vực Đồng bằng sông Hồng, là vùng đất đã đợc khai phá từ lâu đời Nơi đây
có nhiều điều kiện thuận lợi cho con ngời sinh sống; tài nguyên đất, nớc, khíhậu khá phong phú là cơ sở để phát triển một nền kinh tế đa dạng; có nhiềutuyến đờng quốc lộ quan trọng chạy qua tạo thành tuyến giao thông thuận lợicho việc giao lu kinh tế, văn hoá với các vùng và các tỉnh khác trong cả nớc
Dân c Bắc Ninh phân bố không đều, thị xã Bắc Ninh có mật độ dân sốcao nhất (2.711ngời/km2), mật độ dân số trung bình của các huyện đồng bằng
là trên 1.000 ngời/km2 còn 2 huyện trung du có mật độ thấp hơn Nguyên nhân
là do sự khác nhau về vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Trang 25Bảng 3: Mật độ dân số theo các huyện, thị xã của Bắc Ninh [28]
(Đơn vị: ngời/ km2)
Trang 26Lực lợng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 7,8% tổng sốlao động của tỉnh Lao động có trình độ đại học và trên đại học là 7.650 ngời,
có trình độ trung học chuyên nghiệp là 30 nghìn ngời
Bắc Ninh là nơi có nhiều ngành nghề thủ công phát triển vào bậc nhất ởnớc ta Sản phẩm của các làng nghề bán ra không chỉ trong vùng mà còn có mặttrên thị trờng cả nớc và nớc ngoài Đội ngũ thợ thủ công đông đảo, nhiều ngời
có tay nghề cao và đạt đến trình độ nghệ nhân Điển hình là các làng gốm vensông Cầu, rèn Đa Hội, làm mành trúc ở Tân Hồng( Từ Sơn), làm mộc, trạmkhắc gỗ ở Từ Sơn, Phù Khê
1.4 Đặc điểm kinh tế
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Bắc Ninh đã có nhiều thay đổi rõnét Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên địa bàn tỉnh đạt 1429,7 tỷ đồng năm
1995, đến năm 1999 đã là 3.137 tỷ đồng Tốc độ tăng trởng kinh tế (GDP) nămsau cao hơn năm trớc: năm 1998 so với 1997 là 107%; năm 1999 so với 1998
đạt 100,5%
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hớng tăng tỷ trọng công nghiệp vàdịch vụ, giảm tỷ trọng nông, lâm, ng nghiệp
Bảng 5: Cơ cấu GDP của Bắc Ninh [28]
(Theo giá hiện hành) - ( đơn vị: %)
Trang 27Từ số liệu ở bảng trên ta thấy rằng các ngành dịch vụ và công nghiệp
đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vai trò của mình trong nềnkinh tế của tỉnh Ngành công nghiệp đã góp phần phục vụ tốt cho nông nghiệp
và các ngành kinh tế khác Ngành tiểu thủ công nghiệp mà chủ yếu là các làngnghề đã tìm đợc hớng đi lên và xác định chỗ đứng của mình Bên cạnh các làngnghề truyền thống đã có từ hàng ngàn năm nay, Bắc Ninh đã nắm bắt đợc nhucầu của thị trờng để phát triển thêm nhiều làng nghề mới tạo ra số lợng sảnphẩm phong phú, đa dạng với chất lợng cao Tiêu biểu là sản phẩm của cáclàng Đình Bảng, Phù Khê, Hơng Mạc, giấy Phong Khê, rèn Đa Hội, tre nứaXuân Lai
1.5 Thị tr ờng tiêu thụ
Bắc Ninh có thị trờng rất phong phú và rộng lớn Trớc hết Bắc Ninh nằm
ở vị trí vô cùng thuận lợi cho việc thông thơng, trao đổi hàng hoá và giao lu vănhoá Bắc Ninh nằm ở gần các thành phố, đô thị lớn: Hà Nội, Hải Phòng, QuảngNinh, Bắc Giang, Lạng Sơn đây chính là những thị trờng lớn để tiêu thụ sảnphẩm của Bắc Ninh Đồng thời đó cũng là nơi để Bắc Ninh tìm hiểu các thôngtin về thị trờng, là nơi giao dịch, đặt văn phòng giới thiệu sản phẩm vô cùngthuận lợi
Bắc Ninh có nhiều tuyến đờng quốc lộ quan trọng đi qua: 1A, 18, 38 nằm gần quốc lộ 5 và các đờng tỉnh lộ tạo điều kiện thuận lợi để vận chuyểnsản phẩm, hàng hoá và nguyên vật liệu Bên cạnh đó hệ thống sông ngòi, kênhrạch dày đặc của Bắc Ninh cũng rất thuận tiện để vận tải đờng thuỷ phát triển
Đối với thị trờng xuất khẩu, về lâu dài sẽ là thị trờng quan trọng nhất củaBắc Ninh Trớc đây những sản phẩm thủ công của Bắc Ninh nh mây tre đan,thêu ren, thảm len, sơn mài đợc xuất khẩu đi các nớc Đông Âu và Liên Xô(cũ) là chủ yếu Khi bớc vào cơ chế thị trờng, các làng nghề đã nhạy bén thay
đổi mẫu mã, kiểu dáng và nâng cao chất lợng sản phẩm Hiện nay sản phẩmcủa các làng nghề Bắc Ninh đã và đang xâm nhập vào thị trờng các nớc trongkhu vực và thế giới nh: Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Pháp, Đức, Canada, cácnớc châu Phi, châu Mỹ sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là những bộ đồ mộc caocấp đợc khảm trai, chạm khắc công phu bằng gỗ trắc, gụ, pơmu, những bộ xalông kiểu cổ vách đá Sản phẩm thủ công nh tranh dân gian, thảm len, tợng nhỏ,
đồng mỹ nghệ đợc các nớc Đài Loan, Nhật Bản rất a chuộng Trong những
Trang 28năm gần đây, giá trị xuất khẩu của hàng thủ công mỹ nghệ nớc ta đã chiếm một
vị trí quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu Đóng góp vào kết quả đó cóvai trò không nhỏ của làng nghề thủ công Bắc Ninh
Thị trờng dịch vụ du lịch là thị trờng có tiềm năng lớn Do lợng kháchquốc tế vào nớc ta ngày một nhiều, lợng hàng hoá bán cho khách du lịch sẽ tiếptục tăng và nhu cầu của thị trờng xuất khẩu sẽ đợc mở rộng Tuy nhiên điều nàycòn phụ thuộc vào sự hấp dẫn của sản phẩm, mẫu mã cũng nh thị hiếu của ngờinớc ngoài Từ xa xa nghề truyền thống Việt Nam đã chịu ảnh hởng rất lớn củanghề truyền thống Trung Quốc Điều này gây khó khăn cho việc bán sản phẩmthủ công mỹ nghệ của ta cho du khách Các sản phẩm của ta bán cho khách nớcngoài nhìn chung là giá rẻ, song nhiều khi giá rẻ cha phải là điều hấp dẫn đốivới họ Vì trong một thời gian ngắn họ cha có điều kiện để tìm hiểu về giá trịcủa sản phẩm, mà lại cho rằng đó là những sản phẩm kém giá trị hay đợc sảnxuất hàng loạt chứ không phải là sản phẩm thủ công thực sự của những nghệnhân tài hoa Chính vì vậy trớc mắt cần quan tâm đến sản phẩm bán cho kháchnớc ngoài để nó thực sự đặc sắc và phù hợp với nhu cầu của thị trờng quốc tế
Tóm lại, tiềm năng về thị trờng của làng nghề Bắc Ninh còn rất lớn Điềuquan trọng hơn cả là phải có một chiến lợc sản xuất, phục vụ cho khách du lịchcũng nh tiêu dùng trong nớc với sản phẩm mang nét đặc thù, độc đáo và mang
đậm bản sắc dân tộc Việt Nam
2 Thực trạng phát triển và phân bố các làng nghề thủ công ở tỉnh Bắc Ninh
2.1 Đặc điểm chung
Từ bao đời, các vùng nông thôn của Bắc Ninh vẫn lấy trồng trọt và chănnuôi là nguồn sinh nhai chủ yếu Trong quá trình vận động và phát triển củanền kinh tế - xã hội xuất hiện dần những làng làm thêm những nghề khác ngoàinông nghiệp Các làng nghề của Bắc Ninh xuất hiện khá sớm dần dần hìnhthành các làng nghề thủ công
Trong mỗi thời kỳ lịch sử làng nghề của Bắc Ninh cũng có những chuyểnbiến thay đổi sản phẩm phục vụ kịp thời các nhu cầu quốc kế dân sinh Cónhững sản phẩm mới ra đời, kéo theo các làng nghề mới xuất hiện Trong từngthời kỳ phát triển, có những sản phẩm phù hợp với thị trờng đợc mở rộng dần racác làng trong xã trở thành xã nghề Nh nói đến đồng Đại Bái là cả xã Đại Báilàm nghề dát, gò đồng; nói gốm Phù Lãng là cả xã Phù Lãng đều làm gốm
Trang 29Gần đây hàng mộc mỹ nghệ đã phát triển ở 3 xã Phù Khê, Hơng Mạc, ĐồngQuang Đây là một hình thức mới: một cụm xã liền nhau cùng sản xuất mộtloại sản phẩm Hiện nay ở Bắc Ninh đang hình thành các cụm làng nghề sảnxuất một loại sản phẩm: cụm hàng mộc mỹ nghệ, cụm sắt thép, cụm dệt (TiênSơn), cụm giấy, cụm hàng nhôm (Yên Phong), cụm đồng, nhựa (Gia Lơng)
Song trong quá trình vận động, vơí sự tác động của khoa học kỹ thuật, thịhiếu và nhu cầu của thị trờng, sản xuất trong các làng nghề thủ công cũng dầnbộc lộ những hạn chế nhất định Sang thời kỳ kinh tế thị trờng đã phân hoá rõ:Những làng nghề trải qua thăng trầm mà vẫn giữ đợc nghề, chuyển đổi sảnphẩm hoặc đầu t trang thiết bị công nghệ mới thì không những tồn tại mà cònphát triển mạnh hơn (giấy Phong Khê, thép Đa Hội, mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ,Phù Khê, Hơng Mạc ); Những làng nghề chậm đổi mới về sản phẩm và côngnghệ thì mất dần thị trờng, sản xuất bị thu hẹp, mai một (làng gốm Phù Lãng,tranh dân gian Đông Hồ )
Căn cứ vào mức độ hoạt động của làng nghề, ta có thể chia làng nghề thủcông ở Bắc Ninh làm 3 loại
a Các làng nghề phát triển
Đó là các làng nghề đã vận động phù hợp với cơ chế thị trờng, sản xuất
ra đợc một khối lợng hàng hoá lớn, kinh doanh có hiệu quả Loại này có 16làng (chiếm 13%) trong đó có 15 làng nghề truyền thống tiêu biểu là làng mộc
mỹ nghệ Đồng Kỵ, Phù Khê Đông, Phù Khê Thợng, làng thơng mại ĐìnhBảng, làng xây dựng Đình Cả, Nội Duệ, làng giấy Dơng ổ, làng thép Đa Hội,làng đồng Đại Bái
b Các làng nghề hoạt động cầm chừng
Đó là các làng nghề ở dạng vẫn sản xuất kinh doanh bình thờng nhng
ch-a hoặc không có khả năng mở rộng sản xuất Loại này có 32 làng (chiếm 52%)trong đó có 10 làng nghề truyền thống Khó khăn chủ yếu của các làng nghềnày là vấn đề tiêu thụ sản phẩm, không đầu t thiết bị công nghệ nên hiệu quảkinh tế thấp nh rợu Đại Lâm, nhôm Văn Môn, dệt Hồi Quan Còn lại các làngnghề sản xuất nhỏ mang tính khu vực nh tre đan, mộc dân dụng và chế biếnnông sản (mỳ, bún, bánh, đậu)
c Các làng nghề đang khó khăn, mai một
Đó là các làng nghề đang gặp khó khăn do sản phẩm không đáp ứng đợccác yêu cầu của thị trờng về chất lợng, mẫu mã, giá cả nên sản xuất đang bị
Trang 30thu hẹp dần mà nghề mới thì cha có Loại này có 10 làng (chiếm 17%) trong đó
có 6 làng nghề truyền thống là các làng tranh dân gian Đông Hồ, làng cày bừa
Đồng Xuất, Trung Bạn, gốm Đoàn Kết, Phấn Trung (Phù Lãng) và dao kéo Vát(Quế Võ)
Tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là mô hình hộ gia đình.Trong thời kỳ bao cấp, làng nghề thủ công đợc tập thể hoá thành hợp tác xã.Song từ khi chuyển sang cơ chế thị trờng, các hợp tác xã kiểu cũ tan rã, sản xuấttrong các làng nghề lại trở về với mô hình truyền thống vốn có là hộ gia đình
Hiện nay Bắc Ninh có khoảng 10.511 cơ sở sản xuất, trong đó quy môsản xuất hộ chiếm tới 98% tơng đơng với 10.309 cơ sở sản xuất Với mô hìnhnày hầu hết các thành viên trong gia đình đều đợc huy động vào những côngviệc khác nhau trong quản trị sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó do tính chất củacông việc, tính thời vụ của sản xuất, các hộ gia đình có thể thuê mớn thêm lao
động Việc sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình hiện nay rất phù hợp với cáchquản lý cũng nh trình độ của ngời thợ
Ngoài mô hình sản xuất trên còn có hoạt động của các hợp tác xã tronglàng nghề thủ công Sau khi chuyển đổi và đi vào hoạt động, hầu hết các hợp tácxã đều giữ vững đợc sản xuất và có nhiều hớng phát triển tốt Tuy nhiên hìnhthức hợp tác xã trong làng nghề Bắc Ninh vẫn còn những hạn chế nhất định nhtrình độ quản lý còn thấp, sản phẩm còn đơn điệu Đồng thời với số lợng thànhviên đông đã ảnh hởng tới quá trình ra quyết định sản xuất kinh doanh
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp t nhân và công ty TNHH cũng phát triểnkhá mạnh Từ năm 1995 đến 2000, Bắc Ninh đã có 30 công ty TNHH và 21doanh nghiệp t nhân hoạt động trong các làng nghề Sự phát triển của doanhnghiệp t nhân và công ty TNHH đã giúp các hộ sản xuất cá thể trong việc giacông làm vệ tinh cho các công ty, xí nghiệp lớn Các công ty, xí nghiệp này trựctiếp thu gom hàng hoá từ các hộ gia đình để tiêu thụ hoặc xuất khẩu đồng thờicũng khai thác các nguồn nguyên liệu để cung cấp cho các hộ gia đình Tuynhiên loại hình này cũng bộc lộ nhiều tiêu cực nh kinh doanh những mặt hàngkhông đúng với đăng ký, tìm mọi cách để trốn thuế, lậu thuế
Nhìn chung, loại hình sản xuất kinh doanh trong các làng nghề đã có sựphát triển đa dạng, phong phú nhng sản xuất hộ gia đình vẫn là chủ yếu
Bảng 6: Số cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp Bắc Ninh [20]
Trang 312.2 Cơ cấu ngành trong khu vực làng nghề
ở Bắc Ninh giá trị sản xuất trong các làng nghề thủ công hiện nay chiếmkhoảng 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Trongnăm 2000 giá trị sản xuất của các làng nghề đạt trên 713 tỷ đồng, thu hút trên45.000 lao động
Tỷ trọng giá trị sản xuất của một số ngành trong công nghiệp nông thôn
ở Bắc Ninh năm 2000 thể hiện qua biểu đồ sau:
Trang 32Biểu đồ 1: Cơ cấu ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
gỗ và lâm sản, ngành kim khí Các mặt hàng sản xuất ra ngày càng nhiều về
số lợng và chất lợng
Nhìn ở biểu đồ trên ta thấy rằng ngành sản xuất kim loại và các sảnphẩm từ kim loại chiếm tỷ trọng lớn nhất (43%) trong cơ cấu các ngành nghềtiểu thủ công nghiệp của Bắc Ninh Tiêu biểu nhất là làng thép Đa Hội Làng đãbắt kịp với sự phát triển và biến đổi của thị trờng để đầu t trang thiết bị, côngnghệ và đa dạng hoá sản phẩm từ làm thép tròn với nhiều kích cỡ khác nhauphục vụ cho công nghiệp xây dựng đến làm các loại phụ tùng thay thế và lắpráp xe đạp, xe máy nh phôi líp, vành líp, vành, đĩa, đùi, trục
Một ngành khác cũng phát triển không kém đó là các nghề mộc, tre, nứa.Nhóm nghề này chiếm 28% trong tỷ trọng giá trị sản xuất các ngành nghề tiểuthủ công nghiệp của tỉnh Các làng nghề đã bắt kịp những nhu cầu của thị trờngquốc tế cũng nh thị trờng nội địa để làm ra những sản phẩm phù hợp Nghề thủcông mỹ nghệ làm thêm các công đoạn sơn mài, sơn khảm trên bàn, ghế, giờng,tủ phục vụ cho xuất khẩu
Trang 33Các ngành dệt, may, giấy cũng có những bớc phát triển nhất định Tuy
đóng góp của ngành vào giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp của tỉnh cònkhiêm tốn 19% song trong tơng lai các ngành này hứa hẹn sẽ có sự phát triểnmạnh mẽ hơn
2.3 Sự phân bố của các làng nghề
Toàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay có 58 làng nghề tiểu thủ công nghiệp, trong
đó có 31 làng nghề truyền thống, cụ thể nh sau:
Bảng 2: Số lợng làng nghề Bắc Ninh phân theo huyện
sản
CNchếbiến
Xâydựng
Thơngmại
Vậntải
- văn hoá và các con sông
Các làng nghề của Bắc Ninh khá đa dạng và hoạt động trong hầu hết cácngành kinh tế quan trọng nhng vẫn tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến.Các làng hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, thơng mại, thủy sản hay vận tải tuy
ít nhng có truyền thống lâu đời và nổi tiếng cả nớc nh xây dựng Đình Cả, NộiDuệ, làng thơng mại (trớc kia gọi là làng buôn bán) Đình Bảng, Phù Lu, làngnuôi cá con Mão Điền
Bảng 9: Phân loại làng nghề Bắc Ninh theo sản phẩm [20]
Trang 3411 Sản xuất công cụ cầm tay bằng kim loại 1 1,7
mỹ nghệ Đồng Kỵ, sắt Đa Hội, giấy Phong Khê
Bảng 10: Sản phẩm chủ yếu của một số làng nghề tỉnh Bắc Ninh
3.47412.600
10 Đúc đồng, nhôm Đúc đồng nhôm các loại Ngàn tấn 77
11 Đồ gỗ mỹ nghệ Sản phẩm mỹ nghệ các loại
Trang 35- Tủ
- Giờng
- Bàn ghế
CáiCáiCái
21.40517.09541.082Với những biến động của lịch sử, các làng nghề thủ công của Bắc Ninhcũng có nhiều bớc thăng trầm Trong những năm gần đây nhờ đờng lối đổi mớicùng những nỗ lực của bản thân, nhiều làng nghề đã đợc phục hồi và phát triểnnhanh chóng trong đó có các ngành nghề sau:
- Các làng nghề chế biến lơng thực thực phẩm: bao gồm nhiều loại nh xay
xát gạo, làm bún, làm bánh tráng, nấu rợu Các nghề này phát triển ở hầu khắpcác làng xã Bắc Ninh nhng tập trung nhiều nhất là ở các làng thuộc xã YênPhụ, Văn Môn, Tam Đa (Yên Phong), Đồng Nguyên (Từ Sơn), Tân Lãng, MỹHơng (Lơng Tài)
- Các làng nghề dệt nhuộm
Nghề dệt truyền thống ở nớc ta có từ lâu đời và đợc duy trì theo phơngthức “cha truyền con nối” Nghề dệt ở Bắc Ninh nổi lên có xã Tơng Giang (TừSơn) Cả xã gồm 6 làng có trên 70% số hộ làm nghề dệt với 1.500 khung dệtlắp động cơ điện Các làng nghề của xã đã thu hút 4.000 lao động tại địa phơngtham gia sản xuất, ngoài ra còn thu hút lao động ở các xã khác đến làm thuê.Sản phẩm chủ yếu là dệt vải màn, khăn mặt Sản lợng hàng năm lên tới 60.000mét vải và hàng triệu khăn mặt Doanh thu từ ngành dệt đạt từ 5 - 6 tỷ đồng/năm
Nghề ơm tơ Vọng Nguyệt (Tam Giang- Yên Phong) hiện có hơn 250 hộchuyên sản xuất tơ và 100 hộ trồng dâu nuôi tằm Với gần 100 máy kéo tơ mi
ni cùng các máy kéo tơ thủ công, hàng năm Vọng Nguyệt sản xuất đợc 80 tấntơ/năm trong đó 15 tấn tơ đợc tiêu thụ tại chỗ, số còn lại đợc xuất khẩu sangLào, Thái Lan, Nhật Bản
- Các làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm chạm khắc, khảm trai, làm
gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài, hàng mây tre đan
Tiêu biểu là làng nghề thủ công mỹ nghệ Đồng Kỵ (Đồng Quang - TừSơn) Tổng số hộ dân của Đồng Quang là hơn 2.860 hộ với 14.000 nhân khẩu,trong đó số hộ làm nghề chiếm 78% (2.000 hộ), thu hút 10.200 lao động (trong
đó có 7.200 lao động tại địa phơng) Sản phẩm truyền thống của Đồng Kỵ lànhững mặt hàng đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp do các nghệ nhân sản xuất ra nh tủ,
Trang 36sập, giờng, bàn ghế, đôn, tợng, bình phong, câu đối đợc chạm trổ, điêu khắc,khảm trai nh tứ linh (long, ly, quy, phợng), tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai) và cácloại con giống khác Các sản phẩm của Đồng Kỵ đã có mặt ở khắp thị trờngtrong nớc và đợc xuất khẩu tới nhiều nớc trên thế giới.
Làng sản xuất đồ tre, trúc, nứa Xuân Lai (Gia Bình) Cách đây vài năm,làng Xuân Lai chỉ làm các mặt hàng đơn giản nh giát giờng, bàn ghế, thang,gậy, cần câu Nhng vài năm trở lại đây, làng đã chuyển sang sản xuất các mặthàng mới nh sản phẩm nội thất gia đình, nội thất văn phòng Đồ tre, trúc, nứacủa Xuân Lai có đăc điểm đặc biệt mà không làng nghề nào có đợc: đồ thờng
có 2 màu trắng hoặc đồng hun Màu trắng là màu của tre nứa đã đợc cạo, cònmàu đồng hun có đợc do hun bằng rơm 3 ngày đêm - kỹ thuật bí truyền củalàng Màu rất bền, không bao giờ phai, càng để lâu càng bóng và không bị mốimọt
- Làng làm giấy thủ công Phong Khê (Yên Phong) Giấy cổ truyền của
Phong Khê là giấy dó dùng để in tranh Đông Hồ, viết chữ nho, seo ngòi pháo
và làm vàng mã Trớc đây thờng xuyên có 300 - 500 gia đình ở Phong Khêchuyên làm giấy dó theo phơng pháp thủ công cổ truyền, tập trung nhất ở thônDơng ổ Những năm gần đây, nhu cầu về giấy dó không nhiều nên Phong Khê
đã nhanh chóng chuyển đổi mặt hàng và công nghệ Hiện nay làng Dơng ổ(Yên Phong) có 1.500 hộ với 7.000 nhân khẩu, số hộ làm nghề giấy chiếm77%, thu hút 1.500 – 2.000 lao động địa phơng và còn thu hút lao động từ bênngoài khoảng 10% Thu nhập bình quân khoảng 500.000 - 600.000 đồng/ ng-ời/tháng Năm 2001 đã nộp ngân sách Nhà nớc 2,3 tỷ đồng
- Các làng nghề cơ - kim khí
Nổi lên là làng rèn Đa Hội (Từ Sơn) làm các nông cụ truyền thống từ 400
- 500 năm nay, đến nay đã chuyển sang sản xuất các sản phẩm cơ khí phục vụcông nghiệp và nông nghiệp Trớc đây làng chỉ có 20% số hộ làm nghề với cácsản phẩm đơn giản là đồ dùng: dao, kéo, cuốc, bản lề, then cửa thì nay đã cógần 95% số hộ làm nghề với khoảng 6.000 lao động Hàng năm làng nghề sảnxuất trên 10.000 tấn thép xây dựng, cửa xếp, cửa hoa, phụ tùng xe đạp giá trịsản lợng đạt khoảng 30 tỷ đồng Lơng bình quân lao động đạt 600.000 -700.000 đồng/ngời/tháng
Nghề đúc đồng nổi tiếng ở làng Vó - Quảng Bố (Lơng Tài) và Đại Bái(Gia Bình) Hai làng này nối tiếp nhau nh một dây chuyền sản xuất liên hoàn
Trang 37Làng Vó đúc đồng làm hàng thô để làng Đại Bái (còn gọi là làng Bởi) tinh chếlại thành các mặt hàng có giá trị nh tợng đồng, chuông đồng, hạc đồng, nghê
đồng, đàn đồng
- Làng nghề xây dựng: do nhu cầu xây dựng của nhân dân ngày càng nhiều
mà ngành này phát triển khá mạnh và lan tỏa ra nhiều làng Song nổi tiếng nhất
là làng Nội Duệ Trong làng đã hình thành nhiều công ty TNHH hoạt động rấtmạnh, bên cạnh đó còn có các chủ nhỏ hoặc từng tốp thợ có thợ cả đứng ra điềukhiển nhận các công trình t nhân và của Nhà nớc
- Làng nghề giao thông: tiêu biểu là làng Hoàng Kênh (Lơng Tài) làm vận
tải thuỷ Cả làng có 320 hộ trong đó 77 hộ làm nghề và sử dụng 385 lao động
3 Làng nghề thủ công Bắc Ninh với việc phát triển du lịch
Trong những năm gần đây, du lịch văn hoá có xu thế phát triển mạnh
mẽ Khi hầu hết các miền đất hoang dã đã bị con ngời khám phá, chinh phục thìmột tất yếu là con ngời sẽ trở về tìm hiểu những giá trị văn hoá của nhân loại
Du lịch làng nghề là một sản phẩm độc đáo, mới lạ của loại hình du lịch vănhoá
Bắc Ninh mảnh đất lịch sử lâu đời, cái nôi sinh của dân tộc Việt, mộtvùng đất “địa linh nhân kiệt” còn lu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hoá, nhữnglàng nghề thủ công mang đậm bản sắc dân tộc chính là điểm đến lý tởng của dukhách Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ của vùng đồng bằng Bắc Bộ nhng có tới 58làng nghề với các ngành nghề phong phú chính là một tiềm năng lớn để pháttriển du lịch Mỗi một làng nghề với những sản phẩm độc đáo, tinh tế chính làkết tinh của truyền thống văn hoá, phong tục tập quán và bản sắc dân tộc Tới
đây du khách sẽ đợc tự mình tìm hiểu những công đoạn của quá trình sản xuất,tận mắt thấy các nghệ nhân bằng đôi bàn tay khéo léo của mình với những công
cụ sản xuất thô sơ, đơn giản đã tạo ra những sản phẩm, những tác phẩm nghệthuật thật tinh xảo làm nhiều ngời phải trầm trồ thán phục Tiêu biểu nh các sảnphẩm thủ công mỹ nghệ của các làng Đồng Kỵ, Phù Khê, Hơng Mạc, gò đồng
Đại Bái, tre trúc Xuân Lai, tranh dân gian Đông Hồ
Cùng với những biến động của lịch sử, các làng nghề thủ công của BắcNinh cũng có lúc thịnh, lúc suy Trong thời kỳ đổi mới cùng với sự quan tâmcủa Đảng và Nhà nớc cùng các cấp chính quyền địa phơng, các làng nghề của
Trang 38Bắc Ninh đang dần phục hồi và tìm đợc hớng phát triển Các ngành nghề tiểuthủ công nghiệp đã khẳng định đợc vai trò của mình trong nền kinh tế của tỉnh.
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nh hiện nay, mỗi quốc gia đều rasức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của mình Chính vì vậy khôi phục vàphát triển làng nghề thủ công cũng là biên pháp hữu hiệu để giữ gìn và tôn vinhnhững giá trị văn hoá, những phong tục tập quán và những nét đẹp trong tâmhồn của ngời địa phơng
Là một tỉnh mới tái thiết với bao công việc còn bộn bề song Bắc Ninh đãxác định phải thúc đẩy phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn.Với tiềm năng sẵn có là hệ thống các di tích lịch sử phong phú, đa dạng, BắcNinh tích cực nâng cao chất lợng của các sản phẩm du lịch văn hoá đã và đangkhai thác, đồng thời phát triển thêm nhiều loại hình du lịch mới nh du lịch cuốituần, du lịch dã ngoại và đặc biệt là du lịch thăm các làng nghề thủ công trên
địa bàn tỉnh
Các “tour” du lịch chuyên đề về làng nghề không chỉ độc đáo, mới lạ vớikhách du lịch quốc tế mà ngay cả với khách du lịch nội địa các chuyến đi nàycũng để lại nhiều ấn tợng sâu sắc Qua đó khách du lịch sẽ đợc thấy đợc quytrình sản xuất, quá trình tạo tác của các nghệ nhân, đợc tìm hiểu về lịch sử củalàng nghề, các vị tổ nghề, đợc nghe những truyền thuyết xung quanh làngnghề tất cả những điều đó đã tạo nên những trải nghiệm khó ai có thể quên
Bên cạnh đó, Bắc Ninh còn có thể tạo nên các tuyến du lịch kết hợp thămcác làng nghề thủ công và các di tích lịch sử - văn hoá Bắc Ninh có 281 di tíchlịch sử - văn hoá bao gồm 59 đình, 67 đền, 54 chùa, các khu di tích, nhà tởngniệm, nhà thờ danh nhân trong đó có 207 di tích đã đợc Bộ văn hoá - thôngtin xếp hạng Bắc Ninh có mật độ di tích trung bình là 35 di tích/ 100km2 đứngthứ 2 cả nớc sau Hà Nội Mỗi di tích của Bắc Ninh đều có kiến trúc độc đáo vàgắn với những mốc son trong lịch sử Việt Nam vì vậy nó có sức hấp dẫn lớn đốivới du khách Bắc Ninh có 10 di tích quan trọng có ý nghĩa quốc tế, quốc gianh: đình làng Đình Bảng, đền Đô, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, đền Bà Chúa Kho,chùa Phật Tích Bên cạnh đó những di tích này còn đợc xây dựng ở vị trí cócảnh quan đẹp có thể tạo nên những quần thể thắng cảnh - di tích