Nhận thức được tính cấp thiết đó, nhiều ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã liên tục đổi mới, phát triển các dịch vụ của mình nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.. Mục tiêu ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
~~~~~~*~~~~~~
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI : PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ TÂY TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ nhân viên chi nhánh NHNo&PTNT Hà Tây và sự hướng dẫn tận tình của ThS Nguyễn Đỗ Quyên đã giúp tôi hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình Tuy nhiên, do hạn chế về kỹ năng và kinh nghiệm thực tế nên khóa luận tốt nghiệp sẽ không thể tránh khỏi thiếu xót rất mong nhận được sự nhận xét đánh giá của các thầy cô trong khoa Tài chính ngân hàng
Hà Nội ngày 02 tháng 05 năm 2010
Sinh viên: Nguyễn Tiến Hưng
Trang 3CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phẩn
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 2.1 Cơ cấu lao động của NHNo&PTNT Hà Tây 29
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn các năm 2006 – 2009 ………….31
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng đầu tư tín dụng qua các năm 2006 – 2009 33
Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh dịch vụ phi tín dụng các năm 2006 – 2009 35
Bảng 2.4: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ các năm 2006-2009………… 36
Bảng 2.5: Dịch vụ chuyển tiền các năm 2006 – 2009……… 37
Bảng 3.1: Dự kiến kết quả kinh doanh đến năm 2015……… 58
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ ở khắp nơi trên thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế đang là vấn đề nóng với quốc gia Hội nhập kinh
tế quốc tế mở ra cơ hội cũng như thách thức mới cho các doanh nghiệp, tạo động lực phát triển cho các doanh nghiệp Hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng cũng nằm trong xu thế chung đó Để có thể vượt qua thách thức và khó khăn trong quá trình hội nhập, các ngân hàng thương mại phải đủ mạnh để cạnh tranh với các ngân hàng khác trong nước và trên thế giới
Dịch vụ ngân hàng là một loại hình dịch vụ của nền kinh tế, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế quốc gia Phát triển dịch vụ ngân hàng là yêu cầu cấp thiết trong quá trình hội nhập Ở Việt Nam, vấn đề này càng trở nên cấp thiết hơn khi trở thành thành viên chính thức của WTO So với các nước phát triển khác, ngành ngân hàng tài chính ở nước ta có thời gian phát triển ngắn hơn, chính vì vậy không tránh khỏi có những yếu kém, hạn chế Nhận thức được tính cấp thiết đó, nhiều ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã liên tục đổi mới, phát triển các dịch vụ của mình nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh
tế Là một ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam NHNo&PTNT Việt Nam cũng luôn chú trọng phát triển các dịch vụ của mình Không nằm ngoài xu thế
đó, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tây (AGRIBANK Hà Tây luôn phấn đấu để đạt mục tiêu tăng trưởng ổn định, phát triển bền vững, nâng cao vị thế của mình trên địa bàn Hà Nội Trong những năm qua NHNo&PTNT Hà Tây đã đạt được nhiều thành tựu trong việc khai thác dịch vụ ngân hàng Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được các sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT Hà Tây cũng còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục
Số lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của chi nhánh còn ít chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Một số dịch vụ có chất lượng chưa tốt, chưa đủ để đáp
Trang 6ứng yêu cầu hội nhập Lượng khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ còn ít so với tiềm lực của chi nhánh điều này đã phần nào phản ánh những hạn chế trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng tại chi nhánh AGRIBANK Hà Tây Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi các ngân hàng phải có được những dịch vụ tốt nhất,
đa dạng và thuận tiện sẵn sàng phục vụ mọi nhu cầu của khách hàng
Nhận thức được tầm quan trọng về việc phát triển dịch vụ ngân hàng, tác
giả đã chọn đề tài “Phát triển dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây
trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế ” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt
nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Ngân hàng tài chính là xương sống của nền kinh tế, các học thuyết về sự
phát triển dịch vụ ngân hàng rất đa dạng và phong phú, chính vì vậy nhiệm vụ trước tiên khi nghiên cứu về sự phát triển dịch vụ ngân hàng là hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ ngân hàng và sự phát triển của dịch vụ
ngân hàng, từ đó thấy được sự cấp thiết phải phát triển dịch vụ ngân hàng
Phân tích thực trạng phát triển các dịch vụ ngân hàng tại một ngân hàng cụ thể là nhiệm vụ tiếp theo khi nghiên cứu đề tài này AGRIBANK Hà Tây trong
xu hướng hội nhập WTO đã có nhiều ưu điểm và hạn chế trong việc phát triển dịch vụ của mình, vì vậy rất cần phải phân tích, tìm ra nguyên nhân của các hạn chế đó
Nhiệm vụ tiếp theo khi nghiên cứu đề tài là phân tích những cơ hội, thách thức đối với AGRIBANK Hà Tây trong giai đoạn hội nhập WTO và khủng hoảng tài chính toàn cầu từ đó đề ra phương hướng phát triển dịch vụ, đồng thời
đề xuất giải pháp phát triển các dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây đến
năm 2015
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài : Là hoạt động phát triển các dịch vụ ngân
hàng tại AGRIBANK Hà Tây trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 7- Phạm vi nghiên cứu cảu đề tà : Đề tài tập trung phân tích thực trạng phát triển
dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, phương hướng và giải pháp đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, làm cơ
sở phương pháp luận Sử dụng phương pháp Phân tích thống kê kinh tế, tổng hợp và tư duy lôgic để làm rõ nội dung nghiên cứu mà đề tài đặt ra
5.Kết cấu khóa luận
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, khóa luận chia thành 3 chương:
Chương I: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Chương II: Thực trạng phát triển các dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK
Hà Tây trong thời kì hội nhập
Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại AGRIBANK Hà Tây trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của các ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trong trong nền kinh tế Có nhiều quan niệm về ngân hàng thương mại
Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới: “Ngân hàng thương mại là tổ
chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiền tiết kiệm) ”
Quan điểm ở Mỹ cho rằng: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Theo Peter S.Rose - một nhà kinh tế học “Ngân hàng thương mại là loại
hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục và dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán Thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
Ở Việt Nam: theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-05-1990 của hội đồng
nhà nước: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi tử khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán”
Theo luật tổ chức tín dụng, khoản 2 điều 20 quy định: “Ngân hàng thương
mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan”
Trang 9Như vậy, từ những định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm đặc trưng của ngân hàng thương mại như sau:
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế được phép sử dụng ký thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế được phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác
1.1.2 Chức năng cơ bản của các ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế có nhiều chức năng như: chức năng tín dụng, chức năng ủy thác, chức năng môi giới, chức năng bảo hiểm, chức năng đầu tư, chức năng thanh toán, chức năng chức năng quản lý tiền mặt và nhiều chức năng khác nữa Nhưng trong đó nổi lên một số chức năng
cơ bản sau:
1.1.2.1 Chức năng Trung gian tài chính
Đây là chức năng cơ bản đặc trưng nhất của ngân hàng thương mại, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế phát triển Trung gian tài chính là hoạt động cầu nối giữa cung và cầu về vốn của xã hội, huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế để thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, cho các doanh nghiệp, dân cư, các tổ chức kinh tế khác vay vốn để thực hiện các hoạt động sinh lời từ nguồn vốn vay đó
Tác dụng của trung gian tài chính là giảm thiểu những chi phí thông tin và chi phí giao dịch trong nền kinh tế Ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho cả ba bên: Người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay
Đối với người gửi tiền: Họ có được lợi từ nguồn vốn nhàn rỗi của mình khi gửi khoản tiền đó vào ngân hàng, trên cơ sở nguồn vốn đó ngân hàng sẽ thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, tạo ra lợi nhuận đồng thời chi trả lãi suất cho người gửi tiền bảo đảm sự an toàn cũng như cung cấp các phương tiện thanh toán cho người gửi tiền
Trang 10Đối với người đi vay: Đáp ứng được nhu cầu về vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh, sản xuất, chi tiêu một cách hợp pháp và an toàn
Đối với ngân hàng: Tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch lãi xuất cho vay và lãi xuất tiền gửi, đồng thời sử dụng nguồn vốn đó vào hoạt động tự doanh của ngân hàng tạo ra lợi nhuận, ngoài ra thông qua chức năng trung gian tài chính mà ngân hàng thực hiện chức năng xã hội của mình đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế
1.1.2.2 Chức năng thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán
Ngân hàng thương mại là trung gian thanh toán lớn nhất ở đa số các quốc gia trên thế giới Với chức năng này, ngân hàng thương mại tiến hành nhập tiền vào tài khoản, thực hiện chi trả theo lệnh của chủ tài khoản
Thông qua chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ cung cấp cho các chủ thể của nền kinh tế rất nhiều công cụ thanh toán mang lại tiện ích cao như: thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, thẻ rút tiền, ngân phiếu, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi…Vì vậy chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, giúp việc thanh toán trở nên nhanh chóng, an toàn, thuận tiện và chính xác, qua đó tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng
Ngày nay, hoạt động thanh toán của hệ thống ngân hàng thương mại chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của ngân hàng thương mại Giúp các ngân hàng thu được nguồn vốn khổng lồ đồng thời thu được phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán qua đó góp phần tăng doanh thu, đóng góp vào sự phát triển chung của ngân hàng
1.1.2.3 Chức năng đầu tư và bảo lãnh
Một trong những chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại là đầu tư
và bảo lãnh Từ nguồn vốn nhàn rỗi huy động được trong dân cư và các tổ chức kinh tế, ngân hàng xẽ tiến hành các hoạt động kinh doanh để sinh lời từ nguồn
Trang 11vốn huy động được Ngoài việc cho vay chiết khấu lãi xuất, ngân hàng còn phân tích thị trường, lập kế hoạch đầu tư, thực hiện các dự án mang tính khả thi cao Bên cạnh đó, ngân hàng thương mại còn có chức năng bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng thực hiện với sự tham gia của 3 bên đó là: bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và ngân hàng Qua đó ngân hàng cam kết chi trả thay khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, đúng hạn
1.1.3 Vai trò của các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Hoạt động của ngân hàng thương mại gắn liền với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức và các chủ thể khác Bằng các chính sách và nghiệp
vụ tín dụng, ngân hàng thương mại đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh Mặt khác ngân hàng thương mại tiếp nhận, thu hút lượng tiền mặt nhàn rỗi trong nền kinh tế thể hiện vai trò điều tiết kinh tế vĩ
mô và tạo ra mối quan hệ giữa lưu thông tiền tệ và lưu thông hàng hóa
Một trong những vai trò quan trọng khác của các ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế đó là trung gian lưu chuyển vốn từ nơi nhàn rỗi đến nơi cần nguồn vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Khi nền kinh tế phát triển đến một mức nào đó thì sẽ hình thành nhu cầu về vốn để quay vòng sản suất, mở rộng hoạt động qua nhiều khu vực rộng lớn khác nhau
Để làm được điều này cần phải có những tổ chức tài chính đứng ra tiến hành hoạt động huy động vốn để từ đó bổ sung nguồn vốn cho các doanh nghiệp tiếp tực sản xuất kinh doanh
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước Phần lớn các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước như: Lãi suất cơ bản, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, hạn mức tín dụng… chỉ được thực thi có hiệu quả khi có sự hợp tác tích cực của phía các ngân hàng thương mại Từ việc chấp hành quy chế
tỷ lệ dự chữ bắt buộc, quy chế khuyến khích lưu thông không dùng tiền mặt đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư Bên cạnh đó ngân hàng thương mại góp phần ổn
Trang 12phát ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp như ngừng phát hành tiền mặt vào lưu thông và tăng lãi xuất tiền gửi nhằm hút bớt lượng tiền mặt trong lưu thông
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sẽ bộc lộ những thiếu sót, hạn chế Khi đó chính phủ sẽ có những chính sách để khắc phục những thiếu sót, hạn chế
đó, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, ổn định Vai trò của các ngân hàng thương mại là phối hợp với chính phủ thực hiện các chính sách về tiền tệ, giúp nền kinh tế phát triển ổn định, vững mạnh
1.2 KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CÁC NHTM
1.2.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng thương mại
Sự phát triển của các ngành sản xuất công nghiệp và nông nghiệp đòi hỏi phải có một nghành kinh tế giúp lưu thông, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, khi đó dịch vụ phát triển Dịch vụ là các hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt Theo Philip Kotler: “ Dịch vụ
là mọi hành động hay lợi ích mà một bên cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến sở hữu một cái gì đó Việc thực hiện dịch vụ có thể và cũng có thể không liên quan đến một sản phẩm vật chất” Dịch vụ phát triển trong nhiều ngành nghề kinh tế khác nhau trong đó dịch vụ Ngân hàng là dịch
vụ cốt lõi của nền kinh tế
Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các sản phẩm được ngân hàng hay các tổ chức tài chính tạo ra để phục vụ nhu cầu như sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng…của các chủ thể trong nền kinh tế
Với định nghĩa ở trên có thể hiểu rằng toàn bộ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp lý của khách hàng của ngân hàng thương mại đều được coi là dịch
vụ ngân hàng thương mại Như vậy khả năng cung cấp và phát triển các dịch vụ ngân hàng cho thị trường là rất lớn
Trang 131.2.2 Đặc điểm dịch vụ ngân hàng thương mại
Dịch vụ ngân hàng trước hết mang những đặc điểm trung của dịch vụ
Dịch vụ có tính vô hình Chúng ta không thể nhìn thấy hay biểu thị một
dịch vụ Một khách hàng có thể bỏ tiền mua một dịch vụ song thường không có một biểu hiện vật chất cụ thể nào cho dịch vụ đó Dịch vụ chuyển tiền được khách hàng yêu cầu ngân hàng tiến hành song khi họ trả phí không bao giờ có kết quả vật chất cụ thể để biểu hiện Những ví dụ tương tự cũng có tính tương tự như với dịch vụ bảo hiểm, tiết kiệm và đầu tư chúng chỉ mang lại thu nhập tại một thời điểm trong tương lai
Dịch vụ mang tính thống nhất Nói chung, chúng ta có thể chia thành
nhiều phần quá trình tạo và tiêu dùng sản phẩm Hầu hết các hàng hoá bình thường đều được sản xuất và sau đó được bán cho người tiêu dùng, ngược lại dịch vụ thường được bán trước khi được tạo ra Vì vậy, dịch vụ không thể được lưu kho, chúng chỉ được tạo ra khi khách hàng có nhu cầu và đặc biệt là lúc đó
có sự hiện diện của khách hàng
Dịch vụ do nhiều yếu tố cấu thành Chất lượng dịch vụ thường phụ thuộc
nhiều vào chất lượng quản trị nhân sự Chính vì thế khả năng chất lượng dịch vụ
có tính đa dạng là rất cao Ví dụ: chất lượng của dịch vụ tín dụng đối với một khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ ngân hàng thực hiện dịch vụ đó Để giảm đi tính đa dạng không cần thiết về chất lượng dịch vụ chúng ta có thể áp dụng hệ thống phân phối dịch vụ được chuẩn hoá như việc dùng máy ATM chẳng hạn
Bên cạnh đó dịch vụ ngân hàng còn mang một số đặc điểm riêng sau: Dịch vụ ngân hàng thương mại do ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín dụng tạo ra và cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Trong quá trình hoạt động của các ngân hàng sẽ phát sinh một số nhu cầu, mong muốn của khách hàng về lĩnh vực tài chính mà ngân hàng chưa có hoạt động nào có thể đáp ứng được, khi đó ngân hàng thương mại sẽ tiến hành phân tích, thu thập thông tin,
Trang 14nghiên cứu nhu cầu của khách hàng để từ đó sẽ xây dựng một dịch vụ phù hợp với những yêu cầu đó
Các dịch vụ ngân hàng đều mang tính tương hỗ nhau tạo nên mối liên kết chặt chẽ, tạo ra một chuỗi mắt xích, sự ra đời của dịch vụ này là cơ sở để ra đời
và phát triển dịch vụ khác Ví dụ như dịch vụ thanh toán quốc tế và dịch vụ bảo lãnh là hai dịch vụ có quan hệ chặt chẽ với nhau Khách hàng khi sử dụng dịch
vụ thanh toán quốc tế thì sẽ dẫn đến nhu cầu về dịch vụ bảo lãnh để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu ủa hơn, đem lại nhiều lợi ích hơn cho doanh nghiệp
1.2.3 Các loại hình dịch vụ ngân hàng thương mại chủ yếu
(1) Dịch vụ nhận tiền gửi
Là dịch vụ mà qua đó ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và trả lãi xuất cho người gửi tiền Huy động tiền nhàn rỗi tạo nguồn vốn cho ngân hàng từ đó ngân hàng tiến hành hoạt động của mình để sinh lời trên đồng vốn đó Dịch vụ nhận tiền gửi là kênh huy động vốn quan trọng của các ngân hàng chính vì vậy cạnh tranh giữa các ngân hàng trong việc thu hút tiền gửi là vô cùng gay gắt
(2) Dịch vụ tín dụng
Trên cơ sở nguồn vốn thu hút được, ngân hàng tiến hành các hoạt động sinh lời như: cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng qua đó ngân hàng thu lãi xuất cho vay ở mức độ hợp lí để chi trả lãi xuất cho người gửi đồng thời thu lợi nhuận cho ngân hàng Để cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác, nhiều ngân hàng đã có những mức tín dụng ưu đãi dành cho khách hàng của mình
(3) Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ thanh toán tại các ngân hàng thương mại dành cho khách hàng
mở tài khoản tiền gửi gồm hai hình thức: thanh toán dùng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt Tùy theo yêu cầu của khách hàng ngân hàng sẽ tiến hành
Trang 15không dùng tiền mặt hiện nay đang được sử dụng rộng rãi vì sự an toàn tiết kiệm
và nhanh chóng của nó Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng tìm kiếm cách ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào hoạt động thanh toán nhằm mục tiêu phục vụ khách hàng tốt nhất, tạo sự thuận tiện,
an toàn và nhanh chóng cho khách hàng
(4) Dịch vụ trao đổi ngoại tệ
Hội nhập WTO tạo cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường ra nước ngoài, từ đó xuất hiện nhu cầu trao đổi ngoại tệ để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh Khi đó các ngân hàng sẽ đứng ra thu hút và cung cấp ngoại tệ cho các doanh nghiệp và thu phí dịch vụ Ngày nay, dịch vụ trao đổi ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn thực hiện vì mức độ rủi ro ở lĩnh vực này khá cao, đồng thời nó yêu cầu trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao
(5) Dịch vụ ủy thác
Đây là việc ngân hàng thực hiện quản lý tài sản và hoạt động tài chính cho các cá nhân và tổ chức kinh tế Trên cơ sở đó ngân hàng sẽ thu phí dịch vụ tùy theo giá trị, quy mô của tài sản mà ngân hàng quản lý Dịch vụ ủy thác đang rất phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới vì ngày càng có nhiều cá nhân và tổ chức có nhu cầu đối với dịch vụ này
(6) Dịch vụ bảo lãnh
Là bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, đúng hạn
(7) Dịch vụ tư vấn tài chính
Nhiều khách hàng đã coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính bởi ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng những lời khuyên với hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực tài chính Nhờ đó mà khách hàng có thể có được chiến lược kinh doanh tốt nhất, phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp và những biến
Trang 16động của nền kinh tế Qua đó giúp họ tránh được những rủi ro tạo ra mức lợi nhuận tối đa có thể đạt được
(8) Dịch vụ cho thuê tài chính
Ngân hàng mua tài sản về để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận trong hợp đồng Sau thời gian nhất định, khách hàng hoàn trả tài sản tài chính đồng thời trả phí dịch vụ theo thỏa thuận trước giữa hai bên Dịch vụ cho thuê tài chính có nhiều điểm giống với dịch vụ cho vay, và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn
(9) Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Đối với nền kinh tế hiện nay, mỗi ngân hàng đều là một bách hóa tài chính cung cấp rất nhiều dịch vụ tài chính thỏa mãn mọi nhu cùa của khách hàng Một trong những dịch vụ rất phát triển đối với các ngân hàng đó là dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán Khi nhà đầu tư cần được tư vấn về khoản đầu tư của mình, họ sẽ tìm đến những tổ chức có uy tín, có kinh nhiệm trong lĩnh vực tài chính Là chủ thể kinh tế hoạt động trong lĩnh vực tài chính, hơn ai hết các ngân hàng là những tổ chức hiểu rõ và có kinh nhiệm trong lĩnh vực chứng khoán, việc phát triển dịch vụ môi giới đàu tư chứng khoán và việc làm cần thiết đối với cả ngân hàng và nhà đầu tư
(10) Dịch vụ phòng ngừa rủi ro hối đoái
Khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế, ngoài việc quan tâm đến chất lượng và giá thành của sản phẩm các doanh nghiệp còn quan tâm đến sự ổn định của đồng tiền mà họ dùng trong hợp đồng Sự biến động của tỷ giá hối đoái
có ảnh hưởng lớn đến kết quả, lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt được Để giảm thiểu những rủi ro do biến động về tỷ giá gây ra, các doanh nghiệp sẽ sử dụng dịch vụ phòng ngừa rủi ro hối đoái của ngân hàng Ngân hàng sẽ cung cấp một số kỹ thuật để giúp doanh nghiệp phòng ngừa những rủi ro đó đồng thời có thể đem lại lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn… trên cơ sở đó ngân hàng sẽ thu phí dịch vụ, đóng góp vào lợi
Trang 17(11) Một số dịch vụ khác ( Home Banking, E- Banking, Phone Banking…)
Một số dịch vụ ngân hàng hiện đại khách như: Home Banking, E- Banking, Phone Banking, dịch vụ thẻ Đây là những dịch vụ tạo sự thuận tiện cho khách hàng Sử dụng những dịch vụ này khách hàng có thể thực hiện được những nhu cầu của mình mà không cần đến ngân hàng đem lại sự thuận tiện và tiêt kiệm tiền bạc của xã hội Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, rất nhiều sản phẩm mới đã được hình thành dựa trên cơ sở của công nghệ hiện đại, mang lại những tiện ích mới cho người tiêu dùng Xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới là tạo ra những sản phẩm mang hàm lượng công nghệ cao, tiết kiệm chi phí và thời gian cho khách hàng Các dịch vụ ngân hàng hiện đại đang đem lại sự hài lòng cho khách hàng
1.3 PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP WTO
1.3.1 Khái niệm về phát triển dịch vụ ngân hàng
Phát triển là sự mở rộng, nâng cao từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Hay còn được hiểu là sự mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, đảm bảo mục tiêu và nhiệm vụ của ngân hàng
Sự mở rộng dịch vụ ngân hàng là bổ sung thêm một só dịch vụ mới, các dịch vụ mới nà có thể là dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ thay thế hay bổ sung cho các dịch vụ đang có nhằm tạo ra các tiện ích, giá trị mới bằng cách hoàn thiện quy trình, thêm tính năng đơn giản hóa thủ tục, đặc biệt là đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng
Nâng cao chất lượng dịch vụ được thực hiện dựa trên việc ứng dụng các công nghệ hiện đại, tăng cường trang thiết bị, phương tiện phục vụ khách hàng, thái độ phục vụ khách hàng của nhân viên phải chuyên nghiệp, lịch sự
Trang 18Phát triển dịch vụ là một công việc quan trọng của ngân hàng, một mặt nó thỏa mãn nhu cầu phát sinh của khách hàng, duy trì khách hàng cũ, mặt khác thu hút thêm khách hàng mới, mở rộng thị trường năng cao sức cạnh tranh của ngân hàng
1.3.2 Các nội dung của việc phát triển dịch vụ ngân hàng tại các NHTM
Nội dung của việc phát triển dịch vụ ngân hàng được tiến hành qua một số bước như sau:
- Nghiên cứu thị trường của các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Nghiên cứu thị trường có vai trò quyết định đến sự thành bại của một sản phẩm trước khi tung ra thị trường.Vì thị trường là nơi tiêu thụ sản phẩm, là nơi cung và cầu gặp nhau Nếu sản phẩm dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và có giá thành hợp lý sẽ được khách hàng chấp nhận Để sản phẩm dịch
vụ được khách hàng chấp nhận thì buộc các ngân hàng phải nghiên cứu thị trường, tìm ra nhu cầu của khách hàng
Kết quả của việc nghiên cứu thị trường còn là căn cứ để các ngân hàng có phương hướng phát triển tốt trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế để từ
đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Nghiên cứu thị trường được thực hiện bằng nhiều cách, có thể nghiên cứu tại bàn với các thông tin từ sách báo, tạp chí, truyền hình, interner có thể nghiên cứu thực tế bằng các bảng điều tra phát cho khách hàng từ đó tìm ra nhu cầu của khách hàng để tiến hành phát triển dịch vụ
- Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng
Từ kết quả của việc nghiên cứu thị trường sẽ xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ phù hợp nhất nhằm xác định mục tiêu phát triển dịch vụ, định hướng cho việc hình thành ý tưởng và xác định nội dung dịch vụ mới
- Tiến hành phân tích, so sánh sản phẩm của mình với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh
Trang 19Phân tích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh rút ra ưu khuyết điểm từ đó có được những thông tin quan trọng đề ra các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Đồng thời có được thông tin quan trọng để dần hoàn thiện sản phẩm dịch vụ mới
- Hình thành ý tưởng phát triển dịch vụ ngân hàng
Ý tưởng phát triển dịch vụ ngân hàng có thể xuất phát trong quá trình phục vụ khách hàng của các nhân viên, tiếp xúc với khách hàng, hoặc từ kết quả của việc khảo sát thực tế Đây là bước tiền đề cho việc phát triển sản phẩm dịch vụ mới
- Đánh giá và lựa chọn ý tưởng phát triển dịch vụ ngân hàng
Sau khi hình thành các ý tưởng, cần phân loại, sắp xếp, rồi đánh giá và xếp hạng theo những tiêu chuẩn nhất định của ngân hàng nhằm lựa chọn được
ý tưởng khả thi nhất, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng đồng thời phải phù hợp với điều kiện phát triển của ngân hàng,
- Triển khai và kiểm định sản phẩm dịch vụ mới
Triển khai và kiểm định sản phẩm dịch vụ mới là công đoạn cuối cùng trước khi tung sản phẩm ra thị trường Sản phẩm sẽ được thử nhiệm trên một nhóm khách hàng, một khu vực trong một khoảng thời gian nhất định để xem xét phản ứng, rút ra những thong tin quan trọng về mức độ hài long của khách hàng Từ đó ngân hàng sẽ tiến hành điều chỉnh lại sao cho phù hợp nhất trước khi tung sản phẩm ra thị trường
- Thực hiện cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng ra thị trường
Sau khi kiểm định sản phẩm, ngân hàng sẽ tiến hành cung cấp sản phẩm
ra thị trường bằng việc lựa chọn thời gian địa điểm đồng thời tiến hành các hoạt động maketing cho sản phẩm mới, đảm bảo việc cung cấp sản phẩm ra thị trường một cách thành công và được sự ủng hộ của khách hàng
Trang 201.3.3 Các nhân tố tác động đến khả năng phát triển dịch vụ ngân hàng của các NHTM
1.3.3.1 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ ngân hàng
- Môi trường chính trị
Sự ổn định về chính trị của một quốc gia có ảnh hưởng đến tất cả các ngành nghề kinh tế của quốc gia đó Dịch vụ ngân hàng cũng chịu sự ảnh hưởng từ sự ổn định của hệ thống pháp quyền Một quốc gia có nền chính trị ổn định vững bền sẽ
là một ưu điểm để thu hút đầu tư Nhà nước sẽ có những chính sách tốt để phát triển kinh tế, tăng cường hợp tác tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp Ngược lại nếu quốc gia đó có sự bất ổn về chính trị thì sẽ gây cản trở cho sự phát
triển kinh tế nói chung và sự phát triển dịch vụ ngân hàng nói riêng
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế của một quốc gia cho biết quy mô thị trường, nhu cầu
và mong muốn của người tiêu dùng, khả năng tiêu thụ của thị trường thông qua những thông tin về thu nhập của người dân Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế phát triển và ổn định sẽ tạo rất nhiều thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng
- Môi trường pháp lý
Pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia Đó là công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội Là một bộ phận trong xã hội, hoạt động ngân hàng không nằm ngoài quy luật đó Hơn nữa, hoạt động ngân hàng mang tính đặc thù, nên xây dựng pháp luật về ngân hàng phải được quan tâm đúng mức Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam pháp luật về ngân hàng vẫn còn rườm rà, còn nhiều thiếu sót, chưa phù hợp với các chuẩn mực quốc tế do đó nó
có thể kìm hãm sự phát triển của dịch vụ ngân hàng
Trang 21- Môi trường xã hội
Các yếu tố của môi trường xã hội như dân số, mật độ dân cư trong khu vực, trình độ dân trí, thói quen tiêu dùng…tác động mạnh đến sự phát triển dịch
vụ ngân hàng Khi người dân có trình độ, nhận thức cao thì khả năng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng hiện đại sẽ nhanh nhanh chóng và dễ dàng hơn điều này tạo rất nhiều thuận lợi cho các ngân hàng khi triển khai các sản phẩm mới Đặc biệt thói quen tiêu dùng của người dân có tác động lớn tới chiến lược phát triển dịch vụ của ngân hàng
1.3.3.2 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ ngân hàng
- Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời điểm nhất định Tiềm lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu như mức độ an toàn vốn, khả năng huy động vốn, chất lượng tài sản có, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán Có thể thấy vốn điều lệ và vốn tự có đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng, Vốn điều lệ cao sẽ giúp ngân hàng tạo được
uy tín trên thị trường có được sự tin tưởng của khách hàng Đó là điều kiện đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Đặc biệt, tiềm lực tài chính mạnh sẽ giúp các ngân hàng Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh trong bối cảnh các ngân hàng nước ngoài đang thâm nhập thị trường Việt Nam theo cam kết với WTO
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp Sử dụng nguồn nhân lực tốt sẽ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và ngược lại nếu nguồn nhân lực yếu kém không đủ phẩm chất để điều hành hoạt động của doanh nghiệp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp Nguồn nhân lực trong các ngân hàng lại càng đòi hởi trình độ nghiệp vụ
Trang 22và quản lý cao để phục vụ tốt nhất sự phát triển của ngân hàng, tiếp cận nhanh chóng những ứng dụng công nghệ mới góp phần đổi mới, phát triển ngân hàng
- Năng lực về công nghệ
Công nghệ ngân hàng ảnh hưởng quyết định đối với việc mở rộng dịch
vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ và phương thức phân phối dịch vụ đến khách hàng Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy ATM
mà còn có hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống báo cáo rủi ro… trong nội
bộ ngân hàng Do vậy việc đi tắt đón đầu công nghệ hiện đại đã và đang là vấn
đề được chú trọng hàng đầu của các ngân hàng thương mại qua đó từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ ngân hàng, nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường
- Chiến lược phát triển dịch vụ
Khi một tổ chức ra đời và đi vào hoạt động, nó đều xác định cho mình một sứ mệnh và tầm nhìn Do vậy để đạt được mục tiêu đã đề ra thì cần phải có một chiến lược phát triển tốt phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp Ngân hàng cũng vậy, phải xác định rõ ràng mục tiêu và chiến lược phát triển dịch vụ
để đảm bảo việc phát triển được thực hiện có hiệu quả mang lại lợi ích cao nhất cho ngân hàng
- Hệ thống kênh phân phối
Hệ thống kênh phân phối luôn là yếu tố quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại, Hệ thống kênh phân phối của các ngân hàng thương mại thể hiện số lượng các chi nhánh, các đơn vị trực thuộc và sự phân bổ các chi nhánh theo địa lý lãnh thổ Vai trò của một mạng lưới chi nhánh rộng lớn có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện các dịch vụ truyền thống của ngân hàng đang phát triển
- Hoạt động Marketing ngân hàng
Trang 23Dịch vụ là một sản phẩm và nó cũng cần có những cách thức để quảng bá, giới thiệu với khách hàng Vì vậy, các ngân hàng cần có những chính sách Maketing tốt đến với khách hàng Maketing là một công đoạn quan trọng trong một quy trình phát triển sản phẩm dịch vụ Nhờ hoạt động Maketing khách hàng
sẽ hiểu rõ hơn về sản phẩm dịch vụ ngân hàng từ đó sẽ có những lựa chọn chính xác cho các nhu cầu của mình
- Các nhân tố khác ( giá cả dịch vụ,năng lực quản lý)
Ngoài những nhân tố kể trên thì một số yếu tố sau cũng góp phần không nhỏ trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng
Thứ nhất là giá cả các dịch vụ ngân hàng Tâm lí người tiêu dung là luôn muốn sử dụng những sản phẩm tốt mà giá thành hợp lý Chính vì vậy, bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm thì các ngân hàng phải xây dựng chính sách giá cả dịch vụ hợp lý để thu hút khách hàng, đồng thời vẫn đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
Thứ hai là năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức Năng lực quản lý quyết định hiệu quả sử dụng các nguồn lực của ngân hàng Một ban giám đốc hay hội đồng quản trị yếu kém sẽ không có khả năng đưa ra các chính sách, chiến lược hợp lý, thích ứng với những thay đổi của thị trường Sự phát triển dịch vụ ngân hàng gắn liền với sự điều hành quản lý của mỗi ngân hàng để đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững và mang lại hiệu quả cao
Thứ ba là mối quan hệ tương quan, gắn kết chặt chẽ giữa các dịch vụ ngân hàng Các dịch vụ ngân hàng có mối quan hệ tương quan với nhau, sự ra đời và phát triển dịch vụ này là cơ sở để tồn tại và phát triển dịch vụ kia Các dịch vụ ngân hàng mới có thể là dịch vụ hỗ trợ, bổ xung cho các dịch vụ cũ, do vậy ngân hàng cần khai thác tốt mối quan hệ này để có một danh mục dịch vụ đa dạng cung cấp cho khách hàng
Trang 241.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ ngân hàng
1.3.4.1 Số lượng dịch vụ ngân hàng
Đa dạng hóa, mở rộng các loại hình dịch vụ là tiêu thức đầu tiên để đánh giá sự phát triển của dịch vụ ngân hàng Bên cạnh những dịch vụ truyển thống thì có rất nhiều dịch vụ mới, hiện đại mang lại nhiều lợi ích hơn cho khách hàng
và bản thân các ngân hàng thương mại như các dịch vụ thẻ, các dịch vụ ngân hàng điện tử, hay các dịch vụ về môi giới, bảo lãnh ngân hàng Một ngân hàng
có càng nhiều dịch vụ thì sẽ tạo ra càng nhiều lựa chọn cho khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
1.3.4.2 Chất lượng dịch vụ ngân hàng
Chất lượng dịch vụ ngân hàng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phát triển của dịch vụ ngân hàng Để đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng ta phân tích một số yếu tố sau:
- Sự hài lòng của khách hàng: Dịch vụ ngân hàng do ngân hàng cung ứng
để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chất lượng dịch vụ ngày càng hoàn hảo thì khách hàng sẽ hài lòng hơn và gắn bó hơn với ngân hàng Đánh giá sự hài lòng của khách hàng về sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể thông qua bảng câu hỏi, phiếu điều tra hay thông qua doanh thu từ những dịch vụ đó
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng cũng là
một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Ngày nay, các dịch
vụ mới của ngân hàng hiện đại còn đòi hỏi phải có một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại Ví dụ để phát triển dịch vụ thẻ thì ngân hàng phải triển khai mạng lưới các máy ATM, các thiết bị truyền dẫn dữ liệu, hay để phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế đòi hỏi ngân hàng phải có cơ sở kỹ thuật tiêu chuẩn quốc tế để thực hiện thanh toán một cách chính xác, an toàn nhất
- Sự hoàn hảo của dịch vụ: Nó được hiểu là việc giảm thiểu các sai sót trong
giao dịch với khách hàng và rủi ro trong kinh doanh dịch vụ ngân hàng Chất lượng dịch vụ ngân hàng ngày càng hoàn hảo, thủ tục đơn giản, nhanh chóng
Trang 251.3.4.3 Doanh thu từ dịch vụ ngân hàng
Sự phát triển của bất kỳ sản phẩm nào trên thị trường đều được đánh giá thông qua doanh thu mà sản phẩm đó mang lại Dịch vụ ngân hàng cũng vậy, dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc doanh thu từ dịch
vụ ngân hàng ngày càng tăng, đóng góp vào tổng thu nhập của ngân hàng Ta có thể đánh giá doanh thu từ dịch vụ ngân hàng thông qua tỷ lệ doanh thu từ dịch
vụ trên tổng thu nhập của ngân hàng trong một giai đoạn nhất định
1.4 SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.4.1 Lợi ích của việc phát triển dịch vụ ngân hàng
- Đối với nền kinh tế quốc gia
Dịch vụ ngân hàng không chỉ đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà nó còn thể hiện sự phát triển kinh tế quốc gia Khi nền kinh tế phát triển đến một mức nào đó thì cần phải có các công cụ hỗ trợ, thúc đẩy để đạt hiệu quả cao nhất Chính vì vậy việc phát triển dịch vụ ngân hàng là vô cùng quan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới Dịch vụ ngân hàng giúp thúc đẩy phát triển kinh tế, lưu thông hàng hóa dễ dàng
Dịch vụ ngân hàng có liên quan đến nhiều ngành nghề, lĩnh vực, do đó sự phát triển dịch vụ ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho các ngành nghề kinh tế khác phát triển Hệ thống ngân hàng tài chính là một mắt xích quan trọng trong nền kinh tế Nó giúp kết nối các ngành nghề khác của nền kinh tế lại với nhau, tạo ra nhiều lợi ích hơn, tiết kiệm thời gian và chi phí cho xã hội
Phát triển dịch vụ ngân hàng sẽ thúc đẩy phát triển xuất khẩu, tạo điều kiện để nâng cao giá trị gia tăng, do đó tạo vị thế cạnh tranh cho các mặt hàng xuất khẩu
Trang 26- Đối với sự phát triển của ngân hàng
Phát triển dịch vụ ngân hàng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Bằng việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng sẽ cung cấp nhiều sự lựa chọn hơn cho khách hàng, phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ sẵn
có sẽ đem lại sự hài lòng cho khách hàng giúp các ngân hàng giữ được khách hàng đồng thời thu hút thêm lượng khách hàng mới
Việc gia tăng các sản phẩm dịch vụ mới cũng đồng nghĩa với việc tăng thu nhập cho ngân hàng Các ngân hàng sẽ có được những nguồn thu mới từ phí dịch vụ, đóng góp vào tổng doanh thu của mình
1.4.2 Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải phát triển dịch vụ ngân hàng
Lợi ích của việc phát triển dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế quốc gia
và đối với bản thân ngân hàng là điều không thể phủ nhận Đặc biệt, hội nhập kinh tế quốc tế càng khiến nó trở thành một xu hướng tất yếu Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội cho các ngân hàng mở rộng thị trường, tăng cường hợp tác
và thu hút đầu tư, đồng thời cũng đưa các tổ chức tài chính ngân hàng lớn trên thế giới vào thị trường Việt Nam trở thành đối thủ cạnh tranh với các ngân hàng thương mại trong nước
Năm 2006 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, chính thức gia nhập sân chơi mới rộng lớn hơn có nhiều cơ hội hơn tuy nhiên cũng nhiều thử thách hơn đối với nền kinh tế còn non trẻ Đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam thì đây còn là một sân chơi với sự cạnh tranh gay gắt hơn khi các tổ chức tài chính lớn trên thế giới thâm nhập thị trường Việt Nam theo cam kết mở cửa khu vực ngân hàng tài chính Đồng thời các ngân hàng Việt Nam còn phải đáp ứng những chuẩn mực quốc tế trong hoạt động kinh doanh dịch vụ Xu hướng tất yếu là các ngân hàng phải tự đổi mới hoạt động, tạo ra nhiều lợi ích hơn nữa cho khách hàng từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển vững mạnh trên sân nhà
Trang 27CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI AGRIBANK HÀ TÂY TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP ( GIAI
ĐOẠN 2005 -2009 )
2.1 TỔNG QUAN VỀ AGRIBANK HÀ TÂY
2.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của AGRIBANK Hà Tây
Một là, AGRIBANK Hà Tây là một chi nhánh có quy mô hoạt động vào
loại lớn nhất của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Với đặc điểm này, hoạt động của AGRIBANK Hà Tây sẽ chịu sự chi phối bởi quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, sự đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ để phát triển các sản phẩm dịch vụ, phụ thuộc vào NHNo&PTNT Việt Nam về phân phối thu nhập và tất cả các cơ chế quản lý, cơ chế nghiệp vụ Tính đến cuối năm 2009, dựa trên các chỉ tiêu : số lượng cán bộ và nhân viên, nguồn vốn huy động tại chỗ, dư nợ cho vay,…thì NHNNo&PTNT Hà Tây đứng vào hàng chi nhánh có quy mô lớn nhất
Hai là, Chi nhánh AGRIBANK Hà Tây hoạt động kinh doanh trên địa bàn
rộng, sự phát triển kinh tế của khu vực còn nhiều khó khăn, Đặc điểm này sẽ
chi phối rất lớn đến hoạt động quản lý kinh doanh dịch vụ của chi nhánh NHNo
&PTNT Hà Tây
Ba là, thị trường chủ yếu để hoạt động kinh doanh dịch vụ còn chưa phát
triển Thị trường chính mà AGRIBANK Hà Tây là phục vụ nông nghiệp và
nông thôn còn đang lạc hậu Đặc điểm này vừa là cửa mở cho NHNNo Hà Tây khai thác phục vụ, mở rộng thị trường vừa phải chống đỡ các rủi ro
Bốn là, thị trường chính của AGRIBANK Hà Tây hoạt động kinh doanh
có rủi ro cao NH hoạt động chủ yếu trong khu vực kinh tế nông nghiệp, nông
thôn Thị trường này chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thiên nhiên môi trường
Trang 28Thiên tai luôn túc trực ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường, từ đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh dịch vụ của ngân hàng
2.1.2 Khách hàng của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Tây
* Khu vực doanh nghiệp :
Hiện nay Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển như: chính sách đất đai, chính sách ưu tiên về thuế với các doanh nghiệp mới thành lập, thu thuế đầu tư, …Năm 2009 số doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng 413 doanh nghiệp, đưa tổng số doanh nghiệp lên 4.164 đơn vị ; Trong đó có 245 doanh nghiệp Nhà nước trung ương và địa phương, số doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với AGRIBANK Hà Tây 37 đơn vị Có 815 công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần trong đó có 462 công ty có quan
hệ tín dụng Có 885 doanh nghiệp tư nhân, trong đó có 248 doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với AGRIBANK Hà Tây
* Khu vực kinh tế hợp tác xã :
Sau khi chuyển đổi theo luật, đến nay toàn tỉnh có 533 hợp tác xã, trong
đó hợp tác xã nông nghiệp có 494, hợp tác xã công nghiệp, vận tải có 39 Qua khảo sát cho thấy các hợp tác xã đã chuyển đổi theo luật từ các HTX cũ, hoạt động kinh doanh yếu kém, năng lực tài chính khó khăn, không đủ sức cạnh tranh trên thương trường, khả năng sử dụng các dịch vụ ngân hàng thấp và hầu như không có
* Khu vực kinh tế hộ tư nhân, cá thể :
Toàn tỉnh có 56 vạn hộ dân cư, trong đó hộ giàu chiếm khoảng 9%, hộ khá chiếm khoảng 26%, hộ trung bình chiếm khoảng 54,5%, hộ nghèo chiếm khoảng 10,5% Khu vực kinh tế này trong những năm gần đây hoạt động phát triển tốt, đã từng bước phát triển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá, gắn được việc sản xuất kinh doanh với thị trường đặc biệt nơi có làng nghề
Trang 29Đây là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
2.1.3 Tổng quan hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tây
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tây được thành lập từ tháng 10 năm 1991 trên cơ sở sát nhập 8 ngân hàng huyện, thị xã thuộc tỉnh Hà Sơn Bình cũ và 6 ngân hàng huyện, thị xã của Hà Nội chuyển giao
Trong thời gian mới thành lập, toàn tỉnh Hà Tây có 14 chi nhánh Ngân hàng
huyện, thị xã, với 28 phòng giao dịch và bàn tiết kiệm, với tổng số 1181 cán bộ
công nhân viên Tổng nguồn vốn huy động 77 tỷ đồng, dư nợ 46 tỷ đồng chủ yếu cho vay doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác xã (chiếm 90%) Chất lượng cho vay thấp, nợ quá hạn chiếm 17% tổng dư nợ Kết quả kinh doanh thua lỗ
Đó là những thách thức không nhỏ về thực trạng hoạt động kinh doanh, trình độ cán bộ, mạng lưới hoạt động Tổng số 68 điểm giao dịch bao gồm 01 hội sở, 16 huyện, thị xã, chi nhánh cấp II; 44 ngân hàng cấp 3 và 7phòng giao dịch 100% các điểm giao dịch trực tiếp trên máy vi tính với tổng số máy trang bị 436 bộ
- Trình độ cán bộ tăng lên rõ rệt, với 851 cán bộ, giảm so buổi đầu thành lập là 330 cán bộ, trình độ đại học, trên đại học chiếm tỷ lệ 75% Số cán bộ cao đảng, trung cấp chuyên môn nghiệp vụ chiếm tỷ lệ 25%, trình độ tin học chiếm
Trang 302.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI AGRIBANK HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2006-2009
2.2.1 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ của AGRIBANK Hà Tây
ngân hàng của chi nhánh
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng sâu sắc tới chiến lược phát triển của doanh nghiệp Những yếu tố như tốc độ tăng trưởng GDP, thu nhập bình quân đầu người, tỷ trọng xuất nhập khẩu cho thấy nhu cầu của khách hàng để từ đó doanh nghiệp sẽ có phương hướng phát triển phù hợp nhất trong từng giai đoạn Năm 2008 nền kinh tế Việt Nam biến động mạnh mẽ, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã kéo theo sự suy giảm kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới Nhiều thị trường xuất khẩu của Việt Nam như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản
đã thu hẹp đáng kể do những biến động xấu của kinh tế thế giới và sự cắt giảm chi tiêu của người dân trong khu vực Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) ước tăng 6,23%, và lạm phát lên đến 22,3% Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước ước đạt xấp xỉ 63 tỷ USD, tăng trên 29,5% so với năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 34,87 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 55,4%, tăng 25,5% so với năm 2007; của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 28,02 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 44,6%, tăng 34,9%, so với năm 2007, nhập siêu giảm ước đạt 17 tỷ USD với tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu là
Trang 3127%, giảm so với năm 2007 (năm 2007 là 29,1%) Theo số liệu thống kê của bộ công thương năm 2008 có tới hơn 20% doanh nghiệp rơi vào rủi ro phá sản hàng loạt doanh nghiệp có lợi nhuận âm trong năm 2008 chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ số vốn ít và quy mô sản xuất nhỏ
Năm 2009 đạt mức tăng trưởng 5,32%, đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 thấp hơn tốc độ tăng 6,18% năm 2008 nhưng đã vượt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch Ðáng chú ý là, GDP của quý III-2009 tăng 6,04% và quý IV-2009 tăng 6,9%, cao hơn so với cùng kỳ năm 2008, cho thấy nền kinh tế nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm tăng trưởng, chứng tỏ các chính sách, giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế triển khai trong năm vừa qua phù hợp tình hình thực tế
- Môi trường pháp lý
Hệ thống ngân hàng Việt Nam mới phát triển vì vậy hành lang pháp lý về hoạt động của các ngân hàng vẫn còn rất nhiều thiếu sót Điều này đã tạo ra không ít khó khăn cho các ngân hàng Việt Nam khi tham gia vào các hoạt động mang tính chất quốc tế
Năm 1988 sự ra đời của 2 pháp lệnh ngân hàng mới đã chuyển hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang
cơ chế thị trường Tiếp đó là việc thực thi lại luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng từ 01/10/1998 đã mở ra thời kì phát triển mới cho các ngân hàng và tổ chức tín dụng
2.2.2 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ của AGRIBANK Hà Tây
- Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính của một doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch phát triển, phương hướng hoạt động cũng như chiến lược của doanh nghiệp Đối với các ngân hàng thương mại thì
Trang 32nó lại càng quan trọng hơn nữa Một nguồn lực tài chính mạnh và an toàn là yếu
tố tạo nên ưu thế cho ngân hàng trên thị trường Để đánh giá được tiềm lực tài chính có tác động mạnh mẽ thế nào đối vói sự phát triển dịch vụ của AGRIBANK Hà Tây ta xem xét một só chỉ tiêu sau:
Thứ nhất là tiểm lực vốn của chi nhánh Tổng nguồn vốn tính đến 31/12/2008 của AGRIBANK Hà Tây là hơn 7.974 tỷ vnd, trong đó vốn nội tệ là 7.236 tỷ chiếm 91% tổng nguồn vốn, ngoại tệ quy đổi là 738 tỷ vnd chiếm 9% tổng nguồn vốn Với nguồn vốn này chi nhánh có đủ điều kiện để phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường Tuy nhiên, để có thể hoàn thành mục tiêu phát triển dịch vụ, thì chi nhánh cần có nguồn vốn dồi dào hơn nữa tạo thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ
Thứ hai là khả năng thanh khoản.Khả năng thanh khoản phản ánh chất lượng kinh doanh của ngân hàng Qua đó có thể thấy được ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh hay yếu Một ngân hàng có khả năng thanh khoản cao sẽ tạo thuận lợi trong quá trình phát triển dịch vụ
Trang 33Hình 2.1 Cơ cấu lao động của AGRIBANK Hà Tây
Cao đẳng và trung cấpTrên Đại học
Hiện AGRIBANK Hà Tây đã vi tính hoá hoạt động kinh doanh và một hệ thống các dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ chuyển tiền điện tử, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, dịch vụ ATM, dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT Đến nay, AGRIBANK Hà Tây hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiên tiến, tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước
Trang 34- Hoạt động Marketing
Maketing ngân hàng là một hoạt động quan trọng trong quá trình phát triển snr phẩm dịch vụ ngân hàng Bằng các chiến lược đẩy và chiến lược kéo các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng sẽ đến được với người tiêu dùng nhanh nhất và ngắn nhất Hiện nay, AGRIBANK Hà Tây đã thực hiện một số chính sách maketing như: quảng bá, giới thiệu sản phẩm thông qua truyền thông, báo, tạp chí ngân hàng thương mại, interner
2.3 Thực trạng hoạt động dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tây
2.3.1 Dịch vụ huy động vốn
Đối với các ngân hàng thương mại, huy động vốn là hoạt động quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đó Đó là nguồn cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh danh của ngân hàng Và đó cũng là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại Với nhiều phương thức huy động vốn AGRIBANK
Hà Tây đã và đang củng cố nguồn vốn của mình tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các dịch vụ khác của chi nhánh Bằng các biện pháp xúc tiến, quảng
bá cùng với vị trí thuận lợi ngân hàng đã thu hút được lượng tiền gửi lớn trong dân cư, các tổ chức kinh tế
Hiện nay, AGRIBANK Hà Tây đã và đang thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu trong công tác huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với nhiều hình thức như:
- Nhận tiền gửi của khách hàng (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn
và các loại tiền gửi khác)
- Tiền gửi tiết kiệm: Không kỳ hạn; tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn; tiền gửi tiết kiệm bậc thang; tiền gửi tiết kiệm gửi góp; Tiền gửi tiết kiệm có thưởng; Tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ bảo đảm giá trị theo vàng; Tiền gửi tiết kiệm bằng
Trang 35vàng; Tiền gửi tiết kiệm có tặng quà bằng vàng 3 chữ A (4 số 9) và có dự thưởng
- Giấy tờ có giá ngắn hạn: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và tín phiếu;
- Giấy tờ có giá dài hạn: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn
- Chiết khấu các loại chứng từ có giá
- Vay vốn của NHNN và các TCTD khác;
Kết quả huy động vốn những năm qua đạt kết quả khả quan Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2009 là 7.974 tỷ đồng, chiếm trên 35% thị phần nguồn vốn trên địa bàn, tăng 354 tỷ đồng so với năm 2008, tốc độ tăng trưởng 4,6% ( năm 2008 tốc độ tăng trưởng là 22,2%) Trong đó cơ cấu theo thời hạn như sau:
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn các năm 2004 - 2009
Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Trang 36nguồn vốn có kỳ hạn trung và dài, tạo sự ổn định cao nguồn vốn trung và dài hạn năm 2009 đạt 4.873 tỷ đồng , tăng 2.300 tỷ đồng so với năm 2004 Về tốc
độ tăng trưởng nhìn chung năm sau cao hơn năm trước về số tuyệt đối, nhưng số tương đối có xu hướng giảm, báo động tình hình về nguồn vốn trong những năm tới sẽ rất khó khăn, ảnh hưởng đến công tác đầu tư mở rộng tín dụng Một yêu cầu đặt ra, AGRIBANK Hà Tây cần phải đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ về huy động vốn, nhất là phát triển các sản phẩm dịch vụ mới hấp dẫn với khách hàng
Có như vậy mới đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng, góp phần phục
vụ cho phát triển của nền kinh tế
2.3.2 Dịch vụ tín dụng
AGRIBANK Hà Tây đã mở rộng đầu tư vốn tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với các hình thức: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn, cho vay chiết khấu các loại giấy tờ có giá; cho vay tài trợ theo chương trình, dự án, hợp vốn đồng tài trợ các dự án lớn, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay dài hạn các dự án lớn, cho vay khép kín chu trình sản xuất - lưu thông, cho vay các chương trình chỉ định của Chính phủ; ngân hàng còn triển khai nhiều hoạt động đầu tư khác có hiệu quả
Những năm qua, ngân hàng đã có nhiều cải tiến trong công tác tín dụng như đơn giản hoá thủ tục vay vốn, điều kiện vay vốn được nới rộng, đối tượng vay vốn được mở rộng đã tạo thuận lợi cho nhiều hộ nông dân được vay vốn ngân hàng, hạn chế việc cho vay nặng lãi Đã mở rộng hợp tác với các tổ chức như Hội nông dân, Hội Phụ nữ,…để phát triển khách hàng,tạo thuận lợi cho khách hàng vay vốn và góp phần giảm quá tải đối với ngân hàng, tăng thêm độ
an toàn vốn Hoạt động tín dụng cần phải cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh Các khách hàng là doanh nghiệp đã tổ chức nhiều hội nghị khách hàng nhằm tiếp thu ý kiến đóng góp của khách hàng AGRIBANK Hà Tây đã thực hiện theo đúng Sổ tay tín dụng do AGRIBANK VN ban hành, triển khai tập huấn trong toàn hệ thống vào cuối tháng 07/2008
Trang 37Do vậy, tính đến ngày 31/12/2009, AGRIBANK Hà Tây đã đầu tư cho vay đạt 7.409 tỷ đồng, chiếm 35% thị phần cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng 12,6%/năm, dư nợ bình quân 01 cán bộ là 8.706 triệu đồng Tỷ lệ nợ quá hạn là 3,5% trên tổng dư nợ(cao hơn mức NHNo&PTNT Việt nam qui định là 3%) Trong đó cơ cấu tiền vay phân theo thời hạn thì dư nợ cho vay ngắn hạn 6.091 tỷ đồng chiếm 82% ; Dư nợ cho vay trung dài hạn 1.318 tỷ đồng = 18% Nếu phân chia dư nợ theo thành phần kinh
tế thì cho vay doanh nghiệp 2.561 tỷ đồng chiếm 34,6%; Cho vay Hộ sản xuất
Dư nợ cho vay doanh nghiệp 1.484 1.595 1.925 2.637 2.504 2.561
Dư nợ cho vay Hộ sản xuất và cá thể 2.166 2.647 3.358 4.120 4.708 4.848
2 Tỷ lệ tăng so với năm trước 16,3% 16,2% 24,5% 27,9% 6,7% 2,6%
Nguồn: báo cáo tổng kết của NHNo &PTNT Hà Tây năm 2004-2009
Như vậy, xét về tỷ lệ vốn đầu tư cho hộ sản xuất và các doanh nghiệp cho thấy, NHNo&PTNT Hà Tây đã thực hiện tốt cho vay các doanh nghiệp, đầu tư thoả đáng vốn vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, từng bước làm chuyển dịch
cơ cấu tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, tiến tới hiện đại hoá nông nghiệp
và nông thôn
Xét về mặt tỷ trọng giữa cho vay trung, dài hạn và ngắn hạn AGRIBANK
Hà Tây từng bước điều chỉnh sao cho tỷ lệ cho vay cân đối phù hợp với nguồn
Trang 38vốn huy động nhằm đạt hiệu quả trong quá trình kinh doanh về tín dụng cũng như nguồn vốn
Sản phẩm tín dụng tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp và cá nhân bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ
Cho vay thực hiện thanh toán vật tư, nguyên liệu, hàng hoá, chi phí dịch
vụ và các chi phí cần thiết khác cấu thành giá mua hoặc giá thành sản phẩm, hàng hoá…
Cho vay mua máy móc, trang thiết bị, dây chuyền công nghệ, phương tiện vận chuyển, nâng cấp mở rộng trụ sở làm việc, nhà xưởng kho bãi…
Cho vay sản xuất và thu mua hàng xuất khẩu
Cho vay phát triển đời sống như mua nhà, mua sắm phương tiện đi lại, mua sắm các trang thiết bị phục vụ cuộc sống
Trang 392.2.3 Kết quả kinh doanh dịch vụ phi tín dụng
Cơ cấu nguồn thu từ một số hoạt động kinh doanh dịch vụ chủ yếu của AGRIBANK Hà Tây giai đoạn 2004 – 2009 được thể hiện trong bảng 2.3 dưới
2 Dịch vụ TT quốc tế 898 1.033 1.100 1.320 1.298 Thanh toán LC 251 286 297 374 353 Nhờ thu 47 52 55 63 79 Dịch vụ bảo lãnh 102 111 116 125 123 Kinh doanh ngoại tệ 180 230 255 276 320 Chi trả kiều hối 106 120 132 182 156 Chi trả Western Union 212 234 245 300 267
3 Tỷ lệ thu DV/thu nhập ròng 3,6% 4,9% 7,9% 8% 6,8%
Nguồn: báo cáo tổng kết của NHNo &PTNT Hà Tây năm 2005-2009
* Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế
Trang 40Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế của chi nhánh AGRIBANK Hà Tây trong những năm qua đã thu được kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ mới đạt trên 14% tổng nguồn, dư
nợ cho vay chiếm 1,7% tổng dư nợ, thu dịch vụ phí còn nhỏ, tuy nhiên loại hình kinh doanh này mới được triển khai áp dụng nhưng báo hiệu một sự khởi đầu đầy tiềm năng
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế đã và đang được triển khai tại chi nhánh AGRIBANK Hà Tây
Bảng 2.4: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ các năm 2006-2009
Đơn vị: Ngàn USD
TT Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009
1 Doanh số mở LC Xuất 2.669 2.758 2.946 2.834
2 Doanh số mở LC Nhập 7.245 7.753 8.137 7.956
3 Doanh số chuyển tiền đi, đến 31.138 35.767 42.043 38.138
4 Doanh số mua NT quy USD 25.612 27.747 29.240 28.612
5 Doanh số bán NT quy USD 26.132 27.060 32.173 29.132
6 D S chi trả kiều hối + Western Union 18.759 21.530 27.500 18.759
Nguồn: báo cáo tổng kết của NHNo &PTNT Hà Tây năm 2006-2009
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ ngày càng được mở rộng, với xu hướng năm sau cao hơn năm trước
* Các chỉ tiêu năm 2009 giảm so với cùng kỳ năm 2008 do một số nguyên nhân sau:
- Do suy giảm kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu giảm nên thanh toán giảm, thu dịch vụ về thanh toán cũng giảm theo
- Rủi ro về chính sách: tỷ giá, lãi suất, phí điều vốn,
- Người đi lao động hợp tác có thời hạn tại nước ngoài bị mất việc làm, thu nhập giảm