Khóa luận tốt nghiệp: Phát triển hoạt động kinh doanh cho các ngân hàng thương mại nhà nước sau cổ phần hoá - lấy Vietcombank làm điểm nghiên cứu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Sinh viên thực hiện : Đặng Thị Hoa Nữ
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Hiền
Hà Nội, tháng 05 năm 2010
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 1
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 3
I Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 3
1.1 Ngân hàng thương mại và vai trò của nó đối với nền kinh tế quốc dân 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại 4
1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế quốc dân 6
1.2 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 7
1.2.1 Các hoạt động kinh doanh cơ bản 7
1.2.2 Sự khác biệt hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại với các tổ chức kinh tế khác 13
1.3 Các tiêu chí phản ánh sự phát triển hoạt động kinh doanh ngân hàng 14
1.3.1 Quy mô, số lượng dịch vụ kinh doanh 14
1.3.2 Chất lượng: an toàn, kịp thời và tiện ích 15
1.3.3 Hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ số tài chính 16
II Cổ phần hoá và tác động của cổ phần hoá đến hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại nhà nước 22
2.1 Cổ phần hoá ngân hàng thương mại Nhà nước 22
2.1.1 Khái niệm cổ phần hoá 22
2.1.2 Đặc điểm của cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước 23
Trang 32.2 Tác động của cổ phần hoá đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
24
2.2.1 Tạo ra hệ thống quản trị năng động và hiệu quả 24
2.2.2 Tăng năng lực tài chính cho các Ngân hàng thương mại 25
2.2.3 Cổ phần hoá sẽ tạo áp lực bắt buộc Ngân hàng thương mại Nhà nước phải nâng cao khả năng sinh lời (ROA, ROE) 25
III Bài học kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hoá các NHTMNN của Trung Quốc 26
3.1 Tiến trình cổ phần hoá các NHTMNN Trung Quốc 26
3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình CPH các NHTMNN Trung Quốc 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG SAU CỔ PHẦN HOÁ 33
I Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh của các NHTM Vietcombank trước cổ phần hoá (2003 – 2007) 33
1.1 Quy mô, số lượng dịch vụ kinh doanh 33
1.1.1 Doanh số, lợi nhuận và thị trường 33
1.1.2 Sự đa dạng về sản phẩm dịch vụ của Vietcombank 47
1.2 Chất lượng các loại hình dịch vụ của Ngân hàng Vietcombank 49
1.3 Hiệu quả hoạt động của Vietcombank 50
1.4 Một số hạn chế và nguyên nhân 55
1.4.1 Một số hạn chế 55
1.4.2 Các nguyên nhân 57
II Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh của Vietcombank sau cổ phần hoá (2008-2009) 60
2.1 Hình thức và tổ chức của Vietcombank sau khi tiến hành cổ phần hoá 61
Trang 42.2 Quy mô, số lượng sản phẩm dịch vụ kinh doanh 63
2.2.1 Doanh số, lợi nhuận và thị trường 63
2.2.2 Sự đa dạng về sản phẩm dịch vụ 68
2.3 Chất lượng của các sản phẩm dịch vụ 70
2.4 Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương những năm sau cổ phần hoá thông qua các chỉ số tài chính 71
III Đánh giá chung về sự phát triển hoạt động kinh doanh Ngân hàng của VCB sau cổ phần hoá 74
3.1 Thành tựu đạt được 74
3.2 Những hạn chế 75
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ 78
I Tình hình cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước tại Việt Nam 78
II Những thuận lợi và khó khăn của NHTM Nhà nước sau cổ phần hoá 79
2.1 Những thuận lợi 80
2.1.1 Nguồn vốn tự có tăng đảm bảo an toàn hoạt động và phát triển hoạt động kinh doanh 80
2.1.2 Năng lực quản lý điều hành tăng lên góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh 81
2.2 Những khó khăn 83
2.2.1 Cơ chế hoạt động 84
2.2.2 Sự biến động của nguồn lực 85
2.2.3 Áp lực cạnh tranh trên thị trường tài chính ngân hàng 86
III Giải pháp phát triển hoạt động các NHTM Nhà nước Việt Nam sau cổ phần hoá 87
Trang 53.1 Các giải pháp vĩ mô 87
3.2 Các giải pháp vi mô 91
IV Kiến nghị 98
4.1 Kiến nghị với Chính phủ 98
4.2 Kiến nghị với NHNN 99
4.3 Kiến nghị với các ngân hàng thương mại nhà nước đã và sẽ cổ phần hoá 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả huy động vốn của Vietcombank giai đoạn 2003 – 2007 34 Bảng 2.2: Cơ cấu huy động vốn của NH Vietcombank theo nguồn huy động giai đoạn (2004 – 2007) 35 Bảng 2.3: Dƣ nợ tín dụng của Vietcombank giai đoạn 2003 – 2007 37 Bảng 2.4: Hoạt động thanh toán quốc tế của Vietcombank từ năm 2003 –
2007 40 Bảng 2.5: Doanh số mua bán ngoại tệ của Vietcombank từ năm 2003 –
2007 41 Bảng 2.6: Hoạt động kinh doanh thẻ của Vietcombank từ năm 2003 -2007 43 Bảng 2.7: Hệ số CAR của NHNTVN giai đoạn 1996 – 200 51 Bảng 2.8: Tình hình vốn tự có và chỉ số CAR của NHNTVN giai đoạn 2003 –
2007 52 Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu tài chính của Vietcombank từ năm 2003 – 2007 53 Bảng 2.10: Chỉ tiêu NIM qua từ năm 2003 - 2007 54 Bảng 2.11: Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên từ 2003-2007 55 Bảng 2.12: Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Vietcombank
2008, 2009 64 Bảng 2.13: Các chỉ số tài chính của Vietcombank những năm gần đây 72 Bảng 2.14 : Chỉ tiêu NIM của Vietcombank các năm sau cổ phần hóa 73 Bảng 2.15: Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên những năm sau cổ phần hóa 73
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Hoạt động đầu tư của Vietcombank năm 2003 - 2007 38 Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận trước thuế của NHNTVN giai đoạn 2003-2007 53 Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận trước thuế của Vietcombank từ 2003 - 2010 74
Sơ đồ 1: Mô hình NHNTVN và các công ty con 62
Trang 9Khoá luận tốt nghiệp cũng không thể hoàn thành nếu không có sự động viên, khích lệ từ phía nhà trường, bạn bè và đặc biệt là từ phía người thân, gia đình Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Mặc dù bản thân người viết đã hết sức cố gắng, song do thời gian, kinh nghiệm và tài liệu nghiên cứu bị hạn chế nên khoá luận cũng không tránh khỏi những thiếu sót đáng tiếc Nhân đây, tác giả mong muốn được đón nhận những ý kiến góp ý, phản hồi mang tính xây dựng từ phía thầy cô và độc giả
để có thể phát triển và hoàn thiện xuất sắc đề tài nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2010 Đặng Thị Hoa Nữ
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trước yêu cầu tự do hoá tài chính đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, Chính phủ kết hợp với Bộ tài chính và Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương trong đổi mới để nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng thương mại nhà nước vốn còn tồn tại nhiều hạn chế Có thể nói, xét theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới thì
cổ phần hoá dường như là giải pháp tối ưu không những để đáp ứng quy định của WTO khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức mà còn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong đó có các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng Cho đến nay, việc cổ phần hoá Ngân hàng thương mại nhà nước đã có những khởi đầu và đang dần được triển khai theo lộ trình Tuy nhiên, những gì đạt được vẫn được đánh giá là chậm so với kế hoạch, và trên thực tế, quá trình thực hiện vẫn còn nhiều vướng mắc Điều này có thực sự ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả và hướng phát triển hoạt động của các ngân hàng thương mại sau khi cổ phần hoá? Có thể nói đây là vấn đề quan trọng thu hút nhiều sự quan tâm không chỉ của những nhà hoạch định chính sách khi mà NHTM ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế Gần đây, khi Ngân hàng Vietinbank là ngân hàng thương mại nhà nước thứ hai được cổ phần hoá vào tháng 5/2009 thì cổ phần hoá và định hướng phát triển sau cổ phần hoá lại trở thành đề tài được bàn luận sôi nổi trong thời gian qua Qua một quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, thấy được tầm quan trọng của chiến lược phát triển hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng sau cổ phần hoá đối với nền
kinh tế, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Phát triển hoạt động kinh doanh
của các Ngân hàng thương mại nhà nước sau cổ phần hoá – lấy Vietcombank làm điểm nghiên cứu”
Trang 11Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trình bày những lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh và việc phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, phân tích và đánh giá hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam trước và sau cổ phần hoá Từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại nhà nước sau cổ phần hoá, góp phần thúc đẩy sự phát triển của Vietcombank nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển của NHTMCP Vietcombank Đồng thời khoá luận cũng đưa
ra một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước trong tương lai
- Đề tài sử dụng số liệu thống kê từ năm 2003 – 2010
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp duy vật biện
chứng, khoá luận sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp phân tích thống kê
- Phương pháp so sánh
Nội dung nghiên cứu: Kết cấu khoá luận bao gồm 3 phần:
- Phần I : Phần lý luận cơ sở chung
- Phần II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương sau cổ phần hoá
- Phần III: Các giải pháp phát triển hoạt động của NHTMNN sau cổ phần hoá
Trang 12CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
I Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.1 Ngân hàng thương mại và vai trò của nó đối với nền kinh tế quốc dân
1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian với hoạt động
cơ bản nhất là huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính số tiền đó cho các cá nhân, tổ chức vay lại Ở mỗi quốc gia ngân hàng thương mại lại có một định nghĩa riêng
Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính
Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác mà số tiền của họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính
Ở Ấn Độ: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư
Ở Thổ Nhĩ Kỳ: Ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác…
Ở Việt Nam theo Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, sửa đổi bổ sung năm 2004 thì: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Trang 131.1.2 Các chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại
Với sự xuất hiện hình thức ngân hàng sơ khai nhất cách đây hơn 2000 năm, qua thời gian hệ thống ngân hàng trên thế giới được phát triển ngày càng hiện đại hơn Theo đó, chức năng của các ngân hàng thương mại được mở rộng cùng với quá trình hiện đại hoá và phát triển Với những ngân hàng đa năng như ngày nay, có rất nhiều chức năng của ngân hàng có thể liệt kê ra, chẳng hạn như: chức năng bảo hiểm, chức năng uỷ thác, chức năng môi giới, chức năng kế hoạch đầu tư, chức năng ngân hàng đầu tư và bảo lãnh,… Tuy vậy, về cơ bản từ truyền thống đến hiện đại ngân hàng thương mại có các chức năng cơ bản sau:
Chức năng trung gian tín dụng
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
- Đối với người gửi tiền: họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi
- Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều
về sức lực thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại
Chức năng trung gian thanh toán
Trang 14Thực hiện chức năng này, ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỷ của các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi cho họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Việc ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với nền kinh tế Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán,… Tuỳ theo yêu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian lại đảm bảo được an toàn Chức năng trung gian thanh toán vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in
ấn, đếm nhận, bảo quản,…
Chức năng tạo tiền
Chức năng tạo tiền không giới hạn trong hành động in thêm tiền và phát hành tiền mới của Ngân hàng Nhà nước Bản thân các ngân hàng thương mại trong quá trình thực hiện các chức năng của mình vẫn có khả năng tạo ra tiền tín dụng thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch
Từ khoản trích trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo nên số tiền gửi (tức
Trang 15tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số nhân tiền Hệ số này đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được
để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng
để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ, Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do ngân hàng Trung Ương phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo ra
Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng
1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế quốc dân
Trong khi nhiều người tin rằng các ngân hàng chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong nền kinh tế - nhận tiền gửi và cho vay – thì trên thực tế ngân hàng thương mại hiện đại đã phải thực hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội Với rất nhiều chức năng như
đã phân tích ở trên, ngân hàng thương mại thực sự là tổ chức tài chính có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển chung của nền kinh tế
Trang 16Thứ nhất, ngân hàng góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản
xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu
Thứ hai, ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định
giá trị đồng tiền và tỷ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư
và sản xuất kinh doanh;
Thứ ba, ngân hàng đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo thêm nhiều việc
làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và xoá nghèo bền vững Thông qua nguồn vốn tín dụng, các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng tăng thêm, kích thích sự tăng trưởng chung của nền kinh tế
Thứ tư, hệ thống ngân hàng còn góp phần tích cực trong việc bảo vệ
môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự án, quyết định cho vay vốn ngân hàng cho các
dự án và giám sát thực hiện một cách chặt chẽ sau khi cho vay, các tổ chức tín dụng luôn chú trọng yêu cầu các khách hàng đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các cam kết quốc tế và các quy định về bảo vệ môi trường
1.2 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Các hoạt động kinh doanh cơ bản
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm ngân hàng thương mại
ở mỗi quốc gia như đã đề cập ở trên nhưng nhìn chung qua mỗi định nghĩa chúng ta có thể thấy được các hoạt động cơ bản của một ngân hàng thương mại là: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và dịch vụ trung gian Tuỳ theo điều kiện kinh tế và mức độ phát triển của mỗi nước, các hoạt động kinh doanh của NHTM có thể khác nhau về phạm vi và công nghệ, dù vậy các hoạt động kinh doanh của NHTM luôn có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lần nhau
để hình thành hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế
Trang 17 Hoạt động huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn tạo nên nguồn vốn hoạt động cho ngân hàng nên còn gọi là nghiệp vụ tài sản nợ Các hình thức huy động vốn gồm có: huy động từ nguồn vốn nợ gồm việc nhận tiền gửi của các tổ chức và cá nhân với việc đi vay trên thị trường vốn thông qua phát hành các giấy nợ, vay cho các
tổ chức tín dụng hay vay của Ngân hàng Trung ương Huy động vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu thông qua việc góp vốn của các cổ đông Ngoài ra nguồn vốn huy động của ngân hàng có thể có từ một số hoạt động khác như nguồn vốn
uỷ thác…
Tiền gửi
- Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi được khách hàng gửi vào các tổ chức tín dụng để thực hiện các khoản chi trả, thanh toán Đây không phải là khoản tiền mà khách hàng để dành, nên khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thực hiện yêu cầu này
- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi được uỷ thác vào ngân hàng mà
có sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng
Phát hành giấy tờ có giá: Các giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn dưới hình thức nhận nợ hoặc chứng chỉ tiền gửi, trong đó tổ chức tín dụng cam kết trả gốc, trả lãi cho người mua sau một thời gian nhất định Giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng phát hành gồm giấy tờ có giá ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng như: Kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn tín dụng và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác) và giấy tờ có giá dài hạn (thời hạn từ 12 tháng trở lên như: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn, và các giấy tờ có giá dài hạn khác
Tiền vay:
- Vay của ngân hàng Trung ương: Tất cả các NHTM đều được quyền vay tiền tại NHTW trong tình huống thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt vốn NHTW có thể áp dụng mức lãi suất chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao phụ
Trang 18thuộc vào chính sách tiền tệ thắt chặt hay nới lỏng để hạn chế hay kích thích cho vay đầu tư
- Vay trên thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ hỗ trợ tích cực cho hoạt động của ngân hàng, bổ sung kịp thời cho nhu cầu vốn bằng việc điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việc mua bán trái phiếu ngắn hạn Thị trường tiền tệ góp phần sử dụng vốn có hiệu quả các nguồn vốn đã có tại các ngân hàng Thị trường tiền tệ giúp cho NHTM tìm được nguồn vay, đồng thời giúp cho NHTM nào khi dư thanh khoản có được cơ hội sinh lời Ngoài
ra, để đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, các NHTM còn có thể vay từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác
Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn còn gọi là nghiệp vụ tài sản có Nó bao gồm các hoạt động như dự trữ tiền mặt, tiền mặt ký gửi tại NHTW, đầu tư vào chứng khoán, cho vay, đầu tư vào các loại tài sản
Dự trữ tiền mặt:
Đây là hoạt động nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng
Để đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng, NHTM phải duy trì một bộ phận vốn (bằng tiền mặt) để thực hiện nghiệp vụ
dự trữ Mức dự trữ này cao hay thấp tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng
Tiền mặt tại kho của ngân hàng: Các NHTM bao giờ cũng phải giữ một khoản dự trữ tiền mặt nhất định tại kho của mình vào mỗi ngày để đề phòng những chi trả bất ngờ cho khách hàng vào đầu ngày hôm sau Dự trữ tiền mặt tại kho của các ngân hàng ở các nước phát triển hiện nay xấp xỉ mức
1 đến 2% tổng tài sản có
Tiền mặt ký gửi tại NHTW: dự trữ tiền mặt ký gửi tại kho của NHTW bao gồm cả một bộ phận của dự trữ bắt buộc NHTM sử dụng dự trữ bắt buộc vào hai mục đích: Một là một phần của dự trữ bắt buộc theo quy
Trang 19định của NHTW và hai là các ngân hàng phải ký gửi một phần tiền mặt tai NHTW dưới dạng ký gửi không lãi (hoặc ở một vài nước chỉ có lãi rất thấp) nhằm phục vụ cho việc thanh toán bù trừ hoặc chuyển nhượng liên ngân hàng những tờ séc mà nó và các ngân hàng khác phát hành ra
Một số NHTW cho phép các NHTM không nhất thiết phải ký gửi tiền mặt nhiều ở kho của nó, mà có thể ký gửi tại các nơi khác miễn sao khoản ký gửi này phải có tính thanh khoản thật cao không kém gì tiền mặt, nhằm đáp ứng việc chuyển tiền mặt theo nhu cầu vào bất cứ lúc nào Lúc đó ký gửi tiền mặt này (tại các ngân hàng khác) cũng được tính vào như là một phần tiền mặt của dự trữ bắt buộc mà ngân hàng đã thực hiện
Tiền mặt trong quá trình thu: Tiền mặt trong quá trình thu là một thuật ngữ chỉ 2 khoản:
- Tiền mặt đã được các đơn vị vay, các đơn vị có trách nhiệm trả nợ
ký cam kết thanh toán rồi và đang thu về
- Tiền mặt được thu lại do một số tờ séc của ngân hàng phát ra không được chấp nhận hoặc không thanh toán được và phải trả lại cho ngân hàng
Tín dụng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định Hoạt động tín dụng bao gồm các hình thức sau:
Trang 20khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một NHTM không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM
Chiết khâu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác
Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính
Hoạt động đầu tư: Ngân hàng có thể đầu tư vào rất nhiều lĩnh vực như kinh doanh bất động sản, kinh doanh vàng bạc đá quý, kinh doanh chứng khoán… Đầu tư vào chứng khoán là loại hình phổ biến nhất trong tài sản có của các NHTM tại các nước đã phát triển NHTM đầu tư vốn vào hai loại chứng khoán là chứng khoán nhà nước (chủ yếu là trái phiếu kho bạc) và chứng khoán công ty Bản thân chứng khoán rất đa dạng về thể loại Ở nhiều nước, chỉ riêng chứng khoán kho bạc đã có đến 10, 12 loại Tất cả chứng khoán đều là hàng hoá của thị trường tài chính – tiền tệ
Các dịch vụ trung gian
Các dịch vụ trung gian được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: mở tài khoản, thanh toán xuất nhập khẩu, chuyển tiền, thu chi hộ, tham gia phát hành, mua bán chứng khoán có giá cho khách hàng, quản lý hộ tài sản cho khách hàng, cho thuê két sắt, dịch vụ về hối đoái, kinh doanh ngoại tệ,… Đặc trưng của các hoạt động kinh doanh dịch vụ là thu phí Nền kinh tế càng phát triển với công nghệ tiên tiến, hiện đại thì các dịch vụ ngân hàng càng phát triển để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội và dân cư
Trang 21 Dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán bao gồm việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện việc thu hộ, chi hộ
Dịch vụ mở và sử dụng tài khoản: Tài khoản ngân hàng thuộc một trong số các công cụ quan trọng đặc biệt của NHTM Thông qua tài khoản, ngân hàng cung cấp cho khách hàng một loạt các dịch vụ như thu hộ tiền, chuyển tiền,…
Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt: là hoạt động dùng để chỉ các dịch vụ chi trả tiền hàng, dịch vụ và các khoản khác trong nền kinh tế quốc dân được thực hiện bằng cách chuyển khoản trong hệ thống các tổ chức tham gia thanh toán hoặc bù trừ công nợ mà không dùng tiền mặt
- Dịch vụ chuyển khoản thông qua các công cụ thanh toán như séc, lệch chi, thẻ thanh toán trong phạm vi một ngân hàng hay giữa các ngân hàng khác nhau
- Thanh toán mua hàng hoá online hay tại các cửa hàng bằng thẻ
- Thanh toán bù trừ: Các ngân hàng thực hiện việc thanh toán bù trừ các khoản nợ lẫn nhau
Dịch vụ thanh toán quốc tế: Thanh toán xuất nhập khẩu nói riêng cũng như thanh toán nói chung được thực hiện trên cơ sở cam kết giữa các chủ thể thanh toán trong hợp đồng ngoại thương hoặc trong hợp đồng thanh toán NHTM đóng vai trò là trung gian thanh toán Khách hàng có thể sử dụng nhiều phương thức thanh toán khác nhau của ngân hàng như chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ,
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua bán) ngoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ Trong thị trường tài chính ngày nay,
Trang 22mua bán ngoại tệ được thực hiện chủ yếu ở các ngân hàng lớn do mức độ rủi
ro cao và đòi hỏi đội ngũ nhân viên phải có trình độ chuyên môn cao
Ở các nước phát triển, dịch vụ ngân quỹ rất đa dạng và hiện đại như các hoạt động ký gửi, thuê kho két, thu hộ và chi hộ tiền mặt… Đối với các NHTM Việt Nam hoạt động ngân quỹ chiếm một tỷ trọng lớn về lao động và chi phí bởi nhu cầu thanh toán và chuyển tiền thanh toán bằng tiền mặt lớn và không có hạn chế, trong khi đó dịch vụ ngân quỹ lại chưa thực sự phát triển,
sự xâm nhập vào hoạt động kinh tế - xã hội
Sở hữu tài sản dẫn đến nhu cầu về các dịch vụ quản lý tài sản Việc quản lý tài sản cho người khác được thực hiện dưới hình thức và cách sắp xếp khác nhau được gọi là dịch vụ uỷ thác Người sử dụng dịch vụ uỷ thác là người uỷ thác còn người cung cấp các dịch vụ uỷ thác là người phụ thác Việc cung cấp các dịch vụ uỷ thác có thể do nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện, các ngân hàng thương mại với quan hệ rộng khắp nhiều lĩnh vực ngày càng có điều kiện để mở rộng việc thực hiện các dịch vụ uỷ thác Các dịch vụ nêu trên của NHTM có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, tác động lẫn nhau và đan xen suốt trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế Với
ba hoạt động cơ bản của NHTM như đã trình bày ở trên chúng ta có thể có một bức tranh tổng quát về hoạt động kinh doanh của NHTM
1.2.2 Sự khác biệt hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại với các tổ chức kinh tế khác
So với các hoạt động kinh doanh khác thì hoạt động ngân hàng là một loại hình hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế có đối tượng kinh doanh là tiền tệ Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt hoạt động kinh doanh ngân hàng với các hoạt động kinh doanh khác trong nền kinh tế như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, hoạt động kinh doanh dịch vụ đời sống,…
Trang 23Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại lại tương
tự như các doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác ở chỗ thu hút các yếu
tố đầu vào, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, cung ứng cho thị trường và xã hội như: huy động vốn, cho vay vốn, tư vấn, đầu tư chứng khoán,… Xét ở tầm vĩ
mô, đối với cả nền kinh tế, hoạt động ngân hàng được coi là hoạt động dịch
vụ vì không trực tiếp tạo ra của cải vật chất Ở góc độ vi mô, ta thấy rằng trong nền kinh tế thị trường các hoạt động kinh tế nói chung đều hướng tới cái đích cuối cùng là lợi nhuận nên việc phân định rõ ranh giới giữa hoạt động nghiệp vụ và hoạt động dịch vụ là rất khó và không cần thiết
1.3 Các tiêu chí phản ánh sự phát triển hoạt động kinh doanh ngân hàng
1.3.1 Quy mô, số lƣợng dịch vụ kinh doanh
Có rất nhiều tiêu chí để đánh giá sự phát triển hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trong đó quy mô, số lượng dịch vụ kinh doanh
là một tiêu chí quan trọng Xét về bản chất, đây là quá trình đa dạng hoá loại hình sản phẩm dịch vụ và mở rộng thị phần của các ngân hàng Việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ giúp cho NHTM đa dạng hoá cơ cấu thu nhập, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, củng cố thương hiệu và uy tín của ngân hàng trên thị trường, góp phần phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng Các ngân hàng có thể thu hút khách hàng, mở rộng thị phần và tăng thu nhập thông qua sự đa dạng và phong phú về các loại hình dịch vụ cung ứng Các NHTM quốc tế đang thực hiện khoảng trên 6000 nghiệp vụ kinh doanh khác nhau về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng Trong khi đó, các NHTM Việt Nam mới chỉ thực hiện tối đa khoảng 300 nghiệp vụ So với thế giới và khu vực thì số lượng và sự đa dạng của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của Việt Nam còn ít về số lượng và kém đa dạng về loại hình dịch vụ Trên thế giới, có khá nhiều ngân hàng thành công trong việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch
vụ, điển hình có HSBC,
Trang 24- Số lượng các dịch vụ của ngân hàng cho phép ta đo lường được khả năng cung ứng các loại hình kinh doanh của ngân hàng
- Quy mô và tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ của ngân hàng cho thấy được khả năng phát triển đi lên của ngân hàng qua thời gian, đây là kết quả của sự
đa dạng hoá dịch vụ
1.3.2 Chất lƣợng: an toàn, kịp thời và tiện ích
Nếu như quy mô, số lượng các sản phẩm dịch vụ là xét về mặt phát triển số lượng thì tiêu chí chất lượng trong quan điểm của khách hàng như tính an toàn, kịp thời và sự tiện ích cũng vô cùng quan trọng trong đánh giá sự phát triển của ngân hàng
- Tính an toàn: độ bảo mật và tính chính xác của sản phẩm dịch vụ cung ứng
- Tính kịp thời: những thay đổi trong chính sách về sản phẩm, dịch vụ phải phù hợp với tình hình thị trường và khách hàng được cung cấp thông tin
về sự thay đổi một cách nhanh chóng
- Tính tiện ích: các sản phẩm, dịch vụ phải thoả mãn được nhu cầu của khách hàng như: có nhiều công dụng trong cùng một sản phẩm, dịch vụ tiện lợi trong sử dụng,
Ngoài ra tiêu chí chất lượng dựa trên quan điểm của khách hàng còn ở
sự hài lòng đối với thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng, chi phí để sử dụng các loại hình dịch vụ,… Có thể nói, đây là các tiêu chí cốt lõi mang tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh doanh hướng đến sự thoả mãn nhu cầu và
độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ ngân hàng Đây là hướng phát triển theo chiều sâu, cần thiết và bắt buộc các NHTM phải cải tiến, nâng cao chất lượng không chỉ với các dịch vụ truyển thống mà ngay cả với các sản phẩm, dịch vụ mới
Trang 251.3.3 Hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ số tài chính
Ngoài các chỉ tiêu đánh giá hoạt động nói trên thì các chỉ số tài chính là một yếu tố quan trọng phản ảnh hiệu quả hoạt động của một ngân hàng Có nhiều loại chỉ số tài chính khác nhau Dựa vào cách thức sử dụng số liệu để xác định, tỷ số tài chính có thể chia thành ba loại: tỷ số tài chính xác định từ bảng cân đối tài sản, tỷ số tài chính xác định từ báo cáo thu nhập và tỷ số tài chính xác định từ cả hai báo cáo vừa nêu Dựa vào mục tiêu phân tích, các tỷ
số tài chính có thể chia thành: các tỷ số thanh khoản, các tỷ số nợ, tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay, các tỷ số hiệu quả hoạt động, các tỷ số khả năng sinh lợi, và các tỷ số tăng trưởng Tuy nhiên, trên thế giới người ta thường phân tích theo phương pháp đã được tiêu thức hoá là CAMELS
C (capital): Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM thể hiện năng lực tài chính cho quá trình tăng trưởng, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động và cho sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ mới của NHTM Vốn tự có bao gồm hai loại: vốn tự có cơ bản hay là vốn cấp một (bao gồm: vốn điều lệ, quỹ dự trữ, dự phòng, lợi nhuận không chia và các khoản khác) và vốn tự có bổ sung hay là vốn cấp II (bao gồm vốn cổ phần ưu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu chuyển đổi) Trong đó tổng vốn cấp II không được vượt quá 100% vốn cấp I
Vốn tự có là thành phần quan trọng của nguồn vốn ngân hàng nhằm bù đắp những thiệt hại phát sinh và đảm bảo cho ngân hàng tránh khỏi những rủi
ro kinh doanh Đồng thời, vốn tự có lớn sẽ là một cách ghi điểm để nâng cao
uy tín của ngân hàng với khách hàng và các nhà đầu tư Nó thể hiện sức mạnh
và sức cạnh tranh của mỗi NHTM trên thị trường trong nước là cũng là cơ sở
để xác định tính an toàn, độ tin cậy trong hoạt động kinh doanh
Để xác định độ an toàn của vốn tự có hiện nay trên thế giới nhiều ngân hàng sử dụng hệ số an toàn vốn, hệ số CAR (Capital Adequacy Ratio) Theo
Trang 26quy định trong Basel, một tổ chức tài chính được coi là đủ vốn khi hệ số đủ vốn đạt tối thiểu 4% đối với vốn cấp I và 8% đối với vốn cấp II
CAR = [(vốn cấp I + vốn cấp II)/ (tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%
Tỉ lệ này thể được khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành Mỗi loại tài sản được gắn với một trọng số rủi ro nhất định Theo Basel 1, trọng số rủi ro của tài sản được chia thành 4 mức là 0%, 20%, 50%
và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản Việc xếp trọng số bao nhiêu này thuộc mức độ tín nhiệu (xếp hạng tín dụng) của chủ nợ Đến Basel II, nợ được chia thành 5 nhóm có trọng số lần lượt là 0%, 20%, 50%, 100% và 150%
A (Asset quality) – chất lượng tài sản có
Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có quyết định đến sự tồn tại và phất triển của NHTM Tài sản có bao gồm tài sản sinh lời (chiếm từ 80-90% tổng tài sản có) và tài sản không sinh lời (chiếm từ 10-20% tổng tài sản có) Tài sản sinh lời gồm các khoản vay, cho thuê tài chính và các khoản đầu tư vào giấy tờ có giá chứng khoán, góp vốn liên doanh, liên kết Chất lượng tài sản của NHTM là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài chính, năng lực quản lý của một tổ chức tín dụng Hầu hết rủi ro trong kinh doanh tiền tệ đều tập trung ở tài sản có Khi tiến hành phân tích tài sản có, các nhà quản trị ngân hàng thường áp dụng các tiêu chuẩn sau: thời gian quá hạn của các khoản vay, khả năng trả nợ của người vay, tình trạng tài sản thế chấp của người cho vay
Khi tiến hành phân tích quy mô, chất lượng hoạt động tín dụng, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ số tài chính sau:
Chỉ số này giúp so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với khả năng huy động vốn đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động Chỉ
Trang 27số 1 (viết tắt H1) càng lớn, vốn tồn đọng càng ít, đồng thời rủi ro tín dụng càng lớn
Tài sản có sinh lợi chủ yếu của ngân hầng bao gồm hoạt động cho vay,
của một đồng tài sản có và quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng, ước tính khả năng sinh lời của những tài sản khác
hạn trên tổng dư nợ > 7% được xem là ngân hàng yếu kém Nếu chỉ số vay<5%, ngân hàng đó được đánh giá là ngân hàng có nghiệp vụ tín dụng tốt, chất lượng cho vay
M (management ability): Năng lực quản lý
Nhiều nhà phân tích chuyên nghiệp coi quản lý là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống quân tích CAMEL, bởi vì quản lý đóng vai trò quyết định đến thành công trogn hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, các quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những yếu tốt như:
- Khả năng ứng phó với những thay đổi về môi trường xung quanh
- Chất lượng của các chính sách và khả năng kiểm soát việc tuân thủ các chính sách
Trang 28E (Earnings) : Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là kết quả cụ thể nhất của quá trình kinh doanh Mọi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường chỉ có thể tồn tại và đứng vững được bằng cách kinh doanh có lãi
Lợi nhuận thuần:
Lợi nhuận gộp = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận gộp – Thuế thu nhập
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá chất lượng kinh doanh của các NHTM Do đó, các chỉ số tài chính về lợi nhuận luôn là điểm hấp dẫn đối với các nhà phân tích Một số chỉ số sau đây để đánh giá lợi nhuận của NHTM
Chỉ tiêu
ROA phản ánh thu nhập trên tổng tài sản của ngân hàng, được dùng để
đo lường khả năng sinh lời của tài sản Chỉ tiêu ROA thể hiện khả năng sử dụng linh hoạt các khoản mục của tích sản (tổng tài sản), tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tích sản càng cao Hệ số ROA cầng cao chứng tỏ:
+ Kết quả của các hoạt động hữu hiệu
+ Tỷ trọng thấp giữa tiền gửi không kỳ han và có kỳ hạn so với tổng ký thác
+ Kết quả của các lợi tức cao kiếm được từ tích sản
Tuy nhiên, tỷ lệ này càng cao cũng thể hiện mức độ rủi ro càng cao mang lại từ tích sản mặc dù nó nói lên sự quản lý các tài sản tốt
Chỉ tiêu này đo lường tính lành mạnh trong hoạt động của một ngân hàng Hệ số ROE phản ánh lợi nhuận kiếm được từ đơn vị vốn đầu tư Vốn của một NHTM có phần hình thành từ vốn cổ phần hoàn toàn hoặc gồm một
Trang 29phần từ cổ phần và một phần từ các tín phiếu và giấy nợ Hệ số ROE quy định giá trị chứng khoán, nó cho chúng ta biết khả năng sử dụng vốn cổ phần của ngân hàng, nên có ý nghĩa quan trọng nhất đối với các cổ đông của ngân hàng
Nhược điểm của hệ số ROE Đối với một ngân hàng cụ thể, lợi nhuận trên toàn bộ các tích sản có tương đối thấp, tuy nhiên mức lợi nhuận trên vốn
cổ phần có thể rất cao Trong trường hợp này, vốn cổ phần của ngân hàng sẽ nhỏ hơn so với tích sản của nó, tức là ngân hàng sẽ bị mất nhiều khả năng độc lập nên có thể đang có rủi ro về ký thác, mặc dù mức lợi nhuận vốn cổ phần cao tạo ra hình ảnh ngân hàng đang hoạt động có vẻ tốt Chính sự sắp xếtp tài chính trên cho thấy sự thiếu sót của chỉ tiêu ROE khi dùng để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng bằng lợi tức trên vốn cổ phần
ROE > ROA chứng tỏ vốn huy động quá lơn so với vốn tự có của ngân hàng
Chỉ tiêu NIM: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên:
Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên :
Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên là các thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lợi Chúng chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng trưởng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền
Trang 30tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất Trái lại, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa bảo hành thiết bị và chi phí tổn thất tín dụng)
L (Liquidity) : Khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản của một ngân hàng có thể xem xét theo nhiều góc độ khác nhau Theo nghĩa hẹp, khả năng thanh khoản bao gồm các khoản tiền mặt để sẵn sàng đáp ứng cho những nhu cầu rút tiền bất ngờ của dân cư Khả năng thanh khoản Khả năng thanh khoản còn chỉ ra những khái niệm rộng hơn Vào một lúc bất kỳ nào đó, giả sử ngân hàng có một khách hàng khách hàng tốt và an toàn đến xin vay Nếu ngân hàng không thể cho vay được vì dự trữ còn quá ít, người ta gọi đây là tình trạng "kẹt thanh khoản" Ngược lại, trường hợp ngân hàng có đủ điều kiện để đáp ứng ngay yêu cầu xin vay này, gọi là "đủ thanh khoản" Nhưng vậy thanh khoản là tình trạng tiền mặc sẵn sàng để chi trả hay gia tăng tài sản đó
Rất khó có thể xây dựng một thước đó duy nhất để định lượng hay bao quát tất cả các yếu tố về thanh khoản, mức độ đủ vốn, chất lượng tài sản có và lợi nhuận, do đó nhiều khác biệt về quy mô, hoạt động giữa các ngân hàng khác nhau, cũng như do ảnh hưởng của điều kiện thị trường khu vực, quốc gia
và quốc tế Không có một tỷ lệ nào thực sự bao hàm được các khía cạnh khác nhau của yếu tố thanh khoản đối với tất cả các ngân hàng với quy mô và loại hình khác nhau
Để có thể đánh giá mức độ thanh khoản dựa trên khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động của mình Những yếu
tố cần xem xét bao gồm: Mức độ biến động của tiền gửi, mức độ phụ thuộc
Trang 31vào nguồn vốn nhạy cảm với rủi ro, khả năng sẵn có của những tài sản có thể chuyển đổi nhanh chóng thanh tiền mặt, khả năng tiếp cận đến thị trường tiền
tệ, mức độ hiệu quả nói chung của chiến lược, chính sách quản lý tài sản nợ
và tài sản có của ngân hàng, tuân thủ với các chính sách thanh khoản nội bộ ngân hàng, nội dung, quy mô và khả năng sử dụng dự kiến của các cam kết cấp tín dụng
S (Sensitivity to market risk): Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường
Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường được thể hiện bằng chữa cái S trong hệ số CAMELS Phân tích S nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của thay đổi về lãi suất hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay cổ phiếu Phân tích S chú ý đến khả năng của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa ra dấu hiệu chỉ dẫn định hướng rõ ràng và tập trung
Tóm lại, hệ thống phân tích CAMELS được áp dụng nhằm đánh giá độ
an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng An toàn được hiểu
là khả năng của ngân hàng bù đắp được mọi chi phí và thực hiện được các nghĩa vụ của mình Tiêu chí an toàn được đánh giá thông qua đánh giá mức
độ đủ vốn, chất lượng tín dụng (tài sản có) và chất lượng quản lý Khả năng sinh lời là việc ngân hàng có thể đạt được một tỷ lệ thu nhập từ số tiền chủ sỡ hữu đầu tư hay không Thanh khoản là khả năng dáp ứng được mọi nhu cầu theo kế hoạch hoặc bất thường về vốn
II Cổ phần hoá và tác động của cổ phần hoá đến hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại nhà nước
2.1 Cổ phần hoá ngân hàng thương mại Nhà nước
2.1.1 Khái niệm cổ phần hoá
Trang 32Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là quá trình chuyển hình thức sở hữu nhà nước thành hình thức đa sở hữu thông qua việc chuyển một phần tài
Cổ phần hoá ngân hàng thương mại Nhà nước là quá trình chuyển hoá
cơ cấu sở hữu tài sản và quyền chủ động điều hành hoạt động từ đơn sở hữu
là Nhà nước sang đa sở hữu Trong quá trình đó, Nhà nước chuyển cấu trúc của NHTM Nhà nước trước khi cổ phần hoá vào một cấu trúc Ngân hàng mới với mục tiêu cần đạt được là quy mô vốn lớn hơn, công nghệ hiện đại hơn, phương pháp quản trị kinh doanh văn minh hơn, chất lượng sản phẩm được
dự báo cao hơn, sức cạnh tranh hơn, lợi nhuận ròng hằng năm lớn hơn,… Như vậy, đây chính là quá trình dịch chuyển các nhân tố cũ, đồng thời tạo sức hút các nhân tố mới trở thành một cấu trúc Ngân hàng mới để cùng khai thác các tiềm năng của thị trường hiệu quả hơn
2.1.2 Đặc điểm của cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước
Mặc dù cũng là một doanh nghiệp Nhà nước song về bản chất NHTM Nhà nước là một doanh nghiệp Nhà nước đặc biệt nên việc cổ phần hoá NHTM Nhà nước không thể hoàn toàn giống với cổ phần hoà DNNN, việc phân biệt sự khác nhau này có vai trò quan trọng đối với việc đề ra các giải pháp phù hợp với cổ phần hoá NHTM Nhà nước
Trước hết, sự khác nhau là vì giá trị tài sản của Ngân hàng rất lớn so với giá trị doanh nghiệp, lại mang tính chất riêng biệt nên việc đánh giá tài sản của Ngân hàng khi cổ phần hoá thường phức tạp, khó khăn hơn đánh giá tài sản của doanh nghiệp
Thứ nhất, phần lớn tài sản của ngân hàng là các khoản tín dụng cho vay Các tài sản này không giống tài sản thông thường của doanh nghiệp vì nó phụ thuộc rất lớn vào mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản, mức sinh lời dự tính Để xác định được giá trị của chúng phải căn cứ vào các nhân tố đó
1
http://www.saga.vn/dictview.aspx?id=12108
Trang 33Thứ hai, về phần tài sản bất động sản của ngân hàng, các NHTMNN đều có rất nhiều chi nhánh, trụ sở phân bố nhiều nơi trong cả nước Thêm vào
đó là các tài sản Ngân hàng thu được từ cầm cố, xiết nợ So với doanh nghiệp, khối lượng tài sản bất động sản của Ngân hàng lớn hơn rất nhiều vì vậy việc đánh giá giá trị loại tài sản này của Ngân hàng chắc chắn sẽ không đơn giản hơn trong doanh nghiệp
Thứ ba, về giá trị thương hiệu, tiềm năng phát triển, các NHTMNN đều
ra đời, tồn tại và phát triển từ khá lâu, có uy tín lớn, hoạt động có hiệu quả với lượng khách hàng lớn là giá trị vô hình “khổng lồ” của các Ngân hàng
Sự khác nhau thứ hai, là hoạt động Ngân hàng là hoạt động nhạy cảm
và có mối liên hệ mật thiết đối với nền kinh tế Bản thân các Ngân hàng cũng
có sự phụ thuộc lớn lẫn nhau chứ không tách riêng như đối với các DNNN Chỉ cần sự biến động trong một Ngân hàng cũng có thể dẫn đến sự xáo trộn trong hoạt động của cả hệ thống và của nền kinh tế
2.2 Tác động của cổ phần hoá đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Cổ phần hoá sẽ mang lại nhiều sự thay đổi tích cực cho NHTMNN trên nhiều phương diện góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh và sức cạnh tranh trên thị trường Cụ thể, những tác động đưa ra từ việc cổ phần hoá các NHTMNN như sau:
2.2.1 Tạo ra hệ thống quản trị năng động và hiệu quả
Cơ chế quản trị, điều hành của các NHTMNN hiện nay phải theo mô hình của các DNNN Vì thế, phương thức quản lý còn nhiều bất cập, thu nhập của người lao động chưa gắng với hiệu quả lao động, chế độ khen thưởng, động viên, khuyến khích sáng tạo lao động còn nhiều hạn chế do các quy định ràng buộc của Nhà nước Lợi ích và trách nhiệm của các bên liên quan Nhà nước – Ngân hàng – Người lao động chưa được phân định rõ ràng, chưa tạo dựng được mối liên hệ để cùng nhau phát triển Cổ phần hoá các NHTMNN, theo đó
mô hình và vai trò của hội đồng quản trị, người đại diện cho các cổ đông sẽ không chỉ là Nhà nước, sẽ giúp ngân hàng có cơ chế quản lý năng động và linh
Trang 34hoạt hơn Ngân hàng thương mại cổ phần sẽ loại bỏ được sự thiếu minh bạch trong các mục tiêu và chiến lược mà ngân hàng theo đuổi, buộc lãnh đạo ngân hàng phải làm việc vì lợi ích của cổ đông và vì thế buộc họ phải nỗ lực hết mình nếu không muốn bị các cổ đông phế truất địa vị lãnh đạo
2.2.2 Tăng năng lực tài chính cho các Ngân hàng thương mại
Hiện nay, vốn tự có của các NHTMVN còn quá nhỏ so với các NHTM tại các nước trong khu vực Đây là một bất lợi về năng lực tài chính khi mà các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động bình đẳng tại Việt Nam Xét riêng về NHTMNN thì nguồn vốn cơ bản để tăng vốn
tự có cho NHTMNN là ngân sách Nhà nước nhưng trong bối cảnh hiện nay, khi ngân hàng nhà nước phải phân bổ cho nhiều mục tiêu quan trọng thì việc tăng vốn cho NHTMNN là không hề đơn giản Do vậy, việc cổ phần hoá sẽ nâng cao vốn tự có của các NHTMNN lên một cách đáng kể, giảm bớt áp lực
đè nặng lên ngân sách nhà nước đồng thời đây cũng là giải pháp tăng năng lực tài chính nhằm đạt đến chuẩn mực quốc tế về chỉ tiêu an toàn vốn (CAR –
2.2.3 Cổ phần hoá sẽ tạo áp lực bắt buộc Ngân hàng thương mại Nhà nước phải nâng cao khả năng sinh lời (ROA, ROE)
NHTMNN sau CPH phải nỗ lực tìm kiếm khách hàng, tăng lợi nhuận bởi như thế mới có thể thu hút được các nhà đầu tư cổ phiếu Khả năng sinh lời không phải là chỉ tiêu duy nhất và quan trọng nhất nhưng nó thể hiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Do vậy, các ngân hàng thương mại buộc phải tăng các tỷ suất sinh lời thông qua việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, nâng cao trình độ của đội ngũ nhân viên cùng với việc đẩy mạnh hiện đại hoá công nghệ ngân hàng Như vậy, cồ phần hoá vô hình trung tạo nên những áp lực tích cực giúp NHTMNN hoạt động hiểu quả hơn thông qua việc cải thiện các chỉ số tài chính
2
CAR={vốn cấp I + Vốn cấp II)/Tài sản đã điều chỉnh rủi ro}*100%
Trang 35III Bài học kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hoá các NHTMNN của Trung Quốc
3.1 Tiến trình cổ phần hoá các NHTMNN Trung Quốc
Sau gần 20 năm thực hiện cải cách các DNNN, vào cuối những năm 90, Đảng cộng sản và Chính phủ Trung Quốc đã quyết định thực hiện cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc mà trọng tâm là cải cách các NHTMNN Tháng 11/2003 chính phủ Trung Quốc đã quyết định tiến hành cổ phần hoá thí điểm hai ngân hàng: Ngân hàng xây dựng Trung Quốc và Ngân hàng Ngoại Thương Trung Quốc
Việc cổ phần hoá của NHTM Trung Quốc là một cải cách lớn trong hệ thống tài chính, tạo cho hoạt động kinh doanh tiền tệ lành mạnh, hướng mục tiêu kinh doanh là lợi nhuận và tăng khả năng cung cấp dịch vụ, với lộ trình
cổ phần hoá cụ thể là:
- Năm 2004 hoàn thành cổ phần hoá hai Ngân hàng lớn nhất Trung Quốc: Ngân hàng Trung Quốc (Bank of China) và ngân hàng kiến thiết
- Năm 2005 sẽ đưa cổ phiếu 2 Ngân hàng trên vào TTCK
- Năm 2006 phát hành cổ phiếu Ngân hàng Công thương
- Năm 2007 phát hành cổ phiếu Ngân hàng Nông nghiệp
Lộ trình này đã được Ngân hàng Nhân dân (NHND) Trung Quốc quyết tâm thực hiện và đã hoàn thành đúng tiến độ Để đạt được cải cách triệt để, chính phủ Trung Quốc đã có những biện pháp cụ thể:
- Thành lập Uỷ ban quản lý (UBQL) Ngân hàng độc lập với NHND Trung Quốc ngày 28/04/2003, thành lập UBQL Bảo hiểm, UBQL chứng khoán Các cơ quan này do Quốc vụ viện phụ trách và báo cáo trực tiếp lên quốc vụ viện
- Thực hiện nâng cao năng lực tài chính, quản trị Ngân hàng tại các NHTM Làm sạch các khoản nợ xấu, xử lý các khoản nợ khó đòi, áp dụng chuẩn mực giám sát Ngân hàng quốc tế Basel 2, cấp thêm vốn, chuyển nợ xấu
Trang 36cho Công ty mua bán giám sát nợ quản lý, chính sách khoanh nợ xấu, đề nghị
Bộ tài chính miễn thuế cho trích nợ dự phòng các khoản nợ khó đòi, cho phép chuyển dự phòng vào vốn, cho ân hạn 5 năm đối với khoản nợ khó đòi
- Thành lập thị trường vốn ngắn hạn tại Bắc Kinh năm 1996 để tạo tiền
đề cho quá trình tự do hoá lãi suất, đưa lại khả năng sinh lời thực sự và tăng cáo cho các ngân hàng
- Tách biệt các nghiệp vụ thuộc lĩnh vực chính sách và hoạt động kinh doanh ngân hàng tạo ra sự tự chủ trong kinh doanh, nâng cao chất lượng sử dụng vốn
- Mở rộng chính sách cho các Ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Trung Quốc Động thái tích cực này cộng với chính sách tỷ giá thấp đã tạo sức cạnh tranh toàn cầu cho các ngân hàng Trung Quốc
- Cải tổ triệt để nội bộ ngân hàng, chia làm hai phần Cải tổ cán bộ nhân viên (lấy chất lượng làm hàng đầu, bổ sung kiến thức mới, thuyên chuyển, nghỉ việc, ) và cải tổ về nghiệp vụ kinh doanh (hướng dịch vụ, mục tiêu lợi nhuận, )
Nội dung cơ bản của quá trình cổ phần hoá:
Chính phủ Trung Quốc và bản thân hai NHTMNN được chọn thí điểm để tiến hành cổ phần hoá đã có những bước chuẩn bị kỹ lưỡng, xây dựng một lộ trình cụ thể từ việc thành lập các cơ quan quản lý, giám sát và đầu tư của Nhà nước đến việc thay đổi mô hình tổ chức, tư cách pháp lý và xử lý các tồn đọng, yếu kém về tài sản và tài sản chính của hai ngân hàng thí điểm, trước khi tiến hành phát hành cổ phiếu phổ thông
Về mặt quản lý nhà nước: thành lập UBQL Ngân hàng độc lập với NHND
Trung Quốc và ban hành văn bản hướng dẫn hai ngân hàng thực hiện chương trình cải cách tiến tới cổ phần hoá Đối với việc CPH hai ngân hàng thí điểm
là Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (CCB) và Ngân hàng Ngoại Thương Trung Quốc (BOC), UBQL đã ban hành hướng dẫn về cải cách quản trị điều
Trang 37hành và kiểm soát của CCB và BOC Theo hướng dẫn này, các mục tiêu được đặt ra hết sức cụ thể:
- Mục tiêu chung: Trong vòng 3 năm (2004 – 2006), CCB và BOC trở
thành các tập đoàn tài chính có sức cạnh tranh trên thị trường tài chính quốc
tế, đủ vốn tự có theo tiêu chuẩn quốc tế, có hệ thống kiểm tra nội bộ chặt chẽ, hoạt động kinh doanh an toàn, lành mạnh, hiệu quả, nằm trong danh sách 100 tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới trên cả hai phương diện: năng lực quản trị điều hành và năng lực tài chính theo tiêu chuẩn quốc tế
- Các mục tiêu cụ thể về năng lực quản trị điều hành (cơ cấu tổ chức là ngân hàng cổ phần, hoạt động theo Luật công ty, có Đại hội đồng cổ đông, )
về năng lực tài chính (thông qua các chỉ tiêu ROA, ROE, vốn tự có, dư nợ tối
đa với một khách hàng )
Quá trình triển khai thực hiện:
- UBQL Ngân hàng: cơ quan này kiểm tra thực hiện cải cách về năng lực quản trị điều hành cũng như các chỉ tiêu tài chính của ngân hàng UBQL Ngân hàng có trách nhiệm báo cáo theo định kỳ quý và năm lên Ban chỉ đạo thí điểm cổ phần hoá NHTMNN (trực thuộc Hội đồng nhà nước)
- CCB và BOC: Chủ tịch Hội đồng quản trị của hai ngân hàng chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện tiến trình cổ phần hoá
Thành lập Central Hujiin Investments (Công ty đầu tư tài chính Nhà nước): cuối năm 2003, Chính phủ Trung Quốc đã cấp 372,8 tỷ RMB (tương đương với 45 tỷ USD) cho CCB và BOC để tăng vốn Khối lượng vốn này được cấp thông qua Công ty đầu tư Tài chính Huijin Công ty này sẽ đại diện cho phần vốn tại hai ngân hàng Tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước đối với CCB và BOC sẽ được thực hiện thông qua việc đầu tư thêm vốn hoặc bán bớt cổ phần của Huijin tại hai ngân hàng này Đến nay, Huijin là cổ đông duy nhất của BOC
và chiếm 95.88% cổ phần của CCB
Trang 38Chuyển đổi NHTMNN thành ngân hàng cổ phần hạn chế hoặc ngân hàng hoạt động dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn Trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng, CCB và BOC đã chuyển đổi từ các NHTMNN sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc ngân hàng cổ phần hạn chế Cụ thể:
BOC chuyển thành ngân hàng hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với việc Huijin ban đầu sở hữu 100% vốn CCB chuyển thành ngân hàng cổ phần (hạn chế) Điều đáng lưu ý là trừ Huijin chiếm tổng cộng 95.88% vốn chủ sở hữu của CCB, 4.12% còn lại do các doanh nghiệp lớn trong ngành thép và điện lực nắm giữ Đây có thể coi là bước đầu của việc lựa chọn các cổ đông chiến lược của CCB
Có thể nói đây là bước đi rất khôn khéo của các NHTMNN Trung Quốc trong tiến trình cổ phần hoá Việc chuyển đổi đã giúp cho 2 ngân hàng này hình thành một bộ máy mới với Hội đồng quản trị mới và bước đầu có cơ chế hoạt động mới mang tính độc lập hơn, bớt bị ảnh hưởng bởi các rào cản của
cơ chế quản lý của các bộ, ngành
Cơ cấu lại tài sản và nâng cao năng lực tài chính
CCB và BOC thực hiện đồng thời cả hai giải pháp: tăng vốn tự có bằng nguồn Nhà nước cấp và phát hành trái phiếu, và chuyển nợ xấu sang cho Công ty Quản lý Tài sản
Tăng vốn: Trung Quốc đã thể hiện rõ quan điểm cần thiết phải có giải pháp
nâng cao năng lực tài chính cho các NHTMNN trước khi phát hành cổ phiếu Dưới đây là 2 giải pháp cơ bản để tăng vốn cho 2 NHTMNN được chọn thí điểm cổ phần hoá
Nhà nước cấp bổ sung vốn: Cuối năm 2003, Chính phủ Trung Quốc đã dùng Quỹ dự trữ ngoại tệ cấp cho hai ngân hàng CCB và BOC tổng cộng 45
tỷ USD để có nguồn xử lý nợ xấu và tăng vốn nhằm nâng cao năng lực tài chính
Trang 39Phát hành trái phiếu thứ cấp: Với mục tiêu đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% theo tiêu chuẩn quốc tế trước khi tiến hành phát hành cổ phiếu ra công chúng
và niêm yết trên thị trường chứng khoán, CCB và BOC đã có kế hoạch phát hành trái phiếu dưới hình thức nợ thứ cấp để tăng vốn tự có
Xử lý nợ xấu: Ngoài việc hỗ trợ vốn để các NHTMNN có điều kiện trích lập
dự phòng rủi ro, Chính phủ Trung Quốc đã thành lập các Công ty Quản lý tài sản (AMC) để mua lại nợ xấu của các NHTMNN Đến tháng 6/2004, CCB và BOC đã chuyển sang cho Công ty Quản lý tài sản Cinda khoảng 2778.7 tỷ RMB (tương đương với 33.58 tỷ USD) tức vào khoảng 75% số nợ xấu của hai ngân hàng này
Niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán: Hai ngân hàng CCB và BOC đều có kế hoạch sẽ niêm yết trên thị trường chứng khoán Trung Quốc khoảng
1 năm sau khi phát hành và cũng có chủ trương sẽ niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế
Thuê nước ngoài tư vấn phát hành cổ phiếu: CCB đã lựa chọn các công ty China International Capital Corp, Citigroup Inc và Morgan Stanley là các ngân hàng tư vấn và bảo lãnh phát hành, trị giá phát hành dự kiến khoảng 5 tỷ USD Chi phí cho đợt phát hành vào khoảng 175 triệu USD, khoảng 3.5% trị giá phát hành Cổ phiếu sau khi đã dành bán cho các cổ đông chiến lược và bán nội bộ sẽ được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư dưới hình thức đấu giá công khai
3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình CPH các NHTMNN Trung Quốc
bước và được triển khai trong thời gian khoảng 24 – 36 tháng Trước khi cổ phần hoá, các ngân hàng đều thực hiện các bước cải cách nhằm cải thiện một bước năng lực tài chính và năng lực quản trị điều hành
Trang 402 Đảng cộng sản, Chính phủ Trung Quốc đã thể hiện chủ trương rất rõ ràng, thống nhất và kiên quyết Trên cơ sở đó, Chính phủ và Ngân hàng Trung Ương Trung Quốc đã tạo ra một khuôn khổ thể chế tương đối rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển các NHTMNN sang NHTM cổ phần Cụ thể là thành lập Công ty đầu tư Tài chính Nhà nước (Central Huijin Investment Ltd), thành lập CBRC và ban hành quy chế hướng dẫn các NHTMNN tiến hành cải cách và cổ phần hoá, thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hoá NHTMNN trực thuộc Hội đồng Nhà nước
3 Chương trình cổ phần hoá các NHTMNN Trung Quốc thể hiện rõ tính hội nhập cao qua việc xác định mục tiêu rất lớn và rất rõ ràng, lựa chọn đối tác chiến lược là các tập đoàn tài chính quốc tế, có kế hoạch niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế, thuê các tập đoàn tài chính quốc tế có uy tín làm tư vấn phát hành cổ phiếu và niêm yết
Xét chung lại, về mặt văn hoá, chính trị, xã hội Việt Nam và Trung Quốc
có nhiều điểm tương đồng Hệ thống ngân hàng của hai nước cũng có nhiều điểm giống nhau về kết cấu của 4 NHTMNN bao gồm: Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Ngoại Thương So với Trung Quốc, trong chừng mực nhất định, Việt Nam đã có bước chuẩn bị khá tương đồng với Trung Quốc (tiến hành tái cơ cấu từ năm
2000 và đã thu được những kết quả ban đầu đáng khích lệ, NHNN soạn thảo quy chế để triển khai thí điểm phân loại nợ theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao tính minh bạch của các NHTMNN)
Đối với Việt Nam, Nhà nước quyết định tiến hành thí điểm cổ phần hoá
ngân hàng thương mại Vietcombank vào cuối năm 2007, sau đó là ngân hàng Công Thương Vietinbank năm 2009 và hiện nay kế hoạch cổ phần hoá ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đang được xem xét Qua hơn 2 năm hoạt động sau cổ phần hoá, thực trạng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam tính đến thời điểm này sẽ là những kinh