Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN HOÀNG HUẾ
TIẾN TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 - 2010)
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận án
Nguyễn Hoàng Huế
Trang 3MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu 11
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp của luận án 13
7 Bố cục của luận án 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ CỦA HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY 15
1.1 Một số cơ sở lý thuyết về quan hệ kinh tế quốc tế 15
1.1.1 Khái niệm về hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực 15
1.1.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh 16
1.1.3 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia 16
1.1.4 Thuyết tự do thương mại 17
1.1.5 Thuyết bảo hộ mậu dịch 17
1.1.6 Khái niệm “hành lang kinh tế” 18
1.2 Khái niệm “Hành lang kinh tế Đông Tây” 19
1.3 Bối cảnh quốc tế và khu vực 20
1.4 Khái quát hợp tác kinh tế giữa Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam trước năm 1998 28
1.5 Sáng kiến của Ngân hàng Phát triển châu Á và Nhật Bản 32
Trang 41.5.1 Vai trò của Ngân hàng Phát triển châu Á 32
1.5.2 Vai trò của Nhật Bản 33
1.6 Đặc điểm của Hành lang kinh tế Đông Tây 35
CHƯƠNG 2 SỰ TIẾN TRIỂN CỦA CÁC LĨNH VỰC HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 - 2010) 42
2.1 Nguyên tắc hợp tác và cơ chế hoạt động của Hành lang kinh tế Đông Tây 42
2.2 Hợp tác đầu tư giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây 47
2.2.1 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 47
2.2.2 Đầu tư xây dựng các khu kinh tế 51
2.2.3 Thu hút đầu tư của các nước và các địa phương thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây 53
2.3 Hợp tác thương mại 59
2.4 Hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải và du lịch 64
2.4.1 Hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải 64
2.4.2 Hợp tác trong lĩnh vực du lịch 70
2.5 Hợp tác trong các lĩnh vực khác 82
2.5.1 Hợp tác nông và công nghiệp 82
2.5.2 Hợp tác năng lượng 84
2.5.3 Hợp tác xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn 87
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ TIẾN TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY (1998 -2010) 90
3.1 Tác động của tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây 90
3.1.1 Tác động đối với các nước thành viên 90
3.1.1.1 Tác động đối với Myanmar 93
3.1.1.2 Tác động đối với Thái Lan 94
3.1.1.3 Tác động đối với Lào 97
3.1.1.4 Tác động đối với Việt Nam 100
3.1.2 Tác động đối với hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng 105
Trang 53.1.3 Tác động đối với hợp tác ASEAN 107
3.2 Những thành tựu và hạn chế 112
3.2.1 Thành tựu 112
3.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 116
3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây 127
3.4 Các gợi mở chính sách tham gia của Việt Nam trong hợp tác kinh tế Hành lang kinh tế Đông Tây 133
3.4.1 Đóng góp của Việt Nam trong tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) 133
3.4.2 Các gợi mở chính sách cho Việt Nam 135
3.5 Triển vọng của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây 145
KẾT LUẬN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 155 PHỤ LỤC
Trang 6Chiến lược hợp tác kinh tế Ayayewady - Chao Phraya - Mekong
2 ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
4 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
5 APEC Asia - Pacific Economic
Ủy ban hợp tác kinh tế và công nghiệp ASEAN
8 CBTA Cross Border Transport
Agreement Hiệp định vận tải qua biên giới
9 EWEC East West Economic
Corridor Hành lang kinh tế Đông Tây
11 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
12 GMS Greater Mekong Subregion Tiểu vùng Mekong mở rộng
13 GMS BF Greater Mekong Subregion
Business Forum
Diễn đàn doanh nghiệp Tiểu vùng Mekong mở rộng
14 GMS-CBTA
Greater Mekong Subregion
- Cross Border Transport Agreement
Hiệp định vận tải qua biên giới của các nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng
15 GSP Generalized System of
Preferences Hệ thống ưu đãi phổ cập
16 IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Trang 717 JBIC Japan Bank for
International Cooperation
Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản
18 JETRO Japan External Trade
Organization Tổ chức ngoại thương Nhật Bản
19 JICA Japan International
Cooperation Agency
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
23 NSEC North - South Economic
Corridor Hành lang kinh tế Bắc - Nam
24 ODA Official Development
Assistance Viện trợ phát triển chính thức
25 RFID Radio Frequency
Hội nghị cấp cao EWEC
32 UNESCO
United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc
34 WTC World Trade Center Trung tâm thương mại quốc tế
35 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tỉ trọng thương mại của các nước EWEC với Nhật Bản 35
Bảng 1.2: Thông tin về các tỉnh, thành phố thuộc EWEC 36
Bảng 2.1: Các chỉ số vĩ mô và xã hội của các nước EWEC, giai đoạn 2000 - 2005 48
Bảng 2.2: Nguồn vốn phân bổ cho các lĩnh vực hợp tác ưu tiên của GMS (1992 - 2007) 51
Bảng 2.3: Kết quả thu hút đầu tư vào KKTTMĐBLB qua các năm: 2000 - 2010 52
Bảng 2.4: Xuất khẩu qua biên giới trên EWEC (2002-2008) 60
Bảng 2.5: Tốc độ tăng trưởng xuất, nhập khẩu (%/năm) của các nước thành viên EWEC 63
Bảng 2.6: Hành lang kinh tế Đông Tây tại các nước trên tuyến 67
Bảng 2.7: Tổng số người xuất nhập cảnh qua cửa khẩu Lao Bảo (2001 - 2010) 67
Bảng 2.8: Lượng khách du lịch quốc tế vào các nước EWEC 80
Bảng 2.9: Nguồn vốn vay cho lĩnh vực năng lượng của các nước EWEC 85
Bảng 3.1: Tỷ lệ % của các ngành CN-XD và dịch vụ trong GDP của Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Quảng Trị 102
Bảng 3.2: So sánh thủ tục hải quan hiện nay của các quốc gia EWEC và Singapore 118
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Hành lang kinh tế Đông Tây 19
Hình 1.2: Vị trí của Hành lang kinh tế Đông Tây 39
Hình 2.1: Các nhà tài trợ nguồn tài chính cho xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông của EWEC 49
Hình 2.2: Các dự án giao thông vận tải trên EWEC 65
Hình 2.3: Thành phố Khon Kaen và các thị trấn lân cận trên EWEC 83
Hình 3.1: Tốc độ tăng GDP/ng của các tỉnh phía Việt Nam và Việt Nam 101
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI toàn cầu hoá, khu vực hóa tiếp tục pháttriển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước Các quốc gia lớn nhỏ đang tham giangày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế Hoà bình, hợp tác và phát triểnvẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trìnhphát triển
Trong xu thế phát triển chung của nhân loại, song song với quá toàn cầu hoá,cạnh tranh mang tính quốc tế vẫn tiếp tục gia tăng không kém phần gay gắt Đáp lạithực tế mang nhiều thách thức đó, nhiều nước đang phát triển đã nhận thức rằng phảihợp tác với các nước láng giềng của mình để đảm bảo cho các nguồn lực: tự nhiên,con người, cũng như tiền vốn được sử dụng một cách hiệu quả Mặt khác, hoạt độngmậu dịch, đầu tư cùng nhiều loại hình kinh doanh có xu hướng vượt ra ngoài biêngiới quốc gia ngày càng mạnh, đòi hỏi các chính phủ phải tiến hành hợp tác khu vực
và hợp tác tiểu vùng để tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh
Trong hoàn cảnh đó, Ngân hàng phát triển Châu Á đã đề xuất sáng kiến Hợptác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) vào năm 1992 Các nước thành viêncủa Hợp tác GMS bao gồm 5 nước (Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, ViệtNam), và hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, Trung quốc Hợp tác GMS bao gồm 10lĩnh vực là: (1) Giao thông tận tải; (2) Năng lượng; (3) Môi trường; (4) Du lịch; (5)Bưu chính Viễn thông; (6) Thương mại; (7) Đầu tư; (8) Phát triển Nguồn nhân lực;(9) Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và (10) Quản lý nguồn nước [73, tr1]
Tại Hội nghị lần thứ 8 các Bộ trưởng GMS, tổ chức tại Manila (Philippines)tháng 10/1998, có 5 dự án hành lang được đưa ra thảo luận, trong đó hội nghị đãthống nhất ưu tiên thực hiện Hành lang kinh tế Đông tây (EWEC) Hành lang kinh tếĐông Tây là chương trình hợp tác phát triển tổng thể nhằm mục tiêu phát triển liênvùng nghèo bao gồm lãnh thổ lớn kéo dài từ miền Trung Việt Nam lên Trung HạLào, Đông Bắc Thái Lan và đến tận Myanmar
Sự ra đời của Hành lang kinh tế Đông Tây sẽ đem lại lợi ích thiết thực và lâudài cho các quốc gia thành viên Đây là cơ hội cho các quốc gia tiếp cận tốt hơn cácnguồn tài nguyên khoáng sản, hải sản và năng lượng phục vụ cho các ngành sản xuất
Trang 11và chế biến; tạo điều kiện phát triển cho các thành phố, thị trấn nhỏ dọc hành langđồng thời thúc đẩy thương mại xuyên biên giới; thu hút đầu tư từ các nguồn địaphương, khu vực và thế giới; phát triển các hoạt động kinh tế mới thông qua việc sửdụng hiệu quả không gian kinh tế và hình thành khu vực kinh tế xuyên quốc gia; mởcửa cho hàng hoá của Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam và Trung Quốc thâmnhập vào các thị trường đầy tiềm năng của Nam Á, Đông Á, châu Âu và châu Mỹ.Ngoài ra, hành lang còn là môi trường để thử nghiệm các chính sách kinh tế mới,đặc biệt là ở Myanmar, Việt Nam và Lào Hành lang kinh tế Đông Tây cũng đã mở
ra những cơ hội hợp tác trên nhiều lĩnh vực cho các địa phương thành viên
Sự ra đời của Hành lang kinh tế Đông Tây bên cạnh xu hướng toàn cầu hoá,khu vực hoá và liên kết tiểu vùng thì nguyên nhân cơ bản nhất đó là xuất phát từ nhucầu phát triển của mỗi nước thành viên Cả Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Namđều ủng hộ và hưởng ứng sáng kiến hợp tác EWEC bởi vì tham gia hợp tác và pháttriển trong Hành lang kinh tế Đông Tây sẽ giúp cho mỗi nước phát huy được lợi thếcủa mình đồng thời tranh thủ các điều kiện của các nước láng giềng trong quá trìnhphát triển nền kinh tế đất nước EWEC còn có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt kinh tế -
xã hội, hợp tác phát triển và xoá đói giảm nghèo cho các địa phương và các nướcthành viên
Trong số các thành viên của ASEAN, Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam
là những nước láng giềng gần gũi, có quan hệ gắn bó qua các thời kỳ lịch sử Trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tăng cường hợp tác Tiểu vùng của Việt Nam hiệnnay, việc tìm hiểu các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước lánggiềng không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn và cótính thời sự cấp thiết
Đối với Việt Nam, lưu vực sông Mekong có ý nghĩa chiến lược về kinh tế - xãhội, môi trường, sinh thái và an ninh, quốc phòng Việt Nam nằm ở vị trí địa lýthuận lợi, là cửa ngõ của các tuyến giao thông quan trọng trong lưu vực sôngMekong Mục đích cơ bản của những chương trình hợp tác tiểu vùng Mekong phùhợp với chủ trương chính sách về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Bởi vậy,Việt Nam ủng hộ và tham gia tích cực, là thành viên của hầu hết các chương trình dự
án này Việt Nam đã và đang xúc tiến việc lập kế hoạch tổng thể tham gia tiến trình
Trang 12hợp tác phát triển lưu vực sông Mekong nhằm khai thác cao nhất lợi thế của mìnhtrong khu vực, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của các chương trình này Việt Nam
đã tham gia hợp tác tiểu vùng GMS kể từ khi Sáng kiến GMS được khởi xướng từnăm 1992 Việt Nam cũng là nước tích cực tham gia hợp tác trên EWEC
Kể từ khi chương trình hợp tác Hành lang kinh tế Đông Tây được hìnhthành cho đến năm 2010, đã nhận được sự quan tâm của chính phủ các nước, cácnhà tài trợ quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Chính phủNhật Bản; sự quan tâm của các địa phương trên tuyến hành lang, của cộng đồngdoanh nghiệp và hàng chục triệu người dân trong vùng EWEC Nhiều hoạt động cụthể, thiết thực đã được triển khai để hiện thực hóa những ý tưởng và mục tiêu tốt đẹpcủa Hành lang kinh tế Đông Tây Những hoạt động đó đã đưa lại những kết quả rấtđáng ghi nhận cho quá trình phát triển của EWEC như: Một số cơ chế hợp tác đãđược hình thành, một số dự án hỗ trợ đã được triển khai, và nhiều sự kiện liên quan
đến Hành lang kinh tế Đông Tây đã được tổ chức, tiêu biểu như sự kiện Tuần lễ
EWEC 2007 tại Đà Nẵng, do Bộ Ngoại giao Việt Nam và UBND thành phố Đà
Nẵng đồng chủ trì với chủ đề “Hành lang hữu nghị và hợp tác kinh tế: Từ ý tưởng
đến hiện thực”, đã góp phần nâng cao nhận thức và hành động của các nhà tài trợ
quốc tế, của chính phủ các nước, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp trênhành lang về những cơ hội phát triển của Hành lang kinh tế Đông Tây Song songvới điều kiện hạ tầng cứng của hành lang như: giao thông, viễn thông, năng lượng,tiếp tục được nâng cấp, hạ tầng mềm với các chính sách nhằm tạo điều kiện thôngthoáng về thủ tục cho sự lưu thông của người và hàng hóa đã được chính phủ cácnước quan tâm cải tiến Các nhà tài trợ đã có những hỗ trợ tích cực, hiệu quả Cácđịa phương dọc trên tuyến hành lang đã tích cực cải thiện môi trường kinh doanh đểthu hút đầu tư, thúc đẩy hợp tác, tạo sự liên kết kinh tế - văn hóa… Các doanhnghiệp đã năng động tìm kiếm các cơ hội đầu tư, góp phần biến những tiềm năngthành lợi ích kinh tế thực sự…
Quá trình hình thành và phát triển Hành lang kinh tế Đông Tây từ năm 1998đến nay đã đạt được những thành tựu bước đầu và có tác động tích cực tới sự pháttriển kinh tế, xã hội của các nước và các địa phương dọc theo hành lang Tuy nhiên,bên cạnh những thành tựu đã đạt được, sự hợp tác giữa các nước nằm dọc Hành lang
Trang 13còn gặp phải những khó khăn hạn chế cần khắc phục và tháo gỡ nhằm thúc đẩy sựhợp tác giữa các nước EWEC lên tầm cao mới.
Từ những vấn đề trình bày trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tiến trình hợp tác
kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)” làm đề
tài cho luận án tiến sĩ thuộc Chuyên ngành Lịch sử thế giới, Mã số 62.22.03.11
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Sự ra đời và phát triển của EWEC không chỉ nhận được sự quan tâm của cáccấp lãnh đạo các nước trong vùng, các đối tác lớn của khu vực và thế giới mà còncủa các nhà nghiên cứu Vấn đề: “Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộcHành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)” đã và đang thu hút sự quan tâm, nghiêncứu của nhiều học giả đến từ nhiều quốc gia và tổ chức khác nhau trên thế giới, đặcbiệt là các nhà nghiên cứu đến từ các nước thuộc Tiểu vùng Mekong mở rộng, Nhật
Bản và Ngân hàng Phát triển Châu Á Có thể kể ra một số công trình như: “East-West
Economic Corridor (EWEC) Strategy and Action Plan, Development Study of the West Economic Corridor Greater Mekong Subregion” do ADB phát hành năm 2009
East-nghiên cứu về những cơ sở, tầm nhìn chiến lược và thành tựu của hợp tác trên EWECtrong giai đoạn 2001 - 2008; phân tích thực trạng hợp tác EWEC trên các lĩnh vực:thương mại, đầu tư, khu vực tư nhân, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi truờng Bên
cạnh đó, nghiên cứu cũng đề ra các giải pháp để thúc đẩy hợp tác EWEC; “Strategy and
Action Plan for the Greater Mekong Subregion East - West Economic Corridor” do
ADB phát hành năm 2010 nghiên cứu về tầm quan trọng và giá trị kinh tế - xã hội khihành lang kinh tế Đông Tây được hoàn thành và sự thay đổi trong các chiến lược và kếhoạch hành động qua hai giai đoạn:1998 - 2001, 2001 - 2008 và triển vọng của EWEC;
“The East-West Economic Corridor Project in Thailand: Perceived Meanings and Expectations” của Yaowalak Apichatvullop Panadda Phucharoensilp, Đại học
Khon Kaen, Thái Lan năm 2007, đề cập đến các vần đề như ý nghĩa và giá trị của hànhlang kinh tế Đông Tây đối với các nước và các địa phương trên EWEC; qua nghiên cứucác dữ liệu được thu thập từ ba nhóm đối tượng: các tổ chức địa phương, các doanhnghiệp tư nhân và người dân địa phương tác giả đã đưa ra những đánh giá tác động từ sự
Trang 14phát triển của EWEC đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội của các bên liên quan; gợi ý những
chính sách để tăng cường kết quả hợp tác của các địa phương trên EWEC; “Strategy and
Action Plan to Encourage Tourists to Stay Longer and Spend More on the East West Economic Corridor Savannakhet” của Lee Sheridan năm 2009 đề cập đến tác động của
EWEC đến sự phát triển du lịch bền vững của tỉnh Savannakhet (Lào); các lựa chọnchiến lược khuyến khích khách du lịch ở lại lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn khi đếnSavannakhet; các giải pháp để đạt được mục tiêu chiến lược của ngành du lịch tỉnh
Savannakhet trên EWEC; “Special Economic Zones and Economic Corridors” của
Masami Ishida năm 2009 phản ánh sự khác nhau giữa các hành lang kinh tế và khukinh tế đặc biệt trong GMS Đặc biệt nhấn mạnh vai trò và chiến lược phát triển các
khu kinh tế đặc biệt của 4 nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam; “Planning
Framework for International Freight Transportation Infrastructure: A Case Study
on the East-West Economic Corridor in the Greater Mekong Subregion” của
Toshinori Nemoto, Đại học Hitotsubashi, Nhật Bản năm 2009 đề cập đến khung kếhoạch cho vận tải quốc tế và cơ sở hạ tầng của GMS từ những nghiên cứu về Hànhlang kinh tế Đông Tây thông qua các hoạt động vận chuyển quốc tế, hậu cần, nhucầu hợp tác, lợi ích của các nước thành viên
Trên thực tế, từ năm 1998 đến nay còn có nhiều tài liệu đã được ADB, cácnước thành viên EWEC, các nhà tài trợ, các nhà tư vấn, các nhà nghiên cứu đã chuẩn
bị và cung cấp nhiều tài liệu quý báu về Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộcEWEC tại các hội thảo quốc tế về Hợp tác kinh tế EWEC tổ chức ở nhiều nơi trên thếgiới, nhất là ở các nước và các địa phương thuộc EWEC như các Hội thảo quốc tế doADB tổ chức tại Nhật Bản, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan
Tuy nhiên các nghiên cứu đã được công bố chủ yếu là của các cơ quan củaNgân hàng phát triển châu Á (ADB), hoặc là của chính phủ Nhật Bản hay các nướcthành viên EWEC và các nước khác tập trung nhiều nhất vào việc đánh giá việc triểnkhai các chương trình dự án, kết quả hợp tác của các địa phương và các nước thuộcEWEC Trong khi các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nhất là nghiêncứu dưới góc độ Sử học không nhiều nếu không muốn nói là rất ít Hơn nữa nhữngkết quả nghiên cứu này chủ yếu là những bài nghiên cứu được công bố trong các hộithảo khoa học trong nước hoặc quốc tế về hợp tác Hành lang kinh tế Đông Tây
Trang 15Như đã trình bày ở trên, số lượng các công trình nghiên cứu chuyên khảo và dướigóc độ Sử học về “Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế ĐôngTây (1998 - 2010)” không nhiều nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu ở nướcngoài đều tập trung phản ánh sự cần thiết, lợi ích, sự hưởng ứng và lợi thế của các địaphương và các quốc gia khi tham gia các dự án hợp tác trên EWEC Một số công trìnhphản ánh kết quả hợp tác và tác động của EWEC tới sự phát triển của các nước và các địaphương trên EWEC Tuy nhiên những công trình này chỉ phản ánh một phần nhỏ, mộtthời gian ngắn hay một địa phương, một quốc gia trên EWEC và chưa phản ánh đầy đủtiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây trong giaiđoạn: 1998 - 2010 Mặc dù vậy, những công trình này rất có giá trị đối với Luận án, vìđây là những tài liệu tham khảo rất quan trọng để đánh giá tiến trình hợp tác kinh tế giữacác nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây trong giai đoạn nghiên cứu.
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Cho đến nay, “Tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh
tế Đông Tây (1998 - 2010)” đã được các nhà nghiên cứu đề cập dưới nhiều góc độkhác nhau Có thể tìm thấy nội dung về Hành lang kinh tế Đông Tây trong các côngtrình nghiên cứu đã được công bố
2.2.1 Các công trình nghiên cứu về ASEAN và sự hợp tác của các quốc gia ASEAN
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Nguyễn Quốc Lộc - Nguyễn Công
Khanh - Đoàn Thanh Hương (2004), Tổng quan về ASEAN và tiềm năng Thành phố
Hồ Chí Minh trong tiến trình hội nhập, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh,
thành phố Hồ Chí Minh; Hoài Nguyên (2008), Lào - đất nước và con người, Nhà
xuất bản Thuận Hóa, Huế; Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
-Ban Tuyên huấn Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (2012), Lịch sử quan hệ đặc biệt
Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 -2007), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Võ
Thanh Thu (2008), Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thống Kê, Hà Nội; Nguyễn Duy Dũng (chủ biên) (2010), Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia từ lý
thuyết đến thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Hoàng Thị Minh Hoa (chủ
biên) (2010), Nhật Bản với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, Lào và
Trang 16Campuchia trong giai đoạn hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị
Thúy Hồng (2008), Kinh tế các nước ASEAN, NXB Giáo dục, Hà Nội
Trong các công trình nghiên cứu này, tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nướcthuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) được đề cập đến không nhiều, chủyếu là những nghiên cứu về hợp tác kinh tế giữa từng nước trong hành lang với nhau.Tuy nhiên, khi tìm hiểu nhóm công trình này có thể giúp cho các nhà nghiên cứu những
tư liệu có ích về quá trình hình thành và phát triển của Hành lang kinh tế Đông Tây vàcác nhân tố tác động tới quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tếĐông Tây (1998 - 2010)
2.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng
Nhóm các công trình nghiên cứu về hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng có thể
kể đến một loạt công trình nghiên cứu như: Các công trình nghiên cứu của Nguyễn
Trần Quế: “Sông và tiểu vùng Mê Kông tiềm năng và hợp tác phát triển quốc tế”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; “Hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng
trong điều kiện mới”, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2007), Viện Kinh tế và Chính trị
Thế giới; “Hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Kông mở rộng hiện tại và tương lai”,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007 Những nghiên cứu này đề cập tới cơchế, mục tiêu, phương thức hoạt động, những kết quả chủ yếu, những vấn đề tồn tại
và khó khăn của hợp tác GMS từ khi hình thành đến năm 2006 Phân tích nhữngđiều kiện mới của hợp tác GMS Đồng thời khái quát quá trình tham gia hợp tác,quan điểm và những định hướng để nâng cao hiệu quả hợp tác của Việt Nam trong
GMS; công trình nghiên cứu của Nguyễn Hồng Nhung, “Vai trò của chính quyền
địa phương trong hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng”, Sách chuyên khảo,
Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới, 2011, đã phân tích vai trò và hoạt động củachính quyền địa phương, từ đó đánh giá và đề ra các giải pháp phát huy vai trò củachính quyền địa phương trong việc thực hiện các cam kết quốc gia trong khung khổhợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng trong tương lai
Trong nhóm này phải kể đến một số lượng không nhỏ các bài nghiên cứuđược công bố trên các tạp chí chuyên ngành như: tạp chí Lịch sử Đảng, tạp chínghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, tạp chí Những vấn đềKinh tế và chính trị thế giới, tạp chí Sự kiện và nhân chứng, tạp chí nghiên cứu lịch
Trang 17sử, tạp chí nghiên cứu quốc tế… Có thể kể đến một loạt các công trình của các tác
giả như: Nguyễn Xuân Thắng, “Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng: Các
sáng kiến, sự tiến triển và những lựa chọn ưu tiên”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế
và chính trị thế giới, số 12, 2005, trên cơ sở phân tích các sáng kiến, sự tiến triển,thành tựu chủ yếu và các vấn đề đặt ra trong hợp tác GMS, tác giả đánh giá triểnvọng và những lựa chọn ưu tiên trên con đường tiến tới sự phát triển bền vững của
GMS; Trần Cao Thành, “Tiểu vùng Mê Công: Một số nét khái quát và đặc điểm”,
tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2006, đề cập khái quát các vấn đề: vị trí địa
lý, nguồn nhân lực, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vàmôi trường tự nhiên của các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong mở rộng; Phạm
Thái Quốc, “Hợp tác GMS và tác động của nó đến phát triển kinh tế miền Trung
Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 10, 2006, đề cập
khái quát về hợp tác GMS, trên cơ sở các điều kiện, lợi thế, một số dự án, chươngtrình trong GMS giai đoạn 1990 - 2008, tác giả đánh giá những tác động của hợp tácGMS đến sự phát triển kinh tế của miền Trung Việt Nam; Nguyễn Hồng Nhung,
“Việt Nam trong hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở rộng”, Tạp chí Những vấn đề Kinh
tế và chính trị thế giới, số 5, 2007, đề cập đến tầm quan trọng của hợp tác GMS đốivới Việt Nam, quan điểm, hoạt động, kết quả hợp tác và những vấn đề đặt ra trongquá trình hợp tác của Việt Nam trong GMS
Nhìn chung các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này đã phản ánh được sựcần thiết, nhu cầu, các chủ trương, chính sách và quá trình hợp tác của các nước vàcác địa phương trong Tiểu vùng Mekong mở rộng
Tuy nhiên, trong các công trình này vấn đề tiến trình hợp tác kinh tế giữa cácnước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây được đề cập đến không nhiều và khôngđược hệ thống trong cả một giai đoạn (1998 - 2010)
2.2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về Hành lang kinh tế Đông Tây
Đã có nhiều công trình có tính chất chuyên khảo của các tác giả đề cập tớiquan hệ kinh tế giữa các nước trong Hành lang kinh tế Đông Tây như: Nguyễn Xuân
Thắng, “Hành lang kinh tế và Hành lang kinh tế Đông - Tây: Một số đề xuất về giải
pháp phát triển”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và chính trị thế giới, số 5, 2006, đề
cập đến những vấn đề lý luận về hành lang kinh tế, đặc điểm, chiều hướng phát triển
Trang 18và đề xuất những giải pháp phát triển Hành lang kinh tế Đông - Tây; Lê Hữu Phúc,
“Vai trò của tỉnh Quảng Trị đối với việc xây dựng và phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây”, Tạp chí Đông Nam Á, số 11, 2008, đề cập đến vị trí, vai trò, sự hưởng
ứng, một số đề xuất, kiến nghị của tỉnh Quảng Trị đối với việc xây dựng và phát
triển Hành lang kinh tế Đông Tây; Trần Văn Minh, “Vai trò của thành phố Đà
Nẵng với việc xây dựng và phát triển tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây”, Tạp chí
Đông Nam Á, số 11, 2008, đề cập tới lợi ích của EWEC, vị trí, vai trò, kết qủa hợp
tác, các giải pháp để tăng cường hiệu quả hợp tác của thành phố Đà Nẵng trên Hành lang kinh tế Đông Tây; Nguyễn Hoàng Giáp, Mai Hoàng Anh, “Quan điểm và đối
sách của Việt Nam về hành lang kinh tế Đông -Tây”, Tạp chí Đông Nam Á, số 11,
2008, đề cập khái quát về EWEC, các quan điểm, chính sách của Việt Nam về pháttriển Hành lang kinh tế Đông Tây, những trở ngại và khuyến nghị để phát huy hơnnữa vai trò và vị thế của Việt Nam trên Hành lang kinh tế Đông Tây; Trương Duy
Hoà, “Hành lang kinh tế Đông Tây và tác động của nó đến Lào và quan hệ Việt
-Lào”, Tạp chí Đông Nam Á, số 11, 2008, đề cập khái quát về Hành lang kinh
tế Đông Tây và tác động của nó đến Lào và quan hệ Việt Nam - Lào trong bối cảnhliên kết khu vực và quốc tế hiện nay
Đặc biệt các bài nghiên cứu trong các Kỷ yếu Hội thảo khoa học phản ánhmột cách rõ nét các vấn đề lên quan đến quan hệ kinh tế giữa các nước trong Hành
lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) như: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Du lịch Quảng
Trị - hội nhập và phát triển” do Tổng cục du lịch Việt Nam và UBND tỉnh Quảng
Trị đồng tổ chức năm 2007, đề cập đến tiềm năng du lịch của các quốc gia và cácđịa phương nằm dọc EWEC, cơ hội và thách thức cho ngành du lịch Quảng Trịtrước ngưỡng cửa hội nhập quốc tế cũng như cơ hội hợp tác về du lịch, thương mạicủa các quốc gia tiểu vùng sông Mekong và các quốc gia nằm trên trục đường xuyên
Á; Kỷ yếu Hội thảo "Nhu cầu khách du lịch trên tuyến hành lang Đông Tây - Cơ hội
cho các địa phương" do Khoa Du lịch - Đại học Huế và tổ chức phát triển Hà Lan
Bắc miền Trung (SNV) về nghiên cứu nhu cầu khách du lịch tại các tỉnh dọc tuyếnHành lang kinh tế Đông Tây đồng tổ chức năm 2008, đề cập đến nhu cầu khách dulịch, các cơ hội thị trường và gợi mở cho việc hoạch định chính sách kinh doanh vàphát triển du lịch của các địa phương cho các địa phương dọc tuyến Hành lang kinh
Trang 19tế Đông Tây; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Hợp tác phát triển du lịch giữa các tỉnh Bắc
miền Trung Việt Nam với Lào và Thái Lan” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Thừa Thiên Huế phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Quảng Trị,Quảng Bình tổ chức (2010) Nội dung của Hội thảo đề cập đến thực trạng hợp tác,
sự cấn thiết phải có sự hợp tác của lãnh đạo các địa phương, các ngành nhất là ngành
du lịch của ba nước Việt Nam, Lào, Thái Lan về chính sách, giải pháp nhằm đầu tưxây dựng các sản phẩm, các loại hình dịch vụ, các phương tiện, vật chất, kỹ thuật,cách thức hỗ trợ các doanh nghiệp để mở văn phòng, liên doanh khai thác khách dulịch, đề ra các kế hoạch liên kết chặt chẽ để phát triển nhanh, mạnh và bền vững.Đồng thời các bài nghiên cứu cũng khẳng định vị thế du lịch trong cơ cấu ngànhkinh tế quan trọng của các địa phương trong mạng lưới du lịch trên EWEC
Trong các bài viết của các nhà lãnh đạo các nước Việt Nam, Lào, Thái Lan,Myanmar cũng đề cập tới quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành langkinh tế Đông Tây Đây là những cơ sở để nghiên cứu, đánh giá sự hưởng ứng và thamgia hợp tác của các nước và các địa phương nằm dọc EWEC
Nhìn chung, ưu điểm nổi bật của các công trình này là trình bày tập trung mốiquan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 -2010) Tuy vậy, hạn chế của các bài nghiên cứu là thiếu tính toàn diện, khái quát vàtheo tiến trình từ năm 1998 đến năm 2010
Có thể nói, cho đến năm 2010 chưa có một công trình khoa học nào nghiên
cứu về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây
dưới góc độ Sử học một cách tổng thể, toàn diện, có luận cứ khoa học sâu sắc
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,
luận án nghiên cứu về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh
tế Đông Tây trong giai đoạn 1998 - 2010 một cách tổng thể, toàn diện, có luận cứkhoa học sâu sắc để đưa ra các gợi ý chính sách cho các nước thuộc EWEC nóiriêng, GMS nói chung và nhất là gợi mở chính sách cho chính phủ Việt Nam nhằmthúc đẩy và tăng cường hiệu quả hợp tác trên Hành lang kinh tế Đông Tây
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 20Bằng phương pháp chuyên ngành kết hợp với các phương pháp liên ngành, đềtài sẽ phản ánh tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tếĐông Tây từ năm 1998 đến năm 2010 đi từ cơ sở hình thành, thực trạng hợp tác đếntác động của tiến trình này đối với các chủ thể, các cơ chế hợp tác khác và bước đầu
dự báo triển vọng của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế ĐôngTây trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của đề tài, tác giả luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ cơbản sau đây:
- Trình bày khái quát về những cơ sở của hợp tác kinh tế giữa các nước thuộcHành lang kinh tế Đông Tây
- Phân tích khái niệm Hành lang kinh tế Đông Tây, sự tham gia của các nướcthuộc hành lang và sự tiến triển hợp tác kinh tế giữa bốn nước Myanmar, Thái Lan,Lào và Việt Nam trong EWEC
- Trình bày có hệ thống tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hànhlang kinh tế Đông Tây từ năm 1998 đến năm 2010
- Phân tích, đánh giá tiến trình hợp tác kinh tế và tác động của nó tới các nướcthành viên EWEC cũng như các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu Từ đó đề xuấtnhững giải pháp thúc đẩy quá trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành langkinh tế Đông Tây
- Dự báo triển vọng của quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hànhlang kinh tế Đông Tây
4 Phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Từ năm 1998 đến 2010 Năm 1998 là mốc thời gian từ khiHành lang kinh tế Đông Tây được chính thức thông qua tại Hội nghị lần thứ 8 các Bộtrưởng GMS và năm 2010 là năm kết thúc thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI với nhiều
sự kiện kinh tế, chính trị có tác động mạnh mẽ tới quan hệ quốc tế nói chung và hợptác EWEC nói riêng Để đảm bảo tính logic của đề tài, các giai đoạn hợp tác kinh tếgiữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây trước năm 1998 và từ sau năm
2010 cũng được đề cập ở mức độ nhất định
Trang 21Về không gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu tiến trình hợp tác kinh tếgiữa 13 tỉnh (Mawlamyine, Kayin, Tak, Sukhothai, Kalasin, Phitsanulok, KhonKaen, Yasothon, Mukdahan, Savannakhet, Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng) của 4 nước(Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam) thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây.
4.2 Nguồn tư liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng chủ yếu các nguồn tư liệusau:
- Các văn kiện gốc như: Các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhànước và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các văn kiện chínhthức của chính phủ các nước ASEAN về chính sách đối ngoại; Các văn bản chínhthức về các Hiệp định, những qui định và nguyên tắc tổ chức, hoạt động, thể chế của
tổ chức ASEAN; Các văn bản chính thức về quan hệ song phương giữa Việt Namvới các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây; các số liệu thống kê từ các nguồncủa chính phủ và các địa phương các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây; các
số liệu của các nước có quan hệ kinh tế với các nước và các địa phương thuộc Hànhlang kinh tế Đông Tây
- Các bài phát biểu, các tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo các nước nói về tiếntrình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010)
- Các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, các nhà bình luận, phântích trong và ngoài nước bằng tiếng Việt, tiếng Anh
- Các sách về lịch sử thế giới cận hiện đại, lịch sử quan hệ ngoại giao, lịch sửquan hệ quốc tế, lịch sử các nước Đông Nam Á, quan hệ kinh tế quốc tế làm cơ sởkiến thức để đi sâu vào đề tài
- Các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử,Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, Tạp chí Nhữngvấn đề Kinh tế và chính trị thế giới ; các bài nghiên cứu trong các Hội thảo quốc tế
và trong nước về tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tếĐông Tây (1998 - 2010)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trang 22Phương pháp luận: Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nghiên cứulịch sử quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại
5.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở quan điểm lịch sử cụ thể, luận án chútrọng phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong nghiên cứu tiến trình hợp táckinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) Cùng với hệthống sử liệu được chọn lọc, phân tích, luận án sử dụng các phương pháp: thống kê,phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh, dự báo khoa học… để làm nổi bật tiến trìnhhợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010).Trên cơ sở đó giải quyết những vấn đề được đặt ra trong luận án
6 Đóng góp của luận án
6.1 Về phương diện khoa học
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về tiến trìnhhợp tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 - 2010) Trên
cơ sở khái quát hợp tác kinh tế giữa bốn nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Namtrước năm 1998, luận án tái hiện lại một cách có hệ thống tiến trình hợp tác kinh tếgiữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây từ năm 1998 đến năm 2010
- Phân tích, luận giải những vấn đề liên quan trong từng lĩnh vực của tiếntrình hợp tác tác kinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây (1998 -2010), từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá và kết luận mang tính độc lập
- Cung cấp nguồn tư liệu tương đối hoàn chỉnh về Hành lang kinh tế ĐôngTây từ khi hình thành cho tới năm 2010
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể xây dựng thành chuyên đề giảng dạycho sinh viên chuyên ngành lịch sử, đồng thời là một tài liệu tham khảo thiết thựccho những ai quan tâm tới vấn đề này
6.2 Về phương diện thực tiễn
- Nghiên cứu đề tài giúp hiểu sâu sắc và có hệ thống hơn về tiến trình hợp táckinh tế giữa các nước thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây cùng những tác động của
nó tới các nước thành viên và các cơ chế hợp tác tiểu vùng, khu vực và thế giới
Trang 23- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần quan trọng vào việc nâng cao ý thứchợp tác cùng phát triển của nhân dân ở bốn nước thuộc EWEC nói riêng và khu vựcASEAN nói chung trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đặc biệt làtrong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giới đang phát triển mạnh mẽnhư hiện nay, việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ về các liên kết khu vực, liên kếtTiểu vùng là rất quan trọng
- Hơn thế, đề tài còn có thể giúp ích cho các nhà quản lý ở các nước và cácđịa phương thuộc Hành lang kinh tế Đông Tây trong việc hoạch định các chủtrương, biện pháp để nâng cao hiệu quả hợp tác, đẩy mạnh sự phát triển của nướcmình, địa phương mình
Trang 24CHƯƠNG 1
CƠ SỞ CỦA HỢP TÁC KINH TẾ GIỮA CÁC NƯỚC
THUỘC HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG TÂY 1.1 Một số cơ sở lý thuyết về quan hệ kinh tế quốc tế
1.1.1 Khái niệm về hợp tác và hội nhập kinh tế khu vực
Hợp tác kinh tế khu vực là quá trình thông qua đó hai hay nhiều nước theo đuổimục đích hoặc mục tiêu phát triển chung thông qua các hoạt động chung, phối hợpchung và đồng bộ Hợp tác kinh tế vùng nói chung bao gồm các hoạt động hợp táctheo từng nội dung cụ thể với các chương trình và dự án hợp tác kinh tế trong vùng
Hội nhập kinh tế khu vực là quá trình các nước trong khu vực thực hiện môhình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế quốc tế, thực hiệnthuận lợi hoá thương mại, đầu tư; các nền kinh tế khu vực được kết nối với nhau mộtcách chặt chẽ thông qua di chuyển các nguồn lực [59, tr8]
Hội nhập bao gồm 5 cấp độ: Khu vực thương mại ưu đãi (có chính sách thuếquan ưu đãi một phần cho nhau); Khu vực thương mại tự do (các thành viên dỡ bỏtất cả các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với nhau); Liên minh thuế quan(các khu vực thương mại tự do mà các thành viên áp dụng chung chính sách thuếquan đối với các nước không phải thành viên); Thị trường chung (tự do hóa dònghàng hóa và các yếu tố sản xuất) và Liên minh kinh tế (thị trường chung với cácchính sách hài hòa cao kết hợp với các thể chế chung toàn khu vực để điều phối vàthực hiện các biện pháp chính sách kinh tế và hội nhập
Trong quá trình phát triển, bên cạnh hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực còn
có xu thế hội nhập kinh tế tiểu vùng Hội nhập tiểu vùng không mâu thuẫn với hộinhập kinh tế toàn cầu và khu vực mà đây thực chất là một khâu trong quá trình hộinhập kinh tế toàn cầu và khu vực Hội nhập tiểu vùng giúp bổ sung những gì cònthiếu, giúp giải quyết những gì mà hội nhập toàn cầu và khu vực chưa làm được
Hội nhập toàn cầu và khu vực là xu thế hiện thực khách quan, là quá trình màhầu hết các khu vực, tiểu khu vực và các quốc gia trên thế giới đều tham gia Dovậy, các nước GMS nói chung và EWEC nói riêng cần phải chủ động hội nhập toàncầu và khu vực nhằm tận dụng các cơ hội to lớn để phát triển
Trang 251.1.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh
Lợi thế so sánh là lợi thế có thể đạt được của mỗi nền kinh tế quốc gia thôngqua sự phân công lao động quốc tế khi mà mỗi quốc gia biết lựa chọn mặt hàng cólợi ích nhiều hơn hoặc bất lợi ít hơn so với chi phí trung bình quốc tế để tập trungvào sản xuất, xuất khẩu hay nhập khẩu chúng Trong trường hợp này, người ta sosánh mức chi phí ở từng quốc gia theo từng mặt hàng đối với mức chi phí trung bìnhquốc tế rồi sau đó so sánh các hệ số đó với nhau để tìm ra sản phẩm nào có lợi thế sosánh Theo lý thuyết này, các quốc gia có thể chuyên môn hóa và xuất khẩu sảnphẩm mà họ không có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác, nhưng lại có lợi thếtuyệt đối hơn giữa hai sản phẩm và nhập khẩu những sản phẩm mà lợi thế tuyệt đốinhỏ hơn giữa hai sản phẩm trong nước [158, tr15]
Lý thuyết về lợi thế so sánh là lý thuyết đặc biệt quan trọng với các nướcEWEC Các nước này tuy có những nét tương đồng song cũng có nhiều nét đặc thùriêng về địa hình, đất đai, tài nguyên, điều kiện khí hậu, văn hóa, xã hội và lịch sử
do vậy, mỗi nước EWEC đều có những lợi thế so sánh riêng Thực tế cho thấy, cácnước EWEC là các nước nghèo nhưng có nhiều lợi thế so sánh như: nhân công rẻ,tài nguyên phong phú, chi phí sản xuất thấp, văn hóa đa dạng, lịch sử lâu đời, đadạng sinh thái Đó chính là những lợi thế so sánh mà các nước EWEC cần phát huy
để phát triển kinh tế của mình Hợp tác kinh tế EWEC có vai trò quan trọng tạo ra sựhợp tác sâu, rộng, đa dạng và cũng tạo ra thị trường rộng lớn hơn, ít rào cản hơn,điều kiện tốt cho sự phát triển của các nước dọc theo EWEC
Các nước EWEC muốn tối đa hóa hiệu quả hợp tác EWEC thì phải vận dụng
cơ sở của lý thuyết này để phát huy lợi thế so sánh của chính mình và của EWECtrong sản xuất, kinh doanh, thương mại và đầu tư góp phần nâng cao hiệu quả sảnxuất, kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội cho từng nước và cho cả EWEC
1.1.3 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của quốc gia của Michael E Porter là một lýthuyết mới về lợi thế cạnh tranh quốc gia.Lý thuyết chứa đựng quan điểm mới về lợithế cạnh tranh quốc gia, giúp giải thích tại sao nhiều quốc gia thành công, nhiềucông ty thành công trong một số ngành của nền kinh tế Quan niệm và ý tưởng của
lý thuyết này có thể áp dụng cho các đơn vị, tổ chức hay lãnh thổ trong một quốc
Trang 26gia Lý thuyết này nhấn mạnh Chính sách của Chính phủ ở cấp quốc gia hay ở cấpđịa phương chiếm vai trò quan trọng trong việc hình thành lợi thế của quốc gia đó[59, tr13] Các nước GMS nói chung và EWEC nói riêng phải vận dụng lý thuyếtnày để hình thành các chính sách nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty, của quốcgia và của cả EWEC hoặc GMS.
1.1.4 Thuyết tự do thương mại
Nội dung chính của lý thuyết này đề cập tới ý tưởng: Để cho thị trường vậnhành theo cơ chế cạnh tranh tự do, nhà nước không can thiệp và có như vậy nền kinh
tế mới có hiệu quả thực sự Thương mại quốc tế được hoạt động trong một hệ thốngthương mại tự do không có hàng rào thuế quan, mỗi nước sẽ dành vốn và nguồn lựccủa mình vào việc sản xuất những mặt hàng có lợi thế hơn so với các nước khác.Điều này sẽ có lợi cho tất cả các quốc gia và sản xuất liên kết các nền kinh tế quốcgia với nhau dựa trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hoá [59, tr14] Cácnước GMS nói chung và EWEC nói riêng phải vận dụng lý thuyết này để hình thànhcác chính sách giảm bớt rào cản, tăng cường tự do hóa thương mại, thúc đẩy tăngtrưởng, huy động vốn, công nghệ và kỹ thuật từ bên ngoài để thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển kinh tế của các nước thành viên
1.1.5 Thuyết bảo hộ mậu dịch
Thuyết bảo hộ mậu dịch chủ trương nhà nước áp dụng các biện pháp hạn chếnhập khẩu để bảo vệ thị trường trong nước và hạn chế sự cạnh tranh của hàng hoánước ngoài nhằm hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất trongnước Bảo hộ mậu dịch là kết quả của sự phát triển không đồng đều của nền kinh tếgiữa các nước, của sự cạnh tranh trên thị trường và quốc tế ngày càng gay gắt vàviệc nhà nước can thiệp vào kinh tế Thuyết bảo hộ mậu dịch là cơ sở tư tưởng chochính sách kinh tế mà nhiều nước đã và đang áp dụng Ngay cả với các nước côngnghiệp phát triển, lý thuyết này vẫn được vận dụng cùng với việc đặt ra hàng rào bảo
hộ, các biện pháp thuế quan, phi thuế quan rất tinh vi [59, tr15] Các nước GMS nóichung và EWEC nói riêng phải vận dụng lý thuyết này để hình thành các chính sáchbảo hộ lợi ích hợp lý của các nước thành viên khi bản thân các nền kinh tế này cònnghèo nàn, lạc hậu và dễ bị các nước phát triển gây áp lực trong cạnh tranh khôngcân sức giữa các nước nghèo với các nước giàu
Trang 271.1.6 Khái niệm “hành lang kinh tế”
Để hiểu khái niệm hành lang kinh tế Đông Tây, trước hết chúng ta phải hiểukhái niệm “hành lang kinh tế”
Khái niệm hành lang kinh tế không phải là khái niệm mới trên thế giới Trướckhi Ngân hàng phát triển Châu Á đưa ra khái niệm này như là một sáng kiến để thúcđẩy hợp tác kinh tế ở tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, người ta đã biết đến nhiềuhành lang kinh tế ở Mỹ, Châu Âu, Châu Phi như là một cách tiếp cận phát triển ởnhững khu vực địa lý liền kề, lấy các trục tuyến giao thông làm cơ sở để kết nối cácvùng nhằm xây dựng các khuôn khổ hợp tác về phát triển kinh tế - xã hội Ví dụ,theo hệ thống phát triển đường cao tốc Appalachian ở West Virginia (Mỹ) người taxây dựng 26 hành lang kinh tế của khu vực Appalachian [143, tr3]
Để hiểu khái niệm hành lang kinh tế cần hiểu sơ qua các cơ chế hợp tác khuvực Có hai cơ chế hợp tác kinh tế khu vực chủ yếu: chính thức và không chính thức
Cơ chế chính thức bao gồm các hình thức như Khu vực mậu dịch tự do (AFTA), Liênminh thuế quan (kiểu liên minh Nga - Belarus ), Thị trường chung (kiểu EU) Cơ chếphi chính thức gồm các hình thức như Tam giác phát triển, Khu vực tự do xuyên quốcgia, hành lang kinh tế Trong đó cơ chế không chính thức có một số đặc thù như chỉbao gồm các vùng (địa phương) thuộc các nước khác nhau chứ không bao gồm thựcthể quốc gia; các thành viên duy trì quan hệ thương mại và đầu tư với thị trường bênngoài khu vực; không có những chính sách chung đồng nhất, nhưng gián tiếp cắt giảmcác biện pháp thuế quan và phi thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự do hoáthương mại, đầu tư, giao thông, nhập cư; thúc đẩy sự phát triển tại khu vực biên giớicủa các nước thành viên
Ở khu vực Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, khái niệm hành lang kinh tếđược đưa ra lần đầu tiên tại Hội nghị lần thứ VIII các Bộ trưởng GMS tổ chức tại trụ
sở ADB, Manila tháng 10/1998 Trong năm hành lang được đưa ra tại Hội nghị,Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC) được thống nhất ưu tiên thực hiện đầu tiên
Hành lang kinh tế là những không gian địa lý xuyên qua ranh giới quốc gia và
là nơi mà sản xuất và các hoạt động buôn bán cùng đổ về dọc theo những tuyếnđường giao thông được xác định rõ Hành lang kinh tế ngoài những đặc điểm tương
tự với các hình thức hợp tác kinh tế phi chính thức khác còn có 3 điểm khác biệt
Trang 28Thứ nhất, hành lang là một khu vực địa lý xác định Thứ hai, hành lang kinh tế nhấnmạnh các sáng kiến song phương hơn là các sáng kiến đa phương Thứ ba, hành langkinh tế đòi hỏi phải có sự quy hoạch không gian và vật lý cụ thể để tập trung pháttriển hạ tầng và đạt được những hiệu quả thiết thực nhất.
1.2 Khái niệm “Hành lang kinh tế Đông Tây”
Hành lang Đông Tây là chương trình hợp tác phát triển tổng thể nhằm mụctiêu phát triển liên vùng nghèo bao gồm lãnh thổ lớn kéo dài từ miền Trung ViệtNam lên Trung Hạ Lào, Đông Bắc Thái Lan và đến tận Myanmar [149, tr4]
Hành lang kinh tế Đông Tây là tuyến hành lang dài 1450 km, đi qua 4 nước,bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine (bang Mon) đến cửa khẩu Myawaddy (bangKayin) ở biên giới Myanmar - Thái Lan Ở Thái Lan, bắt đầu từ Mae Sot, chạy qua 7tỉnh: Tak, Sukhothai, Kalasin, Phitsanulok, Khon Kaen, Yasothon và Mukdahan ỞLào, chạy từ tỉnh Savannakhet đến cửa khẩu Dansavanh và ở Việt Nam, chạy từ cửakhẩu Lao Bảo qua các tỉnh thành Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng Hành lang kinh tếĐông Tây được thể hiện ở hình 1 dưới đây:
Hình 1.1: Hành lang kinh tế Đông Tây
Nguồn: Asian Development Bank (2010), Strategy and Action Plan for the
Greater Mekong Subregion East-West Economic Corridor, Mandaluyong City,
Trang 29nghèo, phát triển khu vực dọc biên giới và các vùng nông thôn, tăng thu nhập và giảiquyết việc làm; tiếp cận các nguồn tài nguyên khoáng sản, hải sản và năng lượngphục vụ cho các ngành sản xuất và chế biến; phát triển các hoạt động kinh tế mớithông qua việc sử dụng hiệu quả không gian kinh tế và hình thành khu vực kinh tếxuyên quốc gia Tăng cường sự tham gia tư nhân vào việc phát triển và củng cố tínhcạnh tranh của thành phần kinh tế tư nhân [122, tr10].
Hành lang kinh tế Đông Tây đa dạng về địa hình, khí hậu, có đồng bằng venbiển Mawlamyine (Myanmar), miền đất thấp và nhiều đồi núi phía nam Bắc TháiLan, vùng đồng bằng ẩm ướt, rừng và cây bụi Savannakhet và vùng đồi núi trung dumiền Trung Việt Nam Hoạt động thương mại của hành lang này tập trung vào 6thành phố lớn: Mawlamyine, Phitsanulok, Khon Kaen, Savannakhet, Huế, Đà Nẵng
và một số thành phố nhỏ khác Đồng thời, hành lang Đông Tây còn giao với một sốtuyến đường huyết mạch Bắc - Nam như: Yangon - Dawei, Chiang Mai - Bangkok,Đường 13 (Lào) và Quốc lộ 1A (Việt Nam), có điều kiện thuận lợi để phát triểnthương mại theo hướng bắc hoặc hướng nam đến các trung tâm thương mại lớn nhưBangkok, thành phố Hồ Chí Minh Các địa phương dọc hành lang đa số đều tươngđối nghèo, chậm phát triển, đông dân cư và xa cách về mặt địa lý Nông nghiệp đóngvai trò quan trọng, sự phát triển của công nghiệp còn hạn chế
1.3 Bối cảnh quốc tế và khu vực
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bối cảnh thế giới đã
có những biến đổi to lớn và sâu sắc Nó đã ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọimặt đời sống xã hội của các quốc gia Thế giới đang từng bước thực hiện sự chuyểnmình mới Những biến đổi to lớn trong đời sống chính trị thế giới đã làm thay đổi cơbản cục diện thế giới
Vào năm 1991, Liên Xô và toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp
đổ, kéo theo đó là trật tự hai cực Ianta tan vỡ; tình trạng đối đầu Đông - Tây, mà đứngđầu là Liên Xô và Mỹ, kéo dài hơn 4 thập kỷ đã đến hồi kết thúc Một trật tự thế giớimới bắt đầu hình thành Mỹ siêu cường duy nhất còn tồn tại sau Chiến tranh lạnhmuốn vươn lên nắm lấy địa vị độc tôn, các cường quốc khác như Trung Quốc, Nhật
Bản, Nga và các nước Tây Âu muốn duy trì thế giới “đa cực” trong quan hệ quốc tế
nên ngày càng phát triển và vươn lên cạnh tranh với Mỹ, trong đó đáng chú ý nhất là
Trang 30“con hổ” Trung Quốc Thế giới được tạo thành thế giới “nhất siêu đa cường” trên bản
đồ kinh tế - chính trị thế giới và cũng tạo ra những thách thức không nhỏ đối với Mỹ.Trong khi đó, những nước đang phát triển đã và đang tạo ra sức mạnh góp phần ngàycàng quan trọng vào cục diện quan hệ quốc tế Do đó, tất cả các nước đã nhận thấyđược trong giai đoạn mới đối đầu không phải là cách tốt nhất Để thế giới tồn tại đượctất cả các nước phải vận động theo quy luật nhất định Guồng quay của trật tự thế giớimới đã đưa các nước xích lại gần nhau hơn và điều tất yếu xảy ra là xu thế hòa bình,hòa dịu và hợp tác đã mở ra nhưng cạnh tranh cùng phát triển Song hành với sự biếnđổi đó là xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, làm cho sựtùy thuộc vào các nước ngày càng lớn Đồng thời, sự đi lên của những xu hướng đó là
sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho ranh giới
quốc gia mất dần ý nghĩa và tạo cơ sở cho sự ra đời của một “ngôi làng toàn cầu”, trong đó khu vực đóng vai trò là “ngôi nhà lớn” trong ngôi làng ấy Những điều kiện
ấy làm cho đời sống kinh tế - chính trị và xã hội quốc tế mang những sắc thái mới
Thế kỷ 21 đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chứa đựng rất nhiềuthách thức đối với sự phát triển của tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang pháttriển Các nước này mong muốn có một môi trường hoà bình, hợp tác, liên kết quốc
tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện để phát huy nội lực và lợi thế
so sánh, tranh thủ ngoại lực phát triển nền kinh tế của mình tiến kịp với sự phát triểnchung của nhân loại
Trong thời đại ngày nay, khi mà các yếu tố của sản xuất đã được quốc tế hóamột cách sâu sắc, không một quốc gia nào có thể đạt được tăng trưởng kinh tế với tốc
độ cao nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển nếu không tham gia vào quá trình này,nhất là toàn cầu hóa luôn gắn với cải cách cơ cấu kinh tế của từng nước dẫn đến sựchuyển dịch cơ cấu giữa các nước Ðiều đó giải thích tại sao Tổ chức Thương mại thếgiới (WTO) - định chế cơ bản của toàn cầu hóa đã thu hút hơn 150 nền kinh tế thànhviên tham gia, mọi thành viên của WTO được yêu cầu phải cấp cho những thành viênkhác những ưu đãi nhất định trong thương mại Các nước chưa phải là thành viên cũngđang khẩn trương đàm phán để được gia nhập tổ chức này
Quá trình toàn cầu hóa hiện nay là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằmthiết lập một trật tự kinh tế thế giới mới bảo đảm phân phối lợi ích công bằng hơn,
Trang 31hợp lý hơn Toàn cầu hóa là kết quả vượt bậc của lực lượng sản xuất, tạo nên nhữngdòng chảy vốn, hàng hóa, dịch vụ, lao động, công nghệ ngày càng tự do trong phạm
vi khu vực và toàn cầu, hỗ trợ mọi quốc gia tham gia toàn cầu hóa tăng trưởng kinh
tế và phát triển xã hội một cách nhanh chóng hơn Toàn cầu hóa còn tạo lợi thế sosánh cho các quốc gia tích cực tham gia hội nhập quốc tế, đặc biệt là đối với lĩnhvực kinh tế Sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và thị trường liên kết khuvực và theo các tầng nấc khác nhau thích hợp với trình độ công nghệ, lao động,truyền thống của từng quốc gia Phát huy tốt lợi thế so sánh trong quá trình toàn cầuhóa kinh tế nhằm tận dụng tự do hóa thương mại, đầu tư, thị trường vốn, tranh thủcông nghệ và kỹ năng quản lý…
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội mới và những thách thức mới.Những cơ hội là: Có một thị trường rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩm được sảnxuất ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thu hút vốn đầu tư từ các nhàđầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ phát triển của các nước và các định chế tàichính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàngphát triển châu Á (ADB) ; có điều kiện tiếp nhận công nghệ sản xuất và công nghệquản lý thông qua các dự án đầu tư
Với nền kinh tế đã được toàn cầu hóa, sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốcgia ngày càng sâu, sự phối hợp giữa các nhà nước có vai trò ngày càng lớn, chứcnăng của nhà nước trong quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng được tăng cường
Bên cạnh những tác động tích cực của quá trình toàn cầu hóa, trong nhữngnăm đầu thế kỷ XXI những mâu thuẫn về sắc tộc, mâu thuẫn về thương mại… haycác vụ khủng bố mang tầm quốc tế đã diễn ra tại nhiều khu vực Chẳng hạn như vấn
đề Trung Đông, vấn đề hạt nhân trên Bán đảo Triều Tiên, Iran, vấn đề xung đột sắctộc tại châu Phi, vấn đề Biển Đông… Tất cả làm cho tình hình thế giới trở nên bất
ổn định hơn bao giờ hết Tuy nhiên, tất cả các nước không thể khoanh tay đứng nhìnthế giới đứng trên bờ vực mà đã và đang cùng nhau đưa những vấn đề đó lên bànđàm phán, cùng tìm kiếm giải pháp hòa bình
Đặc biệt, sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 hay còn được gọi là sự kiện 911(theo lối viết tắt ngày tháng tại Mỹ), lực lượng khủng bố quốc tế tấn công vào Trungtâm thương mại quốc tế (WTC), Lầu Năm Góc và Tòa nhà Quốc Hội của Mỹ Cuộc
Trang 32tấn công này đã làm chấn động địa cầu - một kẻ thù nguy hiểm không chỉ của nước
Mỹ mà của nền hòa bình thế giới xuất hiện Ngay sau đó, Mỹ bắt đầu phát động cuộcchiến chống khủng bố trên khắp các châu lục nhằm lật đổ chế độ Al-Qaeda và chế độ
hà khắc Taliban Mỹ nhận được sự ủng hộ của nhiều nước trên thế giới, quyền lực của
Mỹ nhờ vậy mà tăng lên rất mạnh Mỹ đã lấy cớ này để lôi kéo, tập hợp đồng minhtham gia tấn công vào một số nước như Afghanistan (2001), Iraq (2003) Thực chấtđây là cơ hội để Mỹ hợp lý hóa việc có mặt của mình ở khu vực giàu tài nguyên vàngđen này, cũng như có ý nghĩa về vị trí chiến lược Ngoài ra, ở các khu vực khác trênthế giới những mâu thuẫn này vẫn diễn ra tạo nên sự bất ổn nhất định
Cùng với toàn cầu hoá và bổ sung cho toàn cầu hoá là xu thế khu vực hoá Xuthế khu vưc hoá vừa là sự thể hiện vừa là sự phản ứng đối với xu thế toàn cầu hoá.Trong quan hệ với toàn cầu hoá thì xu thế khu vực hoá được xem là bước chuẩn bị
để tiến tới toàn cầu hoá, mặt khác khu vực hoá hiện nay phản ánh một thực trạng cocụm nhằm bảo vệ những lợi ích tương đồng giữa một vài quốc gia trước những nguy
cơ, những tác động tiêu cực do toàn cầu hoá đặt ra
Khu vực hoá có nhiều mức độ khác nhau từ một vài nước và một vài vùng lãnhthổ đến nhiều nước tham gia vào một tổ chức nhằm hỗ trợ cho nhau trong phát triển,tận dụng những ưu thế của khu vực trong quá trình tham gia nền kinh tế toàn cầu
Trong những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, làn sóng hợp tác trongkhu vực diễn ra ngày càng mạnh mẽ Đây là một xu thế tất yếu trong tương lai cùngvới quá trình toàn cầu hóa mà trong đó kinh tế là hạt nhân chi phối trực tiếp đếnquan hệ quốc tế Như sự hoạt động năng động của các tổ chức kinh tế khu vựcASEAN, NAFTA, APEC… góp phần không nhỏ đến sự phát triển kinh tế toàn cầu.Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực đang đượcnhiều nước quan tâm nhất, kể cả Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản…
Khu vực được coi là mô hình lý tưởng cho các khu vực khác trên thế giới học tập
là Liên minh Châu ÂU (EU) Đây là tổ chức liên kết khu vực rộng lớn và có hiệu quảnhất, nó không chỉ là liên minh về kinh tế mà còn là liên minh về chính trị, văn hóa…giữa những quốc gia có cùng trình độ phát triển, mặc dù hiện nay có chút bất cập
Kết thúc Chiến tranh lạnh cục diện thế giới thay đổi, đặc biệt ở khu vực ĐôngNam Á Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Đông Nam Á bị đặt dưới mối đe dọa về
Trang 33nguy cơ đối đầu cả về chiến tranh thông thường và chiến tranh hạt nhân giữa haicường quốc đối đầu là Liên Xô và Mỹ Chiến tranh lạnh kết thúc đã làm cho cụcdiện thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, mở ra hướng đi mới cho các nướcĐông Nam Á, nhất là các nước Đông Dương Các quốc gia Đông Nam Á thoát khỏimối đe dọa chiến tranh và bắt tay vào khôi phục hậu quả chiến tranh, xây dựng lạiđất nước Có thời gian chính các quốc gia trong khu vực cũng nằm ở hai cực đối đầuvới nhau Song bước sang thế kỷ XXI, các nước khép lại quá khứ để cùng nhau hợptác xây dựng đất nước và khu vực phát triển phồn thịnh hơn, hội nhập nhanh hơn vớiquá trình toàn cầu hóa.
Đông Nam Á là khu vực nằm ở vị trí án ngữ trên con đường hàng hải nối liềngiữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Đông Nam Á từ lâu được coi là nơi đi quacủa con đường giao thương từ Trung Quốc, Nhật Bản đến Ấn Độ, Tây Á và ĐịaTrung Hải Thậm chí đến gần đây, một số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực này là
"ống thông gió" hay "ngã tư đường” Với vị trí đó, Đông Nam Á có điều kiện để hợp
tác cùng nhau phát triển và hợp tác với các nước trên thế giới Với ý nghĩa như vậy,
vào cuối thế kỷ XX các nước Đông Nam Á đã cùng nhau xây dựng lên một “ngôi nhà
lớn” mang tên ASEAN
Hơn 45 năm qua, ASEAN đã trở thành một tổ chức khu vực rất thành công, pháttriển năng động, hợp tác chặt chẽ, có quan hệ đối tác mật thiết với nhiều quốc gia, và tổchức quan trọng hàng đầu thế giới Sức mạnh và uy tín của ASEAN ngày càng gia tăngkhi Hiệp hội bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á Điều đó góp phần củng cố hòa bình,
ổn định và sự phồn vinh ở khu vực, tăng cường hợp tác và liên kết giữa các nước thànhviên, nâng cao vị thế của Hiệp hội trên trường quốc tế, tạo tiền đề cho những bước pháttriển mạnh mẽ tiếp theo ASEAN đóng vai trò nóng cốt trong đẩy mạnh sự hợp tác ởĐông Á và châu Á - Thái Bình Dương vì hòa bình và phát triển thông qua các hoạtđộng của APEC, Diễn đàn Đông Á, Diễn đàn khu vực ASEAN
Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 ở Bali (Indonesia) tháng 11/2003 đãthông qua Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (DAC II) Trong DAC II, các nhà lãnh đạoASEAN thỏa thuận thiết lập Cộng đồng ASEAN, ASEAN đề ra mục tiêu thành lậpCộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột: Cộng đồng An ninh ASEAN, Cộng đồngKinh tế ASEAN, Cộng đồng Văn hóa - xã hội ASEAN vào năm 2020 [83, tr660]
Trang 34Một trong ba trụ cột của cộng đồng ASEAN: Cộng đồng văn hóa - xã hội là sángkiến của Việt Nam
Trong Cộng đồng ASEAN, xây dựng Cộng đồng An ninh - chính trị là khókhăn lớn nhất vì các nước trong khu vực vốn là một thực thể đa dạng Trên tinh thầnđặt lợi ích khu vực ở vai trò quan trọng, không cao hơn lợi ích quốc gia nhưng ở tầmcao nhất định, Việt Nam tích cực cùng các nước bàn bạc và tìm kiếm các hình thái,bước đi phù hợp xây dựng cộng đồng này
Cộng đồng kinh tế ASEAN đang được đầu tư phát triển nhanh chóng Hiệp địnhkhung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN trong đó nêu lên ba nguyên tắc của sự hợptác: hướng ra bên ngoài, cùng có lợi và linh hoạt đối với sự tham gia của các nước thànhviên; xác định rõ 5 lĩnh vực hợp tác kinh tế cụ thể là thương mại - công nghiệp - nănglượng - khoáng sản, nông - lâm - ngư nghiệp, tài chính - ngân hàng, vận tải - liên lạc và
du lịch; đồng thời nhấn mạnh “hòa giải” là phương châm giải quyết những khác nhaugiữa các nước thành viên trong việc giải thích và thực hiện Hiệp định khung này
Trong quá trình phát triển, ASEAN luôn phấn đấu để giảm bớt sự chênh lệch vềtrình độ phát triển giữa các nước thành viên cũ và các nước thành viên mới Tiêu biểu làsáng kiến “Hội nhập ASEAN” được đưa ra vào tháng 11/2001 Tại Hội nghị Thượngđỉnh Phnom Penh 2002, các nhà lãnh đạo đã phê chuẩn Kế hoạch công tác Hội nhậpASEAN bao gồm 48 dự án nhằm duy trì sự tăng trưởng của các tiểu vùng và thúc đẩyphúc lợi cho nhân dân ở các tiểu vùng Trong đó có 4 lĩnh vực ưu tiên là: phát triển hạtầng cơ sở, đào tạo nguồn nhân lực, công nghệ thông tin liên lạc và thúc đẩy hội nhậpkinh tế khu vực [83, tr540]
ASEAN có những điều kiện thuận lợi để đảm đương vai trò lãnh đạo trong
quá trình liên kết kinh tế Đông Á, thể hiện ở ba khía cạnh sau: Thứ nhất, ASEAN
có vị trí thuận lợi trong điều hòa lực lượng quốc tế Đông Á Với nguồn tài nguyênphong phú, kinh tế phát triển nhanh, có vị trí chiến lược quan trọng, ASEAN trởthành đối tượng cạnh tranh tích cực với các nước lớn Đông Á và giành được sự
hưởng ứng của các nước lớn trong việc đề xướng hợp tác Đông Á; Thứ hai,
ASEAN chú trọng thúc đẩy chiến lược cân bằng với các nước lớn, đã và đang xâydựng quan hệ song phương tốt đẹp với các nước lớn ở Đông Á và trên thế giới Vớichiến lược này, ASEAN đã tận dụng được những lợi thế phát triển, khéo léo phát
Trang 35huy tác dụng lấy nhỏ kéo lớn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo đuổi vị trí lãnh
đạo hợp tác khu vực Đông Á; Thứ ba, ASEAN đã giành được những thành tựu to
lớn trong hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh…ở khu vực Đông Á,tích luỹ được nhiều kinh nghiệm hợp tác khu vực Điều này cũng tạo điều kiện thuậnlợi cho ASEAN theo đuổi vị trí dẫn đầu hợp tác khu vực Đông Á [114, tr35]
Trong quá trình hội nhập, xu thế khu vực hoá và liên kết tiểu vùng được mở
ra như sự bổ sung và như là một cách thích ứng với xu thế toàn cầu hoá Sự phồnvinh của cả khu vực sẽ là nền tảng cho sự phát triển của mỗi nước riêng biệt Vớicác đặc điểm địa chính trị, địa kinh tế, hợp tác tiểu vùng làm giảm đi những đặcđiểm dị biệt của mỗi nước và góp phần tăng cường phối hợp chính sách, liên kếtkinh tế giữa các nước
Trong khung cảnh mang tính toàn cầu đó, cùng với bầu không khí hoà bình, hữunghị, hợp tác phát triển, Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS) đã hình thành và ngàycàng được tăng cường Tiểu vùng Mekong mở rộng bao gồm các nước Myanmar, TháiLan, Lào, Campuchia, Việt Nam và hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc.Với tổng diện tích 2,3 triệu km2, đông dân cư (320 triệu người) (năm 2006), đa sắc tộc
và có các nền văn hóa rất phong phú, lưu vực sông Mekong giàu tài nguyên thiên nhiên,điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp Tuy nhiên, nhìn chungđây còn là vùng nghèo, chậm phát triển ở Đông Nam Á và châu Á, cơ sở hạ tầng yếukém, đã bị các cuộc chiến tranh kéo dài tàn phá nặng nề, ngay trong tiểu vùng cũng tồntại sự cách biệt về trình độ phát triển giữa các địa phương
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, xu thế hợp tác, phát triển và hội nhập trởthành xu thế chủ đạo, thúc đẩy hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng Liên kết,phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, nguồn nước là những
“động lực” thôi thúc các nước trong lưu vực sông Mekong tìm kiếm cơ chế hợp tácsong phương và đa phương Trong bối cảnh đó, Chương trình hợp tác Tiểu vùngMekong mở rộng được hình thành vào năm 1992 theo sáng kiến của Ngân hàng pháttriển châu Á Ban đầu, GMS bao gồm các nước nằm trong lưu vực sông Mekong:Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc);năm 2004, thêm tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) tham gia vào hợp tác GMS
Trang 36Từ mục tiêu của GMS là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, xóađói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân lưu vực sông Mekong Do vậy các nướctrong lưu vực đã thỏa thuận hợp tác phát triển hạ tầng giao thông, nông công nghiệp,năng lượng, viễn thông tạo thuận lợi cho thương mại, du lịch, đào tạo nguồn nhân lực…
Trong đó, hợp tác phát triển hạ tầng giao thông được dành ưu tiên hàng đầu vàđạt nhiều kết quả nổi bật nhất, tập trung vào 3 hành lang kinh tế chính:
- Thứ nhất là Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC), dài 1450 km, bắt đầu từthành phố cảng Mawlamyine (Myanmar) chạy qua Thái Lan và các tỉnh Savanakhet(Lào), Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng (Việt Nam) Đầu năm 2007, với việchoàn thành cây cầu quốc tế thứ 2 qua sông Mekong, giao thông đường bộ của Hànhlang kinh tế Đông Tây đã thông suốt và EWEC trở thành hành lang đi vào hoạt độngđầu tiên trong Tiểu vùng Mekong
- Thứ hai là Hành lang kinh tế Bắc Nam (NSEC), gồm 3 tuyến dọc theo trụcBắc - Nam là Côn Minh - Chiềng Rai - Băng Cốc, Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng vàNam Ninh - Hà Nội Đây là tuyến hành lang có lợi thế là nối các khu vực đô thị chủyếu ở các quốc gia giàu có nhất khu vực GMS: Thái Lan và Trung Quốc
- Thứ ba là Hành lang kinh tế phía Nam (SEC): gồm 3 tuyến đường nối phíaNam Thái Lan qua Campuchia với Việt Nam
Năm 2007, GMS thông qua Chiến lược giao thông Tiểu vùng Mekong 2006
-2015 điều chỉnh lại quy hoạch các hành lang kinh tế Tiểu vùng thành 9 hành lang để
mở các tuyến liên kết 3 hành lang chính trước đây; mở thêm các tuyến mới phía Tâyliên kết tiểu vùng Mekong với Ấn Độ Ngoài 3 cửa ngõ ra biển phía Đông hiện có làthành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, quy hoạch còn mở thêm 2 cửa ngõ mới
ở Việt Nam là Thanh Hóa và Quy Nhơn
Nhìn chung hợp tác GMS tiến triển tương đối thuận lợi do các nước trongGMS tích cực thúc đẩy hợp tác; Ngân hàng phát triển châu Á đóng vai trò tích cựctrong điều phối, hỗ trợ kỹ thuật và tài trợ; các nhà tài trợ khác cũng quan tâm và tíchcực tham gia Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đang xem xét khả năng trở thànhnhà đồng tài trợ cùng ADB trong hợp tác GMS
Tóm lại, bối cảnh quốc tế và khu vực những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷXXI đã đi theo một xu hướng tích cực hơn Xu thế đối thoại thay cho đối đầu mở ra
Trang 37cho nhân loại một thời kỳ mới - thời kỳ hòa bình hợp tác và cạnh tranh trên cơ sởcác bên cùng có lợi Đó là một xu thế khách quan hợp quy luật Với bối cảnh quốc tếnhư vậy, không một nước nào dù lớn hay nhỏ tránh khỏi được sự tác động của nó.
Vì thế, việc hoạch định chính sách ngoại giao càng phức tạp, nếu không thấy được
xu thế chung của thế giới hiện nay là hòa bình, phát triển để tranh thủ thời cơ đưađất nước tiến lên theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì sẽ là một sai lầmchiến lược Mặt khác, nếu không thấy hết tính chất phức tạp của thế giới trong giaiđoạn chuyển tiếp sang một thời kỳ mới thì sẽ mất cảnh giác, đe dọa đến nền an ninhquốc gia và dân tộc
1.4 Khái quát hợp tác kinh tế giữa Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam trước năm 1998
Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam là những quốc gia Đông Nam Á lụcđịa cùng uống chung dòng nước sông Mekong, là điểm giao thoa, cầu nối nhiềuphần giữa đại lục châu Á
Cả bốn quốc gia cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á, tiếp giáp với các nềnvăn minh lớn của nhân loại, nên cũng như nhiều quốc gia Đông Nam Á khác bốnnước này đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ Tuy nhiên, sự ảnhhưởng này ở mỗi quốc gia là khác nhau Những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa
và Ấn Độ được biểu hiện trên các mặt của đời sống như: Tôn giáo, tín ngưỡng,phong tục, tập quán… mang đậm bản sắc của văn hóa phương Đông
Sự gần gũi về mặt địa lý đã tạo nên những nét tương đồng về văn hóa, lịch sửgiữa bốn nước chính là cơ sở cho mối quan hệ thân thiết từ xa xưa trong lịch sử, để
từ đó hình thành nên một cách tự nhiên những mối quan hệ đa dạng và đa chiềutrong lịch sử quan hệ giữa bốn nước, tạo thêm cơ sở vững chắc và lâu bền trongquan hệ hợp tác giữa bốn quốc gia, dân tộc đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế
Quan hệ kinh tế giữa Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam trước năm 1998nằm trong mối quan hệ kinh tế giữa các nước ở khu vực Đông Nam Á và bị chi phốibởi mối quan hệ giữa ASEAN và các nước Đông Dương
Các nước Đông Nam Á thời kỳ cận đại từng bị chủ nghĩa thực dân xâm lượcthống trị hàng trăm năm, nền kinh tế mang nặng những hậu quả nặng nề của chế độthuộc địa, nửa thuộc địa, phong kiến nên sau khi giành độc lập nền kinh tế các nước
Trang 38đều nghèo nàn lạc hậu, cơ cấu kinh tế què quặt mất cân đối, chủ yếu là nông nghiệpđộc canh, công nghiệp nhỏ bé, chủ yếu là khai thác nguyên nhiên liệu
Năm 1967, năm nước Đông Nam Á là Thái Lan, Indonesia, Malaysia,
Singapore, và Philippines đã thành lập một tổ chức liên kết của khu vực với tên gọiHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Tuyên bố Bangkok, bản Tuyên ngônthành lập ASEAN, đã nêu lên 7 điểm xác định mục tiêu của ASEAN là phát triểnkinh tế và văn hoá, hợp tác thúc đẩy tiến bộ xã hội của các nước thành viên trên tinhthần duy trì hoà bình và ổn định của khu vực
Chiến tranh lạnh chấm dứt đã tạo thời cơ thuận lợi cho các nước Đông Nam
Á xóa bỏ rào cản ngăn cách giữa các quốc gia trong khu vực Năm 1995 Việt Namgia nhập ASEAN, tạo ra bước ngoặt cho tổ chức này Năm 1997 Lào, Myanmar gianhập ASEAN
Như vậy, từ chỗ chỉ có Thái Lan là thành viên sáng lập của ASEAN, đến năm
1997 cả 4 nước thành viên của EWEC đều gia nhập ASEAN Đây là điều kiện hếtsức thuận lợi cho quá trình hợp tác kinh tế của các nước nằm dọc Hành lang kinh tếĐông Tây ở giai đoạn tiếp theo
Với sự kết thúc của cục diện Chiến tranh lạnh, trong quan hệ quốc tế đã bắt đầuxuất hiện xu thế hòa dịu, hòa hoãn Cả bốn quốc gia Myanmar, Thái Lan, Lào vàViệt Nam đều nhận thấy cần phải hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực để hướng tớimột nền kinh tế khu vực ổn định Do đó những bất đồng, nghi kỵ trước đây đã giảmdần và thay vào đó là tiến tới đối thoại, hợp tác cùng phát triển
Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, xu thế hợp tác, phát triển và hội nhập trởthành xu thế chủ đạo, thúc đẩy hợp tác Tiểu vùng sông Mekong Liên kết, phát triểnkinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, nguồn nước là những “động lực”thôi thúc các nước trong lưu vực sông Mekong tìm kiếm cơ chế hợp tác songphương và đa phương Trong bối cảnh đó, Chương trình hợp tác tiểu vùng Mekong
mở rộng (Greater Mekong Subregion – GMS) được hình thành vào năm 1992 theosáng kiến của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) [116, tr69]
Cả bốn nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam đều tham gia vào hợp tácGMS để phát huy những lợi thế của mình, đồng thời tranh thủ những nguồn lực bênngoài để thúc đẩy hợp tác, phát triển nền kinh tế đất nước Cho đến trước năm 1998,
Trang 39hợp tác kinh tế giữa Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam cùng với các thành viênkhác trong khuôn khổ GMS đã được triển khai những bước đầu tiên Trong giaiđoạn đầu của hợp tác GMS, các hoạt động chủ yếu là tham khảo ý kiến của từngchính phủ trong tiểu vùng, chuẩn bị dự thảo báo cáo khung của chương trình hợptác, xác định mục đích, nguyên tắc lựa chọn dự án, phạm vi, cơ hội, lợi ích, cơ chếhợp tác kinh tế giữa các nước trong Tiểu vùng, tổ chức các cuộc họp cấp cao, cácdiến đàn quốc tế Mục tiêu trước mắt của GMS là xúc tiến các hoạt động chungtrong các lĩnh vực có khả năng nhất như: hạ tầng cơ sở, thương mại đầu tư, du lịch,bảo vệ môi trường và phát triển nguồn nhân lực, tạo ra môi trường thuận lợi thúcđẩy hợp tác kinh tế giữa các nước thành viên của GMS.
Hợp tác kinh tế giữa Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam trước năm 1998còn được thể hiện thông qua các mối quan hệ kinh tế song phương của các nước nàyvới nhau Đặc biệt là quan hệ kinh tế song phương giữa hai nước có chung đườngbiên giới Thể hiện rõ nhất quan hệ kinh tế song phương của các nước thuộc EWEC
là quan hệ kinh tế Việt Nam - Lào
Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Lào đã có từ lâu trong lịch sử Tuy nhiên,
do đặc thù lịch sử và chính sách đối ngoại của mỗi nước, quan hệ kinh tế thời kỳ đóchủ yếu là thông qua việc giao thương, trao đổi hàng hóa của các cư dân vùng biêngiới Từ năm 1975, sau khi cả Việt Nam và Lào hoàn thành cuộc cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân, quan hệ ngoại giao kinh tế giữa hai nước đặc biệt được coi trọng.Đáng chú ý là từ khi Việt Nam và Lào ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác năm 1977,quan hệ kinh tế giữa hai nước mới thực sự có quy mô cấp Nhà nước
Quan hệ kinh tế Việt Nam – Lào cho đến trước năm 1998 đã có nhiều chuyểnbiến Nhất là từ sau khi Việt Nam và Lào tiến hành đổi mới, mở cửa nền kinh tế đốingoại vào năm 1986 Việt Nam và Lào đã đưa ra những chính sách phù hợp với tìnhhình quốc tế và khu vực thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai nước phát triển và đã thuđược những thành tựu đáng kể
Quan hệ thương mại Việt Nam - Lào được xác lập từ năm 1961, khi Chínhphủ hai nước ký Hiệp định thương mại, nhưng tới gần 30 năm sau việc trao đổi hànghóa theo Nghị định thư mới được giao cho một số doanh nghiệp hai nước thực hiện
Trang 40Việt Nam và Lào đã thực hiện công cuộc đổi mới đất nước vào năm 1986.
Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào giảm dần tính bao cấp, tập trung chuyển
sang sản xuất hạch toán kinh doanh cùng có lợi Hai nước vẫn dành cho nhau những
ưu tiên, ưu đãi để tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nước
Từ năm 1990 trở đi, công cuộc đổi mới ở Việt Nam và ở Lào đã đạt được
những thành tựu đáng kể, quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào đã thực hiện theo
phương hướng chiến lược, có kế hoạch, có chương trình hợp tác cụ thể và được thựchiện dưới nhiều hình thức (Hợp tác, liên doanh, liên kết, đầu tư, đấu thầu…) Đặc biệt,hai nước chú trọng dành ưu tiên cho nhau trong hoạt động đầu tư và thương mại
Ngày 15 tháng 02 năm 1992, Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ
thuật thời kỳ 1992 - 1995 đã được ký kết giữa Chính phủ hai nước Từ năm 1992 đến trước năm 1998, Chính phủ hai nước Việt Nam - Lào còn ký thêm nhiều thỏa
thuận, cơ chế chung về hợp tác kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ kinh tếgiữa hai nước phát triển và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Trên lĩnh vực đầu tư, thương mại giữa hai nước trong thời gian này có nhiềubước tiến quan trọng Về đầu tư, hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Lào đã có từnhững thập niên 80 của thế kỷ XX Nhưng lúc đó chủ yếu là Việt Nam viện trợ, giúp
đỡ Lào để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển đất nước theo phương châm:bạn cần gì, ta giúp được gì, hai bên cùng thực hiện Bước sang thập niên 90 của thế
kỷ XX, khi công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới thu được nhiềuthành quả đáng khích lệ, hai nước đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho cácdoanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Lào và cho các doanh nghiệp Lào đầu tư sangViệt Nam
Tóm lại, quan hệ kinh tế giữa bốn quốc gia Myanmar, Thái Lan, Lào và ViệtNam đã có từ xa xưa Nhưng do đặc điểm lịch sử phát triển của mỗi nước cùng vớibối cảnh quốc tế và khu vực chi phối nên mối quan hệ này chưa được quan tâm vàtập trung phát triển Cho đến trước năm 1998, quan hệ kinh tế giữa bốn quốc giabước đầu đã đạt được hiệu quả nhất định Tuy nhiên mối quan hệ này vẫn chưatương xứng với tiềm năng của cả bốn nước và chưa thực sự trở thành động lực thúcđẩy quan hệ toàn diện giữa Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam cũng như thúcđẩy quá trình hợp tác trong ASEAN Mặc dù vậy, những kết quả hợp tác kinh tế