MỞ ĐẦU 1 Xuất xứ dự án Trong những năm gần đây nguồn năng lượng điện của nước ta đang bị thiếu hụt nghiêm trọng Dự báo đến năm 2020 thì Việt Nam vẫn còn trong tình trạng thiếu điện bởi nguồn lực không[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Xuất xứ dự án
Trong những năm gần đây nguồn năng lượng điện của nước ta đang bị thiếu hụtnghiêm trọng Dự báo đến năm 2020 thì Việt Nam vẫn còn trong tình trạng thiếu điện bởi nguồn lực không đáp ứng kịp nhu cầu phát triển và không có nguồn điện dự phòng Bởi vậy, trong các giải pháp phát triển các loại hình nguồn điện để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, giải pháp tổng hoà giữa tận dụng tối đa các nguồn tài nguyên năng lượng trong nước, kết hợp giữa nhập khẩu điện, nhập khẩu than, khí đốt với tỷ trọng thích hợp với việc xây dựng nhà máy điện hạt nhận sẽ là giải pháp tối ưu
Công trình điện hạt nhân Lao Cai thuộc xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Caivới công suất 4000MW, diện tích 100ha do tập đoàn điện lực Việt Nam làm chủ
dự án theo phương thức: vay vốn và bán điện
Thực hiện luật bảo vệ môi trường đã được Quốc hội Việt Nam thông qua, việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (viết tắt là báo cáo ĐTM) là một trong các bước cần thiết và quan trọng trình lên Bộ Tài nguyên và môi trường phê duyệt
2 Căn cứ pháp luật và kỹ thuật của việc thực hiện ĐTM
Cơ sở pháp lý:
Luật BVMT số 55/2014/QH13
Nghị định số 18/2015/NĐ-CP Quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Thông tư 27/2015/TT-BTNMT Về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Thông tư 10/2016/TT-BKHCN Quy định nội dung Báo cáo phân tích an toàn trong hồ sơ đề nghị cấp phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân
Các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường (đất, nước, không khí…)
Nghị định số 47/2014 NĐ-CP Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Trang 2 Chủ dự án: TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM (EVN)
Trụ sở chính của tập đoàn nằm tại số 11 phố Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, TP HÀ NỘI
Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án điện hạt nhân giai đoạn dự
án đầu tư do Ban quản lý dự án điện hạt nhân chủ trì thực hiện và công tư chịu trách nhiệm lập báo cáo là công ty TNHH tư vấn môi trường Nhóm 9
Cơ quan tư vấn: Công ty TNHH tư vấn môi trường Nhóm 9
Tổng giám đốc: Trần Thị Tuyết Trinh
Địa chỉ liên hệ: 490 Lý Thái Tổ, P10, Q10, Tp.HCM
Điện thoại: 01648621381
CHƯƠNG 1: MÔ TẢ TÓM TẮT DỰ ÁN
1.1 Tên dự án
TÊN DỰ ÁN: Dự án điện hạt nhân Lào Cai
Địa điểm: Xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
1.2 Chủ dự án
CHỦ DỰ ÁN: TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM (EVN)
Trụ sở chính của tập đoàn nằm tại số 11 phố Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, TP HÀ NỘI
Trang 3Chủ tịch hội đồng thành viên: Dương Quang Thành
Vị trí quy hoạch dự án gồm có 68 hộ dân trong đó có 1 trường tiểu học Cốc
Ly Còn lại phần lớn là đất rừng nên rất phù hợp cho việc quy hoạch để xây dựng nhà máy điện hạt nhân
1.4 Nội dung chủ yếu của dự án
1.4.1 Mục tiêu của dự án
Nhà máy điện hạt nhân Lào Cai được quy hoạch quy mô 4 tổ máy, với công suất khoảng 4000MW nhưng chia làm 2 giai đoạn, mỗi giai đoạn lắp đặt 2 tổ máy Nhà máy do Nga thực hiện sẽ được xây dựng bằng công nghệ lò phản ứngVVER 1200
Tuổi thọ thiết kế của nhà máy điện hạt nhân là 50 năm Nếu bảo dưỡng đầy
đủ sẽ có thể kéo dài vận hành tới 60 năm Nếu vận hành trong thời gian dài và sớm kết thúc thời gian hoàn vốn thiết bị, thì chi phí phát điện sẽ giảm
Việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân thường tốn chi phí rất lớn nhưng khi vận hành lại rất thấp, tuổi thọ đến 60 năm Khi hoàn thành, nhà máy điện hạt nhân Cốc Ly ở lào Cai sẽ có 4 tổ máy với tổng công suất khoảng 4000 MW, đóng góp khoảng 3-4% trong tổng nhu cầu điện năng của cả nước
Dự án khi vận hành sẽ bổ sung vào lưới điện quốc gia gần 4triệu kWh/năm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của khu vực, mở ra
Trang 4hướng phát triển mới (Giao thông, sử dụng điện, nuôi trồng thuỷ cầm thuỷ sản,
du lịch ) đến các vùng sâu, vùng xa của Lào Cai
1.4.2 Khối lượng và quy mô của các hạng mục dự án
1.4.2.1 Quy trình sản xuất điện trong nhà máy điện hạt nhân
Hình: Quy trình sản xuất điện trong nhà máy điện hạt nhân
1.4.2.2 Cấu tạo lò phản ứng điện hạt nhân
Hình: Cấu tạo nhà máy điện hạt nhân
ĐẢO hạt nhân là trái tim của nhà máy Nó chứa các hệ thống hạt nhân sản
sinh ra hơi nước (NSSS - hơi hạt nhân cung cấp hệ thống) Đảo hạt nhân ở 1.3 m
Trang 5bê tông cốt thép dày được thiết kế để chịu được bất kỳ (rất khó) nội vụ nổ, động đất, lũ lụt và chứa rò rỉ chất phóng xạ từ các rào cản trong cùng (nhiên liệu và mạch chính)
Ngoài ra, lò phản ứng được bảo vệ bởi một cấu trúc thứ hai bê tông cốt thép, dày 1,3 m, được thiết kế để chịu được tác động của các máy bay dân dụng lớntrong trường hợp xảy ra tai nạn/ tấn công khủng bố
Bên trong nó, mạch chính bao gồm các yếu tố sau:
Các lò phản ứng: chứa các nhiên liệu hạt nhân và các hệ thống kiểm soát
Các máy bơm: cho hơi nóng mang theo chất lỏng, đảm bảo lưu thông của chất lỏng làm mát (nước)
Tạo áp: được sử dụng để kiểm soát áp suất bên trong mạch chính
Các máy phát điện hơi nước, nơi nhiệt được trao đổi giữa các mạch chính vàmạch thứ cấp mà các ổ đĩa máy phát điện tuabin
Các mạch chính được chia thành bốn vòng độc lập, mỗi vòng một máy phát điện hơi nước và máy bơm
Ống khói: Các ống khói có chiều cao 110m và có khoảng 500 tấn vật liệu
cấu trúc bao gồm làm việc bằng thép, gạch và hai ống khói giống hệt nhau trong cấu trúc bao gồm một đường kính 14m
Hệ thống dẫn nước: Cài đặt bốn ống dẫn nước đầu vào và đầu ra dưới một
con kênh làm mát nhà máy hạt nhân nhằm mục đích làm kín nước và củng cố đất dưới kênh làm mát nhà máy hạt nhân của để chìm bốn ống đường kính 3,80 m và
độ dày 1 m, chiều dài 18 m và chiều rộng 6,5 m, tiếp cho mỗi ống
Các công trình chính
Các giải pháp công nghệ được thực hiện trong các thế hệ trước bao gồm: (1) Lò phản ứng được phát triển trên cơ sở thiết kế V-392 với đường kính thùng lò tăng lên; (2) Bình sinh hơi được phát triển trên cơ sở thiết kế PGV-1000M với tăng đường kính vỏ và không gian hành lang đặt các ống trao đổi nhiệt trong các bó ống; (3) Sử dụng bơm chất tải nhiệt GCNA-1391
Lò phản ứng:
Trong thiết kế VVER-1200, lò phản ứng (Hình 1) là một thùng chịu áp thẳngđứng với bộ phận chụp trên đỉnh được gọi là khoang trên và chứa bên trong các bộ phận gồm hệ thống ống dẫn thanh điều khiển Thùng lò chứa vùng hoạt bao gồm
163 bó nhiên liệu, các thanh điều khiển và các sensor đo đạc trong vùng hoạt Hộp điều khiển được lắp đặt trên đầu lò Các hệ thống điện từ được thiết kế cho sự
Trang 6chuyển động của các thanh điều khiển đi vào vùng hoạt được gắn chặt bên ngoài hộp điều khiển.
Lò phản ứng được bố trí trong khoang bê tông với một hệ thống che chắn nhiệt và bảo vệ sinh học cùng hệ thống làm mát Thùng lò được tựa và gắn chặt bởivòng đai cố định trong khung đỡ Vòng đai ép này được lắp trên mặt bích thùng lò
sẽ giữ cho thùng lò không bị dịch chuyển theo phương ngang Lò phản ứng gắn bên trong khoang bê tông để giữ cho nó khỏi dịch chuyển khi có tác động địa chấn
và khi vỡ đường ống Khoang bê tông, các thiết bị điện, bộ phận đo đạc trong vùnghoạt và bộ điều khiển được làm mát bằng không khí
Vùng hoạt lò phản ứng chứa 163 bó nhiên liệu (FA) Các FA được thiết kế cho mục đích phát nhiệt và truyền nhiệt từ bề mặt thanh nhiên liệu đến chất làm mát trong quá trình phục vụ mà không vượt quá các giới hạn thiết kế cho phép về
sự sai hỏng thanh nhiên liệu Chiều cao danh định của các FA là 4570 mm Khi lò phản ứng ở tình trạng nóng thì chiều cao phần phát năng lượng của thanh nhiên liệu là 3750 mm Mỗi FA chứa 312 thanh nhiên liệu Ngoài ra, FA còn bao gồm 18kênh dẫn, mỗi FA có 13 lưới giữ cùng với phần đầu và chân tạo nên cấu trúc vững chắc của bó Vỏ bọc thanh nhiên liệu làm bằng hợp kim zirconi 1% niobi Bên
Trang 7trong vỏ nhiên liệu sắp xếp các viên gốm UO2 với độ làm giàu tối đa 5% Độ dẫn nhiệt tuyến tính trung bình của thanh nhiên liệu là 167,8 W/cm.
Vùng hoạt được bố trí với 121 cụm thanh điều khiển (RCAA) Chúng được
sử dụng với mục đích triệt tiêu phản ứng phân hạch, duy trì công suất tại mức độ được chỉ định và các mức chuyển tiếp của lò, cân bằng vùng công suất theo trục, triệt tiêu sự dao động của nồng độ xenon Cơ chế điều khiển chuyển động của RCAA được sử dụng bằng sự truyền động điện từ Thời gian hiệu quả tối đa của vận hành FA giữa các kỳ đảo thanh nhiên liệu đối với một chu trình nhiên liệu 12 tháng là 8400 giờ hiệu dụng Độ cháy trung bình của một thanh nhiên liệu đã cháy lên đến 60MWD/kgU Hàng năm 42FA mới được nạp vào trong vùng hoạt cho một chu trình nhiên liệu
Bình sinh hơi
Bình sinh hơi trong thiết kế VVER-1200 (V-491) có ký hiệu PGV-1000MKP gồm các thành phần: bộ sinh hơi, vòi phun hơi, khung đỡ, bộ hấp thụ, các bộ phận phụ trợ cho khung đỡ và bộ hấp thụ
Bản thân bình sinh hơi là một thiết bị trao đổi nhiệt thùng đơn nằm ngang với
bề mặt truyền nhiệt được phủ kín và gồm các bộ phận chính là các vòi phun với nhiều mục đích khác nhau, các bó trao đổi nhiệt với các bộ phận chốt và đệm giữa, các bộ thu hồi chất tải nhiệt sơ cấp, các hệ thống phân phối, cấp nước ở hai tình trạng thông thường và khẩn cấp, đĩa đục lỗ chìm, bộ cấp hóa chất
Việc áp dụng bình trao đổi nhiệt dạng nằm ngang làm giảm chiều cao của nhà
lò và như vậy cải thiện được mức độ chịu đựng của nhà lò do địa chấn
Bình sinh hơi (Hình 3) có kích thước dài 13820 mm, đường kính bên trong 4200mm với hai đầu hình elip được hàn vào hai gờ thùng hình trụ Vật liệu chế tạo
vỏ bình sinh hơi là thép 10GN2MFA Bộ thu hồi chất tải nhiệt sơ cấp là một hình trụ thành dày có chiều cao tổng 5100 mm với đường kính và độ dày thay đổi, đường kính lớn nhất là 1176 mm tại chiều dày thành là 171mm Vật liệu chế tạo bộphận này cũng là thép 10GN2MFA Bề mặt trong được phủ lớp chống ăn mòn Trong bộ thu hồi có 10978 lỗ với đường kính danh định 16,25 mm Các lỗ này được bố trí theo cách chữ chi Các đinh tán kết nối các bộ phận là loại M60 bằng thép 38KhN3MFA và các đai ốc được làm bằng thép 25Kh1MF Trên bộ thu hối được gắn 3 ống ngắn, trong đó 2 ống nhằm mục đích dẫn nước ra khỏi bộ thu hồi liên tục hoặc định kỳ, 1 ống đường kính danh định 30 mm được gắn vào bộ phận tưới rửa làm sạch bộ thu hồi
Trang 8Bề mặt trao đổi nhiệt gồm 10978 lỗ kích thước 16x5 mm (vật liệu thép
08Kh18N10TU) Mỗi bó ống trao đổi nhiệt gồm các ống nhỏ xoắn ruột gà hình chữ U Các ống này cũng sắp xếp theo hình chữ chi Để đảm bảo khả năng tháo nước hoàn toàn của các ống, các ống ruột gà được bố trí xiên về hướng bộ thu hồi Các ống trao đổi nhiệt được đặt cách nhau bằng khoảng trống và các đĩa phẳng để tạo ra vị trí ống đều đặn trong các bó trao đổi nhiệt
Trang 9 Bơm chất tải nhiệt lò phản ứng (Hình 4)
Bơm chất tải nhiệt (RCP) được thiết kế để tạo ra sự lưu thông chất tải nhiệt sơ cấp trong thiết bị lò phản ứng Bộ RCP còn có chức năng nữa là cung cấp sự lưu thông chất tải nhiệt dưới bất kỳ tình trạng sự cố mất điện nào Điều này là do với cấu tạo có bánh đà cho phép sự giảm tốc độ dòng chảy chậm dần khi dừng bơm.RCP là loại bơm một tầng ly tâm thẳng đứng ký hiệu GtsNA-1391 có một vỏ bọc cứng trong nước, các thành phần bên trong bơm, động cơ điện, các ống lồng trên và dưới, khung đỡ và các hệ thống phụ trợ Các thông số chính vận hành của RCP là: trở lực - 0,588 MPa, lưu lượng - 21500 m3/giờ, tốc độ quay - 1000/750 vòng/phút, tần số 50 Hz, nhiệt độ chất tải nhiệt 298,2oC
Đường ống dẫn chất tải nhiệt chính
Trang 10Đường ống dẫn chất tải nhiệt chính nối với lò phản ứng, các bình sinh hơi và các bộ bơm chất tải nhiệt lò phản ứng nằm trong hệ thống làm mát lò và được thiết
kế để thực hiện sự lưu thông chất tải nhiệt từ lò đến bình sinh hơi và ngược lại (Hình 5) Khái niệm “Rò rỉ trước khi vỡ” được sử dụng trong thiết kế để nâng cao mức cảnh báo trong công tác đảm bảo an toàn cho hệ thống Các kinh nghiệm nhiều năm trong sự phát triển thiết kế và vận hành tại các NMĐHN được áp dụng trong tiến trình xây dựng và thiết kế
Hệ thống tải nhiệt gồm 4 vòng lưu thông Mỗi vòng được chia thành ba phần ống tách biệt Phần ống dẫn chất tải nhiệt từ lò phản ứng vào bộ thu hồi của bình sinh hơi là ống dẫn nóng (hot leg) Ống dẫn lạnh (cold leg) gồm hai phần: nhánh ống hút chất tải nhiệt từ bình sinh hơi ra đi đến RCP và nhánh ống dẫn chất tải nhiệt đi vào lò phản ứng từ RCP Đường kính bên trong ống dẫn được lựa chọn bằng 850 mm xuất phát từ khả năng có thể chấp nhận được vận tốc chất tải nhiệt
và tổn thất áp lực trong đường ống tương ứng với dải thiết kế về lưu lượng chất tải nhiệt
Ống dẫn nóng của vòng 4 qua một ống dẫn được gắn vào bình điều áp Ống dẫnlạnh của vòng 3 được nối đến bình điều áp qua một ống đường kính nhỏ hơn (ống phun)
Bề mặt ngoài của hệ thống tải nhiệt được ngăn chặn sự tổn thất nhiệt trong quá trình vận hành lò phản ứng bằng các tấm cách nhiệt có thể tháo dời
Bình điều áp
Bình điều áp là một thùng hình trụ chịu áp đặt vị trí thẳng đứng với các đáy hình elip được đặt trên khung đỡ hình trụ Kích thước và các thông số điển hình của bình điều áp được thể hiện trong Hình 6
Trang 11Hình 6: Máy biến áp
Trang 12 Các hệ thống xử lý và lưu giữ nhiên liệu hạt nhân
Liên hợp hệ thống xử lý và lưu giữ nhiên liệu hạt nhân là một tập hợp các hệthống, thiết bị và các thành phần được thiết kế cho công tác lưu giữ nhiên liệu, nạp,tháo dỡ, vận chuyển và kiểm soát nhiên liệu Khu liên hợp này bao gồm một số hệ thống và thiết bị dưới đây để thực hiện toàn bộ qui trình xử lý nhiên liệu tại chỗ:+ Hệ thống xử lý và lưu giữ nhiên liệu hạt nhân mới
+ Hệ thống đảo thanh nhiên liệu
+ Hệ thống lưu giữ nhiên liệu đã qua sử dụng trong nhà lò
+ Hệ thống vận chuyển nhiên liệu tại chỗ gồm toàn bộ các qui trình bắt đầu với từ tiếp nhận xe phân phối nhiên liệu mới đến gửi đi xe chở nhiên liệu đã sử dụng
Sự sắp xếp hệ thống ghi chép quản lý nhiên liệu hạt nhân tại chỗ của hệ thống
Hệ thống ni tơ áp suất cao được thiết kế để cung cấp ni tơ tại áp suất
5,9±0,05 MPa đến các đối tượng sử dụng của nhà lò tại điều kiện vận hành NMĐHN bình thường
Các hệ thống lọc và thổi khí được thiết kế để khử và làm sạch môi trường khí ra khỏi thiết bị
Hệ thống khử khí hydro (đốt cháy hoặc tái kết hợp) được thiết kế để ngăn chặn nồng độ hydro lớn có khả năng gây nổ trong nhà lò
Hệ thống thông khí trong nhà lò được thiết kế để đẩy môi trường khí không mong muốn ra khỏi nhà lò và cung cấp ni tơ để pha loãng hydro Các hệ thống phụ trợ này cũng được thiết kế để phục vụ cho quá trình vận hành bình thường NMĐHN
Trang 13của sự quá áp trong trường hợp sự cố Lớp kim loại trên bề mặt trong chỉ cung cấp
sự kín khí trong trường hợp này Lớp vỏ ngoài cùng được làm bằng bê tông thông thường nhằm bảo vệ lớp vỏ bên trong là kết cấu bê tông cốt thép có dạng hình trụ với vòm hình bán cầu Đường kính của kết cấu hình trụ là 44 m, cao 42,2 m và bề mặt bên trong vòm đạt tới cốt 68,60 m
Không gian chứa các cấu trúc bên trong nhà lò được giới hạn bởi lớp vỏ trong và tấm nền làm bằng bê tông cốt thép nguyên khối Nhà lò chứa khoang lò phản ứng,
bể chứa nhiên liệu đã qua sử dụng và giếng kiểm tra nội tại, ba lớp sàn trung gian, kết cấu tường và cột
• Nhà bảo vệ được thiết kế để chứa thiết bị, đường ống dẫn của hệ thống làm mát vùng hoạt khẩn cấp, hệ thống giàn phun nhà lò, hệ thống nước làm mát thiết bị, hệ thống cung cấp boron khẩn cấp, hệ thống tạo và duy trì sự loãng khí trong không gian nhà lò
• Nhà phụ trợ chứa các hệ thống phụ trợ, các hệ thống lọc khí và nước, các hệ thống chứa/thu hồi thải phóng xạ lỏng và các thiết bị thông hơi cho khu vực lối vàođược kiểm soát
• Nhà kiểm soát được thiết kế để chứa các hệ thống truyền thông, đo đạc và kỹ thuật điện để cung cấp sự kiểm soát nhà máy trong các điều kiện vận hành bình thường và sự cố
• Nhà tuốc bin được thiết kế để chứa hệ thống và thiết bị liên quan đến sự phát năng lượng Nhà tuốc bin được bố trí dọc trục lò phản ứng Giữa nhà tuốc bin và nhà lò được thiết kế một hành lang chống lửa
• Nhà hệ thống cung cấp điện thông thường được thiết kế để chứa các hệ thống kỹ thuật điện và hệ thống điều khiển và đo lường (I&C) ở điều kiện vận hành thông thường
• Ngoài các bố trí thiết bị trong hệ thống VVER-1200 (V491) nêu trên, ở đây còn
có các thiết bị cần thiết khác như xà lim hơi chứa các hệ thống cấp nước và hệ thống bảo vệ khỏi sự quá áp của các bình sinh hơi, nhà lưu giữ thải phóng xạ rắn
và nhiên liệu mới, nhà phục vụ hạt nhân với vùng nghỉ của khu vực lối vào được kiểm soát, các trạm phát điện diezel để đảm bảo duy trì sự hoạt động của các thiết
bị chính khi mất điện lưới
Trang 14Hình 7: Mặt bằng bố trí thiết bị trong hệ thống (V491)
1.4.3 Biện pháp, khối lượng thi công xây dựng các công trình của dự án
Hoạt động thi công:
Bao gồm: máy ũi:20 chiếc
Xe chở đất cát: 200 chiếc
Xe mút đất cát:30 chiếc
Xe cần cẩu: 20 chiếc
Số lượng công nhân tại công trình là 1000 người
Kế hoạch thi công, công trình:
San lấp mặt bằng, làm hệ thống giao thông để xe vận chuyển nguyên vật liệu
Làm hệ thống hàng rào để bảo vệ, sau đó thi công đổ bê tông làm hệ thống móng cho các lò hạt nhân, rồi xây dựng các lò phản ứng hạt nhân
Sau đó xây dựng các tường bảo vệ để tránh các bức xạ từ lò phản ứng
Xây các nhà điều hành, các công trình liên quan tới nhà máy điện
1.4.4 Công nghệ sản xuất, vận hành
Trang 15LÒ NƯỚC NHẸ ÁP LỰC PWR - PRESSURIZED WATER REACTOR
Đây là kiểu lò phổ biến nhất với trên 230 lò hiện đang vận hành trên khắp thế giới Thiết kế cơ bản của loại lò này có nguồn gốc từ các lò phản ứng hạt nhân sử dụng trong các tầu ngầm hạt nhân Chúng sử dụng nước thường làm chất tải nhiệt và làmchậm Thiết kế khác biệt mang tính điển hình của loại lò này là dùng nước trong chu trình làm nguội vòng một đi qua tâm lò với áp suất rất cao và chu trình thứ hai được sử dụng là hơi được sinh ra để chạy tuôc bin
LÒ NƯỚC SÔI BWR - BOILING WATER REACTOR
Về mức độ phổ biến cũng như các hãng cung cấp, các nước sử dụng thì lò nước sôi BWR chỉ đứng sau lò nước áp lực PWR Nguyên lý thiết kế và hoạt động căn bản của các lò nước sôi là sử dụng chu trình trực tiếp Nước trong vùng hoạt lò phản ứng được làm sôi nhờ phản ứng phân hạch và sinh ra hơi nước trực tiếp chạy tuôc bin máy phát Nước trong thùng lò bao gồm hai phần: nước và hơi nước, do
đó việc sử dụng chu trình trực tiếp thể hiện sự khác biệt với các công nghệ khác ở những đặc tính cơ bản sau:
- Không có máy sinh hơi (chu trình trực tiếp)
- Giảm được áp lực trong lò trong khi vẫn đạt được hiệu suất cao
- Phần lưu chuyển của các vật chất phóng xạ rộng hơn
TUABIN HƠI NƯỚC
Trang 16Hơi nước áp suất cao được đưa qua một bộ vòi phun cố định trong stato tuabin cánh quạt tuabin (Á hậu) và đi dọc theo trục của máy thông qua nhiều hàng của lưỡi luân phiên cố định và di chuyển Từ cổng đầu vào hơi của tuabin hướng tới điểm xả, lưỡi và khoang tuabin đang dần lớn hơn để cho phép mở rộng của hơi nước.
Các cánh stato trong mỗi hành giai đoạn như vòi phun trong đó hơi mở rộng và xuất hiện tại một tốc độ tăng nhưng áp lực thấp hơn Khi chạm hơi tốc độ cao trên lưỡi di chuyển nó truyền đạt một số động năng của nó để các lưỡi dao
Có hai tuabin hơi nước loại cơ bản, tua bin xung lực và tua bin phản ứng, có cánh được thiết kế kiểm soát tốc độ, hướng và áp suất của hơi nước như là đi qua tuabin
Để giảm lực dọc trục trên các vòng bi rotor tuabin hơi nước có thể được đưa vào các tua bin ở điểm giữa dọc theo trục để nó chảy theo hướng ngược nhau đối với mỗi đầu của trục do đó cân bằng tải trọng trục
Hơi nước đầu ra được đưa qua một tháp làm mát thông qua đó nước làm mátđược thông qua để ngưng tụ hơi nước trở lại với nước
Trang 17Nguồn: Chính phủ Úc
MÁY PHÁT ĐIỆN
THÔNG SỐ KỸ THUẬT CƠ BẢN CỦA MÁY PHÁT ĐIỆN CUMMINS 60KVAModel: CMHH60 (Động cơ Cummins - tiêu chuẩn Mỹ+ Đầu Phát Stamford - Tiêu chuẩn Anh + Tủ ATS - Việt Nam)
Năm sản xuất: 2012
Công suất liên tục / Dự Phòng: 55 kva / 60 Kva.
Xuất xứ: Nhà máy Cummins (USA) chính hãng tại Trung Quốc, Singapore, Ấn
Độ, Mỹ
Động cơ: Do hãng Cummins Engine thuộc tập đoàn Cummins Inc (Mỹ) sản xuất Đầu phát: Stamford do hãng Cummins Generators Technology thuộc tập đoàn
Cummins Inc (Mỹ) sản xuất
Bảng điều khiển: Bảng điều khiển LCD hiệu COMAP xuất xứ Châu Âu: Hiển thị
các thông số kỹ thuật, quản lý quá trình chạy máy, Điều khiển ECU, Bảo vệ máy trong quá trình chạy khi gặp sự cố trong quá trình chạy máy Giúp bảo vệ máy phát
và giúp cho quá trình giải quyết sự cố được nhanh chóng và chính xác
Vỏ chống ồn: Nhập khẩu đồng bộ theo máy, Sản xuất theo tiêu chuẩn chống ồn
G7: Theo tiêu chuẩn thiết kế của nhà máy Cummins chịu được mọi thời tiết, đảm bảo độ ồn thấp nhất (dBA <=70 ở khoảng cách 7m) (Đảm bảo đồ ồn trong khu vựccông cộng & đông dân cư), quá trình vận hành bảo trì dễ dàng với các cánh cửa lớn
ở 2 bên Hệ thống xả khí đúng tiêu chuẩn phù hợp với khu vực đông dân cư
Hệ thống điện khởi động: Acquy– 24 V Động cơ khởi động kiểu dọc trục, ắc qui
được nạp lại điện từ máy phát, ắcqui axit chì công suất cao, khay đựng ắc qui đượclắp trên khung của máy phát và cáp nối thông nhau
Điện áp: 220-380V
Số pha: 3 pha – 4 dây.
Tần số: 50Hz / 60Hz
Trang 18Tải từ 0-100%, Dao động tần số trong khoảng 0.25%
Ba pha cân bằng tải trọng khoảng 5%
Tác động của sóng viễn thông: TIF < 50, THF < 2% ( theo tiêu chuẩn IEC60034) Đặc tính kỹ thuật cơ bản của sự đồng bộ hóa:
Nhập khẩu đồng bộ, nguyên đai, nguyên kiện
Tiết kiệm nhiên liệu: Sử dụng bộ điều tốc điện tử, nhiên liệu tiêu hao sẽ tùy vào tần suất sử dụng
Có khả năng vượt tốc cao đối với một số motor có hệ số dòng đề lớn
Hệ thống thông gió gồm các bộ phận chủ yếu sau: quạt, các bộ chặn
(damper) cùng van khí, hệ lọc khí (purging unit), thiết bị làm lạnh (chiller) và đường ống dẫn
Thiết bị quạt là bộ phận trung tâm trong hệ thông gió của lò phản ứng Hầu hết quạt được sử dụng trong thiết bị hạt nhân là quạt ly tâm, quạt chân vịt và quạt trục Quạt thông gió được yêu cầu có các thông số vận hành về lưu lượng, áp lực đáp ứng chức năng tuần hoàn dòng khí tại các khu vực Quạt ly tâm truyền động thẳng (H.1) thường được lựa chọn do có ưu điểm chịu được nhiệt độ, độ ẩm cao
mà không bị hỏng hóc hoặc giảm hiệu suất Quạt thông gió không yêu cầu tạo ra
áp lực cao mà cần tạo ra vận tốc lớn để vận chuyển một lượng lớn khí trong đường ống
Các thiết bị làm lạnh là một hệ máy gồm các bộ phận chính như bộ nén khí,
bộ bay hơi trao đổi nhiệt và bộ ngưng tụ trao đổi nhiệt Mục đích của thiết bị làm lạnh là cung cấp nước lạnh để làm mát không khí trong các phòng theo yêu cầu
Đường ống dẫn có nhiệm vụ dẫn dòng khí từ bên ngoài qua quạt đến các khuvực cần thông gió, hoặc từ các khu vực cần thông gió qua quạt đến ống khói ra ngoài Đường ống dẫn khí thường có tiết diện hình chữ nhật và thành ống có thể chịu được áp lực bên ngoài do sự cố gây ra đến 414 kPa (60 psi) Ống dẫn khí hàn
Trang 19kín sẽ ít rò rỉ hơn là ống ghép bằng kim loại tấm Vật liệu chế tạo ống thường đượclựa chọn là thép không gỉ hoặc thép cacbon.
Nhà máy điện hạt nhân được lựa chọn phương án thiết kế an toàn tối ưu Nó được thiết kế để sao cho dù có phát sinh tai nạn thế nào chăng nữa cũng không gây thiệt hại, tổn thất cho cư dân sống xung quanh Có thể nói rằng, một nửa nhà máy điện hạt nhân là các thiết bị an toàn Do đó, chi phí cao cho các thiết bị đó là đươngnhiên Hơn nữa, trong quá trình xây dựng, người ta tiến hành kiểm tra gắt gao ở từng công đoạn, để đảm bảo an toàn, nên thời gian xây dựng cũng khá dài Việt Nam nếu xây dựng sẽ cần khoảng 5 năm
Chi phí xây dựng cho nhà máy điện hạt nhân so với nhà máy nhiệt điện tương đối cao Nhưng khi xây dựng xong và bước vào vận hành, thì nhà máy điện hạt nhân có những ưu điểm như sau: nhà máy điện hạt nhân, việc thay đổi công suất ứng với phụ tải khá đơn giản về mặt kỹ thuật, hơn nữa, do tỷ lệ chi phí nhiên liệu trong giá thành thấp, nên có lợi về kinh tế trong vận hành phụ tải đáy
Thiết bị phòng cháy chữa cháy.
Thiết bị này có cấu tạo gồm: một bể chứa nước, các bình khí CO2 được nén và kết nối qua hệ thống đường ống, chất tạo bọt, điểm cuối là “mắt” báo cháy (thiết bịcảm biến) dùng để khởi động các van Khi có cháy, nhiệt độ tăng lên thì “mắt” báo cháy sẽ tự động mở van, áp suất từ các bình khí sẽ tự động đẩy nước đi Ngoài ra, khi xảy ra sự cố có thể phun nước hoặc bọt CO2 để chữa Thiết bị này còn dùng các chất chữa cháy như Nitơ, CO2, bọt, nước nên chỉ chưa đầy 3 giây sau khi có cháy, máy đã phun chất chữa cháy thích hợp để dập lửa, hạn chế tối đa thiệt hại các
thiết bị và cơ sở vật chất do cháy gây 24h/ngày, thì có thể khai thác được 100%
ưu thế của nhà máy điện hạt nhân
Hệ thống xử lý chất thải khí phóng xạ:
Xử lý dòng thải khí là thực tế phổ biến ở tất cả các nhà máy điện hạt nhân Đầu tiên, khí thải được hệ thống thông gió thổi qua bộ lọc để loại bỏ các hạt có phóng xạ trước khi thải qua ống khói vào khí quyển Thông gió và hệ thống làm sạch không khí thường sử dụng các bộ lọc thô trước tiếp theo bộ lọc hạt - không khí hiệu quả cao (HEPA) Chúng có hiệu quả loại bỏ hạt điển hình tới 99,9% hoặc tốt hơn cho hạt 0,3 mm.h & Giáo trình Liên hệ
I-ốt phóng xạ phát sinh từ hoạt động của nhà máy điện được thường xuyên loại bỏ bằng các thiết bị lọc có than đã được ngâm tẩm, sử dụng kết hợp với các bộ lọc hình chùy
Vì các loại khí phóng xạ trơ được sinh từ các viên nhiên liệu với một lượng nhỏ và chủ yếu là có chu kỳ bán rã ngắn, việc trì hoãn phát thải các khí này sẽ cho phép
Trang 20xảy ra các quá trình phân rã phóng xạ để làm giảm đáng kể lượng phát thải vào chomôi trường Hai kỹ thuật trì hoãn được sử dụng là: lưu trữ trong các thùng chứa đặc biệt hoặc thổi qua lớp đệm than để trì hoãn phát thải Để lưu trữ chờ phân hủy, khí hiếm và khí mang chúng đầu tiên được bơm vào bình chứa khí sau đó được niêm phong Sau một thời gian lưu trữ từ 30 đến 60 ngày, thành phần của các thùng chứa được thông ra môi trường khí quyển bằng hệ thống quạt thông gió Nếumức phát thải là chưa chấp nhận được thì thời gian lưu trữ sẽ được kéo dài.
Lớp đệm làm chậm bao gồm một số thùng chứa chất đầy than để làm chậm sự
di chuyển của khí hiếm trong dòng khí mang và cho phép sự phân rã phóng xạ có hiệu lực
Hệ thống xử lý chất thải rắn phóng xạ
Trong quá trình vận hành nhà máy điện hạt nhân, các loại chất thải rắn khô có chứa chất phóng xạ được tạo ra Bản chất của các chất thải khác nhau đáng kể ở các vị trí khác nhau và có thể bao gồm các phần thải ra từ nhà lò phản ứng, bộ lọc
hệ thống thông gió, tấm trải sàn, dụng cụ bị nhiễm bẩn… Một nguồn chất thải rắn khác là sự tích tụ của giấy, nhựa, cao su, vải vụn, quần áo, kim loại, được sử dụng trong vận hành và bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân Tùy thuộc vào tính chất vật
lý và các phương pháp xử lý tiếp theo, chất thải rắn khô thường được phân loại thành bốn loại chính: chất thải dễ cháy, không gây cháy, nén được, và không nén được Tuy nhiên, mỗi cơ sở thường có mức độ phân loại của riêng mình tùy theo điều kiện trang thiết bị hiện có:
Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc xử lý chất thải rắn là giảm càng nhiều càng tốt thể tích chất thải cần được lưu trữ và chôn cất Chất thải phóng
xạ rắn tại các nhà máy điện hạt nhân bao gồm một phổ rộng các vật liệu và hình dạng, không có kỹ thuật duy nhất nào có thể xử lý thỏa đáng các chất thải này; thường phải sử dụng kết hợp các kỹ thuật xử lý Kỹ thuật cơ bản và phổ biến nhất được sử dụng để xử lý hầu hết chất thải rắn là phương pháp nén chặt Phương phápnày làm giảm khối lượng lưu trữ và chôn cất với yêu cầu chấp nhận được nhưng đạt được một chút về mặt cải tiến các đặc tính của chất thải về quan điểm quản lý dài hạn
Kinh nghiệm cho thấy rằng từ 50% - 80% chất thải phóng xạ rắn được sinh ra tại nhà máy điện hạt nhân có thể được phân loại là chất thải có thể thiêu đốt Đốt rác thải này đại diện cho một sự cải thiện đáng kể so với quan điểm nén ép đơn giản Phương pháp đốt có giảm thể tích và giảm khối lượng rất cao Sản phẩm cuốicùng là dạng tro đồng nhất, có thể được đóng gói mà không cần ổn định hóa tiếp
Trang 21theo trong các thùng chứa để lưu trữ và chôn cất Trong khi đốt chỉ thích hợp cho các chất thải dễ cháy, nó có lợi thế là có khả năng phá hủy các chất lỏng hữu cơ, ví dụ: các loại dầu, mỡ hoặc dung môi, mà nếu không rất khó xử lý.
Hệ thống xử lý chất thải lỏng phóng xạ:
Phương pháp kết tủa hóa học dựa trên nguyên tắc kết tủa-keo tụ được sử dụng chủ yếu trong các nhà máy điện hạt nhân để xử lý các chất lỏng, nước thải với hoạt độ thấp, hàm lượng muối cao và có chứa bùn Hiệu quả của chúng phụ thuộc vào thành phần hóa học và hoá phóng xạ của chất thải lỏng Hầu hết các hạt nhân phóng xạ có thể được kết tủa, đồng kết tủa, hấp phụ bởi các hợp chất không hòa tan như: hydroxit, cacbonat, photphat, và ferrocyanides, và do đó được lấy ra khỏi dung dịch Các kết tủa cũng kéo theo các huyền phù lơ lửng khỏi dung dịch bằng cách lôi cuốn vật lý Tuy nhiên, sự phân tách rắn - lỏng tách không bao giờ được thực hiện hoàn toàn do nhiều lý do, và các hệ số tảy xạ đạt được là tương đối thấp Vì vậy, xử lý hóa học thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác hiệu quả hơn
Sự phân tách pha rắn tách được thực hiện để loại bỏ huyền phù và các chất rắn lắng đọng khỏi các chất thải lỏng Có một số loại thiết bị phân tách có sẵn dựa trên những dạng thiết bị đã được thường xuyên sử dụng trong các nhà máy xử lý nước thải thông thường và nhà máy xử lý nước thải công nghiệp Phổ biến nhất là các bộ lọc, máy ly tâm, và cyclon thủy lực Hầu như tất cả các cơ sở hạt nhân sử dụng các thiết bị cơ khí để tách các chất rắn lơ lửng từ dòng chất thải lỏng Nói chung, thiết bị tách là cần thiết để loại bỏ các hạt tránh không cho chúng can thiệp vào quá trình xử lý chất thải lỏng tiếp theo, ví dụ: trao đổi ion, hoặc tái sử dụng nước
Các Bộ lọc điển hình có thể loại bỏ các hạt xuống đến kích thước nhỏ hơn micron, đặc biệt là khi sử dụng bộ lọc có lớp phủ sơ bộ (pre-coat) Khi một bộ lọc
đã làm việc bão hòa, thì các bộ lọc sẽ được rửa ngược để thu được bùn lọc với khoảng 20-40% chất rắn, hoặc trong trường hợp có các hộp lọc (cartridge types) thìtoàn bộ hộp lọc sẽ được thay thế
1.4.5 Danh mục máy móc, thiết bị:
TT Tên thiết bị Số lượng
Năm sản xuất
Nước hãng sản xuất Hiện trạng
Trang 221.4.6 Nguyên nhiên vật liệu của dự án
Nhà máy điện hạt nhân, nếu tính từ việc làm sôi nước, chuyển thành hơi nước và dùng hơi nước làm quay tuốcbin, thì hoàn toàn giống như nhà máy nhiệt điện (than, dầu, khí tự nhiên) Điểm khác nhau là ở chỗ: nhiên liệu làm sôi nước trong nhà máy nhiệt điện là nhiên liệu hóa thạch, còn trong nhà máy điện hạt nhân, thì nhiên liệu sử dụng là Uranium và nước được đun sôi bên trong lò phản ứng
Nhiên liệu của nhà máy điện hạt nhân là Uranium Tuy là nhiên liệu cháy, nhưng vì năng lượng nguyên tử là năng lượng phát sinh do phản ứng phân hạch, nên không cần oxy, chính vì thế mà hoàn toàn không thải ra các chất gây ô nhiễm môi trường như các loại khí CO2, NOx, SOx
Năng lượng nguyên tử là nguồn năng lượng rất lớn, nên chỉ với một lượng nhỏ nhiên liệu mà vẫn thu được năng lượng lớn Nhiên liệu cần thiết cho một nhà máy điện hạt nhân có công suất 4000MW vận hành trong suốt 2 năm là:
Nhiên liệu khối lượng Phương tiện vận chuyển Số lượng
Than đá 2.200.000 tấn Tàu trọng tải 200,000 tấn 11 tàu
Dầu 1.400.000 tấn Thùng chúa 200,000 tấn 7 thùng
Khí thiên nhiên 1.100.000 tấn Thùng chứa 200,000 tấn 5,5 thùng
Trang 231.4.7 Nhu cầu sử dụng nước
Nước làm mát là không thể thiếu cho nhà máy điên hạt nhân, vì vậy lượng
nước làm mát cho nhà máy điện là 5000 đến 15000 lít nước mỗi phút Khi có sự cố
có thể cần phải cung cấp từ 10.000 đến 30.000 lít nước mỗi phút để làm mát
1.4.8 Tiến độ xây dựng công trình:
Các tháng còn lại
Tháng1
Tháng2
Các tháng còn lại
Tháng
1
Tháng2
Các tháng còn lạiSan
Trang 24Hiệp định hợp tác xây dựng nhà máy ddienj hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam(2010) Trong khuôn khổ của hiệp định này, hai bên đã ký hiệp định tài chính, trong đó Liêng Bang Nga cung cấp cho Việt Nam khoản vay tín dụng ưu đãi
khoảng 10 tỷ USD cho dự án nhà máy điện hạt nhân Lào Cai và các công tác chuẩn
bị liên quan Nhật cũng đồng ý cho vay vốn ODA để thực hiện dự án
Việt Nam phải chi ra 10 tỷ USD cho nhà máy điện hạt nhân Lào Cai với 2 tổmáy 2x2000MW, trong đó giá trị hợp đồng với tập đoàn năng lượng nguyên tử
Nga ROSATOM là 9 tỷ USD Nhà máy ĐHN LÀO CAI có thể chịu được động
đất cấp 9 và sóng thần không ảnh hưởng
Trong quá trình xây dựng, vận hành vấn đề môi trường và sự an toàn của NMĐNT luôn là những vấn đề được quan tâm hàng đầu của dư luận trong nước và quốc tế Đề cập đến môi trường nhà máy điện hạt nhân, là đề cập đến an toàn về môi trường, hệ sinh thái động thực vật, người lao động trong nhà máy và đời sống kinh tế văn hoá của những người dân và cộng đồng sống xung quanh khu vực xây dựng nhà máy điện hạt nhân trong suốt quá trình xây dựng, vận hành và đóng cửa nhà máy
Để đánh giá tác động môi trường của nhà máy điện hạt nhân cần có những báo cáo đánh giá tỉ mỉ, kỹ lưỡng về chuyên ngành của các nhà khoa học để qua đó đưa ra những kết luận và khuyến cáo đối với các cơ quan chính phủ về những lợi ích cũng như tiềm năng ảnh hưởng của NMĐNT đối với môi trường, với hệ sinh thái cũng như đối với con người Trong đó, những tác nhân gây ra những rủi do khivận hành nhà máy như bão lụt, động đất sóng thần, lốc xoáy đều phải là những yếu tố được tính đến khi thiết kế xây dựng và vận hành nhà máy
An toàn đối với nhà máy điện hạt nhân liên quan đến việc an toàn vận hành
và hạn chế thấp nhất các nguồn phóng xạ có khả năng rò rỉ ra ngoài, hoặc phát tán vào môi trường Thông thường, trong quá trình hoạt động NMĐNT bao giờ cũng kèm theo sự phát thải phóng xạ ra môi trường xung quanh Lượng chất thải phóng
xạ từ NMĐNT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kiểu lò phản ứng, công nghệ xử lý chất thải phóng xạ, thiết bịáo trình
1.4.10 Tổ chức quản lý và thực hiện dự án
Nhu cầu về nguồn nhân lực:
300 kĩ sư chuyên dụng và 700 kĩ sư mức độ bình thường
300 – 500 người làm giám sát và chuyên gia các bộ ở các bên liên quan
Trang 25Trong đó cần 100 cán bộ về môi trường, chuyên về môi trường, xử lí chất thải và
kĩ thuật xử lĩ nước thải Trình độ kĩ sư trở lên
Quản lý các dự án thành phần thuộc Dự án điện hạt nhân Lào Cai do EVN làm chủđầu tư theo các quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, năng lượng nguyên tử và nhà máy điện hạt nhân, bao gồm:
Dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân Lào Cai
Dự án Hạ tầng phục vụ thi công các dự án Nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh Lào Cai
Dự án khu quản lý vận hành, khu chuyên gia và trụ sở Ban Quản lý dự án Điện hạt nhân Lào Cai
Dự án Trung tâm quan hệ công chúng về điện hạt nhân
Dự án Đào tạo nguồn nhân lực cho các dự án Nhà máy điện hạt nhân tại LàoCai
* Chuẩn bị sản xuất cho các dự án điện hạt nhân Lào Cai
* Tư vấn lập dự án đầu tư, tư vấn đấu thầu, dịch vụ xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, lập dự toán và giám sát thi công các công trình điện hạt nhân và các công trình lưới điện đồng bộ
* Quản lý công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho các dự án điện hạtnhân Lào Cai Quản lý công tác thông tin tuyên truyền về Dự án điện hạt nhân Lào Cai
* Thực hiện các nhiệm vụ khác do EVN giao
CƠ CẤU TỔ CHỨC
3.1 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ
3.1.1 Đánh giá tính phụ hợp của vị trí dự án
Trang 26a Điều kiện tự nhiên
- Địa hình: Độ cao tuyệt đối trong vùng có sự chênh lệch khá lớn, thấp nhất là khoảng 70 m tại phía bắc của huyện Văn Bàn, cao nhất là đỉnh Phan
Xi Păng thuộc huyện Sa Pa với độ cao là 3.148 m Nhìn chung tỉnh Lào Cai có địa hình núi cao, phân cắt mạnh Như vậy việc xây dụng nhà máy sẽ gặp nhiều khó khan trong giao thông cũng như các nguy cơ tiềm ẩn khác như lũ quét hay xói mòn đất
- Tỉnh Lào Cai đó có hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Chảy đây
là các hệ thống sông có lưu lượng nước rất lớn đặc biệt là vào mùa mưa Ngoài ra còn có nhiều hồ chứa nước với quy mô từ nhỏ đến trung bình Nên ở đây có khả năng cung cấp lượng lớn nước làm mát cho nhà máy khi đi vào hoạt động
- Địa hình cũng khá phức tạp, mặc dù giao thông ở đây cũng tương đối pháttriển, nhưng khi có sự cố xảy ra sẽ khó huy động lực lượng sử lý một cách ngay lậptức
3.1.2 Đánh giá tác động của việc chiếm dụng đất và sự có mặt của dự án
- Việc chiếm dụng đất và sự hiện diện của dự án trong khu vực sẽ có tiềm năng làm biến đổi các điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội, phá vỡ cảnh quan sinh thái khu vực, gây tác động xấu đến cộng đồng dân cư
- Theo quy hoạch, đến năm 2020 tổng diện tích đất tự nhiên của Lào Cai là 638.390 ha, trong đó: Đất nông nghiệp có diện tích 507.700 ha, Đất phi nông nghiệp có diện tích 50.585 ha, Đất đô thị có diện tích 37.565 ha, Đất khu bảotồn thiên nhiên có diện tích 46.000 ha, Đất chưa sử dụng có diện tích 80.105 ha, Đất khu du lịch có diện tích 1.884 ha
Trang 27- Diện tích đất cũng khá nhiều có thể xây dựng được nhà máy, tuy nhiên ở đây chủ yếu là các loại rừng nên cần chú ý xem xét.
3.1.2.1 Tác động đến cơ cấu kinh tế, cơ cấu sử dụng đất của địa phương
- Nhà máy điện hạt nhân được xây dựng sẽ cung cấp một lượng lớn năng lượng và điện cho tỉnh Lào Cai cũng như cả nước, sẽ việc huy động một lượng lao động nhàn rỗi ở địa phương, góp phần giải quyết lao động và tăng thu nhập tạm thời cho người lao động, kích thích phát triển một số loại hình dịch vụ
ăn uống, sinh hoạt, giải trí khác nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của công nhân tại khu vực dự án
- Tuy nhiên, bên cạnh đó Việc tập trung một lượng lớn lao động có khả năng dẫn đến tình trạng mất ổn định về trật tự an ninh trật tự tại địa phương như: mâu thuẫn, tranh chấp với người dân địa phương và mâu thuẫn trong nội bộcác công nhân Môi trường sống chịu nhiều tác động nên ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân, phát sinh ra các bệnh tật
- Đến năm 2020 Lào Cai sẽ có 104 ha đất được quy hoạch sử dụng cho mụcđích sản xuất nông nghiệp, trong đó diện tích đất quy hoạch cho rừng sản xuất chiếm tỷ lệ lớn với 71.000ha, 23.000ha cho rừng phòng hộ, hơn 4.000ha cho trồng cây lâu năm Về kế hoạch, từ nay đến năm 2015, diện tích đất sản xuất nôngnghiệp của tỉnh sẽ tăng thêm 15%, trong đó đất trồng rừng sản xuất tăng hơn 26.000ha, đất rừng phòng hộ tăng khoảng 8.000ha Trong giai đoạn từ năm 2011 -
2020, chuyển mục đích sử dụng 10.406 ha đất nông nghiệp chuyển sang phi nông nghiệp - Việc xây dựng nhà máy sẽ phải phá rừng, trong khi đó địa hình ở đây
Trang 28tương đối dốc nên việc phá rừng sẽ gây ra vấn đề nghiêm trọng ở đây Thiếu rừng
có thể gây ra lũ quét, sạt lở đất nghiệm trọng hơn
3.1.3 Đánh giá tác động của quá trình san lấp mặt bằng
a.Tác động môi trường không khí
Các tác động đến môi trường không khí chủ yếu bao gồm:
- Bụi sinh ra trong quá trình san ủi mặt bằng, vận chuyển đất cát gây ô nhiễm môi trường không khí tại khu vực thực hiện dự án và khu vực xung quanh;
- Bụi, CO, SOx, NOx, THC, … từ khói thải của các thiết bị thi công cơ giới gây
ô nhiễm không khí xung quanh khu vực;
Trang 29- Tiếng ồn, độ rung phát sinh từ các phương tiện vận chuyển, máy xúc, máy
ủi, máy đầm, …
b Tác động môi trường nước
Hoạt động san nền, ủi lấp mặt bằng nhìn chung không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng nước sông Chảy tại khu vực, các tác động bao gồm:
- Bụi, đất cát rơi vãi sẽ bị nước mưa cuốn trôi xuống các nguồn nước, làm tăng độ đục của nước;
- Gây ngập úng cục bộ các khu vực trũng tại khu vực;
c Tác động môi trường đất
-Tác động đến môi trường chủ yếu là diện tích đất bị bê tông hoá sẽ gia tăng Vì ở đây đa phần là rừng nên vấn đề này rất đáng để lưu tâm
d Tác động đến tài nguyên sinh học
-Dự án nằm ở tỉnh Lào Cai là nơi đa dạng sinh vật và để ảnh hưởng đến các sinh vật nơi đây
Trang 30-Đối với hệ sinh thái dưới nước các tác động do dự án như sau:
- Đất đá rơi, xói lở làm tăng độ đục hoặc làm giảm diện tích mặt nước nênmột số loài động thực vật sống trong khu vực sẽ bị giảm hoặc không còn;
- Do thảm thực vật giảm dần nên ảnh hưởng đến môi trường nước khu vựclân cận, tốc độ bốc thoát hơi nước tăng nhanh kéo theo tình trạng khô hạn và ảnhhưởng đến hệ sinh thái dưới nước
- Tiếng ồn, độ rung do các phương tiện giao thông, xe ủi, máy đầm … gâytác động mạnh đến khu vực xung quanh;
- Các sự cố trong quá trình san ủi như tai nạn lao động, tai nạn giao thônggây thiệt hại về con người và vật chất;
- Ngoài những tác động nêu trên, sự gia tăng mật độ xe trong một khoảngthời gian ngắn sẽ làm tăng khả năng xảy ra tai nạn giao thông trong khu vực dự
án, gây bụi, ồn trên đường vận chuyển, gây ảnh hưởng tới cuộc sống của nhândân dọc theo các tuyến đường vận chuyển
Những ảnh hưởng do hoạt động san ủi, lấp mặt bằng diễn ra trong thời gian
Trang 31ngắn, phạm vi tác động nhỏ nên sau thời gian ngắn điều kiện môi trường sẽ đạt trạng thái ban đầu.
3.2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG XÂY DỰNG
3.2.1 Các nguồn gây tác động
Nguồn gây tác động của dự án đến môi trường bao gồm nguồn gây tác động có liên quan đến chất thải và nguồn gây tác động không liên quan đến chất thải
3.2.1.1 Nguồn gây tác động liên quan đến chất thải
Trong quá trình thi công xây dựng công trình dự án sẽ có nhiều phương tiện, máy móc tham gia thi công, do vậy, các nguồn phát sinh chất thải trong giai đoạn này chủ yếu gồm:
- Nguồn phát sinh khí thải gồm bụi và các khí CO, SOx, NOx và các khí độc khác chủ yếu từ các phương tiện vận tải (đất đá, vật liệu…), các máy móc thi công tại công trường (san ủi, bốc xúc, đóng cọc, đầm nén….)
- Nguồn phát sinh nước thải chủ yếu là từ quá trình dưỡng hộ bê tông, làm mát và vệ sinh máy móc thiết bị thi công… và từ sinh hoạt của công nhân
- Chất thải rắn sinh ra trong quá trình xây dựng từ xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các hạng mục công trình, lắp đặt máy móc, thiết bị…gồm chủ yếu là đất
đá thải, gạch, xi măng, sắt thép phế thải và chất thải rắn sinh hoạt
3.2.1.2 Nguồn gây tác động không liên quan đến chất thải
Đối với dự án nhà máy điện hạt nhân nguồn gây tác động không liên quan đến chất thải trong giai đoạn xây dựng công trình phụ thuộc rất nhiều vào đặc
Trang 32điểm điều kiện tự nhiên của khu vực và có thể là:
- Gây sạt lở, sụt trượt trong trường hợp vị trí dự án và các hoạt động thi công xây dựng công trình như đào đắp gần các đồi núi, bề mặt sườn có độ dốc lớn, được cấu tạo bơi đất đá bị nứt vỡ mạnh, gắn kết yếu
- Gây xói lở, bồi lắng bờ sông, bờ biển trong trường hợp hoạt động xây dựng và đổ thải chất thải xây dựng trong phạm vi bời sông hoặc bờ biển
Ngoài ra, trong giai đoạn này còn có thể có các tác động khác
3.2.2 Đánh giá tác động
3.2.2.1 Tác động môi trường không khí
Đánh giá tác động đến môi trường không khí phải được phản ánh đối với từng hoạt động cụ thể trong giai đoạn xây dựng (vận chuyển, đào, bốc xúc, san gạt, xây dựng công trình…) Mức độ ô nhiễm của môi trường không khí được phảnánh thông qua các thông số ô nhiễm đặc trưng, cụ thể như sau:
a) Tác động của bụi và khí thải:
Trang 33b) Tác động của tiếng ồn và rung động:
Vì dân cư ở đây khá thưa thớt, nên sự ảnh hưởng của tiếng ồn với người dân là không nhiều
3.2.2.2 Tác động môi trường nước
Nước thải từ quá trình thi công xây dựng gồm nước rửa nguyên vật liệu, nước vệ sinh máy móc thiết bị thi công, nước dưỡng hộ bê tông… có hàm 116 lượng chất lơ lửng và các chất hữu cơ cao có tiềm năng gây ô nhiễm các vực nước
tiếp nhận nước thải như sông, suối, ao, hồ, kênh, mương
Trang 34Với số liệu trên cho thấy nguồn nước thải gây ra tác động không nhỏ đến nguồn tiếp nhận, nên cần phải được xử lý hoặc xem xét giải quyết cho phù hợp với vấn đề môi trường.
Không khí
Tà
i nguyên sinh học
Ki
nh tế -xãhội0
1
Đào đắp, san
++
+++
Trang 35- ++ : Tác động có hại ở mức độ trung bình;
- +++ : Tác động có hại ở mức mạnh
3.3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN VẬN HÀNH
3.3.1 Tác động phóng xạ từ hoạt động bình thường của nhà máy điện hạt nhân
3.3.1.1 Nguồn phát thải phóng xạ
1 trong lò phản ứng
- Chất thải khí : Trong quá trình vận hành, các nguyên tố nhiên liệu
phát ra nơtron và các bức xạ γ do quá trình phân hạch và phân rã của các sản phẩm phân hạch trong thùng l phản ứng Với thiết kế của l , các chất phóng xạ được giữ trong l , tuy nhiên, có tiềm năng bức xạ vào môi trường không khí qua 3 nguồn gồm hệ thống truyền khí, ống xả khí và nguồn phóng xạ khí thải từ ống xả thông gió Thông số môi trường cần quan tâm ở đây là: Tổng hoạt độ α và β, hàm lượng các đồng vị phóng xạ trong son khí gồm: K-40, Cs134, Cs-137, I-131, H-3, Th-
232, U-238 và các nhân phóng xạ phát gamma khác (Kr-87, Kr-88, 133, 133m, Xe-135, Mn-54, Fe-59, Co-58, Co-60, Zn-65, Mo-99, Ce-141, Ce144)
Xe Chất thải lỏng: Mức độ nhiễm xạ của chất thải lỏng phụ thuộc vào
thiết kế của l phản ứng và nhìn chung từ các nguồn sau:
+ Hơi nước bị nhiễm phóng xạ thoát ra từ khu vục làm mát l qua khe hở của các bộ phận như hệ thống tinh lọc, bơm khí, trục bơm, van
+ Nước thải lau rửa sàn nhà
Trang 37Chất thải phóng xạ cao: Nguồn chất thải rắn nhiễm phóng xạ ở mức độ cao bao gồm: Các bộ phận của l phản ứng được tháo dỡ trong quá trình sửa chữa haybảo trì, nguyên liệu đã qua sử dụng có tính phóng xạ rất cao
Trang 382 Hệ thống tải nhiệt và chất làm chậm
Chất làm chậm có vai trò hấp thu nơtron hiệu quả và giảm tốc độ của
nơtron với hiệu suất cao Vì vậy, vật liệu thích hợp cho chất làm chậm thường là những nguyên tố có số nguyên tử nhỏ Chất làm chậm thường là nước H2O hoặc nước nặng D2O
Chất tải nhiệt của lò phản ứng là chất thu nhiệt sinh ra trong lò phản ứng vàchuyển ra bên ngoài được gọi là chất tải nhiệt Lò phản ứng nước nhẹ dùng chất tải nhiệt là nước nhẹ; lò nước nặng dùng chất tải nhiệt là nước nặng; còn lò khí thì
sử dụng chất tải nhiệt là khí CO2 hoặc Heli và lò tái sinh nhanh thì sử dụng chất tải nhiệt là Natri
- Khí thải : Nhìn chung, hệ thống tải nhiệt và chất làm chậm có các
nguồn bức xạ trong môi trường không khí gồm: Nguồn thải từ hệ thống hấp thụ
nơtron, Nguồn thải từ lò phản ứng và nguồn thải từ lò khí
- Chất thải lỏng: Mức độ nhiễm phóng xạ của chất thải lỏng phụ thuộc
vào thiết kế hệ thống lò phản ứng Các nguồn thải bức xạ trong thành phần chất thải lỏng bao gồm:
+ Lò phản ứng nước nhẹ và lò nước nặng có chất thải lỏng dạng hơi nhiễm phóng xạ ở các mức độ khác nhau
+ Hơi nước bị nhiễm phóng xạ thoát ra từ khu vục làm mát lò qua khe hở của các bộ phận như hệ thống tinh lọc, bơm khí, trục bơm, van
Trang 39+ Nước thải lau rửa sàn nhà
- Chất thải rắn:
+ Chất thải phóng xạ thấp gồm: Các công cụ bị nhiễm như quần áo, găng tay, chất thải của quá trình giặt, rửa, thùng chứa, quần áo được dùng trong quá trình vận hành tại các công đoạn có liên quan đến chất phóng xạ
+ Chất thải phóng xạ cao gồm: Các bộ phận của l phản ứng được tháo dỡ trong quá trình sửa chữa hay bảo trì, nguyên liệu đã qua sử dụng có tính phóng
xạ rất cao và các dụng cụ cầm tay sau sử dụng
3 Hệ thống tua bin
Lò nước áp lực (PWR) : Theo thiết kế, hệ thống tuabin và sinh hơi được
phân tách khỏi hệ thống có tính bức xạ bởi các lớp ngăn cách vật liệu Do vậy, chất phóng xạ chỉ có thể xuất hiện trong hệ thống tuabin và sinh hơi khi có sự rò
rỉ từ v ng tải nhiệt thứ nhất và thứ hai
- Chất thải lỏng: Nguồn thải của hệ thống tuabin có nguồn bức xạ từ nguồn
thải từ bơm truyền hơi nước và nguồn thải từ hệ thống ống truyền hơi nước Chất thải biocide và các chất thải khác có thể phát sinh từ chất thải lỏng bao gồm
(IAEA năm 2007, phần 2; NRC năm 1996, mục 2.2.5):
+ Boric acid và hydroxit lithium: Axit boric được sử dụng để kiểm soát lò
phản ứng, hydroxit lithium được sử dụng để kiểm soát pH trong nước làm mát Những hóa chất này có thể bị rò rỉ đường ống hoặc máy phát điện hơi nước
+ sulfuric acid, được thêm vào hệ thống nước tuần hoàn
Trang 40+ Hydrazine, được sử dụng để kiểm soát sự ăn m n và được dẫn truyền hơi
nước vào máy phát điện
+ Sodium hydroxide và acid sulfuric được sử dụng để tái tạo nhựa Đây là
những thải sau khi trung h a
+ Phosphate có trong khi áp dụng các giải pháp làm sạch
+ Biocide được sử dụng cho ngưng tụ
+ Dung môi hữu sơ: Dung môi và các chất ô nhiễm hữu cơ có thể phát sinh
từ các hoạt động nhà máy điện hạt nhân không thường xuyên (như hóa chất làm sạch của máy phát điện hơi nước) Nhìn chung, nồng độ dung môi hữu cơ từ hoạt động nhà máy điện hạt nhân thường không cao, từ khoảng 50 đến 500 ppm
- Chất thải rắn: gồm chất thải phóng xạ thấp và chất thải phóng xạ cao
+ Chất thải phóng xạ thấp: Các công cụ bị nhiễm như quần áo, găng tay,
chất thải của quá trình giặt, rửa, thùng chứa, quần áo dùng trong quá trình vận hành, các dụng cụ cầm tay sau sử dụng, bao bì, trang thiết bị sau sử dụng và các
vật liệu khác
+ Chất thải phóng xạ cao: Bùn cặn chứa phóng xạ
4 hệ thống xử lý khí thải
Hệ thống xử lý khí gồm hệ thống thoát khí và các ống thông khí, ống khói
Một số khí phóng xạ có thời gian bán rã tương đối ngắn được tạo ra trong
lò làm mát bằng nước do sự kích hoạt các chất tải nhiệt Các khí phân hạch cũng thoát ra chất tải nhiệt qua các khuyết tật của lớp bọc nhiên liệu Khi cần thiết, các