Nhật Bản, một nước đi sau song luôn đạt được những thành tựu lớn trong phát triển công nghiệp lại hiểu về CNPT như sau: CNPT là thuật ngữ để chỉ tình trạng thiếu công nghiệp sản xuất phụ
Trang 1CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hà Nội, tháng 6/ 2008
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Ch-ơng I: Tổng quan về CNPT và tác động của nó đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 4
I.Tổng quan về CNPT 4
1 Khái niệm về CNPT 4
1.1 Quan niệm trên thế giới về CNPT 4
1.2.Quan niệm của Việt Nam về CNPT 5
2 Đặc điểm của ngành CNPT 6
2.1 CNPT là ngành đòi hỏi nhiều vốn và trình độ công nghệ cao 6
2.2 CNPT bao phủ một phạm vi rộng các ngành chế tạo 7
3 Qui mô của ngành CNPT 7
4 Vai trò của ngành CNPT trong phát triển kinh tế đất n-ớc 8
4.1 Đẩy mạnh chuyên môn hoá 8
4.2 Thúc đẩy ứng dụng công nghệ hiện đại 9
4.3 Cải thiện cơ cấu lao động theo h-ớng tích cực 9
4.4 Tạo tiền đề phát triển bền vững 10
5 Các nhân tố ảnh h-ởng đến CNPT 10
5.1 Qui mô cầu 10
5.2 Thông tin 11
5.3 Tiêu chuẩn chất l-ợng 11
5.4 Nguồn nhân lực 12
5.5 Chính sách của Chính Phủ 12
II Tác động của CNPT đối với các dN vừa và nhỏ 13
1 Phát huy các nguồn lực của doanh nghiệp 13
2 Tận dụng ngoại lực 14
2.1 CNPT giúp chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI 14
Trang 32.2 Đa dạng hoá cơ cấu các doanh nghiệp trong ngành CNPT đáp ứng nhu
cầu các doanh nghiệp FDI 15
3 Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN 17
3.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 17
3.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 17
3.2.1.Vốn 17
3.2.2 Trình độ công nghệ 18
3.2.3 Sản phẩm 19
3.2.4 Nguồn lực kinh doanh 20
Ch-ơng II: Thực trạng phát triển CNPT cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc 22
I Sự hình Thành và phát triển CNPT ở các DNVVN của Trung Quốc 22
1 Nguyên nhân phát triển CNPT cho các DNVVN Trung Quốc 22
1.1 Nguyên nhân khách quan 22
1.1.1 Hợp tác hoá và chuyên môn hoá- tất yếu khách quan của sự ra đời và phát triển của CNPT Trung Quốc 22
1.1.2 DNVVN phù hợp với đặc điểm ngành CNPT 23
1.2 Nguyên nhân chủ quan: CNPT là nhu cầu bức thiết mà nội tại nền kinh tế Trung Quốc đòi hỏi 25
2 Sự hình thành và phát triển của CNPT ở các DNVVN Trung Quốc 27
2.1 Giai đoạn sơ khai (Tr-ớc năm 1978) 27
2.2 Giai đoạn hình thành và phát triển (Từ sau năm 1978 đến những năm đầu thế kỷ XXI) 28
2.3 Giai đoạn tăng tr-ởng mạnh (từ năm 2001 trở lại đây) 31
II Chính sách phát triển CNPT cho các DNVVN của Trung Quốc 33
1 Cải tạo và phát triển các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ ở thành phố và thị trấn d-ới nhiều hình thức 34
1.1 Đối với các doanh nghiệp tập thể 34
1.2 Đối với các doanh nghiệp Nhà n-ớc 35
1.3 Đối với các doanh nghiệp phi công hữu 36
Trang 42 Tạo dựng môi tr-ờng pháp lý bình đẳng 36
3 Ưu đãi về thuế 37
3.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 38
3.2 Thuế xuất nhập khẩu 39
4 Ưu đãi về tài chính, tín dụng 39
4.1 Hỗ trợ về tài chính 39
4.2 Hỗ trợ về đảm bảo tín dụng 42
5 Hỗ trợ kỹ thuật 43
5.1 Chính sách hỗ trợ về công nghệ 44
5.2 Hỗ trợ về phát triển các kỹ năng khác 46
6 Chính sách phát triển thị tr-ờng 47
6.1 Thành lập quỹ phát triển thị tr-ờng quốc tế 47
6.2 Tổ chức các cuộc triển lãm 47
6.3 Xúc tiến liên kết giữa các DNVVN với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp FDI, các công ty đa quốc gia 48
6.4 H-ớng dẫn và giúp đỡ các DNVVN tăng c-ờng xuất khẩu và trao đổi sản phẩm 49
II Thực trạng phát triển CNPT ở Trung Quốc 49
1 Tác động của CNPT đối với các DNVVN Trung Quốc 49
2 Thực trạng phát triển CNPT cho các DNVVN ở một số ngành 53
1.1 Ngành ô tô, xe máy 53
1.1.1 Đối với ngành ô tô 53
1.1.2 Đối với ngành xe máy 56
1.2 Ngành dệt may 58
1.3 Ngành điện điện tử 60
III Đánh giá chung về thực trạng phát triển CNPT cho các DNVVN Trung Quốc 62
1 Những thành công đạt đ-ợc 62
2 Những hạn chế 63
Trang 5Ch-ơng III: Bài học cho Việt Nam trong việc phát triển CNPT
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ 65
I Thực trạng phát triển CNPT cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 65
1 Thực trạng ngành CNPT Việt Nam 65
1.1 Tổng quan ngành CNPT Việt Nam 65
1.1.1 Các doanh nghiệp phụ trợ 65
1.1.2 Sản phẩm phụ trợ 66
1.2 Chính sách phát triển CNPT Việt Nam 68
1.2.1 Chính sách nội địa hoá 68
1.2.2 Chính sách về thuế nhập khẩu nguyên phụ liệu, linh kiện, phụ tùng 69 2 Thực trạng CNPT ở các DNVVN Việt Nam 70
2.1 Sự phát triển của các DNVVN Việt Nam 70
2.2 Thực trạng các DNVVN trong ngành CNPT 71
3 Đánh giá chung quá trình phát triển CNPT cho DNVVN ở Việt Nam 74
3.1 Thành tựu 74
3.2 Hạn chế 74
II Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc trong việc phát triển CNPT cho các DNVVN 75
1 Thống nhất nhận thức, quan điểm về phát triển CNPT cho các DNVVN 76
2 Triển khai đồng bộ và nhanh chóng đồng thời các biện pháp hỗ trợ cho các DNVVN tham gia CNPT 78
2.1 Hỗ trợ về vốn 78
2.2 Hỗ trợ về công nghệ 82
2.2.1 Đối với công nghệ nhập 82
2.2.2 Đối với công nghệ trong n-ớc 83
2.3 Hỗ trợ về thông tin và thị tr-ờng 85
2.4 Hỗ trợ về mặt bằng sản xuất 87
III Một số giải pháp phát triển CNPT cho các DNVVN ở Việt Nam 89
Trang 61 Về phía Chính phủ 89
1.1 Hoàn thiện hệ thống chính sách và thống nhất nhận thức 89
1.1.1 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý 89
1.1.2 Ban hành chính sách phát triển CNPT một cách đồng bộ và chi tiết 90 1.1.3 Đẩy mạnh cải cách hành chính 91
1.1.4 Hoàn thiện chính sách tài chính 92
1.1.5 Cải cách ch-ơng trình đào tạo 93
1.2 Đồng bộ hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp 94
1.2.1 Thực hiện chính sách phù hợp để cải thiện tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất, đồng thời bảo vệ môi tr-ờng 94
1.2.2 Tăng c-ờng khả năng tiếp cận vốn cho DN phụ trợ vừa và nhỏ 95
1.2.3 Hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ và đổi mới 96
1.2.4 Hỗ trợ về thông tin 97
1.3 Thúc đẩy tinh thần kinh doanh 98
2 Về phía các DNVVN trong n-ớc 99
2.1 Tăng c-ờng chuyên môn hoá 99
2.2 Nỗ lực đầu t-, chuyển giao công nghệ 100
2.3 Tăng c-ờng xây dựng mối liên kết với các doanh nghiệp lắp ráp 101
2.4 Nâng cao ý thức kinh doanh của các doanh nghiệp 102
Kết luận 105
Danh mục tài liệu tham khảo 106
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Trong đường lối phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, CNPT được coi là ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển của mỗi quốc gia Nó đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế và được coi là
“xương sống” của các ngành công nghiệp Đầu tư cho phát triển CNPT là hoàn toàn phù hợp với tất yếu khách quan mà xu thế chuyên môn hoá và hợp tác hoá mang lại Phát triển CNPT sẽ hỗ trợ các ngành công nghiệp nội địa phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế đất nước theo hướng tiên tiến, hiện đại
Tham gia các ngành CNPT có rất nhiều loại hình doanh nghiệp trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ(DNVVN) Đây là một bộ phận có cơ chế hoạt động rất linh hoạt và đang đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế DNVVN góp phần giải quyết việc làm, giữ gìn và phát triển các nghề truyền thống, đóng góp ngày càng lớn vào GDP Chúng giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt trong chính sách phát triển CNPT Kinh nghiệm ở những nước
có nền CNPT phát triển cho thấy vai trò của các DNVVN là hết sức to lớn, để cung cấp cho một doanh nghiệp lắp ráp cần đến hàng trăm thậm chí hàng ngàn DNVVN làm vệ tinh Nhờ có bộ phận này mà chuỗi cung ứng cho các nhà lắp ráp, chế tạo trở nên đa dạng hơn và hiệu quả hơn Tuy nhiên các DNVVN lại hạn chế về vốn và công nghệ, kỹ năng quản lý- kinh doanh nên
để hoạt động tốt trong ngành CNPT các DNVVN cần rất nhiều sự hỗ trợ từ các cơ quan hữu quan cũng như nỗ lực của bản thân
Trang 8Vậy làm thế nào để phát triển CNPT cho các DNVVN? Câu trả lời có thể rút ra từ một thành công điển hình, đó là Trung Quốc, nước láng giềng có điều kiện kinh tế xã hội và lợi thế so sánh rất gần với nước ta Trước khi cải cách kinh tế, Trung Quốc là một nền kinh tế khá lạc hậu, các DNVVN nhất là các doanh nghiệp tư nhân bị kiềm chế, không có điều kiện phát triển, ngành CNPT phát triển tự phát không theo quy hoạch nào cả, số các DNVVN làm CNPT rất hạn chế Sau thời kỳ đổi mới, với các chính sách ưu đãi và hỗ trợ từ phía Chính phủ, các DNVVN nói chung và các DNVVN trong ngành CNPT nói riêng đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp ngày càng nhiều vào GDP Trung Quốc từ một nước lạc hậu về công nghệ trở thành một nước có nền CNPT phát triển trong khu vực
Vậy chính sách của Trung Quốc có điều gì đặc biệt? Chúng ta có thể học hỏi được điều gì từ nước bạn? Trả lời những câu hỏi trên là điều mà đề tài này
hướng đến Do vậy đề tài này được mang tên là: “ Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
Mục đích của đề tài là:
- Tiếp tục làm rõ và khẳng định vị trí, vai trò của các DNVVN trong CNPT
- Tìm hiểu chính sách phát triển CNPT cho các DNVVN của Trung Quốc
- Đúc rút kinh nghiệm cho Việt Nam
- Đề xuất một số kiến nghị
Kết cấu của đề tài:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung đề tài được chia làm 3 chương
Trang 9Chương I: Tổng quan về CNPT và tác động của nó đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương II: Thực trạng phát triển CNPT cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc
Chương III: Bài học cho Việt Nam trong việc phát triển CNPT cho các DNVV
Trong quá trình thực hiện đề tài em đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu những tài liệu liên quan nhằm rút ra những kiến thức cơ bản nhất về việc phát triển CNPT cho các DNVVN Tuy nhiên do hạn chế về thời gian và tìm kiếm thông tin nên đề tài chưa thể cung cấp đầy đủ thông tin về CNPT, DNVVN cũng như chính sách của Trung Quốc và không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót
Em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và mọi người
Để thực hiện được đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người trong đó có thầy cô, bạn bè và gia đình Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS.TS Vũ Sỹ Tuấn, người đã tận tình hướng dẫn em
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô, gia đình và bạn bè, những người
đã luôn ủng hộ em
Hà Nội, ngày 27/5/2008
Trang 10CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CNPT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI
VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
I.TỔNG QUAN VỀ CNPT
1 Khái niệm về CNPT
1.1 Quan niệm trên thế giới về CNPT
CNPT hay công nghiệp hỗ trợ là một thuật ngữ không có gì là mới mẻ đối với nhiều quốc gia trên thế giới Nó được sử dụng rộng rãi ở cả những nước phát triển và nước đang phát triển CNPT ra đời từ khi xã hội có sự phân công lao động ở trình độ cao Nó chính là hệ thống các ngành công nghiệp vệ tinh phục vụ cho các ngành công nghiệp chính Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa
có một định nghĩa thống nhất trên thế giới về CNPT Tuỳ theo hoàn cảnh, mục đích và chính sách của mình mà mỗi quốc gia có cách định nghĩa riêng
về CNPT
Nước Mỹ, đất nước đứng đầu thế giới về phát triển công nghệ đã đưa ra khái niệm về CNPT như sau: CNPT là các ngành cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và thực hiện quá trình hỗ trợ việc sản xuất các nguyên vật liệu và linh kiện đó nhằm phục vụ viêc lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng Nhật Bản, một nước đi sau song luôn đạt được những thành tựu lớn trong phát triển công nghiệp lại hiểu về CNPT như sau: CNPT là thuật ngữ để chỉ tình trạng thiếu công nghiệp sản xuất phụ tùng linh kiện, nó bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng công nghiệp Đến năm 1993, Bộ Kinh tế công nghiệp và Thương mại Nhật Bản METI đã chính thức đưa ra định nghĩa về CNPT như sau: CNPT là ngành công nghiệp
Trang 11sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng và hàng hoá
tư bản…cho công nghiệp lắp ráp( gồm ô tô, điện, điện tử)
Đó là cách hiểu về CNPT của hai quốc gia có nền công nghiệp tiên tiến bậc nhất trên thế giới Còn ở Thái Lan, một quốc gia đang phát triển thì CNPT là các ngành cung cấp các linh kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản
Nhìn chung, về câu chữ có khác nhau nhưng quan niệm của các nước về CNPT đều có những điểm tương đồng Đó là: CNPT là một ngành công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm trung gian và tư liệu sản xuất Nó phân biệt với ngành công nghiệp khai thác các sản phẩm tự nhiên sẵn có hay công nghiệp lắp ráp, chế tạo cho ra những sản phẩm cuối cùng Nó phân biệt với ngành dịch vụ mặc dù nó cũng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho quá trình sản xuất như kiểm tra, vận chuyển, kho bãi…
1.2.Quan niệm của Việt Nam về CNPT
Trước đây người Việt Nam dường như không quan tâm thậm chí còn rất
mơ hồ về CNPT Kể từ khi sáng kiến chung Việt Nam- Nhật Bản về nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong thu hút FDI được thông qua vào năm 2003 thì thuật ngữ CNPT mới được chú ý
Theo các chuyên gia của Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp, Bộ công nghiệp thì CNPT là hệ thống các công nghệ và cơ sở sản xuất chuyên đảm nhận việc cung cấp đảm bảo( thiết kế, nguyên vật liệu, bán thành phẩm và linh kiện…) phục vụ cho việc lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng
Theo ông Tạ Đình Xuyên, Giám đốc trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật doanh nghiệp nhỏ và vừa( Bộ KHĐT), CNPT là ngành công nghiệp sản xuất ra các linh kiện, chi tiết phục vụ cho sản phẩm cuối cùng Ngành CNPT Việt Nam
Trang 12bao gồm: các ngành sản xuất chế tạo khuôn mẫu, đồ gá, linh kiện, phụ tùng và lắp ráp bán thành phẩm Sản phẩm của ngành CNPT chủ yếu phục vụ cho ngành lắp ráp ô tô, xe máy và điệnn- điện tử( bao gồm thiết bị điện gia dụng, thiết bị nghe nhìn, thiết bị quang học, thiết bị văn phòng, thiết bị ngoại vi,…) Bên cạnh khái niệm nêu trên, ở Việt Nam còn có một cách hiểu nữa về CNPT Đó là theo các giáo sư trường đại học Waseda, những người có nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam: CNPT là khái niệm để chỉ toàn bộ các sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính;
cụ thể là những linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn nhuộm… và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế
2 Đặc điểm của ngành CNPT
2.1 CNPT là ngành đòi hỏi nhiều vốn và trình độ công nghệ cao
CNPT là một ngành đòi hỏi chi phí cố định cao và có lợi thế kinh tế tăng theo qui mô Bởi lẽ để có thể tiến hành sản xuất ban đầu các doanh nghiệp phải đầu tư mua sắm những dây chuyền công nghệ và máy móc hiện đại Hệ thống máy móc này có giá rất cao hơn nữa lại không thể chia nhỏ được nên một khi đã lắp đặt hệ thống thì chi phí vốn cho máy móc luôn ở mức cố định
dù hệ thống có vận hành hết công suất hay chỉ sản xuất cầm chừng trong thời gian ngắn Bên cạnh đó để tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm của mình trong thời đại mà công nghệ thay đổi từng giờ, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp các doanh nghiệp luôn phải chi một khoản rất lớn cho những đổi mới công nghệ
Lao động trong ngành CNPT chủ yếu là vận hành máy móc, kiểm tra chất lượng, giám sát quy trình sản xuất …Do vậy để có thể kiểm soát được những
Trang 13dây chuyền tiên tiến buộc người lao động trong lĩnh vực này phải có trình độ công nghệ và tay nghề cao
Do đòi hỏi về vốn và công nghệ cao như vậy mà ngành CNPT ở các nước nghèo, nước đang phát triển có xu hướng kém tính cạnh tranh hơn các nước khác Đặc biệt đối với các DNVVN là những đối tượng rất hạn chế về vốn và công nghệ thì để sản xuất- kinh doanh tốt trong các ngành CNPT là rất khó khăn
2.2 CNPT bao phủ một phạm vi rộng các ngành chế tạo
Các sản phẩm công nghiệp hầu hết được làm từ nhựa, kim loại và đều trải qua quá trình sản xuất thông thường như cán, ép, đúc…những sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ được cung cấp bởi ngành CNPT Cụ thể như các sản phẩm nhựa dành cho xe máy, ô tô, thiết bị điện tử…đều được sản xuất thông qua một quá trình tương tự nhau Do vậy sẽ thật lãng phí và không hiệu quả nếu mỗi một doanh nghiệp ô tô, xe máy, điện tử lại phải có một nhà mày sản xuất các bộ phận nhựa riêng trong khi nó chắc chắn được cung cấp một cách hiệu quả nhờ CNPT Có thể nói rằng CNPT tạo nên năng lực cạnh tranh cho nhiều ngành công nghiệp
Việt Nam hiện nay có chừng 24 ngành kinh tế- kỹ thuật cần đến CNPT, trong đó có nhiều ngành sản xuất hàng xuất khẩu Các ngành thành công như bao bì, sản xuất phụ tùng xe máy
3 Qui mô của ngành CNPT
Tuỳ thuộc vào chính sách phát triển kinh tế nói chung và chính sách phát triển CNPT nói riêng của từng quốc gia, từng thời kì mà CNPT có các qui mô khác nhau Về cơ bản, CNPT có 3 qui mô:
- Qui mô chính: những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện và công cụ để sản xuất các phụ tùng, linh kiện này
Trang 14- Qui mô mở rộng 1: bao gồm qui mô chính và các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, bảo hiểm
- Qui mô mở rộng 2: những ngành công nghiệp cung cấp toàn bộ hàng hoá đầu vào gồm phụ tùng, linh kiện, cộng cụ máy móc và cả các nguyên vật liệu như thép, hoá chất… cho ngành công nghiệp lắp ráp
4 Vai trò của ngành CNPT trong phát triển kinh tế đất nước
4.1 Đẩy mạnh chuyên môn hoá
Trong xu thế phát triển chung của kinh tế thế giới luôn hình thành 2 xu hướng trái ngược mà bổ sung cho nhau, đó là hợp tác hoá và chuyên môn hoá Chuyên môn hoá là một tất yếu của sự phát triển CNPT cũng ra đời từ sự phân công lao động xã hội ở trình độ cao tức là sự chuyên môn hoá Và khi đã phát triển CNPT lại tác động ngược trở lại, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá Nói cách khác CNPT và chuyên môn hoá luôn gắn liền với nhau
Chuyên môn hoá giúp các quốc gia, các doanh nghiệp tận dụng tối đa lợi thế so sánh của mình Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp phải thực hiện tất cả các khâu, nguồn lực bị chia nhỏ, hiệu quả
sẽ không cao CNPT tập trung đi sâu vào một khâu, mỗi doanh nghiệp CNPT cung cấp một bộ phận sản phẩm cho nhà lắp ráp Như vậy chất lượng của sản phẩm cuối cùng không những được đảm bảo mà doanh nghiệp sản xuất có nhiều nguồn lực hơn để đầu tư cho các hoạt động khác Lấy ví dụ như Canon,
để sản xuất một sản phẩm của mình thay vì xây dựng hàng trăm nhà máy sản xuất linh kiện, Canon mua các sản phẩm đó từ các doanh nghiệp khác với tiêu chuẩn chất lượng đề ra Thời gian đầu khi đầu tư vào Việt Nam do không tìm được nhà cung cấp linh phụ kiện nên công ty đành phải chọn giải pháp tình thế là sản xuất ngay tại nhà máy của mình nhưng về lâu dài ông Sachio Kagayama, tổng giám đốc Canon Việt Nam đã nhận định: nhất thiết phải tìm được nhà cung cấp của Việt Nam để đảm bảo sản xuất ổn định Từ nhu cầu đó
Trang 15đến năm2004 công ty đã tìm được cho mình 20 nhà cung cấp Việt Nam Như vậy nhu cầu về CNPT đã khiến một số doanh nghiệp chuyên sâu vào sản xuất các bộ phận cho công nghiệp lắp ráp Nói cách khác CNPT đã thúc đẩy phân công lao động xã hội một cách hiệu quả
4.2 Thúc đẩy ứng dụng công nghệ hiện đại
Như đã nói ở trên CNPT phát triển sẽ đẩy mạnh quá trình chuyên môn hoá
Do vậy các doanh nghiệp có điều kiện và nguồn lực để nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ Đặc biệt đối với ngành CNPT là ngành mà tính cạnh tranh của sản phẩm chủ yếu dựa trên chất lượng và tiêu chuẩn công nghệ thì một đòi hỏi thiết yếu đối với các doanh nghiệp là phải luôn luôn đổi mới cải tiến công nghệ và tìm ra những công nghệ mới nhất, hiệu quả nhất để có được lợi thế người đi đầu
CNPT phát triển không chỉ thúc đẩy ứng dụng công nghệ hiện đại trong một doanh nghiệp, một ngành cụ thể mà việc áp dụng các thành tựu mới của khoa học và công nghệ trong các ngành CNPT còn có tính chất dẫn dắt sự phát triển của các lĩnh vực sản xuất kế tiếp
4.3 Cải thiện cơ cấu lao động theo hướng tích cực
Một nhà máy lắp ráp có thể cần đến hàng trăm thậm chí hàng nghìn nhà máy vệ tinh cung cấp các sản phẩm phụ trợ mà CNPT lại bao phủ rộng một số lượng lớn các ngành chế tạo, như vậy số lượng việc làm mà CNPT tạo ra và giải quyết cho xã hội là rất lớn
Bên cạnh đó, khi CNPT phát triển, môi trường đầu tư sẽ trở nên hấp dẫn hơn do đó sẽ có ngày càng nhiều doanh nghiệp FDI hơn Do đó nhu cầu lao động sẽ tăng lên Các nước có lợi thế so sánh về giá lao động rẻ sẽ có nhiều
cơ hội hơn để khai thác lợi thế này nếu phát triển được ngành CNPT
Trang 16CNPT không chỉ giải quyết được nhiều công ăn việc làm hơn mà nó còn cải thiện cơ cấu lao động theo hướng: tăng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công nghiệp, giảm tỷ trọng trong lĩnh vực nông nghiệp và nâng cao trình độ người lao động Lí do là lao động trong ngành CNPT chủ yếu làm việc với máy móc, công nghệ hiện đại nên bắt buộc người lao động phải đạt trình độ
và tay nghề cao
4.4 Tạo tiền đề phát triển bền vững
Nhiều nước đang phát triển do hạn chế về công nghệ và vốn nên thường không quan tâm phát triển CNPT mà chỉ thực hiện các hợp đồng gia công quốc tế cho nước ngoài và nhận phần tiền công lao động Trong khi đó công nghiệp trong nước lại phải phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu Do đó thu nhập thực tế của người lao động không cao do không tạo ra được giá trị gia tăng Nếu cứ tiếp tục tình trạng như vậy, công nghiệp trong nước nói riêng và cả nền kinh tế nói chung sẽ không thể phát triển bền vững Chỉ có phát triển CNPT mới có thể tạo ra thế chân đế vững chắc cho sản xuất, tạo tiền đề cho phát triển ổn định và lâu dài các ngành công nghiệp khác
5 Các nhân tố ảnh hưởng đến CNPT
5.1 Qui mô cầu
Ngành CNPT như đã biết là ngành đòi hỏi nhiều vốn và trình độ công nghệ cao và có lợi thế kinh tế tăng theo qui mô Để giảm thiểu chi phí trên một đơn vị sản phẩm, các doanh nghiệp phải tăng qui mô và công suất hoạt động Đó là lí do tại sao các nhà đầu tư muốn đảm bảo một thị trường có dung lượng lớn hoặc có tiềm năng dung lượng lớn trong tương lai trước khi ra quyết định đầu tư Nói cách khác, qui mô cầu lớn là điều kiện thiết yếu để phát triển CNPT Đây là một thách thức lớn đối với các DNVVN do khan hiếm vốn nên nếu không được đảm bảo về đầu ra các doanh nghiệp không thể mạnh dạn đầu tư Chính vì vậy để phát triển CNPT cho các DNVVN đòi hỏi
Trang 17phải có chính sách thích hợp để thúc đẩy các ngành công nghiệp phát triển nhằm tăng quy mô cầu
5.2 Thông tin
Trên bất cứ thị trường nào cũng xảy ra tình trạng thông tin bất cân xứng Đặc biệt trong ngành CNPT sự chia sẻ và nắm bắt thông tin giữa các nhà cung cấp sản phẩm CNPT và các doanh nghiệp lắp ráp có ý nghĩa quyết định Tình trạng thiếu thông tin sẽ cản trở giao dịch giữa nhà sản xuất và nhà lắp ráp, nhất là các doanh nghiệp FDI Khi phải tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc trong việc tìm kiếm nhà cung cấp nội địa, các nhà lắp ráp FDI sẽ không muốn đầu tư vào nước đó Và như vậy CNPT sẽ không có cơ hội phát triển ở trường hợp ngược lại, các nhà cung cấp nội địa muốn cung ứng cho các doanh nghiệp lắp ráp này nhưng do chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên khả năng tiếp cận thông tin của các nhà sản xuất này còn hạn chế Do đó cung không gặp được cầu, tất yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của CNPT
5.3 Tiêu chuẩn chất lượng
Sự chênh lệch về tiêu chuẩn chất lượng giữa nhà cung cấp nội địa và các doanh nghiệp lắp ráp cũng là một yếu tố cản trở CNPT Khi các doanh nghiệp cung cấp phàn nàn về yêu cầu của các nhà lắp ráp là quá khắt khe còn các công ty lắp ráp cho rằng sản phẩm mình được cung cấp không đạt tiêu chuẩn thì sự khập khiễng đó sẽ dẫn tới tình trạng: trong khi các công ty lắp ráp thiếu hụt các loại linh kiện và phải bù đắp bằng cách nhập khẩu thì các nhà sản xuất lại không dám bỏ vốn đầu tư mua công nghệ đạt tiêu chuẩn của công ty lắp ráp vì sợ không có được các đơn hàng ổn định, lâu dài Lấy ví dụ Canon Việt Nam, yêu cầu của Canon là dù sản xuất 100 hay 1000 sản phẩm thì chất lượng cũng phải đồng đều nhau và điều này phải được duy trì như một nguyên tắc bất di bất dịch Thế nhưng doanh nghiệp Việt nam cung cấp linh kiện cho Canon, lần thứ nhất chất lượng rất tốt nhưng từ lần thứ hai trở đi đã có sự thay
Trang 18đổi Chính điều đó khiến Canon e ngại đối với các nhà cung cấp Việt Nam Theo ý kiến của một số doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành CNPT Việt Nam, việc sản xuất chủ yếu là học hỏi từ bạn bè hoặc đúc rút trong quá trình sản xuất nên việc đạt được sự đồng đều về chất lượng là rất khó Nếu không được hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật thì sẽ thật khó để có được sự gặp gỡ giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các nhà lắp ráp nước ngoài
5.4 Nguồn nhân lực
CNPT là ngành đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao Có ý kiến cho rằng nguồn nhân lực còn quan trọng hơn máy móc hiện đại Bởi lẽ máy móc, dây chuyền công nghệ thì nước nào cũng có thể sở hữu chúng Do đó nếu chỉ đơn thuần dựa vào máy móc thì sẽ không tạo ra được khả năng cạnh tranh quốc tế
Sự thành công hay thất bại của nền CNPT của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ kỹ sư và các chuyên gia, những người trực tiếp vận hành, cải tiến máy móc và phát minh ra những phương pháp làm việc mới hiệu quả hơn
về mặt chi phí của các nhà lắp ráp và có thể biến quốc gia thành cơ sở xuất khẩu những thành phẩm Các ưu đãi như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, khấu trừ thuế mua máy móc… sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư
Trang 19vào CNPT Các chính sách khác như hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ đào tạo… cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngnàh CNPT
II TÁC ĐỘNG CỦA CNPT ĐỐI VỚI CÁC DN VỪA VÀ NHỎ
1 Phát huy các nguồn lực của doanh nghiệp
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ( DNVVN) trên thế giới đều có lợi thế về lao động, kinh nghiệm thực tế trong hoạt động sản xuất nhưng lại kém lợi thế về vốn, công nghệ và trang thiết bị Do đó doanh nghiệp khó có thể tự mình cung cấp những sản phẩm hoàn thiện Bởi lẽ nó đòi hỏi một tiềm lực quá lớn so với khả năng của các doanh nghiệp Nếu cứ sản xuất doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng nhũng công nghệ cũ, chi phí vốn không quá cao và do vậy chất lượng sản phẩm sẽ không đảm bảo, không được thị trường chấp nhận hoặc có một dung lượng thị trường vô cùng nhỏ hẹp Không bán được hàng, doanh số thấp, lợi nhuận thấp dẫn đến tích luỹ thấp Doanh nghiệp lại tiếp tục thiếu vốn để đầu tư cho máy móc Mặt khác, do thiếu những qui chuẩn chất lượng và bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý rằng sản phẩm của mình đã không thể cạnh tranh trên thị trường nên công nhân thường làm việc kém nhiệt tình, không cẩn thận Tất yếu là chất lượng sản phẩm sẽ ngày càng kém Doanh nghiệp rơi vào cái vòng luẩn quẩn và khó có thể đi lên được
Ngược lại, chủ các DNVVN trong ngành CNPT thường là các kỹ sư hoặc thợ kỹ thuật lành nghề nên họ rất có kinh nghiệm về máy móc và thực tế sản xuất một bộ phận nào đó Họ có thể sản xuất các linh kiện, bộ phận một cách hiệu quả hơn hẳn bất cứ một doanh nghiệp lớn nào Do vậy, tham gia vào một khâu trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng tức là hoạt động trong lĩnh vực CNPT quả là một giải pháp hữu hiệu đối với các DNVVN Tham gia CNPT tức là chuyên môn hoá vào sản suất một loại sản phẩm phụ trợ cho công nghiệp lắp ráp, doanh nghiệp cần tập trung toàn bộ nguồn lực của mình Doanh nghiệp sẽ phải nỗ lực, mạnh dạn và tích cực hơn trong việc tìm kiếm
Trang 20nguồn vốn đầu tư, sẽ phải nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân sao cho
có thể vận hành tốt máy móc hiện đại, sẽ phải nghiên cứu tìm hiểu những công nghệ phù hợp để giá không quá cao mà vẫn đảm bảo chất lượng…
Bên cạnh đó, do sức cạnh tranh khốc liệt trên thị trường sản phẩm CNPT, các doanh nghiệp phải đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và xúc tiến các hoạt động bán hàng sao cho hiệu quả Bởi lẽ các DNVVN nhất là ở những nước đang phát triển thường rất kém và thiếu kinh nghiệm trong hoạt động marketing Họ thường thụ động trong kinh doanh, chỉ sản xuất ra và đợi đơn đặt hàng chứ hiếm khi thấy họ đi mời chào sản phẩm của mình CNPT đã góp phần cải thiện đáng kể tư duy và phương thức kinh doanh của các DNVVN Như vậy, CNPT không chỉ tạo ra cơ hội mà còn tạo ra động lực thúc đẩy các DNVVN không ngừng đổi mới mình, nỗ lực phát huy nội lực
2 Tận dụng ngoại lực
2.1 CNPT giúp chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI
Vốn đầu tư nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế Các công ty nước ngoài chủ yếu là các công ty đa quốc gia thường chọn những nơi có nền CNPT phát triển nhằm cắt giảm chi phí trong khâu nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng Nhà cung cấp của các doanh nghiệp FDI này hoặc là các công ty con của nó được đặt ở nước nhận đầu tư để tận dụng các ưu đãi đầu tư, hoặc là các công ty nước ngoài khác đặt ở thị trường nội địa hoặc là các DNVVN của nước nhận đầu tư
Khi đầu tư vào một nước, đi cùng với các doanh nghiệp FDI này là máy móc, công nghệ được chuyển giao sang nước tiếp nhận đầu tư Sự chuyển giao này được thực hiện theo các hình thức:
Trang 21- Chuyển giao trong nội bộ doanh nghiệp( intra- firm transfer): đây là hình thức chuyển giao công nghệ giữa các công ty đa quốc gia và các công ty con của nó
- Chuyển giao giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp bản xứ hoạt động trong cùng ngành
- Chuyển giao hàng dọc giữa các doanh nghiệp ( vertical inter- firm transfer): doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp bản
xứ sản xuất các sản phẩm trung gian cung cấp cho các doanh nghiệp FDI hoặc trường hợp doanh nghiệp bản xứ dùng sản phẩm của doanh nghiệp FDI để sản xuất thành phẩm cuối cùng
Trong một số trường hợp, sau khi làm việc trong doanh nghiệp FDI một thời gian, nhân viên trong công ty tách ra mở công ty riêng và trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI này
Như vậy, dù trực tiếp hay gián tiếp, doanh nghiệp FDI đã chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh, kinh nghiệm quản lý sang cho các doanh nghiệp bản xứ Và để thu hút đước các doanh nghiệp FDI thì CNPT phải phát triển Đây là hiệu quả lan toả mà các DNVVN cần tranh thủ tận dụng
2.2 Đa dạng hoá cơ cấu các doanh nghiệp trong ngành CNPT đáp ứng nhu cầu các doanh nghiệp FDI
CNPT phát triển góp phần thu hút đầu tư nước ngoài nhờ cải thiện môi trường đầu tư Các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào một nước luôn mong muốn tìm được các nhà cung cấp nội địa để cắt giảm chi phí Đó chính là cơ hội cho các doanh nghiệp bản xứ
Trước khi các doanh nghiệp FDI đến đầu tư hầu hết các doanh nghiệp đều
tự sản xuất theo mẫu mã, thiết kế và tiêu chuẩn chất lượng của mình rồi bán ra
Trang 22trên thị trường Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp cũng như chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp kiểu này còn rất hạn chế
Đồng thời với sự gia tăng của các doanh nghiệp FDI mà chủ yếu là các công ty đa quốc gia là sự xuất hiện các công ty con do các công ty đa quốc gia này thành lập hoặc các doanh nghiệp nội địa cung cấp linh phụ kiện, phụ tùng cho các doanh nghiệp FDI Như vậy ngành CNPT đã có thêm các loại hình doanh nghiệp mới có mối quan hệ dựa trên cơ sở hợp đồng hợp tác hoặc quan
hệ trực thuộc công ty mẹ- con với doanh nghiệp FDI
Sau một thời gian hoạt động của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp bản xứ đã có thể phần nào nắm được công nghệ và nâng cao trình độ kinh doanh, trình độ quản lý… thông qua chuyển giao công nghệ Họ thành lập công ty mới với hoạt động kinh doanh chủ yếu là: cung cấp một loại linh kiện cho doanh nghiệp FDI; hoặc cạnh tranh với các công ty con của doanh nghiệp FDI trong việc cung ứng; hoặc mua linh kiện từ các doanh nghiệp FDI để sản xuất các thành phẩm cuối cùng và cạnh trạnh trên thị trường; hoặc xuất khẩu linh phụ kiện…
Như vậy khi số lượng các doanh nghiệp FDI tăng lên nhờ CNPT phát triển thì các doanh nghiệp cung ứng trong nước không chỉ tăng lên về số lượng mà
cả cơ cấu cũng đa dạng hơn Ví dụ, ở Việt Nam trước khi có nhiều doanh nghiệp FDI đầu tư, chúng ta chỉ có vài doanh nghiệp nhà nước làm công nghiệp phụ trợ nhưng cùng với sự gia tăng đầu tư nước ngoài, tính đến tháng 31/12/2005 chúng ta đã có 25.564 doanh nghiệp công nghiệp bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiẹp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 233 Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNVVN
3.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
“ Báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu”- Diễn đàn kinh tế thế giới năm
1997 đã đưa ra khái niệm như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra
3.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nói đến cạnh tranh là nói đến sự so sánh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự so sánh tương quan giữa các doanh nghiệp căn cứ trên một số tiêu chí như vốn, công nghệ, sản phẩm và các nguồn lực kinh doanh
3.2.1.Vốn
Bất kì một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần có vốn Đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất nhất là các doanh nghiệp CNPT thì vốn là nhân tố vô cùng quan trọng Nó quyết định qui mô sản xuất, trình độ công nghệ của doanh nghiệp đó Vốn lớn, doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động sản xuất, mở rộng thị trường, mở rộng kênh phân phối, đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ…
Có thể nói vốn càng lớn thì khả năng cạnh tranh càng được đảm bảo hơn
Về điểm này thì các DNVVN luôn kém lợi thế hơn so với các công ty lớn Với nguồn vốn ban đầu thường thấp, khả năng tiết kiệm không đáp ứng nhu cầu đầu tư, nếu hạn chế nhu cầu đầu tư ở mức tích luỹ cho phép thì lợi nhuận
sẽ không cao Để tăng lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh thì phải đảm bảo một tỷ lệ đầu tư cao tức phải có vốn lớn Vậy vốn ở đâu ra? Các doanh nghiệp
có nhiều cách để huy động vốn như vốn chủ doanh nghiệp tự có hoặc vay của
Trang 24người thân, vốn vay từ ngân hàng hay các tổ chức tín dụng, vốn do phát hành chứng khoán…và một kênh huy động vốn đặc biệt hiệu quả, không phát sinh
nợ trong tương lai đó chính là vốn FDI mà kênh dẫn dắt FDI mạnh nhất, hữu hiệu nhất hiện nay chính là phát triển CNPT Ví dụ, nhờ phát triển công nghiệp phụ trợ mà Trung Quốc là điểm đến hấp dẫn hàng đầu của đầu tư nước ngoài Trong 3 tháng đầu năm 2008 Trung Quốc đã thu hút được 2,74 tỷ USD vốn FDI
3.2.2 Trình độ công nghệ
Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra từng ngày đặc biệt đối với ngành công nghiệp thì “ đi tắt đón đầu” về công nghệ là chiến lược kinh doanh hiệu quả cho các doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc sản xuất ra các thành phẩm đòi hỏi tỷ trọng về sức lao động ngày càng giảm và tỷ trọng về công nghệ ngày càng tăng Do đó hàm lượng công nghệ trở thành tiêu chí quan trọng trong việc xét đến năng lực cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường
Công nghệ hiện đại giúp tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ tiềm lực để nghiên cứu hay mua công nghệ hiện đại nhất là đối với các DNVVN Bằng nội lực của mình thì thật khó cho các DNVVN nếu muốn có được các hợp đồng mua công nghệ( licensing agreement) Giải pháp đưa ra là doanh nghiệp có thể du nhập công nghệ từ nước ngoài qua các kênh như FDI, hợp đồng BOT, OEM( original equipment manufacturing) , uỷ thác sản xuất trong đó hiệu quả nhất
là chuyển giao công nghệ thông qua FDI
Trang 25Như vậy nhờ CNPT phát triển một quốc gia sẽ thu hút được nhiều FDI hơn Thông qua đó đất nước nói chung, các doanh nghiệp nói riêng sẽ tiệp nhận được công nghệ hiện đại thông qua chuyển giao công nghệ Kết quả là năng lực cạnh tranh của cả doanh nghiệp và quốc gia đều tăng lên Ví dụ về tổ hợp công nghiệp Wanxiang Group của Trung Quốc Khi mới thành lập nó chỉ
là một xưởng sản xuất phụ tùng máy kéo dùng trong nông nghiệp Hoà nhịp cùng sự mở cửa của nền kinh tế, xí nghiệp nhỏ này đã chuyển hướng sang khai thác thị trường phụ tùng ô tô và tận dụng tiếp nhận công nghệ chuyển giao của các nước tiên tiến, dần năng cao khả năng cạnh tranh Đến nay Wanxiang Group đã trở thành một tổ hợp công nghiệp chế tạo phụ tùng ô tô khổng lồ
3.2.3 Sản phẩm
Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện thông qua khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp đó trên thị trường bởi lẽ sản phẩm có bán được người ta mới biết đến doanh nghiệp Với các doanh nghiệp lớn, tiềm lực dồi dào họ có nhiều điều kiện để nghiên cứu và phát triển sản phẩm do vậy có thể thắng trong cạnh tranh nhờ chiến lược khác biệt hoá sản phẩm và ưu tế người đi đầu Nhưng đối với các DNVVN, giảm chi phí là chiến lược cạnh tranh phù hợp nhất với điều kiện vốn và công nghệ hạn chế
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố cơ bản: chi phí, chất lượng và thời gian (khả năng cung cấp hàng) Đối với sản phẩm công nghiệp thì chi phí có thể coi là nhân tố quan trọng hàng đầu Chi phí của một sản phẩm gồm chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí nhân công, chi phí sản xuất, chi phí cho hoạt động logistic… Sản phẩm của mỗi ngành nghề khác nhau thì tỷ lệ giữa các loại chi phí khác nhau Đối với sản phẩm công nghiệp thì giá thành linh phụ kiện thường chiếm từ 70% đến 90% trong khi chi phí nhân công chỉ chiếm không quá 10% Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dù bán
Trang 26sản phẩm tại thị trường nội địa hay xuất khẩu, dự án đầu tư đều có nhu cầu rất lớn về mua sắm các sản phẩm phụ trợ như phụ tùng nhựa, khuôn kim loại, linh kiện, phụ tùng…Có nguồn cung cấp linh, phụ kiện dồi dào, có chất lượng cao ngay trong nước thì tổng giá thành sản phẩm sẽ hạ, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm Như vậy để tăng khả năng cạnh tranh thì giảm chi phí về linh kiện sẽ hiệu quả hơn giảm chi phí về nhân công Để làm được điều này bắt buộc nền CNPT phải phát triển Ví dụ về sản phẩm ô tô: Một chiếc ô tô bất kỳ đều cần khoảng 20.000- 30.000 chi tiết với hàng ngàn linh kiện Thái Lan xuất khẩu ô tô với linh kiện, phụ tùng sản xuất tại chỗ với 15 nhà máy lắp ráp nhưng có đến 2.500 nhà cung ứng trong khi Việt Nam chỉ có 49 nhà cung cấp, tỷ lệ nội địa hoá đạt được chỉ ở mức 5- 10% và chỉ cung cấp được vài sản phẩm đơn giản, giá trị thấp như bộ dây điện trong xe, ghế ngồi, một số chi tiết bằng nhựa hoặc kim loại Đó chính là lí do mà tính cạnh tranh của ô tô Việt Nam còn rất thấp
3.2.4 Nguồn lực kinh doanh
Tri thức quản lý, kinh nghiệm quản lý, khả năng kinh doanh, trình độ ngưòi lao động… được gọi chung là nguồn lực kinh doanh Nguồn lực kinh doanh góp phần ngày càng lớn trong xây dựng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Một người lãnh đạo có tài, có tầm nhìn xa trông rộng, năng lực kinh doanh giỏi sẽ đưa ra được những chiến lược phát triển tối ưu cho doanh nghiệp CNPT là ngành phụ thuộc nhiều vào các chính sách của Chính Phủ nên sẽ có những thay đổi trong định hướng phát triển Do vậy sự nhạy bén, linh hoạt trước những thay đổi đó của người đứng đầu doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với công ty Với các DNVVN khả năng tiếp cận thông tin còn hạn chế nên đứng trước những bước thay đổi trong chính sách của Chính Phủ, tài năng của người quản lý càng trở nên quan trọng
Trang 27Một yếu tố nữa là các DNVVN nói chung có lợi thế về lao động rẻ nhưng lực lượng lao động có trình độ công nghệ và tay nghề cao lại ít Do vậy khi tham gia vào CNPT các doanh nghiệp phải nâng cao trình độ cho đội ngũ công nhân Xét trên khía cạnh đó CNPT đã làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 28CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CNPT CHO CÁC DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRUNG QUỐC
I SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CNPT Ở CÁC DNVVN CỦA TRUNG QUỐC
1 Nguyên nhân phát triển CNPT cho các DNVVN Trung Quốc
1.1 Nguyên nhân khách quan
1.1.1 Hợp tác hoá và chuyên môn hoá- tất yếu khách quan của sự ra đời
và phát triển của CNPT Trung Quốc
Thực hiện đổi mới nền kinh tế từ sau năm 1978, Trung Quốc đã hoà chung vào bối cảnh của thế giới tức là tham gia vào quá trình toàn cầu hoá đang diễn
ra sôi nổi trên khắp các quốc gia Toàn cầu hoá nảy sinh hai xu hướng trái ngược nhau song lại bổ sung cho nhau đó là hợp tác hoá và chuyên môn hoá Hợp tác hoá là sự liên kết giữa các quốc gia, các ngành, các doanh nghiệp để cùng phát triển Chuyên môn hoá thể hiện qua sự phân công lao động quốc tế sâu sắc Chuyên môn hoá giúp mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp tận dụng tối
đa được lợi thế so sánh của mình Chuyên môn hoá không thể tách rời hợp tác hoá mà luôn gắn liền nhau Chẳng hạn, các quốc gia phương Tây có lợi thế về vốn, công nghệ còn các nước đang phát triển có lợi thế về tài nguyên và lao động Nếu thực hiện phân công tốt, các nước phát triển chuyên sản xuất các phần, bộ phận, linh kiện có hàm lượng vốn và công nghệ cao còn các nước đang phát triển chuyên sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động cao, sau
đó hợp tác với nhau để cho ra sản phẩm cuối cùng thì sẽ phát huy tối đa lợi thế của các bên Lấy ví dụ hãng Boeing của mỹ, để sản xuất một chiếc máy bay nó đã mua linh kiện từ hàng chục quốc gia khác nhau và chỉ nắm giữ công nghệ lắp ráp và một số công nghệ đặc biệt khác Chuyên môn hoá và
Trang 29hợp tác hoá phát triển thúc đẩy phân công lao động kéo theo sự phát triển CNPT bởi bản chất của CNPT chính là tham gia vào các khâu trong quá trình sản xuất ra sản phẩm Trung Quốc hội nhập với thế giới thì cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng của 2 xu hướng đó Có thể nói, CNPT Trung Quốc hình thành theo đúng tất yếu khách quan của 2 xu hướng hợp tác hoá và chuyên môn hoá khi Trung Quốc tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới
1.1.2 DNVVN phù hợp với đặc điểm ngành CNPT
Trong lĩnh vực CNPT, yếu tố chuyên môn hoá quyết định tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp lớn không thể tận dụng được lợi thế về vốn và công nghệ, kinh nghiêm quản lý( điều mà các DNVVN bất lợi thế so sánh) nếu như phải chia nhỏ các nguồn lực ra để giải quyết tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, từ nguyên vật liệu, linh phụ kiện, phụ tùng, phụ liệu, lắp ráp, kho bãi, phân phối… Lấy ví dụ để sản xuất một chiếc ô tô, hãng Toyota cần có 1.600 nhà cung cấp các loại chi tiết, linh kiện Hãng Meccedes cũng có khoảng 1.400 doanh nghiệp cung cấp Như vậy, chỉ cần vài hãng lắp ráp cuối cùng nhưng họ cần hàng ngàn doanh nghiệp sản xuất trước đó Một chuỗi các hoạt động của ngành CNPT này chủ yếu do các DNVVN đảm nhận
Nếu các DNVVN tham gia cạnh tranh trên thị trường mà chỉ dựa vào sức mạnh của bản thân họ để sản xuất các thành phẩm thì họ sẽ phải đối mặt với vấn đề tồn tại hoặc bị loại bỏ do bị hạn chế bởi vốn và công nghệ Do đó tốt hơn hết là các DNVVN hợp tác với các doanh nghiệp lớn dựa trên mối quan
hệ như là một “ đội chuyên chở máy bay” hay các vệ tinh của doanh nghiệp lớn trong việc cung cấp phụ kiện, thực hiện các hợp đồng gia công… - điều là lợi thế của DNVVN
Trang 30Hơn nữa, như đã biết CNPT và FDI có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm CNPT chủ yếu dựa trên hai hình thức:
(1) Hình thức tổ chức kiểu “ cái ô”, công ty mẹ được phân thành hệ thống các công ty con có quan hệ với công ty mẹ theo hình cái ô; mỗi công ty con chịu trách nhiệm sản xuất một số bộ phận phụ tùng chuyển về công ty mẹ lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm
(2) Hình thức tổ chức “ mắt xích”, tập đoàn sản xuất bao gồm nhiều công
ty được liên kết với nhau theo kiểu mắt xích dựa trên cơ sở hợp đồng hoặc thị trường
Cả hai hình thức tổ chức doanh nghiệp nêu trên đều phù hợp với loại hình DNVVN
Bên cạnh đó DNVVN cũng có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong các ngành CNPT:
Thứ nhất, có thể sử dụng các loại máy móc, thiết bị sản xuất trong nước, dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết vị kỹ thuật mà không cần nhiều chi phí; có thể kết hợp cả những công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, sản xuất những sản phẩm chất lượng cao trong điều kiện sản xuất không thuận lợi
Thứ hai, nhạy cảm với những biến động của thị trường, chuyển đổi mặt hàng nhanh phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, tận dụng được các nguồn nguyên liệu, nhân lực tại chỗ
Thứ ba, dễ dàng duy trì sự tự do cạnh tranh, làm vệ tinh gia công, chế tác cho các doanh nghiệp lớn DNVVN có thể len lỏi, xâm nhập vào các thị
Trang 31trường ngách và dễ dàng tạo nên sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền trong lãnh thổ một quốc gia
1.2 Nguyên nhân chủ quan: CNPT là nhu cầu bức thiết mà nội tại nền kinh tế Trung Quốc đòi hỏi
Mở cửa nền kinh tế, mở cửa lĩnh vực ngoại thương và tạo nhiều chính sách
ưu đãi cùng với lợi thế về tài nguyên và lao động rẻ, dồi dào Trung Quốc đã thu hút được các luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài rất lớn
Thời gian đầu của thập kỷ 80 các doanh nghiệp FDI này vào Trung Quốc chủ yếu tập trung vào các sản phẩm công nghiệp nhẹ Các công ty nước ngoài, cụ thể là các công ty của Hồng Kông và Nam Á đã kết hợp sức mạnh trong việc tiếp cận thị trường và kỹ năng quản lý của họ với lợi thế của Trung Quốc về chi phí đất đai và lao động thấp để đạt được những lợi thế cạnh tranh mới Trong thập kỷ 90, các công ty đa quốc gia phương tây đã chuyển bộ phận sản xuất và lắp ráp sang hoạt động ở Trung Quốc; trong khi đó, Đài Loan và một số nước Nam Á cũng thành lập những cơ sở sản xuất của họ ở Trung Quốc trong ngành công nghệ thông tin và sản phẩm công nghệ cao Những thay đổi này cho phép kết hợp việc nghiên cứu và triển khai(R & D) ở nước ngoài và chi phí lao động, nguyên liệu thấp ở Trung Quốc còn tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn hơn Với phương châm “ mượn gà đẻ trứng” và khẩu hiệu “ xây tổ đón phượng hoàng” Trung Quốc đã thu hút được hàng tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài hàng năm Từ năm 1989 đến năm 2001 tổng vốn FDI đã thực hiện của Trung Quốc là 400 tỷ USD Qui mô trung bình của các dự án FDI cũng tăng từ 0,97 triệu USD năm 1989 lên 2,6 triệu USD năm 2001 FDI cũng chuyển từ việc tập trung vào lĩnh vực sản xuất thông thường sang các ngành công nghiệp ưu tiên, lĩnh vực hạ tầng và công nghệ cao Do đó nhu cầu
về CNPT là rất lớn Có thể nói FDI đi trước và lôi kéo, thúc đẩy CNPT Trung Quốc phát triển, thể hiện là:
Trang 32- Trước khi FDI vào đã có công ty trong nước sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ cung cấp cho các công ty lắp ráp, sản xuất sản phẩm chính cho thị trường nội địa Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất công nghiệp phụ trợ phát triển mạnh hơn nhờ tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI Chính nhờ chuyển giao công nghệ từ các công ty đa quốc gia tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng
và giá thành cạnh tranh của các doanh nghiệp Trung Quốc trở thành hiện thực CNPT Trung Quốc bước đầu hình thành và phát triển
- Đồng thời với sự gia tăng của FDI nhiều doanh nghiệp bản xứ ra đời trong các ngành CNPT chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI CNPT lại có thêm nhiều nhà cung cấp, và bước thêm một bước nữa
- Sau một thời gian hoạt động của doanh nghiệp FDI với lượng sản xuất ngày càng mở rộng, tạo thị trường ngày càng lớn cho CNPT, nhiều công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài sẽ đến đầu tư Đó là biểu hiện cho thấy CNPT đã bắt đầu lớn mạnh
Từ phân tích ở trên, cho thấy việc ưu tiên phát triển các ngành CNPT là mũi đột phá chiến lược để trong thời gian ngắn khắc phục các mặt yếu cơ bản của nền công nghiệp Trung Quốc Với cố gắng lớn và với các ưu tiên về chính sách Trung Quốc đã đẩy mạnh phát triển các ngành CNPT Các ngành này phát triển sẽ tiếp tục thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia tầm cỡ lớn Hơn nữa việc Nhà nước dồn hết nỗ lực tập trung phát triển ngành này tự nó gây được niềm tin của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường đầu tư Trung Quốc Nói cách khác, do nhu cầu cắt giảm chi phí của các doanh nghiệp FDI
và của nền sản xuất nói chung mà Nhà nước Trung Quốc phải đẩy mạnh phát triển CNPT Khi CNPT đã hình thành và phát triển nó tác động trở lại đến
Trang 33môi trường đầu tư, nó khiến thị trường Trung Quốc trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết với các nhà đầu tư nước ngoài CNPT và vốn đầu tư nước ngoài tác động qua lại bổ sung cho nhau tạo nên động lực thúc đẩy CNPT phát triển
2 Sự hình thành và phát triển của CNPT ở các DNVVN Trung Quốc
Sự hình thành và phát triển của CNPT ở các DNVVN Trung Quốc có thể được tóm tắt qua 3 giai đoạn: giai đoạn sơ khai, giai đoạn hình thành và phát
triển, giai đoạn tăng trưởng mạnh
2.1 Giai đoạn sơ khai (Trước năm 1978)
Từ những năm 1960 cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã diễn ra mạnh
mẽ và cuốn hút tất cả các nước trên thế giới ở những mức độ khác nhau Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội trong quá trình quốc tế hoá sâu sắc tạo ra khả năng hợp tác hoá và chuyên môn hoá trong phân công lao động quốc tế ngày càng phong phú Trước tình hình đó các nước không thể đóng cửa nền kinh tế mà phải mở cửa với thế giới, chuyển xung lực từ bên ngoài thành động lực đưa kết cấu ngành trong nước phát triển lên trình độ cao
Trong khi đó, từ trước những năm 70 nền kinh tế Trung Quốc cùng hệ thống thương mại truyền thống của nó đã bộc lộ sự không phù hợp với xu hướng phát triển nền kinh tế mở của thế giới Trước năm 1978, chính sách kinh tế của trung Quốc là tự cung tự cấp và hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, thực hiện công nghiệp hoá bằng nội lựcvà sự trợ giúp của các nước xã hội chủ nghĩa Chiến lược công nghiệp hoá của Trung Quốc là phát triển nông nghiệp thành nền tảng và công nghiệp thành mũi nhọn của nền kinh tế quốc gia với ưu tiên được giành cho việc phát triển công nghiệp nặng Các ngành như cơ khí, luyện kim… được ưu tiên hàng đầu Nền kinh tế Trung Quốc gần như hoàn toàn đóng cửa, ngoại thương và một số ngành then chốt chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước
Trang 34Với chính sách như vậy suốt thập kỉ 70 và 80, sản xuất công nghiệp và phát triển kinh tế Trung Quốc hoàn toàn chịu kiểm soát của kế hoạch quốc gia hàng năm; hầu hết giá cả của các yếu tố sản xuất được chính quyền trung ương xác định; chỉ có một vài cải cách nhằm vào doanh nghiệp nhà nước Ngược lại với mong muốn và chính sách của Chính quyền Trung Quốc bấy giờ nền công nghiệp không những không đạt được thành tựu mà còn như giậm chân tại chỗ Do chỉ chú trọng phát triển công nghiệp nặng mà không quan tâm phát triển một cách toàn diện nên các khái niệm CNPT khi đó còn rất mơ hồ, ngành CNPT còn rất sơ khai, số các doanh nghiệp làm CNPT cũng rất hạn chế và chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước đảm nhận Các ngành phụ trợ này cung cấp sản phẩm có chất lượng kém và giá thành cao do công nghệ lạc hậu, quản lý kém… nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các doanh nghiệp nhà nước Nhưng cũng vì dùng những sản phẩm phụ trợ này mà các sản phẩm lắp ráp, các loại máy móc hoàn thành tại các công ty nhà nước cũng không có sức cạnh tranh Đó là một sự liên kết kém hiệu suất và bó chân lẫn nhau Cũng trong thời gian này các DNVVN Trung Quốc bị kiềm chế do cơ chế hoạt động cũ của nền kinh tế do vậy CNPT và các DNVVN dường như không hề phát triển
2.2 Giai đoạn hình thành và phát triển (Từ sau năm 1978 đến những năm đầu thế kỷ XXI)
Trong bối cảnh chung của tình hình thế giới, Trung Quốc phải lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình, phải tìm cách tạo cho mình lợi thế so sánh Đứng trước đòi hỏi đó, năm 1978 Quốc vụ viện và Uỷ ban cải cách kinh tế Trung Quốc đã thống nhất thông qua chính sách cải cách kinh tế gắn liền với mở cửa dựa trên quan điểm của Đặng Tiểu Bình: muốn đẩy nhanh nhịp độ phát triển công nghiệp thì cần phải nhập khẩu có chọn lọc công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, nguồn tài chính phục vụ cho nhập khẩu
Trang 35công nghệ dựa vào tăng nhanh xuất khẩu các sản phẩm khai khoáng và tận dụng các khoản vay dài hạn của thế giới Tuy nhiên với đặc điểm là một nước lớn, dân số đông, diện tích rộng với nhiều tài nguyên thiên nhiên Trung Quốc không thực hiện chính sách hướng về xuất khẩu hoàn toàn như một số nước Đông Á khác mà có tập trung phát triển công nghiệp trong nước
Dưới sự ảnh hưởng của chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với sự nới lỏng những giới hạn và tạo điều kiện cho các DNVVN của Chính Phủ, số lượng các DNVVN không ngừng tăng lên Tuy nhiên, những năm đầu sau cải cách
là thời kỳ ổn định trật tự xã hội, kiến tạo những thể chế chính sách mới cho phù hợp với kinh tế thị trường, CNPT mới bắt đầu hình thành và phát triển nên mối quan hệ giữa các DNVVN với CNPT còn chưa thật sự rõ ràng So với trước năm 1978, số lượng các DNVVN tăng lên đáng kể Năm 1980, Trung Quốc có khoảng 377.300 doanh nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu tập thể của các làng, trấn(xí nghiệp hương trấn) trong đó có 1.400 doanh nghiệp lớn, 3.400 doanh nghiệp vừa và372.500 doanh nghiệp nhỏ Tuy nhiên, các DNVVN này chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp truyền thống hoặc các dịch vụ phục vụ trực tiếp đời sống Số DNVVN làm CNPT dường như đếm trên đầu ngón tay mà chất lượng sản phẩm cung cấp cũng còn rất thấp
Từ năm 1980 đến đầu những năm 1990, cùng với sự gia tăng của các công
ty nước ngoài tại Trung Quốc, “thời của CNPT Trung Quốc” đã bắt đầu Tuy nhiên trong giai đoạn này cả các doanh nghiệp nội địa lẫn các công ty nước ngoài đều chỉ chú tâm vào sản xuất những mặt hàng sử dụng nhiều lao động như dệt may, thuộc da, chế biến thực phẩm, đồ gỗ, cao su, sản phẩm nhựa nên CNPT không mấy phát triển Bên cạnh đó, Chính sách của Chính Phủ trong
Trang 36thời gian này là sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, Trung Quốc lúc này chỉ quan tâm làm sao để thúc đẩy xuất khẩu, thu hút thật nhiều FDI, mà chưa có các chính sách cụ thể để tăng tính hấp dẫn cho môi trường đầu tư một cách bền vững, lâu dài Do đó DNVVN giai đoạn này vẫn chỉ hoạt động trong một
số lĩnh vực hạn hẹp, chủ yếu nhằm thoả mãn nhu cầu trong nước, còn cung cấp sản phẩm phụ trợ cho các doanh nghiệp FDI chủ yếu vẫn là các công ty con của họ hoặc các công ty nước ngoài của Đài Loan hay Nhật Bản Giai đoạn này Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu phần lớn các linh kiện, phụ tùng
Giai đoạn này, kinh tế Trung Quốc vẫn duy trì xu hướng phát triển nhanh
và ổn định, quy mô của toàn bộ nền kinh tế không ngừng được mở rộng Số DNVVN cũng tăng lên, tuy nhiên so sánh về tỷ lệ thì tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô nhỏ giảm đi 10% do một số nguyên nhân:
(1) Số lượng doanh nghiệp lớn và vừa tăng sau khi điều chỉnh cơ cấu, hợp nhất, sáp nhập
(2)Thay đổi quy định về quy mô doanh nghiệp nên một số lượng lớn các DNVVN trước đây không được thống kê do quy mô quá nhỏ
(3) Việc đẩy mạnh chính sách mở cửa và cuộc khủng hoảng kinh tế Châu
Á khiến các DNVVN quốc doanh bị cắt giảm rất nhiều
Tỷ lệ các DNVVN nói chung giảm trong cơ cấu các loại hình doanh nghiệp nhưng tỷ lệ các DNVVN hoạt động trong ngành CNPT lại tăng Nguyên nhân là do: Đây là giai đoạn Nhà nước đặc biệt quan tâm cải thiện môi trường đầu tư và thu hút FDI Do vậy một loạt luật lệ mới ra đời, trong đó phải kể đến “Luật phát triển công nghiệp”, các ưu đãi về thuế đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển, tự động hoá sản xuất, bảo vệ môi trường, các chính sách khuyến khích CNPT… Phát triển CNPT trở thành hướng ưu tiên
Trang 37chiến lược trong phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài của Trung Quốc trong giai đoạn này Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Trung Quốc sau một thời gian đã chuyển giao công nghệ và kỹ năng kinh doanh cho các doanh nghiệp bản xứ Do đó, cùng với cơ chế hoạt động linh hoạt của mình nay được hỗ trợ về vốn, công nghệ và thị trường tiêu thụ sản phẩm từ phía các doanh nghiệp FDI, lại nhận thức được nhu cầu thị trường vô cùng lớn về sản phẩm phụ trợ, các DNVVN Trung Quốc đã mạnh dạn và an tâm tham gia CNPT Hơn nữa như đã phân tích ở trên, DNVVN là loại hình doanh nghiệp có thể nói là thích hợp nhất trong ngành CNPT do yêu cầu về phân công lao động và chuyên môn hoá của ngành này Vì thế cho nên số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm CNPT đã tăng lên nhanh chóng
2.3 Giai đoạn tăng trưởng mạnh (từ năm 2001 trở lại đây)
Giai đoạn này được tính từ sau khi Trung Quốc trở thành viên chính thức của WTO năm 2001 Gia nhập WTO và tổ chức hai kỳ Đại hội Đảng thành công là Đại hội lần thứ XVI và lần XVII nền kinh tế Trung Quốc đã thực sự khởi sắc và có thể nói bước đầu thực hiện công nghiệp hoá thành công
Kể từ năm 2001, tốc độ tăng trưởng thực tế của Trung Quốc đạt bình quân gần 9% năm Theo thống kê của WTO, chỉ riêng tổng giá trị thương mại hàng hoá của Trung Quốc đã chiếm khoảng 64% GDP của nước này trong năm
2005 và 6,7% tổng giá trị thương mại hàng hoá của toàn thế giới năm 2004, đưa Trung Quốc từ vị trí thứ 6( năm 2001) trở thành quốc giahiện nay có tổng kim ngạch mậu dịch lớn thứ 3 toàn cầu, chỉ sau EU( 14,5%) và Hoa Kỳ( 13,6%), vượt qua Nhật bản( 5,9%) FDI vào Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh Năm 2005, nước này thu hút được 72,4 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, so với con số 46,6 tỷ USD năm 2001 Lượng vốn FDI tăng mạnh không chỉ thể hiện nhận định của các doanh nghiệp nước ngoài về tiềm năng
to lớn của Trung Quốc với vai trò như một công xưởng giá thành rẻ của thế
Trang 38giới cũng như một thị trường tiêu dùng đang bùng nổ mà còn đánh dấu sự ghi nhận những tiến bộ vượt bậc trong môi trường kinh doanh của nước này, trong đó phải kể đến sự đóng góp của ngành CNPT Trong một số mặt hàng,
ví dụ như thiết bị gia đình, hàng tá các công ty trong và ngoài nước đã mọc lên(thường với sự ủng hộ từ các chính quyền địa phương) sau khi chứng kiến
sự thành công của những nhà sản xuất đầu tiên Ví dụ như, gần 2/3 năng suất sản xuất máy tính xách tay của thế giới đã được chuyển về Suzhou chỉ trong vòng 18 tháng Ngành công nghiệp ô tô, với sự trợ giúp của CNPT cũng đạt được những thành tựu lớn Hiện Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản và trở thành nhà sản xuất ô tô lớn thứ hai trên thế giới, với các tên tuổi như SAIC hay Nam Kinh Auto
Những năm gần đây CNPT Trung Quốc thực sự phát triển và trở thành yếu
tố hấp dẫn nhất thu hút đầu tư nước ngoài Cùng với thành công của ngành CNPT, kể từ tháng 1 năm 2003 “ Luật thúc đẩy phát triển DNVVN” chính thức có hiệu lực đã xác định các tiêu chí của DNVVN cũng như mục tiêu chính sách phát triển kinh doanh nhỏ, do vậy đã góp phần làm tăng đáng kể số lượng DNVVN nói chung cũng như các doanh nghiệp phụ trợ nói riêng.Từ giữa năm 2002 và 2003, các doanh nghiệp nước ngoài đã xây 60.000 nhà máy sản xuất ở Trung Quốc Các công ty hóa chất châu Âu, các công ty sản xuất ô
tô Nhật Bản và các tập đoàn công nghiệp Mỹ đang tiến hành xây dựng (hoặc
đã công bố ý định xây dựng) các nhà máy ở Trung Quốc nhằm cung cấp hàng hoá xuất khẩu khắp thế giới Từ đó đến nay, với sự hỗ trợ và tạo điều kiện của Chính Phủ, sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế, sự gia tăng các luồng vốn đầu tư FDI, sự lớn mạnh của nền CNPT và sự tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động ở lĩnh vực CNPT thời gian qua cùng với sự nhạy bén của mình, các DNVVN Trung Quốc ngày càng hăng hái hơn tham gia ngành CNPT
Trang 39Nền kinh tế Trung Quốc hiện nay chuyển ưu tiên sang sản xuất các sản phẩm có kỹ thuật cao như ô tô, tivi, đồng hồ điện tử, máy điều khiển kỹ thuật
số, máy vi tính… Những sản phẩm này phần lớn thuộc dạng lắp ráp và gia công nên các công đoạn gia công đều do các DNVVN đảm nhận, các doanh nghiệp lớn chỉ thực hiện hoạt động lắp ráp sau cùng Vị trí của các DNVVN được nâng cao do chúng có thể sản xuất theo từng đơn hàng số lượng sản phẩm ít nhưng đa dạng và phong phú về mẫu mã và chủng loại, được đánh giá cao trên thị trường thế giới Trong các ngành truyền thống như may mặc, da giày, các DNVVN cũng tiếp tục khẳng định được chỗ đứng của mình thể hiện
là họ có thể sản xuất được từ mũi, chỉ, da,… đạt 80% nguyên phụ liệu Hầu hết các ngành sản xuất Trung Quốc không những không còn phụ thuộc vào nguồn linh phụ kiện, phụ liệu nhập khẩu mà còn xuất khẩu một lượng lớn Lấy ví dụ về các sản phẩm công nghệ thông tin, trong 3 năm liền từ 2002 đến
2003 sản phẩm máy móc thiết bị điện luôn đứng đầu trong danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Trung Quốc với kim ngạch tương ứng là 65.119,4 triệu USD; 88.997,6 triệu USD; 129.663,7 triệu USD
II CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CNPT CHO CÁC DNVVN CỦA TRUNG QUỐC
Nhằm phát triển CNPT cho các DNVVN Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện các chính sách hỗ trợ thông qua các quy định, văn bản pháp luật như “ Luật thúc đẩy DNVVN” năm 2003, “ Chính sách công nghiệp công nghệ quốc gia” năm 2002, “ Chính sách phát triển công nghiệp ô tô” , “ Kế hoạch công nghiệp ô tô giai đoạn 2006- 2010” Nội dung của các chính sách thể hiện:
Trang 401 Cải tạo và phát triển các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ ở thành phố và thị trấn dưới nhiều hình thức
DNVVN Trung Quốc hoạt động trong ngành CNPT gồm 3 thành phần chính: các doanh nghiệp tập thể, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp phi công hữu thoả mãn các quy định của Chính Phủ về tiêu chuẩn
DNVVN
1.1 Đối với các doanh nghiệp tập thể
Để thúc đẩy các doanh nghiệp tập thể phát triển, Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, cơ cấu doanh nghiệp và cơ cấu hàng hoá Phương pháp điều chỉnh cơ cấu là:
(1) Khuyến khích liên hợp, hợp nhất, tổ chức liên hợp lớn trong nội bộ ngành nghề không kể khu vực, không kể chế độ sở hữu, căn cứ vào yêu cầu của quy mô kinh tế mà liên hợp Phương pháp này nhằm làm giảm số doanh ngiệp có quy mô quá nhỏ hoặc làm ăn không hiệu quả đồng thời liên kết chúng lại với nhau để tận dụng tính kinh tế nhờ quy mô
(2) Đối với ngành nghề mà khả năng sản xuất dư thừa thì chia nhỏ ra lấy một bộ phận trong đó đưa vào ngành nghề được xem là điểm tăng trưởng mới
và các ngành nghề có liên quan khác sẽ sản xuất những linh kiện, bộ phận hoặc tham gia kinh doanh sản phẩm có liên quan đến sản phẩm chủ đạo của ngành nghề này
(3) Thực hiện chế độ hợp tác cổ phần Chế độ này thích hợp nhất với những doanh nghiệp nhỏ có dưới 100 người
Một bộ phận quan trọng của các doanh nghiệp tập thể Trung Quốc, tham gia hoạt động rất có hiệu quả trong ngành CNPT là các doanh nghiệp hương trấn Để phát huy tính tích cực của bộ phận này trong phát triển kinh tế nói chung và CNPT nói riêng, bên cạnh những chính sách áp dụng cho doanh