1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam (2008)

120 544 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Người hướng dẫn ThS. Phạm Thị Mai Khanh
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại châu Á: theo ngân hàng phát triển châu Á ADB – Asia development bank thuật ngữ ĐTMH đề cập đến việc đầu tư vốn cổ phần vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa niêm yết trên TTCK, và ở

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

- -

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TRÊN THẾ GIỚI

VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ĐTMH: Đầu tư mạo hiểm

R&D: Research and development – Nghiên cứu và phát triển

ĐTNN: Đầu tư nước ngoài

KHCN: Khoa học công nghệ

KCNC: Khu công nghệ cao

CNC: Công nghệ cao

CNTT: Công nghệ thông tin

ROI: Return on investment – Suất sinh lời của vốn đầu tư

LBI: Leverage buy in – Mua lại nhờ vốn vay

IPO: Initial public offering – Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng TTCK: Thị trường chứng khoán

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG MỘT: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM 3

I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT, VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH ĐTMH 3

1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT CỦA ĐTMH 3

2 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH ĐTMH 8

2.1 VỐN MẠO HIỂM, VÀ QUỸ ĐTMH 8

2.2 CHỦ THỂ THAM GIA HOẠT ĐỘNG ĐTMH 17

2.3 QUY TRÌNH ĐTMH 18

II VAI TRÒ CỦA ĐTMH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 23

1 ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP ĐTMH CÓ HAI VAI TRÒ CƠ BẢN: 23 2 ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH NÓI CHUNG, VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN NÓI RIÊNG 25

3 ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 26

CHƯƠNG HAI: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TRÊN THẾ GIỚI 29

I QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐTMH TRÊN THẾ GIỚI 29

1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 29

2 XU HƯỚNG HOẠT ĐỘNG ĐTMH TRÊN THẾ GIỚI 35

II HOẠT ĐỘNG ĐTMH TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 37

1 HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở MỸ 37

1.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở MỸ 37

1.2 NHẬN XÉT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở MỸ 45

2 HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở TRUNG QUỐC 49

2.1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở TRUNG QUỐC 49

Trang 4

2.2 NHẬN XÉT CHUNG 54

3 HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở ẤN ĐỘ 56

3.1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở ẤN ĐỘ 56

3.2 NHẬN XÉT CHUNG 60

4 HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở SINGAPORE 61

4.1 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở SINGAPORE 61

4.2 NHẬN XÉT VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ SINGAPORE ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐTMH 64

CHƯƠNG BA: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 68

I THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 68

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐTMH Ở VIỆT NAM 68

2 KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 69

2.1 GIAI ĐOẠN 1990-2002 70

2.2 GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY 73

2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÁC QUỸ ĐTMH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 75

3 THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 80

3.1 THỜI CƠ 80

3.2 THÁCH THỨC 81

II MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 84

1 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 84

1.1 CŨNG NHƯ CÁC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ KHÁC, ĐTMH CHỈ

CÓ THỂ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI NỀN

Trang 5

KINH TẾ KHI ĐƯỢC ĐIỀU TIẾT THEO CƠ CHẾ THỊ

TRƯỜNG 84

1.2 LĨNH VỰC MÀ CÁC QUỸ ĐTMH HƯỚNG ĐẾN TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU LÀ CÁC LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ CAO 85

1.3 KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN, LỚP DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ LÀ ĐỐI TƯỢNG CHÍNH CỦA CÁC QUỸ ĐTMH 85

1.4 MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUỸ ĐTMH ĐƯỢC COI LÀ PHÙ HỢP VỚI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LÀ MÔ HÌNH QUỸ - CÔNG TY CỔ PHẦN 86

1.5 NHÀ NƯỚC ĐÓNG VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG VIỆC TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐTMH 87

1.6 PHÁT TRIỂN ĐTMH LÀ CẢ MỘT QUÁ TRÌNH, LIÊN QUAN ĐẾN NHIỀU LĨNH VỰC VÀ PHẢI PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ 88

2 MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 89

2.1 CÁC GIẢI PHÁP, CHÍNH SÁCH MANG TÍNH VĨ MÔ 89

2.2 CÁC GIẢI PHÁP, CHÍNH SÁCH MANG TÍNH VI MÔ 94

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 102

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Trên thế giới, khái niệm đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) đã ra đời từ lâu, và hoạt động ĐTMH có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế thế giới nói chung, và đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân của các quốc gia nói riêng

Ở các quốc gia phát triển như Mỹ, và một số quốc gia phát triển ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức vốn đầu tư mạo hiểm có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế Mặc dù vốn ĐTMH chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với GDP của các nước nhưng đã được sử dụng một cách hiệu quả để tiến hành đầu tư vào các doanh nghiệp và đã tạo ra hàng triệu việc làm, góp phần làm giảm áp lực thất nghiệp cho nền kinh tế Đồng thời hoạt động ĐTMH đã tạo ra một loạt các công ty mới, nhất là các công ty công nghệ cao, những công ty này đã có những kế hoạch phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) rất lớn và thành công Điều này đã thúc đẩy thị trường tài chính nói chung, và thị trường chứng khoán (TTCK) nói riêng hoạt động

có hiệu quả và năng động hơn Đối với các quốc gia ở châu Á, ĐTMH tuy ra đời chưa lâu nhưng đang ngày càng được quan tâm hơn bởi các nhà đầu tư cũng như chính phủ các nước Các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore là những quốc gia đã thu hút một lượng lớn vốn ĐTMH của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Đối với Việt Nam, hoạt động ĐTMH đã bước đầu được hình thành với một số quỹ ĐTMH đã đi vào hoạt động

Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) để đứng vững trong sự cạnh tranh ngày càng gia tăng, bên cạnh việc duy trì sự ổn định

và bền vững về chính trị, cần có một nền kinh tế phát triển với nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao Tuy nhiên, để phát triển các ngành này đòi hỏi một lượng vốn lớn do thời gian nghiên cứu và phát triển các sản phẩm kéo dài cũng như rủi ro thất bại cao nên việc xây dựng, hình thành và thúc đẩy hoạt động ĐTMH phát triển là cần thiết Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã

chọn đề tài: “Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh

nghiệm cho Việt Nam” làm Khóa luận tốt nghiệp cho mình

Trang 7

Khóa luận nhằm nghiên cứu sự hình thành, phát triển hoạt động ĐTMH trên thế giới cũng như đặc điểm, vai trò của nó đối với nền kinh tế một số nước trên thế giới từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm để áp dụng thành công và phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam hiện nay

Khóa luận sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp từ các số liệu trong nước cũng như nước ngoài kết hợp với phương pháp thống kê Các số liệu sử dụng trong khóa luận chủ yếu tổng hợp từ các nghiên cứu đã được thực hiện về các vấn

đề liên quan mà không qua khảo sát và điều tra riêng

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận có bố cục gồm 3 chương:

Chương Một: Khái quát chung về đầu tư mạo hiểm

Chương Hai: Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới

Chương Ba: Một số bài học kinh nghiệm và gợi ý chính sách để phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam

Trong đó, Chương Một đề cập đến các vấn đề có tính chất tổng quan về đầu

tư vốn mạo hiểm cũng như các kiến thức cơ bản về hoạt động của quỹ ĐTMH và vai trò của đầu tư vốn mạo hiểm đối với nền kinh tế Chương Hai sẽ đi sâu nghiên cứu và phân tích thực trạng hoạt động ĐTMH trên thế giới và một số quốc gia tiêu biểu, qua đó sẽ đưa ra một số nhận xét về hoạt động ĐTMH trên thế giới Và chương Ba, sau khi nghiên cứu thực trạng ĐTMH tại Việt Nam trong thời gian qua cũng như các yếu tố tác động đến ĐTMH ở Việt Nam, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm và gợi ý một số chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động ĐTMH ở Việt Nam trong thời gian tới

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo - Thạc sĩ Phạm Thị Mai Khanh, Bộ môn Đầu tư nước ngoài, Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, người đã trực tiếp hướng dẫn Em tận tình trong suốt thời gian qua cũng như cô giáo chủ nhiệm và toàn thể các thầy - cô giáo trong trường đại học Ngoại Thương đã truyền đạt cho Em những kiến thức quí báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Trang 8

CHƯƠNG MỘT KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM

I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT, VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH ĐTMH

1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất của ĐTMH

Đầu tư mạo hiểm đã xuất hiện từ lâu và không còn mới mẻ đối với nhiều người, nhưng hiện nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thật chính xác ĐTMH là gì Thêm vào đó vì ở các khu vực trên thế giới có đặc thù kinh doanh riêng biệt nên có khá nhiều cách hiểu khác nhau về ĐTMH

Xét về mặt ngữ nghĩa học: Trong tiếng Anh, vốn ĐTMH là “Venture capital” Thuật ngữ venture có nghĩa tổng quát là một hành vi dám chấp nhận rủi ro, nơi có nguy cơ thất bại cao Ngoài ra, trên thế giới “venture” còn được hiểu là một trong những loại hình đầu tư dưới hình thức đầu tư trực tiếp Tuy nhiên, sở dĩ chúng

ta cần phải gọi tên loại hình đầu tư này là “đầu tư mạo hiểm” chủ yếu là để phân biệt với các hoạt động đầu tư thông thường, và nhấn mạnh tới tính rủi ro cao hơn

mà các nhà đầu tư phải chấp nhận khi tiến hành các dự án đầu tư mạo hiểm của mình

Xét về mặt kinh tế học: ĐTMH là một loại hình đầu tư trực tiếp, đây là một thuật ngữ chung để miêu tả việc đầu tư cho các dự án công nghệ hay khoa học đang trong tình trạng khát vốn Trên thế giới, các nhà ĐTMH có khuynh hướng đầu tư vào các ngành kinh doanh đặc thù, doanh nghiệp được nhận nguồn vốn đầu tư này chủ yếu là các công ty vừa và nhỏ, mới thành lập hoặc trong giai đoạn khởi sự còn thiếu kinh nghiệm quản lý, có ý tưởng hay kế hoạch kinh doanh tốt Nhà đầu tư sẽ nhận được lợi nhuận hay cổ phần (thường là cổ phần) khi công ty hoạt động kinh doanh tốt Ngược lại nếu công ty phá sản hay thất bại, nhà đầu tư sẽ bị mất phần vốn đã đầu tư vào công ty đó

Như đã trình bày ở trên, ĐTMH ở mỗi khu vực lại có cách hiểu khác nhau:

Trang 9

Tại Mỹ, theo hiệp hội ĐTMH Mỹ (NVCA - National venture capital association)1 ĐTMH là đầu tư vốn vào doanh nghiệp mới khởi nghiệp, doanh nghiệp trẻ, chưa niêm yết trên TTCK, có khả năng tăng trưởng nhanh, có tính sáng tạo và dựa vào công nghệ Theo quan điểm này, hoạt động ĐTMH chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực có những ý tưởng sáng tạo mới và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao2 Đây được coi là cách hiểu nghĩa hẹp và được nhiều người chấp nhận

Tại châu Âu: theo Ngân hàng Natwest - Anh Quốc thì ĐTMH là một hoạt động được quản lý bởi các cá nhân hay tổ chức đầu tư dài hạn với độ rủi ro tài chính cao cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ, mới thành lập hoặc đã phát triển, chưa niêm yết trên TTCK nhưng có tiềm năng tăng trưởng cao Đây là cách hiểu chung của các nước Châu Âu về ĐTMH và được coi là cách hiểu theo nghĩa rộng Bởi vì, xét về giai đoạn đầu tư, ĐTMH không chỉ bao gồm các khoản đầu tư cho doanh nghiệp từ khi khởi đầu mà còn có cả khoản đầu tư vào doanh nghiệp đã tăng trưởng rồi, và thậm chí cả khoản đầu tư mua lại công ty (MBOs, MBIs)3 Ngoài ra, ĐTMH

có thể đầu tư vào tất cả các lĩnh vực, các ngành trong nền kinh tế Ngay cả khi các lĩnh vực, các ngành đó không mang ý tưởng sáng tạo, hay tiến hành áp dụng những công nghệ mới vào thực tiễn Đây chính là hai điểm khác biệt cơ bản giữa định nghĩa ĐTMH theo kiểu Châu Âu và kiểu Mỹ

Tại châu Á: theo ngân hàng phát triển châu Á (ADB – Asia development bank) thuật ngữ ĐTMH đề cập đến việc đầu tư vốn cổ phần vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa niêm yết trên TTCK, và ở một mức độ nào đó có sự tham gia quản

lý của các nhà đầu tư đối với hoạt động của công ty

Như vậy, có thể tổng quát lại và đưa ra một khái niệm chung về ĐTMH như

sau: “ĐTMH là sự kết hợp giữa hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính Nó không

3

MBOs: Management buy out - Mua laị từ đối tác bên ngoài

MBIs: Management buy in - Mua lại trong nội bộ

Trang 10

chỉ bao gồm hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao mà còn bao gồm cả mọi hoạt động khác trong nền kinh tế Dưới góc độ đầu tư, ĐTMH là quá trình đưa vốn vào lĩnh vực nghiên cứu phát triển công nghệ và sản phẩm tiềm ẩn nhiều rủi ro nhằm thúc đẩy nhanh chóng quá trình thương mại hoá để có được lợi nhuận cao Nếu thể hiện cả quá trình thì ĐTMH là một phương thức đầu tư trong đó vốn được cung cấp vào công ty mới khởi nghiệp, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, công ty phải đối mặt với nhiều rủi ro, sau đó nuôi dưỡng doanh nghiệp phát triển nhanh chóng Sau vài năm, thông qua niêm yết trên thị trường chứng khoán, hợp nhất và chuyển nhượng cổ phần để thu được lợi nhuận lớn nếu công ty phát triển, hoặc sẽ mất hết nếu công ty thua lỗ

Từ cách hiểu tổng quát trên có thể thấy ĐTMH có bốn đặc điểm như sau:

(1) ĐTMH thực chất là một dạng kinh doanh vốn Các nhà ĐTMH (venture

capitalists) cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp mới khởi sự, thường là trong lĩnh vực công nghệ cao, có tính đổi mới mạnh mẽ, và có khả năng tăng trưởng cao Tỉ lệ thất bại của doanh nghiệp trong giai đoạn đầu rất cao, tới 80%-90%, do

đó mức độ thành công khi đầu tư vào các doanh nghiệp có tỉ lệ tương ứng 20% Tất nhiên, mức độ mạo hiểm càng cao thì khi thành công sẽ mang lại lợi nhuận càng lớn cho nhà đầu tư Do vậy, ĐTMH là một hoạt động mang tính rủi ro cao nhưng hàm chứa tiềm năng siêu lợi nhuận trong đó

là10%-Khác với ngân hàng và các quỹ tương hỗ, các nhà cung cấp vốn mạo hiểm không thu hồi vốn và lãi của công ty tiếp nhận vốn đầu tư mà thoát vốn bằng cách bán cổ phần họ nắm giữ trong công ty đầu tư khi công ty niêm yết trên TTCK, hoặc bán lại hay sáp nhập công ty

(2) ĐTMH là một khoản đầu tư lâu dài, mang tình chất chu kỳ, hay mang

tính chất động Tính chu kỳ của nó thể hiện ở chỗ các khoản đầu tư sẽ kết thúc

trong khoảng thời gian nhất định (thường từ 7 đến 10 năm) Vốn mạo hiểm thường được quản lý bởi các quỹ đầu tư, và danh mục đầu tư của các quỹ bao gồm nhiều công ty trong khoảng thời gian dài với các giai đoạn đầu tư khác nhau thường từ 3-

5, 5-7, hay 7-10 năm tuỳ vào từng trường hợp cụ thể Ví dụ như: Quỹ Mekong Enterprise Fund do công ty cổ phần Mekong Capital quản lý, thành lập tháng 4 năm

Trang 11

2002 với số vốn ban đầu là 16 triệu USD Quỹ đã hoàn tất khoản đầu tư đầu tiên vào tháng 3/2003, và giải ngân hết số vốn vào cuối năm 2005 với 10 khoản đầu tư Sau khi quỹ Mekong Enterprise Fund giải ngân hết, Mekong Capital tiếp tục thành lập hai quỹ nữa là Mekong Enterprise Fund II với quy mô 50 triệu USD vào tháng 6/2006, và quỹ VietNam Azalea Fund với quy mô 100 triệu USD vào tháng 6/2007

(3) Nhà cung cấp vốn ĐTMH không chỉ đơn thuần đổ vốn vào các doanh nghiệp mà còn tham gia vào việc quản lý công việc kinh doanh dựa trên kinh nghiệm, tri thức và mạng lưới thông tin lâu năm của mình hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt hơn Đặc biệt với các quỹ ĐTMH, các nhà quản lý quỹ có

trình độ, kinh nghiệm lâu năm, cộng với uy tín, mối quan hệ và danh tiếng của họ trong những thương vụ ĐTMH thành công thì khi họ đầu tư vào một doanh nghiệp có

sự quản lý, tư vấn của họ thì thành công đến với các doanh nghiệp là rất khả quan

ĐTMH là quá trình làm tăng giá trị cả tài sản hữu hình, và tài sản vô hình của doanh nghiệp được đầu tư Do đó yếu tố then chốt trong quá trình đầu tư chính

là yếu tố con người - đội ngũ quản lý của doanh nghiệp Theo một cuộc khảo sát ý kiến các nhà tư bản đầu tư ở 250 công ty ĐTMH Mỹ về những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ vào một doanh nghiệp, cho kết quả 5 yếu tố có ảnh hưởng nhất được trình bày ở Bảng 1:

Bảng 1: Xếp hạng các yếu tố ảnh hưởng nhất đến quyết định ĐTMH

Sản phẩm, dịch vụ, công nghệ của công ty 1.2 5 3 5

Brian I.Hill & Dee Power - Inside secrets to Venture capital, 2001, trang 106

Kết quả cho thấy năng lực đội ngũ quản lý doanh nghiệp luôn đóng vai trò then chốt để các nhà ĐTMH quyết định có đầu tư hay không, yếu tố sản phẩm đóng vai trò thấp nhất trong năm yếu tố, và ba yếu tố còn lại đóng vai trò tương đương

Trang 12

nhau trong quyết đinh đầu tư Do đó, có thể khẳng định rằng ngoài việc có một ý tưởng kinh doanh khả thi, doanh nghiệp cần một đội ngũ quản lý có năng lực cao đủ khả năng thực hiện ý tưởng và kế hoạch đã đề ra Đồng thời với quá trình cấp vốn sẽ là việc đào tào đội ngũ đó, đây là một trong những đặc điểm nổi bật của loại hình ĐTMH

(4) Thu hút vốn ĐTMH không đơn thuần chỉ là thu hút vốn. Khi các doanh nghiệp nhận được vốn ĐTMH thì tên tuổi doanh nghiệp sẽ được biết đến nhờ danh tiếng của nhà ĐTMH, với sự chú ý của giới truyền thông và các giới quan tâm khác

Ít nhất họ sẽ tò mò xem tại sao công ty đó lại nhận được hàng triệu đôla Đồng thời, doanh nghiêp cũng nhận được sự tin tưởng của các đối tác kinh doanh vì đứng đằng sau doanh nghiệp là nhà ĐTMH có nguồn tài chính lớn mạnh

Như vậy, thực chất ĐTMH là một dạng kinh doanh vốn, trong đó người có vốn thông qua một người có kinh nghiệm quản lý đầu tư để tiến hành đầu tư vào các doanh nghiệp chưa trưởng thành và có khả năng sinh lợi cao Tuy nhiên, xét về khả năng cung cấp vốn thì vốn ĐTMH chỉ là một hình thức cấp vốn mang tính chất bổ sung, bên cạnh những hình thức cấp vốn truyền thống khác như cấp vốn qua Ngân hàng, vốn từ ngân sách nhà nước

Bảng 2: Sự khác biệt giữa ĐTMH và đầu tư từ vốn vay ngân hàng

ngân hàng

Thu lãi theo lãi suất

ngắn và dài hạn

Quyền sở hữu của chủ đầu tư Có, và gắn liền với sự thành

công hay thất bại của công ty Không

Cách thu hồi vốn

Ba cách: Bán cổ phần trên thị trường chứng khoán, bán cho bên thứ ba, bán cho chủ doanh nghiệp

Thu hồi vốn vay

Dịch vụ gia tăng trong quá trình

đầu tư

Cung cấp những dịch vụ như: lập

kế hoạch tài chính và chiến lược Không có

Trang 13

kinh doanh; tuyển những vị trí quản lý chủ chốt; vay từ ngân hàng

và các thể chế tài chính khác; tiếp cận với thị trường mới và công nghệ mới; điều hành các hoạt động marketing và sản xuất kinh doanh;

niêm yết công ty trên TTCK

Nguồn: Sunil Mani and Anthony Bartzokas, 2002, tr.16

2 Các yếu tố cấu thành ĐTMH

2.1 Vốn mạo hiểm, và quỹ ĐTMH

2.1.1 Vốn mạo hiểm

Khái niệm vốn mạo hiểm, theo một số tài liệu được dùng để chỉ các nguồn

vốn chuyên dụng được quản lý một cách độc lập, tập trung đầu tư vào vốn cổ phần hoặc liên quan đến vốn cổ phần của các công ty tư nhân tăng trưởng cao Tuy nhiên, xét về bản chất, vốn mạo hiểm có thể hiểu một cách đơn giản là nguồn tài chính cung cấp cho các công ty tư nhân dưới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu tư gần giống như vốn cổ phần có thời gian tối thiểu là một vài năm Đầu tư vốn mạo hiểm là sự vận động của vốn từ những người có tiền, sẵn sàng chấp nhận rủi ro, dù

ở mức độ khá cao, để tìm kiếm lợi nhuận sang những người có ý tưởng, cơ hội kinh doanh nhưng không có khả năng tự biến ý tưởng đó thành hiện thực Nếu thiếu một trong hai yếu tố trên, luồng chu chuyển vốn này sẽ không xuất hiện và đó chính là những yếu

tố cơ bản phân biệt vốn mạo hiểm với các nguồn vốn đầu tư thông thường khác

Theo hiệp hội ĐTMH châu Âu (EVCA): vốn mạo hiểm là một phần trong các khoản đầu tư vốn cổ phần tư nhân, được đầu tư cho việc khởi động doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển ban đầu, hoặc cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh

Theo Ronald J.Gibson và Bernard Black4: vốn mạo hiểm là khoản đầu tư do những tổ chức chuyên môn hoá thực hiện tại những hãng tăng trưởng cao, rủi ro cao

4 Journal of Applied Corporate Finance - Số 9, Mùa Đông 1999, tr 36 - 48

Trang 14

và thường là có công nghệ cao đang cần vốn cổ phần để tài trợ cho phát triển sản phẩm hoặc tăng trưởng

Theo Paul Gompers và Josh Lerner5: Vốn mạo hiểm là những bể vốn độc lập, được quản lý một cách chuyên nghiệp, dành cho một mục tiêu riêng biệt là thực hiện những khoản đầu tư vốn chủ sở hữu trong những công ty tăng trưởng cao được

tư nhân nắm giữ

Hiên nay, có hai cách hiểu về vốn mạo hiểm được sử dụng rộng rãi thể hiện qua định nghĩa rộng và định nghĩa hẹp về vốn ĐTMH

Định nghĩa rộng: Vốn mạo hiểm là nguồn tài chính cung cấp cho các công ty tư

nhân dưới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu tư gần giống như vốn cổ phần

có thời hạn trung bình (3-5 năm).Mục tiêu đầu tư là tìm kiếm được khoản thu nhập vốn cao hơn mức trung bình Khoản thu này trở thành hiện thực sau khi khoản đầu

tư được bán cho một nhà kinh doanh chứng khoán hoặc, như hiện tượng phổ biến hơn ở các nước châu Á là bán cho công chúng Bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm còn tư vấn, ở cấp chiến lược, hướng dẫn các công

ty nhận vốn đầu tư bước sang giai đoạn tăng trưởng tiếp theo và chuẩn bị sẵn sàng

để công ty được chuyển giao cho các cổ đông khác Những tư vấn này là một đặc điểm quan trọng và đặc thù của vốn mạo hiểm Đặc biệt, khi các nhà đầu tư có một

vị trí trong hội đồng quản trị của công ty nhận vốn đầu tư, với các kinh nghiệm thu được từ các công ty khác, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm có thể tác động tới

sự phát triển của các công ty nhận vốn đầu tư Các công ty quản lý vốn mạo hiểm khác nhau đặt ra các trọng tâm khác nhau về mức độ tham gia Mức độ tham gia có thể là tối thiểu, thường gắn liền với một số cổ phần nhỏ, hoặc tham gia công việc thường nhật, như đóng vai trò Chủ tịch hội đồng quản trị, thường gắn liền với việc nắm giữ đa số cổ phần Thuật ngữ vốn mạo hiểm trong định nghĩa này có thể được

sử dụng cùng nghĩa với thuật ngữ vốn cổ phần tư nhân (Private equity)

Định nghĩa hẹp: Phần thu hẹp của định nghĩa rộng xác định vốn mạo hiểm là các

khoản đầu tư vốn cổ phần tư nhân trung hạn vào các công ty nhận vốn chưa trưởng thành Nói cách khác, công ty được đầu tư đang trong giai đoạn đầu của quá trình

5 Journal of Economics perspectives - Số 2, Mùa xuân 2001, tr 145 - 148

Trang 15

phát triển sản phẩm, phát triển năng lực sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ Vì các công ty đang trong giai đoạn này có xu hướng có lịch sử phát triển ngắn hơn và quy

mô nhỏ hơn so với đa số các khoản đầu tư nêu trong định nghĩa rộng, nên rủi ro có

xu hướng cao hơn Và do vậy, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm sẽ tìm kiếm các khoản thu nhập tiềm năng cao hơn Sự khác biệt giữa hai định nghĩa này là mức

độ trưởng thành của các công ty nhận vốn đầu tư Không có quy tắc rõ ràng nào (chẳng hạn một mức doanh số ấn định) để phân biệt hai loại công ty này Thay vào

đó, định nghĩa hẹp được xem là đúng ở giai đoạn đầu của một khoản đầu tư cổ phần

tư nhân Ở các thị trường vốn cổ phần tư nhân đã hoạt động tốt như Mỹ và Anh, người cung cấp vốn có xu hướng tập trung vào đầu hoặc cuối quá trình phát triển của doanh nghiệp Tuy vậy, vẫn có một số người cung cấp vốn sẵn sàng đầu tư trải dài cho đến khi doanh nghiệp trưởng thành

Vốn mạo hiểm có thể được huy động theo nhiều cách khác nhau, trong đó phổ biến nhất là phát hành cổ phiếu Tuỳ thuộc vào tình hình phát triển và những đặc thù của ngành công nghiệp được đầu tư mà có sự tham gia ở mức độ khác nhau của các nhà đầu tư Cho tới nay, một phần đáng kể nguồn vốn mạo hiểm trên thế

giới là xuất phát từ các quỹ hưu trí, các ngân hàng và các doanh nghiệp bảo hiểm

Bên cạnh đó chính phủ ngày càng có những tác động tích cực vào thị trường vốn ĐTMH thông qua việc cung cấp các khoản vay giá rẻ cho có công ty kinh doanh nhỏ để các công ty này đem cho các doanh nhân mà họ thấy xứng đáng vay lại hoặc góp vốn trực tiếp cho các quỹ ĐTMH (được tư nhân quản lý một cách chuyên nghiệp) với tư cách như là một cổ đông Sự can thiệp của chính phủ sẽ có những tác động tích cực đến sự phát triển của thị trường vốn ĐTMH và đến lượt nó thúc đẩy

sự ra đời của các doanh nghiệp khởi sự

Cách thức huy động vốn tuỳ thuộc vào việc quỹ mạo hiểm được thành lập theo hình thức tổ chức pháp lý nào, thông thường là phát hành cổ phiếu, trái phiếu, góp vốn liên doanh, vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, v.v

Quy mô vốn mạo hiểm tùy thuộc các quỹ Tuy nhiên, theo kinh nghiệm tổ chức của nhiều quỹ ở Mỹ và các nước Tây Âu, một quỹ mạo hiểm trung bình chỉ đủ khả năng cung cấp vốn và tham gia quản lý danh mục đầu tư vào khoảng 15 – 20

Trang 16

doanh nghiệp với tổng mức vốn cấp trên một doanh nghiệp khoảng 2 – 3 triệu USD Như vậy, tính trung bình quy mô vốn hoạt động của một quỹ mạo hiểm tại Mỹ và Tây Âu ước tính khoảng 30 – 50 triệu USD Quy mô của các quỹ mạo hiểm nhỏ chỉ khoảng 10 triệu USD hoặc ít hơn, cũng có một số rất ít quỹ có vốn lớn, lên đến hàng tỷ USD Các quỹ mạo hiểm do nhà nước thành lập thường có số vốn rất lớn

Như vậy các nguồn tài trợ cho quỹ ĐTMH rất đa dạng Tính đa dạng cũng như tỷ trọng của từng loại nguồn vốn của quỹ phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường tài chính, sự phát triển của các định chế tài chính, sự phát triển của các ngành công nghệ cao và sự quan tâm của nhà đầu tư tư nhân cũng như của chính phủ đối với hoạt động của quỹ ĐTMH ở từng quốc gia

2.1.2 Khái quát chung về quỹ ĐTMH

Khi nói đến ĐTMH, một khái niệm không thể không được đề cập đến đó là quỹ ĐTMH Vậy quỹ ĐTMH là gì, những đặc điểm, các mô hình hoạt động của quỹ

là như thế nào, và nó có vai trò gì đối với sự phát triển của ngành công nghiệp ĐTMH ở Việt Nam cũng như trên thế giới

a Khái niệm quỹ ĐTMH

Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa quỹ ĐTMH khác nhau, nhưng một trong

những định nghĩa phổ biến nhất coi quỹ ĐTMH là một tập hợp vốn nằm dưới sự

quản lý chuyên nghiệp, được huy động vì mục đích duy nhất là thực hiện những khoản đầu tư vốn cổ phần trực tiếp, có quản lý một cách chủ động vào các công ty tư nhân tăng trưởng nhanh và với một chiến lược thoát vốn đã được xác định rõ ràng

Quỹ ĐTMH là một loại hình quỹ đầu tư có tính chuyên biệt hoá (specialised funds) Điều đó thể hiện ở việc nó chuyên cấp vốn theo phương thức ĐTMH vào một số lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nhanh và chủ yếu là các ngành công nghệ cao Do đó, cũng có thể coi nó là một loại quỹ tăng trưởng Ngoài ra một số quỹ ĐTMH cũng chuyên biệt cả theo hướng đầu tư vào một địa bàn nào đó hoặc một quốc gia nào đó (country fund), có quỹ chuyên đầu tư vào một quỹ mạo hiểm khác nhằm chia nhỏ rủi ro, gọi là quỹ trung gian (fund of funds)

Một khái niệm cần được nhắc tới để phân biệt với quỹ đầu tư mạo hiểm đó là

quỹ đầu tư vốn cổ phần tư nhân Ở châu Âu, hai khái niệm này hầu như không có

Trang 17

sự phân biệt rõ ràng, và được sử dụng thay thế cho nhau Còn ở Mỹ, đây là hai khái niệm tương đối độc lập và phân biệt với nhau Quỹ cổ phần tư nhân bao gồm những quỹ mà vốn góp hình thành nên do quỹ đó được dành cho nhiều hoạt động khác nhau: ĐTMH, mua cổ phiếu giành quyền kiểm soát bằng cách sử dụng đòn bẩy, các

vụ sáp nhập, đầu tư sử dụng nợ thứ cấp có quyền ưu tiên thấp hơn nợ ngân hàng nhưng lại cao hơn so với chứng khoán vốn cổ phần và thường gắn kèm chứng quyền, đầu tư vào chứng khoán nợ mà tổ chức phát hành có nhiều nguy cơ bị mất khả năng thanh toán (chiến lược đầu tư nhằm mua trái phiếu chiết khấu của một công ty bị cạn kiệt về mặt tài chính, sau đó chuyển các chứng khoán đang nắm giữ thành chứng khoán vốn cổ phần và chủ động tham gia vào quản lý công ty đó) và nhiều hoạt động hỗn hợp khác như cho thuê tài sản và mua nợ mạo hiểm (mua các khoản phải thu của những công ty non trẻ có độ rủi ro cao) Còn khái niệm quỹ ĐTMH chủ yếu được dành cho những quỹ đầu tư vào vốn cổ phần và những sản phẩm có liên quan đến vốn cổ phần trong các công ty định hướng tăng trưởng Về nguyên tắc, quỹ cổ phần tư nhân có thể đầu tư vào một công ty ở mọi giai đoạn như: hình thành ý tưởng, khởi sự, mở rộng, mua lại hoặc sáp nhập, cứu vãn hoặc xoay chuyển tình thế, mua lại cổ phiếu đã niêm yết, v.v Còn quỹ ĐTMH thường tập trung vào các công ty ở giai đoan hình thành ý tưởng, thành lập, khởi sự và mở rộng

Một loại hình quỹ đầu tư quen thuộc, và hoạt động rất mạnh ở Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của TTCK đó là quỹ đầu tư chứng khoán Về mặt kinh tế học quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của người đầu tư ủy thác cho công ty quản lý quỹ, và đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán

Bảng 3: So sánh quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ đầu tư chứng khoán

phần – vốn góp)

Theo danh mục đầu tư (cổ phiếu, trái phiếu đã niêm

Trang 18

yết)

Đối tượng đầu tư

Các dự án, doanh nghiệp nhỏ, chưa niêm yết, chủ yếu trong lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng nhanh như công nghệ cao

Các doanh nghiệp đã phát hành chứng khoán ra công chúng

chục triệu USD

Lớn hơn, từ vài chục đến hàng trăm triệu USD

b Đặc điểm của quỹ ĐTMH: có 3 đặc điểm cơ bản sau:

 Tính rủi ro của các khoản đầu tư cao: ĐTMH là một hoạt động có tính

rủi ro rất cao do đối tượng được nhận vốn đầu tư của các quỹ ĐTMH chủ yếu là những công ty tư nhân mới thành lập hoặc hoạt động trong những lĩnh vực mới hình thành Sự rủi ro xuất phát từ bốn yếu tố, cũng đồng thời là bốn đặc điểm của các công

ty nhận đầu tư, đó là: Sự không chắc chắn, thông tin không cân xứng, tính chất của tài sản và các điều kiện trong thị trường tài chính và thị trường sản phẩm có liên quan

Các công ty được đầu tư thường có số tài sản vô hình chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản, đó là những tài sản rất khó định giá và có thể không bán được trong trường hợp hoạt động kinh doanh của công ty bị thất bại Điều kiện thị trường của các ngành được đầu tư cũng có tính biến động rất cao Có những ngành

mà sản phẩm mới còn ở trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm chứ chưa được công chúng thừa nhận rộng rãi Sự không chắc chắn về thành công của sản phẩm, về phản ứng của đối thủ cạnh tranh cũng như của khách hàng Do đó, thành công của công ty nhận vốn đầu tư, và kéo theo đó là lợi nhuận mà nhà đầu tư kỳ vọng nhận được trong tương lai, cũng có tính không chắc chắn rất cao

 Thời hạn của các khoản đầu tư: Các khoản đầu tư của các quỹ ĐTMH

thường là những khoản đầu tư trung đến dài hạn Đối tượng nhận vốn đầu tư của các quỹ ĐTMH chủ yếu là các công ty cổ phần tư nhân, chưa được niêm yết trên thị trường chứng khoán, thậm chí mới ở giai đoạn hình thành ý tưởng Để đi đến được cái đích cuối cùng của quỹ là thực hiện một chiến lược thoát vốn hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao nhất cho các nhà đầu tư vào quỹ từ khoản vốn bỏ ra ban đầu, các công

Trang 19

ty đó phải đạt được sự phát triển ở mức độ nhất định sao cho cổ phiếu của chúng trở nên có sức hấp dẫn Điều này đòi hỏi một khoảng thời gian cần thiết cho sự tích luỹ

mở rộng, có thể kéo dài một vài năm, hoặc đến bảy hay mười năm

 Người đầu tư: Do các khoản đầu tư mà quỹ ĐTMH thực hiện vừa có tính

rủi ro cao vừa là những khoản đầu tư dài hạn nên không phải bất kỳ ai có một khoản tiền tiết kiệm trong tay cũng có thể tham gia vào các quỹ này như trong trường hợp của quỹ tương hỗ Người đầu tư vào quỹ thường là các định chế (nhà đầu tư có tổ chức) như các quỹ hưu trí, quỹ bảo trợ của các trường đại học, công ty bảo hiểm, công ty kinh doanh thông thường hoặc một số ít những cá nhân giàu có Đặc biệt, các nhà đầu tư có tổ chức là đối tượng có vai trò quan trọng do họ có số vốn lớn, có khả năng thực hiện sự đa dạng hoá và có thể chấp nhận đầu tư dài hạn

c Các cách hình thành, mô hình và chức năng của các quỹ ĐTMH

 Các cách hình thành: Có hai cách hình thành quỹ ĐTMH

- Thứ nhất, các công ty tự thành lập quỹ ĐTMH Các công ty hay tập đoàn

có tiềm lực tài chính lớn sẽ tự lập ra một quỹ ĐTMH hoặc cùng hợp tác góp vốn vào một quỹ, họ sẽ thuê hay tiến cử một ban quản lý quỹ chuyên nghiệp chịu trách nhiệm quản lý quỹ đó Quỹ này có thể là quỹ chuyên biệt hóa hoặc quỹ mang tính chất mở rộng Hiện nay, dạng quỹ này khá phổ biến trên thế giới đặc biệt là ở Mỹ

có thể kể ra một số tập đoàn đã thành lập hình thức quỹ này nhưa tập đoàn Intel, Microsoft, …

- Thứ hai, các tổ chức đầu tư có thể tiến hành góp vốn vào các công ty quản

lý vốn ĐTMH chuyên nghiệp (hình thức Limited partnership) Các công ty dạng này gọi vốn từ các nhà đầu tư nhỏ lẻ hay các tổ chức đầu tư để tiến hành đầu tư vào nhiều dự án có thời gian đầu tư vào mỗi dự án từ 3 – 7 năm Và các công ty quản lý quỹ thường lập các quỹ riêng biệt chuyên vào các ngành khác nhau với những mục tiêu đầu tư khác nhau, mỗi quỹ này thường tồn tai từ 10 – 15 năm

 Các mô hình quỹ ĐTMH

- Mô hình quỹ hợp danh hữu hạn (Limited partnership): Mô hình quỹ mạo

hiểm phổ biến nhất hiện nay ở Mỹ và được nhiều nước học tập là dạng tín thác đầu

tư (Investment trust) dưới hình thức hợp danh hữu hạn (Limited partnership) theo

Trang 20

luật Anh – Mỹ Theo mô hình này, nguồn vốn ĐTMH được cấp chủ yếu bởi các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần khác nhau, với tư cách là thành viên góp vốn trách nhiệm hữu hạn (limited partner) của quỹ Số vốn này được giao cho một hoặc một vài thành viên quản lý đầu tư vốn (general partner) thực hiện các hoạt động đầu tư

và phải chịu trách nhiệm vô hạn (hoàn toàn) bằng toàn bộ tài sản của mình

- Mô hình đơn vị tín thác (Trust unit): Quỹ ĐTMH dưới hình thức đơn vị tín

thác không có tư cách pháp nhân mà chỉ là một tổ hợp vốn dựa trên một điều lệ hoặc một hình thức pháp lí tương đương, được uỷ thác cho một tổ chức (công ty) quản lý danh mục đầu tư một cách chuyên nghiệp với một mức chi phí quản lý nhất định, theo chế định người nhận uỷ thác và được giám sát thừa nhận uỷ thác bởi một

tổ chức

- Mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): Theo kinh nghiệm tổ chức

các quỹ mạo hiểm trên thế giới thì mô hình này ít xuất hiện và không phát triển nhiều Do bản chất của các quỹ rất gần với tính chất xã hội hoá đầu tư, nghĩa là huy động vốn một cách rộng rãi để tập trung vào một bộ phận quản lý đầu tư chuyên nghiệp, bộ phận này với những kỹ năng nghiệp vụ và kinh nghiệm, sẽ quản lý đầu

tư số vốn tốt hơn các nhà đầu tư trực tiếp thực hiện Vì vậy, mô hình công ty TNHH không phát huy thật sự được những ưu điểm đặc trưng của quỹ đầu tư, cho dù số vốn của quỹ dưới hình thức công ty TNHH có thể rất lớn

- Mô hình công ty cổ phần (CTCP): Mô hình quỹ dưới hình thức CTCP có

cấu trúc đơn giản như các CTCP thông thường, các cổ đông được chia thành cổ đông sáng lập và cổ đông thông thường Các sáng lập viên thường nắm một tỷ lệ cổ phần đáng kể để có đủ điều kiện tham gia hội đồng quản trị với tư cách thành viên

và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp cổ phần Mô hình này cũng cho phép một quỹ mạo hiểm được hình thành cả dưới dạng quỹ đóng (ngưng góp cổ phần sau một thời hạn nhất định), và quỹ mở (được phép phát hành liên tục và rộng rãi cổ phần để tăng vốn, đồng thời sẵn sàng thu mua lại các cổ phiếu đã phát hành)

 Chức năng của quỹ ĐTMH:

- Chức năng tài chính của quỹ ĐTMH:

Trang 21

Huy động vốn: Tùy thuộc vào hình thức tổ chức pháp lý, quỹ ĐTMH được lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn mà pháp luật cho phép như phát hành

cổ phiếu, trái phiếu (nếu được tổ chức theo hình thức doanh nghiệp), chứng chỉ quỹ đầu tư (nếu theo hình thức tín thác đầu tư), vay vốn các tổ chức tín dụng theo quy định

Cấp vốn mạo hiểm dưới các hình thức: Hợp đồng khoa học và công nghệ, hình thức này cho phép giải phóng tối đa nguồn lực KHCN Hay cấp vốn cổ phần – vốn góp, hình thức này phổ biến nhất trong tổng số vốn hoạt động của quỹ ĐTMH

Cho doanh nhân đối tác vay để mua lại doanh nghiệp: Các doanh nghiệp sau quá trình dài được các quỹ ĐTMH tài trợ vốn đã hoạt động tốt, và đang trong giai đoạn mở rộng, và phát triển Họ đang nắm giữ vai trò kinh doanh nhưng muốn dành quyền kiểm soát doanh nghiệp để tự mình quản lý điều hành một các độc lập Khi

đó, bản thân các quỹ có thể cho doanh nghiệp đối tác vay để mua lại phần sở hữu của quỹ trong doanh nghiệp công nghệ cao Tuy nhiên, mức giá mà các quỹ đưa ra

là không hề thấp, và các doanh nghiệp phải hết sức cân nhắc về vấn đề này

- Nhóm chức năng phi tài chính:

Hỗ trợ công tác quản trị doanh nghiệp: Các quỹ ĐTMH giúp các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh: tiếp thị, lập kế hoạch, bán hàng, sản xuất … Ngoài ra còn giúp các doanh nghiệp tuyển mộ một đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, từ cấp độ tổng giám đốc cho đến trưởng các bộ phận

Tư vấn về pháp lý : Vì nhiều nhà quản lý chưa thật sự am hiểu về pháp lý như vấn đề sở hữu trí tuệ, bằng phát minh - sáng chế, các thỏa thuận li-xăng (lisence), nhãn hiệu hàng hóa nên rất cần sự tư vấn của các chuyên gia từ quỹ, mà không phải tốn thêm một khoản chi phí cho các công ty tư vấn pháp luật Ngoài ra, quỹ ĐTMH còn hỗ trợ cho việc phát hành cổ phiếu, tháo gỡ khó khăn trong việc xin các thủ tục pháp lý với các doanh nghiệp mới thành lập, cũng như những tranh chấp các doanh nghiệp gặp phải trong hợp đồng

Tổ chức, thúc đẩy quan hệ cộng tác: khi phân tích vai trò của ĐTMH cho

thấy các quỹ ĐTMH có ưu thế trong việc tổ chức các quan hệ rộng rãi trong R&D

và trong kinh doanh Thực ra, một quỹ mạo hiểm tự mình cũng không thể đủ nhân lực để giúp doanh nghiệp giải quyết mọi khó khăn trong quá trình sản xuất kinh

Trang 22

doanh Tuy nhiên, thông qua việc tổ chức mạng lưới quan hệ, trong đó đặc biệt là quan hệ ba bên: trường đại học - viện nghiên cứu - và nhà kinh doanh có danh tiếng, quỹ cần tổ chức và khai thác hiệu quả tối đa mối quan hệ này để hỗ trợ doanh

nghiệp do quỹ ươm tạo

Bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ: có ý nghĩa vô cùng quan trọng để hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển thị trường công nghệ của mình cũng như tìm được tới nguồn tài trợ cho R&D công nghệ cũng như cho giai đoạn đầu của doanh nghiệp Các trường đại học, viện nghiên cứu sẽ nắm giữ quyền sở hữu đối với thành quả nghiên cứu đổi mới và chính họ mới có quyền cấp phép quyền sử dụng cho doanh nghiệp nếu một nhà nghiên cứu – triển khai cần sự đầu tư của họ để thực hiện các ý tưởng của mình Do đó, dịch vụ tư vấn có thể giúp các nhà nghiên cứu – triển khai hưởng và khai thác được nhiều hơn thành quả nghiên cứu của họ sau khi đã đi đến

những thoả thuận với quỹ ĐTMH về sự tài trợ của quỹ này

2.2 Chủ thể tham gia hoạt động ĐTMH

Tham gia trực tiếp vào quá trình ĐTMH có 3 đối tượng chủ yếu:

 Các nhà đầu tư: Họ có thể là những nhà tư bản cá nhân giàu có (angel

capitalist), có thể là những tổ chức lớn hoạt động trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, v.v ) hoặc phi tài chính (các tập đoàn sản xuất) Họ có lượng tiền lớn sẵn sàng để đầu tư và chấp nhận rủi ro cao, hy vọng đạt được mức lợi nhuận lớn Về cơ bản, có hai phương thức tham gia của các nhà đầu

tư:

Thứ nhất, cá nhân tự đầu tư: Theo cách này, sự chủ động của người đầu tư

rất cao Họ có thể tự đánh giá các cơ hội, ý tưởng và lựa chọn đối tượng nhận đầu tư thích hợp, tự đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình đầu tư, đồng thời được hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được sau này mà không phải chia sẻ với ai Tuy nhiên, phương pháp này có rất nhiều nhược điểm Trên thực tế, một cá nhân khó có thể có một lượng vốn lớn cũng như được trang bị những kỹ năng, kiến thức chuyên môn

và kinh nghiệm thực tiễn đủ để thu được thành công Hơn nữa, đầu tư một mình có nghĩ là phải gánh chịu toàn bộ rủi ro có khả năng sẽ xảy ra trong tương lai

Thứ hai, tổ chức đầu tư: Trong trường hợp này, nhiều nhà đầu tư cùng góp vốn với nhau để thực hiện đầu tư nhằm hướng tới mục tiêu chung Ưu điểm của

Trang 23

hình thức này thể hiện rõ nhất ở khả năng phân tán và chia sẻ rủi ro Sự kết hợp này

có thể diễn ra dưới nhiều dạng: hợp đồng hợp tác kinh doanh, thành lập công ty liên doanh, thành lập quỹ ĐTMH, v.v đặc biệt là quỹ ĐTMH tuy xuất hiện sau song càng ngày càng chứng minh được nhiều điểm nổi trội so với những phương thức đầu tư vốn mạo hiểm có tổ chức khác

 Các nhà quản lý vốn mạo hiểm: Họ là những người hành nghề đầu tư

mạo hiểm chuyên nghiệp, vừa có tri thức về công nghệ, vừa có tài năng quản trị, họ đảm nhiệm chức năng huy động vốn từ các nhà đầu tư, tìm kiếm và đánh giá cơ hội đầu tư, tiến hành đầu tư theo những chiến lược nhất định để làm tăng giá trị cho công ty nhận đầu tư, và cuối cùng là thực hiện thoát vốn để thu hồi vốn và lợi nhuận, hoàn trả cho các nhà đầu tư

 Các doanh nhân khởi nghiệp: Họ là những kỹ sư, những nhà khoa học,

nhà nghiên cứu,v.v…đang muốn biến những ý tưởng, phát minh khoa học của mình thành sản phẩm thành công trên thương trường Để nhận được những khoản vốn ĐTMH, họ không chỉ cần có ý tưởng có tính khả thi, mang lại tiềm năng lợi nhuận lớn, mà còn phải tuân theo những quy định của các quỹ đầu tư cũng như phải thực hiện những cam kết về phân chia lợi nhuận và chia sẻ quyền quản lý doanh nghiệp với quản lý vốn mạo hiểm

Tại các nước có kênh lưu thông vốn mạo hiểm, mối quan hệ giữa ba đối tượng này được xử lý theo những mô hình tổ chức và hoạt động khác nhau Một mô hình thành công là mô hình đảm bảo được những lợi ích hài hoà của cả ba đối tượng trên, nhờ đó đạt được ba mục tiêu là: (1) khuyến khích và duy trì nguồn ý tưởng sáng tạo và tinh thần kinh doanh (duy trì nhu cầu về vốn mạo hiểm), (2) tạo động lực cho người có vốn bỏ ra ĐTMH và lặp lại hành động đó (phát triển nguồn cung), (3) phát huy triệt để năng lực đặc biệt của các nhà quản lý quỹ chuyên nghiệp (đảm bảo hiệu quả đầu tư)

Trang 24

được hưởng lợi nhuận nếu những dự án công nghệ mà họ đầu tư hoạt động tốt và mang lại lợi nhuận lớn Dự án công nghệ tốt sẽ mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp, các nhà đầu tư và các nhà quản lý từ đó sẽ khuyến khích nhiều nhà đầu tư tham gia cung cấp vốn cho ĐTMH và nhiều doanh nghiệp muốn nhận được nguồn vốn mạo hiểm Chính vì vậy, việc lựa chọn dự án đầu tư rất được chú trọng Quỹ ĐTMH sẽ căn cứ vào những tiêu chí nhất định để lựa chọn các dự án đầu tư phù hợp và có hiệu quả kinh tế cao Thường thường, những dự án được tài trợ phải có ý tưởng rõ ràng về công nghệ mới/sản phẩm mới và về thị trường

 Các tiêu chí thẩm định dự án

- Mức độ hấp dẫn của thị trường (hay quy mô thị trường)

- Tính độc đáo của sản phẩm

- Năng lực của đội ngũ quản lý

- Quy mô vốn đầu tư

- Rủi ro và lợi nhuận

 Tài trợ vốn mồi, ươm tạo (seed financing): Quỹ cấp vốn cho những

doanh nghiệp để phát triển ý tưởng sáng tạo/phát minh sáng chế của mình, hoặc cấp vốn để hỗ trợ phát triển sản phẩm Vốn cấp ở giai đoạn này thường không lớn

 Tài trợ khởi động (start-up financing): cấp vốn để phát triển sản phẩm

và hoạt động tiếp thị khởi đầu Vốn này cấp cho những công ty mới được thành lập, chưa lần nào giới thiệu sản phẩm ra thị trường Những doanh nghiệp như vậy

6

Lawrence Rausch, 2002, tr8 Việc phân chia chỉ mang tính tương đối và tuỳ thuộc vào quyết định của từng quỹ Phân chia càng nhỏ sẽ càng giảm mức độ rủi ro cho quỹ nhưng trong nhiều trường hợp có thể không cần thiết Có tài liệu chỉ chia thành 3 giai đoạn tài trợ trong đó gộp thành giai đoạn khởi động và giai đoạn đầu làm một, giai đoạn mở rộng và giai đoạn tăng tốc làm một

Trang 25

thường đã có bộ máy quản lý, có kế hoạch kinh doanh và đã có nghiên cứu thị trường

 Tài trợ giai đoạn đầu (First-stage financing): tài trợ cho công ty thiếu

vốn để sản xuất hàng hoá và tung ra thị trường

 Tài trợ giai đoạn mở rộng sản xuất (expansion financing): Quỹ ĐTMH

tài trợ cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, mở rộng phạm vi thị trường; hoặc phát triển nâng cấp một sản phẩm và tài trợ cho công ty chuẩn bị niêm yết lần đầu trong vòng 6 tháng đến 1 năm tới Đồng thời Quỹ cũng giúp doanh nghiệp xây dựng cơ cấu sở hữu hợp lý của doanh nghiệp Giai đoạn này đã bắt đầu mang lại lợi nhuận tài chính cho các bên, kể cả lợi ích về xây dựng năng lực công nghệ cao, cho nền kinh tế

 Giai đoạn tài trợ tăng tốc (later stage): là giai đoạn đưa doanh nghiệp

thâm nhập sâu vào thị trường bằng các hoạt động kinh doanh tăng tốc, tạo sản phẩm mới Thị trường chứng khoán thường đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường trong giai đoạn này

Bảng 4: Rủi ro và lợi nhuận dự kiến trong quy trình vốn mạo hiểm

Khả năng rủi ro Cao nhất Thấp nhất

Ươm tạo công nghệ Phát triển sản phẩm LBO7

Giai đoạn

% ROI 8 dự kiến

50% 40% 30% Cao nhất Thấp nhất

Khả năng lợi nhuận

Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của ThS Đặng Thị Thu Hoài,viện nghiên cứu và

quản lý kinh tế trung ương, 2003

2.3.3 Kết thúc đầu tư (hay còn gọi là thoát vốn)

Vốn mạo hiểm hoạt động theo chu kỳ, và mỗi chu kỳ thường kết thúc bằng một đợt thoát vốn, tức là việc các quản lý vốn mạo hiểm tiến hành thanh lý các khoản đầu tư, thu hồi vốn và lãi (nếu có) để phân phối cho các bên tham gia Thoát vốn là một khâu quan trọng, không chỉ bởi vì nó thoả mãn những lợi ích của các bên tham gia mà còn vì nó sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn đóng góp tài chính và phi tài chính của các nhà quản lý vốn mạo hiểm do việc quay vòng vốn để hỗ trợ

7

LBO: Leverage buy out – Mua lại nhờ vốn vay

8 ROI: Return on investment – Suất sinh lời của vốn đầu tư

Trang 26

cho một thế hệ công ty khởi nghiệp mới Chính vì vậy đây là một nét đặc thù của kênh dẫn vốn này

Thoát vốn cũng có tác động tới mối quan hệ giữa một quỹ mạo hiểm và các nhà đầu tư vào quỹ Thoát vốn đáp ứng ba vấn đề trong mối quan hệ giữa nhà quản

lý vốn mạo hiểm – nhà đầu tư Một là, những người cung cấp vốn cần có một

phương thức để đánh giá kỹ năng của nhà quản trị vốn mạo hiểm, để còn quyết định

sẽ cung cấp những lượng tiền mới cho những nhà quản trị nào Hai là, những người

cung cấp vốn cần phải đánh giá rủi ro và lợi nhuận trên các khoản đầu tư vốn mạo hiểm trong tương quan với các khoản đầu tư khác, để quyết định có đầu tư hay

không và đầu tư bao nhiêu Ba là, các nhà cung cấp vốn cần có khả năng rút lại vốn

từ các nhà quản trị kém thành công Việc các quỹ mạo hiểm thoát vốn khỏi những danh mục đầu tư cụ thể sẽ tạo ra một tiêu chuẩn so sánh cho phép những nhà cung cấp vốn đánh giá cả kỹ năng của nhà quản trị vốn mạo hiểm khác nhau cũng như khả năng thu lợi nhuận của vốn mạo hiểm so với những khoản đầu tư khác Đồng thời, việc thanh toán số tiền nhận được sau khi thoát vốn cho các nhà cung cấp vốn

sẽ cho phép họ quay vòng quỹ từ những nhà quản trị vốn mạo hiểm ít thành công sang các nhà quản trị thành công hơn

Các kênh thoát vốn

- Phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO): là việc một công ty

lần đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán và bán cổ phiếu lần đầu tiên ra công chúng Theo đó, chứng khoán phát hành phải là các chứng khoán có chất lượng cao, công ty phát hành phải là công ty có triển vọng phát triển trong tương lai, và để được phát hành thì công ty phát hành phải thỏa mãn khá nhiều yêu cầu của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán Nếu một công ty trẻ phát đạt và cần thêm vốn cổ phần để tiến hành phát triển sản xuất và đầu tư thì đây là một việc nên làm

Kênh thoát vốn này, mặc dù đòi hỏi những khoản chi phí không nhỏ, là kênh được ưa thích vì nói chung, nó đem lại sự định giá cao nhất đối với công ty trong khi vẫn bảo toàn được tính độc lập của ban quản lý Tiềm năng thoát vốn thông qua hình thức IPO cho phép người khởi nghiệp và quỹ mạo hiểm tham gia vào một hợp

Trang 27

đồng ngầm tự động có hiệu lực đối với vấn đề kiểm soát, trong khi đó quỹ mạo hiểm thoả thuận trả lại quyền kiểm soát cho doanh nghiệp khởi nghiệp thành công, bằng cách thoát vốn thông qua hình thức IPO với giả định là người khởi nghiệp sẽ giữ lại quyền kiểm soát đối với một khối lượng cổ phần đủ lớn

Thông qua hình thức IPO, phần đóng góp của quỹ mạo hiểm bị giảm đi và doanh nghiệp tiếp nhận vốn sẽ không còn bị phụ thuộc vào sự tài trợ theo giai đoạn của nhà quản lý vốn mạo hiểm nữa IPO giảm bớt những hạn chế về tính thanh khoản của doanh nghiệp khởi nghiệp và thị trường cổ phiếu giảm bớt nhu cầu về sự giám sát chặt chẽ của nhà quản lý vốn mạo hiểm Cuối cùng, hợp đồng công khai giữa quỹ mạo hiểm và công ty tiếp nhận vốn đảm bảo rằng những quyền kiểm soát quan trọng mà lúc đầu được trao cho quỹ sẽ mất đi sau khi áp dụng hình thức IPO, bất kể quỹ có bán cổ phần hay không

- Bán thương mại: là kênh thoát vốn khá phổ biến, nhất là ở châu Âu nơi mà

đa số các quốc gia đều có thị trường tài chính dựa vào ngân hàng là chính Đó là việc bán (hoặc sáp nhập) một công ty mới cho công ty khác lớn hơn So với kênh thoát vốn chào bán lần đầu ra công chúng (IPO), bán thương mại được coi là phương thức nhanh và rẻ hơn Những công ty lớn, đặc biệt là các công ty đã có sản phẩm hoàn chỉnh và các luồng thu nhập ổn định, thường quan tâm nhiều tới việc mua những doanh nghiệp mới khởi sự có khả năng lợi nhuận hơn là xây dựng từ đầu những doanh nghiệp mới Ngoài ra, việc mua lại doanh nghiệp còn do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (1) Có được con người, kỹ năng hoặc là tài sản sở hữu trí tuệ, đặc biệt đối với lĩnh vực công nghệ cao; (2) Có thể ghép những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp này bổ sung , hỗ trợ cho những hoạt động khác của công ty; (3) Thâu tóm được một đối thủ kinh doanh đang cạnh tranh để tăng thị phần và thu lợi nhuận lớn; (4) Các khách hàng luôn muốn tìm đến đầu nguồn trong dây chuyền cung ứng để đảm bảo được nguồn cung ổn định, và tối thiểu hóa chi phí; (5) Nhà cung cấp muốn tìm đến cuối nguồn để kiểm soát thị phần

Phương thức này xác nhận khả năng được tái tài trợ bởi một nhà đầu tư mới tại thời điểm kết thúc một quỹ đóng, trong khi cũng đảm bảo được sự định giá độc lập Ngoài ra, nó cho phép ban quản lý của doanh nghiệp nhận đầu tư vẫn ở lại ngay

Trang 28

cả khi không lựa chọn IPO, và cho phép một doanh nghiệp được tái vay vốn Tuy nhiên, kênh thoát vốn này có thể gây bất lợi cho ban quản lý công ty, bởi họ sẽ mất tính độc lập khi bị thôn tính hoặc bị sáp nhập với một công ty lớn hơn

- Mua lại cổ phần: là kênh thoát vốn phổ biến trong ĐTMH và rất quan trọng

cho các nhà đầu tư Đồng thời nó cũng cho phép công ty tiếp nhận vốn giành lại quyền kiểm soát sau khi sẽ phải chia sẻ và chịu sự chi phối của quỹ mạo hiểm Khi tiến hành hình thức này, doanh nhân đối tác sẽ mua lại phần sở hữu của quỹ mạo hiểm trong doanh nghiệp với giá trị cao hơn mức định giá vốn cổ phần mà họ đang nắm giữ bằng cách vay vốn từ chính quỹ (cũng như từ bất kỳ nhà ĐTMH khác cùng tham gia) Họ sẽ trả nợ dần về sau bằng các khoản thu nhập lấy từ doanh nghiệp được mua lại và việc thanh toán nợ sẽ phải hoàn tất ở khâu kết thúc

II VAI TRÒ CỦA ĐTMH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

Cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra sự biến đổi nhanh chóng và kì diệu của thế giới Thời gian từ khâu nghiên cứu phát triển đến ứng dụng đưa vào sản xuất diễn ra rất nhanh chóng, và vòng đời của sản phẩm cũng giảm theo Đối với doanh nghiệp, nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ có ý nghĩa sống còn để tồn tại và phát triển Còn đối với các quốc gia làm chủ và đi đầu trong KHCN sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế của quốc gia đó trên trường quốc tế Chính vì thế, các quốc gia trên thế giới luôn muốn tạo môi trường đầu tư thông thoáng để thu hút nhiều vốn trong và ngoài nước nói chung đầu tư vào các ngành trong nền kinh tế quốc dân Và vốn ĐTMH nói riêng dành cho các doanh nghiệp (thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ SMEs) phát triển những công nghệ mới, mang tính sáng tạo cao nhưng rủi ro thất bại lại lớn Như vậy, ĐTMH có ảnh hưởng trực tiếp đến các nhân tố sau:

1 Đối với doanh nghiệp ĐTMH có hai vai trò cơ bản:

 Thứ nhất, cung cấp nguồn tài chính cho doanh nghiệp, nhất là các doanh

nghiệp công nghệ cao Vì nhiều lí do khác nhau mà các tập đoàn lớn rất khó khăn trong việc triển khai thực hiện các dự án đổi mới sản phẩm công nghệ mang nhiều rủi ro Trong khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại tỏ ra thành công hơn trong việc thực hiện các dự án này với sự hỗ trợ tài chính của nhà ĐTMH, vì nguồn vốn

Trang 29

ĐTMH không bắt buộc doanh nghiệp có dự án phải có tài sản thế chấp hay tín chấp như các nguồn vốn tín dụng truyền thống khác Trong 5 giai đoạn cấp vốn của quá trình ĐTMH (đã trình bày ở phần trước) thì vốn tài trợ cho 3 giai đoạn đầu (giai đoạn vốn mồi/ươm tạo, giai đoạn đầu và giai đoạn khởi động) đóng vai trò hết sức quan trọng vì nó tác động đến việc nuôi dưỡng những ý tưởng sáng tạo và giải quyết được sự khan hiếm của các nguồn vốn khác Trong 3 giai đoạn này hệ thống ngân hàng hoàn toàn không thể cung cấp vốn cho các ý tưởng công nghệ mới do mức độ thất bại cao Chỉ đến khi doanh nghiệp tiến hành mở rộng sản xuất, cung cấp sản phẩm ra thị trường thì lúc đó ngân hàng mới cung cấp vốn ở mức độ tương đối hạn chế cho doanh nghiệp

Giai đoạn Nghiên cứu và triển

khai (vốn mồi/ươm tạo)

Thử nghiệm (khởi động & giai đoạn đầu)

- ĐTMH

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 305, tháng 10 năm 2003, tr 12 - 13

Vốn ĐTMH đã giúp các doanh nghiệp này tiến hành đổi mới sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy quá trình doanh nghiệp tung sản phẩm ra thị trường cũng như niêm yết trên TTCK Thực tế cho thấy hầu hết các hãng đi tiên phong trong việc sáng tạo

và khai thác các thế hệ máy tính mới và sản phẩm phần mềm, góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng công nghệ mới và sự chuyển hướng trong các ngành công nghiệp như Intel, Microsoft, Yahoo, Apple, và gần đây là Google … khi khởi nghiệp đều nhận được vốn ĐTMH, công ty Apple trong thời kỳ ban đầu khởi nghiệp nhận được 400.000 USD vốn ĐTMH, công ty Yahoo nhận được 4 triệu USD Trên thực tế ở

Mỹ, không chỉ có các doanh nghiệp nói trên khi thành lập và phát triển phụ thuộc

9

Sơ đồ này chỉ đúng trong trường hợp người/tổ chức có ý tưởng sáng tạo, công nghệ mới nhưng không đủ tiềm lực để phát triển dự án của mình

Trang 30

vào sự hỗ trợ của vốn mạo hiểm mà có ít nhất 50% doanh nghiệp công nghệ cao trong quá trình phát triển của mình đã nhận được sự giúp đỡ qua ĐTMH

Như vậy sự thành công của các doanh nghiệp này không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và nhà cung cấp vốn ĐTMH mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế nói chung Hoạt động ĐTMH ra đời đã kéo theo sự ra đời và hoàn thiện của một loạt các ngành khác như TTCK, các lĩnh vực công nghệ cao Về mặt xã hội,

sự xuất hiện của hoạt động ĐTMH tiến hành đầu tư vào các doanh nghiệp đã góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho rất nhiều người trong xã hội

 Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp tiến hành những hoạt động kinh doanh

Không chỉ cung cấp vốn, các nhà ĐTMH còn hỗ trợ công tác quản trị doanh nghiệp như tuyển mộ đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, lập kế hoạch sản xuất, bán hàng, tiếp thị … ngoài ra họ còn tư vấn về mặt pháp lý như quyền sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa Các nhà ĐTMH còn hỗ trợ cho việc phát hành

cổ phiếu của doanh nghiệp, tháo gỡ những khó khăn trong việc xin các thủ tục pháp

lý cho các doanh nghiệp mới thành lập, cũng như những tranh chấp khi doanh nghiệp gặp phải trong hợp đồng … tất cả các hoạt động hỗ trợ này được nhà ĐTMH với mục tiêu cao nhất là đưa doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển nhanh, cuối cùng họ sẽ thu về lợi nhuận từ khoản đầu tư đã bỏ ra

2 Đối với thị trường tài chính nói chung, và thị trường chứng khoán nói riêng

ĐTMH là một dạng kinh doanh vốn nên nó là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời với thị trường tài chính Với đặc thù là rút vốn và thu lợi nhuận thông qua TTCK là chủ yếu, ĐTMH đã có tác động không nhỏ đến sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng

ĐTMH góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường IPO Một trong những phương thức thoát vốn quan trọng và phổ biến nhất của ĐTMH là chào bán cổ phiếu của công ty nhận đầu tư ra công chúng, tức là biến các công ty đó từ hình thức công ty cổ phần tư nhân trở thành công ty đại chúng Đây là một cách thoát vốn đặc thù của loại hình ĐTMH, xuất phát từ một đặc điểm của loại quỹ này là lấy các công ty cổ phần tư nhân mới thành lập hoặc đang trong thời kỳ tăng trưởng làm mục tiêu đầu tư chủ yếu Thậm chí, việc một công ty cổ phần tư nhân được tài trợ

Trang 31

bằng nguồn vốn ĐTMH được chuyển thành công ty đại chúng còn được xem như một trong những yếu tố chứng minh cho sự thành công của bản thân quỹ ĐTMH Tuy nhiên, quan hệ giữa quỹ ĐTMH và thị trường IPO không chỉ đơn thuần là quan

hệ một chiều mà trái lại, chúng có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Muốn chuyển công

ty từ hình thức sở hữu tư nhân thành công ty đại chúng đòi hỏi phải có một thị trường IPO hoạt động tích cực Ngược lại, thị trường IPO phát triển cũng là một trong những điều kiện cần thiết để tạo tiền đề cho hoạt động ĐTMH phát huy được vai trò của nó

Ngoài ra, ĐTMH còn có mối quan hệ tương hỗ qua lại với các thể chế tài chính khác như ngân hàng, bảo hiểm, v.v… Cho nên, nếu ĐTMH hoạt động tốt thì cũng có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức tài chính này và kéo theo đó

là sự ổn định của thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung

3 Đối với quá trình đổi mới công nghệ

Mối quan hệ giữa ĐTMH và việc đổi mới công nghệ xuất phát từ đặc điểm của ĐTMH là chuyên đầu tư vào những dự án có ý tưởng táo bạo, cần nhiều vốn lớn, mà công nghệ cao là một lĩnh vực đạt được những tiêu chuẩn này Có nhiều yếu tố góp phần tăng trưởng kinh tế như chất lượng của lao động và vốn, tiến bộ công nghệ, mức độ cạnh tranh, lợi ích kinh tế nhờ quy mô, việc tái phân bổ nguồn lực, chính sách kinh tế, v.v trong đó yếu tố công nghệ đóng vai trò quan trọng Thật vậy, nó góp phần tăng năng suất lao động của yếu tố lao động và vốn, nếu việc đầu tư cho khoa học công nghệ là hiệu quả, và do đó, tất yếu dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế cao Tuy nhiên, việc đầu tư đổi mới công nghệ đòi hỏi phải gia tăng nguồn vốn đầu tư Ở các nước đang phát triển vấn đề thiếu vốn để phát triển khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế trở thành một vòng luẩn quẩn Để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó đòi hỏi nhà nước cần có chính sách thu hút vốn đầu tư đổi mới công nghệ một cách có hiệu quả nhất Có nhiều nguồn vốn khác nhau tài trợ cho việc đổi mới công nghệ Trong đó vốn mạo hiểm là một trong những nguồn tài trợ then chốt thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ, làm tăng nhân tố năng

Trang 32

suất tổng hợp TFP10 và do đó thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế

Việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm, nhất là từ các nguồn nước ngoài và từ khu vực tư nhân trong nước, trước hết sẽ làm giảm áp lực về vốn đầu tư cho hoạt động đổi mới công nghệ Bên cạnh đó kỹ năng cũng như kinh nghiệm quản lý của nhà ĐTMH sẽ dẫn đến vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cho quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ vào các hoạt động kinh tế Ngoài ra việc đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển các ngành nghề mới, các doanh nghiệp mới, do đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách bền vững

Bên cạnh đó vốn ĐTMH cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức như các định chế tài chính, các trường đại học, các doanh nghiệp định hướng công nghệ, các tập đoàn công nghiệp và tạo thành một “mạng lưới phức tạp” Các mắc xích trong mạng lưới này liên kết chặt chẽ nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển Sự phát triển về chiều sâu và chiều rộng của mạng lưới này góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ, đổi mới hệ thống giáo dục, phát triển thị trường tài chính, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực phát triển và ứng dụng công nghệ và do đó góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia Hơn nữa sự vận hành có hiệu quả của tổ chức đầu tư mạo hiểm và các tổ chức trong mạng lưới sẽ hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng, góp phần giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế trong quá trình đổi mới

Đối với các nước đang phát triển, khi mà thị trường tài chính chưa phát triển, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ chưa được chú trọng và đầu tư, và nguồn lực khoa học công nghệ đang bị lãng phí thì có thể nói ĐTMH là một giải pháp quan trọng nhằm phát triển các yếu tố này để đạt được sự tăng trưởng kinh tế tốt nhất

10

Nhân tố tổng hợp TFP – Total factor productivity (A) trong công thức đầu ra sản phẩm của

Cobb-Douglass: Y= AxKαxL1-α trong đó K, L là các yếu tố đầu vào vốn và lao động

Trang 33

Chương Một đã đề cập đến các vấn đề có tính chất tổng quan về đầu tư vốn mạo hiểm cũng như các kiến thức cơ bản về hoạt động của quỹ ĐTMH và vai trò của đầu tư vốn mạo hiểm đối với nền kinh tế nói chung Đầu tư vốn mạo hiểm đã xuất hiện từ lâu và ngày càng phổ biến trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của kinh

tế tri thức toàn cầu Với đặc điểm chỉ tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao đồng thời với mức độ rủi ro lớn, vốn ĐTMH đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân có tinh thần mạo hiểm và sáng tạo tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ Sự tạo dựng và phát triển các mối quan hệ song hành giữa những nhà ĐTMH có vốn và kinh nghiệm quản lý với các

tổ chức, cá nhân có tinh thần kinh doanh và năng lực công nghệ đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn ĐTMH Và đến lượt mình sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn ĐTMH sẽ có những đóng góp tích cực vào chất lượng tăng trưởng kinh tế của quốc gia thông qua việc gia tăng tỷ lệ đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp trong cơ cấu các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Những lý luận tổng quan này và kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu trong chương Hai sẽ là nền tảng để tiếp tục nghiên cứu thực trạng và đưa ra một số bài học kinh nghiệm để khuyến khích, và phát triển đầu tư vốn mạo hiểm tại Việt Nam trong chương Ba

Trang 34

CHƯƠNG HAI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TRÊN THẾ GIỚI

I QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐTMH TRÊN THẾ GIỚI

- American R&D coporation (AR&D): Vào năm 1946 tại Boston, Georges Doriot11 cùng với những cộng sự là Ralph, Flanders, Karl Compton đã lập ra công

ty nghiên cứu và phát triển Mỹ (AR&D) AR&D là một công ty chứng khoán đầu tư vào các công ty nhỏ tiến hành thương mại hóa các công nghệ triển khai cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II Một trong những thương vụ thành công nhất của AR&D đó là sự kiện đầu tư vào công ty Digital Equipment chuyên sản xuất các thiết bị số Vào năm 1968, khi Digital Equipment phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO-Initial public official) đã mang lại cho AR&D tỉ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư ROI hàng năm là 101% Từ một khoản đầu tư ban đầu chỉ là 70.000

đô la vào Digital Equipment năm 1959 đã tăng lên 37 triệu đô la AR&D cũng được coi là quỹ ĐTMH đầu tiên chuyên thực hiện những thương vụ đầu tư vào các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển vượt trội một cách có chọn lọc

- J.H Whitney & Co, cũng được thành lập vào năm 1946, với một trong những sản phẩm thành công nhất đó là nước hoa quả Mindle Maid Ông chủ công ty

11

Georges Doriot được xem như là cha đẻ của ngành công nghiệp ĐTMH hiện đại, ông là một viên tướng

Mỹ gốc Pháp đồng thời cũng là một giáo sư danh tiếng tại đại học Harvard

Trang 35

này Jock Whitney cũng được coi là một trong những người sáng lập ra ngành công nghiệp ĐTMH

- The Rockerfeller Family: Đặc biệt là L.S Rockerfeller, người đã thành lập hãng hàng không East Airlines, mặc dù hiện nay hãng hàng không này không còn tồn tại nữa nhưng nó được coi là một trong những hãng hàng không thương mại sớm nhất trên thế giới

- Venrock Associates được ghi nhận là công ty ĐTMH tư nhân đầu tiên tiến hành đầu tư cho một dự án mạo hiểm Đó là sự kiện vào năm 1957, khi họ cấp vốn cho công ty Fairchild Semiconductor chuyên về sản xuất thiết bị bán dẫn

Như vậy, sự hình thành và phát triển của hoạt động ĐTMH trên thế giới hiện nay có vai trò không nhỏ từ hoạt động ĐTMH ở Mỹ Chính Mỹ là cái nôi sản sinh

ra hoạt động này, và vai trò của hoạt động ĐTMH ở Mỹ là rất lớn góp phần phát triển nền kinh tế Mỹ như ngày nay12 Tại các quốc gia khác trên thế giới hoạt động ĐTMH ra đời muộn hơn ở Mỹ nhưng hoạt động này đã có những đóng góp đáng kể đối với sự phát triển của nền kinh tế các quốc gia

Ở châu Âu, mãi đến thập niên 80, ĐTMH mới trở thành một nguồn vốn đầu

tư quan trọng Trước đó, liên minh châu Âu đã tụt lại khá xa so với Mỹ về hoạt động đầu tư vào công nghệ cao của “nền kinh tế mới”, khi những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (SMEs) mới thành lập rất khó khăn để nhận được nguồn vốn này và tăng trưởng chậm hơn so với các doanh nghiệp SMEs ở Mỹ Một trong những vấn đề cốt lõi mà Ủy ban châu Âu (European commission) đã nhận thấy ở thời điểm đó đó là không chỉ hoạt động ĐTMH ở châu Âu bị thiệt hại từ sự chia nhỏ

ở thị trường các nước, nó còn có hạn chế của sự thiếu co cụm về mặt địa lý của các khu CNC Kinh nghiệm từ hoạt động ĐTMH ở Mỹ làm hình mẫu, sự phát triển của thị trường vốn ĐTMH lớn, và thành công đi cùng với sự nổi lên và tăng trưởng nhanh của các doanh nghiệp công nghệ thông tin ở một số khu vực cụ thể như thung lũng Sillicon Valley, New York so với Mỹ, châu Âu có ít các khu vực CNC tập trung nhiều các SMEs, mạng lưới các SMEs ở châu Âu khó liên kết hơn so với ở

Mỹ, do đó khả năng hợp nhất của các SMEs xảy ra không nhiều Do vậy, ủy ban

12 Hoạt động ĐTMH ở Mỹ sẽ được đề cập cụ thể ở phần sau

Trang 36

châu Âu đã thực hiện một số biện pháp để thay đổi, tháo dỡ, và xóa bỏ các hàng rào ngăn cách thị trường giữa các nước đã tồn tại trong hệ thống tài chính châu Âu một thời gian dài Điều đó đã góp phần thúc đẩy các quỹ ĐTMH ở châu Âu tăng trưởng,

và hoạt động mạnh và hiệu quả hơn Cũng như đã thúc đẩy sự phát triển của TTCK thông qua việc niêm yết các công ty nhận đầu tư trên TTCK, gia tăng hiệu quả hoạt động của thị trường và tính thanh khoản các khoản đầu tư

Theo hiệp hội ĐTMH châu Âu (EVCA – Europe venture capital association), vốn ĐTMH ở đây tăng mạnh kể từ giữa những năm 90, trong thời kỳ

từ 1989 – 1996 tổng vốn đầu tư tăng khoảng 5 tỷ Euro mỗi năm, năm 1999 đạt 58,4

tỷ Euro, năm 2001 đã tăng lên 106,8 tỷ Euro, đến năm 2007 đã tăng hơn 2 so với lần năm 2001 đạt 211,4 tỷ Euro.13

Biểu 1: Tổng vốn ĐTMH và đầu tư vốn cổ phần tư nhân ở châu Âu

Nguồn: EVCA Yearbooks 1995 - 2007

Không giống như ở Mỹ, các nhà ĐTMH châu Âu đầu tư vào các công ty thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Năm 1996, có gần 25% vốn đầu tư vào lĩnh vực CNC, con số này năm 2000 là 54% Trong đó, có tới 80% vốn đầu tư vào lĩnh vực CNC được đầu tư vào các ngành máy tính và công nghệ viễn thông Hiện nay, vốn

13

Ở châu Âu không có sự phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm vốn ĐTMH và vốn cổ phần tư nhân, được sử dụng thay thế cho nhau và các số liệu đưa ra thường bao gồm cả hai hoạt động đầu tư này

Trang 37

ĐTMH ở châu Âu tập trung đầu tư chủ yếu vào các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Anh, Đức, Pháp, Italia Năm 2007, có khoảng 20% tổng vốn ĐTMH được đầu tư vào các công ty ở Anh, ở Đức là 19%, ở Pháp là 17% và ở Italia là 8,8% (EVCA desk research - VentureOne) Nguồn cung vốn ĐTMH ở châu Âu có sự khác biệt cơ bản so với Mỹ, ở đây vốn ĐTMH được thu hút chủ yếu từ các định chế tài chính như là các ngân hàng và các công ty bảo hiểm và chiếm khoảng 45,5% nguồn cung vốn ở châu Âu, trong khi quỹ hưu trí chỉ chiếm gần 24,2%, ở Mỹ con

số này là hơn 50%

Ở châu Âu, Anh là nước thành công hơn cả trong ĐTMH ĐTMH xuất hiện

ở Anh hồi thập niên 70, đến nay đã chiếm 40% tổng vốn ĐTMH của toàn châu Âu Năm 1999, nước Anh đã có gần 250 công ty ĐTMH với tổng số vốn đạt 11,9 tỷ USD Chính phủ Anh đã ban hành luật ủy thác ĐTMH, trong đó có ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đầu tư vào quỹ ủy thác để tiến hành ĐTMH

Ở Đức, tổng vốn ĐTMH năm 1998 chỉ là 1,1 tỷ USD, nhưng đến năm 2001

đã đạt 5,6 tỷ USD Chính phủ Đức đã cho thành lập quỹ ĐTMH nước Đức, và bảo hiểm đến 75% các khoản lỗ, đồng thời lợi nhuận của quỹ từ các doanh nghiệp được giới hạn trần Tuy nhiên, điều này cũng có mặt trái đó là sẽ làm cho các quỹ thiếu động cơ và hoạt động không thật sự thành công Cũng tại Đức, quỹ ĐTMH đầu tiên không thu hút được đồng tiền nào trong nước, nhưng năm 1996 chỉ trong một lần phát hành đã thu hút được 162 triệu đôla từ các quỹ hưu trí và cá nhân giàu có Mobilcom, một công ty viễn thông được tài trợ bởi quỹ ĐTMH, tháng 3/1997 đã trở thành công ty đầu tiên niêm yết trên sở giao dịch dành cho các công ty nhỏ của Đức Tuy nhiên các nhà ĐTMH châu Âu thường có xu hướng cấp vốn cho các công

ty đã trưởng thành, an toàn hơn so với các nhà ĐTMH Mỹ Thực tế, phần lớn vốn ở châu Âu được dùng để đầu tư vào các nghành công nghiệp tiêu dùng hơn là các ngành công nghệ cao Năm 2004, trong khối liên minh châu Âu, chỉ 31,5% vốn ĐTMH được đầu tư vào các ngành viễn thông, công nghệ thông tin và công nghệ y

- sinh học, trong khi tỉ lệ này ở Mỹ là 75%

Tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia có hoạt động ĐTMH ra đời tương đối sớm, tuy nhiên hoạt động này lại không phát triển lắm do tâm lý thận trọng và văn hóa

Trang 38

của người Nhật không thích mạo hiểm Theo số liệu của viện nghiên cứu tổng hợp Nhật Bản năm 2007, tỷ lệ về giá trị ĐTMH so với GDP của các nước phát triển trên thế giới cho thấy tỷ lệ này ở Nhật Bản là rất thấp khoảng 0,03% ; trong khi đó ở

Mỹ, Canada chiếm từ 0,4-0,5%; ở Anh, Thụy Điển, Phần Lan tỷ lệ này là 0,2% Một quốc gia khác ở châu Á là Singapore có hoạt động ĐTMH tương đối phát triển, ngay từ đầu thập kỷ 90, chính phủ đã thiết lập một trung tâm luân chuyển vốn mạo hiểm Năm 2007, tại Singapore có khoảng 90 quỹ ĐTMH và đã đầu tư gần 1 tỷ đôla, trong đó 17% vốn đã đầu tư cho 40 công ty trong nước

Tại các nước đang phát triển, ĐTMH mới thực sự hình thành từ đầu những năm 1990 Nguyên nhân là ở những nước này thiếu những điều kiện cần thiết cho

sự phát triển của ĐTMH Tuy nhiên, trong những năm gần đây thực trạng này đã có

sự biến đổi rõ rệt ĐTMH đang phát triển mạnh mẽ ở Ấn Độ và Trung Quốc : Năm

2007, tổng vốn ĐTMH ở Ấn Độ đạt 928 triệu đôla đầu tư vào 80 công ty, tăng 166% so với năm 2006 Tại Trung Quốc, năm 2002 vốn ĐTMH mới chỉ có 418 triệu đôla thì đến năm 2004 đã tăng lên 992 triệu đôla, đến năm 2007 là 3,2 tỷ đôla ĐTMH tại một số khu vực khác trên thế giới như châu Mỹ latinh và châu Phi, ĐTMH hầu như chưa phát triển

Hiện nay khu vực Bắc Mỹ (gồm Mỹ và Canada) chiếm 52% tổng nguồn vốn ĐTMH, châu Âu 30%, khu vực châu Á - Thái Bình Dương là 15%, Trung Đông và châu Phi 2%, Trung và Nam Mỹ là 1%14

Biểu đồ 2: Tổng vốn ĐTMH trên thế giới giai đoạn 1998 - 2007

14 Nguồn: Global trends venture capital survey 2007 – Công ty kiểm toán Deloitte&Touche USA LLP

Trang 39

Nguồn: PriceWarterHouseCoopers, Global venture capital report 2007

Tổng giá trị của các nguồn vốn ĐTMH năm 1999 lên đến 125 tỷ USD tương đương với 0,5% GDP toàn thế giới Năm 2000, con số này tiếp tục tăng lên đến 192

tỷ USD Tuy nhiên đến năm 2001 giảm xuống còn khoảng 103 tỷ USD, năm 2003 giảm còn 86 tỷ USD Sự suy giảm này có nguyên nhân là sự sụp đổ của “nền kinh

tế bong bóng” khiến cho hàng loạt nhà đầu tư rút vốn khỏi quỹ ĐTMH Đến năm

2004, tổng lượng vốn mà các quỹ ĐTMH đang nắm giữ tăng lên 115 tỷ USD, tăng 33% so với năm 2003 và tương đương 0,36% GDP toàn cầu Năm 2004, thị trường ĐTMH đã có những dấu hiệu tích cực, báo hiệu một chu kỳ tăng trưởng mới Trong năm 2004, khoảng 25,7 tỷ USD vốn đã được đầu tư vào 3222 doanh vụ ở Mỹ, châu

Âu và Israel Năm 2005, có 21 công ty của Trung Quốc được tài trợ bởi các quỹ ĐTMH đã chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng được 4,1 tỷ USD, đứng vào hàng các thương vụ IPO lớn nhất của ngành công nghệ thông tin15 Một xu hướng rõ rệt từ năm 2004 là sự “toàn cầu hoá” hoạt động ĐTMH Ngày càng nhiều quỹ ĐTMH nước ngoài đầu tư vào các trung tâm R&D tại Trung Quốc, Ấn Độ, Israel, Nga, Mỹ, và vào các nhà máy sản xuất thiết bị công nghệ cao ở Trung Quốc, Ấn

Độ, Đông Âu, và Việt Nam

15 Nguồn: Ernst&Young/ Venture One

Trang 40

2 Xu hướng hoạt động ĐTMH trên thế giới

ĐTMH đi cùng với xu hướng phát triển kinh tế thế giới đang trở nên vô cùng lớn mạnh, và có một số những xu hướng phát triển chủ đạo như sau:

 Đầu tư dưới dạng quỹ ĐTMH

Hoạt động ĐTMH có thể được tiến hành bởi các cá nhân hoặc tổ chức Tuy nhiên đầu tư cá nhân gặp nhiều rủi ro, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm quản lý, thiếu các mối quan hệ cũng như mô hình chuyên nghiệp Do đó, hoạt động ĐTMH tư nhân thường là vào các doanh nghiệp rất nhỏ, có trường hợp không thể hiện được hết vai trò của một nhà đầu tư chiến lược trong quá trình xây dựng, phát triển công

ty Đa phần các nhà đầu tư cá nhân sẽ góp vốn đầu tư thông qua các quỹ đầu tư như

là các quỹ hợp danh hữu hạn limited patnership Các quỹ ĐTMH có cơ cấu tổ chức

rõ ràng, vững chắc, tiềm lực tài chính lớn, và có các nhà quản lý ĐTMH chuyên nghiệp … thể hiện rõ tính ưu việt của ĐTMH Ngoài ra còn một xu hướng nữa nhưng không thật sự phổ biến là các công ty có tiềm lực tài chính hay các tập đoàn tài chính lớn không tiến hành đầu tư thông qua quỹ ĐTMH mà họ lập ra một hay một quỹ riêng, tiến hành tuyển chọn các nhà ĐTMH chuyên nghiệp để quản lý, điều hành quỹ Mô hình này chỉ có ở một số quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh như

Mỹ, Anh … vì nó đòi hỏi các công ty phải có tiềm lực tài chính lớn

 Vốn ĐTMH trên thế giới đổ ngày càng nhiều vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh qua mạng – một loại hình kinh doanh khá mới, đặc biệt là trong mảng WEB 2.0 – một loại trang WEB trực tuyến, có khả năng tương tác và kết nối cao Hiện nay việc mua bán trên thế giới không còn giới hạn trong phạm vi của quốc gia hay nhóm quốc gia mà nó đã mang tính toàn cầu Một cá nhân chỉ cần ngồi ở nhà bằng những cái “kích chuột” anh ta có thể mua được tất cả những gì mình muốn, và được giao đến tận nhà trong một thời gian rất ngắn, mô hình WEB 2.0 này ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt Do đó, các nhà ĐTMH không thể bỏ qua cơ hội có được những khoản lợi nhuận khổng lồ khi đầu

tư vào các công ty kinh doanh qua mạng

Trong thời kỳ bùng nổ các công ty dot-com, các nhà ĐTMH đã chi ra các khoản đầu tư rất lớn vào các công ty internet Khi thị trường sụp đổ phần lớn số tiền

Ngày đăng: 26/05/2014, 12:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, (2001), “Nghiên cứu triển khai quỹ ĐTMH phát triển công nghệ cao ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu triển khai quỹ ĐTMH phát triển công nghệ cao ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Năm: 2001
3.Hải Lý, (2003), "Làn sóng thứ hai", Thời báo kinh tế Sài Gòn, tr.40 số 51, 11-12-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn sóng thứ hai
Tác giả: Hải Lý
Nhà XB: Thời báo kinh tế Sài Gòn
Năm: 2003
4. Thạc sỹ Đặng Thị Thu Hoài, (2003), Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ƣơng, “Đầu tƣ mạo hiểm và phát triển công nghệ ở Việt Nam. Thực trạng và một số gợi ý chính sách”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tƣ mạo hiểm và phát triển công nghệ ở Việt Nam. Thực trạng và một số gợi ý chính sách
Tác giả: Thạc sỹ Đặng Thị Thu Hoài
Năm: 2003
5. CN Hoàng Thị Hải Như, (2006), “Đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư mạo hiểm tại một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: CN Hoàng Thị Hải Như
Năm: 2006
6. Thạc sỹ Nguyền Hùng Cường và Thạc sỹ Đinh Thế Hiển, (tháng Hai 2003), “ Kêu gọi vốn đầu tƣ mạo hiểm phát triển công nghệ cao”, Tạp chí “Nghiên cứu và phát triển”, tr.25 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kêu gọi vốn đầu tƣ mạo hiểm phát triển công nghệ cao”, Tạp chí “Nghiên cứu và phát triển
7. Ts Trần Thị Thái Hà, (2003), "Vốn mạo hiểm và vai trò của chính phủ trong việc hình thành thị trường vốn mạo hiểm", Tạp chí "Nghiên cứu Kinh tế" số 305, tháng 10 năm 2003, tr.40-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn mạo hiểm và vai trò của chính phủ trong việc hình thành thị trường vốn mạo hiểm", Tạp chí "Nghiên cứu Kinh tế
Tác giả: Ts Trần Thị Thái Hà
Năm: 2003
8. Th.s Nguyễn Nghiêm Thái Minh, (3/2005), “Vốn mạo hiểm – Venture Capital”, Tạp chí Phát triển kinh tế, tr.12 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn mạo hiểm – Venture Capital
9. Phạm Kim Loan, (1/9/2006), “ Hiệu quả hoạt động của các quỹ ĐTMH và một số giải pháp thu hút nguồn vốn ĐTMH tại Thành Phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Tài chính Tiền tệ, tr.28 – 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả hoạt động của các quỹ ĐTMH và một số giải pháp thu hút nguồn vốn ĐTMH tại Thành Phố Hồ Chí Minh
10. Tạp chí Tài chính Tiền tệ, “Đầu tƣ mạo hiểm - động lực phát triển công nghiệp công nghệ cao” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tƣ mạo hiểm - động lực phát triển công nghiệp công nghệ cao
Nhà XB: Tạp chí Tài chính Tiền tệ
11. Tạp chí Tài chính Tiền tệ, “ Quỹ đầu tƣ mạo hiểm phát triển công nghệ cao ở Việt Nam: Mô hình nào cho phù hợp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ đầu tƣ mạo hiểm phát triển công nghệ cao ở Việt Nam: Mô hình nào cho phù hợp
12. William L.Megginson – The University of Oklahoma, (31-12-2001) “Towards a global model of venture capital?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards a global model of venture capital
13. AVCJ ( 2007 - 2008), "The 2007 Guide to Venture Capital in Asia", Asian Venture Capital Journal No.4/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 2007 Guide to Venture Capital in Asia
14. Clement K.Wang ( National University of Singapore), (2005), “ Defferences in the Government structure of Venture Capital. The Singapore Venture Capital Industry Sách, tạp chí
Tiêu đề: Defferences in the Government structure of Venture Capital. The Singapore Venture Capital Industry
Tác giả: Clement K.Wang
Nhà XB: National University of Singapore
Năm: 2005
15. Rafiq Dossani & Martin Kenney, (Califorlia University), (6/6/2002), “Creating an environment: Developing venture capital in India” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Creating an environment: Developing venture capital in India
16. Martin Kenney/Kyonghee Han/Shoko Tanaka, (2004), “The Venture Capital industries of East Asia: A report the World bank” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Venture Capital industries of East Asia: A report the World bank
Tác giả: Martin Kenney/Kyonghee Han/Shoko Tanaka
Năm: 2004
17. Seunghun Lee, Seoul National University, (2005), “Implementation of the sources of finance in the Venture Capital industry” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implementation of the sources of finance in the Venture Capital industry
Tác giả: Seunghun Lee
Nhà XB: Seoul National University
Năm: 2005
18. Dr. Alok Aggarwal, Chairman, Evalueserve Inc, (21/8/2006), “Is the Venture Capital Market in India getting overheated?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is the Venture Capital Market in India getting overheated
19. Thomas Andersson & Glenda Napier, IKED - International organisation for knowledge economy and enterprise development, (9/2007), “The roles of venture capital, Global trends and Issues from a Nordic perspective” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The roles of venture capital, Global trends and Issues from a Nordic perspective
20. David Hornik, (5/1/2008), “Venture capital in China”, Zero2IPO Research centre.http://www.nvca.org; http://pwcmoneytree.com; http://www.evca.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Venture capital in China
Tác giả: David Hornik
Nhà XB: Zero2IPO Research centre
Năm: 2008
2. GS.TS.Lê Văn Tư, (2003), Thị trường chứng khoán, NXB Thống kê Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Sự khác biệt giữa ĐTMH và đầu tƣ từ vốn vay ngân hàng. - Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam (2008)
Bảng 2 Sự khác biệt giữa ĐTMH và đầu tƣ từ vốn vay ngân hàng (Trang 12)
Bảng 4:  Rủi ro và lợi nhuận dự kiến trong quy trình vốn mạo hiểm - Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam (2008)
Bảng 4 Rủi ro và lợi nhuận dự kiến trong quy trình vốn mạo hiểm (Trang 25)
Bảng 5: Hoạt động ĐTMH vào các ngành của nền KT Mỹ trong - Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam (2008)
Bảng 5 Hoạt động ĐTMH vào các ngành của nền KT Mỹ trong (Trang 47)
Bảng 6: Vốn ĐTMH vào các công ty trong các giai đoạn đầu tư (Đơn vị: Tỷ - Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam (2008)
Bảng 6 Vốn ĐTMH vào các công ty trong các giai đoạn đầu tư (Đơn vị: Tỷ (Trang 48)
Bảng 7 cho thấy tổng giá trị đầu tƣ mạo hiểm vào giai đoạn khởi sự và các giai  đoạn sau, đầu tƣ cho giai đoạn ƣơm tạo giảm trong suốt thời kỳ 2000 – 2003 và tăng  không đáng kể trong 2 năm sau 2004 – 2006 - Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam (2008)
Bảng 7 cho thấy tổng giá trị đầu tƣ mạo hiểm vào giai đoạn khởi sự và các giai đoạn sau, đầu tƣ cho giai đoạn ƣơm tạo giảm trong suốt thời kỳ 2000 – 2003 và tăng không đáng kể trong 2 năm sau 2004 – 2006 (Trang 65)
Bảng 9: Một số thông tin về 4 quỹ ĐTMH hoạt động tại Việt nam - Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam (2008)
Bảng 9 Một số thông tin về 4 quỹ ĐTMH hoạt động tại Việt nam (Trang 76)
Bảng 10: Lĩnh vực đầu tư của một số quỹ ĐTMH hoạt động ở Việt Nam - Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam (2008)
Bảng 10 Lĩnh vực đầu tư của một số quỹ ĐTMH hoạt động ở Việt Nam (Trang 78)
Bảng 11: Tình hình ĐTMH ở Việt Nam giai đoạn hiện nay - Hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm cho việt nam (2008)
Bảng 11 Tình hình ĐTMH ở Việt Nam giai đoạn hiện nay (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w