1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống siêu thị của việt nam trong bối cảnh hội nhập thực trạng và các đề xuất phát triển

98 796 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống siêu thị của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập: Thực trạng và các đề xuất phát triển
Tác giả Lê Thị Phương Hoa
Người hướng dẫn ThS. Trần Thu Trang
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích bài luận văn của em là đem đến một cái nhìn khái quát về thực trạng phát triển hệ thống siêu thị của Việt Nam; phân tích SWOT cho hệ thống siêu thị của Việt Nam trong bối cảnh h

Trang 1

T RƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Trang 2

Hà Nội, 06/2008

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ SIÊU THỊ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 4

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ SIÊU THỊ TRÊN THẾ GIỚI 4

1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN SIÊU THỊ TRÊN THẾ GIỚI 4

2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ SIÊU THỊ 6

2.1 KHÁI NIỆM SIÊU THỊ TẠI HOA KỲ 6

2.2 KHÁI NIỆM SIÊU THỊ TẠI ANH 7

2.3 KHÁI NIỆM SIÊU THỊ TẠI PHÁP 7

3 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA SIÊU THỊ 7

4 PHÂN LOẠI SIÊU THỊ 10

4.1 PHÂN LOẠI SIÊU THỊ THEO QUY MÔ 10

4.2 PHÂN LOẠI THEO HÀNG HOÁ KINH DOANH 10

4.3 PHÂN LOẠI THEO TÍNH CHẤT THẬT ẢO CỦA SIÊU THỊ 11 II LÝ LUẬN CHUNG VỀ SIÊU THỊ Ở VIỆT NAM 12

1 KHÁI NIỆM 12

2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 13

3 PHÂN LOẠI SIÊU THỊ Ở VIỆT NAM 17

3.1 THEO “QUY CHẾ SIÊU THỊ VÀ TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI” BỘ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM (NAY LÀ BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM) 17

3.2 THEO ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH 19

3.2.1 CÁC SIÊU THỊ KINH DOANH TỔNG HỢP 19

3.2.2 SIÊU THỊ CHUYÊN DOANH 20

III NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI HÀNG HÓA KHI GIA NHẬP WTO 20

Trang 4

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HỆ THỐNG SIÊU THỊ VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 24

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ SIÊU THỊ VIỆT NAM NÓI RIÊNG SAU GẦN 2 NĂM HỘI NHẬP 24

1 QUY MÔ HỆ THỐNG SIÊU THỊ CẢ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN 2005-2008 24

2 THỊ PHẦN CỦA SIÊU THỊ TRONG HỆ THỐNG BÁN LẺ 31

3 TÌNH HÌNH KINH DOANH TẠI CÁC SIÊU THỊ 31

4 SỰ RA ĐỜI CỦA HIỆP HỘI CÁC NHÀ BÁN LẺ VIỆT NAM (AVR) 32

II NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC SIÊU THỊ VIỆT NAM 33

1 ĐIỂM MẠNH CỦA CÁC SIÊU THỊ VIỆT NAM 33

1.1 THÁI ĐỘ PHỤC VỤ GẦN GŨI VỚI TÂM LÝ NGƯỜI Á ĐÔNG 34

1.2 AM HIỂU THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 34

1.3 ƯU THẾ VỀ MẶT BẰNG KINH DOANH 34

2 ĐIỂM YẾU CỦA CÁC SIÊU THỊ VIỆT NAM 35

2.1 KINH DOANH SIÊU THỊ MANG TÍNH TỰ PHÁT 36

2.2 NGUỒN VỐN HẠN HẸP 37

2.3 CƠ SỞ VẬT CHẤT THIẾU THỐN, CHƯA ĐƯỢC ĐẦU TƯ ĐÚNG MỨC 38

2.4 THIẾU TÍNH CHUYÊN NGHIỆP 38

2.5 VẤN ĐỀ NHÂN LỰC CHƯA ĐƯỢC QUAN TÂM 40

2.6 DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CHƯA TỐT 40

III CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁC SIÊU THỊ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 42

1 CƠ HỘI KINH DOANH KHI HỘI NHẬP 42

2 THÁCH THỨC KHI HỘI NHẬP 44

Trang 5

CHƯƠNG III KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SIÊU THỊ VIỆT NAM 46

Trang 6

I KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN VÀ KINH DOANH SIÊU THỊ CỦA MỘT

SỐ NƯỚC Ở CHÂU Á 46

1 KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC 46

2 KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 47

3 KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN 49

II MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 50

1 NHÓM GIẢI PHÁP VI MÔ 50

1.1 XÂY DỰNG MÔ HÌNH KINH DOANH HỢP LÝ 50

1.2 LIÊN KẾT CÁC SIÊU THỊ THÀNH CHUỖI 51

1.3 NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ VÀ BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC HIỆU QUẢ 51

1.4 ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN VÀO KINH DOANH SIÊU THỊ 53

1.5 HOẠCH ĐỊNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH MARKETING 53

1.5.1 CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM 55

1.5.2 CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ 56

1.5.3 CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN VÀ HỖ TRỢ KINH DOANH 57

1.5.4 CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI 63

2 NHÓM GIẢI PHÁP VĨ MÔ 63

2.1 XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ 64

2.1.1 VỀ VIỆC ĐĂNG KÝ, THÀNH LẬP SIÊU THỊ 65

2.1.2 VỀ TIÊU CHUẨN CỦA SIÊU THỊ 65

2.1.3 VỀ VIỆC PHÂN HẠNG SIÊU THỊ 65

2.1.4 VỀ VẤN ĐỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 66

2.1.5 VỀ VIỆC PHẠT SIÊU THỊ BÁN HÀNG KÉM CHẤT LƯỢNG 67

2.1.6 VỀ CÔNG NGHỆ QUẢN LÝ TIÊN TIẾN 67

Trang 7

2.2 NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ HIỂU BIẾT CỦA TOÀN XÃ HỘI VỀ KINH DOANH SIÊU THỊ 68

Trang 8

2.2.1 ĐỐI TƢỢNG TUYÊN TRUYỀN 69 2.2.2 CÁC HÌNH THỨC PHỔ BIẾN, TUYÊN TRUYỀN GIÁO DỤC 69 2.2.3 NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN 69

2.3 HỖ TRỢ, KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN KINH DOANH SIÊU THỊ BÁN LẺ 70

2.3.1 CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ MẶT BẰNG KINH DOANH SIÊU THỊ 70 2.3.2 CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI TÍN DỤNG VÀ THUẾ 71 2.3.3 CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƢ ĐỂ PHÁT TRIỂN

HỆ THỐNG SIÊU THỊ QUY MÔ LỚN HAY CHUỖI SIÊU THỊ Ở VIỆT NAM 72 2.3.4 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG SIÊU THỊ 72 2.3.5 CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC SIÊU THỊ 73 2.3.6 CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THANH TOÁN, LIÊN KẾT VỚI NGÂN HÀNG 73

KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đất nước ta đang trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, quá

độ lên chủ nghĩa xã hội Cùng với việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, chúng ta cũng đang từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới; từng bước đạt được những thành tựu đáng tự hào trong phát triển kinh tế, xã hội; đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao Cũng như các ngành kinh tế quốc dân khác, ngành thương nghiệp đang cố gắng hết sức để tiếp thu những tri thức tiên tiến trên thế giới nhằm bắt kịp với các nước phát triển Kinh doanh siêu thị ra đời vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX chính là một xu thế tất yếu, đã làm thay đổi diện mạo ngành bán lẻ của đất nước Giờ đây, người tiêu dùng Việt Nam được tiếp cận với một lĩnh vực kinh doanh bán lẻ văn minh, hiện đại và rất tiện nghi

Trong một thời gian không xa, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ phải mở cửa hoàn toàn cho các nhà bán lẻ nước ngoài (chính xác là 01/01/2009 theo những cam kết trong WTO) Như vậy, Việt Nam sẽ dành cho các phân phối nước ngoài sự đối xử bình đẳng như các nhà cung cấp dịch vụ phân phối trong nước Vậy mà, Việt Nam hiện vẫn thiếu những công ty phân phối đủ lớn, đủ mạnh để có thể cạnh tranh với các tập đoàn siêu thị nước ngoài Chỉ với sự am hiểu thị trường và ưu thế về mặt bằng kinh doanh vốn có thôi là chưa đủ Trong cuộc cạnh tranh không cân sức về vốn và kinh nghiệm quản lý với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, các siêu thị Việt Nam cần có những chiến lược và biện pháp hữu hiệu Trong bối cảnh hội nhập, ngành kinh doanh siêu thị bán lẻ của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng gặp

Trang 10

không ít những nguy cơ và thách thức Một yêu cầu tất yếu khách quan được đặt ra là các doanh nghiệp kinh doanh siêu

thị Việt Nam sẽ có những phương hướng, giải pháp hành động như thế nào để

có thể nắm bắt các cơ hội và hạn chế nguy cơ mất dần thị phần ngay trên sân

nhà Vì vây, em đã quyết định chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là: “Hệ thống siêu thị của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập_Thực trạng và các đề xuất phát triển” với mong muốn đóng góp phần nào những hiểu biết của mình về

siêu thị và kiến nghị một số giải pháp cho các siêu thị của Việt Nam

2 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

Trong phạm vi của khóa luận này, em chỉ muốn đi sâu tìm hiểu hoạt động và năng lực cạnh tranh của các siêu thị của Việt Nam, trong mối tương quan so sánh với các siêu thị nước ngoài đã, đang và sẽ thâm nhập vào thị trường Việt Nam Mục đích bài luận văn của em là đem đến một cái nhìn khái quát về thực trạng phát triển hệ thống siêu thị của Việt Nam; phân tích SWOT cho hệ thống siêu thị của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập; để từ đó đưa ra những đề xuất phát triển hệ thống siêu thị của Việt Nam dựa trên kinh nghiệm phát triển và kinh doanh siêu thị của một số nước ở Châu Á

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận, em đã sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê,

so sánh số liệu từ các cơ quan Nhà nước, Bộ ngành liên quan, các chuyên gia kinh tế và nghiên cứu thị trường Ngoài ra, em cũng đã sử dụng kỹ năng phân tích, tổng hợp để đưa ra những giải pháp hoạt động thiết thực cho siêu thị trong bối cảnh hiện nay

4 Bố cục luận văn

Khóa luận của em được chia làm 3 chương:

Trang 11

 Chương I: Lý luận về siêu thị trong bối cảnh hội nhập

 Chương II: Thực trạng hệ thống siêu thị của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

 Chương III: Kinh nghiệm và một số đề xuất phát triển hệ thống siêu thị Việt Nam

Để hoàn thành đề tài khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn _ Thạc sĩ Trần Thu Trang Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo của trường Đại học Ngoại Thương, những người đã tận tình truyền đạt để em có được hệ thống kiến thức cơ bản phục vụ quá trình viết luận văn tốt nghiệp, cũng như chuẩn bị hành trang vững chắc cho em sau khi

ra trường

Trang 12

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN VỀ SIÊU THỊ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ SIÊU THỊ TRÊN THẾ GIỚI

1 Lịch sử phát triển siêu thị trên thế giới

Theo cuốn “Fundamental Marketing” của Philip Kotler thì ông xem siêu thị có thể bắt nguồn từ 2 thời điểm:

 Nguồn gốc thứ nhất: Năm 1912, John Hartford khai trương các cửa hàng thực phẩm, dưới sự quản lí của tập đoàn A&G Ở đây, người ta chỉ bán hàng bằng tiền mặt và không có dịch vụ đưa hàng đến nhà

 Nguồn gốc thứ hai: Các cửa hàng có tên “Piggly – Wiggly”của Clarence Sunders lần đầu tiên được khai trương vào năm 1916 Các cửa hàng này được tổ chức dưới dạng tự phục vụ, có rào ngăn cách lối đi của người mua và các điểm thanh toán

Phải đến những năm 30 của thế kỷ 20, siêu thị mới trở nên phổ biến Cửa hàng “King Kullen” của Michael Cullen, xuất hiện vào ngày 4 tháng 8 năm 1930 ở Jamaika, Queens, New York được xem là siêu thị thực sự đầu tiên Đây là cửa hàng thực phẩm tự phục vụ, bán hàng bằng tiền mặt, không đưa hàng đến tận nhà, có diện tích gần 560 m2

so với 75 m2 diện tích của các cửa hàng thông thường thời đó Cullen đã quay vòng hàng khá nhanh để đảm bảo tổng lợi nhuận là 9-10% doanh số bán, tức là mới bằng một nửa mức tổng lợi nhuận của các cửa hàng thực phẩm thời bấy giờ.1

1

http://www.kingkullen.com/aboutus.asp

Trang 13

Nguồn: http://www.kingkullen.com/aboutus.asp

Sau đó, rất nhiều siêu thị khác ra đời và bắt đầu phát triển mạnh Vào đầu năm 1939, ở khắp nước Mỹ đã có khoảng 5.000 siêu thị, chiếm khoảng 20% tổng khối lượng buôn bán thực phẩm Và đến những năm 1990 thì số siêu thị trên toàn nước Mỹ đã lên tới 37.000, chiếm khoảng 76% khối lượng buôn bán thực phẩm

Sở dĩ các siêu thị có được thành công đó là nhờ vào một số nguyên nhân sau:

 Tình trạng đình đốn của nền kinh tế buộc người tiêu dùng phải cân nhắc trước tiên đến vấn đề giá cả khi đi mua sắm Trong khi đó, các nhà kinh doanh có khả năng mua hàng hóa với giá rẻ từ những người cung ứng cũng đang lâm vào cảnh tiêu thụ hàng hóa khó khăn và thuê mặt bằng với giá thấp

Vì vậy, họ có điều kiện thuận lợi để mở rộng, phát triển những cửa hàng và siêu thị giá rẻ

 Việc sử dụng ô tô cá nhân một cách rộng rãi và phổ biến đã đẩy vấn

đề cự ly xuống hàng thứ hai và góp phần tạo ra thói quen mua hàng mỗi tuần một lần, do đó giảm nhu cầu mua sắm tại các cửa hàng nhỏ ở địa phương Kết quả là người tiêu dùng muốn tìm đến các siêu thị giá rẻ tự phục vụ hơn là các cửa hàng nhỏ có giá bán hàng hóa cao hơn và họ chấp nhận đi xa hơn để mua

Trang 14

 Những tiến bộ trong ngành sản xuất tủ lạnh đã cho phép các siêu thị

và những người tiêu dùng có thể bảo quản thực phẩm lâu hơn Ngoài ra, kỹ thuật đóng gói mới cũng cho phép cung cấp cho người tiêu dùng những thực phẩm bảo quản được lâu hơn và dễ dàng hơn

 Tất cả những yếu tố đó cùng với tác động của quảng cáo đã kích thích việc tiêu thụ hàng hóa, giảm số lượng nhân viên bán hàng trong mỗi cửa hàng

 Cuối cùng là sự hợp nhất của các bộ phận bán thực phẩm, thịt, hàng nông sản vào cùng một nơi, tạo điều kiện mua hàng ở một chỗ và thu hút được người mua ở từ xa

Siêu thị xuất hiện trước tiên ở nước Mỹ và cuối những năm 1940, đầu những năm 1950 thì hiện tượng siêu thị đã nhanh chóng lan sang Canađa và khu vực Bắc Mỹ Vào những năm 1950, siêu thị được phát triển rất nhanh tại nhiều nước ở Châu Âu Đến những năm 1960, siêu thị đã bắt đầu xuất hiện ở các nước đang phát triển ở vùng Trung Đông, Châu Á và Châu Mỹ Latinh

2 Một số khái niệm về siêu thị

Thuật ngữ “siêu thị” tiếng Anh gọi là “supermarket”, tiếng Pháp gọi là

“supermarché”, trong đó “super” là “siêu” và “market” hay “marché” là “chợ, thị trường” Hiện nay, trên thế giới, mỗi nước lại có một cách hiểu khác nhau

về siêu thị

2.1 Khái niệm siêu thị tại Hoa Kỳ

Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hoá bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa 2

2

Trang 15

Bên cạnh đó, họ còn đưa ra khái niệm ngắn gọn hơn là “ Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phổ biến của người dân như thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác

2.2 Khái niệm siêu thị tại Anh

Siêu thị là cửa hàng bách hoá bán thực phẩm, đồ uống và các loại hàng hoá khác Siêu thị thường đặt tại các thành phố hoặc dọc đường cao tốc hoặc trong khu buôn bán có diện tích khoảng từ 4.000 đến 25.000 bộ vuông3 ( tức

là từ 371.6m2 đến 2322.5 m2)”.4

2.3 Khái niệm siêu thị tại Pháp

Siêu thị là cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ có diện tích từ

400 đến 2.500 m2, chủ yếu bán hàng thực phẩm và vật dụng gia đình”.5

Bên cạnh khái niệm về siêu thị, chúng ta còn biết đến khái niệm về

“chuỗi siêu thị” và “hệ thống siêu thị”

 “Chuỗi siêu thị” chỉ một tập hợp các siêu thị của một nhà phân phối được đặt ở các địa bàn khác nhau nhưng cùng áp dụng một phương thức kinh doanh thống nhất Trong chuỗi siêu thị, mặt hàng, giá cả, phương thức quản lý quầy hàng, gian hàng, cách trưng bầy hàng hoá, biển hiệu và hình thức bên ngoài là tương tự nhau

 “Hệ thống siêu thị” dùng để chỉ mạng lưới cửa hàng bán lẻ hợp nhất áp dụng phương pháp bán hàng tự phục vụ những mặt hàng hoá dùng phổ biến của người dân

3 Đặc điểm chung của siêu thị

3 Melvin Morgenstein & Harriet Strongin (1987), “Mordern Retailing – Management

Principles and Practices”

4

“ Chuyển đổi đơn vị đo lường”: 1 bộ vuông = 0.0929m2

http://xaydungbk.net

Trang 16

Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ trực tiếp cho người tiêu dùng và như vậy trong mạng lưới phân phối, siêu thị là một hình thức tổ chức bán lẻ Tính chất hoạt động của siêu thị cũng giống với các cửa hàng bán lẻ truyền thống: mua hàng với khối lượng lớn và trực tiếp bán cho người tiêu dùng với khối lượng nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu, nhu cầu tiêu dùng hàng ngày

Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về siêu thị nhưng nói chung, siêu thị

có những đặc trưng cơ bản như sau:

Thứ nhất, siêu thị là cửa hàng bán lẻ Mặc dù được định nghĩa là

“chợ” song siêu thị được coi là một loại “chợ” phát triển ở mức cao, được quy hoạch và tổ chức kinh doanh dưới hình thức những cửa hàng bề thế, có trang thiết bị và cơ sở vật chất hiện đại, do thương nhân đầu tư và quản lý, được Nhà nước cấp phép hoạt động Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ – bán hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ không phải để bán lại

Thứ hai, siêu thị sáng tạo và áp dụng phương thức tự phục vụ

Có thể nói đây là đặc trưng nổi bật nhất để phân biệt siêu thị với các hình thức phân phối khác Cần phân biệt giữa phương thức “tự chọn” và “tự phục vụ”:

- “Tự chọn”: khách hàng sau khi mua hàng hoá sẽ đến chỗ người bán để trả hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp đỡ, hướng dẫn của người bán

- “Tự phục vụ”: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc xe đẩy đem đi thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào Người bán không có mặt trong quá trình mua hàng

Ở các nước phát triển, tự phục vụ đã trở thành công thức chung cho ngành công nghiệp Tự phục vụ đồng nghĩa với văn minh thương nghiệp hiện đại Tự phục vụ giúp doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí bán hàng, đặc biệt là chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng (thường chiếm tới 30% tổng chi phí kinh doanh) Tự phục vụ giúp người mua cảm thấy thoải mái khi

Trang 17

được tự do lựa chọn, ngắm nghía, so sánh hàng hoá mà không cảm thấy bị ngăn trở từ phía người bán Do áp dụng phương thức tự phục vụ, giá cả trong các siêu thị được niêm yết rõ ràng để người mua không phải tốn công mặc cả, tiết kiệm được thời gian Ngoài ra, phương thức thanh toán tại các siêu thị rất thuận tiện Hàng hoá được gắn mã vạch và hoá đơn được tự động in trong quá trình thanh toán Hình ảnh các quầy tính tiền tự động luôn là biểu tượng cho các cửa hàng tự phục vụ Đây chính là tính chất “siêu” của các siêu thị, đem đến cho khách hàng cảm giác thoải mái, hài lòng

Thứ ba, siêu thị gắn liền với nghệ thuật trưng bầy hàng hoá

Ngoài việc sáng tạo ra phương thức bán hàng tự phục vụ, đóng góp của siêu thị cho hệ thống bán lẻ còn là nghệ thuật trưng bầy hàng hoá Các siêu thị cũng là những nhà bán lẻ đầu tiên nghĩ đến tầm quan trọng của nghệ thuật trưng bầy hàng hoá và nghiên cứu cách thức vận động của người mua khi vào siêu thị Do người bán không có mặt tại các quầy hàng nên hàng hoá phải có khả năng “tự quảng cáo”, lôi cuốn người mua Siêu thị làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bầy hàng hoá Chẳng hạn, hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được xếp ở những vị trí dễ nhìn nhất, được trưng bầy với diện tích lớn; những hàng hoá liên quan đến nhau được xếp gần nhau; hàng có trọng lượng lớn phải xếp ở dưới để khách hàng dễ lấy…

Thứ tư, hàng hoá trong siêu thị chủ yếu là hàng tiêu dùng thường

ngày như thực phẩm, quần áo, bột giặt, đồ gia dụng điện tử với chủng loại phong phú, đa dạng Điều này thể hiện đúng tính chất “chợ” của siêu thị Theo quan niệm của nhiều nước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể tìm thấy mọi thứ đồ mà họ cần “dưới một mái nhà” với mức giá “ngày nào cũng thấp” Chủng loại hàng hoá của siêu thị có thể lên tới hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn mặt hàng Thông thường, siêu thị đáp ứng được 70-80% nhu cầu hàng hoá của người tiêu dùng về ăn uống, trang phục, mỹ phẩm, đồ làm

Trang 18

thể thấy siêu thị là loại cửa hàng tự phục vụ cho quảng đại quần chúng nhân dân và chủ yếu là tầng lớp bình dân có thu nhập thấp và trung bình trở lên.6

4 Phân loại siêu thị

4.1 Phân loại siêu thị theo quy mô

Việc phân loại siêu thị theo quy mô được hầu hết các nước trên thế giới

áp dụng và họ dựa trên hai tiêu chí cơ bản để xác định, đó là diện tích mặt bằng bán hàng và tập hợp hàng hóa của siêu thị Với căn cứ này, có thể chia siêu thị ra thành các loại:

Siêu thị nhỏ: là siêu thị có diện tích bán hàng từ 100 đến dưới 1.000

m2 Theo quy định của từng nước thì tiêu chuẩn để một siêu thị là siêu thị nhỏ là khác nhau Ví dụ ở Pháp, quy định siêu thị nhỏ có diện tích từ 120 đến 400 m2, các siêu thị nhỏ thường nằm giữa các đô thị đông dân cư hay các thị trấn nhỏ

Siêu thị: là siêu thị có diện tích khoảng từ 1.000 đến dưới 10.000 m2

và tuỳ từng nước có quy định cụ thể khác nhau

Đại siêu thị: là các cửa hàng thương mại bán lẻ khối lượng lớn tại

một địa điểm, dựa trên nguyên tắc bán hàng tự phục vụ và quy mô lớn hơn rất nhiều so với siêu thị, thường nằm ở vùng ngoại ô thành phố, có bãi đỗ xe rộng Đại siêu thị là khái niệm ra đời đầu tiên ở Pháp

Ngoài ra căn cứ theo quy mô còn có tiêu chí khác để phân loại siêu thị

là vị trí đặt siêu thị Theo đó các siêu thị nhỏ và siêu thị thường được đặt trong khu dân cư đô thị như thị trấn, thị xã hay thành phố; còn các đại siêu thị thì đươc đặt ở ngoại vi thành phố

4.2 Phân loại theo hàng hoá kinh doanh

6

TS Nguyễn Thị Nhiễu, Viện nghiên cứu thương mại, “Những giải pháp phát triển hệ

thống siêu thị Việt Nam tới năm 2010”

Trang 19

Theo truyền thống thì hàng hoá kinh doanh trong siêu thị là hàng thực phẩm Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh doanh siêu thị nói riêng và ngành bán lẻ nói chung, siêu thị ngày nay là những cửa hàng bán lẻ tổng hợp, bán hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng phổ biến của người dân từ thực phẩm đến các vật dụng gia đình, áo quần, giầy dép, chất tẩy rửa Vì vậy nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì hệ thống siêu thị trên thế giới không bao gồm các cửa hàng chuyên doanh các loại hàng hoá không phải là thực phẩm

Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường, siêu thị gồm mọi dạng cửa hàng bán lẻ áp dụng phương thức kinh doanh hiện đại thì có thể chia siêu thị thành 2 loại:

Siêu thị tổng hợp: là siêu thị bán nhiều loại hàng hoá cho nhiều loại

khách hàng Hiện nay, siêu thị tổng hợp đang ngày càng phát triển Có những siêu thị có tập hợp hàng hoá vừa rộng vừa sâu lên tới hàng chục ngàn loại hàng

Ở những siêu thị lớn như vậy, người tiêu dùng có thể mua hầu như tất cả mọi hàng hoá phục vụ sinh hoạt và cuộc sống mà không phải ra khỏi cửa hàng

Siêu thị chuyên doanh: Theo nghĩa hẹp thì các siêu thị chuyên doanh

chỉ có thể là siêu thị bán hàng thực phẩm Nhưng theo cách hiểu thông thường thì siêu thị chuyên doanh chính là các cửa hàng chuyên doanh áp dụng phương thức bán hàng tự phục vụ Siêu thị chuyên doanh cung cấp tập hợp hàng hoá hẹp nhưng sâu Chẳng hạn như: siêu thị quần áo, siêu thị điện máy, siêu thị vật liệu xây dưng

4.3 Phân loại theo tính chất thật ảo của siêu thị

Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đăc biệt là sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, Internet đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới và là công cụ đắc lực giúp cho mọi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động và phát triển Thời đại công nghệ thông tin bùng nổ khiến cho mọi hoạt động của cuộc sống thay đổi và chuyển sang một bước ngoặt khác Tất

Trang 20

Kinh doanh siêu thị cũng không phải là ngoại lệ Người ta có thể tận dụng tiện ích của Internet để xây dựng cho mình một phương thức kinh doanh mới Đó

là kinh doanh trên mạng

Theo tiêu chí này, siêu thị có thể được chia làm 2 loại:

Siêu thị truyền thống: là các siêu thị được xây dựng thực sự và các

yếu tố của siêu thị như mặt bằng cửa hàng, quầy hàng đều là thực sự Người mua muốn mua hàng phải đến siêu thị, nhìn tận mắt hàng hoá, chọn lựa và quyết định mua hàng

Siêu thị điện tử: là siêu thị được thiết lập trên một website Nếu điều

kiện để siêu thị truyền thống được xây dựng là cần phải có mặt bằng, có cơ

sở, có quầy hàng và hàng hoá phải được trưng bày sẵn thì siêu thị điện tử chỉ cần có một website là đủ Có nghĩa là mọi thứ của siêu thị điện tử đều được đưa lên một trang website bằng các công cụ điện tử Tất cả đều mang tính chất “ảo” Do đó, khách hàng thay vì phải đi đến các siêu thị truyền thống để mua hàng thì nay họ có thể ở nhà, truy cập vào một website xem hàng hoá, so sánh, lựa chọn và quyết định mua sản phẩm nào Tất cả quá trình mua hàng chỉ là những thao tác đơn giản trên máy tính

II LÝ LUẬN CHUNG VỀ SIÊU THỊ Ở VIỆT NAM

1 Khái niệm

* Theo “Quy chế siêu thị và trung tâm thương mại” ban hành kèm theo quyết định số 1371/2004/QĐ/BTM ngày 24/09/2004 của Bộ trưởng Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công thươngViệt Nam):

“Siêu thị là loại cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương tiện phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hoá của khách hàng”

* Theo từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z của Trần Bá Tước (1994):

Trang 21

“Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, đồ dùng gia đình và các vật phẩm cần thiết khác”

* Theo bách khoa toàn thư của Việt Nam:

“Siêu thị là một loại cửa hàng tổng hợp bán lẻ với diện tích bán hàng quy mô lớn và nhiều ngành khác nhau có từ vài nghìn đến vài vạn mặt hàng, được trang bị các phương tiện hiện đại để chuyển tải hàng, tổ chức di chuyển hàng và người trong phạm vi cửa hàng, thỏa mãn việc thanh toán nhanh cho hàng nghìn lượt khách mua trong một giờ Siêu thị là sản phẩm của một giai đoạn phát triển của quá trình đô thị hóa, khi nhu cầu tiêu thụ tăng cao mà người tiêu thụ không thể có nhiều thời gian để đi từ cửa hàng này đến cửa hàng khác để mua sắm hàng dự trữ cho nhiều ngày trong tuần Siêu thị thường được xây dựng ở ven ngoại ô thành phố, gần tuyến giao thông hành khách lớn, thuận tiện cho người đi tới bằng phương tiện công cộng, có bãi để xe cá nhân cho khách tới mua hàng”

2 Quá trình hình thành và phát triển

Ở các nước phát triển thì siêu thị đã xuất hiện từ rất lâu và là một phần không thể thiếu trong hệ thống bán lẻ hàng hoá Trên thế giới, bản chất của loại hình kinh doanh siêu thị và vị trí của siêu thị trong mạng lưới bán lẻ được nêu rất rõ ràng Cụ thể:

 Siêu thị là một loại cửa hàng riêng nằm trong hệ thống mạng lưới bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, với mặt hàng kinh doanh chủ yếu là hàng hoá thiết yếu hàng ngày

 Tự phục vụ là một phương thức kinh doanh trọng yếu nhưng không phải bất cứ nơi đâu có phương thức bán hàng tự phục vụ đều là siêu thị

Trang 22

 Siêu thị có mức giá bán lẻ thấp nhất trong hệ thống mạng lưới bán lẻ hàng hoá thông thường

 Ngày nay, ở các nước phát triển, người ta lồng ghép nhiều phương thức bán hàng trong cùng một cửa hàng quy mô lớn và ngay trong một siêu thị Nhiều khi vẫn có những quầy bán hàng theo phương thức truyền thống, nhất là một số mặt hàng nhỏ lẻ, giá trị cao, những mặt hàng đòi hỏi phải được hướng dẫn sử dụng một cách chi tiết, mặt hàng phải bao gói như hải sản tươi sống, hoa quả tươi

Trong những năm 60 của thế kỷ XX, tại Sài Gòn, dưới chế độ Mỹ ngụy, nhằm đáp ứng nhu cầu của lính Mỹ và một bộ phận nhỏ dân cư, một vài siêu thị nhỏ đã mọc lên Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất vào năm

1975, các siêu thị này đều phải đóng cửa hoặc chuyển quyền sở hữu sang sở hữu tập thể hoặc sở hữu Nhà nước cũng như chuyển loại hình hoạt động từ

mô hình siêu thị sang cửa hàng bách hoá mậu dịch

Thực hiện đường lối đổi mới tổ chức và vận hành kinh doanh do Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986 đề ra, chuyển cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế – xã hội của Việt Nam đã có nhiều khởi sắc: đời sống của nhân dân được cải thiện từng bước, năm sau cao hơn năm trước, thu nhập của người lao động tăng rõ rệt

Chúng ta có thể khái quát những nét chính về sự phát triển của siêu thị Việt Nam trong hơn 10 năm qua như sau:

Giai đoạn 1993 – 1994: Siêu thị đầu tiên xuất hiện ở nước ta là

Minimart của Công ty xuất nhập khẩu nông sản và tiểu thủ công nghiệp Vũng Tàu (Vũng Tàu – Sinhanco), khai trương vào tháng 10/1993, với quy mô nhỏ

và chủ yếu phục vụ cho đối tượng khách nước ngoài Những năm sau đó, một

Trang 23

số siêu thị lớn hơn đã xuất hiện ở khu vực trung tâm và dần lan ra các vùng ven đô của thành phố Hồ Chí Minh như Gò Vấp, Tân Bình…

Giai đoạn 1995 – 1997: Siêu thị bắt đầu phát triển đến các tỉnh,

thành phố khác trong phạm vi cả nước Hai siêu thị đầu tiên được khai trương ở

Hà Nội là siêu thị thuộc Trung tâm thương mại Đinh Tiên Hoàng (01/1995) và siêu thị Minimart Hà Nội tại tầng 2 chợ Hôm (03/1995) Tuy nhiên, vào thời điểm cuối năm 1995 đầu năm 1996, ở thành phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện những siêu thị có quy mô lớn hơn về diện tích và chủng loại hàng hoá như Co.opMart, Maximart…,được tổ chức theo hình thức liên hợp bao gồm các khu vực bán hàng hoá, ăn uống, giải trí Hàng hoá cũng bắt đầu đa dạng hơn, một số siêu thị đã có 5000 – 6000 mặt hàng, diện tích kinh doanh lớn tới 3000 – 4000

m2 như Maximart, Vinamart Trong khi đó, các siêu thị ở Hà Nội đua nhau ra mắt nhưng quy mô nhỏ hơn, các mặt hàng đơn điệu, số lượng cũng ít hơn

Giai đoạn 1998 – 2001: Do sự xuất hiện ồ ạt và kinh doanh

không bài bản, thiếu kiến thức nghiệp vụ kinh doanh siêu thị, môi trường hạ tầng kinh tế còn nhiều bất cập và phải cạnh tranh với các hình thức bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàng, hàng rong và phải cạnh tranh lẫn nhau nên rất nhiều địa điểm phân phối được coi là “siêu thị” đã vỡ nợ, phá sản, làm ăn thua lỗ và mấp mé bên bờ phá sản Ở Hà Nội, siêu thị 63 Hàm Long phá sản, mất khả năng thanh toán; các siêu thị Thành Hưng, Dream, Thủ Đô thì tuyên

bố giải thể Những siêu thị còn tồn tại và phát triển là nhờ những nhà quản lý tỉnh táo hơn, biết hướng siêu thị của mình đi đúng quỹ đạo và biết thích nghi với những đặc điểm tâm lý của người tiêu dùng Việt Nam như Sài Gòn Superbowl (liên doanh giữa Việt Nam và Singapore), siêu thị Miền Đông (tổng diện tích 10.000 m2, có đầy đủ các khu kinh doanh hàng hóa, nhà hàng, giải trí, bãi để xe), đại siêu thị Cora (tổng diện tích 20.000 m2, vốn đầu tư 20

Trang 24

triệu USD tại khu công nghiệp Biên Hoà, có 20.000 mặt hàng trưng bày theo tiêu chuẩn hệ thống siêu thị trên thế giới của tập đoàn Bourbon (Pháp) Ở Hà Nội, hoạt động kinh doanh siêu thị cũng bắt đầu có những nét mới Nhiều siêu thị mới ra đời và được đặt trong tổng thể các mô hình trung tâm thương mại lớn: Hà Nội Tower, Starbowl, Fivimart, Tràng Tiền Plaza 7

7

TS Nguyễn Thị Nhiễu, Viện nghiên cứu thương mại, “Những giải pháp phát triển hệ

thống siêu thị Việt Nam tới năm 2010”

Trang 25

3 Phân loại siêu thị ở Việt Nam

3.1 Theo “Quy chế siêu thị và trung tâm thương mại” Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công thương Việt Nam)

Điều 3: Tiêu chuẩn Siêu thị

Được gọi là Siêu thị và phân hạng Siêu thị nếu cơ sở kinh doanh thương mại có địa điểm kinh doanh phù hợp với Quy hoạch phát triển mạng lưới thương mại của tỉnh, thành phố và có quy mô, trình độ tổ chức kinh doanh đáp ứng các tiêu chuẩn cơ bản của một trong ba hạng Siêu thị theo quy định dưới đây:

a Siêu thị hạng I:

* Áp dụng đối với Siêu thị kinh doanh tổng hợp:

 Có diện tích kinh doanh từ 5.000 m2 trở lên

 Có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên

 Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết kế và trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của Siêu thị

 Có hệ thống kho lạnh và các thiết bị bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại

 Tổ chức, bố trí hàng hoá theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hàng tận nhà, bán hàng qua mạng, qua bưu điện, điện thoại

* Áp dụng với Siêu thị chuyên doanh:

 Có diện tích kinh doanh từ 1.000 m2 trở lên

 Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên

Trang 26

 Các tiêu chuẩn khác như Siêu thị kinh doanh tổng hợp

b Siêu thị hạng II:

* Áp dụng với Siêu thị kinh doanh tổng hợp:

 Có diện tích kinh doanh từ 2.000 m2 trở lên

 Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên

 Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết kế và trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của Siêu thị

 Có hệ thống kho lạnh và các thiết bị bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại

 Tổ chức, bố trí hàng hoá theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hàng tận nhà, bán hàng qua mạng, qua bưu điện, điện thoại

* Áp dụng với Siêu thị chuyên doanh:

 Có diện tích kinh doanh từ 500 m2 trở lên

 Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên

 Các tiêu chuẩn khác như Siêu thị kinh doanh tổng hợp

c Siêu thị hạng III:

* Áp dụng đối với Siêu thị kinh doanh tổng hợp:

 Có diện tích kinh doanh từ 500 m2 trở lên

 Có danh mục hàng hóa kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên

 Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ cao, có thiết kế và trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu

Trang 27

phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng; có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của Siêu thị

 Có hệ thống kho lạnh và các thiết bị bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại

 Tổ chức, bố trí hàng hoá theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hàng tận nhà, bán hàng qua mạng, qua bưu điện, điện thoại

* Áp dụng với Siêu thị chuyên doanh:

 Có diện tích kinh doanh từ 250 m2 trở lên

 Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên

 Các tiêu chuẩn khác như Siêu thị kinh doanh tổng hợp

3.2 Theo đặc điểm kinh doanh

3.2.1 Các siêu thị kinh doanh tổng hợp

Các siêu thị này thường tập hợp hàng hoá rộng và độ sâu của tập hợp tuỳ thuộc vào quy mô siêu thị Hàng hoá bán trong các siêu thị kinh doanh tổng hợp của Việt Nam ít cũng phải vài ngàn mặt hàng (siêu thị loại III cũng

có tập hợp tối thiểu là 4.000 mặt hàng), nhiều thì có thể lên tới vài chục đến

cả vài trăm ngàn loại hàng (siêu thị loại I có tập hợp hàng hoá tối thiểu là 20.000 mặt hàng)

Hàng hoá trong các siêu thị tổng hợp đa số là hàng tiêu dùng thông thường và hàng thiết yếu như thực phẩm, quần áo, giầy dép, đồ gia dụng có chất lượng đảm bảo và mức giá bán hợp lý trong tương quan với chất lượng

Đa phần các siêu thị loại I và loại II ở Việt Nam hiện nay là siêu thị kinh doanh tổng hợp, nằm trong tay các nhà phân phối nước ngoài hoặc các

Trang 28

nhà phân phối lớn của Việt Nam như Saigon Co.opMart, Alfonco Ngoài ra, còn có rất nhiều siêu thị kinh doanh tổng hợp thuộc tiêu chuẩn loại III trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội

3.2.2 Siêu thị chuyên doanh

Ngoài siêu thị kinh doanh tổng hợp, ở Việt Nam còn rất phổ biến loại siêu thị chuyên doanh Thực ra ở nước ngoài, đây là hệ thống cửa hàng chuyên doanh (không gọi là siêu thị) Điển hình có thể kể tới chuỗi 10 siêu thị của Tổng công ty dệt may Vinatex trên phạm vi cả nước, chuyên bán hàng may và thời trang Những siêu thị chuyên doanh khác có thể là siêu thị sách, siêu thị nội thất, siêu thị hàng điện máy, siêu thị hoa quả

* Hiện nay cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, ở Việt Nam cũng

đã xuất hiện các siêu thị điện tử hay siêu thị ảo Siêu thị Cyber-Mall là siêu thị

ảo trên mạng điện tử Vietnamnet do Trung tâm dịch vụ giá trị gia tăng (VASC) của công ty Điện toán và truyền số liệu xây dựng Trong siêu thị điện

tử này có khoảng 500 mặt hàng trong và ngoài nước đã đặt mua thiết bị viễn thông, tin học, ôtô, sách báo, hàng tiêu dùng Ngoài ra, còn một số siêu thị ảo khác như: siêu thị ảo Golmart của Công ty Uy tín – GOL (www.golmart.com.vn), siêu thị VDC của Công ty Điện toán và Truyền số liệu (www.vdcsieuthi.vnn.vn), siêu thị ảo của Công ty Rồng Thái Bình Dương (www.vietnamshop.com)

III NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI HÀNG HÓA KHI GIA NHẬP WTO

Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organisation – WTO) Ngày 07/11/2006, sau 11 năm với hơn 200 cuộc đàm phán song phương và đa phương đầy khó khăn, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO Theo đó, Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định ràng buộc phức tạp của WTO bắt đầu ngay thời điểm chính thức gia nhập Trong lĩnh vực phân phối, Việt Nam cam kết:

Trang 29

“ Trước ngày 01/01/2008, các nhà phân phối nước ngoài muốn hoạt động kinh doanh tại Việt Nam phải thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam và tỉ lệ vốn góp không vượt quá 49% Kể từ ngày 01/01/2008 trở đi, hạn chế vốn góp 49% sẽ được bãi bỏ và kể từ ngày 01/01/2009 không hạn chế các doanh nghiệp vào thị trường

Kể từ ngày gia nhập, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được cấp phép cung cấp dịch vụ hoa hồng, bán buôn, bán lẻ tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam ngoại trừ: xi măng, clinke, lốp (trừ lốp máy bay), giấy, máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con và xe máy, sắt thép, thiết bị nghe nhìn, rượu, phân bón

Kể từ ngày 01/01/2009, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con và xe máy

Trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập, công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối sẽ được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam

Việc thành lập các cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở thứ nhất) sẽ được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế Việc xin phép thành lập nhiều hơn một cơ sở bán lẻ phải tuân thủ qui trình đã có và được công bố công khai, việc cấp giấy phép phải dựa trên các tiêu chí khách quan Các tiêu chí để kiểm tra nhu cầu kinh

tế là số lượng các nhà cung cấp dịch vụ hiện diện trên một khu vực địa lý, sự ổn định của thị trường và quy mô địa lý”

Như vậy, trong lĩnh vực phân phối, Việt Nam cam kết mở cửa cho phía nước ngoài tham gia cả 4 loại hình phân phối: bán lẻ, bán buôn, đại lý hoa hồng và nhượng quyền thương mại

Trang 30

 01/01/2008: cho phép liên doanh không hạn chế vốn góp từ phía nước ngoài

 01/01/2009: thị trường bán lẻ Việt Nam hoàn toàn mở cửa, cho phép thành lập doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài Việc thành lập cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở thứ nhất) chỉ được xem xét tùy theo từng trường hợp cụ thể

 01/01/2010: các doanh nghiệp FDI được phép cung cấp dịch vụ bán buôn, bán lẻ tất cả các mặt hàng xuất khẩu tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam

Phân phối luôn là một lĩnh vực được xem là khá nhạy cảm và đây thường là vấn đề khá căng thẳng trên bàn đàm phán Nhiều nước đã có một số biện pháp hạn chế các nhà đầu tư nước ngoài thâm nhập vào thị trường phân phối Ví dụ như Thái Lan, Nga có chủ trương cấm các nhà đầu tư nước ngoài buôn bán ở chợ Cùng trong khu vực Đông Nam Á, khi cấp phép cho Metro, Philippines quy định khoảng cách từ trung tâm thành phố đến siêu thị của tập đoàn này phải là 40 km Tương tự, ở Ấn Độ, một thị trường lớn như vậy nhưng chính phủ nước này chỉ cho phép Metro mở 2 siêu thị tổng hợp với tổng vốn đầu tư là 40 triệu USD

Tuy nhiên, Việt Nam không thể ngăn cấm được bởi dịch vụ phân phối

là một trong những nội dung cam kết khi gia nhập WTO Thực ra, cam kết dịch vụ nói chung không vượt quá mức cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ mà nước ta đã ký trước đây Sau một lộ trình rất dài, 9 năm kể từ khi ký Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, nước ta mới cho phép các nhà phân phối Hoa Kỳ hoạt động tại Việt Nam Còn đối với WTO,

là tháng 01/2009 Như vậy, đã có một khoảng thời gian báo trước cho các doanh nghiệp trong nước là đến một lúc nào đó thì thị trường bán lẻ trong nước sẽ có những đối thủ tầm cỡ tham gia, tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ cho các nhà phân phối nội địa

Trang 31

Khi đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam bảo lưu được một điều khoản rất quan trọng, đó là “cấp giấy phép dựa trên nhu cầu kinh tế”, tức là cấp theo từng trường hợp cụ thể Các nhà phân phối nước ngoài muốn lập cơ sở bán lẻ thứ hai thì phải xin phép, không được tự động doanh nghiệp nào muốn lập điểm phân phối ở đâu cũng được Các cơ quan chức năng sẽ xem xét tình hình phát triển của doanh nghiệp và nhu cầu thị trường như thế nào mới quyết định

mở thêm các cơ sở tiếp theo Theo đó, Việt Nam hoàn toàn có thể đề ra những quy định về qui mô dân số, cự ly để hạn chế tốc độ mở các điểm bán lẻ của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài

Việt Nam mạnh dạn mở cửa cho các nhà bán lẻ vào nhưng không nên cấp phép ào ạt, không nên tập trung vào một nhà bán lẻ, không nên để họ hình thành những chuỗi lớn khống chế thị trường (Metro thành lập điểm thứ 8 là một ví dụ) Việt Nam có thể mở cửa cho nhiều nhà bán lẻ, nhưng mỗi nhà bán

lẻ chỉ có thể có 2 hoặc 3 điểm phân phối Tất nhiên, bên cạnh đó, nước ta phải đưa ra các tiêu chí để đảm bảo tính minh bạch, không được tùy tiện Tùy tiện rất dễ xảy ra không công bằng và cũng dễ xảy ra tham nhũng Thứ nhất, cần phải xem xét nhu cầu bán lẻ trên địa bàn doanh nghiệp đề xuất mở địa điểm mới đó có thực sự cần thiết nữa không? Thứ hai là số doanh nghiệp hoạt động

ở đó là bao nhiêu để đảm bảo phân phối nguồn nhân lực cho hợp lý, tránh việc trên một địa điểm có rất nhiều nhà bán lẻ, gây lãng phí, không cần thiết

Cạnh tranh tạo nên áp lực cho các nhà bán lẻ để cải tiến chất lượng Nếu như các nhà bán lẻ có trình độ tổ chức phân phối tốt như là Metro chẳng hạn thì họ có thể liên kết rất tốt với sản xuất để giúp nông dân cách thức nuôi trồng, bảo quản Đây chính là mặt tốt của họ Cần phải nhìn nhận cạnh tranh ở

cả mặt tích cực của nó, chứ không phải chỉ nhìn ở khía cạnh là gây áp lực cho các nhà bán lẻ trong nước Nếu các nhà phân phối Việt Nam chỉ quen bảo hộ, không vươn lên thì đó là lỗi của họ

Trang 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HỆ THỐNG SIÊU THỊ VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ SIÊU THỊ VIỆT NAM NÓI RIÊNG SAU GẦN 2 NĂM HỘI NHẬP

1 Quy mô hệ thống siêu thị cả nước trong giai đoạn 2005-2008

Việt Nam là một thị trường khá lớn với gần 84 triệu dân, trong đó 65%

là dân số trẻ Việt Nam cũng là cửa ngõ dẫn đến một số thị trường như Ấn

Độ, Trung Quốc, Campuchia, Lào ,nằm trong khu vực được xem là có hoạt động kinh tế năng động nhất thế giới Nước ta có mức tăng trưởng GDP cao

và khá ổn định, theo đó nhu cầu tiêu dùng cũng ngày một tăng lên, dần hình thành thế hệ khách hàng “thích shopping, hàng hiệu” Vì thế, không khó hiểu khi suốt mấy năm qua, nước ta luôn nằm trong top những “thị trường bán lẻ” hấp dẫn nhất thế giới

Trang 33

Với mức sinh lời thứ 4 trên thế giới chỉ sau Ấn Độ, Nga và Trung Quốc (theo điều tra của AT Kearney 2007) và sẽ mở cửa hoàn toàn vào năm 2009, nhiều đại gia bán lẻ trên thế giới như Wal – Mart, Metro, Big C, Parkson đã bắt đầu thâm nhập và nhân rộng mạng lưới tại Việt Nam Metro Cash & Carry

đã đạt đến mục tiêu mở 8 siêu thị trên toàn quốc và đang ấp ủ mở thêm 4 trung tâm nữa tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang và Đồng Nai

Hệ thống siêu thị Big C đang chuẩn bị xây dựng thêm 4 siêu thị mới tại Hà Nội, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng cho tròn 10 siêu thị Tập đoàn Parkson của Malaysia đã khai trương thêm 2 trung tâm mua sắm nữa tại

Rủi ro quốc gia (%)

Độ bão hòa thị trường (%)

áp lực thời gian (%)

Trang 34

Năm 2008 này, lần đầu tiên, Việt Nam v-ơn lên ngôi vị thị tr-ờng hấp dẫn nhất thế giới, tính từ khi AT Kearney bắt đầu công bố GRDI năm 2001 -

đánh giá về độ hấp dẫn của thị tr-ờng bán lẻ ở những nền kinh tế mới nổi – dựa trên 25 yếu tố khác nhau, bao gồm cả rủi ro kinh tế, chính trị, mức độ hấp dẫn cũng nh- bão hòa của thị tr-ờng bán lẻ.9

Theo thống kờ của Bộ Thương mại (nay là Bộ Cụng thương), năm

2005, cả nước cú khoảng 200 siờu thị, 30 trung tõm thương mại và gần 1.000

cửa hàng tiện ớch hoạt động tại 30/64 tỉnh thành

Biểu đồ 1: Sự phân bổ số l-ợng siêu thị ở các địa

ph-ơng trên cả n-ớc năm 2005

Hà nội 38%

Hải Phũng

33%

Cỏc địa phương khỏc 17%

Kiờn Giang 2%

Thanh Húa 2%

Cần Thơ 2%

Đà Nẵng 2%

9 www.atkearney.com

10

Trang 35

Nguồn: Bộ Thương mại (2005), Vụ chính sách thị trường trong nước

Theo thống kê của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), đến cuối năm 2006, cả nước có gần 400 siêu thị, trung tâm thương mại đã đi vào hoạt động Ngoài ra, còn phải kể đến sự có mặt của các tập đoàn phân phối lớn như Metro Cash & Carry (Đức), Bourbon (Pháp), Parkson (Malaysia), Zen Plaza (Nhật Bản), Diamond Plaza (liên doanh Hàn Quốc) Tuy nhiên, phần lớn siêu thị, trung tâm thương mại đang hoạt động không đáp ứng được tiêu chuẩn theo quy định của “Quy chế siêu thị và trung tâm thương mại” như: chưa đạt diện tích kinh doanh tối thiểu, bảo quản hàng hoá không đúng quy định, thiếu các điều kiện cần thiết phục vụ khách hàng Nhìn chung đa phần các siêu thị

ở Việt Nam có quy mô nhỏ hẹp và mới chỉ dừng ở mức độ các cửa hàng tự chọn chứ chưa phải tự phục vụ, đúng với nghĩa siêu thị Nhưng tình trạng lạm dụng tên gọi siêu thị, trung tâm thương mại diễn ra phổ biến Hàng hoá trong siêu thị tuy đã tương đối phong phú về mặt hàng nhưng lại nghèo nàn về chủng loại Hiện rất ít siêu thị mà toàn bộ hàng hóa được quản lý theo mã vạch, nhiều hàng hóa được gắn, được viết bằng tay Hàng hóa bán trong các siêu thị giá thường cao hơn các cửa hàng bách hóa, chợ Một thực trạng đáng

lo ngại về hoạt động của các siêu thị hiện nay là lượng khách hàng ít và có xu hướng giảm Theo tiêu chuẩn đề ra trong “Quy chế siêu thị và trung tâm thương mại”, cả nước có tới 33% số lượng siêu thị chưa đạt tiêu chuẩn Cuộc cạnh tranh không cân sức giữa siêu thị nội địa với hệ thống siêu thị của các tập đoàn bán lẻ xuyên quốc gia trở nên khốc liệt hơn khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường phân phối.11

Trang 36

Bảng 3: Phân hạng siêu thị tới năm 2005 theo tiêu chuẩn phân hạng siêu

tế, siêu thị Wellcome giới thiệu hơn 10.000 mặt hàng, trong đó 90% là sản xuất trong nước Cũng đầu tháng 10, nhà bán lẻ hàng đầu của Hàn Quốc với thương hiệu Lotte khởi công xây dựng một trung tâm thương mại ở Quận 7

12

Trang 37

TP Hồ Chí Minh Tại khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (Bình Dương), Tập đoàn Guoco Group (Singapore) cũng được cấp phép xây dựng trung tâm mua sắm với quy mô lớn “Đại gia” siêu thị giá rẻ của Mỹ, thương hiệu Wal – Mart cũng đang xúc tiến việc mở văn phòng đại diện tìm hiểu thị trường trước khi chính thức đi vào hoạt động.13

Tính đến tháng 02/2008, cả nước có gần 300 siêu thị tại 32 tỉnh thành, trong đó trên 70% tập trung tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng Hà Nội là một trong những thành phố có số siêu thị chiếm 38% số lượng siêu thị của cả nước với hơn 100 siêu thị Tuy nhiên, trong số các siêu thị đó chỉ có khoảng 3 – 4 siêu thị đạt tiêu chuẩn loại I, 10 –

12 siêu thị đạt tiêu chuẩn loại II, còn hầu hết là loại III, thậm chí có khoảng 20% không đạt tiêu chuẩn siêu thị Theo chi cục quản lý thị trường Hà Nội,

TP Hà Nội có 70 đơn vị treo biển siêu thị, trung tâm thương mại nhưng chỉ

có 6 đơn vị đủ tiêu chuẩn trung tâm thương mại và 46 đơn vị đủ tiêu chuẩn là siêu thị Tại TP Hồ Chí Minh, theo Sở thương mại Thành phố, hiện có tới 88 siêu thị các loại đang hoạt động, nhưng cũng chỉ có 33% đạt tiêu chuẩn hạng

I, II Trên thị trường cũng đã xuất hiện loại hình kinh doanh chuỗi siêu thị Đến nay, ngoài hệ thống Co.opMart của Liên hiệp hợp tác xã thương mại TP

Hồ Chí Minh, còn có hệ thống siêu thị của Maximart, Vinatex, Citimart, hệ thống siêu thị của Hapro Mart do Tổng công ty thương mại Hà Nội đầu tư Một loạt các siêu thị của doanh nghiệp bán lẻ trong nước cũng đã hình thành: Công ty cổ phần Nhất Nam với chuỗi siêu thị Fivimart gồm 10 siêu thị trên cả nước, Saigon Co.opMart cũng đã đưa vào hoạt động 28 siêu thị tại các tỉnh thành, trong đó riêng TP Hồ Chí Minh có 12 điểm Citimart cũng có 18 siêu thị đang hoạt động tại các thành phố lớn và các địa phương Vinatex đang có

hệ thống 50 siêu thị rải đều ở 19 địa phương.14

13

“Ồ ạt đến Việt Nam bán lẻ”, 12/2007

Trang 38

Tính đến tháng 05/2008, không kể các hệ thống do nước ngoài đầu tư vào như Metro, BigC; tại Việt Nam hiện có hơn 10 hệ thống siêu thị do các doanh nghiệp trong nước làm chủ, đang “ăn nên làm ra” với tốc độ tăng trưởng 30-45%/năm, có mạng lưới từ 5 đến 30 điểm kinh doanh như Co.opmart, Citimart, Bài Thơ Mart, Hapro, Vinatexmart, Fivimart Các hệ thống này đang gia tăng tốc độ phủ sóng ở các địa phương Mạng lưới rộng và

có doanh thu lớn nhất Việt Nam hiện nay là hệ thống Co.opmart với 30 siêu thị và gần 100 cửa hàng tự chọn Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Tổng giám đốc Sài Gòn Co-op cho biết: đến năm 2010 Co.opmart sẽ mở rộng hệ thống thành 50 siêu thị và đến năm 2015 là 100 siêu thị trên toàn quốc Kế đến là Vinatex có

45 siêu thị đang kinh doanh Bà Nguyễn Thị Hồng Hương, Tổng giám đốc Vinatexmart khẳng định: từ nay đến năm 2010 sẽ lập 80 siêu thị Hệ thống Hapro đã có 11 siêu thị, 16 cửa hàng tiện ích và sẽ nâng lên thành 5 đại siêu thị, trung tâm thương mại, 70 siêu thị, 800 cửa hàng tiện ích trong thời gian từ nay đến năm 2010 Tập đoàn Phú Thái cũng sẽ phát triển lên thành 100 siêu thị, 5.000 đại lý bán buôn, 50.000 cửa hàng bán lẻ trên toàn quốc Phát triển chính tại Hà Nội và Hồ Chí Minh, dựa vào cơ hội mạng lưới bán lẻ đang thiếu

ở các tỉnh thành khác nên mỗi hệ thống siêu thị đều bung ra, tìm kiếm khách hàng, thị trường mới cho mình Ông Hòa, Tổng giám đốc Co-op đã khẳng định “Với tình hình Việt Nam hiện nay, việc tìm những mặt bằng lớn thích hợp để mở siêu thị ngày càng khó khi giá đất, giá cho thuê, giá các dịch vụ cở

sở hạ tầng liên tiếp tăng Để đạt 50 siêu thị trong 2 năm tới, chúng tôi đang phải tăng hết tốc lực, mở thêm nhiều điểm mới ở khu vực miền Đông Nam

Bộ, các tỉnh miền Tây, tiến ra miền Trung và các tỉnh miền Bắc” Sau khi khai trương Co.opmart tại Huế, hệ thống này sẽ mở tiếp mạng lưới ở Hà Nội

và Đà Nẵng Hệ thống Fivimart từ Hà Nội lại vào tìm cơ hội ở phía Nam Bà Nguyễn Thị Hà, Tổng giám đốc Fivimart nói rõ: “Cơ hội phát triển mạng lưới kinh doanh chỉ còn trong vòng vài năm nữa, nếu các hệ thống không mạnh dạn mở ra các chuỗi cửa hàng ở nhiều tỉnh thành Khi thương hiệu khác đã

Trang 39

vào, người đến sau khó tìm được chỗ đứng cả về thị phần lẫn vị trí xây dựng siêu thị”15

2 Thị phần của siêu thị trong hệ thống bán lẻ

Hiện nay, hàng bán lẻ qua siêu thị mới chỉ chiếm 10% so với 40% qua

hệ thống chợ và khoảng 44% qua các cửa hàng truyền thống16 Muốn mở được một siêu thị phải mất từ 15 đến 20 tỷ tiền vốn đầu tư, đó là một khó khăn và thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp Thứ nữa là tiếp cận đất đai để mở siêu thị bây giờ cũng rất khó khăn Có những doanh nghệp có vốn nhưng mất đến hơn 2 năm vẫn chưa tìm được mặt bằng để mở siêu thị Mâu thuẫn giữa mong muốn xây dựng loại hình kinh doanh văn minh và cái thực tế cơ sở vật chất không cho phép khiến việc phát triển hệ thống siêu thị đến khi có thể phục

vụ được đa phần nhu cầu tiêu dùng của người dân còn cần rất nhiều thời gian Một điểm khác là ý thức tiêu dùng của người dân cũng chưa cao Họ thường tiện đâu mua đấy Sự quan tâm của Nhà nước đối với kênh thương mại văn minh này còn rất ít: sự hỗ trợ đầu tư tiếp cận mặt bằng, hỗ trợ về chính sách

Đã có dự báo năm 2010, kênh phân phối hàng hóa qua siêu thị, trung tâm thương mại sẽ chiếm từ 30 – 40 % tổng mức lưu chuyển hàng hóa, đến năm

2015, sẽ chiếm 60 – 70 %.17Cùng sự xuất hiện của những siêu thị 100% vốn nước ngoài như Parkson (Malaysia), Diary Farm (Hồng Kông) , các siêu thị Việt Nam với những yếu kém cố hữu chắc chắn sẽ đánh mất thị phần của mình

3 Tình hình kinh doanh tại các siêu thị

Năm 2007, tổng mức bán lẻ hàng hóa của Việt Nam đạt 750 nghìn tỷ đồng với sức mua bình quân đạt 730.000 đồng/người/tháng, tương đương với

9 triệu đồng/năm Trong 3 – 4 năm trở lại đây, thị trường bán lẻ của Việt Nam tăng khoảng 20%/năm Ước tính, đến năm 2010, chi tiêu cho bán lẻ Việt Nam

15

“Thời của siêu thị”, 16/06/2008

16 Bộ Công Thương, Vụ chính sách thị trường trong nước

Trang 40

sẽ vượt mức 50 tỉ USD.18 Doanh thu tại các siêu thị hiện nay còn thấp Chỉ có một số siêu thị lớn tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đạt doanh số trên 200 triệu đồng mỗi ngày và cũng là mức doanh thu cần thiết để các siêu thị này không

lỗ Trung bình hàng ngày, mỗi siêu thị có khoảng 600 – 700 khách nhưng chỉ 1/3 trong số đó đi qua quầy thanh toán Nhiều siêu thị thời gian đầu khai trương đã thu hút nhiều người háo hức đến xem do hiếu kỳ, muốn khám phá cái mới và sau đó là mua sắm hàng hoá ở loại “chợ” văn minh này, nhưng rồi lượng khách đến cứ ít dần Đây là một thực tế đáng lo ngại cho hoạt động của các siêu thị hiện nay Về nguyên nhân thì có nhiều nhưng cơ bản có thể thấy

đó là do:

 Chưa có sự chuẩn bị chu đáo về nguồn hàng, chưa tiếp xúc trực tiếp với các nhà sản xuất để “mua tận ngọn” nhằm giảm bớt các khâu trung gian, xây dựng giá bán cạnh tranh

 Phần lớn các siêu thị đã lấy tầng lớp trung lưu làm đối tượng chính

mà chưa chú ý đúng mức với khách hàng bình dân (một lực lượng khách hàng tiềm năng lớn hơn rất nhiều so với tầng lớp trung lưu), từ đó ít chú ý tới các mặt hàng phổ thông, hàng thiết yếu hàng ngày

 Các nhà kinh doanh vẫn loay hoay về khai thác mà chưa coi trọng đến việc tái đầu tư để mở rộng phạm vi kinh doanh và nâng cao chất lượng phục vụ Điều này làm giảm dần sức hấp dẫn đối với khách hàng.19

4 Sự ra đời của Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR)

Sáng 05/10/2007, Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR) đã chính thức ra mắt, với số lượng thành viên ban đầu khoảng 130 các doanh nghiệp lớn nhỏ trong cả nước

AVR ra đời nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu liên kết giữa các nhà bán lẻ Việt Nam, qua đó tạo nên sức mạnh tập thể cho các nhà bán lẻ trong nước để

Ngày đăng: 26/05/2014, 12:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Melvin Morgenstein & Harriet Strongin (1987), “Modern Retailing – Management Principles and Practices” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern Retailing – Management Principles and Practices
Tác giả: Melvin Morgenstein, Harriet Strongin
Năm: 1987
4. “Quy chế siêu thị và trung tâm thương mại” ban hành kèm theo quyết định số 1371/2004/QĐ/BTM ngày 24/09/2004 của Bộ trưởng Bộ thương mại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế siêu thị và trung tâm thương mại
7. TS. Nguyễn Thị Nhiễu, Viện nghiên cứu thương mại, “ Những giải pháp phát triển hệ thống siêu thị Việt Nam tới năm 2010”http://www1.mot.gov.vn/traodoiykien/HoiThaoQuocGia/ChuDe2/NhungPTSieuThi.asp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Những giải pháp phát triển hệ thống siêu thị Việt Nam tới năm 2010”
8. ThS. Trần Thu Trang, “Tìm hiểu thói quen mua thực phẩm của người tiêu dùng tại các siêu thị Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo nghiên cứu khoa học của khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thói quen mua thực phẩm của người tiêu dùng tại các siêu thị Việt Nam
Tác giả: ThS. Trần Thu Trang
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo nghiên cứu khoa học của khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
Năm: 2007
9. TS. Nguyễn Thanh Bình, “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, đề tài nghiên cứu cấp Bộ 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”
10. Trần Thị Phương Ngọc, “ Xây dựng hệ thống siêu thị bán lẻ hiện đại ở Việt Nam”, LV.01547, Thư viện trường Đại học Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống siêu thị bán lẻ hiện đại ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Phương Ngọc
Nhà XB: Thư viện trường Đại học Ngoại Thương
11. Lê Thùy Oanh, “ Dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam – Cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO”, LV.01580, Thư viện trường Đại học Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ bán lẻ của các siêu thị Việt Nam – Cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO
Tác giả: Lê Thùy Oanh
Nhà XB: Thư viện trường Đại học Ngoại Thương
12. “Áp dụng Marketing vào việc đẩy mạnh hệ thống siêu thị của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, LV.02095, Thư viện trường Đại học Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Áp dụng Marketing vào việc đẩy mạnh hệ thống siêu thị của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”
13. Bích Thảo, “Thời của siêu thị”, 16/06/2008 http://www.sgtt.com.vn/detail5.aspx?newsid=35849&fld=HTMG/2008/0616/35849 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thời của siêu thị”
14. Lê Hường, “ Siêu thị Việt Nam đang cần nhạc trưởng”, 17/04/2008 http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=19&id=4a56a8948e1604&pageid=2754 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Siêu thị Việt Nam đang cần nhạc trưởng”
15. “ Định vị ngành bán lẻ Việt Nam”, 27/02/2008 http://www.nhadatsaigon.vn/khampha/(S(spucr045jopufxitec1cnsz1))/Dinh_vi_nghanh_ban_le_Viet_Nam.ashx Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Định vị ngành bán lẻ Việt Nam”
16. Ái Vân, “ Cả nước có gần 300 siêu thị”, 15/02/2008 http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=19&id=23f909608140d6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Cả nước có gần 300 siêu thị”
21. “Thị trường bán lẻ phải hắt nước lạnh vào mặt doanh nghiệp”, 03/10/2007http://www.moi.gov.vn/BForum/detail.asp?Cat=13&id=3007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thị trường bán lẻ phải hắt nước lạnh vào mặt doanh nghiệp”
22. “Siêu thị bán hàng kém chất lượng _ người tiêu dùng chịu thiệt", 31/08/2007http://vietbao.vn/Kinh-te/Sieu-thi-ban-hang-kem-chat-luong-Nguoi-tieu-dung-chiu-thiet/55161827/88/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Siêu thị bán hàng kém chất lượng _ người tiêu dùng chịu thiệt
Năm: 2007
23. Phạm Nguyễn, “ Siêu thị, những vấn đề bất cập”, 16/08/2007 http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/kinhtethitruong/kttrongnuoc/2007/8/5664.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Siêu thị, những vấn đề bất cập”
24. “ Quy hoạch siêu thị để hội nhập”, 14/08/2007 http://mfo.mquiz.net/News/?Function=NEF&tab=Chinh-sach-kinh-te&file=8852 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Quy hoạch siêu thị để hội nhập”
25. “ Ba điểm yếu lớn của hệ thống bán lẻ Việt Nam”, 21/06/2006 http://wap.vietbao.vn/Kinh-te/Ba-diem-yeu-lon-cua-he-thong-ban-le-Viet Nam/45198420/87/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Ba điểm yếu lớn của hệ thống bán lẻ Việt Nam”
26. Trần An, “Hệ thống phân phối Việt Nam trước ngưỡng cửa WTO – Liên kết để cùng tồn tại”, 15/06/2006http://www.vovnews.vn/?page=109&nid=15170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hệ thống phân phối Việt Nam trước ngưỡng cửa WTO – Liên kết để cùng tồn tại”
27. “ Giải pháp nào phát triển hệ thống siêu thị”, 27/03/2006 http://www.baothuongmai.com.vn/printarticle.aspx?Article_ID=19418 28. “ Siêu thị nội trước làn sóng của các đối thủ ngoại”, 07/05/2005 http://www.lantabrand.com/cat1news1189.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Giải pháp nào phát triển hệ thống siêu thị”, "27/03/2006 http://www.baothuongmai.com.vn/printarticle.aspx?Article_ID=19418 28. "“ Siêu thị nội trước làn sóng của các đối thủ ngoại”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Top 10 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới năm 2007  8 - Hệ thống siêu thị của việt nam trong bối cảnh hội nhập   thực trạng và các đề xuất phát triển
Bảng 1 Top 10 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới năm 2007 8 (Trang 33)
Bảng 3: Phân hạng siêu thị tới năm 2005 theo tiêu chuẩn phân hạng siêu - Hệ thống siêu thị của việt nam trong bối cảnh hội nhập   thực trạng và các đề xuất phát triển
Bảng 3 Phân hạng siêu thị tới năm 2005 theo tiêu chuẩn phân hạng siêu (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w