Các hiệp định chính trong WTO gồm: 1 Hiệp định GATT năm 1994 2 Hiệp định về nông nghiệp 3 Hiệp định về Hàng Dệt và May mặc kết thúc vào 1/1/2005 4 Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thươn
Trang 1T RƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Sinh viên thực hiện : Ngô Thị Xuân Diệu
Lớp : Anh 7
Khoá : 43
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thanh Minh
Hà Nội, 6/2008
Trang 2Môc lôc DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA TỔ CHỨC TMQT VÀ TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO 4
1.1 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA WTO 4
1.1.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN 4
1.1.1.1 KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ 4
1.1.1.2 TỰ DO THƯƠNG MẠI HƠN THÔNG QUA ĐÀM PHÁN 5
1.1.1.3 DỄ DỰ ĐOÁN THÔNG QUA RÀNG BUỘC CÁC CAM KẾT VÀ MINH BẠCH 5
1.1.1.4 THÚC ĐẨY CẠNH TRANH BÌNH ĐẲNG 6
1.1.2 CÁC HIỆP ĐỊNH CHÍNH CỦA WTO 7
1.1.2.1 HIỆP ĐỊNH GATT 7
1.1.2.2 HIỆP ĐỊNH GATS 10
1.1.2.3 HIỆP ĐỊNH TRIMS 12
1.1.2.4 HIỆP ĐỊNH TRIPS 13
1.1.3 CÁC QUI ĐỊNH CỦA WTO VỀ ĐỐI XỬ ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG VÀ KÉM PHÁT TRIỂN 15
1.1.3.1 NHÓM CÁC BIỆN PHÁP S&D ĐỂ TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CHO THƯƠNG MẠI CÁC NƯỚC ĐANG VÀ KÉM PHÁT TRIỂN 15
1.1.3.2 NHÓM CÁC QUI ĐỊNH S&D DÀNH CHO CÁC NƯỚC ĐANG VÀ KÉM PHÁT TRIỂN THỂ HIỆN Ở SỰ CHO PHÉP CÁC NƯỚC NÀY CÓ SỰ LINH HOẠT KHI CHẤP NHẬN CÁC NGHĨA VỤ THEO CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA WTO 17
Trang 31.1.3.3 NHÓM CÁC QUI ĐỊNH VỀ HỖ TRỢ KỸ THUẬT 18
1.2 TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO 19
1.2.1 GIAI ĐOẠN TRƯỚC 1975 19
1.2.2 GIAI ĐOẠN 1975-1985 22
1.2.3 GIAI ĐOẠN 1986- CUỐI NĂM 2006 24
1.3 CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO VỀ LĨNH VỰC NGOẠI THƯƠNG 28
1.3.1 QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM 28
1.3.2 CÁC CAM KẾT CHÍNH CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC NGOẠI THƯƠNG 30
1.3.2.1 CAM KẾT VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ 30
1.3.2.2 VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM SAU 1 NĂM GIA NHẬP WTO 34
2.1.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XNK VIỆT NAM 1 NĂM SAU GIA NHẬP WTO 34
2.1.1 HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 34
2.1.2 HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU 39
2.2 NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC SO VỚI TRƯỚC KHI GIA NHẬP WTO 41
2.2.1 VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ 41
2.2.2 VỀ THỊ TRƯỜNG XK 43
2.2.3 VỀ CƠ CẤU CÁC MẶT HÀNG XNK 44
2.3 MỘT SỐ HẠN CHẾ 45
2.3.1 HẠN CHẾ XÉT TRÊN PHƯƠNG DIỆN KINH TẾ VĨ MÔ 45
2.3.1.1 TÌNH HÌNH NHẬP SIÊU VẪN CÒN ĐÁNG LO NGẠI 45
2.3.1.2 HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC XTTM 47
2.3.1.3 CÒN NHIỀU CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CHƯA HỢP LÍ 49
2.3.2 HẠN CHẾ XÉT TRÊN GÓC ĐỘ KINH TẾ VI MÔ 51
Trang 42.3.2.1 SỨC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOẠI
THƯƠNG CÒN HẠN CHẾ 51
2.3.2.2 CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CÒN NHIỀU ĐIỀU ĐÁNG QUAN TÂM 52
2.3.2.3 CHƯA KHAI THÁC HẾT THỊ TRƯỜNG TIỀM NĂNG 53
2.3.2.4 CHƯA CHÚ TRỌNG VÀO XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU 54 2.4 NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG NĂM 2008 54
2.4.1 MỤC TIÊU ĐỀ RA TRONG NĂM 2008 54
2.4.2 CƠ HỘI 56
2.4.2.1 XU HƯỚNG GIÁ TĂNG CAO CỦA CÁC MẶT HÀNG XK 56
2.4.2.2 CƠ CẤU HÀNG CỦA VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI THỊ TRƯỜNG 57
2.4.2.3 NGUỒN NGUYÊN LIỆU ĐẦU VÀO GIÁ RẺ 57
2.4.2.4 THỊ TRƯỜNG KHÔNG NGỪNG ĐƯỢC MỞ RỘNG 58
2.4.3 THÁCH THỨC 59
2.4.3.1 CẠNH TRANH NGÀY CÀNG GAY GẮT, NGUY CƠ BỊ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ TĂNG LÊN 59
2.4.3.2 CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI PHI THUẾ NGÀY CÀNG TINH VI HƠN 60
2.4.3.3 NHẬP SIÊU VẪN TIẾP TỤC GIA TĂNG 61
2.4.3.4 NGUY CƠ DẪM CHÂN TẠI CHỖ 63
2.5 NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC MỘT NĂM SAU GIA NHẬP WTO 64
2.5.1 TÌNH HÌNH TRUNG QUỐC 1 NĂM SAU GIA NHẬP WTO 64
2.5.2 BÀI HỌC RÚT RA CHO NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 67
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 69
Trang 53.1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM 69
3.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 2001-2010) TẦM NHÌN 2020 70
3.2.1 CÁC LOẠI HÌNH CHIẾN LƯỢC NGOẠI THƯƠNG 70
3.2.1.1 CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU SẢN PHẨM THÔ 70
3.2.1.2 CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT THAY THẾ HÀNG NHẬP KHẨU 71
3.2.1.3 CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT HƯỚNG VỀ XK 73
3.2.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM THỜI KÌ 2001-2010, TẦM NHÌN 2020 74
3.2.2.1 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU 74
3.2.2.2 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NHẬP KHẨU 78
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 79
3.3.1 GIẢI PHÁP VỀ PHÍA NHÀ NƯỚC 79
3.3.1.1 ỔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ ĐI KÈM VỚI HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH, TÀI CHÍNH, TÍN DỤNG VÀ ĐẦU TƯ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG XNK 79
3.3.1.2 NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI ( XTTM) 82
3.3.1.3 CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG NGUY CƠ BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI HÀNG XK VIỆT NAM 85
3.3.1.4 ĐƯA RA NHỮNG CHÍNH SÁCH TẬP TRUNG PHÁT TRIỂN XK NHỮNG MẶT HÀNG VÀ DỊCH VỤ TRỌNG ĐIỂM 86
3.3.1.5 GIẢI PHÁP HẠN CHẾ NHẬP SIÊU 88
3.3.1.6 NHÀ NƯỚC VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 88
3.3.2 GIẢI PHÁP VỀ PHÍA DOANH NGHIỆP 89
Trang 63.3.2.1 TỔ CHỨC TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP 90
3.3.2.2 NÂNG CAO NĂNG LỰC THU NHẬN THÔNG TIN KTQT,
HIỂU BIẾT VỀ WTO 91
3.3.2.3 KHÔNG NGỪNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG 92
3.3.2.4 PHÁT HUY HƠN NỮA YẾU TỐ CON NGƯỜI 93
3.3.2.5 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM XK, TĂNG
CƯỜNG SẢN XUẤT CÁC MẶT HÀNG THAY THẾ NHẬP KHẨU
95
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACFTA ASEAN- China Free Trade Area)
Khu mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc
Khu mậu dịch tự do ASEAN
APEC Asia- pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế các nước Châu Á- Thái Bình Dương
ASEAN Association of Southest Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BTA Biligual Trade Agreement
Hiệp định Thương Mại song phương
CNH – HĐH Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa
FDI Foreign direct investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATT General Agreement on Tacrif and Trade
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
GATS General Agreement on Trade in Services
Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ
GDP Gross domestic product
Tổng sản phẩm quốc nội
GSP General systerm of Preferences
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
KNXNK Kim ngạch xuất nhập khẩu
MFN Most Favoured Nation
Nguyên tắc tối huệ quốc
Trang 8NT National Treatment
Nguyên tắc đối xử quốc gia
ICO International coffee Organisation
Hiệp Hội cà phê quốc tế
OPEC Organisation of Petroleum Exporting Countries
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa
QSHTT Quyền sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ
TRIMs Agreement on Trade related Investment Measures
Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến Thương mại
XTTM Xúc tiến thương mại
UNCTAD United Nation Conference on Trade and Development
Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Thương mại và phát triển
UNDP United Nations Development Programme
Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc
WTO World Trade Organisation
Tổ chức thương mại quốc tế
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Phần trăm các dòng thuế quan được cam kết trước và sau các cuộc
đàm phán từ 1986- 1994 8
Bảng 2: Thống kê XNK từ năm 1955-1975 21
Bảng 3: Kim ngạch XNK Việt Nam 1976-1985 23
Bảng 4: Kim ngạch XNK 1986- 2000 24
Bảng 5: Kim ngạch XNK 2002-2006 26
Bảng 6: Kim ngạch XK 1990-2007 36
Bảng 7: Kim ngạch các mặt hàng XK chủ lực năm 2007 37
Bảng 8: Cơ Cấu thị trường XK giai đoạn 2006-2010 75
Bảng 9: Kim ngạch các ngành 77
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập và phát triển hiện đang là mục tiêu chính của nền kinh tế
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tiếp tục mở rộng quan hệ KTĐN theo
hướng đa phương hoá, đa dạng hoá chủ động theo quá trình tự do hoá thương
mại theo lộ trình phù hợp với điều kiện của Việt Nam sẽ là đòn bẩy tất yếu
cho chiến lược CNH-HĐH và tăng trưởng kinh tế đất nước
Sau nhiều vòng đàm phán gay go và căng thẳng, ngày 7/11/2006 Việt
Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc
tế WTO Việc gia nhập WTO đã mở ra cho nền kinh tế VN những thời cơ to
lớn, giúp đất nước ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, rút
ngắn khoảng cách với các nước kinh tế phát triển
Chỉ sau 1 năm gia nhập WTO (2007-2008) Kinh tế Việt Nam đã gặt
hái được những kết quả đáng mừng Cũng như nhiều ngành kinh tế khác,
Ngoại thương sau một năm gia nhập WTO đã có những bước tiến dài, không
ngừng đi lên, trở thành một trong những ngành kinh tế chủ chốt góp phần
không nhỏ vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước Bên cạnh những
thành công bước đầu ấy, thực tế trong một năm qua đã cho thấy ngoại thương
nước ta trong thời kì đầu hội nhập vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, kìm hãm
sự “cất cánh” của nền kinh tế VN nói chung và ngành ngoại thương nói riêng
Vậy làm thế nào để chúng ta có thể hạn chế những bất cập này, đồng thời tận
dụng tối đa các lợi thế mà WTO mang lại để thúc đẩy ngành ngoại thương
VN? Xuất phát từ những trăn trở này, em quyết định chọn đề tài “ ngoại
thương VN- nhìn lại một năm sau gia nhập WTO và những giải pháp kiến
nghị trong thời gian tới” với mong muốn đưa ra cái nhìn tổng quan về ngoại
thương VN sau một năm gia nhập từ đó đưa ra một số kiến nghị về giải pháp
pháp triển trong thời gian tới
Trang 11Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của khoá luận là những nguyên tắc chung của tổ
chức thương mại quốc tế trong lĩnh vực ngoại thương, và tình hình ngoại
thương VN sau một năm gia nhập với những thành tựu đạt được, những mặt
hạn chế cần khắc phục và cơ hội thách thức trong tương lai Khoá luận cũng
cố gắng đưa ra một số kiến nghị để phát triển hoạt động ngoại thương Việt
Nam trong giai đoạn tới
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là ngành ngoại thương Việt Nam
sau 1 năm gia nhập WTO, (cuối năm 2006 - đầu năm 2008) Bên cạnh đó bài
khoá luận này còn hướng tới nghiên cứu những tác động của WTO tới tình
hình phát triển của ngoại thương Việt Nam, những chuyển biến của ngành
ngoại thương trước và sau khi gia nhập
Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng phương pháp thu thập tổng hợp so sánh đối chiếu
các nguồn tài liệu được sử dụng của cả trong nước, nước ngoài, trên mạng và
qua các khảo sát riêng của chính tác giả để phân tích đánh giá
Kết cấu khoá luận gồm 3 chương:
• Chương 1: Những nguyên tắc chung của TCTM thế giới và tình hình ngoại
thương Việt Nam khi gia nhập WTO
• Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động ngoại thương Việt Nam 1 năm
sau gia nhập WTO
• Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị phát triển hoạt đông ngoại thương
trong thời gian tới
Do trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên chắc chắn bài
khoá luận này không thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự
góp ý của các thầy cô và các bạn
Trang 12Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Thanh Minh,
người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em trong suốt quá trình làm bài khoá luận
này Em cũng gửi lời biết ơn sâu sắc đến tất cả tập thể giáo viên trong trường
ĐH Ngoại Thương, bố mẹ, bạn bè những người luôn ở bên động viên, giúp đỡ
em vượt qua mọi khó khăn khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA TỔ CHỨC TMQT VÀ
TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI
GIA NHẬP WTO
1.1 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA WTO
1.1.1 Nguyên tắc Cơ bản
1.1.1.1 Không phân biệt đối xử
Nguyên tắc tối huệ quốc MFN:
Theo các hiệp định của WTO, các quốc gia thành viên không thể đối xử
phân biệt giữa các đối tác thương mại của mình Khi cho một quốc gia hưởng
ưu đãi đặc biệt nào đó, thì nước đó cũng phải cho các thành viên khác trong
WTO được hưởng những ưu đãi giống như vậy Nguyên tắc này quan trọng
tới mức nó đựơc đưa vào Điều 1 Hiệp định GATT, điều 2 hiệp định GATs
MFN cũng là một ưu tiên của hiệp đinh TRIPS thể hiện trong điều 4 mặc dù
nguyên tắc này trong mỗi hiệp định có khác nhau đôi chút Tuy nhiên cũng có
vài trường hợp ngoại lệ Ví dụ như các nước có thể kí với nhau một hiệp định
thương mại tự do áp dụng cho hàng hoá mua bán trong nội bộ khối đó, tức là
có sự phân biệt đối xử với hàng hoá của các nước ngoài khối Hoặc là hàng
hoá các nước đang phát triển được hưởng những ưu đãi đặc biệt khi vào thị
trường các nước phát triển Nói chung, MFN có nghĩa là một khi đã hạ thấp
rào cản thương mại hay mở cửa thị trường thì quốc gia đó phải đối xử tương
tự đối với hàng hoá của tất cả các đối tác thương mại của mình, là thành viên
của WTO
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT)
Đối xử với nước ngoài và trong nước như nhau Hàng hoá nhập khẩu
và hàng hoá trong nước được đối xử như nhau, ít nhất là khi hàng hoà nước
Trang 14ngoài vào đến thị trường trong nước Sự đối xử bình đẳng cũng được áp dụng
tương tự với dịch vụ, thương hiệu, bản quyền và patent của nước ngoài và
trong nước Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia đựơc thể hiện trong cả 3 hiệp định
chính trong WTO, ở điều 3 của GATT, điều 17 của GATS, điều 3 của TRIPs
Nguyên tắc này chỉ được áp dụng khi hàng hoá dịch vụ hay một nội dung của
QSHTT đã vào thị trường trong nước, Vì thế đánh thuế nhập khẩu không vi
phạm nguyên tắc này mặc dù hàng hoá trong nước không phải chịu một loại
thuế tương tự
1.1.1.2 Tự do thương mại hơn thông qua đàm phán
Hạ thấp các rào cản thương mại là một trong những biện pháp thúc
đẩy thương mại rõ ràng nhất Các rào cản liên quan bao gồm thuế XNK (hay
thuế quan) và các biện pháp phi thuế quan như cấm NK, quota giấy tờ thủ tục
hành chính….Các vòng đàm phán ban đầu của GATT chỉ tập trung vào vấn
đề giảm thuế quan đánh vào hàng NK Kết quả của một loạt các các vòng đàm
phán là đến giữa những năm 1990, mức thuế quan đánh vào hàng công nghiệp
của các nước công nghiệp giảm mạnh chỉ còn dưới 4% [35, tr.11] Vào những
năm 1980, các vòng đàm phán đã mở rộng sang các rào cản hàng hoá phi thuế
và tất cả các lĩnh vực mới như dịch vụ và QSHTT Mở của thị trường cũng có
thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng nó cũng đòi hỏi phải có sự điều chỉnh Các
hiệp định của WTO cho phép các nước thayđổi từ từ, thông qua “quá trình tự
do hoá dần dần” (progressive liberalization) Các nước đang phát triển thường
có thời gian lâu hơn để thực hiện các nghĩa vụ của mình
1.1.1.3 Dễ dự đoán thông qua ràng buộc các cam kết và minh bạch
Đôi khi, cam kết không tăng một rào cản thương mại có thể quan
trọng như hạ thấp một rào cản thương mại, bởi vì cam kết đó giúp doanh
nghiệp có cái nhìn rõ ràng hơn về các cơ hội trong tương lai Nhờ ổn định và
có thể dự báo trước được, nhà nước có thể khuyến khích đầu tư, tạo công ăn
Trang 15việc làm và người tiêu dùng được hưởng nhiều lợi ích từ cạnh tranh Hệ thống
thương mại đa phương được hình thành là nỗ lực của các chính phủ tạo ra một
môi trường kinh doanh ổn định và dễ dự đoán
Trong WTO, khi các nước đồng ý mở của thị trường hàng hoá hoặc
dịch vụ là họ đã ràng buộc các cam kết của mình Đối với hàng hoá, các cam
kết này lên tới hầu hết các mức thuế quan Một nước có thể thay đổi các cam
kết của mình nhưng chỉ sau khi đã đàm phán với các đối tác thương mại của
mình, điều đó có thể có nghĩa là nước đó phải bồi thường cho các thiệt hại
thương mại của các nước kia Một trong những thành tựu của vòng đàm phán
Uruguay sau các cuộc đàm phán đa phương là tăng khối lượng thương mại
nhờ các cam kết
WTO cũng cố gắng tăng tính dễ dự đoán và độ ổn định bằng nhiều
cách khác Một trong những cách đó là không khuyến khích dùng quota và
các biện pháp hạn chế số lượng NK vì việc quản lí quota có thể dẫn tới quan
liêu hành chính và các cáo buộc về bất bình đẳng trong phân bổ quota Một
biện pháp khác là buộc qui tắc thương mại của các nước càng rõ ràng, càng
công khai càng tốt Nhiều hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ của các
nước phải công bố chính sách và thực tiễn của mình công khai trong nước
hoặc báo cho WTO Sự giám sát chính sách thương mại quốc gia thường
xuyên thông qua Cơ chế Rà soát Chính sách thương mại cũng mang tới thêm
một biện pháp khuyến khích minh bạch ở cả trong nước và ở cấp đa phương
1.1.1.4 Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng
WTO đôi khi được miêu tả là một tổ chức “ thương mại tự do”, nhưng
điều đó không đúng hoàn toàn Tổ chức này cho phép sử dụng thuế quan và
các hình thức bảo hộ khác trong một số trường hợp nhất định Chính xác hơn,
đó là một hệ thống các nguyên tắc để cạnh tranh rộng rãi bình đẳng và không
bị bóp méo
Trang 161.1.2 Các Hiệp định chính của WTO
WTO có 16 hiệp định chính và các qui định với tổng số tài liệu lên
đến hơn 3 vạn trang Các hiệp định chính trong WTO gồm:
1) Hiệp định GATT năm 1994
2) Hiệp định về nông nghiệp
3) Hiệp định về Hàng Dệt và May mặc (kết thúc vào 1/1/2005)
4) Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại( TBT)
5) Hiệp định TRIMS
6) Hiệp định thực thi điều VI của GATT 1994 (về chống bán phá giá)
7) Hiệp định thực thi điều VII của GATT 1994 (về xác định trị giá hải
quan)
8) Hiệp định về giám định hàng hoá trước khi xếp hàng
9) Hiệp định về qui tắc xuất xứ
16) Cơ chế rà soát Chính sách thương mại
Tuy nhiên do khuôn khổ có hạn nên khoá luận chỉ đề cập đến 4 hiệp định
cơ bản điều chỉnh các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu
tư và SHTT có liên quan tới thương mại
1.1.2.1 Hiệp định GATT
Trang 17WTO thừa nhận thuế quan là công cụ hợp pháp duy nhất để bảo hộ
các ngành sản xuất trong nước Các hàng rào bảo hộ phi thuế quan phải được
bãi bỏ Có như vậy, thuế quan mới mới trở thành biện pháp bảo hộ ít bóp méo
thương mại nhất và cũng là biện pháp minh bạch hơn cả Thuế quan phải
được áp dụng trên nguyên tắc MFN cho tất cả những thành viên của WTO
Khi một thành viên cam kết “ràng buộc” thuế suất đối với một dòng thuế,
thành viên đó không được nâng thuế nhập khẩu cao hơn mức ràng buộc đó
Đối với nông sản, các nước thành viên cam kết ràng buộc thuế quan đối với
toàn bộ các mặt hàng Trong lĩnh vực công nghiệp, các nước phát triển ràng
buộc thuế 99% số mặt hàng, các nước đang phát triển 73% và các nước có
nền kinh tế chuyển đổi 98%
Bảng 1: Phần trăm các dòng thuế quan được cam kết trước và sau các
cuộc đàm phán từ 1986- 1994 Đơn vị:%
Các nền kinh tế chuyển đổi 37 98
Nguồn:WTO, hiểu biết chung về WTO, tái bản lần 3, tháng 9/2003, NXB
Thống kê, tr 12)
Sau khi ràng buộc thuế, các nước phải không ngừng cam kết cắt giảm
thuế quan Ví dụ, tại vòng đàm phán Uruguay trong lĩnh vực nông nghiệp, các
nước phát triển cam kết cắt giảm trung bình 36% tính gộp với tất cả các dòng
thuế, cắt giảm tối thiểu 15% một dòng, tiến hành trong 6 năm kể từ 1/1995
trong lĩnh vực công nghiệp, tuy không phải ràng buộc toàn bộ các dòng thuế
nhưng xu hướng cắt giảm diễn ra mạnh mẽ “thuế quan theo ngành” và “hài
Trang 18hoà thuế quan” [3, tr.13] Thuế quan của tất cả các mặt hàng trong ngành cắt
giảm theo các hình thức này có mức thuế rất thấp (thậm chí bằng 0%) đối với
các sản phẩm CNTT, dược phẩm, một số một số sản phẩm kim loại, gỗ, bột
giấy…
Các biện pháp phi thuế quan như hạn chế số lượng phải tiến hành
“thuế hoá” (tức là chuyển thành một mức thuế quan có tác dụng tương
đương) Các nước chỉ có thể sử dụng các biện pháp phi thuế quan để hạn chế
nhập khẩu trong những trường hợp cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia, văn
hoá truyền thống, môi trường sức khoẻ con người…Trong nông nghiệp, người
ta còn sử dụng hạn ngạch thuế quan Mức thuế sau khi thuế hoá sẽ tiếp tục
được ràng buộc và cắt giảm hơn nữa thông qua đàm phán
Về trị giá tính thuế hải quan và các phụ thu tại cửa khẩu: WTO quy
định trị giá tính thuế hải quan là trị giá giao dịch (thường là giá trị hợp đồng),
nếu không áp dụng được trị giá giao dịch thì phải sử dụng những cách tính
khác nhưng không đựơc sử dụng giá tối thiểu để tính thuế; hải quan chỉ được
thu các khoản phí và lệ phí tương ứng với các khoản chi phí cần thiết cho việc
thông quan, WTO không cho phép thu các khoản phí và phụ thu vì các mục
đích bảo hộ hay thu ngân sách
Về thủ tục cấp phép nhập khẩu: WTO quy định cấp phép nhập khẩu
phải đơn giản, rõ ràng và dễ dự đoán Chính phủ phải công bố đầy đủ thông
tin cho các nhà kinh doanh biết giấy phép được cấp như thế nào và căn cứ để
cấp Khi đặt ra các thủ tục cấp phép nhập khẩu mới hay thay đổi các thủ tục
hiện tại, các thành viên phải thông báo theo những qui định cụ thể cho WTO
Các biện pháp bảo vệ tạm thời như thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng và
hành động tự vệ khẩn cấp được WTO cho phép sử dụng theo những qui định
nghiêm ngặt trong các trường hợp đặc biệt
Trang 19Các mặt hàng nhạy cảm như sản phẩm nông nghiệp và hàng dệt may
còn được điều chỉnh bởi những hiệp định riêng như Hiệp định về Nông
nghiệp và Hiệp định về hàng dệt và quần áo (ATC)
1.1.2.2 Hiệp định GATS
GATS là bộ quy tắc đa phương đầu tiên và duy nhất điều chỉnh
thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên GATS ngày càng được phát
triển trước tốc độ tăng trưởng như vũ bão của nền kinh tế dịch vụ và tiềm
năng thương mại dịch vụ ngày càng lớn do cuộc cách mạng thông tin mang
lại
GATS chia dịch vụ thành 155 phân ngành thuộc 12 ngành:
- Dịch vụ kinh doanh: gồm các dịch vụ chuyên môn như kế toán, kiểm
toán, kiến trúc, cơ khí và các dịch vụ kinh doanh khác (quảng cáo, nghiên cứu
thị trường, tư vấn, vi tính)
- Dịch vụ truyền thông: Gồm bưu chính viễn thông và các dịch vụ nghe
nhìn
- Xây dựng và các dịch vụ cơ khí kĩ thuật có liên quan
- Phân phối: Bán buôn, bán lẻ và nhượng quyền kinh doanh
- Các dịch vụ có liên quan đến y tế và dịch vụ xã hội
- Du lịch và các dịch vụ có liên quan tới đi lại
- Giáo dục
- Dịch vụ môi trường
- Dịch vụ tài chính: Gồm bảo hiểm, ngân hàng và các dịch vụ có liên
quan đến phát hành chứng khoán, ký nhận và quản lí tái sản
- Các dịch giải trí văn hoá thể thao
- Dịch vụ vận tải
- Các dịch vụ khác không nằm trong các ngành trên
Theo GATS các dịch vụ được cung cấp qua 4 phương thức:
Trang 20- Mode 1: Cung cấp qua biên giới nghĩa là dịch vụ được cung cấp từ
nước này qua nước khác, ví dụ như các cuộc gọi điện quốc tế
- Mode 2: Tiêu dùng ở nước ngoài nghĩa là người tiêu dùng sử dụng các
dịch vụ ở nước ngoài, như đi du lịch nước ngoài,
- Mode 3: Hiện diện thương mại nghĩa là một công ty thành lập công ty
con, chi nhánh hay liên doanh để cung cấp dịch vụ ở nước ngoài Hình thức
cung cấp dịch vụ này có liên quan tới hoạt động FDI
- Mode 4: Hiện diện của tự nhiên nhân nghĩa là các cá nhân di chuyển từ
nước nọ sang nước kia để cung cấp dịch vụ, ví dụ như những người mẫu thời
trang, ca sĩ đi lưu diễn nước ngoài hay các tư vấn viên
Tóm lại, GATS đã đưa ra các nghĩa vụ quan trọng chung như nguyên
tắc MFN, công khai, công nhận lẫn nhau, các qui tắc luật lệ độc quyền và
nhượng quyền kinh doanh trong cung cấp dịch vụ, đối xử quốc gia, mở của thị
trường và các luật lệ trong nước
Về mở cửa thị trường dịch vụ, GATS không xác định các nghĩa vụ chung cho
các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài quyền thâm nhập thị trường, nhưng các
thành viên nên đàm phán về mỗi một lĩnh vực dịch vụ và mỗi một phương
thức cung cấp dịch vụ Một số nước đã cam kết mở của thị trường trong
khung cam kết trước Các nước được phép hạn chế độ mở cửa thị trường tới
một mức nào đó thông qua các hạn chế về: số nhà cung cấp dịch vụ, tổng số
giao dịch và tổng lượng giao dịch, tổng số nhân viên làm trong một lĩnh vực
hoặc làm cho một nhà cung cấp dịch vụ, phần trăm cổ phần nước ngoài trong
tổng số cổ phần hoặc tổng số đầu tư nước ngoài
Một trong những qui tắc của GATS là tự do hoá từ tự do mức độ phát
triển khác nhau của các thành viên Các nước đang phát triển được phép mở
cửa thị trường hẹp hơn và ít tự do hơn trong các loại dịch vụ, họ cũng có thể
duy trì mức độ bảo hộ tổng thể và trong một số lĩnh vực ở mức cao hơn các
Trang 21nước phát triển, còn các nước phát triển phải tạo điều kiện thuận lợi cho các
nước đang phát triển tiếp cận thị trường của mình
1.1.2.3 Hiệp định TRIMs
Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bao gồm các qui định của
nước nhận đầu tư đối với đầu tư nước ngoài có tác động tới thương mại hàng
hoá Trong quá trình đàm phán tại vòng Uruguay các thành viên có nêu ra một
số biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại là:
Yêu cầu tỉ lệ nội địa hoá ( local content requirements): Qui định tỷ
lệ nguyên liệu mua tại nước nhận đầu tư được dùng làm đầu vào sản xuất
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Yêu cầu về xuất khẩu (Export performance Requirements): Qui
định nhà đầu tư phải XK một tỷ lệ sản phẩm nhất định
Yêu cầu cân bằng mậu dịch (Trade Balance requirements): qui
định lượng NK của nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá lượng XK
hoặc ở một tỷ lệ nào đó
Yêu cầu tiêu thụ nội địa (Domestic Sales requirements) Qui định tỷ
lệ sản phẩm được phép tiêu thụ trên thị trường nội địa
Hạn chế chuyển ngoại hối (Remittance Restrictions): bao hàm các
qui định chuyển lợi nhuận, tiền vốn, lãi cổ phần và các khoản tiền liên qua
khác ra nước ngoài
Hạn chế sản xuất (Manufacturing Limitation) Cấm nhà ĐTNN sản
xuất một sản phẩm nào đó
Yêu cầu về sản xuất (Manufacturing requirements): qui định một
số sản phẩm phải được sản xuất tại địa phương
Yêu cầu sản phẩm chỉ định (Product Mandating requirements): qui
định các nhà ĐTNN nhất thiết phải sản xuất sản phẩm chỉ định và XK đến các
thị trường nước ngoài qui định
Trang 22 Yêu cầu cấp giấy phép (Licensing Requirements): buộc các nhà
ĐTNN cấp giấy phép cho các công nghệ tương tự hay khác với các công nghệ
mà nhà đầu tư đó dùng trong nước họ đối với các hãng của nước nhận đầu tư
Yêu cầu chuyển giao công nghệ (Technology Trasfer
Requirements): qui định các công nghệ chỉ định cần được chuyển giao theo
các điều khoản phi thương mại và/ hoặc ở một mức độ cụ thể và một số hoạt
động R&D cần được tiến hành tại các nước nhận đầu tư
Yêu cầu tỷ lệ cổ phần trong nước (Local Equity Requirements): Qui
định số phần trăm cổ phần cuả một hãng phải do các nhà đầu tư trong nước
nắm giữ
Điều 2 Hiệp định TRIMs qui định không một nước thành viên nào
được áp dụng các biện pháp đối xử chống lại người nước ngoài và hàng hoá
nước ngoài, tức là không được vi phạm nguyên tắc NT (Điều 3 GATT 1994)
và không cho phép sử dụng các biện pháp đầu tư có thể dẫn tới hạn chế số
lượng (Điều 11 GATT 1994) Có 5 biện pháp đầu tư cụ thể bị cấm là : yêu
cầu tỉ lệ nội địa hoá, yêu cầu cân bằng mậu dịch, yêu cầu cân bằng mậu dịch
dẫn tới hạn chế NK, hạn chế giao dịch ngoại hối dẫn đến hạn chế NK, yêu cầu
tiêu thụ nội địa dẫn đến hạn chế XK Các nước thành viên phải thông báo cho
WTO và các nước thành viên khác tất cả các biện pháp đầu tư không tuân thủ
hiệp định Đến 2002 tất cả các thành viên phải hoàn thành nghĩa vụ xoá bỏ
toàn bộ các biện pháp không phù hợp với hiệp định TRIMs Tuy nhiên, do
gặp khó khăn trong việc xoá bỏ yêu cầu nội địa hoá, cân đối XNK, cân đối
ngoại tệ nên một số nước thành viên như Argentina, Chile, Mexico… đã xin
gia hạn áp dụng các biện pháp nói trên
1.1.2.4 Hiệp định TRIPs
Hiệp định TRIPs được đàm phán trong vòng Uruguay đã lần đầu tiên
đưa vào hệ thống thương mại thế giới các nguyên tắc về sở hữu trí tuệ Hiệp
Trang 23định TRIPs được xây dựng dựa trên các công ước quốc tế hiện hành có liên
quan đến QSHTT và đã đưa phần lớn các điều khoản của các công ước như:
Công ước Paris 1967 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ước Berne 1971 về
bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật, Công ước Rome 1961 về bảo hộ
người trình diễn, nhà sản xuất băng đĩa ghi âm và các tổ chức phát thanh
truyền hình… Hiệp định TRIPs đã đưa ra tiêu chuẩn tối thiểu để bảo hộ
QSHTT trong các lĩnh vực bản quyền và các quyền liên quan, thương hiệu
hàng hoá và dịch vụ, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế Hiệp
định cũng bao gồm các điều khoản về nguyên tắc và biện pháp nhằm thực
hiện QSHTT và về việc thành lập một cơ chế hiệp thương, giám sát cấp quốc
tế để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn của các thành viên ở cấp độ quốc gia
Các điều khoản của hiệp định TRIMs được chia thành 5 nhóm lớn đó là:
- Các nguyên tắc cơ bản và nghĩa vụ chung
- Những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, thời hạn bảo hộ và việc giám sát các
biện pháp chống cạnh tranh trong giấy phép hợp đồng
- Các biện pháp bảo đảm thực thi QSHTT
- Cơ chế giải quyết tranh chấp về SHTT giữa các thành viên
- Thoả thuận đặc biệt về thời kì chuyển đổi để thực hiện các qui định ở
cấp quốc gia
QSHTT (trừ thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, và thông tin không được tiết lộ)
được bảo hộ trong một thời gian nhất định Thời hạn bảo hộ có khác nhau
giữa các nước, còn hiệp định TRIPs đưa ra thời gian cụ thể là:
Văn bằng sáng chế: 20 năm kể từ ngày nhận hồ sơ đăng kí văn bằng
sáng chế
Bản quyền các tác phẩm không phải là điện ảnh tranh ảnh: 50 năm kể
từ ngày được phổ biến hoặc trong suốt thời gian tác giả sống cộng thêm 50 năm
Trang 24 Tác phẩm điện ảnh: 50 năm sau khi tác phẩm được phổ biến ra công
chúng hoặc từ khi tác phẩm đó ra đời
Tác phẩm tranh: 25 năm kể từ khi tác phẩm đó ra đời
Thương hiệu: 7 năm kể từ lần đăng kí đầu tiên và sau mỗi lần gia
hạn sau đăng kí
Người biểu diễn và sản xuất băng đĩa ghi âm: 50 năm kể từ khi kết
thúc năm mà băng đĩa được ghi hoặc khi chương trình biểu diễn được thực hiện
Kiểu dáng công nghiệp: ít nhất là 10 năm
Thiết kế bố trí mạch tổ hợp: 10 năm kể từ ngày đăng kí hoặc kể từ
ngày khai thác đầu tiên
Trong thời gian bảo hộ người nào muốn sử dụng phải được sự đồng ý
của chủ SHTT Sau thời gian bảo hộ, bất kì ai trong công chúng đều có thể
khai thác các tài sản trí tuệ mà không cần xin phép chủ SHTT nữa
1.1.3 Các qui định của WTO về đối xử đặc biệt đối với các nước đang và
kém phát triển
Các qui định của WTO về đối xử đặc biệt và khác biệt (Special and
Differential Treatment- S&D) dành cho các nước đang và kém phát triển
được chia thành 3 nhóm chính
1.1.3.1 Nhóm các biện pháp S&D để tạo điều kiện thuận lợi cho thương
mại các nước đang và kém phát triển
a) Các biện pháp ưu đãi đơn phương của các nước phát triển dành cho các
nước đang phát triển Các ưu đãi này gồm có:
Thứ nhất, hệ thống thuế ưu đãi phổ cập (GSP) Hệ thống GSP là biện
pháp đơn phương do các nước phát triển đưa ra để áp dụng riêng cho các
nước đang phát triển Hệ thống GSP qui định rằng, hàng hoá nhập từ các nước
Trang 25đang và kém phát triển sẽ được hưởng chế độ miễn thuế nhập khẩu ( thuế suất
bằng 0) hoặc hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi Hệ thống GSP sẽ được
áp dụng khi các nước khi các nước phát triển nhập khẩu các sản phẩm công
nghiệp và một số sản phẩm nông nghiệp từ các nước đang và kém phát
triển.Nếu được hưởng GSP, hàng hoá các nước này có khả năng cạnh tranh
khi thâm nhập vào thị trường các nước phát triển Tuy nhiên, vị hệ thống này
là các biện pháp có tính đơn phương do các nước phát triển đưa ra nên bị các
nước phát triển đưa ra một số điều kiện để hạn chế Ví dụ như, các nước phát
triển qui định hàng nhập khẩu phải theo một số lượng nhất định trong hạn
ngạch mới được hưởng GSP Các nước đang phát triển đã trở nên có khả năng
cạnh tranh hoặc đã chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn sẽ không được
hưởng GSP nữa Bên cạnh đó, một số nước phát triển cũng đã sử dụng hệ
thống GSP như một vũ khí chính trị để đối phó với các nước
Thứ hai, những đối ưu đãi hơn đối với các nước kém phát triển nhất
Qui định này của WTO được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng của WTO vào
năm 1997 với tên gọi là “ Những sáng kiến hội nhập dành cho sự phát triển
thương mại của những nước kém phát triển nhất Sáng kiến này cho phép tất
cả các loại hàng hoá của các nước kém phát triển nhất được nhập khẩu vào
các nước thành viên WTO trên cơ sở miễn thuế hoặc không bị giới hạn bởi
những qui định có tính hạn chế khác Hệ thống GSP sẽ phải dành cho các
nước kém phát triển nhất những ưu đãi cao hơn mức ưu đãi dành cho các
nước đang phát triển Những hạn chế như hạn ngạch hay tính cạnh tranh cao
hơn của một nước sẽ không áp dụng với những nước kém phát triển nhất
b) Các biện pháp ưu tiên trong đàm phán thương mại về cắt giảm và loại bỏ
thuế MFN
WTO cũng đưa ra các qui định kêu gọi các nước phát triển phải dành
ưu tiên cao hơn cho các nước đang và kém phát triển trong đàm phán thương
mại về cắt giảm thuế, thậm chí xoá bỏ thuế MFN đối với sản phẩm có tiềm
Trang 26năng xuất khẩu của các nước này, cùng như xoá bỏ các biện pháp phi thuế
quan cản trở về buôn bán các sản phẩm đó Các qui định này được nêu ra
trong phần IV điều XXXVII của Hiệp định GATT Phần VI của hiệp định
GATT cũng đưa ra các qui định khuyến khích các nước đang phát triển thực
hiện các biện pháp ưu tiên trong đàm phán về cắt giảm và loại bỏ thuế nói
trên đối với các sản phẩm nhập khẩu từ các nước đang phát triển khác
1.1.3.2 Nhóm các qui định S&D dành cho các nước đang và kém phát triển
thể hiện ở sự cho phép các nước này có sự linh hoạt khi chấp nhận các
nghĩa vụ theo các hiệp định của WTO
a) Cho phép sự linh hoạt trong việc chấp nhận các nghĩa vụ bắt buộc theo các
hiệp định của WTO
Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, điều XIX Hiệp định chung về
thương mại dịch vụ (GATS) đã cho phép các nước đang phát triển có những
linh hoạt nhất định để mở của ít ngành dịch vụ hơn hoặc tự do hoá ít loại hình
giao dịch hơn trong đàm phán thương mại Điều XIX cũng thừa nhận rằng,
khả năng mở cửa thị trường mà các nước đang phát triển đưa ra có thể phải
tuân theo những điều kiện nhằm mục đích đẩy mạnh khả năng của các ngành
dịch vụ trong nước và khả năng chuyển giao công nghệ thông qua thương
mại
Trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại (GATT) qui định rằng các cuộc đàm phán về cắt giảm thuế quan
và các rào cản thương mại khác phải được thực hiện trên cơ sở có đi có lại
Tuy nhiên, các nước đang và kém phát triển không cần thiết phải có sự đóng
góp vào các cuộc đàm phán thương mại ( dưới hình thức cắt giảm thuế và
ràng buộc thuế) nếu những đóng góp như vậy không phù hợp với nhu cầu tài
chính, phát triển và thương mại của họ Những qui tắc trong phần VI của
GATT còn qui định rằng, những đóng góp mà các nước đang và kém phát
Trang 27triển cần phải thực hiện phải phù hợp với giai đoạn phát triển của họ Do vậy
trong vòng đàm phán Uruguay, các nước đang phát triển đã giảm thuế thấp
hơn mức mà các thành viên phát triển áp dụng Ngoài ra, phần VI này cũng
đưa ra các qui định kêu gọi giảm thuế chung trên cả biểu thuế trên cơ sở phần
trăm sẽ không áp dụng với các nước đang và kém phát triển Điều này có
nghĩa là nguyên tắc có đi có lại sẽ không áp dụng với các nước đang và kém
phát triển
b) Cho phép được hưởng một thời gian quá độ để tạo điều kiện cho các nước
đang và kém phát triển chuẩn bị
Hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan (ACV) cho phép các
nước đang và kém phát triển có thể hoãn áp dụng Hiệp định này trong 5 năm
(nghĩa là chỉ phải áp dụng hiệp định này kể từ 01/01/2000) Ngoài ra nếu hết
thời hạn năm năm này, các nước đang và kém phát triển có thể yêu cầu thêm
3 năm quá độ nữa đối với nghĩa vụ phải áp dụng phương pháp tính toán như
hiệp định này yêu cầu
Hiệp định TRIPs qui định các nước đang phát triển chỉ phải thực thi
nghĩa vụ điều chỉnh pháp luật của nước mình cho phù hợp với các qui định
của hiệp định TRIPs từ 01/01/2000, còn các nước kém phát triển nhất sẽ áp
dụng kể từ 01/01/2006 Trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế về các sản phẩm công
nghệ, các nước đang phát triển được hưởng một thời gian kéo dài cho đến
ngày 01/01/2005 Riêng đối với dược phẩm, việc thực thi các qui định của
Hiệp định TRIPs về bảo hộ sáng chế sẽ được kéo dài đến ngày 01/01/2016
[25]
1.1.3.3 Nhóm các qui định về hỗ trợ kỹ thuật
WTO cũng đưa ra các qui định kêu gọi các thành viên phát triển phải
cố gắng cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang và kém phát triển nhằm
giúp họ hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế và nâng cao năng lực thực thi
Trang 28các nghĩa vụ, các cam kết của họ trong các hiệp định của WTO Thực hiện
các qui định trên, Ban thư kí WTO thường xuyên tổ chức các chương trình
đào tạo và tập huấn cho các cán bộ đàm phán của các nước đang phát triển để
giúp họ làm quen với hệ thống WTO và nâng cao kỹ năng đàm phán Ban thư
ký WTO cũng đã phối hợp với Chính phủ các nước và tổ chức khác như
UNDP, UNCTAD… trong việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang
và kém phát triển Đặc biệt, để có thể trợ giúp kĩ thuật cho các nước đang và
kém phát triển trong việc tham gia vào quá trình tranh tụng tại cơ quan giải
quyết tranh chấp của WTO, WTO đã thành lập trung tâm Tư vấn Luật Trung
tâm này có mục tiêu là đem lại cơ hội cho các nước đang và kém phát triển sử
dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO thông qua việc cung cấp các
dịch vụ tư vấn, đào tạo và hướng dẫn nắm bắt và vận dụng các qui định của
WTO Các nước kém phát triển sẽ được miễn phí trong một số giờ tư vấn nhất
định, còn đối với các nước đang phát triển sẽ được hưởng mức phí giảm hơn
1.2 TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI GIA NHẬP
WTO
1.2.1 Giai đoạn trước 1975
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ đã thi hành chính sách bao vây
thương mại đối với các nước XHCN bằng đạo luật “an ninh chung”, Mĩ buộc
các nước Tây Âu thực hiện chính sách phân biệt đối xử trong quan hệ ngoại
thương với các nước XHCN Trong bối cảnh như vậy, hoạt động buôn bán
của Việt Nam với các nước bên ngoài chủ yếu nhằm vào các nước trong phe
XHCN
Sau khi hoà bình lập lại, ngoại thương Việt Nam có một bước chuyển
rất cơ bản, Miền Bắc phải thực hiện hai nhiệm vụ: khôi phục và phát triển
kinh tế chi viện cho Miền Nam Ngoại thương thời kì này là hậu cần cho sản
xuất đời sống chién đấu Các hoạt động XK diễn ra không nhiều, các hoạt
Trang 29động ngoại thương chủ yếu là NK Trong các hoạt động nhập khẩu, việc dùng
ngoại tệ của nhà nước trao đổi buôn bán hàng hoá rất ít NK thực chất là sự
tiếp nhận viện trợ của các nước bên ngoài
Về đặc điểm chung, Ngoại thương Việt Nam giai đoạn này có 4 nét
cơ bản Thứ nhất, Nhà nước độc quyền trong các hoạt động ngoại thương
Trước năm 1957, nhà nước đã dần dần hạn chế vai trò của tư nhân trong các
hoạt động ngoại thương và đi tới xoá bỏ hoàn toàn ngoại thương của tư nhân
vào năm 1960 Kể từ năm 1960 mọi hoạt động ngoại thương đều do nhà nước
độc quyền Trong điều lệ quản lí ngoại thương số 512 của TTg- CP ra ngày
16/4/1955 điều 1 có qui định “Tự do nội thương, quản lí ngoại thương, bảo hộ
thương nghiệp chính đáng dựa trên cơ sở bình đẳng hai bên cùng có lợi mà
phát triển buôn bán giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà và các nước trên
thế giới” Để thực hiện triệt để đường lối này nhà nước đã tiến hành một loạt
các hoạt động cải tạo công thương nghiệp Trong vòng 5 năm sau, Nhà nước
đã nắm toàn bộ các hoạt động ngoại thương Nếu như trong năm 1955 ngoại
thương quốc doanh chiếm 77% tư doanh chiếm 23% thì cho đến năm 1960
quốc doanh đã chiếm 100% [3, tr.8] Thứ 2 Cơ chế XNK chủ yếu là vay nợ và
viện trợ Các hoạt động ngoại thương được thực hiện thông qua 3 hình thức
là: Hiệp định , nghị định thư, trao đổi công hàm và qui ước
Trong vòng 20 năm, Miền Bắc thường xuyên nhập siêu vì XK không
đủ thanh toán cho các khoản nhập khẩu Cán cân thanh toán XNK ngày càng
mất cân đối nghiêm trọng Đặc điểm thứ 3, nhà nước bao cấp cho các hoạt
động ngoại thương Việc “bao cấp” này được thực hiện trên cái gọi là “bù
chênh lệch ngoại thương” Cơ chế bù chênh lệch ngoại thương là cơ chế đặc
trưng cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung nhằm điều tiết các quan hệ kinh
tế Một trong những luận điểm kinh tế học XHCN thời kì đó là không thừa
nhận giá trị thị trường, càng không thừa nhận giá trên thị trường TBCN Giá
Trang 30hàng XNK phải được qui định căn cứ trên nhu cầu và lợi ích của nền kinh tế
quốc dân
Về cơ cấu tổ chức của ngành ngoại thương, ngày 2/4/1958 trong kỳ
họp khoá 8 quốc hội đã qui định chia Bộ Thương Nghiệp thành 2 bộ là Bộ
Ngoại thương và Bộ Nội thương
Sơ đồ bộ máy Bộ Ngoại Thương
Trang 31Lúc này đất nước đã thống nhất, Bắc Nam sum họp chúng ta có điều
kiện và khả năng khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nước( đất đai, rừng
biển, khí hậu, tài nguyên ) để đẩy mạnh XK, phát triển du lịch các dịch vụ
ngoại tệ, phát triển ngoại thương mở rộng hợp tác kinh tế khoa học kỹ thuật
với nước ngoài, thu hút vốn và kĩ thuật nước ngoài Nhưng bên cạnh những
thuận lợi mới, chúng ta cũng đứng trước những khó khăn gay gắt bắt nguồn từ
trình độ phát triển kinh tế của cả nước còn thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, kinh tế
hàng hoá chưa phát triển, chưa có tích luỹ trong nội bộ nền kinh tế, phụ thuộc
nặng nề vào bên ngoài Mặt khác, chiến tranh triền miên đã kéo nền kinh tế
nước nhà tụt hậu lại nhiều năm so với các nước khác đồng thời cũng gây ra
những vết thương xã hội phải rất lâu mới có thể hàn gắn được Trước tình
hình đó, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần IV (1976) đã nhấn mạnh tính
tất yếu khách quan và tầm quan trọng của hoạt động Kinh tế đối ngoại, đặc
điểm là ngoại thương đối với nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ đi lên
Trang 32CNXH Công tác XNK vì vậy là một bộ phận rất quan trọng trong toàn bộ
hoạt động kinh tế nước ta [10] Phù hợp với xu hướng đó năm 1977 nước ta
gia nhập Ngân hàng đầu tư quốc tế và ngân hàng Hợp tác quốc tế thuộc hội
đồng tương trợ kinh tế Cùng với chủ trương đó, ngành ngoại thương đã vượt
qua khó khăn để tiếp tục phát triển Dưới đây là kết quả hoạt động XNK giai
đoạn 1976-1985
Kim ngạch XK trong giai đoạn này tăng dần qua các năm Tỷ lệ tăng
trưởng bình quân 10 năm (1976-1985) của XK tăng cao hơn tỷ lệ tăng của
tổng kim ngạch buôn bán 2 chiều của ngoại thương Tuy vậy cán cân thương
mại quốc tế luôn nhập siêu và nhập siêu có xu hướng gia tăng Trong giai
đoạn này, cơ chế quản lí tập trung bao cấp đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt
động ngoại thương, đặc biệt là XK và phát triển hàng XK Nhằm khắc phục
tình trạng trì trệ của nền kinh tế, Hội nghị ban chấp hành TƯ Đảng lần 6
(khoá IV) đã đề ra một số biện pháp cải biến cơ chế quản lí hoạt động ngoại
thương, đặc biệt là quản lí XK Tuy nhiên độc quyền ngoại thương vẫn là
nguyên tắc chỉ đạo mọi hoạt động ngoại thương trong giai đoạn này (xem
Trang 33Nguồn Niên giám thống kê- sách giáo trình KTNT trang 193
1.2.3 Giai đoạn 1986- cuối năm 2006
Công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế được Đảng Cộng Sản Việt
Nam khởi xướng từ Hội Nghị TW Đảng lần 6 (khoá IV) họp 12/1986 Từ đó
đến nay, đất nước ta thực sự có những biến đổi sâu sắc Hoạt động ngoại
thương có những bước tiến vượt bậc Nhờ thực hiện những chính sách mở
cửa, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ KTĐN đến nay Việt Nam đã tham
gia kí kết các hiệp định thương mại song và đa phương, góp phần không nhỏ
nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngoại thương
Giai đoạn 1986-2000
Bảng 4: Kim ngạch XNK 1986- 2000 Đơn vị triệu USD
Trị Giá NK/XK(%)
Trang 34Nguồn: niên giám thống kê 1995-2000, NXB thống kê HN 2000
Nhìn chung trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng XK luôn cao hơn
so với tốc độ tăng trưởng của GDP và của tổng KN XNK và kim ngạch NK
Trong giai đoạn này, kim ngạch XK tăng 18 lần, trong khi đó kim ngạch
XNK và kim ngạch NK chỉ tăng tương ứng là 10 lần và 7 lần Về cán cân
thương mại, tình trạng nhập siêu vẫn vẫn kéo dài trong giai đoạn này với đỉnh
điểm là năm 1996, sau đó giảm dần ở các năm tiếp theo
b Giai đoạn 2001-2006
Trang 35Đây là giai đoạn 5 năm đầu thực hiện chiến lược phát triển XK của
Việt Nam thời kì 2001-2010 Có thể nói đây là giai đoạn chứng kiến nhiều
biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội trên qui mô toàn thế giới Đối với
ngành ngoại thương nước ta, giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng kim ngạch
XNK trung bình đạt 17.48%/năm đã thể hiện những nỗ lực và quyết tâm lớn
của Chính Phủ, các bộ ngành và các doanh nghiệp Việt Nam
Bảng 5: Kim ngạch XNK 2002-2005
Đơn vị:triệu USD
Nguồn: Bộ Thương Mại, Niên giám thống kê 1995-1999 NXB Thống kê HN
200, báo cáo thường niên của bộ thương mại
Nhìn chung trong giai đoạn này ngoại thương Việt Nam đã đạt được
những thành tựu to lớn
* Qui mô và tốc độ tăng trưởng của XK đã được mở rộng, và tăng
trưởng ở mức cao Hầu hết các mục tiêu được đặt ra cho 5 năm đầu đều được
hoàn thiện, một số mặt hàng còn vượt ở mức độ cao
* Cơ cấu hàng hoá XK đã chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỉ
trọng nhóm hàng chế biến, chế tại những mặt hàng có công nghệ và chất xám
cao, giảm dần XK hàng thô; nhiều mặt hàng xuất đã mở rộng qui mô sản xuất
Trang 36gia tăng giá trị hàng xuất khẩu như dệt may, giày dép, nông sản….Nhiều mặt
hàng mới có tốc độ tăng trưởng cao đang đã và sẽ là những hạt nhân quan
trọng trong cơ cấu XK hàng hoá của Việt Nam trong những năm tới như sản
phẩm dầu thô, điện tử và linh kện máy tinh, sản phẩm nhựa…
* Công tác hoạt động Xúc tiến thương mại và phát triển thị trường XK
đạt được nhiều thành tựu quan trọng vừa mở ra những thị trường mới vừa
thâm nhập khai thác tốt hơn những thị trường đang có Giai đoạn 2001-2005
Việt Nam đã mở rộng thêm 20 thị trường mới, kí kết các hiệp định cụ thể
* Công tác huy động các nguồn đầu tư và vốn đặc biệt là vốn đầu tư trực
tiếp vào Việt Nam đã tạo ra nguồn lực vật chất đáng kể góp phần quan trọng
làm tăng qui mô SX- XK hàng hoá của Việt Nam Tuy vậy, bên cạnh những
thành tựu đạt được thì giai đoạn này ngoại thương Việt Nam vẫn tồn tại
những hạn chế như sau:
* Qui mô XK vẫn còn nhỏ bé, kim ngạch bình quân XK trên đầu người
vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới
* NK tuy đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản của nền kinh tế nhưng thị trường
vốn vẫn tập trung chủ yếu từ Châu á Nhập siêu vẫn còn cao và kéo dài
* XK tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc và rất dễ bị tổn thương
bởi các cú sốc từ bên ngoài như sự biến đổi giá cả trên thị trường thế giới hay
sự xuất hiện các rào cản TM mới của các nước
* Cơ cấu mặt hàng XK chưa hợp lí, thể hiện trên cả 3 phương diện Thứ
nhất, chủng loại hàng còn đơn điệu, chậm xuất hiện các mặt hàng mới có
đóng góp đáng kể cho kim ngạch XK.Thứ 2, các mặt hàng XK có giá trị gia
tăng còn thấp Thứ 3, Quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng XK theo hướng
CNH diễn ra chậm và chưa có giải pháp cụ thể và triệt để
* Khả năng nắm bắt chủ động những cơ hội thuận lợi để khai thác và
thâm nhập thị trường XK còn nhiều hạn chế, chưa tận dụng được lợi ích từ
các hiệp định TM song và đa phương, giữa các nước và khu vực với VN để
Trang 37khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Trung Quốc, EU, Hoa
Kì…
* Năng lực cạnh tranh còn yếu kém ở cả 3 cấp độ (nền kinh tế, doanh
nghiệp và mặt hàng) Trong đó hạn chế từ phía doanh nghiệp chuyển biến khá
chậm, đại bộ phận có qui mô nhỏ bé, yếu về năng lực, kém về kiến thức và
kinh doang TMQT, phần lớn doanh nghiệp không có chiến lược ngoại thương
lâu dài, mức độ thụ động cao
* Công tác quản lí của các mạng lưới đại diện, đặc biệt thương mại ở
nước ngoài còn yếu kém, chưa thực sự hỗ trợ tốt cho hoạt động XK, các
chương trình xúc tiến ngoại thương diễn ra nhỏ lẻ, rời rạc hiệu quả chưa cao
* Công tác xúc tiến và thông tin TM dự báo thị trường nói chung chưa
đáp ứng được đòi hỏi của công tác quản lí nhà nước và hỗ trợ doanh nghiệp
ngoại thương Công tác phổ biến hướng dẫn các doanh nghiệp và địa phương
chuẩn bị thực hiện các cam kết mở cửa thị trường còn nhiều hạn chế, khả
năng khai thác những cơ hội thị trường còn hạn chế, thiếu tính chủ động
Nhìn chung, ngoại thương Việt Nam sau những biến cố thăng trầm của
lịch sử đã tiến những bước dài, phát triển vượt bậc Vào thời điểm năm 2006,
ngành ngoại thương với những thế mạnh vượt trội và quá trình chuẩn bị lâu
dài đã sẵn sàng cho việc gia nhập tổ chức TMQT, WTO
1.3 CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO VỀ LĨNH
VỰC NGOẠI THƯƠNG
1.3.1 Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam
Gia nhập WTO là một trong những cơ hội to lớn cho nền kinh tế Việt
Nam Năm 1993, Việt Nam trở thành quan sát viên của TCTMTG [14, tr.59]
Tháng 8-1996 Việt Nam cung cấp cho WTO Bị vong lục về chế độ ngoại
thương của Việt Nam Tháng 7/1998, Việt Nam tiến hành phiên họp đa
phương đầu tiên với Ban công tác về minh bạch hoá các chính sách kinh tế
Trang 38thương mại Tháng 12/1998 họp đa phương lần thứ hai, tháng 7/1999 họp đa
phương lần thứ ba và tháng 11/2000 họp phiên đa phương lần thứ tư Bốn
phiên này tập trung vào trả lời các câu hỏi các thành viên của Ban công tác về
minh bạch hoá chính sách kinh tế thương mại Đoàn đàm phán của Chính phủ
Việt Nam đã phải trả lời 1700 câu hỏi [14, tr.59] Kết thúc phiên họp, Ban
công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản kết thúc quá trình minh
bạch hoá chính sách và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường
Sau khi cung cấp bản chào đầu tiên về hàng hoá và dịch vụ, chúng ta
đã tiến hành phiên đa phương thứ năm (4-2002), là phiên đầu tiên đàm phán
mở cửa thị trường Chúng ta phải cung cấp cho Ban thư kí WTO một loạt các
tài liệu như bản tóm hiện trạng về chính sách thương kinh tế thương mại
(F/S); thông báo về chính sách hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu nông
nghiệp (ACC4); thông báo về chính sách hỗ trợ công nghiệp; thông báo về
hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, bảy chương trình hành động thực
hiện Hiệp định về sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIMS), thực
hiện Hiệp định về xác định trị giá hải quan (CVA), thực hiện Hiệp định về
kiểm dịch động thực vật (SPS), thực hiện hiệp định về hàng rào kĩ thuật liên
quan thương mại (TBT), thực hiện hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập
khẩu (IL), thực hiện chính sách giá (lộ trình bãi bỏ chính sách 2 giá - dual
prices); chương trình xây dựng pháp luật; lộ trình cắt giảm hàng rào phi thuế
quan Cùng với đàm phán đa phương trong quá trình gia nhập WTO chúng ta
cũng đã tiến hành đàm phán song phương với hơn 10 nước và vùng lãnh thổ
thành viên của WTO Cuộc đàm phán của chúng ta diễn ra trong điều kiện thế
giới có nhiều thay đổi phức tạp và khó lường Vòng đàm phán Doha mới đã
được phát động và theo lịch trình sẽ kết thúc vào năm 2005 Đây là sức ép rất
lớn với Việt Nam, trong khi nền kinh tế của chúng ta vẫn đang trong tình
trạng kém phát triển, doanh nghiệp nhỏ chiếm đa số, sức cạnh tranh còn thấp
Hai mốc quan trọng trong đàm phán song phương của Việt Nam đó là:
Trang 3910/2004 kết thúc đàm phán với EU đối tác lớn nhất, 5/2004 kết thúc đàm phán
với Hoa Kì, đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán, 26/10/2006
kết thúc phiên đàm phán song phương cuối cùng, Ban công tác chính thức thông
qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam Tổng cộng đã có 14 phiên họp
đa phương kể từ tháng 7/1998 đến tháng 10/2006 Ngày 7/11/2006 WTO triệu
tập phiên họp đặc biệt của Đại Hội Đồng tại Geneva, chính thức kết nạp Việt
Nam vào WTO
1.3.2 Các cam kết chính của Việt Nam trong lĩnh vực Ngoại thương
1.3.2.1 Cam kết về thương mại hàng hoá
Đối với hầu hết các sản phẩm nông nghiệp và phi nông nghiệp, Việt
Nam cam kết ràng buộc về cắt giảm thuế từ 0-35% Thời gian cắt giảm thuế
sẽ kéo dài đến năm 2014, tuỳ thuộc vào từng mặt hàng.[18, tr.5]
Về dệt may, các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch
dệt may đối với Việt Nam khi vào WTO, riêng trường hợp Việt Nam vi phạm
qui định của WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có
thể có những biện pháp trả đũa nhất định Ngoài ra các thành viên của WTO
cũng không được áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may của Việt Nam
Về trợ cấp phi nông nghiệp, Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ
cấp bị cấm theo qui định của WTO như trợ cấp XK, trợ cấp nội địa hoá Tuy
nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho hàng XK đã cấp trước ngày gia nhập
WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm, trừ ngành dệt may
Về trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp
XK đối với hàng nông sản từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên, Việt Nam bảo
lưu quyền được hưởng một số qui định riêng của WTO dành cho các nước
đang phát triển trong lĩnh vực này
Về quyền kinh doanh, bao gồm cả quyền XNK hàng hoá, tuân thủ qui
định của WTO, Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài
Trang 40được quyền XNK hàng hoá như người Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ các
mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu,
xì gà, băng hình đĩa, và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà Việt Nam chỉ cho
phép sau một thời gian chuyển đổi như: gạo, dược phẩm Việt Nam đồng ý
cho các cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng kí
quyền XNK tại Việt Nam Quyến XK chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải
quan để làm thủ tục XNK Trong mọi trường hợp cá nhân và doanh nghiệp
nước ngoài không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước
Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng tới quyền của Việt
Nam trong việc đưa ra các qui định dịch vụ phân phối, đặc biệt là với các sản
phẩm nhạy cảm
Về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia các thành viên WTO đồng
ý cho Việt Nam thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chỉnh thuế này
cho phù hợp với qui định của WTO
Về phía doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp thương mại nhà
nước, cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này là Nhà nước sẽ không can
thiệp trực tiếp hay gían tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, nhà
nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của
doanh nghiệp cũng như các cổ đông khác.Việt Nam cũng đồng ý cách hiểu
mua sắm của doanh nghiệp nhà nước không phải là mua sắm chính phủ
Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu,Việt Nam đồng ý cho nhập
khẩu xe máy phân khối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007 Với thuốc lá
điếu, xì gà, Việt Nam đồng ý cho bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời điểm
gia nhập Tuy nhiên sẽ chỉ có một doanh nghiệp nhà nước được quyền nhập
Mức thuế nhập khẩu mà Việt Nam đàm phán được cho hai mặt hàng này là rất
cao Với ôtô cũ, Việt Nam cho nhập khẩu các loại xe đã qua sử dụng không
quá 5 năm