1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việt nam

116 2,5K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Áp Dụng Thương Mại Điện Tử Trong Hoạt Động Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp Việt Nam
Tác giả Nguyễn Như Quỳnh
Người hướng dẫn ThS. Hồ Thúy Ngọc
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, hơn lúc nào hết, các doanh nghiệp nước ta cần nhận thức rõ vai trò của thương mại điện tử đối với hoạt động kinh doan

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾVÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

Nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện tử trong

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Như Quỳnh

Khoá : K 43

Giáo viên hướng dẫn :ThS Hồ Thúy Ngọc

Hà Nội, tháng 05/2008

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 4

CHƯƠNG I 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 7

I TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 7

1.1 KHÁI NIỆM THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 7

1.2 CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 15

1.3 CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 16

1.4 VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 18

II RỦI RO THƯỜNG GẶP TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 19

2.1 NHÓM RỦI RO CÓ NGUỒN GỐC TỪ BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP 20

2.1.1 RỦI RO KHÔNG MANG TÍNH KỸ THUẬT 20

2.1.2 RỦI RO MANG TÍNH KỸ THUẬT 22

2.2 RỦI RO TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CÓ NGUỒN GỐC TỪ BÊN TRONG DOANH NGHIỆP 27

2.2.1 RỦI RO KHÔNG MANG TÍNH KỸ THUẬT 27

2.2.2 RỦI RO MANG TÍNH KỸ THUẬT 28

III TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI 29

3.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH TMĐT TRÊN THẾ GIỚI 29

3.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN TMĐT TRÊN THẾ GIỚI 30

IV CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP 31

4.1 TỶ TRỌNG ĐẦU TƯ CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN TỔNG CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG HÀNG NĂM 32

Trang 3

4.2 TỶ TRỌNG CỦA DOANH THU TỪ CÁC ĐƠN ĐẶT HÀNG SỬ

DỤNG PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ TRONG TỔNG DOANH THU 33

4.3 XU HƯỚNG CỦA CÁC DOANH THU TỪ CÁC ĐƠN ĐẶT HÀNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ 33

4.4 TÁC ĐỘNG CỦA ỨNG DỤNG TMĐT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 34

4.5 TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI VIỆC TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG TMĐT TRONG DOANH NGHIỆP 34

CHƯƠNG II 36

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 36

I SỰ CẦN THIẾT CỦA TMĐT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 36

II THỰC TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 38

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 38

2.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 40

2.3 CƠ SỞ HẠ TẦNG VIỄN THÔNG VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 45 2.4 CƠ SỞ NGUỒN NHÂN LỰC CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 47

2.5 CƠ SỞ HẠ TẦNG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ 48

2.6 CƠ SỞ BẢO MẬT THÔNG TIN 51

2.7 CƠ SỞ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 53

III ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 55

3.1 CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 56

3.1.1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG MÁY TÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 56

Trang 4

3.1.2 TÌNH HÌNH KẾT NỐI INTERNET TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 583.1.3 XÂY DỰNG WEBSITE 613.1.4 THAM GIA SÀN GIAO DỊCH TMĐT 66

3.2 NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TMĐT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 67 3.3 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUA PHƯƠNG THỨC TMĐT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 70

3.3.1 VỀ LOẠI HÌNH SẢN PHẨM 703.3.2 VỀ PHƯƠNG THỨC GIAO DỊCH 74

IV ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TMĐT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 80

4.1 ĐÁNH GIÁ VỀ TỶ TRỌNG ĐẦU TƯ CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN

TỬ TRÊN TỔNG CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG HÀNG NĂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 80 4.3 ĐÁNH GIÁ VỀ XU HƯỚNG CỦA CÁC DOANH THU TỪ CÁC ĐƠN ĐẶT HÀNG SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ 85 4.4 ĐÁNH GIÁ VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TMĐT ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 86 4.5 ĐÁNH GIÁ VỀ TRỞ NGẠI CHO ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 87

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 89

I QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TMĐT CỦA VIỆT NAM 89

1.1 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TMĐT CỦA VIỆT NAM 89 1.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TMĐT CỦA VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN 2010 91

Trang 5

II GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG TMĐT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 93

2.1 GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC 93 2.2 GIẢI PHÁP TỪ PHÍA DOANH NGHIỆP 99

2.2.1 GIẢI PHÁP CẢI THIỆN VÀ NÂNG CAO CƠ CẤU ĐẦU TƯ CNTT VÀ TMĐT TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1002.2.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO TMĐT CỦA DOANH NGHIỆP 1032.2.3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CHIẾN LƯỢC ỨNG DỤNG TMĐT TẠI DOANH NGHIỆP 1042.2.4 GIẢI PHÁP TÍCH CỰC THAM GIA CÁC SÀN GIAO DỊCH TMĐT 1052.2.5 GIẢI PHÁP TUÂN THỦ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ TÍCH CỰC THAM GIA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI VỀ TMĐT 106

KẾT LUẬN 108

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những tiến bộ to lớn về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin trong những thập niên cuối của thế kỷ XX đã tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển kinh tế – xã hội toàn cầu Trên nền tảng đó, một phương thức thương mại mới đã ra đời và phát triển nhanh chóng, đó là thương mại điện tử (TMĐT)

Thương mại điện tử là một công cụ hiện đại sử dụng mạng Internet giúp cho doanh nghiệp có thể tìm kiếm, thâm nhập thị trường thế giới, thu thập thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và chính xác hơn Sự xuất hiện và bùng nổ của thương mại điện tử đã làm khoảng cách địa lý giữa các quốc gia gần gũi hơn và tạo ra hướng phát triển mới, mở đường cho thương mại quốc tế Hình thức thương mại này đã mang lại cho xã hội, doanh nghiệp và các cá nhân một công cụ mới, tiện lợi, dễ dàng và hiệu quả hơn

Có thể nói, thương mại điện tử đã thổi một làn gió mới vào cách thức tiến hành kinh doanh truyền thống Việc kinh doanh thương mại điện tử thay thế phương thức truyền thống đang dần trở nên phổ biến Các doanh nghiệp Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó Đây là một cơ hội thuận lợi

để các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường Ứng dụng thương mại điện tử giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả phân phối – bán hàng, giúp khách hàng và doanh nghiệp tiện lợi hơn trong việc trao đổi thông tin, đặc biệt khi đối tác là các doanh nghiệp nước ngoài

Trước bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hơn lúc nào hết, các doanh nghiệp nước ta cần nhận thức rõ vai trò của thương mại điện tử đối với hoạt động kinh doanh của đơn vị mình, phải thay đổi hay phát triển phương thức kinh doanh làm sao phù hợp và theo kịp

Trang 7

các nước tiên tiến trên thế giới Nếu thờ ơ, bàng quan và không chịu tiến bộ, doanh nghiệp đó đã tự loại mình ra khỏi cuộc chơi toàn cầu

Xuất phát từ những ý nghĩa thực tiễn trên, sau thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội, em đã chọn đề tài:

“Nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của

mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

 Nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu liên quan đến cơ sở lý luận của

thương mại điện tử và hiệu quả áp dụng thương mại điện tử

 Nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích và đánh giá về thực trạng áp dụng

thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam căn cứ vào các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả áp dụng thương mại điện tử

 Căn cứ vào tình hình ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

 Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan tới thương mại điện tử

và hiệu quả áp dụng thương mại điện tử

 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả áp dụng

thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

 Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu về thương mại điện tử

và các vấn đề liên quan đến thương mại điện tử

 Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh và đánh giá thực trạng áp

dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

Trang 8

5 Nội dung nghiên cứu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu khóa luận được chia thành ba chương:

 Chương I: Cơ sở lý luận về thương mại điện tử và hiệu quả áp dụng

thương mại điện tử

 Chương II: Thực trạng áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động

kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam

 Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện

tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1 Khái niệm Thương mại điện tử

Là một lĩnh vực mới, tên gọi và các định nghĩa của Thương mại điện tử

có nhiều và nội dung cũng không hoàn toàn thống nhất Trong nhiều văn bản khác nhau, chúng ta có thể gặp những từ như “Thương mại trực tuyến” (Online trade), “Thương mại khiển học” (Cyber trade), “Kinh doanh điện tử” (Electronic business), “Thương mại không giấy tờ” (paperless commerce),… Các từ vựng này được sử dụng nhiều rồi được đưa vào văn bản pháp luật quốc

tế Nhiều khi với các tên gọi khác nhau, người ta vẫn dùng và hiểu theo cùng một nội dung Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về TMĐT

Thương mại điện tử (TMĐT) là khái niệm do tập đoàn IBM khởi xướng năm 1997 thông qua một chiến dịch quảng cáo Theo IBM, TMĐT là những gì diễn ra khi kết nối khả năng rộng lớn của mạng Internet với các hệ thống công nghệ thông tin truyền thống Theo đó, phạm vi của TMĐT sẽ bao gồm mạng cục bộ, mạng ngoại bộ và mạng Internet1 Cách định nghĩa này chủ yếu nhấn mạnh đến phương tiện kỹ thuật của TMĐT và không nhìn TMĐT dưới góc độ kinh tế

1

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Chiến dịch thương mại điện tử của IBM được gọi là e-commerce Sản phẩm mà IBM cung cấp là Net.Commerce, một phần mềm ứng dụng cho doanh nghiệp B2B (doanh nghiệp tới doanh nghiệp) và B2C (doanh nghiệp tới người dùng) Giá khởi đầu của Net.Commerce là 4,999 USD dành cho các doanh nghiệp hoặc chủ kinh doanh muốn thiết lập cửa hàng trực tuyến Net.Commerce là một phần mềm mà trên đó các giải pháp về thương mại điện tử của IBM được thực hiện

Trang 10

Khó có thể đưa ra được một khái niệm thống nhất, rõ ràng và hoàn chỉnh về thương mại điện tử Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát thì các định nghĩa về TMĐT được chia thành hai nhóm quan điểm:

- Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp:

Theo nghĩa hẹp, TMĐT chỉ đơn thuần bó hẹp trong việc mua bán hàng hoá và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng viễn thông khác

Theo cách hiểu này, TMĐT thường được đồng nhất với khái niệm TMĐT qua Internet (hay còn gọi là thương mại Internet – Internet commerce) Đó là việc tiến hành hoạt động thương mại thông qua mạng Internet hay việc bán và mua sản phẩm dịch vụ thông qua các cửa hàng trực tuyến Với nghĩa này, TMĐT còn gọi là Thương mại trực tuyến (online trade) hay thương mại điều khiển học (cybertrade)

Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán

và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình,

cả các sản phầm giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”

Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC), “Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”

- Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng:

Theo nghĩa rộng, TMĐT là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đến tổ chức, công ty hay cá nhân Đó là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu, chuyển tiền điện tử và các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng

Trang 11

Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: “Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần Internet ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bội quá trình giao dịch”

Thuật ngữ “thương mại” (commerce) cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính thương mại (commercial) bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất

cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”

Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong TMĐT

Theo Uỷ ban châu Âu: “Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử

lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh”

“Thương mại” (commerce) trong “thương mại điện tử” không chỉ là buôn bán hàng hóa và dịch vụ theo cách hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, trong đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế

Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc đã đánh giá rằng nhìn chung các định nghĩa nêu trên đều vẫn mang đặc tính mô tả và không thể hiện được đầy đủ bản chất

Trang 12

của TMĐT Những cố gắng xây dựng một chuẩn thích hợp để tạo điều kiện cho công tác nghiên cứu và thông kê của các tổ chức quốc tế lại làm xuất hiện một lượng không nhỏ các định nghĩa không thống nhất, thậm chí nhiều trường hợp trái ngược Như vậy, nhằm góp phần giúp các nước nhất là các nước đang phát triển nhận thức đầy đủ về TMĐT trên mọi khía cạnh để xây dựng cho mình chiến lược thành công trong lĩnh vực này, Liên Hiệp Quốc đã đưa ra định nghĩa về TMĐT xét trên hai khía cạnh:

 Khía cạnh thứ nhất (còn gọi là định nghĩa theo chiều ngang): phản

ánh các bước của TMĐT hay cụ thể hơn là cách định nghĩa theo chu trình kinh doanh “TMĐT là việc thực hiện toàn bộ chu trình kinh doanh bao gồm marketing (M), bán hàng (S), phân phối (D) và thanh toán (P) thông qua các phương tiện điện tử”

 Khía cạnh thứ hai (còn gọi là định nghĩa theo chiều dọc): phản ánh

TMĐT dưới góc độ Nhà nước Cách định nghĩa này nhấn mạnh tới vai trò hoạt động của các Nhà nước, các tổ chức và các doanh nghiệp có liên quan và được mô hình hóa bằng mô hình IMBSA

Mô hình IMBSA đề cập tới các lĩnh vực cần xây dựng để phát triển TMĐT bao gồm:

I (Infrastructure): Cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin và truyền thông

cho sự phát triển TMĐT

Theo Báo cáo Thương mại Điện tử của Vụ Thương mại, số người dùng Internet năm 2007 tăng 26,3% so với năm 2006, đạt 18,5 triệu người, chiếm 22,0% dân số Tỷ lệ người dùng Internet đã vượt mức trung bình của thế giới (19,1%) Đặc biệt, số lượng các thuê bao băng thông rộng tăng nhanh trong hai năm 2006 – 2007 Tổng số thuê bao vào cuối năm 2007 đạt gần 1,3 triệu, gấp 6 lần so với thời điểm tháng 12/2005 (0,21 triệu thuê bao) Xu hướng hội

tụ công nghệ giữa dịch vụ viễn thông, truyền thông và Internet cũng đang góp

Trang 13

dịch vụ Internet thì không thể phát triển thương mại điện tử được Chính vì vậy, UNCTAD đã đưa ra lĩnh vực đầu tiên cần phát triển chính là Cơ sở hạ tầng Công nghệ thông tin và truyền thông, tạo lớp vỏ đầu tiên cho TMĐT

M (Messages): Các vấn đề liên quan đến Thông điệp dữ liệu

Thông điệp chính là tất cả các loại thông tin được truyền tải qua mạng, qua Internet trong thương mại điện tử Ví dụ như Hợp đồng điện tử, các chào hàng, hỏi hàng qua mạng, các chứng từ thanh toán điện tử,…đều được coi là thông điệp, chính xác hơn là “thông điệp dữ liệu” Tại các nước cũng như ở Việt Nam, những thông điệp dữ liệu khi được sử dụng trong các giao dịch TMĐT đều được thừa nhận giá trị pháp lý Điều này được thể hiện trong các Luật mẫu của Liên Hợp Quốc về giao dịch điện tử hay Luật TMĐT của các nước, cũng như trong Luật Giao dịch điện tử của Việt Nam

B (Basic Rules): Các quy tắc cơ bản điều chỉnh chung về TMĐT Đó

chính là các luật điều chỉnh những lĩnh vực liên quan đến TMĐT trong một nước hoặc khu vực và quốc tế

Chẳng hạn như ở Việt Nam hiện nay có Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ Thông tin Đối với khu vực có Hiệp định khung về TMĐT của các khu vực như EU, ASEAN,… Hiệp định về Công nghệ thông tin của WTO, về Bảo hộ sở hữu trí tuệ, và việc thừa nhận giá trị pháp lý khi giao dịch xuyên

“biên giới quốc gia”

S (Sectoral Rules/Specific Rules): Các quy tắc riêng, điều chỉnh từng

lĩnh vực chuyên sâu của TMĐT, như: Chứng thực điện tử, chữ ký điện tử, Ngân hàng điện tử (thanh toán điện tử) Thể hiện dưới khía cạnh pháp luật ở Việt Nam có thể là các Nghị định chi tiết về từng lĩnh vực Hay các tập quan thương mại quốc tế mới như Quy tắc về xuất trình chứng từ điện tử trong thanh toán quốc tế (e – UCP), hay quy tắc sử dụng vận đơn điện tử (của Bolero)

Trang 14

A (Applications): Các ứng dụng TMĐT, hay các mô hình kinh doanh

thương mại điện tử cần được điều chỉnh, cũng như đầu tư, khuyến khích để phát triển Khi các nền tảng I, B, M và S đã đạt được thì việc ứng dụng TMĐT và xây dựng chiến lược phù hợp sẽ mang lại thành công

Ví dụ như: Các mô hình Cổng TMĐT quốc gia (ECVN.gov), các sàn giao dịch TMĐT B2B (như Vnemart.com) cũng như các mô hình B2C (golmart.com.vn, Amazon.com), C2C (đấu giá Ebay.com), hay các website của các công ty xuất nhập khẩu… đều được coi chung là các ứng dụng TMĐT

Như vậy, định nghĩa TMĐT theo chiều dọc đưa ra danh sách các nền tảng cần thiết cho việc xây dựng và phát triển TMĐT đối với một quốc gia Các chính phủ có thể lựa chọn và xác định một môi trường thích hợp cho sự phát triển TMĐT tại quốc gia mình Đồng thời các tổ chức kinh tế cũng thấy được những công việc cần làm để phát triển TMĐT trên quy mô toàn cầu như việc xây dựng các tiêu chuẩn, quy định, quy tắc cũng như các hướng dẫn…

Từ hai định nghĩa trình bày ở trên, có thể rút ra hai nhận xét về TMĐT Thứ nhất, TMĐT bao gồm toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh của các chính phủ, các tổ chức, các công ty và cá nhân được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Thứ hai, TMĐT phải được xây dựng trên một nền tảng vững chắc về cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ sở hạ tầng về kinh tế, công nghệ, pháp lý và nguồn nhân lực)

Do đó, định nghĩa chung nhất về TMĐT theo cách nhìn của Liên Hiệp Quốc có thể được trình bày như sau: “ TMĐT bao gồm toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh được thực hiện qua các phương tiện điện tử dựa trên nền tảng vững chắc về cơ sở hạ tầng kinh tế, công nghệ, pháp lý và nguồn nhân lực có liên quan”

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy được TMĐT mang một

số đặc trưng sau:

Trang 15

 TMĐT là một hình thái hoạt động thương mại phát triển từ thương mại truyền thống TMĐT cũng thực hiện nhiều bước giao dịch giống như thương mại truyền thống nhưng cũng có nhiều khác biệt TMĐT tạo cho các bước giao dịch nhanh hơn, rẻ hơn, phong phú hơn và thuận tiện hơn Việc gửi

và nhận tài liệu theo kiểu truyền thống trên giấy phức tạp, mất nhiều thời gian

và chi phí, trong khi đó, việc tạo, gửi và nhận tài liệu trên cơ sở dữ liệu máy tính rất thuận tiện, nhanh chóng và ít tốn kém hơn So với hoạt động thương mại truyền thống, TMĐT có một số điểm khác biệt cơ bản sau:

 Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước

Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ trực tiếp để tiến hành giao dịch Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyễn tắc vật lý như chuyển tiền, séc, hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo Các phương tiện viễn thông như fax, telex, chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để truyền tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch

TMĐT cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp nơi đều

có cơ hội nganh nhau tham gia vào thị trường toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau

Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tài của khải niệm biên giới quốc gia, còn TMĐT được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu) TMĐT trực tiếp tác động đến môi trường cạnh tranh toàn cầu

TMĐT càng phát triển thì máy tính cá nhân càng trở thành cửa sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới Với TMĐT, một doanh nhânh dù mới thành lập đã có thể kinh doanh ở Mỹ, Nhật Bản, Đức,… mà không hề phải bước ra khỏi nhà, một công việc trước kia phải mất nhiều năm

Trang 16

 Trong mọi hoạt động giao dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất

ba chủ thể

Trong TMĐT, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… Họ là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT

Đối với thương mại truyền thống, mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với TMĐT, mạng lưới thông tin chính là thị trường

 Thông qua TMĐT, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành

Ví dụ: Những dịch vụ gia tăng trên mạng máy tính hình thành nên các nhà trung gian ảo làm các dịch vụ môi giới kinh doanh và tiêu dùng; các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy tính

Các trang web khá nổi tiếng như Yahoo!, America Online hay Google đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin trên mạng Các trang web đã trở thành các “khu chợ” khổng lồ trên Internet Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có thể truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ

lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng là rất cao Người tiêu dùng đã bắt đầu mua một số loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng Nhiều người sẵn sàng trả thêm một chút tiền còn hơn là phải đi tới tận cửa hàng Một số công ty đã mời khách may đo quần áo trên mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua Internet) rồi sau một thời gian nhất định nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu của mình Điều tưởng như không thể thực hiện được này cũng cũng có rất nhiều người hưởng ứng

Trang 17

Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông tin lên web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên web bằng cách mở cửa hàng ảo Cửa hàng hay gian trưng bày hàng hóa trong thương mại truyền thống được thay thế bằng các webpage giới thiệu sản phẩm hay các e-catalogue trên Internet Các giấy tờ thủ tục trong thương mại truyền thống (đơn chào hàng, đặt hàng, báo giá, hóa đơn, biên lai, biên bản giao nhận hàng hóa…) được thay thế bằng các hình thức khác như thư điện tử, dữ liệu điện tử…

1.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Thương mại Điện tử

Để thành công trong kinh doanh điện tử, yêu cầu hàng đầu chính là phải có một hạ tầng công nghệ thông tin ở mức độ phát triển nhất định, bao gồm:

Trang 18

(PDAs)…thì công nghệ cho kinh doanh trực tuyến cũng phải thích nghi với những phương thức tiếp cận này

Đảm bảo tính quy mô của công nghệ tức là đảm bảo khả năng xử lý khối lượng công việc ngày càng tăng Thực tế chứng minh rằng, với sự phát triển hàng ngày của công nghệ thông tin, để tăng tính quy mô thì công nghệ cũng phải thường xuyên nâng cấp, và chi phí cho việc nâng cấp liên tục này là không hề nhỏ

Tính an toàn tin cậy của hạ tầng công nghệ không thể đạt được nếu chỉ

có những ứng dụng mật mã thông thường Để bảo mật thông tin, các doanh nghiệp cần áp dụng những chứng chỉ số an toàn (như chữ ký điện tử) và có các chính sách quản lý thông tin cụ thể

1.3 Các vấn đề pháp lý của Thương mại Điện tử

Tại mỗi nước, TMĐT chỉ có thể tiến hành khi tính pháp lý của nó được thừa nhận (biểu hiện cụ thể bằng sự thừa nhận pháp lý giá trị của các giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, chữ ký số hóa, các thanh toán điện tử, các dữ liệu

có xuất xứ từ các cơ quan nhà nước, sở hữu trí tuệ hàm chứa trong thông tin trên Web, bí mật đời tư và bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin chống tội phạm xâm nhập), có các cơ quan xác thực chứng nhận chữ ký điện tử,… Trên bình diện quốc tế, vấn đề môi trường pháp lý còn nhiều phức tạp hơn nữa, vì nhiều giao dịch TMĐT được thực hiện trên quy mô toàn cầu nên đòi hỏi phải

có sự hài hòa giữa các hệ thống pháp luật vốn được xây dựng trên nền tảng các hệ thống chính trị khác nhau Những văn bản pháp luật về TMĐT của các quốc gia cũng cần có sự thống nhất cơ bản để hoạt động kinh doanh TMĐT được đơn giản và hiệu quả Tuy nhiên bộ luật cũng như những văn bản quy định về hoạt động TMĐT hiện hành của các nước vẫn còn nhiều sự khác biệt

dễ dẫn đến xung đột pháp lý

Một vấn đề khó khăn nữa, đó là việc đánh thuế các dung liệu, tức là các

Trang 19

phần mềm…) được giao trực tiếp giữa các đối tác thông qua mạng Vấn đề thu thuế sẽ càng phức tạp hơn trong trường hợp thanh toán vô danh (anonimous payment) bằng thẻ thông minh Kiểm toán các công ty mua bán bằng phương thức TMĐT cũng đang là vấn đề nan giải đối với quản lý Nhà nước

Ngoài ra, TMĐT còn đòi hỏi mọi doanh nghiệp cũng như các sản phẩm đều được mã hóa thống nhất, nói cách khác đòi hỏi phải có một môi trường kinh tế đã tiêu chuẩn hóa ở mức cao Tin học hóa hệ thống thanh toán tài chính đi liền với việc mã hóa toàn bộ hàng hóa, hay “đánh số sản phẩm” (product numbering) là vấn đề không chỉ có tính quốc gia, mà có tính quốc tế, trên cơ sở của các chuẩn và định chế EAN – International và Uniform Code Council, thể hiện dưới dạnh các vạch, mã số, gọi là mã số vạch (bar – code); theo đó, tất cả các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đều được mã hóa bằng một

số 13 con số và các công ty đề có địa chỉ của mình bằng một mã có từ 100 đến 100000 con số Việc thiết lập toàn bộ hệ thống mã sản phẩm và mã công

ty (gọi chung là mã hóa thương mại: commercial coding) cho một nền kinh tế

là một vấn đề không đơn giản, nhất là đối với các nước đang phát triển

TMĐT xuất hiện đặt ra hàng loạt vấn đề cần phải quan tâm và giải quyết thích đáng Môi trường kinh doanh trong TMĐT là một môi trường hoàn toàn mới, môi trường kinh doanh ảo Vì vậy, muốn ứng dụng TMĐT, cần phải có một cơ sở pháp lý định sẵn để điều chỉnh các mối quan hệ giao dịch thương mại diễn ra trên mạng Nhà nước sẽ phải cùng một lúc đóng 2 vai trò: một là người cung cấp các dịch vụ điện tử và hai là người xây dựng hệ thống pháp lý hoàn chỉnh, thống nhất và cụ thể Chỉ cần thiếu một trong số những quy định cụ thể cho hoạt động TMĐT, các doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng sẽ gặp phải những tranh chấp, các cơ quan chức năng cũng không có cơ sở để kiểm soát các hoạt động Hơn nữa, TMĐT là một lĩnh vực vẫn còn đang mới mẻ, cần phải có một cơ sở pháp lý hoàn chỉnh để củng cố

Trang 20

niềm tin của các chủ thể tham gia Cơ sở pháp lý này phải bao gồm các đạo luật về TMĐT, về sở hữu trí tuệ, về bảo vệ người tiêu dùng và an ninh chính trị, vv…

Luật về TMĐT phải là một đạo luật thừa nhận tính pháp lý của các chứng từ và chữ ký điện tử, điều chỉnh các giao dịch kinh tế và hành chính thông qua con đường điện tử, những vấn đề về thanh toán, bảo mật thông tin… Tuy nhiên, do các quan hệ trong TMĐT vượt qua biên giới quốc gia nên luật về TMĐT của mỗi nước phải phù hợp với các công ước, điều ước quốc tế hay các thỏa thuận liên quan đến TMĐT trong các tổ chức đa phương như Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Hiệp hội các nước Đông Nam á ASEAN, Diễn đàn Kinh tế châu á - Thái Bình Dương APEC…

Luật sở hữu trí tuệ cũng phải được xây dựng và hoạt động nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của những người chủ thông tin, bởi lẽ trong TMĐT, các thông tin được truyền đi một cách tự do trên Internet Đối với các doanh nghiệp, khi kinh doanh trực tuyến, các sản phẩm và dịch vụ có thể dễ dàng bị sao chép hoặc ăn cắp trên con đường truyền đi Một khi các vấn đề về bằng sáng chế, quyền tác giả, đăng ký thương hiệu…đã được thống nhất trong luật

sở hữu trí tuệ thì TMĐT chắc chắn sẽ phát triển lành mạnh

Ngoài những luật cơ bản, để TMĐT có thể được áp dụng thì luật bảo vệ người tiêu dùng là không thể thiếu Các giao dịch mua bán trong TMĐT diễn

ra chủ yếu trên Internet, nghĩa là trong một thế giới ảo, rất khó kiểm soát Có nhiều trường hợp người tiêu dùng không nhận được đúng hàng theo đơn đặt hàng, cả về số lượng và chất lượng, thậm chí họ bị lừa bởi những thông tin do các tổ chức phi pháp cung cấp, những thông tin các nhân của khách hàng có thể bị đánh cắp… Một đạo luật bảo vệ người tiêu dùng khi có hiệu lực sẽ tạo

ra những tác động tâm lý tích cực, thúc đẩy người tiêu dùng điện tử tham gia nhiều hơn vào loại hình thương mại này

Trang 21

Thương mại Điện tử sẽ phát triển những cơ hội mới, cả trong thị trường thương mại giữa các doanh nghiệp (B2B) và giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C) TMĐT cũng cho phép các công ty có khả năng bán hàng trên phạm vi quốc tế, loại bỏ một cách hiệu quả những giới hạn về thời gian, địa điểm và về căn bản sẽ tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Những cơ hội này có ý nghĩa hơn đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong vấn đề tăng năng suất và khả năng tiếp cận thị trường, đối tác kinh doanh trong phạm vi thế giới Nó cho phép các doanh nghiệp hạn chế tối đa những rủi ro trong pha bắt đầu của sản phẩm

và dịch vụ mới (vì những phản hồi thu được từ thị trường nhanh hơn trước kia) và tiềm năng vươn ra thị trường toàn cầu sẽ lớn hơn

Thương mại Điện tử sẽ cung cấp thêm cơ hội để các doanh nghiệp có thêm khách hàng, thâm nhập thêm vào những thị trường sản phẩm mới và hợp

lý hóa hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp có thể sử dụng TMĐT để tạo

ra sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu của khách hàng, quản lý tốt hơn tiến trình cung cấp hàng và tồn kho, và giảm thời gian giữa đặt hàng và giao

hàng

II RỦI RO THƯỜNG GẶP TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Bên cạnh những lợi ích to lớn mà thương mại điện tử mang lại, chúng

ta cũng không thể phủ nhận những rủi ro tiềm ẩn mà các doanh nghiệp khó tránh khỏi trong quá trình kinh doanh Hiểu một cách chung nhất, rủi ro trong TMĐT là những sự cố, tai họa xảy ra một cách bất ngờ nằm ngoại tầm kiểm soát của con người hoặc những mối đe dọa nguy hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất cho chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại điện tử Rủi ro TMĐT rất

đa dạng và luôn có chiều hướng biến đổi cùng với sự phát triển của ngành công nghệ thông tin Do vậy, việc nhận thức được các loại rủi ro và những tác hại của chúng là điều hết sức cần thiết Dựa vào nguồn gốc phát sinh của chúng, ta có thể phân ra làm hai nhóm: Nhóm có nguồn gốc từ bên ngoài

Trang 22

doanh nghiệp và nhóm của nguồn gốc từ bên trong doanh nghiệp Trong mỗi nhóm rủi ro đó lại được phân chia làm hai nhóm nhỏ là rủi ro mang tính kỹ thuật và rủi ro không mang tính kỹ thuật Việc phân loại này chỉ mang tính tương đối do sự liên hệ chặt chẽ của các rủi ro, đặc biệt lại liên quan nhiều tới vấn đề công nghệ

2.1 Nhóm rủi ro có nguồn gốc từ bên ngoài doanh nghiệp

Nhóm rủi ro này lại xuất phát từ nhiều nguyên nhân như tự nhiên, môi trường kinh doanh, môi trường công nghệ, môi trường pháp lý

2.1.1 Rủi ro không mang tính kỹ thuật

a Rủi ro do thiên tai

Thiên tai là những tai họa do thiên nhiên gây ra đối với con người và thương mại điện tử cũng không phải là một ngoại lệ Các rủi ro do thiên tai có thể kể ra như bão lụt, sét đánh, động đất, núi lửa phun, sóng thần, bão từ trường Một trận lụt có thể làm hư hỏng hết các ổ cứng và xóa sạch các dữ liệu của công ty về các giao dịch, về khách hàng gây thiệt hại làm đình trệ hoạt động của doanh nghiệp Một cú sét có thể làm cháy toàn bộ một hệ thống máy tính đang tiến hành hàng nghìn giao dịch, do vậy làm cho toàn bộ các giao dịch bị hủy bỏ và thiệt hại cũng thật ghê gớm Hay mỗi đợt bão từ làm biến đổi từ trường của trái đất gây ra thiệt hại không nhỏ cho ngành viễn thông như phá hoại các vệ tinh, làm tê liệt các trạm Servers Internet không dây,…

Trang 23

c Rủi ro do các hiện tượng xã hội gây nên

Đó là những rủi ro gây ra bởi chiến tranh, khủng bố, bạo loạn, đình công Chẳng hạn như trong sự kiện khủng bố ngày 11/09, bên cạnh các thiệt hại về sinh mạng và vật chất thì còn các thiệt hai về những dữ liệu trong máy tính của các công ty có văn phòng ở tòa nhà trung tâm thương mại thế giới, những máy chủ trong tòa nhà bị phá hủy còn gây ra những thiệt hại cho các bên có quan hệ giao dịch qua mạng với các công ty trong tòa nhà này Hay các cuộc đình công của nhân viên tin học của các hãng hàng không hoặc du lịch còn gây thiệt hại cho doanh nghiệp bằng cách không xử lý các đơn đặt vé hoặc đặt phòng

d Rủi ro do vi phạm quyền sở hữu trí tuệ

Đây là loại rủi ro đang nổi cộm trên mạng Internet Tên giao dịch hay nhãn hiệu sản phẩm của một công ty nước ngoài có thể trùng với tên giao dịch hay nhãn hiệu của một công ty nước khác cùng kinh doanh trên mạng Đặc biệt khi trùng lặp với công ty đã tạo lập được uy tín, danh tiếng và đang làm

ăn có hiệu quả trên mạng thì nhất định công ty kia sẽ bị kiện cho dù không cố

ý nhái tên hay nhãn hiệu sản phẩm

e Rủi ro về mặt pháp lý

- Hiệu lực pháp lý của giao dịch thương mại điện tử

Một vấn đề e ngại cho các doanh nghiệp khi trao đổi tài liệu quan trọng trên Internet là hiệu lực pháp lý của nó Sự khác biệt về hệ thống luật pháp khi chưa có một công ước chung nào về giao dịch thương mại điện tử có hiệu lực

sẽ gây trở ngại trong việc giải quyết tranh chấp khi hợp đồng bị vi phạm Rủi

ro về việc nguồn luật nào sẽ điều chỉnh những giao dịch điện tử xuyên quốc gia, tòa án nào sẽ xét xử một hợp đồng xuyên quốc gia được thỏa thuận bằng

hệ thống điện tử cũng là một rủi ro về pháp luật cần được lưu tâm

- Luật ngăn cản giao dịch thương mại điện tử của một số quốc gia

Trang 24

Trên quan điểm giao lưu quốc tế, do vấn đề bảo mật và an toàn còn có thêm một khía cạnh nữa: ngày càng có nhiều nước áp dụng các luật ngăn cản không cho dữ liệu được truyền tới các nước không có phương tiện thích đáng

để bảo vệ thông tin, nhằm tránh rò rỉ (nhất là các thông tin liên quan tới an ninh quốc gia, vũ khí giết người hàng loạt, quan hệ quốc tế,…); vì vậy, nếu không có các luật và phương thức tốt để bảo vệ thông tin, thì một nước rất có thể sẽ bị cách ly khỏi hoạt động thương mại điện tử quốc tế

f Rủi ro về tiêu chuẩn công nghiệp

Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các quốc gia kém phát triển khi tham gia vào giao dịch thương mại điện tử toàn cầu do thiếu một hạ tầng công nghệ thông tin đồng bộ và chưa có một hệ thống các tiêu chuẩn công nghiệp phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực Sự thiếu đồng bộ về tiêu chuẩn công nghiệp sẽ gây nhièu khó khăn trong việc trao đổi thông tin và đặc biệt là hoạt động chào hàng, đặt hàng cũng như vận chuyển hàng hóa, thủ tục hải quan, thuế khóa Mặt khác, sự khác biệt giữa tiêu chuẩn công nghiệp trong thương mại truyền thống và thương mại điện tử cũng có thể gây ra những rủi ro không mong đợi Đặc biệt là đối với những hàng hóa vô hình như các loại dịch vụ trên Internet thì hiện nay vẫn chưa có một hệ thống tiêu chuẩn công nghiệp nào để đánh giá chính xác

2.1.2 Rủi ro mang tính kỹ thuật

a Rủi ro do sự thay đổi của công nghệ

Công nghệ thông tin thay đổi ngày một nhanh nhất là công nghệ truyền thông trên mạng Việc các công tu sử dụng các phần mềm và các công nghệ

cũ là một nguy cơ tiềm tàng đối với khách hàng và bản thân doanh nghiệp Sự lạc hậu, không tương thích của các phần mềm, công nghệ cũ với các chuẩn giao tiếp mới đã gây thiệt hại rất lớn cho các công ty kinh doanh trên mạng Vào năm 2002, khi Internet Explorer 6.0 của Microsoft ra đời, công việc kinh

Trang 25

phim của hãng không tương thích với trình duyệt mới này Ước tính lúc IE 6.0 ra đời cho đến khi công ty thay thế phần mềm tải phim mới thiệt hại lên tới 1,2 triệu USD

b Rủi ro từ các nhà cung cấp công nghệ, dịch vụ đường truyền

Hiện nay, các phần mềm luôn có lỗi đã trở thành một hiện tượng phổ biến, thậm chí có thể gọi là một tất yếu khách quan gây thiệt hại rất nhiều cho doanh nghiệp Tuy nhiên, thiệt hại lỗi phần mềm lại không được các nhà cung cấp bồi thường Điển hình như Microsoft, hệ điều hành mới nào cũng có lỗi, trình duyệt mới nào cũng có lỗ hổng bảo mật Hành động duy nhất của Microsoft là xin lỗi người dùng và hứa khắc phục càng sớm càng tốt Còn về đường truyền thì hiện nay trên thế giới đã khá ổn định nhưng rủi ro vẫn còn tồn tại, đặc biệt là với những nước chưa phát triển như Việt Nam

c Rủi ro do những hành động cố ý của các cá nhân

- Những đoạn mã nguy hiểm

Các đoạn mã nguy hiểm bao gồm nhiều mối đe dọa khác nhau như các loại virus, worm, trojan…

Đây là những đoạn mã được lập trình ra mà do vô ý hay không cẩn thận của người sử dụng mà virus được cài vào hệ thống Khi đã được cài đặt vào

hệ thống, nó sẽ tiến hành phá hủy, đảo lộn toàn bộ cơ sở dữ liệu của một công

ty, tổ chức (về khách hàng, đối tác, thị trường,…) đượ lưu trữ trong máy tính hay ăn cắp những thông tin tuyệt mật và chuyển những thông tin đó cho người đã gửi virus Các virus có độ phát tán rất nhanh cho nên mức độ ảnh hưởng của nó có thể lan nhanh trong một phạm vi rộng

Các virus hiện nay có cấu tạo ngày càng phức tạp và sự phá hoại ngày càng lớn và nghiêm trọng Đây cũng chính là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với an toàn của các giao dịch thương mại điện tử ngày nay Vì vậy, các công ty cần phải cài đặt những phần mềm chống virus có hiệu quả thường

Trang 26

xuyên cập nhật để chống được những virus mới đồng thới hết sức cẩn thận trước các nguồn thông tin lạ được gửi đến cho mình

- Tin tặc và các chương trình phá hoại

Tin tặc (hacker) lợi dụng những điểm yếu trong hệ thống bảo vệ các website hoặc lợi dụng một trong những ưu điểm của Internet - đó là một hệ thống mở, dễ sử dụng tấn công nhằm phá hỏng những hệ thống bảo vệ các website hay hệ máy tính của các tổ chức, các chính phủ và tìm mọi biện pháp

để đột nhập vào những hệ thống đó Luật pháp coi các hành vi này là tội phạm Mục tiêu của các tội phạm loại này rất đa dạng, đó có thể là hệ thống

dữ liệu của các website thương mại điện tử, hoặc với ý đồ nguy hiểm hơn, chúng có thể sử dụng các chương trình phá hoại (cybervandalism) nhằm gây

ra các sự cố, làm mất uy tín hoặc phá hủy các website trên phạm vi toàn cầu

- Kẻ trộm trên mạng (sniffer)

Đây là một dạng của chương trình nghe trộm, giám sát sự di chuyển của thông tin trên mạng Khi sử dụng vào những mục đích hợp pháp, nó có thể giúp phát hiện các điểm yếu của mạng, nhưng ngược lại, nếu sử dụng vào các mục đích phạm tội, nó sẽ trở thành những mối hiểm họa lớn và rất khó có thể phát hiện Kẻ trộm cũng có thể chính là những tin tặc, chuyên ăn cắp các thông tin có giá trị như thông điệp thư điện tử, dữ liệu kinh doanh của các doanh nghiệp, các báo cáo mật từ bất cứ nơi nào trên mạng

Xem lén thư tín điện tử cũng là một dạng mới của hành vi trộm cắp thông tin trên mạng Kỹ thuật xem lén thư điện tử sử dụng một đoạn mã ẩn bí mật gắn vào một thông điệp thư điện tử, cho phép người nào đó có thể giám sát toàn bộ các thông điệp chuyển tiếp được gửi đi cùng với thông điệp ban đầu Chẳng hạn, một nhân viên phát hiện thấy lỗi kỹ thuật trong khâu sản xuất, anh ta lập tức gửi một báo cáo cho cấp trên thông báo phát hiện của mình Một kẻ nào đó, sử dụng kỹ thuật xem lén thư điện tử, có thể theo dõi và

Trang 27

vấn đề này Và sẽ rất nguy hiểm nếu nhu các thông tin bí mật trong nội bộ doanh nghiệp bị kẻ xấu biết được và sử dụng vào những mục đích bất chính

- Gian lận thẻ tín dụng

Thẻ tín dụng là một trong những phương thức đầu tiên trong thanh toán điện tử Đối với phương thức thanh toán này, các doanh nghiệp vẫn còn phải đối đầu với nhiều rủi ro còn tiềm ẩn Các doanh nghiệp cần phải đảm bảo rằng các thông tin nhạy cảm của khách hàng như số thẻ tín dụng không bị chính các nhân viên trong doanh nghiệp mình lợi dụng và cũng không được lưu những thông tin chưa được mã hóa trong bộ nhớ của ổ cứng Ngay cả khi đã

sử dụng chương trình mã hóa, doanh nghiệp cũng phải thận trọng trong quá trình số thẻ tín dụng được gửi tới máy chủ vì rất có khả năng bị đánh cắp hoặc

sử dụng thông tin một cách bất hợp pháp Đôi khi, khách hàng không hiểu rõ chính sách của công ty liên quan đến vấn đề sử dụng số thẻ tín dụng trong thanh toán có thể gây ra những rủi ro bất ngờ

Trong TMĐT, các hành vi gian lận thẻ tín dụng xảy ra đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với trong thương mại truyền thống Mối đe dọa lớn nhất trong TMĐT là khách hàng bị mất các thông tin liên quan đến thẻ hoặc các thông tin về giao dịch sử dụng thẻ trong quá trình diễn ra giao dịch Các tệp chứa dữ liệu thẻ tín dụng của khách hàng thường là những mục tiêu hấp dẫn đối với tin tặc khi tấn công vào các website Hơn thế nữa, những tên tội phạm

có thể đột nhập vào các website thương mại điện tử, lấy cắp các thông tin cá nhân của khách hàng như tên, địa chỉ, điện thoại Với những thông tin này, chúng có thể mạo danh khách hàng thiết lập các khoản tín dụng mới nhằm phục vụ những mục đích đen tối

Và cuối cùng, đối với người bán, một trong những đe dọa lớn nhất có thể xảy ra đó là sự phủ định đối với các đơn đặt hàng quốc tế Trong trường hợp một khách hàng quốc tế đặt hàng và sau đó từ chối hành động này, người bán hàng trực tuyến thường không có cách nào để xác định rằng thực chất

Trang 28

hàng hóa đã được giao tới tay khách hàng hay chưa và chủ thẻ tín dụng có thực sự là người đã thực hiện đơn đặt hàng hay không Đây là hiện tượng tội phạm khá nổi cộm ở ngay Việt Nam, ca Cục phòng chống tội phạm kỹ thuật cao – Bộ Công An đã phải vào cuộc Vì hiện nay, hiện tượng ăn cắp mã số thẻ tín dụng của các hacker Việt Nam quá phổ biến đến mức các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ nước ngoài thường xuyên từ chối các giao dịch có nguồn gốc từ Việt Na, mà thanh toán bằng thẻ tín dụng

- Lừa đảo

Lừa đảo trong TMĐT là việc tin tặc sử dụng các địa chỉ thư điện tử giả hoặc mạo danh một người nào đó thực hiện những mưu đồ bất chính Sự lừa đảo cũng có thể liên quan đến việc thay đổi hoặc làm chệch hướng các liên kết web tới một địa chỉ khác với địa chỉ thực hoặc tới một website giả mạo website thực cần liên kết Những liên kết này có thể sẽ hướng người sử dụng tới những website vô bổ, ngoài mong muốn nhằm thực hiện những mưu đồ của tin tặc

Cho dù các hành vi lừa đảo không làm nguy hại trực tiếp đến các tệp dữ liệu hoặc các máy chủ mạng nhưng nó đe dọa tính toàn vẹn của một website Nếu những tin tặc làm chệch hướng khách hàng tới một website giả mạo, giống hệt website mà khách hàng dự định giao dịch, chúng có thể thu thập các thông tin về đơn đặt hàng và thực hiện các đơn đặt hàng ăn cắp được, những đơn đặt hàng mà lẽ ra phải thuộc về chủ nhân của những website thật Hoặc, với mục đích làm mất thanh danh hoặc uy tín của các doanh nghiệp, tin tặc có thể làm thay đổi nội dung các đơn đặt hàng, như thay đổi số lượng hay tên các mặt hàng cần mua, sau đó gửi các đơn đặt hàng đã bị thay đổi tới các website thật Tất nhiên, khi nhận được những hàng hóa không phù hợp, khách hàng sẽ không chấp nhận những sai sót này Và trong những trường hợp như vậy, doanh nghiệp sẽ là người gánh chịu tất cả, vừa mất uy tín, vừa phải chịu toàn

Trang 29

Các hành vi lừa đảo không những đe dọa tính toàn vẹn, mà còn đe dọa tính xác thực của các giao dịch thương mại điện tử Với những âm mưu của mình, tin tặc có thể làm cho các giao dịch thương mại điện tử trở thành trắng đen lẫn lộn và cả doanh nghiệp lẫn khách hàng khó có thể xác định được đâu

là thật, đâu là giả

2.2 Rủi ro trong Thương mại Điện tử có nguồn gốc từ bên trong doanh nghiệp

2.2.1 Rủi ro không mang tính kỹ thuật

a Rủi ro do sự bất cẩn của doanh nghiệp

Trong giao dịch trên mạng, rủi ro này cũng thường xuyên gặp phải Ví

dụ như: tắt máy, tắt nguồn điện hay nhấp “nhầm chuột” Hay do sự bất cẩn của người sử dụng khi truyền dữ liệu đặc biệt là những con số qua dấu chấm hoặc dấu phẩy đằng sau những con số Sự bất cẩn của người truyền dữ liệu có thể làm tăng hoặc làm giảm giá trị của con số truyền đi đã gây ra nhiều tác hại trong giao dịch và đôi khi gây ra những thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp

b Rủi ro do sự tấn công từ bên trong doanh nghiệp

Trong kinh doanh, chúng ta thường cho rằng những mối đe dọa đến sự

an toàn có nguồn gốc từ những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, nhưng thực chất những đe dọa này không chỉ đến từ bên ngoài mà có thể bắt nguồn từ chính những thành viên làm việc trong doanh nghiệp

Trong TMĐT, có nhiều trang web thương mại điện tử bị phá hủy, nhiều doanh nghiệp phải gánh chịu hậu quả do dịch vụ bị ngưng trệ, do bị lộ các thông tin cá nhân hay các dữ liệu tín dụng của khách hàng mà thủ phạm là chính các nhân viên làm việc trong doanh nghiệp, những người từng được tin tưởng và trọng dụng Những nhân viên làm việc trong doanh nghiệp có thể truy cập các thông tin bí mật, hoặc xâm nhập tới mọi nơi trong hệ thống thông tin của tổ chức nếu như những biện pháp bảo mật thông tin của doanh nghiệp

Trang 30

thiếu thận trọng Và trong nhiều trường hợp, hậu quả của những đe dọa loại này còn nghiêm trọng hơn những vụ tấn công từ bên ngoài doanh nghiệp

2.2.2 Rủi ro mang tính kỹ thuật

a Rủi ro do công nghệ lạc hậu hoặc lỗi mà doanh nghiệp đang sử dụng Khi doanh nghiệp mua phần mềm để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình nhưng không kiểm tra và chạy thử phần mềm đó hoặc ngay cả khi có làm như vậy thì cũng luôn tồn tại rủi ro từ phần mềm khiến cho công việc kinh doanh bị rối loạn, có khi dẫn đến hậu quả xấu nhất có thể xảy

ra

Mặt khác, làm việc với các đối tác kinh doanh thông qua thương mại điện tử đòi hỏi sự cân bằng giữa khả năng của bản thân doanh nghiệp và khả năng của các đối tác truyền thông Nếu cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của doanh nghiệp không tương thích, sẽ tạo ra những khó khăn trong việc truyền tải những thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp tới khách hàng và đối tác

b Rủi ro từ hệ thống bảo mật an toàn của doanh nghiệp

Hệ thống bảo mật, an ninh của chính doanh nghiệp là một thành tố quan trọng trong an toàn của cả hệ thống mạng Nếu hệ thống này được thiết

kế yếu, lỏng lẻo thì tất yếu các nguy cơ ngày càng trở nên nghiêm trọng Việc thiết kế hệ thống này khá tốn kém, do vậy, nhiều công ty, tổ chức bỏ qua cho đến khi họ bị tấn công thực sự

Trên đây là một số rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh trên mạng, tuy nhiên không phải tất cả rủi ro đó đều có khả năng xảy ra như nhau Tùy từng tình hình, thời điểm cụ thể mà có rủi ro hay gặp phải, có rủi ro ít gặp hơn, do đó, doanh nghiệp phải luôn chú ý để có những biện pháp đề phòng hợp lý, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra

Trang 31

III TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI

3.1 Khái quát về tình hình TMĐT trên thế giới

Là một trong lĩnh vực sôi động nhất hiện nay, TMĐT đang phát triển nhanh chóng và rộng khắp trên toàn cầu Nhìn từ các nước có trình độ phát triển cao, đây là giai đoạn chạy đua về TMĐT Nền tảng của TMĐT quốc tế

là Internet, nên nó có khả năng bao quát toàn bộ các máy tính đang hoạt động trên thế giới, và các phương tiện truyền thông hiện đại (vệ tinh, viễn thông, cáp vô tuyến, các khí cụ điện tử) Internet đang phát triển mạnh mẽ cả về phạm vi bao phủ, phạm vi ứng dụng và chất lượng vận hành Những tiến bộ

kỹ thuật của công nghệ thông tin đã tạo ra các phương tiện truy cập Internet với tốc độ cao hơn rất nhiều: công nghệ “đường thuê bao số hóa không đồng bộ” (Asynchronuous Digital Subscriber Line – ADSL), công nghệ dùng vô tuyến để truy cập Internet thông qua đường dây cáp (High – defination Television – HDTV), hệ thống cáp ở các nước đã và đang chuyển thành hệ thống lưu thông Internet hai chiều dùng cáp quang, có hộp giải mã âm thanh,

mã hình ảnh và dữ liệu truyền gửi dưới dạng số Các phương tiện liên lạc vô tuyến cũng đang hội nhập vào mạng Internet Theo các chuyên gia Mỹ, Internet/Web đang phát triển với tốc độ rất nhanh, và theo dự báo của Telcordia Technogies, thế giới mỗi ngày có hơn 100.000 Website mới TMĐT toàn cầu phát triển với tốc độ rất nhanh và thu hút được sự quan tâm của toàn thế giới Thực tế đã cho thấy khi mạng Internet mới chỉ bắt đầu ứng dụng rộng rãi vào năm 1995 và cùng với sự bùng nổ của Internet thì TMĐT cũng phát triển ở tốc độ nhanh chóng hơn so với những dự kiến ban đầu Nhiều hãng nghiên cứu thị trường liên tục đưa ra dự báo, tuy nhiên các số liệu đưa ra đều nhanh chóng bị lạc hậu do không dự tính được hết những khả năng phát triển của TMĐT trên toàn cầu

Trang 32

Dễ nhận thấy rằng, TMĐT không chỉ giải quyết những yêu cầu thiết yếu, cấp bách trong các lĩnh vực như hệ thống giao dịch hàng hóa, điện tử hóa tiền tệ và phương án an toàn thông tin… mà hoạt động thực tế của nó còn tạo

ra những hiệu quả và lợi ích mà mô hình phát triển của thương mại truyền thống không thể thay thế Chính vì tiềm lực hết sức to lớn của TMĐT nên Chính phủ các nước đều chú trọng tới vấn đề ứng dụng và phát triển TMĐT Nhiều nước đã có chính sách và kế hoạch hành động để đẩy mạnh sự phát triển của TMĐT ở nước mình, nhằm nắm bắt cơ hội của tiến bộ CNTT, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước, giành lấy vị trí thuận lợi trong xã hội thông tin tương lai

TMĐT sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới với giá trị giao dịch ngày càng tăng và sẽ ngày càng phát triển hoàn thiện hơn dưới nhiều hình thức khác nhau trong một xu thế tạo ra một mô thức mới hoàn toàn (new paradigm) về các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và quản lý kinh tế – xã hội TMĐT sẽ chính là hình thức thương mại của thế kỷ mới

Phương thức kinh doanh B2B đang và sẽ chiếm ưu thế nổi trội so với B2C trong các giao dịch TMĐT toàn cầu Trong phương thức B2C, loại hình bán lẻ tổng hợp (siêu thị TMĐT ) dù chiếm tỷ lệ không cao trong tổng số cửa hàng bán lẻ trực tuyến nhưng lại nắm giữ phần lớn giá trị giao dịch B2C trên thị trường ảo Việc kết hợp cửa hàng bán lẻ trực tuyến với kênh phân phối truyền thống hiện vẫn là phương thức được nhiều nhà kinh doanh lựa chọn

3.2 Đánh giá thực tiễn phát triển TMĐT trên thế giới

Qua tình hình TMĐT thế giới cho thấy con đường phát triển TMĐT đã được khẳng định khá rõ nét Để phát triển TMĐT, mỗi quốc gia đều phải có

sự nghiên cứu và chuẩn bị kỹ lưỡng trên cơ sở năng lực của mình và tiếp thu kinh nghiệm từ các nước đi trước trong việc phát triển và ứng dụng phương thức TMĐT

Trang 33

Việc lựa chọn phát triển TMĐT được coi là một xu hướng tất yếu, khách quan của nhiều quốc gia trên thế giới Từ thực tiễn phát triển TMĐT trên thế giới, chúng ta có thể rút ra những nhận xét cơ bản sau đây:

- Sự hiểu biết và nhận thức đầy đủ về TMĐT đối với các chính phủ, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân vẫn còn nhiều điểm khác biệt

- Cơ sở kỹ thuật công nghệ, pháp lý cho TMĐT còn đang trong giai đoạn tiếp tục xây dựng và hoàn thiện trên phạm vi toàn thế giới

- Tốc độ tham gia TMĐT đang có xu hướng tăng nhanh, nhưng tập trung chủ yếu ở một số nước công nghiệp phát triển và chủ yếu vãn còn trong lĩnh vực thương mại nội địa

- TMĐT đang được sự quan tâm ở mỗi quốc gia, khu vực và trên bình diện thế giới, nhung sự quan tâm đối với TMĐT xuất phát chủ yếu từ phía các nước đã có hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vững chắc; còn các nước khác, nhất là các nước đang phát triển, bị cuốn hút theo, và bị buộc phải tiếp cận, nên nhiều nước còn tỏ ra dè dặt

IV CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP

Để đánh giá hiệu quả ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp, Cục Thương mại Điện tử và Công nghệ thông tin (Bộ Công thương) của Việt Nam đã đưa ra 5 tiêu chí như sau 2:

 Tỷ trọng đầu tư cho thương mại điện tử trên tổng chi phí hoạt động hàng năm;

 Tỷ trọng của doanh thu từ các đơn đặt hàng sử dụng phương tiện điện tử trong tổng doanh thu;

 Xu hướng của các doanh thu từ các đơn đặt hàng sử dụng phương tiện điện tử;

2

Các tiêu chí này được tham khảo từ Báo cáo Thương mại Điện tử năm 2007 của Cục Thương mại Điện tử

và Công nghệ thông tin, Bộ Công thương

Trang 34

 Tác động của ứng dụng TMĐT đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

 Trở ngại đối với việc triển khai ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp;

4.1 Tỷ trọng đầu tư cho thương mại điện tử trên tổng chi phí hoạt động hàng năm

Thương mại điện tử gắn liền với sự phát triển của Công nghệ thông tin

và truyền thông Sự thay đổi nhanh chóng của lĩnh vực này đòi hỏi mỗi quốc gia nói chung và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nói riêng phải có sự đầu tư thích đáng, theo kịp được với sự phát triển của Công nghệ thông tin theo thời gian để những ứng dụng CNTT và TMĐT không bị trở nên lạc hậu và không hiệu quả

Trong phạm vi doanh nghiệp ứng dụng TMĐT vào hoạt động kinh doanh, một tiêu chí để đánh giá mức hiệu quả của TMĐT đó là tỷ trọng đầu tư cho lĩnh vực này trên tổng chi phí hoạt động hàng năm của doanh nghiệp Chỉ tiêu này thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp nói chung và Ban Lãnh đạo doanh nghiệp nói riêng cho CNTT và TMĐT Một doanh nghiệp có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của TMĐT đối với hoạt động kinh doanh của đơn

vị mình, nhất là là trong giai đoạn hiện nay, khi mà khả năng cạnh tranh trên thị trường là yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì chắc chắn, doanh nghiệp đó sẽ có chiến lược đầu tư thích hợp cho TMĐT, nâng cao được khả năng ứng dụng và phát huy tối đa những lợi ích mà TMĐT đem lại cho công

ty Chi phí hoạt động hàng năm là khoản không thể không có của các doanh nghiệp để duy trì và phát triển kinh doanh, nhưng trong số các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra, có bao nhiêu phần trăm là dành cho đầu tư TMĐT lại là một vấn đề đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải cân nhắc và mạnh dạn đầu tư Bản thân TMĐT là một công cụ hiệu quả, nhưng nó không thể thiếu được sự

Trang 35

dụng thiết thực của CNTT và TMĐT, doanh nghiệp không thể trông chờ vào một nguồn ngân sách bên ngoài nào đó mà phải mạnh dạn dành một khoản chi phí hàng năm của mình cho TMĐT Sự quan tâm của doanh nghiệp với TMĐT tỷ lệ thuận với hiệu quả mà nó mang lại cho doanh nghiệp đó, và điều này được biểu hiện qua tỷ trọng đầu tư cho thương mại điện tử trong chi phí hoạt động thường niên của doanh nghiệp

4.2 Tỷ trọng của doanh thu từ các đơn đặt hàng sử dụng phương tiện điện tử trong tổng doanh thu

Doanh thu từ các đơn đặt hàng sử dụng phương tiện điện tử là biểu hiện

cụ thể nhất những đóng góp mà TMĐT mang lại cho doanh nghiệp, cũng như mức độ hiệu quả của hoạt động TMĐT Do đó, yếu tố định lượng này được coi là một tiêu chí để đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng TMĐT vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Tỷ trọng doanh thu từ ứng dụng thương mại điện tử được coi là kết quả của tỷ trọng đầu tư cho TMĐT của doanh nghiệp Doanh thu hàng năm mà TMĐT đem lại, thể hiện qua những đơn đặt hàng mà doanh nghiệp có được qua phương tiện điện tử Tuy nhiên, tỷ lệ đầu tư và tỷ lệ doanh thu từ thương mại điện tử không phải lúc nào cũng có quan hệ thuận biến Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã khai thác được hết các khoản đầu tư của mình để thu về hiệu quả cao hơn

so với chi phí bỏ ra cho hoạt động ứng dụng thương mại điện tử

4.3 Xu hướng của các doanh thu từ các đơn đặt hàng sử dụng phương tiện điện tử

Xu hướng các doanh thu từ các đơn đặt hàng sử dụng phương tiện điện

tử cho biết triển vọng đầu tư cũng như những đánh giá lạc quan của các doanh nghiệp về TMĐT trong tương lai Từ đó, doanh nghiệp sẽ quyết định dừng lại hay tiếp tục có chiến lược thúc đẩy hiệu quả ứng dụng của CNTT và TMĐT vào hoạt động kinh doanh của đơn vị mình

Trang 36

Theo dự đoán về xu hướng phát triển của TMĐT trên thế giới thì phương thức giao dịch thương mại điện tử B2B sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai Điều này có thể đưa ra được cái nhìn tích cực về phương thức này trên thế giới và ở Việt Nam Nói cách khác, doanh thu thu được từ phương thức giao dịch B2B sẽ tăng trong thời gian tới Doanh nghiệp có kế hoạch đầu

tư lâu dài cho TMĐT sẽ quan tâm hơn nữa để có được doanh số bán hàng lớn hơn, tăng lợi nhuận cho đơn vị mình

4.4 Tác động của ứng dụng TMĐT đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Từ những kết quả mà việc ứng dụng thương mại điện tử đem lại, doanh nghiệp có đánh giá, kiểm tra lại những ảnh hưởng mà kinh doanh thương mại điện tử tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh Từ những đánh giá này, doanh nghiệp sẽ đưa ra được phương hướng đầu tư cho tương lai

Những đánh giá của doanh nghiệp về tác động của TMĐT đối với hoạt động của đơn vị mình cần được xem xét ở nhiều khía cạnh: doanh thu, hình ảnh doanh nghiệp, quan hệ với khách hàng, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp,… Có như vậy, doanh nghiệp mới kết luận được những lợi ích và hạn chế của ứng dụng TMĐT đối với mình Từ đó nhận định được việc áp dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh của mình đã đúng đắn hay không và hình thức kinh doanh mới mẻ này đã phát huy được hết hiệu quả trong doanh nghiệp của mình hay chưa

4.5 Trở ngại đối với việc triển khai ứng dụng TMĐT trong doanh nghiệp

Việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp không phải lúc nào cũng gặp những thuận lợi, ngược lại, doanh nghiệp luôn luôn phải đối mặt với những thử thách, khó khăn liên quan đến TMĐT Tuy nhiên, các yếu tố tác động tiêu cực cho ứng dụng thương mại điện tử lại có sự

Trang 37

nghiệp Có thể kể ra một số những trở ngại mà doanh nghiệp gặp phải trong quá trình áp dụng hình thức kinh doanh thương mại điện tử vào hoạt động sản xuất như: vấn đề nhận thức xã hội; vấn đề an ninh, an toàn giao dịch; vấn đề nhân lực; vấn đề môi trường pháp lý,… Khi nhìn nhận được những khó khăn này, doanh nghiệp sẽ có những biện pháp khắc phục cũng như giải quyết phù hợp để việc ứng dụng TMĐT có được hiệu quả tốt nhất

Trang 38

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

bộ khoa học – công nghệ, trong đó có sự góp mặt rất lớn của thương mại điện

tử vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình Ứng dụng TMĐT là xu thế tất yếu và khách quan nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại và phát triển trong thời đại hiện nay Doanh nghiệp áp dụng phương thức kinh doanh này là một việc đúng đắn và cần thiết bởi những lợi ích mà TMĐT đem lại là không hề nhỏ

Những cơ hội mà TMĐT có thể mang lại cho các doanh nghiệp có thể chia thành: tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian và những lợi ích về chất lượng Tuy nhiên, yếu tố chính để các doanh nghiệp tham gia vào TMĐT không phải

là tiết kiệm chi phí mà là thời gian và chất lượng sản phẩm và dịch vụ

Trang 39

Tiết kiệm chi phí

Khi tham gia vào TMĐT, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí Trước hết, bộ máy nhân sự của doanh nghiệp sẽ được rút gọn theo hướng ngày càng hợp lý Một nhân viên có thể giao dịch được với nhiều khách hàng cũng một lúc và có thể đảm nhận được nhiều khâu của quá trình kinh doanh, có thể thay thế được nhiều nhân viên trước đây Những chi phí bưu điện cũng được giảm đi, các doanh nghiệp chỉ cần chuyển những tài liệu

đó qua mạng Internet với tốc độ nhanh và chi phí thấp Hơn nữa, những chi phí lưu kho, thuê kho, bảo quản cũng được tiết kiệm Doanh nghiệp không cần thiết phải lưu trữ nhiều hàng hóa như trước đây mà chỉ cần lưu trữ một lượng nhỏ, có khi không cần lưu trữ Khi có đơn đặt hàng, doanh nghiệp liên

hệ với nhà cung cấp và mua hàng, sau đó chuyển cho khách hàng của mình Đây là mô hình mà các cửa hàng trực tuyến thường sử dụng Ngoài ra, những chi phí trong thanh toán cũng giảm đi rất nhiều Những chi phí cho quảng cáo, tiếp thị, phân phối sản phẩm cũng thay đổi TMĐT ra đời cho phép các doanh nghiệp có thêm phương tiện quảng cáo Doanh nghiệp đăng ký với các công

cụ tìm kiếm, những trang web thông dụng để khách hàng có thể dễ dàng tìm đến với sản phẩm, dịch vụ của mình Những chi phí cho hoạt động quảng cáo này thấp hơn nhiều so với những chiến dịch quảng cáo trước đây Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các phương tiện quảng cáo truyền thống

Tiết kiệm thời gian

Khi sử dụng TMĐT, các doanh nghiệp sẽ giảm được đáng kể thời gian cho hầu như tất cả các quá trình kinh doanh Điều này thực sự quan trọng trong môi trường cạnh tranh và xu thế toàn cầu hóa hiện nay Các doanh nghiệp phải nắm bắt một cách nhanh nhạy những thay đổi của thị trường, những xu thế mới để đề ra biện pháp hữu hiệu hạn chế rủi ro, đi trước đối thủ trong việc cung cấp những sản phẩm, dịch vụ mới ra thị trường, nắm bắt cơ

Trang 40

hội mà thị trường mang lại TMĐT có thể giúp doanh nghiệp làm được điều này TMĐT sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu được những phản hồi từ phía thị trường nhanh hơn do tốc độ thu và nhận thông tin của những quá trình trong TMĐT rất nhanh và gần như tức thời cũng như thông tin trên mạng Internet rất phong phú để doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định chính các, từ đó, tính linh hoạt trong kinh doanh là rất cao Hơn nữa, TMĐT còn giúp cho quá trình đặt hàng và thực hiện đơn hàng nhanh hơn Thời gian đưa sản phẩm ra thị trường được rút nhắn, thời gian giao hàng giảm đi, và quá trình thanh toán cũng diễn ra nhanh hơn

Nâng cao khả năng cạnh tranh

Thị trường tiêu thụ, đặc biệt là thị trường ngoài nước đang là một vấn

đề bức xúc nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Nước ta có nhiều thế mạnh về các sản phẩm nông sản và thủ công mỹ nghệ Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này vẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiếp cận thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh Những hạn chế về thời gian và không gian là trở ngại căn bản đối với khách hàng nước ngoài mỗi khi giao dịch với doanh nghiệp Việt Nam Do không tiếp cận trực tiếp được với khách hàng nên hàng hóa của chúng ta phải mua bán qua nhiều khâu trung gian, làm chi phí tăng lên và giá thành xuất khẩu thường cao hơn 10% - 15%

so với hàng của Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia Vì thế, thương mại điện tử – cầu nối trực tiếp rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam với thị trường thế giới – là một giải pháp hữu hiệu đối với các doanh nghiệp hiện nay

II THỰC TRẠNG CƠ SỞ HẠ TẦNG CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

2.1 Đặc điểm của doanh nghiệp Việt Nam

Hiện nay, đại bộ phận các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) Đây được đánh giá là hình thức tổ chức

Ngày đăng: 26/05/2014, 11:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. THS. Dương Tố Dung (2005), Sổ tay kiến thức thương mại điện tử, công ty TMĐT VEC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kiến thức thương mại điện tử
Tác giả: THS. Dương Tố Dung
Năm: 2005
2. Phạm Hữu Khang (2006), Xây dựng và triển khai ứng dụng thương mại điện tử, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và triển khai ứng dụng thương mại điện tử
Tác giả: Phạm Hữu Khang
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2006
3. THS. Nguyễn Văn Thoan, Bài giảng thương mại điện tử, Đại học Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng thương mại điện tử
5. Vụ Thương mại Điện tử – Bộ Thương Mại (2004, 2005, 2006, 2007), Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2004, 2005, 2006, 2007.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2004, 2005, 2006, 2007
1. Cổng Thương mại Điện tử Quốc gia – ECVN Http://www.ecvn.gov.vn Link
2. Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Http://www.vcci.com.vn Link
3. Sàn giao dịch Thương mại Điện tử Việt Nam (Vnemart) Http://www.vnemart.com Link
4. Vụ Thương mại điện tử – Bộ Thương Mại Http://www.mot.gov.vn 5. Tổng cục Thống kêHttp://www.gso.gov.vn 6. Diễn đàn phát triển Thương mại Liên hợp Quốc Link
4. UNCTAD, Information Economy Report 2007 – 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Mức trung bình máy tính trong doanh nghiệp phân theo ngành - Nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việt nam
Bảng 3 Mức trung bình máy tính trong doanh nghiệp phân theo ngành (Trang 60)
Bảng 6: Đặc điểm và tính năng thương mại điện tử của website doanh nghiệp - Nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việt nam
Bảng 6 Đặc điểm và tính năng thương mại điện tử của website doanh nghiệp (Trang 67)
Bảng 9: Dự đoán của doanh nghiệp về doanh thu từ các đơn hàng qua phương - Nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việt nam
Bảng 9 Dự đoán của doanh nghiệp về doanh thu từ các đơn hàng qua phương (Trang 87)
Bảng 10  Đánh giá của doanh nghiệp về tác động của TMĐT tới hoạt động - Nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việt nam
Bảng 10 Đánh giá của doanh nghiệp về tác động của TMĐT tới hoạt động (Trang 88)
Bảng 11: Đánh giá của doanh nghiệp về các trở ngại cho ứng dụng thương - Nâng cao hiệu quả áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việt nam
Bảng 11 Đánh giá của doanh nghiệp về các trở ngại cho ứng dụng thương (Trang 90)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w