Tuy nhiên, trong quá trình quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chính sách và quy trình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đã bộc lộ nhiều điểm bất hợp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Minh Nguyệt
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Hữu Khải
Hà Nội, 05/2009
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 6
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ 6
1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế 6
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của thuế 6
1.1.1.2 Chức năng của thuế trong nền kinh tế thị trường 8
1.1.2 Quản lý thuế 11
1.1.2.1 Quan niệm về quản lý thuế và cơ chế quản lý thuế 11
1.1.2.2 Mục tiêu và nguyên tắc của quản lý thuế 13
1.1.2.3 Nội dung của cơ chế quản lý thuế hiện hành của Việt Nam 13
1.2 QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 16
1.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp và quy trình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 16
1.2.1.1 Nội dung cơ bản của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng từ 01/01/2004 đến 31/12/2008 17
1.2.1.2 Những nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng từ 01/01/2009 21
1.2.1.3 Quy định về đăng ký, kê khai, nộp và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp 23
1.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 24
1.2.2.1 Khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 24
1.2.2.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tại các nước đang phát triển 26
1.2.2.3 Những nhân tố cơ bản trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 29
1.2.3 Sự cần thiết của hoạt động quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 31
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 33
1.3.1 Kinh nghiệm của Anh 33
1.3.2 Kinh nghiệm của Mỹ 36
1.3.3 Quản lý thu thuế Trung Quốc 37
1.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra với Việt Nam 39
Trang 3CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 41
2.1 CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI TỪ NĂM 2004 ĐẾN NAY 41
2.1.1 Giai đoạn 1/2004 – 7/2007 41
2.1.2 Giai đoạn từ 1/7/2007 đến nay 45
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI THỜI GIAN QUA 48
2.2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và trên địa bàn Hà Nội 48
2.2.1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 48
2.2.2.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Hà Nội trong thời gian qua 53
2.2.2 Thực trạng hoạt động quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội 54
2.3 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 60
2.3.1 Thành tựu đạt được 60
2.3.2 Hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân 64
2.3.2.1 Hạn chế 64
2.3.2.2 Nguyên nhân 67
CHƯƠNG III PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 70
3.1 XU THẾ CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH THUẾ NÓI CHUNG VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP NÓI RIÊNG TRÊN THẾ GIỚI 70
3.1.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới xu thế cải cách chính sách thuế trên thế giới 70
3.1.2 Xu thế cải cách chính sách thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng trên thế giới 75
3.2 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 78
3.2.1 Giải pháp 78
3.2.1.1 Giải pháp về hoàn thiện chính sách 78
3.2.1.2 Nhóm giải pháp về cơ cấu tổ chức bộ máy 80
Trang 43.2.1.3 Nhóm giải pháp về thực hiện cơ chế quản lý theo chức năng 81
3.2.1.4 Đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng 87
3.2.2 Kiến nghị 88
3.2.2.1 Đối với Quốc hội và Chính phủ 88
3.2.2.2 Đối với Cơ quan quản lý thuế 89
3.2.2.3 Đối với Chính quyền thành phố Hà Nội 91
3.2.2.4 Đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ 97
PHỤ LỤC 97
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu hướng tất yếu khách quan với mọi nền kinh tế.Trong quá trình hội nhập, chính sách của nước tiếp nhận đầu tư là một trong những yếu tố cơ bản nhất trong việc thu hút FDI vào một quốc gia Hiện nay, hầu hết các nước đang phát triển cạnh tranh gay gắt với nhau trong thu hút nguồn vốn FDI có hạn trên toàn cầu Sự cạnh tranh này không chỉ mang tính quốc gia mà còn diễn ra giữa các khu vực và châu lục Một trong các chính sách mà các nước sử dụng được đề cập đến nhiều nhất là việc sử dụng chính sách thuế nói chung và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng trong thu hút FDI
Thực tiễn nước ta, trong suốt quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường từ năm 1986 đến nay, công cuộc cải cách hệ thống chính sách và công tác quản lý thuế nói chung và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng luôn được Nhà nước ta hết sức chú trọng Thực hiện công cuộc cải cách thuế trong những năm gần đây, ngành thuế đã không ngừng hoàn thiện hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chính sách và quy trình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
đã bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý Điều này vừa ảnh hưởng tới tính cạnh tranh của môi trường đầu tư, vừa tạo kẽ hở cho các nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng để thực hiện các hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp Trước tình hình đó, việc tìm
ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yêu cầu cấp thiết
Chính vì lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Hoạt động quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu:
Về nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu vai trò, chức năng quản lý Nhà nước về thuế Tuy nhiên, có rất ít các đề tài nghiên cứu sâu về cơ chế quản lý thuế đối với đối tượng nộp thuế có vốn đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam
Trang 63 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của khóa luận là đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội, và từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục, hoàn thiện công tác quản lý thuế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề lý luận
về thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng, đầu tư trực tiếp nước ngoài và cơ chế quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội, và kinh nghiệm về quản lý thuế của các nước trên thế giới
Phạm vi về thời gian nghiên cứu: từ năm 2004 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, và phương pháp trừu tượng hoá; Phương pháp tổng hợp, thống kê
và so sánh; Phương pháp chuyên gia
6 Kết cấu của khóa luận:
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
Chương I Thuế thu nhập doanh nghiệp và vấn đề quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương II Thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầ cuu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội
Chương III Phương hướng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Do hạn chế về khả năng cũng như thời gian nghiên cứu, nội dung của khóa luận khó tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và những ai quan tâm đến đề tài
Qua đây, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Hữu Khải, các cá nhân và cơ quan đã tận tình giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trang 7CHƯƠNG I THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ
1.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế
1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của thuế
Trên thế giới, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuế tùy theo cách nhìn nhận ở từng góc độ
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (1)
Trên góc độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (2)
Trên góc độ kinh tế học, thuế được xem xét như là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước (3)
Ở nước ta, đến nay cũng chưa có định nghĩa thống nhất về thuế Theo từ điển
tiếng Việt (Trung tâm từ điển học - 1998), thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp, buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định
Mặc dù còn rất nhiều các định nghĩa khác nhau, song khái quát chung có thể
rút ra khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc
từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng (4)
(1), (2), (3), (4) Giáo trình thuế và hệ thống thuế, NXB Giáo dục, 2003
Trang 8công cộng, NXB Khoa học và kỹ thuật, 1995, tr 456)
Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước
(ii) Tính không hoàn trả trực tiếp:
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước Đặc điểm này giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản phí, lệ phí và tín dụng Nhà nước
Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế
Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được sử dụng các dịch vụ công cộng Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi được hưởng những dịch vụ công cộng bằng với số thuế mà họ phải trả
(iii) Tính pháp lý cao:
Điều này được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước Nhà nước
là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội Vì vậy, để bắt buộc các
Trang 9khác
1.1.1.2 Chức năng của thuế trong nền kinh tế thị trường
Chức năng của thuế do bản chất của thuế quyết định và thể hiện ra ngoài thông qua vai trò của nó trong hoạt động thực tiễn Mặt khác, vì thuế là công cụ trong tay Nhà nước nên chính chức năng của Nhà nước chi phối, quyết định chức năng của thuế Hiện nay, hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất quan điểm rằng thuế có 3 chức năng chủ yếu sau:
(i) Thuế có chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Ngân sách Nhà nước:
Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho tất cả các dạng Nhà nước
Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế
Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong
xã hội
Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế ngày càng được nâng cao Thuế dần trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách các nước có nền kinh tế thị trường
Chức năng huy động nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế Nói cách khác, quá trình huy
Trang 10động tập trung nguồn lực thông qua thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết kinh tế của thuế Chức năng huy động nguồn lực và chức năng điều tiết kinh tế
có mối quan hệ hữu cơ với nhau
(ii) Thuế có chức năng điều tiết và ổn định hóa nền kinh tế:
Trong nền kinh tế thị trường, thuế giữ vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh kinh tế vì chính sách thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả, quan hệ cung - cầu, cơ cấu đầu tư và sự phát triển cũng như suy thoái của nền kinh tế của mỗi quốc gia
Để đảm nhận vai trò điều tiết và ổn định hóa nền kinh tế, theo quan điểm của Keynes, Chính phủ phải gia tăng đầu tư để tận dụng hiệu ứng số nhân xảy ra đối với việc làm và sản lượng Để làm được điều này đòi hỏi Chính phủ phải có trong tay một nguồn lực nhất định Và thuế, với chức năng huy động nguồn thu, tỏ ra là một công cụ đầy hiệu lực để đảm nhận nhiệm vụ này
Tuy nhiên, chức năng điều tiết và ổn định hóa nền kinh tế không chỉ dừng lại
ở việc Nhà nước sử dụng các nguồn lực (cấu thành chủ yếu từ thuế) để đầu tư, phát triển nền kinh tế thông qua các chính sách đầu tư, mà còn là việc kết hợp đồng bộ chính sách thuế với các chính sách kinh tế - tài chính khác
Trên thực tế, vai trò điều tiết, kích thích kinh tế của thuế được thể hiện trên một số mặt cơ bản sau:
Trước hết, thuế được sử dụng như là công cụ khuyến khích việc hình thành cơ cấu ngành, vùng hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế Với vai trò này, Nhà nước sử dụng các cơ chế ưu đãi hơn giành cho các
vùng miền cần khuyến khích phát triển Bên cạnh đó, Nhà nước sử dụng ngay nguồn thu từ thuế để đầu tư xây dựng cơ bản (còn gọi là đầu tư tạo đà), qua đó thu hút và khuyến khích đầu tư theo chiến lược phát triển ngành, vùng đã đề ra
Thuế được sử dụng như là một công cụ để hướng dẫn tiêu dùng, kích thích tiết kiệm, tích lũy vốn để tái sản xuất mở rộng Với mục tiêu này, Nhà nước
đánh thuế lên hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng theo các mức thuế suất khác nhau, để người dân hạn chế tiêu dùng các sản phẩm có mức thuế xuất cao do giá thành cao, kích thích người dân gia tăng tiết kiệm Đồng thời, Nhà nước cũng miễn, giảm thuế đối với phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư, chấp nhận khấu hao nhanh,… cho doanh
nghiệp để khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất
Trang 11Thuế còn có tác động đến nền kinh tế thông qua cơ chế điều chỉnh thuế suất nhằm ổn định nền kinh tế Thuế được sử dụng như là công cụ để điều chỉnh
các chu kỳ kinh tế Trong thời kỳ suy thoái, Nhà nước sẽ giảm thuế để kích cầu, từng bước ổn định và phục hồi nền kinh tế Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển quá nóng, Nhà nước có thể tăng thuế để hạn chế thu nhập khả dụng của toàn xã hội, tạo nguồn lực dự trữ an toàn để đề phòng sự suy thoái kinh tế Qua đó, nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế được giữ vững
Chính sách thuế là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất nhiều đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi nhuận của các dự án đầu tư; thuế thu nhập cá nhân đánh trên thu nhập của chủ đầu tư; thuế tiêu thụ đặc biêt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,… ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm Nhìn chung, các chủ đầu tư đều muốn đầu
tư ở các nước có các loại thuế thấp
Trong thực tiễn, để phát huy tốt và đầy đủ các chức năng của thuế thì cần phải lưu ý là: trước hết, thuế chỉ nên thu từ nguồn thuế - tức là nguồn thu nhập được tạo ra, chứ không phải từ gốc thuế - tức là sức sản xuất của nền kinh tế bao gồm: con người, vốn, tài sản,… Sau nữa, để thuế phát huy tốt chức năng điều tiết
và ổn định hóa nền kinh tế, cần kết hợp một cách đồng bộ, linh hoạt chính sách thuế với các chính sách kinh tế - tài chính khác như chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá,…
(iii) Thuế góp phần điều hòa thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội trong phân phối thu nhập:
Trong cơ chế thị trường hiện nay, tình trạng phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng thêm sâu sắc Bởi vậy, sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước là đặc biệt hữu ích, trong đó thuế là một công cụ có vai trò quan trọng
Trang 12Chức năng điều hòa thu nhập xã hội của thuế phần nào được thực hiện thông qua các loại thuế gián thu như thuế giá trị giá tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu Các loại thuế này đánh thuế cao vào các loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp nhằm điều tiết bớt thu nhập của các công ty, cá nhân có thu nhập cao hơn so với mức bình quân trong xã hội Song công cụ trực tiếp thực hiện công bằng xã hội phải là thuế trực thu mà điển hình là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân
- Quản lý thuế quan tâm trước hết tới việc thực thi chính sách thuế Để thực hiện tốt công tác quản lý thuế cần có một chính sách thuế hợp lý, một cơ chế quản
lý đồng bộ và có hiệu quả Sau khi chính sách thuế được hoạch định và được thông qua, chính sách đó được thực thi trong thực tế
- Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách thuế vào cuộc
sống Hoạt động quản lý thuế là sự tác động có tổ chức, tuân theo những quy tắc
nhất định và mang tính quyền lực Nhà nước Đây cũng có thể coi là hoạt động quản
lý hành chính – kinh tế trong lĩnh vực thuế
Cơ chế quản lý thuế:
Cơ chế là tổng thể các yếu tố có quan hệ hữu cơ, tác động vào sự vận hành của một hệ thống nhất định theo những mục tiêu nhất định Về cơ bản, cơ chế bao gồm những yếu tố thể hiện những tác động điều khiển của chủ thể quản lý đối với
hệ thống như: hình thức, phương pháp, công cụ, và những yếu tố tự phát tác động theo quy luật vận hành khách quan của hệ thống
Cơ chế quản lý thuế có nội hàm hẹp hơn bởi nó là chỉ là quy định của cơ quan thuế đến quá trình hoạt động của hệ thống thuế nhằm đạt đến một mục tiêu, yêu cầu cụ thể của Nhà nước về huy động nguồn lực tài chính, và điều tiết kinh tế
Vì thế, hầu hết các nhà kinh tế học đều đồng tình với quan điểm: Cơ chế quản lý thuế là tổng thể các phương thức, các quy trình quản lý của cơ quan thuế
Trang 13tác động vào hệ thống quản lý thuế theo những mục tiêu ngành thuế đã đặt ra trong
từng thời kỳ nhất định
Trang 141.1.2.2 Mục tiêu và nguyên tắc của quản lý thuế
Với những chức năng, vai trò quan trọng nêu trên của thuế và hệ thống thuế, quản lý thuế trong nền kinh tế quốc dân là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản lý tài chính Nhà nước Công tác quản lý thuế có các mục tiêu cơ bản sau:
Huy động đầy đủ, kịp thời số lượng thu cho ngân sách Nhà nước
Phát huy tốt nhất chức năng của thuế trong nền kinh tế
Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức và cá nhân
Để đạt được những mục tiêu trên, công tác quản lý thuế cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Các cơ
quan, tổ chức và cá nhân đều phải có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế
có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
1.1.2.3 Nội dung của cơ chế quản lý thuế hiện hành của Việt Nam
Gần hai chục năm qua (từ năm 1990 đến nay), hệ thống thuế ở Việt Nam đã qua 3 bước cải cách với mục tiêu là: (1) kích thích mọi thành phần kinh tế tăng cường đầu tư phát triển; (2) là nguồn thu cơ bản của NSNN; (3) góp phần thực hiện công bằng xã hội và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, (4) nâng cao tính pháp lý của thuế và làm cho thuế trở thành công cụ cơ bản của Nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Bước I (1990 - 1998): Tổ chức bộ máy theo cơ chế quản lý thuế theo
đối tượng, kết hợp với quản lý theo sắc thuế
Bước II (1999 - 2004): Tổ chức bộ máy theo cơ chế quản lý thuế tự
tính, tự khai, và nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế
Bước III (2004 đến nay): Quản lý thuế theo cơ chế người nộp thuế tự tính, tự kê khai thuế, tự nộp thuế (cơ chế TKN)
Trang 15Hiện nay, công tác quản lý thuế ở nước ta được thực hiện theo các quy định của Luật Quản lý thuế được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 Luật này quy định việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật
Đối tƣợng áp dụng:
(i) Người nộp thuế:
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà
nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay
người nộp thuế
(ii) Cơ quan quản lý thuế:
- Cơ quan thuế gồm Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế;
- Cơ quan hải quan gồm Tổng cục hải quan, Cục hải quan, Chi cục hải quan
(iii) Công chức quản lý thuế gồm công chức thuế, công chức hải quan
(iv) Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế
Tổ chức thực hiện quản lý thuế theo chức năng:
Trong quá trình cải cách quản lý thuế và hội nhập quốc tế về thuế, quản lý thuế của Việt Nam đã chuyển đổi từ hệ thống tự tính - tự khai và nộp theo thông báo sang hệ thống tự tính - tự khai - tự nộp thuế trên cơ sở tăng cường dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế và thanh tra thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế Để thực hiện tốt cơ chế quản lý này, cơ quan thuế tổ chức thực hiện quản lý thuế theo chức năng, cụ thể:
(i) Hỗ trợ và tuyên truyền ĐTNT:
Là bộ phận tiếp nhận hồ sơ thuế và tiến hành các thủ tục hướng dẫn, trả lời, giải đáp các vướng mắc của ĐTNT trong quá trình thực hiện các quy định hiện hành về chính sách thuế, phí và lệ phí thông qua các hình thức trả lời tại cơ quan thuế, qua điện thoại hoặc bằng văn bản theo đúng hướng dẫn về nghiệp vụ tại các quy trình do Tổng cục Thuế ban hành về việc hướng dẫn thực hiện công tác hỗ trợ ĐTNT trong thẩm quyền
Trang 16Chủ trì phối hợp với các Bộ phận chức năng tổ chức tiếp xúc thông qua các hình thức hội nghị, hội thảo, tập huấn để phổ biến, hướng dẫn chính sách và thủ tục
về thuế cho ĐTNT thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp
Lưu trữ và tổ chức phổ biến chính sách thuế mới, thực hiện việc đào tạo và đào tạo tại chỗ về chuyên môn nghiệp vụ đối với lực lượng cán bộ chuyên trách của đơn vị Lưu trữ và thông báo các nội dung hướng dẫn chính sách thuế đã tiến hành cho ĐTNT đến các bộ phận chức năng nhằm thống nhất các biện pháp thi hành Pháp luật về Thuế trong toàn ngành
(ii) Xử lý tờ khai và tổng hợp:
Thực hiện việc tiếp nhận tờ khai, hồ sơ thuế của ĐTNT, và tiến hành xử lý trong thẩm quyền hoặc chuyển cho các bộ phận chức năng theo phân công, phân cấp, và hoặc theo qui định tại quy trình
Căn cứ vào số liệu kê khai thuế của ĐTNT tiến hành các bước theo quy trình
xử lý thông tin về số thuế phát sinh của ĐTNT nhằm mục đích quản trị dữ liệu thuế
theo yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ
Theo dõi, giám sát việc xử lý thông tin về số thuế phát sinh theo kê khai của ĐTNT, trên cơ sở dữ liệu đó tiến hành phân tích, đánh giá chung tình hình thực hiện của từng ĐTNT nhằm mục đích thu thuế, hoàn thuế,… theo yêu cầu tại hồ sơ thuế của ĐTNT và cũng như các bộ phận chức năng có liên quan của ngành
Xây dựng dự toán thu và tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện dự toán thu theo qui định
(iii) Thu nợ và cưỡng chế thuế:
Phân tích dữ liệu – thông tin về tình trạng thuế trên hồ sơ thuế của ĐTNT, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp xử lý, phối hợp thực hiện nhằm mục tiêu đôn đốc thu nợ, cưỡng chế về Thuế đối với các ĐTNT không tuân thủ Pháp luật Thuế một cách có hiệu quả
Tổ chức thực hiện quy trình theo dõi, đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế theo yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, và theo thực tiễn của việc áp dụng cơ chế tự khai,
tự nộp trong phạm vi phân cấp, phân quyền
Trang 17Giúp Lãnh đạo xây dựng các biện pháp, cơ chế phối hợp, cũng như hành lang pháp lý về việc thực thi quyền hành pháp về thuế - mà cụ thể là quyền đôn đốc thu nợ và cưỡng chế về Thuế
(iv) Thanh tra, kiểm tra:
Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm đối với các ĐTNT trên cơ sở thông tin Thuế đã được thu thập, và phân tích theo quy trình, và đồng thời dựa trên
cơ sở nguồn lực của bộ phận để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
Theo kế hoạch đã được lãnh đạo duyệt, Bộ phận thanh tra, kiểm tra (có thể) phối hợp với các Phòng chức năng của Cục, cũng như các cơ quan ban ngành tại địa phương để thực hiện việc thanh tra, kiểm tra ĐTNT theo quy trình thanh tra, kiểm tra Thuế do Tổng cục Thuế ban hành nhằm tránh chồng chéo trong công tác thanh tra, kiểm tra
Thực hiện thanh tra, kiểm tra tại cơ sở theo quyết định về thanh tra, kiểm tra đúng với các qui định tại quy trình thanh tra, kiểm tra do Tổng cục Thuế ban hành
Lập hồ sơ trình cấp có thẩm quyền chỉ đạo giải quyết hoặc đề nghị cơ quan chức năng khởi tố theo quy định của Pháp luật đối với các ĐTNT vi phạm nghiêm trọng Pháp luật Thuế
Tiếp nhận, kiểm tra, phân loại hồ sơ đề nghị hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế của các ĐTNT, dự thảo quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhập số thuế được hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế theo quyết định
Thực hiện xác minh và trả lời kết quả xác minh hoá đơn theo quy định Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế theo thẩm quyền
1.2 QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp và quy trình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế
Trang 18Mặc dù cho tới nay, hầu hết các quốc gia đều áp dụng việc đánh thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng cơ sở lý thuyết cũng như tên gọi của loại thuế này vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau
Ở Việt Nam, trước đây, năm 1951, thuế đánh vào lợi tức của các doanh nghiệp nằm trong thuế công-thương nghiệp chung với thuế môn bài, thuế buôn chuyến,… và lúc đó được đặt tên là Thuế thực lãi với thuế suất lũy tiến từ 5% đến 27% Sau đó, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VIII 06/1990, Luật Thuế lợi tức được thông qua
Tại kỳ họp IX ngày 10/05/1997, thay cho Luật Thuế lợi tức bị bãi bỏ là Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 Kể từ đó đến nay, qua hơn 9 năm thực hiện, loại thuế này tác động không nhỏ tới đời sống kinh tế - xã hội, không chỉ mang lại số thu tăng hơn nhiều so với Thuế lợi tức trước đây mà còn góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước
1.2.1.1 Nội dung cơ bản của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng
từ 01/01/2004 đến 31/12/2008
Tại kỳ họp III của Quốc hội khóa XI, Luật Thuế TNDN sửa đổi đã được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2004 Nội dung của luật thuế này bao gồm:
Về phạm vi điều chỉnh, đối tƣợng nộp thuế:
Theo điều 1, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ (gọi là
cơ sở kinh doanh) có thu nhập đều phải nộp thuế TNDN
Đối tượng không thuộc diện nộp thuế TNDN: Hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác, hợp tác xã sant xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản không thuộc diện nộp thuế TNDN (trừ hộ gia đình và cá nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn có thu nhập cao theo quy định của Chính phủ)
Về căn cứ tính thuế:
Theo điều 5 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, căn cứ tính thuế TNDN
là thu nhập chịu thuế và thuế suất
Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế x Thuế suất
Trang 19-
Chi phí hợp
lý trong kỳ tính thuế
+
Thu nhập chịu thuế khác trong
kỳ tính thuế
Thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế TNDN bao gồm thu nhập từ hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác, kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài Thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
Thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ bằng doanh thu trừ đi các khoản chi phí hợp lý có liên quan đến thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế khác bao gồm thu nhập từ chênh lệch mua, bán chứng khoán, quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyền quyền thuê đất; lãi từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản, tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; kết dư cuối năm các khoản dự phòng; thu các khoản nợ khó đòi đã xóa sổ nay đòi được; thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ; các khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót mới phát hiện ra và các khoản thu nhập khác
Doanh thu: Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng,
tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng
Thuế suất: Thuế suất thuế TNDN đối với cơ sở kinh doanh là 28%; đối với
cơ sở kinh doanh tiến hành tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác từ 28% đến 50%
Các khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế:
Chi phí khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh Các TSCĐ được trích khấu hao hợp lý phải đáp ứng các điều kiện sau:
- TSCĐ sử dụng vào sản xuất, kinh doanh
- TSCĐ đó phải có đầy đủ hóa đơn chứng từ và giấy từ hợp pháp chứng minh TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
Trang 20 Chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ; sáng chế, cải tiến; y tế; đào tạo lao động theo chế độ quy định; tài trợ cho giáo dục
Chi phí mua ngoài: điện, nước, điện thoại; sửa chữa TSCĐ;tiền thuê TSCĐ; kiểm toán; dịch vụ pháp lý; thiết kế, xác lập và bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa; bảo hiểm tài sản; chi trả tiền sử dụng tài liệu kỹ thuật, bằng sang chế, giấy phép công nghệ không thuộc TSCĐ; dịch vụ kỹ thuật và dịch vụ mua ngoài khác
Các khoản chi cho lao động nữ; chi bảo hộ lao động hoặc trang phục; chi bảo vệ cơ sở kinh doanh; chi công tác phí; trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; kinh phí công đoàn; chi phí hỗ trợ cho hoạt động của Đảng, đoàn thể tại
cơ sở kinh doanh;…
Chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế khác Chi trả lãi tiền vay của các đối tượng khác theo lãi xuất thực tế nhưng không quá 1,2 lần mức lãi xuất cảu ngân hàng thương mại có quan hệ giao dịch với cơ sở kinh doanh tại thời điểm vay
Trích các khoản dự phòng theo chế độ quy định
Trợ cấp thôi việc cho người lao động
Chi phí về tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ
Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và các chi phí khác được khống chế tối đa không quá 10% tổng số chi phí
Trang 21 Miễn thuế, giảm thuế:
Dự án đầu tư thành lập sơ sở kinh doanh mới thuộc ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư, hợp tác xã, cơ sở kinh doanh di chuyển đến địa bàn khuyến khích đầu tư được áp dụng thuế suất 20%, 15%, 10%
Cơ sở kinh doanh đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất được miễn thuế thu nhập cho phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mang lại tối
đa là 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa là 7 năm tiếp theo
Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập của cơ sở kinh doanh như sau:
- Phần thu nhập từ việc thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam
- Phần thu nhập từ việc thực hiện các hợp đồng dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp
- Phần thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của cơ sở kinh doanh dành riêng cho lao động là người tàn tật
- Phần thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội
- Thu nhập của hợp tác xã, hộ cá thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập thấp theo quy định của Chính phủ
Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà đầu tư góp vốn bằng bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật; giảm thuế cho phần thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng giá trị phần vốn của nhà đầu tư nước ngoài cho doanh nghiệp Việt Nam
Trang 22với thu nhập từ hoạt động dạy nghề danh riêng cho người dân tộc thiểu số
1.2.1.2 Những nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng từ 01/01/2009
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp mới, được Quốc hội thông qua vào đầu tháng 6/2008 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2009 giảm mức thuế suất chung để giúp doanh nghiệp tăng nguồn lực tài chính, tăng tích lũy, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, Cụ thể, Luật Thuế TNDN 2008 có một số điểm mới như sau:
Về phạm vi điều chỉnh, đối tƣợng nộp thuế:
Đối tượng nộp thuế TNDN trong Luật Thuế TNDN 2008 chỉ còn là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức được lập theo Luật Hợp tác xã, các đơn vị sự nghiệp được thành lập hợp pháp ở Việt Nam và tổ chức khác
có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng dẫn của Chính phủ
Riêng đối tượng là cá nhân, hộ kinh doanh đang nộp thuế TNDN sẽ được chuyển sang nộp thuế theo Luật thuế Thu nhập cá nhân cũng có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009
Về thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế và thu nhập tính thuế:
Luật Thuế TNDN năm 2008 cũng có cách xác định thu nhập chịu thuế giống như Luật Thuế TNDN 2003, tuy nhiên phần thu nhập khác trong thu nhập chịu thuế
có một số bổ sung bao gồm:
(i) thu nhập từ chuyển nhượng vốn, quy định này có phạm vi rộng hơn quy
định về thu nhập từ chênh lệch mua, bán chứng khoán như trước đây Với quy định này, các thu nhập từ việc chuyển nhượng vốn khác không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Chứng khoán cũng bị điều chỉnh như các trường hợp chuyển nhượng vốn theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư;
(ii) thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, việc bổ sung này là phù hợp
với thực tế thị trường và hoạt động kinh doanh bất động sản, xác định rõ nguồn thu
Trang 23từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nguồn thu từ kinh doanh nhà trên đất
So với khoản 2, điều 19 Luật Thuế TNDN 2003, thì thu nhập được miễn thuế trong Luật Thuế TNDN 2008 lần này được xác định cụ thể hơn ở điều 4 như thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản của các hợp tác xã, hoặc có ứng dụng kỹ thuật nông nghiệp, bổ sung một số đối tượng chính sách như người sau cai nghiện, người nhiễm HIV cũng thuộc diện miễn giảm,
Về các khoản chi phí được trừ và các khoản chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:
Một trong những điểm mới là Luật Thuế TNDN 2008 đã áp dụng nguyên tắc loại trừ khi xác định các khoản chi phí của doanh nghiệp Các khoản chi chỉ cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo khoản 1, điều 9 là chi phí thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định Đồng thời, các khoản chi không được trừ khi tính thuế TNDN cũng được xác định cụ thể trong khoản 2, điều 9
Cách quy định này là phù hợp với thực tiễn, đề cao quyền tự chủ trong kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp tự đối chiếu để kê khai theo quy định của Luật Quản lý thuế, pháp luật về kế toán, kiểm toán nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc cơ bản và tính tuân thủ pháp luật
ưu đãi 15%, chỉ còn mức thuế suất ưu đãi là 10%, 20%
Về cách xử lý đối với các trường hợp đang được hưởng ưu đãi theo Luật Thuế TNDN 2003:
Nhằm bảo đảm quyền lợi cho các doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi theo Luật Thuế TNDN 2003, luật có quy định vẫn duy trì và bảo đảm các ưu đãi, trong trường hợp các ưu đãi của Luật Thuế TNDN 2008 cao hơn thì áp dụng cho thời gian còn lại Riêng những trường hợp được miễn thuế, giảm thuế nhưng chưa
có thu nhập chịu thuế thì việc miễn giảm thuế được tính theo quy định của Luật Thuế TNDN 2008 và từ khi luật này có hiệu lực thi hành
Trang 241.2.1.3 Quy định về đăng ký, kê khai, nộp và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp
Đăng ký thuế thu nhập doanh nghiệp:
Các cơ sở kinh doanh phải có trách nhiệm đăng ký thuế TNDN cùng với đăng ký thuế giá trị gia tăng Các cơ sở kinh doanh khi đăng ký thuế phải khai rõ cả các đơn vị trực thuộc hạch toán kinh doanh độc lập và các đơn vị hạch toán phụ thuộc báo sổ
Các đơn vị hạch toán độc lập có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế riêng Các đơn vị hạch toán báo sổ phụ thuộc cơ sở kinh doanh đăng ký thuế địa phương không có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế tại địa phương Cơ sở kinh đoanh chính có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế cho hoạt động kinh doanh của mình và các đơn vị hạch toán phụ thuộc
Kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp:
Hằng năm, cơ sở kinh doanh căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ năm trước và khả năng của năm tiếp theo tự kê khai doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế, số thuế phải nộp cả năm, có chia ra từng quý theo mẫu của
cơ quan thuế và nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm nhất là 25/01 Nếu tình hình sản xuất, kinh doanh trong năm có sự thay đổi lớn thì cơ sở kinh doanh phải báo cáo cơ quan thuế trực tiếp quản lý để điều chỉnh số thuế tạm nộp cả năm
và từng quý Trong trường hợp cơ quan thuế kiểm tra phát hiện việc kê khai thuế của cơ sở kinh doanh chưa phù hợp thì có quyền ấn định số thuế tạm nộp cả năm và từng quý
Đối với cơ sở kinh doanh chưa thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ thì số thuế phải nộp hàng tháng được tính theo chế độ khoán doanh thu và tỷ lệ thu nhập chịu thuế phù hợp với từng ngành nghề do cơ quan thuế quy định
Nộp thuế:
Cơ sở kinh doanh nộp thuế hàng quý theo bản tự kê khai hoặc theo số thuế
cơ quan thuế ấn định đầy đủ, đúng hạn vào NSNN Thời hạn nộp thuế được ghi trong thông báo hàng quý, chậm nhất là ngày cuối quý
Đối với cơ sở kinh doanh chưa thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ phải nộp thuế vào NSNN hàng tháng theo thông báo của cơ quan thuế Thời hạn
Trang 25 Quyết toán thuế:
Cơ sở kinh doanh hằng năm phải quyết toán thuế với cơ quan thuế Năm quyết toán thuế được tính theo năm dương lịch Trường hợp cơ sở kinh doanh được
áp dụng năm tài chính khác thì được quyết toán theo năm tài chính đó Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính, cơ sở kinh doanh phải nộp báo cáo quyết toán thuế cho cơ quan thuế và nộp đầy đủ số thuế còn thiếu vào NSNN trong thời hạn 10 ngày, kể tử ngày nộp báo cáo quyết toán;
nếu nộp thừa thì được trừ vào số thuế kỳ tiếp theo
1.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.2.1 Khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư nước ngoài là việc các nhà đầu tư bỏ vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội
Xét theo chủ đầu tư, đầu tư nước ngoài bao gồm 2 dòng vốn chính:
Dòng vốn chính thức (Official Flows):
- Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA-Official Development Assistance): là
những nguồn tài chính chuyển tới các nước đang phát triển mà được cung cấp bởi các tổ chức chính phủ (trung ương và địa phương) hoặc bởi cơ quan điều hành của các tổ chức này, có mục tiêu chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển, mang tính chất ưu đãi và có yếu tố không hoàn lại ≥25%
- Việc trợ chính thức (OA - Official Aid): gồm các luồng tài chính thỏa
mãn tất cả các điều kiện của ODA, trừ việc luồng tài chính này có đích đến là các nền kinh tế chuyển đổi
- Các dòng vốn chính thức khác (OOFs - Other Official Flows): là những
giao dịch thuộc khu vực chính thức nhưng không thỏa mãn những tiêu chí của ODA/OA
Trang 26 Dòng vốn tư nhân (Private Flows):
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment): là hình
thức đầu tư trong đó có sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào
từ nước đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập và kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi
- Đầu tư chứng khoán nước ngoài (FPI - Foreign Porfolio Investment): là
hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác hoặc thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư
- Tín dụng tư nhân quốc tế (IPLs – International Private Loans): là hình
thức đầu tư trong đó tổ chức hoặc cá nhân ở một nước cho các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế ở một nước khác vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền cho vay
So với các hình thức đầu tư nước ngoài khác thì FDI có nhiều ưu điểm nổi
trội hơn:
Một là, FDI là nguồn vốn đầu tư dài hạn, tồn tại chủ yếu dưới hình thức
công nghệ, đất đai, nhà xưởng,… nên có độ ổn định cao hơn rất nhiều so với FPI (đầu tư chứng khoán nước ngoài) Vì vậy, FDI ít khả năng gây sốc cho nền kinh tế Lịch sử kinh tế - tài chính cho thấy nguyên nhân của khủng hoảng thường là do nợ nước ngoài quá nhiều, hoặc huy động vốn nước ngoài qua thị trường chứng khoán nhiều mà không có cơ chế đảm bảo an toàn
Hai là, FDI chủ yếu là vốn đầu tư tư nhân, các chủ đầu tư tự tiến hành hoạt
động đầu tư và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động vì vậy, hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI thường cao hơn các nguồn vốn khác Đồng thời, FDI không để lại gánh nặng nợ nần cho ngân sách quốc gia nhận đầu tư như vay vốn thương mại, cũng không gây ra các sức ép về kinh tế, chính trị, xã hội như ODA
Ba là, đi kèm với nguồn vốn này, các nhà đầu tư còn đưa vào nước nhận đầu
tư công nghệ sản xuất tiên tiến Đây cũng là một yếu tố mà các nước đang và kém phát triển rất cần cho quá trình phát triển của mình
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Trang 27Sự phân biệt các hình thức đầu tư khác nhau của FDI là rất quan trọng vì những hình thức khác nhau của FDI phản ứng khác nhau với chính sách thuế của nước tiếp nhận đầu tư Theo Luật Đầu tư (2005), ở Việt Nam có các hình thức FDI như sau:
Tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
Đầu tư theo hình thức hợp đồng BBC (hợp tác kinh doanh), hợp đồng BOT (xây dựng-kinh doanh-chuyển giao), hợp đồng BTO (xây dựng-chuyển giao-kinh doanh) và hợp đồng BT (xây dựng-chuyển giao)
Đầu tư phát triển kinh doanh
Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia hoạt động đầu tư
Đầu tư thực hiện việc mua lại và sáp nhập doanh nghiệp
Các hình thức đầu tư trực tiếp khác
1.2.2.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tại các nước đang phát triển
Nhìn chung, FDI mang lại lợi ích không chỉ cho nhà đầu tư nước ngoài mà
cả đối với nước tiếp nhận đầu tư Riêng đối với các nước đang phát triển, hầu hết đều là nước tiếp nhận đầu tư, thì FDI lại càng có vai trò quan trọng hơn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện ở những mặt sau:
Những lợi ích đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại:
Trước hết, FDI là nguồn bổ sung vốn quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tại các nước đang phát triển, GDP và GDP tính theo đầu người còn thấp
nên khả năng tích lũy vốn trong nội bộ nền kinh tế rất hạn chế, nhu cầu chi Ngân sách thường vượt xa khả năng thu, dẫn đến thâm hụt Ngân sách, nợ quốc gia ngày càng tăng Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến trên thế giới lại rất lớn Vì thế, việc mở cửa tiếp nhận FDI là cần thiết để giải quyết bài toán về vốn đầu tư cho nền kinh tế
Hai là, FDI tạo điều kiện cho các nước đang phát triển tiếp cận công nghệ sản xuất tiên tiến, kỹ năng quản lý hiện đại Ngoài vốn thì công nghệ là yếu tố
Trang 28Ba là, FDI mang tới cho các nước đang phát triển cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, củng cố và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào kinh tế khu vực và quốc tế Vai trò này của FDI thể hiện rất rõ
nét ở các nước áp dụng chính sách FDI hướng vào xuất khẩu Sự xuất hiện của các
dự án FDI đi kèm với công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại đã giúp các nước nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu Bên cạnh đó, thông qua các mối quan hệ sẵn có của các nhà đầu tư nước ngoài, hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dễ dàng hơn trong việc tiếp cận thị trường thế giới Như vậy, FDI vừa làm tăng năng lực xuất khẩu, vừa mở rộng thị trường xuất khẩu cho các nước nhận đầu tư
Thêm vào đó, hoạt động FDI còn góp phần làm phong phú, đa dạng và sâu sắc các quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển Chính các cam kết đảm bảo cho hoạt động FDI và hiệu quả của các dự án đầu tư là cơ sở để các nước đang phát triển thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác (ODA, FPI, tín dụng quốc tế,…) Từ đó, nền kinh tế của nước nhận đầu tư dần dần tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới Điều này tạo thuận lợi cho các nước tham gia vào các hiệp định hợp tác kinh tế song phương và đa phương
Bốn là, FDI tác động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
Ngày nay, FDI chủ yếu được tiến hành bởi các công ty xuyên quốc gia và thường tập trung vào các ngành công nghiệp tiêu dùng và dịch vụ, vì thế đáp ứng được nhu cầu phát triển các ngành này ở các nước đang phát triển Nền kinh tế các nước nhận đầu tư chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ
Năm là, FDI góp phần giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động tại các nước đang phát triển Các doanh nghiệp FDI ngày càng
Trang 29tăng đã góp phần nâng cao tổng cầu về lao động, giải quyết một lượng lao động dôi
dư lớn cho xã hội; đồng thời tạo ra một đội ngũ các nhà quản lý bản địa có nghiệp
vụ và lượng lớn công nhân có tay nghề cao
Sáu là, FDI tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách cho các nước đang phát triển, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nguồn thu do FDI mang lại
không chỉ là tiền thuế mà còn là các loại phí và lệ phí, tiền thuê đất,…
Những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Ngoài những tác động tích cực kể trên, FDI cũng tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực tới nước nhận đầu tư Mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư cần đưa ra những chính sách thích hợp nhằm hạn chế mặt tiêu cực và phát huy mặt tích cực của hoạt động FDI
Trước hết là vấn đề chuyển giá Chuyển giá là việc xác định giá chuyển
giao giữa các công ty có mối quan hệ liên kết với nhau mà ở đó các mức giá không theo sự xác định của giá thị trường, mà thường được xác định một cách chủ quan nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của tập đoàn đa quốc gia đó Cụ thể, chuyển giá thường diễn ra nhằm các mục đích sau:
- Giảm nghĩa vụ nộp thuế bằng cách sử dụng giá chuyển giao để chuyển thu nhập ở nước có thuế cao sang nước có thuế thấp
- Chuyển vốn và các quỹ ra khỏi một quốc gia khi có sự kiểm soát ngoại tệ
ở quốc gia đó
- Chuyển lợi nhuận giữa các công ty con khi việc chuyển giao tài chính qua hình thức phân chia lợi tức cổ phần bị thu hẹp hoặc nới lỏng bởi chính sách của nước nhận đầu tư
- Giảm thuế quan phải trả khi chính phủ nước nhập khẩu áp dụng biểu thuế quan tính theo % giá nhập khẩu
Hai là nguy cơ tiếp nhận công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Công nghệ lạc hậu sẽ gây ô nhiễm môi trường, biến
các nước kém phát triển trở thành những bãi rác thải công nghệ Thêm vào đó, công nghệ lạc hậu còn làm giảm hiệu quả sản xuất, gây lãng phí các nguồn lực, nhất là tài nguyên thiên nhiên của nước nhận đầu tư
Trang 30Năm là những nguy cơ bị phụ thuộc về kinh tế và chính trị Do những
thành công trong hoạt động kinh doanh, những doanh nghiệp FDI ngày càng có ảnh hưởng lớn trong nền kinh tế và trong đời sống xã hội, khiến Chính phủ có thể phải thay đổi hoặc hy sinh một số mục tiêu chính sách cụ thể nhằm tôn trọng những lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài
1.2.2.3 Những nhân tố cơ bản trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư ở nước ngoài, nhà đầu tư sẽ phải cân nhắc đến các điều kiện sản xuất, kinh doanh ở quốc gia đó xem có thuận lợi hay không, nghĩa là cân nhắc đến những yếu tố nội tại của nước nhận đầu tư Các yếu tố này được chia thành 2 nhóm: khung chính sách và môi trường kinh tế
(i) Khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư:
Bao gồm các qui định liên quan trực tiếp đến FDI và các qui định có ảnh hưởng gián tiếp đến FDI
Các qui định của luật pháp và chính sách liên quan trực tiếp đến FDI: các qui định về việc thành lập và hoạt động doanh nghiệp FDI, các tiêu chuẩn đối xử với FDI (phân biệt đối xử hay không giữa các nhà đầu tư có quốc tịch khác nhau) và cơ chế hoạt động của thị trường (các qui định về cạnh tranh, độc quyền, thông tin thị trường,…) Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động của các
Trang 31 Chính sách thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa
chọn địa điểm đầu tư vì FDI gắn với sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Ví dụ các quốc gia theo đuổi chiến lược phát triển sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu sẽ thu hút được nhiều FDI vào các ngành sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng
Chính sách tiền tệ và chính sách thuế có ảnh hưởng lớn đến sự ổn
định của nền kinh tế Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến tốc độ lạm phát, khả năng cân bằng ngân sách của Nhà nước và lãi suất trên thị trường Còn chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành sản phẩm và thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài
Chính sách tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá tài sản ở nước nhận
đầu tư, giá trị các khoản lợi nhuận của các chủ đầu tư thu được và năng lực cạnh tranh của các hàng hóa xuất khẩu Một nước theo đuổi chính sách đồng tiền quốc gia yếu sẽ có lợi trong việc thu hút FDI và xuất khẩu hàng hóa
Các qui định trong các hiệp định quốc tế mà nước nhận đầu tư tham
gia ký kết Các qui định này thường tạo thuận lợi cho FDI vì nó bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư
Các chính sách khác như chính sách liên quan đến cơ cấu ngành và
các vùng lãnh thổ, chính sách lao động, chính sách giáo dục - đào tạo,…
Nhìn chung, các nhà đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những nước có hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và có thể dự đoán được Điều này đảm bảo sự an toàn cho vốn đầu tư
(ii) Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế:
Tùy động cơ của nhà đầu tư mà có thể có các yếu tố sau ảnh hưởng đến dòng vốn FDI:
Với động cơ tìm kiếm thị trường, các nhà đầu tư sẽ quan tâm tới các
yếu tố như quy mô thị trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng
Trang 32của nền kinh tế; khả năng tiếp cận thị trường và khu vực và thế giới; sở thích của người tiêu dùng và cơ cấu thị trường
Với động cơ tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản, các nhà đầu tư
sẽ quan tâm đến tài nguyên thiên nhiên; lao động chưa qua đào tạo với giá rẻ; lao động có tay nghề; công nghệ, phát minh, sang chế và các tài sản do doanh nghiệp sáng tạo (thương hiệu, bản quyền sử dụng,…); cơ sở hạ tầng phần cứng (cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới viễn thông,…)
Với động cơ tìm kiếm hiệu quả, các nhà đầu tư sẽ chú trọng đến chi
phí mua sắm các nguồn tài nguyên; chi phí lao động; chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc; chi phí mau bán thành phẩm; các hiệp định hội nhập khu vực tạo thuận lợi cho việc thành lập mạng lưới các doanh nghiệp toàn khu vực;…
1.2.3 Sự cần thiết của hoạt động quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Như đã trình bày ở trên, nguồn vốn FDI có vai trò to lớn trong nền kinh tế, tuy nhiên nó cũng đồng thời tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực Là một nhân tố quan trọng trong khung chính sách của nước tiếp nhận đầu tư, hoạt động quản lý thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng đối với khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Mặt khác, các nhà ĐTNN trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi,
do đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án ĐTNN nhất
Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà ĐTNN chỉ đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành, lĩnh vực
có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các nhà ĐTNN
Trang 33Với các quy định về ưa đãi thuế, miễn thuế, giảm thuế ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư của từng ngành, khu vực, thuế TNDN giúp tránh tình trạng mất cân đối đầu tư giữa các ngành nghề và vùng lãnh thổ, hướng dòng vốn đầu tư vào những ngành nghề, vùng lãnh thổ cần được quan tâm phát triển theo đúng đường lối phát triển kinh tế của đất nước
(ii) Giảm thiểu các hành vi gian lận thuế TNDN, chống thất thu thuế cho NSNN:
Để làm giảm số thuế TNDN phải nộp, hiện nay các doanh nghiệp sử dụng rất nhiều các thủ đoạn khác nhau Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với những đặc điểm riêng có về nguồn phát sinh thu nhập và nơi cư trú thì các hành vi này lại càng tinh vi gian lận thuế càng tinh vi và khó phát hiện hơn
Vì thế, công tác quản lý thuế TNDN đối với loại hình doanh nghiệp này lại càng cần được quan tâm, chú trọng tăng cường hơn
(iii) Tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư và khuyến khích tái đầu tư
mở rộng sản xuất, kinh doanh trước tình hình cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ngày càng lan rộng:
Trên góc độ kinh tế vi mô, thuế TNDN ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài và vì thế ảnh hưởng đến sự phân bố vốn đầu tư vào từng ngành, khu vực Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô thì thuế TNDN ảnh hưởng đến tiết kiệm của khu vực tư nhân của nền kinh tế Mức thuế suất hợp lý, ưu đãi sẽ giúp tăng tiết kiệm của khu vực tư nhân và tăng đầu tư từ khu vực này Nhìn chung, các nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn nước tiếp nhận đầu tư có thuế suất thuế TNDN thấp
Mặt khác, tính minh bạch của hệ thống quản lý thuế TNDN và tính thuận tiện của các thủ tục hành chính thuế cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chi phí và cơ hội đầu tư:
- Thủ tục hành chính thuế rườm rà, không rõ ràng cũng khiến các nhà đầu
tư lo ngại khi lựa chọn địa điểm đầu tư
- Tham nhũng ở nước nhận đầu tư sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư nước
ngoài Tham nhũng khiến cho chi phí đầu tư và chi phí kinh doanh tăng lên và làm cho các cơ hội đầu tư trở nên không chắc chắn
Trang 34Đặc biệt, trong tình hình hiện nay nền kinh tế thế giới đang bị khủng hoảng nặng nề, thì việc tăng cường các ưu đãi đầu tư, nâng cao tính minh bạch của môi trường đầu tư trong đó có hệ thống thuế TNDN là hết sức cần thiết
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 1.3.1 Kinh nghiệm của Anh
Trước 1965, thuế thu nhập được áp dụng chung cho cả các cá nhân và doanh nghiệp, ngoài ra thuế lợi tức đựơc áp dụng riêng cho doanh nghiệp Đạo luật Tài chính 1965 được ban hành 01/01/1965 đã tác riêng thuế thu nhập doanh nghiệp ra khỏi thuế thu nhập chung trước đó
Vào 06/04/1996, cơ quan thuế của Anh đã đưa vào áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế đối với thuế thu nhập và thuế lợi tức từ chuyển nhượng tài sản, tác động tới 8 triệu đối tượng kinh doanh cá thể và có thu nhập cao, 700.000 tổ chức nhiều đối tượng và 300.000 quĩ tín thác Cơ quan thuế đã thu thêm được 16,5 tỷ bảng thông qua áp dụng hệ thống này vào năm 1999 - 2000 Trong đó 14,4 tỷ bảng
là từ thuế thu nhập cá nhân và bảo hiểm quốc gia và 2,1 tỷ bảng từ lợi tức chuyển nhượng tài sản Thêm 40 tỷ nữa được thu từ các phương pháp khấu trừ trực tiếp trên thu nhập và các hình thức khấu trừ tại nguồn khác
Chế độ này thể hiện một cuộc cải cách về thuế lớn nhất kề từ nhiều thập kỷ trở lại đây Các thay đổi chủ yếu bao gồm:
Kiểm tra trước/nộp sau Nộp và kiểm tra Nộp trước/kiểm tra sau
Cơ sở tính thuế là hỗn hợp thu
nhập của năm trước và năm
hiện hnh
Cơ sở tính thuế Của tất cả các nguồn thu
trong năm hiện hành Tính riêng thuế đối với từng
loại thu nhập
Tính thuế Tính chung thuế cho tất cả
Các loại thu nhập
Có nhiều thời hạn nộp thuế áp
dụng cho các loại thu nhập
khác nhau
Thời hạn nộp thuế Chỉ có một thời hạn nộp
thuế cho tất cả các loại thu nhập
Không tự động có quyền thanh
tra tờ khai
Thanh tra tờ khai Có quyền theo luật
Trang 35Biểu đồ 1 Các cải cách chủ yếu của cơ quan thuế Anh quốc
(Nguồn: http://www.hmrc.gov.uk) Cho dù đã có nhiều thay đổi được thực hiện, cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế vẫn có nhiều tương đồng với hệ thống thuế cũ Tuy nhiên, công tác quản lý thuế ở Anh thể hiện hiệu quả cao hơn nhờ áp dụng cơ chế quản lý rủi ro
Trang 36- Pháp luật không đề cập tới rủi ro về thuế
- Các quy định và quy trình chưa phù hợp với quy định pháp luật
- Các quy định và quy trình không rõ ràng và ĐTNT
và các cán bộ chưa hiểu trách nhiệm của mình
- Các tờ khai đã nộp chưa được xử lý
- Các tờ khai Cục thu xử lý chưa chính xác
- Các số liệu không chính xác được phép chấp nhận
- Các số liệu tạm thời chưa được điều chỉnh so với thực tế
- Tính toán thuế không chính xác
- Máy tính không thể xử lý
Xác định nghĩa vụ thuế
- ĐTNT kê khai không đầy đủ hoặc không chính xác
Xác định thu nhập chịu thuế
và lợi nhuận từ chuyển nhượng tài sản chịu thuế
Xác định nghĩa vụ thuế
Thông báo
về nghĩa vụ
thuế
- Thông báo chưa gửi cho/hay ĐTNT chưa nhận được
- Thông báo không chính xác
- Các hoá đơn ghi nhầm hay phân bổ không chính xác
- Phân chia giữa các quỹ trong Cục thu nội địa
Phân bổ thuế
Trang 371.3.2 Kinh nghiệm của Mỹ
Cơ quan thuế của Mỹ đã thực hiện thành công cơ chế tự kê khai tự nộp thuế nhờ xây dựng được một hệ thống hành thu hiệu quả
Thứ nhất, luật thuế của Mỹ quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của ĐTNT:
Nghĩa vụ của người nộp thuế được quy định cụ thể trong việc xác định thu nhập gộp, các khoản giảm trừ được phép, các khoản được khấu trừ; tính toàn số thuế phải nộp; thông báo các thông tin về thuế một cách đúng hạn và đệ trình việc thanh toán
Quyền của người nộp thuế là được phép sử dụng đại lý kê khai thuế và có quyền khiếu nại về thuế trong trường hợp không đồng ý với quyết định của cơ quan thuế
Thứ hai, Luật thuế Mỹ quy định cho phép cơ quan thuế áp dụng các chế tài
nghiêm khắc để đảm bảo tính tuân thủ của ĐTNT Để đạt được mục tiêu là mức tuân thủ luật đạt 90%, luật thuế quy định các chế tài xử phạt nghiêm khắc trong trường hợp ĐTNT vi phạm các quy định về chế độ tự kê khai, tự nộp thuế như: phạt chậm kê khai, chậm nộp thuế; phạt về sự thiếu chính xác; phạt do kê khai không nghiêm túc và phạt tù
Thứ ba, cơ quan thuế áp dụng nhiều biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi
và khuyến khích người nộp thuế tự kê khai, tự nộp thuế Cục thu nội địa Mỹ (IRS)
đã sử dụng rộng rãi các biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích ĐTNT tự kê khai, tự nộp thuế, đặc biệt với chiến dịch “ Sự tuân thủ năm 2000” vào năm 1992 với mục tiêu vào năm 2000, nước Mỹ đạt mức tuân thủ từ 90% trở lên Thực hiện chiến dịch này, IRS đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT, ngoài ra chính sách thuế và thủ tục chấp hành thuế cũng được nghiên cứu và sửa đổi theo hướng đơn giản, minh bạch đối với các ĐTNT
Thứ tư, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra kiểm tra của cơ quan thuế, tăng
cường công tác thanh tra theo lựa chọn Hàng năm, có khoảng 1 – 1,5% số tờ khai thuế thu nhập cá nhân được chọn ra để thanh tra thông qua các chương trình và hệ thống gồm: hệ thống chức năng phân biệt (DIF), chương trình đánh giá tuân thủ luật (TCMP), thanh tra tình trạng tài chính, chương trình chuyên môn hoá thị trường và các hoạt động điều tra tội phạm
Trang 38Thứ năm, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp nhằm khuyến khích sự kiểm
tra giám sát lẫn nhau của các thành viên trong xã hội thông qua việc khuyến khích cung cấp thông tin nhằm phát hiện các trường hợp gian lận về thuế
1.3.3 Quản lý thu thuế Trung Quốc
Bộ máy Tổng cục thuế Trung Quốc được tổ chức theo hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương: Tổng cục thuế - Cục thuế tỉnh, thành phố - Chi cục thuế huyện, quận - Phòng thuế tại các xã Cơ quan thuế được tổ chức gắn với từng địa bàn tỉnh, huyện, xã
Công tác thu thuế được quản lý theo Phương pháp tự kê khai:
- Các đơn vị nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ tự kê khai
và nộp thuế theo quy định của luật thuế Cơ quan thuế không ra thông báo thuế mà chỉ thực hiện việc kiểm tra sau khi đối tượng nộp thuế kê khai Quy định này nhằm nâng cao ý thức tự giác của người nộp thuế Cơ quan thuế dành thời gian và nhân lực cho việc thanh, kiểm tra đối tượng nộp thuế
- Để quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp, quy định các đối tượng nộp thuế thực hiện nộp thuế trực tiếp qua Ngân hàng Không có trường hợp cán bộ thuế thu
hộ tiền thuế để nộp vào NSNN (kể cả hộ nhỏ, cá thể) Các đối tượng nộp thuế phải xuất trình chứng từ thuế đã nộp qua Ngân hàng với cơ quan thuế khi kê khai nộp thuế Đối với các đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, bắt buộc phải mở tài khoản tại Ngân hàng để thực hiện việc thanh toán qua Ngân hàng, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt
- Các doanh nghiệp có trụ sở chính ở địa phương nào thì đăng ký và kê khai nộp thuế ở địa phương đó Các doanh nghiệp có chi nhánh ở địa phương khác phải đăng ký nộp thuế GTGT ở địa phương đó và xuất hoá đơn GTGT riêng
Tổ chức quản lý thu theo chức năng:
- Công tác thanh tra, kiểm tra thuế:
Toàn bộ hệ thống thuế Trung quốc có 3.000 tổ chức, kiểm tra, kiểm soát thuế trực thuộc cơ quan thuế các cấp, với 80.000 cán bộ làm công tác kiểm tra Năm 1996, Quốc vụ viện Trung quốc thông qua phương án cải cách thu thuế trong
đó có biện pháp lấy công tác thanh tra, kiểm tra làm trọng điểm của cải cách quản
lý thu
Trang 39Thời gian đầu cơ quan thuế lập chương trình 3 tháng kiểm tra 1 lần đối tượng nộp thuế, nhưng không thực hiện được vì số lượng đối tượng nộp thuế quá lớn, sau đó thực hiện chọn điểm đối tượng có vướng mắc để kiểm tra Trung quốc
có 14,8 triệu doanh nghiệp và hộ kinh doanh là đối tượng nộp thuế GTGT, thuế TNDN và 60 triệu đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân
Việc sử dụng cán bộ quản lý cũng như cán bộ kiểm tra thu thuế ở Trung quốc đã thực hiện cải cách một bước, từ chỗ sử dụng cán bộ chuyên quản để quản
lý đối tượng, bao gồm nhiều loại thuế chuyển sang sử dụng cán bộ chuyên môn hóa theo từng sắc thuế
- Tuyên truyền thuế:
Do cơ quan thuế thành lập tổ chức chuyên trách về tuyên truyền thuế ở các tỉnh, thành phố Các trung tâm tuyên truyền thuế ngoài nhiệm vụ tuyên truyền chính sách thuế hiện hành còn có nhiệm vụ tuyên truyền cả nội dung về tổ chức quản lý thuế để nâng cao ý thức nộp thuế của người dân, làm cho luật thuế đi vào đời sống kinh tế xã hội
Hàng năm, Tổng cục thuế lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện thống nhất công tác tuyên truyền trong cả nước Kế hoạch tuyên truyền hàng năm được Chính phủ phê duyệt trong đó quy định kế hoạch tuyên truyền bắt buộc trên phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, báo chí Chi phí cho công tác tuyên truyền do NSNN cấp trực tiếp cho các cơ quan tuyên truyền
Nội dung tuyên truyền được xác định hàng năm với trọng điểm, trọng tâm nhất định Trong các biện pháp tuyên truyền có hiệu quả của ngành thuế Trung quốc, đặc biệt có việc đưa nội dung thuế vào chương trình giáo dục phổ thông, nội dung trên cả 2 mặt: tuyên truyền mặt tốt và phê bình mặt xấu
- Tổ chức và hoạt động tư vấn thuế:
Đây là các tổ chức hoạt động dịch vụ tư vấn về thuế, hoạt động theo luật công ty, thực hiện hạch toán kinh doanh và có nghĩa vụ nộp thuế như các doanh nghiệp khác Hiện nay, Trung quốc có khoảng trên 4.100 đơn vị hoạt động tư vấn
về thuế với trên 70.000 nhân viên
Hoạt động của các tổ chức tư vấn về thuế là cung cấp các thông tin cho đối tượng nộp thuế như kinh tế, chính sách và nghiệp vụ thuế, tình hình các đối tượng nộp thuế, tình hình kê khai thuế, làm trung gian giải quyết các vướng mắc giữa cơ
Trang 40quan thuế và đối tượng nộp thuế; hướng dẫn và đào tạo cán bộ doanh nghiệp nắm vững chính sách thuế và nghiệp vụ thuế Phí thu khi thực hiện tư vấn được UBND các tỉnh, thành phố quy định và quản lý khống chế theo mức phí tối đa
1.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra với Việt Nam
Qua tham khảo kinh nghiệm các nước đã áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, đồng thời trên cơ sở thực trạng nước ta, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho quá trình triển khai cơ chế này, tăng hiệu quả và khả năng thành công
Thứ nhất, mặc dù cơ chế tự khai tự nộp đã khẳng định được tính cần thiết và
ưu việt của mình, đồng thời trong điều kiện phát triển ngày nay, áp dụng cơ chế này
là tất yếu, nhưng cũng cần ý thức được rằng cơ chế quản lý này chỉ thích hợp áp dụng với các nhóm ĐTNT có đủ khả năng và điều kiện thực hiện chứ không thể áp dụng theo lối đại trà cho tất cả mọi ĐTNT Do vậy, trong quản lý thu, để đảm bảo tính hiệu quả cần phân loại ĐTNT, các sắc thuế để lựa chọn cách thức quản lý cho phù hợp
Thứ hai, để áp dụng tốt, phát huy lợi ích của cơ chế mới và đảm bảo sự
thành công khi triển khai cơ chế này vào công tác quản lý, cơ quan thuế cần phải có
sự chuẩn bị kỹ lưỡng và sẵn sàng về nhân lực và vật lực Một mặt, tiếp tục hoàn thiện các điều kiện cần thiết cho việc triển khai cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế như điều kiện pháp lý, ý thức tự giác của ĐTNT, trình độ cán bộ thuế, trang thiết bị, Mặt khác, thường xuyên đánh giá kết quả thí điểm để rút ra những kinh nghiệm quản lý phù hợp
Thứ ba, cơ quan thuế cần hoàn thiện các cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho
việc áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế được thuận tiện như: xây dựng hệ thống luật thuế, tờ khai thuế rõ ràng, dễ hiểu, thu hẹp dần các trường hợp miễn giảm thuế; quy định rõ các trường hợp vi phạm và xử phạt vi phạm yêu cầu về thuế, xây dựng quy trình khiếu nại nhằm đảm bảo công bằng cho các ĐTNT; quy định các biện pháp thu nợ, cưỡng chế thuế có hiệu lực và hiệu quả một cách cụ thể, rõ ràng
Thứ tư, cơ quan thuế cần chuyển đổi cơ cấu tổ chức, sắp xếp lại bộ máy theo
chức năng chuyên sâu Đồng thời, đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ cán
bộ theo chức năng