Từ chỗ chỉ đảm nhận một vài công việc đơn giản như xếp dỡ, lưu kho hàng hóa, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thanh toán tiền hàng… theo sự phát triển của thời gian, do đòi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
: TrÇn ThÞ ¸nh TuyÕt : Anh 16
: 44 D : ThS Ph¹m Thanh Hµ
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Trang 2Mục lục
Lời nói đầu 1
Chương I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI GIAO NHẬN VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIAO NHẬN TRONG HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4
I Khái quát chung 4
1 Các định nghĩa về giao nhận và người giao nhận 4
1.1 Định nghĩa về giao nhận 4
1.2 Định nghĩa về người giao nhận 4
2 Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận 5
2.1 Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận 5
2.2 Phân loại dịch vụ giao nhận 6
3 Các dịch vụ của người giao nhận 8
4 Mối quan hệ giữa dịch vụ giao nhận và dịch vụ Logistics 9
II Vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế 11
1 Vai trò của người giao nhận 11
1.1 Giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho hoạt động sản xuất, kinh doanh 11
1.2 Góp phần mở rộng thị trường 12
1.3 Mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội 13
2 Chức năng của người giao nhận 15
2.1 Môi giới hải quan (Customs broker) 15
2.2 Đại lý (Agent) 15
2.3 Người gom hàng (Cargo Consolidator) 16
2.4 Người chuyên chở (Carrier), người kinh doanh cước vận chuyển 16 2.5 Người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Operator) 17
III Điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận tại Việt Nam 19
IV Một số tổ chức liên quan đến hoạt động của người giao nhận 22
Trang 31 Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (Fédération Internationale
des Associations de Transitaires et Assimilés – FIATA) 22
2 Tổ chức Hải quan thế giới – WCO 23
3 Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận các nước ASEAN (AFFA) 23
4 Hiệp hội giao nhận kho vận Việt nam – VIFFAS 24
4.1 Khái quát chung 24
4.2 Mục tiêu hoạt động 24
4.3 Hội viên của hiệp hội 25
Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI GIAO NHẬN 27
I Thực trạng hoạt động của người giao nhận trên thế giới 27
1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của người giao nhận trên thế giới 27
2 Thực trạng hoạt động của người giao nhận trên thế giới 28
II Thực trạng hoạt động của người giao nhận tại Việt Nam 34
1 Vài nét về các giai đoạn phát triển của người giao nhận Việt Nam 34
1.1 Giai đoạn trước đổi mới (Trước năm 1986) 34
1.2 Giai đoạn sau đổi mới (Sau năm 1986) 35
2 Thực trạng hoạt động của người giao nhận tại Việt Nam 37
2.1 Hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận tại Việt Nam 37
2.2 Chất lượng dịch vụ của người giao nhận Việt Nam 51
2.3 Các thị trường chính của người giao nhận Việt nam 54
2.4 Các mặt hàng xuất nhập khẩu chính 55
3 Đánh giá hoạt động của người giao nhận tại Việt Nam 56
3.1 Những thuận lợi 56
3.2 Những thành tựu đã đạt được 59
3.3 Những khó khăn, hạn chế 61
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI GIAO NHẬN VIỆT NAM 73
I Xu hướng phát triển của người giao nhận 73
1 Xu hướng phát triển của người giao nhận hiện nay 73
2 Định hướng phát triển của người giao nhận Việt Nam 74
II Bài học kinh nghiệm của một số nước 74
Trang 41 Bài học kinh nghiệm của Singapore 74
2 Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc 76
3 Chính sách phát triển của Thái Lan 77 III Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của người giao nhận Việt Nam 78
1 Nhóm giải pháp vĩ mô 78
1.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý, có các chính sách hỗ trợ người giao nhận, nâng cao hiệu quả hoạt động của VIFFAS 78 1.2 Tăng cường đầu tư, phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật 80 1.3 Đào tạo nguồn nhân lực 82 1.4 Đẩy mạnh cải cách hành chính, rà soát lại hoạt động của các doanh nghiệp giao nhận 83
2 Nhóm giải pháp vi mô 84
2.1 Tăng cường mở rộng thị trường, thiết lập hệ thống đại lý tại nước ngoài 84 2.2 Xây dựng chiến lược Marketing cho doanh nghiệp mình 85 2.3 Tăng cường liên kết giữa các công ty giao nhận trong nước, hợp tác với các công ty giao nhận nước ngoài 87 2.4 Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ 89 2.5 Cải tiến bộ máy quản lý, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại các công ty giao nhận 91 2.6 Áp dụng các phương thức giao nhận tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin 92
Kết luận 94 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5Lời nói đầu
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế, thương mại quốc tế và xu hướng toàn cầu
hóa, việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các nước diễn ra ngày càng sôi nổi Sau khi người mua và người bán tiến hành ký kết hợp đồng sẽ diễn ra quá trình trao đổi hàng hóa, tức là có sự di chuyển hàng hóa từ tay người bán đến tay người mua Người giao nhận sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo cho quá trình vận chuyển đó diễn ra suôn sẻ, hàng hóa đến tay người mua một cách an toàn, đúng thời gian, địa điểm Từ chỗ chỉ đảm nhận một vài công việc đơn giản như xếp dỡ, lưu kho hàng hóa, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thanh toán tiền hàng… theo sự phát triển của thời gian, do đòi hỏi của thực tế
mà vai trò của người giao nhận ngày càng được nâng lên, họ đã đứng ra cung cấp dịch vụ trọn gói toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hóa, trở thành những người chuyên chở chính Hơn thế nữa, ngày nay người giao nhận đang có xu hướng trở thành những nhà cung cấp dịch vụ logistics, một bước phát triển cao hơn của dịch vụ giao nhận
Tại Việt Nam mặc dù dịch vụ giao nhận mới chỉ thực sự phát triển từ hơn
10 năm trở lại đây, tuy nhiên đã đạt được những bước tiến vượt bậc Việc mở cửa nền kinh tế kéo theo sự phát triển của các hoạt động thương mại, giao lưu buôn bán với các nước là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển của ngành giao nhận nước ta Người giao nhận Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng, phạm vi cung cấp sản phẩm dịch vụ cũng không ngừng được gia tăng, kinh doanh dịch vụ giao nhận đã trở thành một lĩnh vực giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta
Tuy nhiên, do những đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành giao nhận nói riêng mà người giao nhận nước ta đang gặp phải những khó khăn thử thách rất lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp trước mắt cũng
Trang 6như giải pháp cho sự phát triển lâu dài Nhận thấy tầm quan trọng, vai trò to lớn của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế cũng như ảnh hưởng của người giao nhận đến sự phát triển của kinh tế nói chung,
em đã chọn đề tài:
“Người giao nhận và vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích, đánh giá hoạt động của người giao nhận và vai trò
của họ trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế Tìm hiểu thực trạng hoạt động của người giao nhận đặc biệt là ở Việt Nam để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, vai trò của người giao nhận
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu một số vấn đề mang tính lí thuyết chung về người giao nhận, vai trò của người giao nhận như khái niệm, đặc điểm, chức năng… Trên cơ sở những vấn đề chung đó bài viết đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động của người giao nhận, những khó khăn, hạn chế cũng như thành tựu
đã đạt được của người giao nhận Việt Nam Từ những kết quả thu được, người viết có đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò của người giao nhận
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Người giao nhận và vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế Nghiên cứu thực trạng hoạt động, những thành tựu, khó khăn hiện nay đang ảnh hưởng đến người giao nhận trên thị trường Việt Nam; Nghiên cứu những giải pháp hỗ trợ ở tầm vĩ
mô cũng như những giải pháp đối với các doanh nghiệp hoạt động, kinh doanh trong lĩnh vực giao nhận
Trang 7 Phạm vi nghiên cứu: Dịch vụ giao nhận là một đề tài có nội dung rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, tuy nhiên khóa luận không đi vào một lĩnh vực cụ thể nào của hoạt động giao nhận như giao nhận bằng đường biển, đường sông, đường hàng không, hoạt động xếp
dỡ, kho bãi, làm thủ tục hải quan… mà người viết tập trung nghiên cứu hoạt động của người giao nhận và vai trò của họ nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
- Người viết nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp
- Thực hiện phỏng vấn, trao đổi nhằm tìm ra những bất cập, khó khăn của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận
- Nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát, tìm hiểu thêm thực tiễn
6 Nội dung nghiên cứu
Nội dung của khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về người giao nhận và vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế
Chương II: Thực trạng hoạt động của người giao nhận
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của người giao nhận Việt Nam
Do thời gian, năng lực của người viết còn nhiều hạn chế nên khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn Em xin cảm ơn cô giáo
- Thạc sĩ Phạm Thanh Hà đã có những chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 8Chương I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI GIAO NHẬN
VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIAO NHẬN TRONG HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I Khái quát chung
1 Các định nghĩa về giao nhận và người giao nhận
1.1 Định nghĩa về giao nhận
Theo quy tắc mẫu của FIATA về dịch vụ giao nhận (Freight forwarding service), dịch vụ giao nhận được định nghĩa như là: “Bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa‟‟
Theo luật thương mại Việt Nam năm 1997 thì giao nhận hàng hóa là:
“Hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy
tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác‟‟
Nói một cách ngắn gọn, giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng)
1.2 Định nghĩa về người giao nhận
Theo khái niệm của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận (FIATA): “Người giao nhận (Forwarder, Freight forwarder hay Forwarding agent) là người thu xếp chuyên chở toàn bộ hàng hóa theo hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân họ không phải là người chuyên chở Người
Trang 9giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như đảm bảo lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan kiểm hóa…” Theo định nghĩa giao nhận vận tải do Ủy ban kinh tế, xã hội châu Á Thái Bình Dương ESCAP đưa ra như sau: “Người giao nhận vận tải là đại lý ủy thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện những nhiệm vụ từ đơn giản như lưu cước, làm thủ tục thuế quan cho đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng”
Theo luật thương mại Việt Nam được Quốc Hội khóa IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 10/05/1997 thì: “Người giao nhận là người làm dịch vụ giao nhận, là các thương nhân có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, các công ty giao nhận hoặc bất kỳ thương nhân nào khác”
2 Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận
2.1 Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận
Dịch vụ giao nhận được cấu thành bởi ba yếu tố: hàng hóa, cơ sở vật chất
và nguồn nhân lực
+ Yếu tố hàng hóa: là những hàng hóa có nhu cầu cần chuyên chở
+ Yếu tố cơ sở vật chất: đội tàu biển quốc tế, đội tàu thủy nội địa, các hãng hàng không trong nước và quốc tế, hệ thống cảng biển, hệ thống sân bay, hệ thống đường bộ, đường sắt, hệ thống kho bãi…
+ Yếu tố nhân lực: các nhà cung cấp hàng hóa, người gửi hàng, công nhân dịch vụ, tài xế, nhân viên làm thủ tục hải quan, nhân viên xử lý chứng từ văn phòng…
Các bộ phận cấu thành này có quan hệ hữu cơ với nhau để tạo thành một hệ thống khép kín nhằm hoàn chỉnh chu trình giao nhận vận tải Hoạt động giao nhận diễn ra tại nhiều nơi, có thể qua nhiều nước do đó chịu tác động của luật
lệ liên quan đến xuất nhập khẩu của cơ quan quản lý nhà nước của những nước mà hàng hóa đi qua
Trang 102.2 Phân loại dịch vụ giao nhận
Dựa vào các tiêu chí, tiêu thức khác nhau mà có thể phân chia ngành giao nhận thành nhiều loại:
* Căn cứ vào phạm vi hoạt động
- Giao nhận quốc tế: là hoạt động giao nhận tổ chức chuyên chở hàng hóa trên phạm vi quốc tế
- Giao nhận nội địa: là hoạt động giao nhận mà phạm vi chuyên chở hàng hóa chỉ giới hạn trong một quốc gia
* Căn cứ vào phương thức vận tải
- Giao nhận hàng hóa kết hợp nhiều phương thức vận tải khác nhau
* Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh giao nhận
- Giao nhận thuần túy: là hoạt động giao nhận chỉ bao gồm thuần túy việc gửi hàng đi, nhận hàng đến
- Giao nhận tổng hợp: là hoạt động giao nhận không chỉ bao gồm việc gửi hàng đi, nhận hàng đến mà còn cả các hoạt động khác như xếp dỡ, bảo quản hàng hóa, vận tải, hoạt động kho hàng…
* Căn cứ vào tính chất của giao nhận
- Giao nhận riêng: là hoạt động giao nhận do người xuất nhập khẩu tự tổ chức thực hiện chứ không sử dụng dịch vụ của người giao nhận
- Giao nhận chuyên nghiệp: là hoạt động giao nhận do các tổ chức, công ty chuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận tiến hành
Trang 11Còn theo Nghị định của Chính phủ số 140/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 9
năm 2007, dịch vụ giao nhận (đã được đổi tên thành dịch vụ logistics theo luật thương mại năm 2005) được phân loại như sau:
* Các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu, bao gồm:
a) Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
b) Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan
và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
d) Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi lô-gi-stíc; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container;
* Các dịch vụ 1ô-gi-stíc liên quan đến vận tải, bao gồm:
* Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác, bao gồm:
a) Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;
b) Dịch vụ bưu chính;
c) Dịch vụ thương mại bán buôn;
d) Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;
đ) Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác;
Trang 123 Các dịch vụ của người giao nhận
Công việc của người giao nhận trước đây đơn giản hơn rất nhiều so với ngày nay, họ thường chỉ hoạt động như những đại lý (Agent), thực hiện các công việc, nhiệm vụ do nhà sản xuất, nhà xuất nhập khẩu ủy thác như: xếp dỡ, lưu kho, làm các thủ tục giấy tờ, thủ tục hải quan, vận tải nội địa… Tuy nhiên ngày nay phạm vi hoạt động, vai trò của các nhà giao nhận ngày càng được nâng lên cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại và vận tải quốc tế Ngày nay ngoài các công việc truyền thống như lưu tàu (booking space), khai báo hải quan (customs clearance), các nhà giao nhận còn đưa ra các loại hình dịch vụ khác như dịch vụ trọn gói toàn bộ quá trình vận chuyển và phân phối hàng Thông thường người giao nhận thay mặt người gửi hàng hoặc người nhận hàng đứng ra lo liệu quá trình vận chuyển qua các công đoạn khác nhau cho đến khi giao hàng đến tận tay người nhận cuối cùng Người giao nhận có thể tự mình thực hiện các công việc này hoặc thông qua các đại lý hay thuê dịch vụ của các bên thứ ba khác
Vì hoạt động giao nhận là việc tổ chức quá trình chuyên chở hàng từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng nên nghiệp vụ này bao gồm nhiều công việc khác nhau, cụ thể là:
+ Chuẩn bị hàng hóa để chuyên chở
+ Tổ chức chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga, cảng…
+ Tổ chức xếp dỡ hàng hóa
+ Làm tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hóa
+ Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước
+ Làm các thủ tục gửi hàng, nhận hàng
+ Làm thủ tục Hải quan, Kiểm nghiệm, Kiểm dịch
+ Mua bảo hiểm cho hàng hóa
+ Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng
+ Thanh toán, thu đổi ngoại tệ
Trang 13+ Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho người chuyên chở và giao cho người giao nhận
+ Thu xếp chuyển tải hàng hóa
+ Nhận hàng từ người chuyên chở và giao cho người nhận
+ Gom hàng, lựa chọn tuyến đường vận tải, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp
+ Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hóa
+ Lưu kho, bảo quản hàng hóa
+ Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của hàng hóa
+ Thanh toán cước phí, chi phí xếp dỡ, chi phí lưu kho, lưu bãi…
+ Thông báo tình hình đi và đến của các phương tiện vận tải
+ Thông báo tổn thất với người chuyên chở
+ Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thường
Hiện nay, người giao nhận cũng cung cấp thêm các dịch vụ đặc biệt khác theo yêu cầu của chủ hàng như: vận chuyển máy móc thiết bị đến các công trình xây dựng lớn, vận chuyển quần áo may sẵn trong các Container đến thẳng cửa hàng, vận chuyển hàng mang đi triển lãm ở nước ngoài… Đặc biệt trong những năm gần đây, người giao nhận còn cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức, đóng vai trò là các MTO và phát hành cả chứng từ vận tải
4 Mối quan hệ giữa dịch vụ giao nhận và dịch vụ Logistics
Định nghĩa về logistics: Cho đến nay đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về dịch vụ Logistics, theo cách tiếp cận của Hội đồng quản lý Logistics (The Council of Logistics Management - CLM), khái niệm này được hiểu như sau: “Logistics là một bộ phận của dây chuyền cung ứng, tiến hành lập ra kế hoạch, thực hiện và kiểm soát công việc chu chuyển và lưu kho hàng hóa, cùng các dịch vụ và thông tin có liên quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng một cách hiệu quả nhằm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng”
Trang 14Logistics luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hóa như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho lưu bãi, phân phát hàng hóa (nguyên liệu hoặc thành phẩm) đến các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hóa luôn sẵn sàng trong trạng thái có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được (inventory level) Do đó, khi nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ (logistics system chain)
Chuỗi logistics được chia làm hai tuyến nhỏ:
- Tuyến quản lý vật liệu (Materials Management) bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến các giai đoạn của quá trình sản xuất trong một chuỗi cung ứng
- Tuyến phân phối sản phẩm vật chất (Physical Distribution) bao gồm hàng loạt các hoạt động liên quan đến dòng vận động của hàng hóa từ điểm sản xuất đến điểm bán hàng và tiêu dùng
Các hoạt động cơ bản trong chuỗi hoạt động logistics bao gồm: Mua sắm vật tư, lưu kho và dự trữ, vận tải và giao nhận, kho bãi và phân phối, hệ thống
thông tin và dịch vụ khách hàng Trong tất cả các yếu tố cấu thành chuỗi
logistics thì vận tải giao nhận là một trong những khâu quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn tới chất lượng dịch vụ và chi phí logistics Vận tải giao nhận tốt sẽ góp phần đảm bảo cung ứng hàng hóa một cách nhanh chóng, kịp thời,
ổn định, rút ngắn thời gian giao hàng cho khách, nâng cao trình độ dịch vụ Không những thế, vận tải giao nhận tốt còn cho phép doanh nghiệp giảm đến mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lưu kho, tồn đọng sản phẩm và nhờ đó giảm chi phí logistics nói chung Thông thường, chi phí vận tải giao nhận có
thể chiếm tới hơn 1/3 tổng chi phí logistics
Theo luật thương mại mới được Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam khóa
XI tại kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, dịch vụ giao nhận được đổi tên thành dịch vụ Logistics và được định nghĩa là: “Hoạt động
Trang 15thương mại, theo đó, thương nhân, tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan,
và các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô - gi - stíc” Có thể thấy theo định nghĩa này chỉ cần thực hiện một trong số các công việc kể trên các công ty cũng được hiểu là làm dịch vụ Logistics Cách hiểu này là không chính xác về dịch vụ logistics,
đã vô hình chung coi logistics là một tên gọi khác của hoạt động giao nhận vận tải Các doanh nghiệp trong ngành giao nhận vận tải và logistics của Việt Nam hầu như mới chỉ dừng lại ở một trong rất nhiều chuỗi dịch vụ Logistics
mà phổ biến nhất là hình thức giao nhận, cho thuê kho bãi, vận chuyển nội
địa
II Vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế
1 Vai trò của người giao nhận
Trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế của Việt nam, cùng với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của đất nước, vai trò của người giao nhận cũng ngày càng lớn mạnh theo Điều này thể hiện qua một số mặt sau:
1.1 Giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
Trong quá trình tái sản xuất xã hội, khâu lưu thông hàng hóa cũng như luân chuyển tư liệu sản xuất chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Nhờ sự chuyên môn hóa cao mà các doanh nghiệp sản xuất chỉ cần tiếp xúc với một đầu mối là người giao nhận vẫn có thể đảm bảo được nguồn đầu vào, nơi lưu kho hàng hóa, giao nhận hàng hóa cho đối tác…Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, công sức, mà còn giúp họ tập trung vào sản xuất, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được phát triển Trong giá bán của sản phẩm thì chi phí lưu thông, vận chuyển chiếm tỷ trọng khá lớn, việc chuyên môn
Trang 16hóa khâu lưu thông hay nói cách khác sự phát triển của ngành giao nhận giúp giảm giá bán, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tăng khối lượng hàng trong thương mại, tạo nên quá trình vận chuyển hàng mang tính chuyên môn hóa cao Như vậy, việc giảm giá bán được một phần là nhờ giảm chi phí lưu thông qua hoạt động giao nhận Người giao nhận chuyên cung cấp dịch vụ vận tải, do họ đã có sẵn phương tiện vận tải chuyên nghiệp, kinh doanh trên những tuyến đường cố định, nên khách hàng sử dụng dịch vụ này không phải đầu tư phương tiện vận tải đồng thời được hưởng mức cước thấp
Bên cạnh việc giá bán hàng hóa giảm nhờ giảm chi phí lưu thông, người giao nhận với trình độ nghiệp vụ cũng như cơ sở hạ tầng của mình còn giúp cho hàng hóa được luân chuyển nhanh, an toàn, đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, nhờ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường Việc phát triển dịch vụ giao nhận giúp các doanh nghiệp không còn phải tự lo các loại giấy tờ, thủ tục, thay vào đó các công việc này được giao cho các nhà giao nhận chuyên nghiệp với những kỹ năng được đào tạo bài bản, cùng hệ thống các mối quan hệ rộng rãi, giúp cho việc thực hiện được diễn ra suôn sẻ, nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng
1.2 Góp phần mở rộng thị trường
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép kết hợp các quá trình sản xuất, lưu kho hàng hoá, tiêu thụ với hoạt động vận tải một cách hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn đồng thời phức tạp hơn Nó cũng cho phép người vận tải nâng cao chất lượng dịch vụ đối với người gửi hàng Phát triển các dịch vụ truyền thống ở mức độ càng cao, người vận tải càng có khả năng mở rộng thị trường Trước đây, hàng hoá thường đi từ nước người bán đến nước người mua thường dưới hình thức hàng lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau Do vậy xác suất xảy ra rủi ro, mất mát đối với hàng hoá thường rất lớn, người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng vận tải riêng biệt với từng người vận tải thực sự, trách nhiệm của mỗi
Trang 17người vận tải cũng chỉ giới hạn trong chặng đường, hay dịch vụ do người đó đảm nhiệm mà thôi Cách mạng container hoá trong hoạt động vận tải vào những năm 60, 70 của thế kỷ này đã đảm bảo an toàn và tăng độ tin cậy trong vận chuyển hàng hoá, là tiền đề cho sự ra đời của vận tải đa phương thức Vì vậy, khách hàng rất cần một người có thể tổ chức mọi công việc ở tất cả các công đoạn để tiết kiệm chi phí, giảm thời gian hao phí, từ đó làm tăng lợi nhuận Chính các nhà giao nhận là những người đứng ra đảm nhận những công việc này
Nhờ có người giao nhận mà công việc lưu thông, vận chuyển hàng hóa diễn
ra suôn sẻ, nhanh chóng hơn, đồng thời giúp các nhà sản xuất có điều kiện mở rộng thị trường Trước đây khi hoạt động giao nhận chưa phát triển, mỗi nhà sản xuất chỉ có thể tập trung vào một số thị trường nhất định Đó là do chi phí dành cho việc vận chuyển rất lớn, thị trường càng xa thì chi phí này càng cao
từ đó làm cho giá hàng hóa cũng tăng theo Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Ngày nay, nhờ có dịch vụ giao nhận phát triển cao, việc tổ chức vận chuyển diễn ra chuyên nghiệp, nhanh chóng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng phạm vi kinh doanh, mạng lưới phân phối của
họ từ đó được mở rộng trên toàn thế giới
1.3 Mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội
Sự phát triển của ngành giao nhận đã tạo điều kiện cho chính phủ có thêm nguồn thu ngoại tệ, đẩy mạnh hơn nữa quá trình giao lưu kinh tế, xã hội, nối liền các hoạt động kinh tế giữa các khu vực trong nước với nước ngoài, giữa các nước với nhau
Đặc biệt việc ứng dụng vận tải đa phương thức đã tạo điều kiện giúp đơn giản hóa các chứng từ, thủ tục thương mại, hải quan, do đó hấp dẫn các bạn hàng nước ngoài Nó cũng giúp tạo thêm nguồn thu cho các công ty giao nhận trong nước và tạo điều kiện ứng dụng nhanh công nghệ vận tải hiện đại, trên
cơ sở đó cơ sở hạ tầng vận tải được chú trọng đầu tư xây dựng hơn Kết quả là
Trang 18hiện nay đã có nhiều công trình bến cảng, kho bãi chuyên dụng và các tuyến đường vận tải mới được ra đời
Cùng với sự phát triển của hoạt động giao nhận vận tải, ngày nay có nhiều loại hình bảo hiểm phục vụ cho hoạt động của người giao nhận đã ra đời như bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người giao nhận, bảo hiểm phương tiện vận chuyển…Sự ra đời của các loại hình bảo hiểm này đã góp phần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, phục vụ tốt hơn cho hoạt động giao nhận vận tải
Một vai trò khác không thể không nhắc tới đó là việc ngành giao nhận vận tải đã mang lại vô số việc làm cho người lao động Đó không chỉ là các công việc chuyên môn liên quan đến hoạt động giao nhận như làm chứng từ, khai báo hải quan… mà còn tạo ra hàng loạt các công việc khác như chở hàng, bốc xếp, dán nhãn, kẻ ký mã hiệu… Đặc biệt sự phát triển của vận tải đa phương thức đòi hỏi phải ứng dụng các công nghệ mới, phương thức vận tải mới, đi kèm với đó là yêu cầu phải ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến, hiện đại cũng như sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới Điều này đòi hỏi phải có một đội ngũ công nhân viên, chuyên gia, cán bộ nghiệp vụ thành thạo trong việc vận hành, sửa chữa, bảo quản, gia cố các máy móc, thiết bị, những người hiểu biết
về các nghiệp vụ giao nhận, lưu kho, vận chuyển container Hiện nay ở nước
ta cũng đã xuất hiện rất nhiều trung tâm gom hàng, giao nhận, phát hàng, hoàn trả vỏ container, cùng các hệ thống kho bãi, đội ngũ cán bộ nghiệp vụ chuyên lo giải quyết các thủ tục, giấy tờ, chứng từ theo tiêu chuẩn quốc tế Tóm lại, nhờ có sự ra đời, phát triển của người giao nhận và các dịch vụ
mà họ cung cấp mà các thủ tục chứng từ có liên quan đến quá trình giao nhận vận tải được đơn giản hóa, thời gian vận chuyển được rút ngắn lại, khối lượng hàng hóa được trao đổi trong thương mại và vận tải quốc tế ngày một tăng lên Sự phát triển của hoạt động giao nhận đã tạo điều kiện ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào hoạt động sản xuất, lưu thông và phân phối, phát huy được những lợi ích to lớn của hoạt động gom hàng, vận tải
Trang 19container, vận tải đa phương thức như tiết kiệm chi phí vận tải, chi phí bảo hiểm, giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, góp phần hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cơ sở, tăng năng suất lao động xã hội, tạo ra nhiều ngành nghề dịch vụ mới, giải quyết một khối lượng
lớn việc làm cho xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân
2 Chức năng của người giao nhận
Ngày nay do sự phát triển của vận tải Container, vận tải đa phương thức, người giao nhận không chỉ làm đại lý, người ủy thác mà còn cung cấp dịch vụ vận tải và đóng vai trò như một bên chính (Principal) – người chuyên chở (Carrier)
Người giao nhận đã làm chức năng và công việc của những người sau đây:
2.1 Môi giới hải quan (Customs broker)
Giai đoạn đầu, hoạt động của người giao nhận chỉ bó hẹp trong nước Công việc chính của họ lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu Tuy nhiên sau đó người giao nhận đã mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu, đồng thời thực hiện một số dịch vụ khác như giành chỗ chở hàng trong vận tải quốc tế, lưu cước với các hãng tàu theo sự ủy thác của người xuất khẩu hay nhập khẩu tùy thuộc vào quy định của hợp đồng mua bán Trên cơ sở được Nhà nước cho phép, người giao nhận đứng ra thay mặt người xuất khẩu, người nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan, họ được coi như những môi giới hải quan
2.2 Đại lý (Agent)
Đại lý được định nghĩa là một thương nhân được người ủy thác giao cho làm một hoặc một số công việc nhất định và được hưởng thù lao cho việc thực hiện các công việc đó Người giao nhận hoạt động với tư cách là đại lý được coi như một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở Người giao nhận nhận ủy thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện các công việc khác nhau như: nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ, làm thủ tục
Trang 20hải quan, lưu kho…trên cơ sở hợp đồng ủy thác Hoạt động của người giao nhận giúp cho việc kinh doanh của người chuyên chở tốt hơn, giúp họ am hiểu, gần gũi khách hàng hơn Nếu người chuyên chở tổ chức được nhiều đại
lý ở các khu vực thị trường khác nhau thì sẽ dễ dàng tìm được các khách hàng mới hơn Người giao nhận còn có thể làm các dịch vụ mà hãng chuyên chở ủy thác Đối với người gửi hàng thì các đại lý này giúp họ có thể nhanh chóng tiếp cận được với người chuyên chở
2.3 Người gom hàng (Cargo Consolidator)
Gom hàng (Condolidation, Groupage) là việc tập hợp những lô hàng lẻ từ
nhiều người gửi ở cùng một nơi đi thành một lô hàng nguyên container để gửi
và giao cho một hoặc nhiều người nhận ở cùng một nơi đến Hàng lẻ (LCL) là những lô hàng nhỏ không đủ một container hoặc những lô hàng lớn nhưng có
nhiều người gửi, nhiều người nhận Ở Châu Âu, từ rất xa xưa người giao nhận
đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho vận tải đường sắt Ngày nay,
với sự phát triển mạnh mẽ của vận tải hàng hóa bằng container, dịch vụ gom hàng lại càng không thể thiếu nhằm biến những lô hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên container (FCL) nhằm tận dụng sức chứa của container và giảm cước
phí vận tải
Khi thực hiện việc gom hàng, người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở đối với những người gửi hàng, và đóng vai trò là người gửi hàng với những người “chuyên chở thực sự‟‟ Những người gửi hàng lẻ, nhận hàng lẻ không trực tiếp tiếp xúc với “người chuyên chở thực sự‟‟
2.4 Người chuyên chở (Carrier), người kinh doanh cước vận chuyển
Ngày nay việc người giao nhận đứng ra đảm nhận vai trò của người chuyên chở ngày càng phổ biến, họ trực tiếp ký kết hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ một nơi này đến một nơi khác Nếu người giao nhận chỉ ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở thì họ được coi là những người thầu chuyên chở (Contracting Carrier) Còn nếu họ trực
Trang 21tiếp chuyên chở thì người giao nhận lại trở thành người chuyên chở thực tế (Performing/ Actual Carrier)
Đối với hoạt động kinh doanh cước vận chuyển: do người giao nhận nắm bắt được tốt hơn tình hình thị trường vận tải so với những người xuất nhập khẩu nên họ có thể kí kết được các hợp đồng vận chuyển với giá cả và chi phí thấp hơn hẳn Từ đó xuất hiện hiện tượng người giao nhận dùng giá cước vận chuyển để kinh doanh, bán lại cho người xuất nhập khẩu Người giao nhận sẽ hưởng phần chênh lệch giữa giá mua cước vận chuyển của người chuyên chở
và giá bán cước vận chuyển cho người xuất nhập khẩu
2.5 Người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Operator)
Vận tải đa phương thức (Multimodal Transport) quốc tế hay còn gọi là vận tải liên hợp quốc tế (International Combined Transport) là phương pháp vận tải hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trở lên, trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ một điểm ở một nước này tới một điểm chỉ định ở một nước khác để giao hàng
Trong thực tế, vận tải đa phương thức có các hình thức kết hợp, hoặc theo các hệ thống sau:
- Vận tải biển / Vận tải hảng không (Sea/Air)
Mô hình này là sự kết hợp giữa tính kinh tế của vận tải bằng đường biển và tốc độ của vận tải bằng đường hàng không Mô hình này thường được áp dụng trong việc chuyên chở những mặt hàng có giá trị cao như đồ điện, điện
tử và những hàng hóa có tính chất thời vụ như quần áo, đồ chơi, giầy dép Hàng hóa sau khi được vận chuyển bằng đường biển tới các cảng chuyển tải
sẽ được chuyển tiếp sang các máy bay để nhanh chóng đưa tới các trung tâm thương mại nằm sâu trong đất liền
- Vận tải đường ô tô/ Vận tải hàng không (Road/Air)
Trang 22Mô hình này sử dụng nhằm khai thác ưu thế linh hoạt, cơ động của vận tải đường ô tô và sự nhanh chóng của vận tải hàng không Người ta sử dụng ô tô
để chuyên chở hàng hóa tới các cảng hàng không hoặc phân phối hàng từ các cảng hàng không đến tay người nhận ở sâu trong nội địa
- Vận tải đường sắt / Vận tải đường ô tô (Rail/Road)
Đây là mô hình kết hợp được tính an toàn, tốc độ nhanh của vận tải đường sắt với tính cơ động, linh hoạt của vận tải đường bộ Hàng được đóng vào các trailer và được kéo đến ga đường sắt bằng các đầu máy kéo (Tractor) Tại đây, các trailer được kéo lên toa xe mặt phẳng và chở đến ga đến Sau đó, các máy kéo lại kéo các trailer xuống và chở đến nơi đến để giao cho người nhận hàng Hình thức vận tải trên được áp dụng phổ biến ở Châu Âu và Châu Mỹ
- Vận tải đường sắt/ đường ô tô/ vận tải đường thủy nội địa/ đường biển (Rail/Road/Inland Waterway/Sea)
Đây là mô hình vận tải khá phổ biến để chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu Đầu tiên, hàng hóa sẽ được vận chuyển bằng đường sắt, đường ô tô hoặc đường thủy nội địa đến các bến cảng của nước xuất khẩu, rồi sau đó được vận chuyển bằng đường biển tới cảng biển của nước nhập khẩu Từ đây, hàng hóa lại được vận chuyển đến người nhận nằm sâu trong nội địa bằng đường ô tô, đường sắt hoặc đường thủy nội địa
- Cầu lục địa
Hàng hóa trong các container được chuyên chở giữa hai vùng biển thông qua một lục địa, lục địa này như một cầu đất liền nối hai vùng biển đó, tức là theo hình thức đường biển - đường bộ - đường biển Hiện nay trên thế giới có một số tuyến cầu lục địa quan trọng là:
+ Chuyên chở hàng hóa giữa Châu Âu hoặc Trung Đông và Viễn Đông qua lãnh thổ của các nước thuộc Liên Xô cũ, cách này giúp cho khoảng cách giữa Châu Âu và Châu Á được rút ngắn lại, chỉ còn 13.000 km thay vì phải qua kênh đào Suez mất đến 21.000 km
Trang 23+ Chuyên chở hàng hóa giữa Châu Âu và Viễn Đông qua lãnh thổ của Hoa
Kỳ, hàng được chở từ Châu Âu bằng đường biển đến các cảng phía đông nước Mỹ, sau đó lại tiếp tục được vận chuyển bằng đường biển đến các vùng Đông Nam Á và Nhật Bản…
Vận tải đa phương thức mang lại rất nhiều lợi ích cho các bên liên quan đến giao nhận vận tải gồm cả người vận tải, chủ hàng, người giao nhận như giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng mức độ an toàn cho hàng hóa, khả năng giao hàng kịp lúc Tuy nhiên, để phát triển vận tải đa phương thức lại đòi hỏi phải
có nhiều vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, ga, cảng, bến bãi, trạm đóng gói giao hàng container, phương tiện vận tải, xếp dỡ…
Tóm lại, người giao nhận có khả năng tổ chức quá trình vận chuyển hàng hóa một cách tốt nhất, an toàn nhất và tiết kiệm nhất Họ được coi như là những “kiến trúc sư của vận tải‟‟ (Architect of Transport)
III Điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận tại Việt Nam
Theo luật thương mại ban hành năm 2005, dịch vụ giao nhận được đổi tên thành dịch vụ Logistics nên các quy định về điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ Logistics chính là điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp giao nhận tại Việt Nam
Theo Nghị định của Chính phủ số 140/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm
1 Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam
2 Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật
và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu
Trang 243 Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này chỉ được kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:
a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%;
b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn chế này chấm dứt vào năm 2014;
c) Trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 2014;
d) Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014
* Điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ gi-stíc liên quan đến vận tải
Thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
1 Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam
2 Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam
3 Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2 Điều này chỉ được kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:
a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải thì chỉ được thành lập công ty liên doanh vận hành đội tàu từ năm 2009, trong đó tỷ lệ góp vốn của
Trang 25nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; được thành lập liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này chấm dứt vào năm 2012;
b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ nội địa thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%;
c) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam;
d) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%;
đ) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ thì được thành lập công
ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010;
e) Không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
* Điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các dịch vụ gi-stíc liên quan khác
Thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
1 Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam
2 Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc chỉ được kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:
a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật:
Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ thì chỉ được thực hiện dưới hình thức liên doanh sau ba năm hoặc dưới
Trang 26các hình thức khác sau năm năm, kể từ khi doanh nghiệp tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó
Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải
Việc thực hiện dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng
b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ thương mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ
c) Không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
IV Một số tổ chức liên quan đến hoạt động của người giao nhận
1 Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (Fédération Internationale des Associations de Transitaires et Assimilés – FIATA)
Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (Fédération Internationale des Associations de Transitaires et Assimilés - FIATA) được thành lập vào ngày 31.5.1926 tại Viên, thủ đô nước Áo, trụ sở chính đóng tại Zurich, Thụy Sĩ FIATA là một tổ chức phi chính phủ tự nguyện đại diện cho hơn 2550 doanh nghiệp giao nhận tại hơn 130 quốc gia trên thế giới Thành viên gồm các hội viên chính thức là Liên đoàn giao nhận của các nước và hội viên hợp tác là các công ty giao nhận riêng lẻ
* Việc thành lập liên đoàn giao nhận quốc tế nhằm mục đích:
Tăng cường bảo vệ lợi ích liên quan đến người giao nhận trên phạm vi quốc tế
Nâng cao chất lượng, dịch vụ giao nhận
Liên kết nghề nghiệp
Trang 27 Tuyên truyền dịch vụ giao nhận vận tải
Xúc tiến quá trình đơn giản hóa, thống nhất chứng từ
Đào tạo nghiệp vụ ở trình độ quốc tế
Tăng cường các quan hệ phối hợp giữa các tổ chức giao nhận với chủ hàng và người chuyên chở
2 Tổ chức Hải quan thế giới – WCO
Ngày 12.9.1947, 13 chính phủ đại diện cho Ủy ban Hợp tác kinh tế Châu
Âu đã thống nhất thành lập một Nhóm nghiên cứu để xem xét khả năng thành lập một Liên minh Hải quan giữa các nước Châu Âu trên cơ sở các nguyên tắc của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT)
Đến năm 1948, Nhóm nghiên cứu cho ra đời hai Ủy ban: Ủy ban về kinh tế (tiền thân của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD) và Ủy ban về Hải quan, sau này trở thành Hội đồng Hợp tác Hải quan (CCC) Vào năm 1994 CCC được đổi tên thành tổ chức Hải quan thế giới WCO Tính đến năm 1993, Hội đồng đã có 104 thành viên, cho ra đời 15 Công ước Quốc tế và 50 khuyến nghị về các lĩnh vực hoạt động của Hải quan
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội đồng Hợp tác Hải quan
từ ngày 1.7.1993 Kể từ khi gia nhập, Hải quan Việt Nam luôn tích cực thực hiện nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ các hoạt động hàng năm của WCO
3 Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận các nước ASEAN (AFFA)
Ra đời từ năm 1991, AFFA là một tổ chức nghề nghiệp, tự nguyện, hoạt động không vì lợi nhuận
* Mục tiêu chính của AFFA:
- Thông qua các tổ chức giao nhận của từng quốc gia, thống nhất tất cả các nhà giao nhận thuộc khu vực ASEAN
- Khuyến khích, xúc tiến, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác giữa các nhà giao nhận trong khu vực ASEAN
Trang 28- Đại diện quyền lợi chung cho các hội viên trong lĩnh vực giao nhận có tính đặc thù của khu vực ASEAN
- Tìm cách nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn, phẩm chất chuyên môn của các nhà giao nhận
Tháng 11 năm 2000, tại Hội nghị lần thứ 9 tổ chức tại Manila – Philippines, Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) đã chính thức trở thành thành viên của AFFA Các thành viên khác của AFFA như: Hiệp hội Giao nhận kho vận Thái Lan (TIFFA), Hiệp hội giao nhận kho vận Indonesia (INFA), Hiệp hội giao nhận kho vận Philipin (FAP)…
4 Hiệp hội giao nhận kho vận Việt nam – VIFFAS
4.1 Khái quát chung
Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam (Vietnam freight forwarders association – Viffas) là một tổ chức xã hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp
và các cá nhân (Hội viên) hoạt động trong lĩnh vực giao hàng, nhận hàng, kho hàng và tổ chức chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam, tự nguyện thành lập nhằm mục đích hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong việc phát triển nghề nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên trong các hoạt động thuộc lĩnh vực giao nhận kho vận hàng hóa xuất nhập khẩu của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trên cơ sở đó hội nhập với các hoạt động cùng loại của các đồng
nghiệp từ khắp nơi trên thế giới tuân theo quy định của pháp luật
Hiệp hội là tổ chức đại diện duy nhất của Việt Nam trở thành hội viên đầy
đủ và chính thức (Ordinary member) của Liên đoàn Quốc tế các hiệp hội giao nhận (International Federation of Freight Forwarders Association) cũng như các tổ chức giao nhận kho vận khác
4.2 Mục tiêu hoạt động
Hiệp hội phối hợp hoạt động của các hội viên nhằm bảo vệ quyền lợi kinh
tế, chính trị và nâng cao địa vị của nước Việt Nam trong các lĩnh vực có liên
Trang 29quan đến hoạt động giao nhận kho vận quốc tế cũng như quyền lợi của các hội viên; tạo nên mối quan hệ hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ nhau giữa các hội viên của Hiệp hội; góp phần nâng cao trình độ nghiệp vụ, hình thức hoạt động, cải tiến chất lượng hoạt động kinh doanh để góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng hơn nữa quan hệ kinh
tế đối ngoại và hợp tác đầu tư với nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Hiệp hội đại diện cho quyền lợi của các doanh nghiệp hội viên về các lĩnh vực giao nhận kho vận trong các quan hệ hợp tác, buôn bán quốc tế
Hiệp hội tận dụng mọi điều kiện, phương tiện, tổ chức để bảo vệ và giúp đỡ hội viên trong việc nâng cao và cải tiến chất lượng hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu ngày càng tăng trong lĩnh vực này của các khách hàng trong và ngoài nước
Hiệp hội giúp đỡ hội viên đào tạo, bổ túc, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên, chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận để theo kịp các yêu cầu về nghiệp vụ của các đồng nghiệp trên thế giới
4.3 Hội viên của hiệp hội
Hội viên chính thức: Là các doanh nghiệp 100% vốn của Việt Nam có đăng
ký ngành nghề kinh doanh chính là giao nhận kho vận và có số vốn đăng ký không ít hơn mức giới hạn trách nhiệm của người giao nhận vận tải được quy định tại Điều 35 (a) (iii) của “Điều kiện kinh doanh chuẩn” của Hiệp hội và có
ít nhất 2 năm (kể từ ngày thành lập doanh nghiệp) hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận
Hội viên liên kết: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại
Việt Nam tuân theo Luật Đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp cổ phần có
cổ đông nước ngoài có đóng góp cho sự phát triển của Hiệp hội, tán thành các điều lệ, quy định của Hiệp hội cũng có thể được xét công nhận là hội viên liên kết của Hiệp hội
Trang 30Hội viên danh dự: Các chuyên gia Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực giao
nhận kho vận, có trình độ chuyên môn và đóng góp vào việc thực hiện nhiệm
vụ của Hiệp hội
Tóm lại chúng ta có thể thấy, đặc điểm nổi bật của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ở các nước khác nhau, để quá trình vận chuyển hàng hóa từ nước người mua sang nước người bán được diễn ra suôn sẻ cần phải thực hiện một loạt các công việc như: đóng gói bao bì, kẻ ký mã hiệu, lưu kho, đưa hàng ra cảng, làm các thủ tục, xếp hàng, chuyển tải… những công việc này do người giao nhận đảm nhiệm Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phương tiện vận chuyển mà phạm vi dịch vụ giao nhận cũng được mở rộng hơn, vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế cũng ngày một lớn hơn, đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của một đất nước
Trang 31Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
NGƯỜI GIAO NHẬN
I Thực trạng hoạt động của người giao nhận trên thế giới
1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của người giao nhận trên thế giới
Theo như nhiều nghiên cứu, ngành giao nhận đã xuất hiện từ rất xa xưa, ít nhất là từ thời kỳ Trung Cổ Thực tế một số nhà giao nhận hàng đầu của Châu
Âu đã tiến hành các hoạt động giao nhận từ thời kỳ Phục Hưng
Khi nền kinh tế thế giới chưa phát triển, việc giao lưu buôn bán giữa các nước thậm chí trong một nước vẫn còn ít, khối lượng hàng hóa trao đổi còn chưa nhiều, các nhà buôn thường tự mình lo liệu các khâu trong công việc kinh doanh của mình Họ tự tìm nguồn hàng, chuyên chở đến nơi tiêu thụ Ở giai đoạn này, chưa có nhiều hoạt động của những người chuyên môn trong lĩnh vực giao nhận vận tải vì khối lượng hàng hóa chuyên chở còn ít, sức chở của các công cụ như tàu biển, xe thồ, xe ngựa… còn hạn chế, bên cạnh đó thông tin liên lạc không phát triển do đó việc giao nhận được thực hiện bởi chính các nhà buôn
Hãng giao nhận vận tải đầu tiên trên thế giới xuất hiện vào năm 1522 với tên gọi E.Vansai tại Badiley – Thụy Sĩ Hãng này kinh doanh cả vận tải, giao nhận và thu phí rất cao, khoảng một phần ba giá trị hàng hóa Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, giao nhận đã tách ra khỏi buôn bán, trở thành một ngành kinh doanh độc lập
Vào thời kì đầu của ngành giao nhận, các tổ chức giao nhận thường là tư nhân với các đặc điểm nổi bật:
+ Đa phần là các tổ chức (hãng, công ty) giao nhận tư nhân
+ Thực hiện kinh doanh giao nhận tổng hợp
+ Kết hợp hoạt động giao nhận quốc tế với nội địa
Trang 32+ Thực hiện chuyên môn hóa hoạt động giao nhận theo khu vực địa lý và mặt hàng
+ Cạnh tranh giữa các hãng giao nhận diễn ra gay gắt
Sự cạnh tranh trong ngành giao nhận ngày càng gay gắt đã dẫn tới sự ra đời của các hiệp hội giao nhận như một tất yếu Sự ra đời của các hiệp hội, tổ chức này đã giúp cho dịch vụ giao nhận ngày càng phát triển một cách có hệ thống, phạm vi, lĩnh vực hoạt động ngày càng mở rộng, trở thành một ngành kinh doanh chiếm vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nói chung của các quốc gia trên thế giới
2 Thực trạng hoạt động của người giao nhận trên thế giới
Ngày nay, người giao nhận trên thế giới đã có những thay đổi lớn so với trước đây cả về quy mô, hình thức và đặc biệt là phạm vi hoạt động
Hiện nay trên thế giới các doanh nghiệp giao nhận nước ngoài đang cung cấp một dịch vụ tích hợp logistic cho các nhà sản xuất như một xu thế tất yếu của toàn cầu hóa Các công ty giao nhận tìm cách đa dạng hoá hoạt động của mình để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn Ví dụ Công ty APL Logistic hiện đang cung cấp dịch vụ cho hãng quần áo The Children Places trên toàn cầu, trong
đó có Việt Nam APL quản lý các đơn sản xuất hàng từ The Children, sau đó phân phối lại cho các nhà gia công, sản xuất Dịch vụ này cũng bao gồm cả việc theo dõi quá trình sản xuất để giao nguyên phụ liệu đến các nhà máy gia công sản xuất, vận chuyển, điều tiết hàng thành phẩm từ nhà máy gia công đến địa điểm giao hàng theo yêu cầu của The Children Dịch vụ của APL giúp The Children giảm 10% chi phí hoạt động cho công tác hậu cần, quản lý, nhân sự; đổi lại nhà cung cấp dịch vụ được hưởng phí phục vụ từ khách hàng Hiện nay, Unilever, P&G cũng đang sử dụng dịch vụ của các công ty nước ngoài là Linfox hay Semcorp để quản lý hàng thành phẩm, phân phối hàng hóa sản xuất tiêu dùng nhanh
Trang 33Trong chuỗi logisitics hiện đại mà các công ty logisitics lớn như Maersk logisitics, APL Logisitics, P&O Nedlloyd Logisitics…đang cung cấp cho khách hàng bao gồm rất nhiều dịch vụ đa dạng với giá trị gia tăng cao mà chúng ta có thể liệt kê như:
- Air Freight Fowarding (D2D) - Giao nhận hàng không (từ cửa tới cửa)
- Ocean Freight Forwarding (D2D) - Giao nhận hàng hải (từ cửa tới cửa)
- Freight/ Carrier Management - Quản lý hàng hoá/nhà vận tải
- Consolidation/Cross Docking - Gom hàng nhanh tại kho
- PO Management - Quản lý đơn hàng
- Vendor management/Compliance - Quản lý và theo dõi cam kết của nhà cung cấp
- Value-added Warehousing - Dịch vụ kho bãi giá trị gia tăng
- Multi-Country Consolidation - Gom hàng từ nhiều quốc gia đến một cảng trung chuyển (thường là Singapore, Kaoshiung, Hong Kong)
- QA and QI programs - Dịch vụ kiểm soát chất lượng hàng hoá
- Production Compliance - Dịch vụ kiểm soát quá trình sản xuất kịp thời hạn
- Data Management/EDI clearing house - Quản lý dữ liệu và cung cấp dữ liệu đầu cuối cho khách hàng
- Barcode scanning and Label Production - Dịch vụ quét và in mã vạch
- Documentation - Dịch vụ thu kiểm và chuyển chứng từ
- Global Logistics Procedures - Dịch vụ xây dựng bộ tiêu chuẩn cho hoạt động logisitics
- GOH and HangerPack Service - Dịch vụ container treo (dành cho hàng may mặc)
- Deconsolidation - Dịch vụ phân phối hàng
- NVOCC Operations - Dịch vụ NVOCC
Trang 34- Systemwide Track and Trace / Web-base Visibility - Dịch vụ theo dõi kiểm tra hàng thông qua mạng internet
- Custom Brokerage and Licensing- Import/Export/AMS/C-TPAT- Dịch vụ môi giới hải quan, uỷ thác xuất nhập khẩu, khai báo AMS, hỗ trợ áp dụng C-TPAT (Custom- Trade Partner Against Terrorism – đây là chương trình của hải quan Mỹ nhằm áp dụng cho các đối tác kinh doanh trong chống khủng bố)
- 4PLs service – Nhà cung cấp dịch vụ logisitics thứ 4, đây là mô hình dịch
vụ logisitics rất mới giúp cho các hãng logisitics gia tăng dịch vụ giá trị gia tăng cho mình
Nhiều hãng tàu đã mua lại các hãng giao nhận nhằm phối hợp hoạt động cho hiệu quả hơn Ví dụ, Maersk Logistics hoạt động gắn chặt với công ty mẹ
để quản lý hoạt động xử lý hàng Maersk Logistics giúp hãng tàu này thực hiện các hoạt động gom hàng tại nhiều quốc gia, một dịch vụ khá phức tạp: các lô hàng nhỏ của một công ty từ nhiều quốc gia sẽ được gom tại một trung tâm, và sau đó đóng vào các container đầy vận chuyển tới Mỹ hoặc Châu Âu Nhiều hãng tàu khác như là APL, OOCL, MOL, NYK và „K‟ Line, đều đang tập trung đầu tư vào mảng logistics, cho phép họ cung cấp dịch vụ cá biệt hoá ngoài mảng vận chuyển Cùng với đó là hiện tượng sáp nhập giữa các nhà giao nhận đang ngày càng phổ biến Sự sáp nhập này giúp loại bỏ khỏi thị trường những nhà giao nhận cỡ vừa do họ bị mua lại hoặc là do bị đẩy ra khỏi thị trường
Ngược lại thì các nhà giao nhận cũng đang tăng cường mảng kinh doanh đường biển, mỗi công ty đều có chiến lược phát triển riêng Ví dụ, Panalpina
sử dụng một nhánh của mình chịu trách nhiệm quản lý năng lực vận tải với các nhà chuyên chở đường biển và hàng không Chi nhánh này tận dụng lưu lượng vận chuyển toàn cầu của mình để đàm phán về giá trên cơ sở tập trung hoá Lượng vận chuyển toàn cầu sau đó được phân bổ cho từng thị trường
Trang 35Phần lớn các nhà giao nhận khác đều có các giám đốc phụ trách từng quốc gia
để tham gia đàm phán tại thị trường đó về các hợp đồng vận tải đường biển và hàng không ngắn hạn hoặc bất thường Do đó hiện nay ảnh hưởng của các nhà giao nhận trong ngành vận tải biển ngày càng tăng và đang diễn ra tình trạng hoạt động vận tải biển đang bị thống trị bởi các công ty giao nhận lớn Thị phần của các nhà giao nhận trên thị trường vận tải container đường biển đang tăng trưởng ở mức cao, và có khả năng còn phát triển mạnh hơn nữa trong thời gian tới Các nhà giao nhận lớn, bao gồm Kuehne+Nagel, DHL, Panalpina, Schenker và gần đây là UPS SCS, đang chiếm thị phần với tốc độ ngày một nhanh hơn
Trang 36Bảng 1: Danh sách 20 nhà giao nhận hàng đầu trên thế giới
Rank Carriers Market Total no.of Vessel Carrier Vessel Ship Chartering Build
Trang 37Bảng 2: Danh sách 20 nhà giao nhận toàn cầu hàng đầu thế giới theo lượng TEUs
Trang 38II Thực trạng hoạt động của người giao nhận tại Việt Nam
1 Vài nét về các giai đoạn phát triển của người giao nhận Việt Nam
1.1 Giai đoạn trước đổi mới (Trước năm 1986)
Ở Việt Nam, ngành giao nhận đã hình thành từ lâu Ở miền Nam, trước ngày giải phóng đã có những công ty giao nhận, phần lớn làm việc khai thác thuế vận tải đường bộ, nhưng hoạt động của những công ty này manh mún, nhỏ bé, một số công ty là đại lý cho các hãng giao nhận nước ngoài Còn ở miền Bắc, sau năm 1954, các cơ sở đầu tiên của ngành giao nhận đã được xây dựng
Ngày 13/03/1957, ngành đại lý tàu biển Việt Nam chính thức thành lập Ngày 3/12/1959, Cục vận tải giao nhận ngoại thương kiêm Tổng công ty vận tải ngoại thương được thành lập (tiền thân của Tổng công ty giao nhận kho vận ngoại thương – Vietrans)
Vào năm 1970, Bộ ngoại thương (nay là Bộ Công Thương) đã thành lập hai
tổ chức giao nhận độc lập trong nước để tập trung đầu mối quản lý, chuyên môn hóa khâu giao nhận và vận tải đó là:
+ Tổng công ty giao nhận ngoại thương đặt trụ sở tại Hải Phòng
+ Công ty giao nhận đường bộ đặt trụ sở tại Hà Nội
Cho đến năm 1976, Bộ thương mại sáp nhập hai tổ chức trên thành một công ty giao nhận với tên mới là Tổng công ty giao nhận kho vận ngoại thương – gọi tắt là Vietrans
Các hoạt động giao nhận của các ngành đường bộ, đường sắt, đường sông
và sau đó là đường hàng không cũng nhanh chóng hình thành, đảm bảo nối liền giao thông nước ta với các nước bạn hàng chính của ta khi đó là Liên Xô
cũ và các nước XHCN Đông Âu
Sau ngày giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất 30/04/1975, cùng với chính sách nhà nước độc quyền ngoại thương, các tổ chức giao nhận ngoại
Trang 39thương từ Bắc đến Nam được thống nhất vào một mối thành Tổng công ty giao nhận kho vận ngoại thương Vietrans
Trong suốt thời kỳ bao cấp, do tính chất Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương, hoạt động ngoại thương chủ yếu hình thành từ việc ký kết các Nghị định thư với Liên Xô cũ, các nước XHCN Đông Âu Do đó, phạm vi hoạt động của dịch vụ giao nhận chỉ giới hạn ở các hoạt động giao nhận hàng hóa đơn thuần của người gửi hàng hoặc người nhận hàng tại chính cảng nước mình Kinh doanh “Giao nhận truyền thống” chỉ là hoạt động giao nhận hàng hóa đơn thuần từ cảng vào nội địa và ngược lại, hoàn toàn không có kinh doanh giao nhận quốc tế thông qua mạng lưới giao nhận ở Việt nam Trước năm 1986 thì hoạt động giao nhận và hoạt động vận tải là riêng biệt nhau Hoạt động vận tải và môi giới thuê tàu do một công ty thuộc Bộ giao thông vận tải đảm trách (Vietfract) Trong khi đó, hoạt động giao nhận do Vietrans thuộc Bộ thương mại đảm trách
1.2 Giai đoạn sau đổi mới (Sau năm 1986)
Cuộc cách mạng với chủ trương mở cửa nền kinh tế sau năm 1986 là một bước đi hết sức kịp thời của Đảng ta nhằm phát triển nền kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngày càng có nhiều hoạt động kinh doanh làm hình thành một cách nhanh chóng nhu cầu về vận tải hàng hóa Nhu cầu này ngày càng tăng và đa dạng, đòi hỏi sự ra đời của một loại hình kinh doanh vận tải mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng về vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu – kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải Ngành kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu ra đời chính là một tất yếu khách quan để giải quyết, đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi này Qua từng giai đoạn, ngành giao nhận Việt nam đã có những bước phát triển đáng kể
Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1995, các công ty giao nhận và vận tải như Công ty giao nhận và kho vận ngoại thương (Vietrans), Công ty giao nhận và vận tải đường biển (Falcon Shipping Company), Công ty Vinatrans, Công ty
Trang 40môi giới và thuê tàu (Vietfract)… vẫn chỉ hoạt động như những đại lý Nguyên nhân là do các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu ở nước ta vẫn chưa hiểu rõ hết ý nghĩa của các phương thức mua bán, nên vẫn thực hiện hợp đồng xuất khẩu theo điều kiện FOB (Giao hàng lên tàu tại cảng xếp hàng – Free on board) và hợp đồng nhập khẩu theo điều kiện CIF (Nhận hàng tại cảng xếp dỡ - Cost Insurance & Freight) Như vậy chúng ta đã tự tước bỏ quyền thuê tàu và tổ chức chuyên chở Mặt khác
do ảnh hưởng tư tưởng từ thời bao cấp, các doanh nghiệp còn ỷ lại vào nhà nước, cách làm ăn cũng rất lạc hậu nên các doanh nghiệp giao nhận của nước
ta không phát huy được hết khả năng, khó có thể cạnh tranh trên thị trường giao nhận quốc tế
Trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm 2000, do ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế mở cửa, thị trường hàng hóa giao nhận ngày càng mở rộng sang nhiều nước tạo nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa rất đa dạng và phong phú Đây là thời điểm rất thuận lợi cho sự ra đời của các công
ty kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải
Từ năm 2000 đến nay, tình hình cung cầu chịu sự chi phối của thị trường, các nhà xuất nhập khẩu của Việt nam đã bắt đầu thay đổi quan điểm kinh doanh của mình Giá cả và chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công trong kinh doanh Đây cũng là lúc các công ty giao nhận và vận tải hàng hóa phát huy vai trò của mình, giúp các công ty kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu hiểu biết một cách đầy đủ, để đưa ra quyết định lựa chọn phương thức giao nhận hàng phù hợp khi tham gia đàm phán ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương
Trải qua hơn 10 năm phấn đấu và phát triển, các công ty kinh doanh dịch
vụ giao nhận và vận tải ở Việt nam đã và đang cố gắng hoàn thiện mình để đạt được những bước tiến lớn hơn nữa, góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta