Nội dung của khóa luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các bảng biểu số liệu kèm theo, khóa luận được chia thành 3 chương: Chương I: Tổng quan về chính sách đầu tư trực tiếp nướ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO
CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Lương Thị Thương
Trang 2I XU HƯỚNG VÀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC 4
1 ĐẶC ĐIỂM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA
TRUNG QUỐC 4 1.1 ODI CỦA TRUNG QUỐC THAY ĐỔI QUA TỪNG THỜI KỲ
VÀ BẮT ĐẦU TĂNG MẠNH TỪ NĂM 2001 4 1.2 ODI CHỦ YẾU ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI CÁC DOANH NGHIỆP QUỐC DOANH TUY NHIÊN VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH ĐANG NGÀY CÀNG MỞ RỘNG 6 1.3 ODI CHỦ YẾU TẬP TRUNG TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI – DỊCH VỤ VÀ KHAI MỎ 6
2 ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA
TRUNG QUỐC 7 2.1 NHÂN TỐ “ĐẨY” TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC 8 2.2 NHÂN TỐ “ĐẨY” TỪ PHÍA DOANH NGHIỆP 9
3 CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA
Trang 31.1 NỚI LỎNG CÁC HẠN CHẾ ĐẦU TƯ 15
1.2 VỀ CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN FDI 17
2 CÁC HÌNH THỨC ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ 19
2.1 ƯU ĐÃI VỀ THUẾ 20
2.2 CÁC HÌNH THỨC HỖ TRỢ ĐẦU TƯ 22
III CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC 23
1 SO SÁNH MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ASEAN 23
1.1 LỢI THẾ CỦA VIỆT NAM SO VỚI CÁC NƯỚC ASEAN TRONG VIỆC THU HÚT FDI CỦA TRUNG QUỐC 23
1.2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆT NAM SO VỚI CÁC NƯỚC ASEAN TRONG VIỆC THU HÚT FDI CỦA TRUNG QUỐC 25
2 CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 27
2.1 CHÍNH SÁCH TỰ DO HÓA FDI 27
2.2 ƯU ĐÃI VÀ HỖ TRỢ FDI 29
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO CÁC NƯỚC ASEAN GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2006 33
I ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO CÁC NƯỚC ASEAN GIAI ĐOẠN 1999-2006 33
1 QUY MÔ VÀ TỐC ĐỘ TĂNG VỐN ĐẦU TƯ 33
1.1 GIAI ĐOẠN 1999-2002 35
1.2 GIAI ĐOẠN 2003-2006 38
2 CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ 39
2.1 THEO NƯỚC 39
2.1.1 GIAI ĐOẠN 1999-2002 42
Trang 42.1.2 GIAI ĐOẠN 2003-2006 45
2.2 THEO LĨNH VỰC 48
2.2.1 GIAI ĐOẠN 1999-2002 50
2.2.2 GIAI ĐOẠN 2003-2006 55
II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO CÁC NƯỚC ASEAN 60
1 NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC 60
1.1 ĐA DẠNG HÓA ĐỐI TÁC ĐẦU TƯ 60
1.2 BỔ SUNG VỐN THÚC ĐẨY KINH TẾ PHÁT TRIỂN 61
1.3 KHAI THÁC CÓ HIỆU QUẢ LỢI THẾ SO SÁNH CỦA TỪNG NƯỚC ASEAN 62
1.4 TẠO VIỆC LÀM, NÂNG CAO THU NHẬP GÓP PHẦN CẢI THIỆN ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 63
1.5 NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC KHÁC 65
2 NHỮNG HẠN CHẾ CẦN KHẮC PHỤC 66
2.1 QUY MÔ VỐN FDI CỦA TRUNG QUỐC VÀO CÁC NƯỚC ASEAN CÒN NHỎ, CHƯA TƯƠNG XỨNG VỚI TIỀM NĂNG CỦA HAI BÊN, CÁC DỰ ÁN CHẬM ĐƯỢC TRIỂN KHAI 66
2.2 MẤT CÂN XỨNG GIỮA CÁC NƯỚC, CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ 67
2.3 ÍT CÓ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 68
2.4 CÁC TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC KHÁC 68
3 NGUYÊN NHÂN 69
3.1 CÁC NHÂN TỐ TÍCH CỰC 69
3.2 CÁC NHÂN TỐ TIÊU CỰC 70
Trang 5CHƯƠNG III BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG THU HÚT FDI CỦA TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM 72
I THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM 72
1 QUY MÔ VÀ CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ 72
1.1 QUY MÔ VỐN ĐẦU TƯ QUA CÁC NĂM 72
1.2 CƠ CẤU FDI THEO NGÀNH KINH TẾ 74
2 ĐÁNH GIÁ 76
2.1 THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC 77
2.2 NHỮNG ĐIỂM HẠN CHẾ 78
II BÀI HỌC KINH NGHIỆM 80
1 GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ LÀ ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT THU HÚT FDI 80
2 BÀI HỌC TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, CHÍNH SÁCH VỀ FDI 83
3 BÀI HỌC TRONG CÔNG TÁC TẠO MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ THUẬN LỢI, TRONG ĐÓ NHÀ NƯỚC THÂN THIỆN, ĐÓNG VAI TRÒ LÀ NGƯỜI HỖ TRỢ CHO CÁC NHÀ ĐẦU TƯ 86
4 BÀI HỌC VỀ VIỆC CHUẨN BỊ CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ CHỦ ĐỘNG TIẾP NHẬN ĐẦU TƯ 89
III MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM THU HÚT FDI CỦA TRUNG QUỐC VÀO VIỆT NAM 93
1 GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ, LÀNH MẠNH HÓA MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VĨ MÔ 93
2 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LÝ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI FDI 94
3 NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ NHÀ ĐẦU TƯ TRUNG QUỐC 95
Trang 64 NHÓM GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ NÂNG
CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 97
KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : (Association of Southeast Asian Nations) Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
EU : (European Union) Liên minh châu Âu
EDB : (Economic Development Board) Ủy ban phát triển kinh tế Singapore
FDI : (Foreign Direct Investment) Đầu tư trực tiếp nước ngoài
KCN : Khu công nghiệp
KCX : Khu chế xuất
KCNC : Khu công nghệ cao
KKT : Khu kinh tế
MOFCOM : (Ministry of Commerce) Bộ Thương mại Trung Quốc
ODI : (Outward Direct Investment) Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài RMB : (RenMinBi) Nhân dân tệ
TNCs : (Trans National Coporations) Các tập đoàn xuyên quốc gia UBND : Ủy ban Nhân dân
USD : (United States Dollar) Đôla Mỹ
WTO :(World Trade Organization) Tổ chức thương mại thế giới
WWF : (World Wild Fund for Nature) Quỹ Bảo vệ thiên nhiên quốc tế
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: FDI của Trung Quốc vào ASEAN giai đoạn 1999-2006 33 Bảng 2: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo thành phần giai đoạn 1999-2002 35 Bảng 3: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo thành phần giai đoạn 2003-2006 38 Bảng 4: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo nước giai đoạn 1999-2006* 40 Bảng 5: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo nước giai đoạn1999-2006* 41 Bảng 6: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo lĩnh vực giai đoạn 1999-200649 Bảng 7: FDI của Trung Quốc được thông qua vào ASEAN trong lĩnh vực sản xuất giai đoạn 1999-2002 53 Bảng 8: FDI của Trung Quốc vào ASEAN được thông qua trong lĩnh vực sản xuất giai đoạn 2003-2005 59 Bảng 9: FDI của Trung Quốc vào Việt Nam qua các năm 72 Bảng 10 : FDI của Trung Quốc vào Việt Nam theo ngành giai đoạn 1991-2006 75
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ1: Lượng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc 4Biểu đồ 2: FDI của Trung Quốc vào ASEAN giai đoạn 1999-2006 34Biểu đồ 3: Tỷ trọng vốn FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo nước 40Biểu đồ 4: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo nước giai đoạn 1999-2002 42Biểu đồ 5: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo nước giai đoạn 2003-2006* 45Biểu đồ 6: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo lĩnh vực giai đoạn 1999-200648Biểu đồ 7: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo lĩnh vực giai đoạn 1999-
2002 50Biểu đồ 8: Tỷ trọng vốn FDI các ngành trong lĩnh vực sản xuất giai đoạn 1999-2002 53Biểu đồ 9: FDI của Trung Quốc vào ASEAN theo lĩnh vực giai đoạn 2003-200655Biểu đồ 10: Tỷ trọng vốn FDI các ngành trong lĩnh vực sản xuất giai đoạn 2003-2005 59
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước nhận đầu tư, giúp các nước nhận đầu tư hội nhập với nền kinh tế thế giới Đối với các nước đang thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Việt Nam hiện nay thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài càng đóng vai trò to lớn
Trong thời gian gần đây đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc
có những bước đột phá ngoạn mục Các doanh nghiệp của Trung Quốc được
sự ủng hộ của Chính phủ trong chiến lược “vươn ra quốc tế” (going global) đang gia tăng nhanh chóng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Với tiềm lực kinh tế hùng mạnh, Trung Quốc hứa hẹn sẽ là một nguồn cung vốn dồi dào cho các nước tiếp nhận đầu tư
Các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với những lợi thế riêng có của mình là điểm đến tiềm năng cho nguồn vốn từ người láng giềng khổng lồ này Là một thành viên của ASEAN, có những đặc điểm kinh tế tương đồng với các nước trong khu vực, cơ hội thu hút vốn đầu
tư trực tiếp từ Trung Quốc cũng đang rộng mở cho Việt Nam Nghiên cứu các thành tựu cũng như phân tích các tồn tại trong hoạt động đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào các nước trong khu vực để đúc rút bài học và có những định hướng, giải pháp đúng đắn trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp đầy tiềm năng này là một vấn đề cấp thiết cho Việt Nam hiện nay Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào các nước Đông Nam Á
và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào các nước ASEAN, khoá luận rút ra các bài học và đề ra các giải pháp giúp Việt Nam tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Trung Quốc
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào các nước ASEAN Phạm vi nghiên cứu là kinh nghiệm của các nước ASEAN trong việc thu hút FDI từ Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm
2006 Bên cạnh đó, khóa luận còn xem xét vốn đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam trong phạm vi từ năm 1991 đến quý I năm 2008
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, bài viết còn sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê từ các bảng biểu, báo cáo, kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn và đi từ tư duy trừu tượng đến hiện thực khách quan
5 Nội dung của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các bảng biểu số liệu kèm theo, khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương I: Tổng quan về chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc, ASEAN và Việt Nam
Chương II: Thực trạng đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào các nước ASEAN giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2006
Chương III: Bài học kinh nghiệm và giải pháp tăng cường thu hút FDI của Trung Quốc vào Việt Nam
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Mai Thu Hiền - người đã chỉ bảo và hướng dẫn em tận tình để em có thể hoàn thành luận văn này Em cũng xin được chân thành cảm ơn toàn thể Ban lãnh đạo, giảng viên,
và bộ phận thư viện trường Đại học Ngoại thương Hà Nội
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 23 tháng 04 năm 2008
Sinh viên
Lương Thị Thương Thương
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC, ASEAN VÀ VIỆT NAM
I XU HƯỚNG VÀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC
Cùng với việc tăng cường thu hút FDI, trong những năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã có những chính sách tích cực khuyến khích các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài khiến lượng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ODI: Outward Direct Investment) của Trung Quốc gia tăng nhanh chóng
1 Đặc điểm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc diễn biến không đều theo thời gian, có xu hướng tăng mạnh từ năm 2001, được thống trị bởi các doanh nghiệp Nhà nước, tuy nhiên vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng trở nên rõ nét Các lĩnh vực mà nhà đầu tư Trung Quốc quan tâm là thương mại – dịch vụ và khai mỏ
1.1 ODI của Trung Quốc thay đổi qua từng thời kỳ và bắt đầu tăng mạnh
từ năm 2001
Biểu đồ1: Lượng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc
Trang 13Nguồn: Morck, Yeung, Zhao (2007)
Tình hình đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc thay đổi theo từng thời
kỳ, phụ thuộc vào mức độ quản lý của Nhà nước
Từ năm 1979 đến năm 1985, Nhà nước Trung Quốc nắm độc quyền về ngoại thương và kiểm soát chặt chẽ các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chỉ các công ty thương mại thuộc sở hữu nhà nước mới được cấp phép đầu tư với quy mô dự án đầu tư rất hạn chế Trong cả thời kỳ từ 1979 đến 1985, tổng vốn ODI của Trung Quốc chỉ đạt khoảng 200 triệu USD (Poncet, 2007)
Sang đến giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1991, Chính phủ Trung Quốc
đã bắt đầu công nhận hoạt động đầu tư ra nước ngoài đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong các lĩnh vực phi thương mại để tìm kiếm công nghệ, tài nguyên, thị trường và ngoại tệ, đồng thời Chính phủ Trung Quốc cũng nới lỏng các điều kiện cho phép các doanh nghiệp được đầu tư ra nước ngoài, khiến lượng vốn ODI trong giai đoạn này tăng nhanh, đạt khoảng 200 triệu USD/năm (Poncet, 2007)
Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2000, lượng ODI của Trung Quốc đạt khoảng 700 triệu USD/năm do nhiều doanh nghiệp quốc doanh lớn được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt từ phía Nhà nước trong việc đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997, các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài bị tổn thất nặng nề khiến Chính phủ Trung Quốc đã phải sử dụng nhiều biện pháp thắt chặt hoạt động đầu tư làm cho lượng ODI đã giảm đi đáng kể trong các năm 1999, 2000 (Poncet, 2007)
Kể từ năm 2001 đến nay, chính sách “vươn ra quốc tế” (going global) khuyến khích tất cả doanh nghiệp Trung Quốc có năng lực đầu tư ra nước ngoài, cùng hàng loạt các biện pháp hỗ trợ được Chính phủ đưa ra đã tạo nên những thay đổi thần kỳ cho hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc Trong thời gian thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001-2005), vốn ODI của Trung Quốc hàng năm tăng trung bình trên 100% Theo
Trang 14thống kê của Bộ Thương mại Trung Quốc (MOFCOM), năm 2006 lượng vốn
ODI của Trung Quốc đạt 21,16 tỷ USD, đưa Trung Quốc lên hàng thứ 13
trong số các nước có lượng vốn ODI lớn nhất thế giới (chiếm 2,72% tổng
lượng ODI toàn cầu) Tính đến cuối năm 2006, đã có hơn 5000 doanh nghiệp
Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài và xây dựng được hơn 10000 chi nhánh tại
172 quốc gia và khu vực trên toàn thế giới (MOFCOM, 2006)
Có thể thấy rằng mặc dù hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của
Trung Quốc đi sau các nước công nghiệp phát triển tới hơn một thế kỷ nhưng
đang gia tăng với tốc độ chóng mặt, hứa hẹn đưa Trung Quốc trở thành một
nguồn cung vốn quốc tế quan trọng trong thời gian tới
1.2 ODI chủ yếu được thực hiện bởi các doanh nghiệp quốc doanh tuy nhiên
vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang ngày càng mở rộng
Các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài thuộc đủ mọi loại
hình tuy nhiên các doanh nghiệp quốc doanh đóng vị trí chủ đạo trong hầu hết
quá trình đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc Năm 2003, các công ty Nhà
nước vẫn duy trì vị trí đứng đầu, chiếm phần đáng kể nhất trong hoạt động
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với 43% tổng lượng vốn ODI, tiếp đó là các
công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần chiếm tỷ lệ 39%, còn các
công ty tư nhân chỉ chiếm 12% (Deutsche Bank, 2006)
Tuy nhiên gần đây, xu hướng đưa vốn ra nước ngoài đang tăng lên ở
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Năm 2004, tỷ lệ vốn ODI của các công
ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần đã đạt 45%, còn công ty tư nhân
đạt 14%, trong khi đó, tỷ lệ vốn ODI của doanh nghiệp quốc doanh đã giảm
xuống chỉ còn 34% (Deutsche Bank, 2006) Có thể thấy các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh đang ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc
1.3 ODI chủ yếu tập trung trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ và khai mỏ
Trang 15ODI từ Trung Quốc chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thương mại – dịch
vụ (bao gồm cho thuê tài chính, vận tải - giao nhận, bán buôn - bán lẻ, bất động sản và tài chính) và khai mỏ (đặc biệt là dầu khí, khoáng sản) Trong 3 năm từ năm 2004 đến năm 2006, vốn ODI của 2 ngành này thường xuyên chiếm trên 85% tổng vốn ODI từ các doanh nghiệp Trung Quốc (MOFCOM, 2006) Tiếp đến là ngành sản xuất chế tạo với tỷ trọng vốn đầu tư khoảng 11% Lượng vốn còn lại được đầu tư vào các ngành khác như nông nghiệp,
công nghệ thông tin, xây dựng, y tế giáo dục
Trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ, đầu tư vào hoạt động cho thuê tài chính chiếm một tỷ trọng đáng kể là 26,24% tổng vốn ODI Doanh nghiệp Trung Quốc cũng rất chú trọng tới ngành tài chính, đặc biệt là các hoạt động ngân hàng Năm 2006, tổng vốn đầu tư vào các hoạt động ngân hàng đã lên tới 3.530 tỷ USD, chiếm 16,68% lượng vốn ODI từ Trung Quốc (MOFCOM, 2006)
Khai mỏ là ngành đầu tư chiến lược mà Chính phủ Trung Quốc khuyến khích và hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để góp phần đảm bảo nguồn nguyên-nhiên liệu cho sản xuất trong nước Hàng năm, lượng vốn đầu tư vào khai khoáng và dầu khí chiếm tới hơn 30% tổng vốn ODI của Trung Quốc (MOFCOM, 2006)
Nhìn vào cơ cấu đầu tư, có thể thấy các ngành nghề doanh nghiệp Trung Quốc đang hướng tới khá đa dạng, nhưng chủ yếu vẫn là những ngành truyền thống, hàm lượng công nghệ cao còn hạn chế, đồng thời các doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới
2 Động lực thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc
Từ một quốc gia không khuyến khích hoạt động đầu tư quốc tế, Trung Quốc hiện đã là nước thu hút được nhiều FDI nhất trên thế giới và đang hướng tới việc trở thành một nhà đầu tư lớn trên toàn cầu Sự gia tăng nhanh chóng hoạt động ODI của Trung Quốc trong thời gian gần đây có thể được lý giải bởi nhiều nguyên nhân, cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô như sau:
Trang 162.1 Nhân tố “đẩy” từ phía Nhà nước
Chính phủ Trung Quốc khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm các mục đích: đảm bảo nguồn cung đầu vào cho sản xuất trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Trung Quốc và khai thác hiệu quả lượng dự trữ ngoại hối khổng lồ của mình
* Đảm bảo nguồn cung đầu vào cho sản xuất trong nước: Song song
với việc kinh tế tăng trưởng nhanh thì Trung Quốc gặp phải những khó khăn
về nguồn nguyên-nhiên-vật liệu đầu vào Tài nguyên trong nước ngày càng cạn kiệt, không đủ đáp ứng nhu cầu dẫn đến nguy cơ tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn sẽ bị kéo xuống Trong vòng 20 năm trở lại đây, Trung Quốc từ một nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất Đông Á đã trở thành nước nhập khẩu dầu thứ hai thế giới, chiếm khoảng một phần ba nhu cầu dầu mỏ toàn cầu năm 2005 (Deutsche Bank, 2006) Điều tương tự cũng diễn ra với nhu cầu
về nhôm, đồng, niken, quặng sắt và các nguyên-vật liệu thiết yếu khác Bài toán đặt ra là phải tìm được nguồn cung cấp đầu vào từ nước ngoài và các dự
án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là câu trả lời cho bài toán này
* Gia tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trung Quốc: Sau khi
Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) (12/2001), một mặt các doanh nghiệp Trung Quốc có thêm cơ hội vươn ra thị trường quốc tế, mặt khác cũng gặp phải cạnh tranh gay gắt tại tị trường nội địa Để tận dụng tối đa thời cơ gia nhập WTO, Chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để thông qua cọ xát trên trường quốc tế, nâng cao được khả năng cạnh tranh của mình Một ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Trung Quốc trong chiến lược vươn ra quốc tế (going global) là tạo ra các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs) tầm cỡ quốc tế có năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới
* Khai thác hiệu quả lượng dự trữ ngoại hối khổng lồ: Kinh tế tăng
trưởng nhanh chóng cùng thị trường tiêu thụ rộng lớn và nguồn lao động dồi dào giá rẻ đã hấp dẫn đông đảo các nhà đầu tư nước ngoài đến khai thác thị
Trang 17trường Trung Quốc Lượng vốn FDI đổ vào Trung Quốc ngày càng nhiều, cùng thặng dư thương mại liên tục trong nhiều năm khiến dự trữ ngoại hối của Trung Quốc gia tăng nhanh chóng, đạt mức trên 1000 tỷ USD vào năm
2006 (Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, 2007) Lượng cung ngoại tệ lớn trên thị trường cũng gây sức ép tăng giá đồng Nhân dân tệ (RMB) Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vừa góp phần khai thác hiệu quả nguồn ngoại tệ khổng lồ vừa giảm bớt sức ép tăng giá đồng RMB
Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, mục đích của Chính phủ Trung Quốc dần được thực hiện Năng lực của các doanh nghiệp Trung Quốc gia tăng đáng kể, Trung Quốc đã có 20 tập đoàn trong danh sách
500 tập đoàn lớn nhất thế giới của tạp chí Fortune năm 2006 (China Economics Review, 2006) Ngoài ra, các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã xuất khẩu trở lại Trung Quốc 320.000 thùng dầu thô mỗi ngày (Eurasia Group, 2006) Như vậy, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
là một trong những biện pháp hữu hiệu để bảo đảm nguồn cung đầu vào khan hiếm, tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trung Quốc và khai thác hiệu quả lượng dự trữ ngoại hối khổng lồ
2.2 Nhân tố “đẩy” từ phía doanh nghiệp
Đầu tư ra nước ngoài không chỉ là định hướng của Chính phủ mà còn là nhu cầu cấp thiết của bản thân các doanh nghiệp Trung Quốc trong thời gian gần đây Có nhiều nhân tố đẩy doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài như các nhân tố liên quan đến thị trường (cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, tận dụng năng lực sản xuất nội địa, vượt qua các rào cản trong xuất khẩu trực tiếp) và nhân tố tài sản độc quyền của doanh nghiệp nước nhận đầu tư
* Các nhân tố liên quan đến thị trường:
- Các doanh nghiệp nhận thấy cần phải tìm kiếm thị trường mới do cạnh tranh giữa các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ ngày càng gay gắt trong thị trường nội địa Quá nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến Trung Quốc kinh doanh
Trang 18khiến cho thị trường nội địa trở nên chật hẹp và gia tăng sức ép cạnh tranh lên các doanh nghiệp trong nước Do đó, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc phải tiến hành đầu tư ra nước ngoài để có thể duy trì lợi thế của mình, mở rộng thị trường, tăng lợi nhuận
- Các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng năng lực sản xuất nội địa: Trong nước, tình trạng sản xuất dư thừa một số mặt hàng chủ lực như đồ điện tử gia dụng, máy móc đã tạo ra lượng cung vượt quá sức tiêu thụ của người dân Trung Quốc Năng lực sản xuất thừa 30-40% đối với mặt hàng máy giặt, tủ lạnh và lò vi sóng, hơn 90% đối với mặt hàng tivi (Deutsche Bank, 2006) Thực tế đó đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài thông qua con đường xuất khẩu tư bản
để khai thác sức tiêu dùng ở những thị trường tiềm năng khác Ngoài ra, vấn
đề đa dạng hóa thị trường để chuyển giao công nghệ đã lỗi thời sang các nước kém phát triển hơn, kéo dài tuổi thọ sản phẩm, tăng doanh thu giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa năng lực sản xuất
- Một nhân tố khác thúc đẩy các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài đó là những nước phát triển như Mỹ và liên minh châu Âu (EU)
đã lập nên nhiều rào cản đối với hàng dệt may xuất khẩu từ Trung Quốc khiến doanh nghiệp Trung Quốc phải chuyển cơ sở sản xuất sang các nước được tự
do xuất khẩu với mức thuế suất ưu đãi hơn Bên cạnh đó, đồng RMB tăng giá khoảng 18% kể từ năm 2005 khiến sản phẩm dệt may của Trung Quốc đắt đỏ hơn, cùng giá nhân công và nguyên vật liệu gia tăng khiến sản xuất trong nước bớt phần lợi thế so với sản xuất tại một số nước khác
* Tài sản độc quyền của doanh nghiệp nước nhận đầu tư: Bản thân
doanh nghiệp Trung Quốc chưa thật sự mạnh so với các TNCs lớn trên thế giới Công nghệ hiện đại tại Trung Quốc chủ yếu nằm trong tay các công ty nước ngoài, các doanh nghiệp Trung Quốc nhận thấy họ không thể cạnh tranh chỉ bằng giá cả thấp Nhu cầu tiếp cận kiến thức quản lý, đạt được các tài sản độc quyền sẵn có của các doanh nghiệp khác tại các nước phát triển hơn như
Trang 19công nghệ hiện đại, nhãn hiệu nổi tiếng, mạng lưới phân phối đã hối thúc các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập (M & A) Hoạt động M & A tăng từ 60 triệu USD năm 1990 lên 1125 triệu USD năm 2004 Theo MOFCOM, M & A chiếm tới 80% tổng giá trị ODI trong nửa đầu năm 2005, tăng 182,5% so với cùng kỳ năm 2004 Hoạt động M
& A tại các nước phát triển nhằm tận dụng tài sản độc quyền sẽ vẫn tiếp tục là khuynh hướng chủ đạo cho dòng ODI của Trung Quốc trong thời gian tới
Thời kỳ bùng nổ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc đang và
sẽ diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới dưới tác động của các nhân tố “đẩy” từ phía Nhà nước cũng như từ phía doanh nghiệp Trung Quốc Theo dự đoán, trong tương lai, Trung Quốc sẽ trở thành nhà cung cấp vốn lớn ở nhiều nước trên thế giới Gây dựng một nền tảng quan hệ đầu tư với Trung Quốc từ lúc này sẽ mang lại nhiều ích lợi cho các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng
3 Chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc
Chính sách đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc thay đổi theo thời gian dựa trên các chiến lược liên quan đến ODI của từng thời kỳ và thông qua các quy định, biện pháp liên quan đến ODI
* Về chiến lược: Chính phủ Trung Quốc chuyển từ cấm, hạn chế đầu tư
ra nước ngoài (trước năm 1985) sang công nhận và cho phép hoạt động đầu tư
ra nước ngoài (trong những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ 20) Sang thập niên 90 của thế kỷ 20, Chính phủ Trung Quốc đã bước đầu khuyến khích hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đặc biệt là từ năm 2001, ODI chính thức được Nhà nước Trung Quốc quan tâm và khuyến khích
- Trước năm 1978, các TNCs bị coi là công cụ của chủ nghĩa đế quốc trong việc bóc lột kinh tế và là biểu hiện của chủ nghĩa thực dân mới ở Trung Quốc Do đó, mãi đến giữa thập niên 80 người ta vẫn còn hoài nghi về sự phù hợp của các TNCs với học thuyết chủ nghĩa xã hội, của hoạt động quốc tế của các công ty Trung Quốc với chiến lược phát triển cơ bản của quốc gia Tuy
Trang 20nhiên vai trò to lớn của các TNCs đối với nền kinh tế và chính trị các nước đang phát triển là không thể phủ nhận
- Trước tình hình đó, đến năm 1985, Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu công nhận hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong các lĩnh vực phi thương mại
để tìm kiếm công nghệ, tài nguyên, thị trường và ngoại tệ Sang năm 1988, trong chiến lược cải cách kinh tế toàn diện, Trung Quốc tập trung phát triển kinh tế các vùng duyên hải hướng ra xuất khẩu và lần đầu tiên các doanh nghiệp quốc doanh lớn của Trung Quốc được phép đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng mối quan hệ quốc tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các vùng này Tháng 9 năm 1992, sau Đại hội Đảng lần thứ 14, Trung Quốc chính thức khuyến khích các hoạt động xuyên quốc gia nói chung cũng như hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng của các doanh nghiệp trong nước Trong khoảng thời gian 1991-1997, nhà nước Trung Quốc đã thành lập một
“đội quân quốc gia” (national team) gồm 120 doanh nghiệp có khả năng quốc
tế hóa các doanh nghiệp Trung Quốc trong các ngành then chốt thuộc sở hữu Nhà nước như: sản xuất điện, khai mỏ, ôtô, điện tử, sắt thép, máy móc, hóa chất, xây dựng, giao thông, không gian vũ trụ, dược (Friedrich Wu, 2005) Các doanh nghiệp này được Chính phủ bảo vệ và nhận được hỗ trợ lớn về mặt tài chính cũng như có quyền tự quyết về đầu tư, lợi nhuận giữ lại để tiến hành đầu tư ra nước ngoài Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ 15 năm 1998 đã nêu rõ phương hướng “tận dụng hai nguồn nguyên liệu, hai loại thị trường trong nước và quốc tế”, đánh dấu bước chuyển hướng tích cực cho chiến lược đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốc
- Sang năm 2001, việc Trung Quốc gia nhập WTO cùng các nhu cầu cấp thiết trong nước đã thúc đẩy chính phủ Trung Quốc tạo dựng một hệ thống hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài Chiến lược “hướng ra quốc tế” (going global) được chính thức tuyên bố trong “cương lĩnh phát triển 5 năm lần thứ 10” (2001-
Trang 212005) Chiến lược này khuyến khích tất cả các doanh nghiệp có ưu thế thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành đầu tư ra nước ngoài
* Về các quy định, biện pháp liên quan đến ODI: Chính phủ Trung Quốc
đã dần dần bãi bỏ một số các quy định liên quan đến hạn chế đầu tư ra nước ngoài
và có nhiều biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động ODI
- Thủ tục cấp phép đầu tư, quản lý ngoại tệ liên tục được đơn giản hóa
Từ năm 2002, 6 tỉnh thành được thí điểm tự cấp phép về quản lý ngoại tệ thay cho Ủy ban quản lý ngoại hối Trung Quốc đối với các dự án dưới 1 triệu USD
và được quyền quản lý tổng giá trị đầu tư lên đến 200 triệu USD Từ tháng 4/2004, việc cấp phép đầu tư của Bộ Thương Mại cũng được giao lại cho các địa phương trừ các doanh nghiệp lớn thuộc sở hữu nhà nước Sang tháng 5/2005, cách quản lý hoạt động đầu tư mới được ứng dụng trên toàn bộ các tỉnh thành trên cả nước với mức độ quản lý tổng vốn đầu tư của một địa phương lên đến 5 tỷ USD, giới hạn cho một dự án mà một địa phương có thể cấp lên đến 10 triệu USD Đến tháng 6/2006, hạn ngạch đầu tư đối với các doanh nghiệp Trung Quốc được xóa bỏ Ủy ban Phát triển và Cải cách Nhà nước Trung Quốc đã ban hành quy định về “Biện pháp quản lý tạm thời trong cấp phép dự án đầu tư ra nước ngoài”, giúp các thủ tục cấp phép dự án đầu tư
ra bên ngoài đơn giản hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô các dự án Các doanh nghiệp trong nước nếu muốn đầu tư ra nước khác chỉ cần báo cáo xin phép thay vì làm đơn xin xét duyệt như trước đây và nội dung báo cáo cũng đơn giản hơn rất nhiều so với trước Cũng theo quy định này, chỉ cần trình lên cấp Nhà nước những dự án có trị giá trên 30 triệu USD, còn lại do chính quyền địa phương cấp phép, thậm chí có những dự án có thể giao cho doanh nghiệp tự quyết định Các quy định về việc giám sát ngoại hối cũng như việc bắt buộc chuyển lợi nhuận về nước được dỡ bỏ, thủ tục kiểm tra nguồn gốc ngoại tệ được giảm bớt, các điều kiện mua ngoại tệ để đầu tư ra
Trang 22nước ngoài được nới rộng, và việc chuyển các tài sản hợp pháp ra nước ngoài được Nhà nước cho phép (Bank of Tokyo, 2006)
- Hệ thống các biện pháp hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài cũng được mở rộng Tháng 3/2003, Bộ Thương Mại đã mở một trang web hỗ trợ, chấp nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài và thông báo phê chuẩn qua mạng, cung cấp thông tin công khai về chính sách của chính phủ, môi trường đầu tư của các nước, danh sách các tổ chức hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đảm bảo sự tăng trưởng của thị trường ngoại hối và tích cực phát triển các sản phẩm ngân hàng để trợ giúp các doanh nghiệp quản lý rủi ro lãi suất và rủi ro hối đoái Không chỉ có vậy, việc hỗ trợ các khoản vay với lãi suất thấp từ các tổ chức tài chính của Nhà nước, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là những chính sách có tác động tích cực đến hoạt động đầu tư Tháng 7/2004 Bộ Thương Mại và Bộ Ngoại Giao công bố danh sách các ngành nghề khuyến khích đầu tư ra nước ngoài gồm 5 lĩnh vực: Nông nghiệp, thức ăn gia súc, nghề cá; công nghiệp mỏ; công nghiệp chế tạo; ngành dịch vụ
và một số ngành khác Nhà nước bắt đầu đưa ra hàng loạt các hỗ trợ về vốn, thuế, kinh doanh, ngoại hối, (Bank of Tokyo, 2006)
Đối với ngành khai khoáng, Chính phủ Trung Quốc tạo mọi điều kiện cho các nhà máy, xí nghiệp trong nước ra nước ngoài liên doanh liên kết để thăm dò, khai thác các loại khoáng sản đưa về Trung Quốc chế biến Trung Quốc có chủ trương cho phép các loại phương tiện vận chuyển chuyên chở khoáng sản qua các cửa khẩu chỉ cần có giấy giới thiệu của nơi tiêu thụ thì Hải quan Trung Quốc sẽ ưu tiên cho phép nhập quặng về mà không bị lực lượng nào kiểm tra (Trịnh Thị Hậu, 2007) Về ngành dầu mỏ, Chính phủ Trung Quốc hỗ trợ đầu tư bằng cách tăng cường quan hệ thương mại song phương, cấp hỗ trợ phát triển chính thức, giúp xây dựng cơ sở hạ tầng và mạng lưới thông tin cho nước nhận đầu tư Chính sách “ngoại giao đôla” (dollar diplomacy) này đã mở đường cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà
Trang 23nước dễ dàng tiếp cận với nguồn tài nguyên ở các nước nhận đầu tư Ngoài ra, Nhà nước còn bảo hiểm cho những loại hình rủi ro như chiến tranh, bạo loạn,
bị Chính phủ nước nhận đầu tư trưng thu tài sản và những rủi ro phi thương mại khác mà doanh nghiệp có thể gặp phải khi đầu tư ở nước ngoài
Với doanh nghiệp gia công, lắp ráp, Trung Quốc có những chính sách đặc biệt ưu tiên Về vốn, Ngân hàng sẽ ưu tiên xem xét cấp tín dụng xuất khẩu đối với các trang thiết bị cần thiết cho hoạt động đầu tư như máy móc, công nghệ, linh kiện, nguyên vật liệu Về thuế, doanh nghiệp sẽ được hoàn lại với những tài sản dùng để góp vốn căn cứ vào giấy chứng nhận của Bộ Thương mại và hợp đồng hợp tác kinh doanh
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong nước Chính phủ Trung Quốc sẽ còn tiếp tục đưa ra các chính sách ưu đãi và kế hoạch hỗ trợ các doanh nghiệp có tiềm lực đầu tư ra nước ngoài Điều này hứa hẹn nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc sẽ gia tăng mạnh trong thời gian tới và là
cơ hội không thể bỏ qua cho các nước ASEAN
II CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA ASEAN
Thực tế cho thấy FDI là một nguồn cung vốn ngoại tệ không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của FDI, các nước ASEAN đều sớm ban hành các luật điều chỉnh đầu tư nước ngoài và luôn sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình kinh tế đất nước và những biến chuyển trong xu hướng kinh tế thế giới
1 Chính sách tự do hóa thu hút FDI
1.1 Nới lỏng các hạn chế đầu tư
Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội mà các nước ASEAN
có mức độ mở cửa trong các ngành, các lĩnh vực cho nhà đầu tư nước ngoài khác nhau Nhìn chung, sau khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997, các nước ASEAN hầu hết đều nới lỏng các quy định về sự tham gia của nguồn
Trang 24vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực trước đây còn hn chế, giảm các ngành trong danh mục hạn chế sở hữu 100% vốn nước ngoài Danh mục các lĩnh vực hạn chế đầu tư ngày càng được rút ngắn và tỷ lệ sở hữu vốn trong các
ngành này cũng được gia tăng cho các nhà đầu tư nước ngoài
Singapore có một khung pháp lý hoàn chỉnh và thông thoáng, rất ít ngành hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài kể cả dịch vụ, viễn thông Thậm chí Singapore còn khuyến khích đầu tư vào một số lĩnh vực dịch vụ thiết yếu cho kinh doanh quốc tế như tài chính, vận tải biển Singapore cho phép nhà đầu tư nước ngoài tự do đầu tư trong lĩnh vực mà pháp luật không cấm, có quyền tự quyết trong quy mô đầu tư Như vậy các nhà đầu tư khi đầu tư vào Singapore không bị hạn chế tỷ lệ sở hữu vốn, có thể sở hữu 100% vốn trong tất cả các lĩnh vực không bị cấm, không bị yêu cầu phải đầu tư một mức tỷ lệ tối thiểu.Tại Indonesia, từ tháng 7/1998, danh sách các ngành đóng cửa đối với vốn đầu tư nước ngoài trước đây (như điện lực, hải cảng, thông tin, bất động sản ) đã được thu hẹp và tỷ lệ sở hữu tối đa của vốn nước ngoài được nâng lên 95% thay vì 49% như trước (Viện kinh tế và chính trị thế giới, 2004) Indonesia xóa
bỏ những quy định về tỷ lệ sở hữu tối thiểu đối với các dự án nước ngoài đầu tư vào các ngành dịch vụ như viễn thông, bán buôn bán lẻ, phân phối và hàng không thương mại Trong lĩnh vực tài chính, Chính phủ Indonesia cho phép các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư cổ phần trong các ngân hàng thương mại với tỷ lệ tối đa là 49% (Viện kinh tế và chính trị thế giới, 2004) Xuất khẩu dầu
mỏ là nguồn thu chủ yếu của Indonesia nên Chính phủ nước này khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thăm dò và khai thác dầu khí
Myanma có chiến lược phát triển dài hạn dựa trên tăng thu ngoại tệ thông qua xuất khẩu các tài nguyên sẵn có như dầu lửa, khí đốt, đá quý, các loại quặng, Do đó, Chính phủ Myanma cho phép các công ty nước ngoài tham gia vào việc thăm dò và khai thác các loại tài nguyên nói trên dưới hình thức
Trang 25liên doanh Myanma đã mở cửa cho các công ty dầu khí nước ngoài khai thác các mỏ dầu từ cuối năm 1998 (Doanh nghiệp 24h, 2007)
Campuchia khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, hạ tầng cơ sở giao thông và viễn thông, năng lượng
và điện lực, ngành sử dụng nhiều lao động và xuất khẩu, du lịch, phát triển nguồn nhân lực Nhìn chung, Campuchia hầu như không có rào cản đặt ra đối với các nhà đầu tư nước ngoài do thực hiện chính sách mở cửa sau khi gia nhập WTO
Tại Thái Lan, Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi năm 1999 nới lỏng những hạn chế trước đây đối với sự tham gia của vốn nước ngoài trong các lĩnh vực như luật, kế toán, quảng cáo và hầu hết các loại hình xây dựng, cho phép nước ngoài sở hữu 100% vốn trong lĩnh vực bán lẻ Từ tháng 8/2000, Chính phủ Thái Lan cho phép người nước ngoài sở hữu 100% vốn không phân biệt khu vực đầu tư
Tại Malaysia, từ tháng 7/1998, nhà đầu tư nước ngoài đã được phép sở hữu 100% vốn trong lĩnh vực chế tạo mà không phải đáp ứng tỷ lệ xuất khẩu nào
Theo quy định của Philippin từ năm 2000 thì mức sở hữu của vốn nước ngoài có thể đạt tới 100% trong tất cả các ngành trừ các ngành thuộc danh mục hạn chế đầu tư, mở cửa lĩnh vực xây dựng tư nhân, ngành bán lẻ và kinh doanh phân phối hàng hóa cho đầu tư nước ngoài
1.2 Về các quy định liên quan đến FDI
Các quy định về lao động, đất đai, cấp phép và quản lý đầu tư của các nước ASEAN khá thông thoáng, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Về lao động, nhiều nước trong ASEAN không có quy định ràng buộc nhà đầu tư trong việc tuyển dụng lao động Bộ luật lao động của Singapore và Thái Lan rất linh hoạt: doanh nghiệp được tự do thuê và sa thải lao động;
Trang 26không quy định mức lương tối thiểu mà để thị trường quyết định Tại Singapore, Hội đồng lương quốc gia đề nghị tỷ lệ tăng lương tùy vào điều kiện của nền kinh tế Tại Thái Lan, các chủ đầu tư có thể tự quyết định thời hạn, điều kiện và phương thức cũng như số lượng tuyển dụng mình cần
Về đất đai, một số nước cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu đất, còn lại đều cho phép các nhà đầu tư thuê đất trong thời gian dài từ 99 đến 100 năm Tại Malaysia, doanh nghiệp FDI có thể lựa chọn mua hay thuê đất trong
99 năm, có thể chuyển đổi, thế chấp để vay vốn Thái Lan cũng có một số ngoại lệ cho phép người nước ngoài có thể sở hữu về đất đai (Viện kinh tế và chính trị thế giới, 2004) Campuchia cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất với thời hạn tối đa 99 năm, cùng nhiều chính sách miễn, giảm thuế đất (Vietnamnet, 2005) Các quy định này rất có lợi về mặt thu hút đầu tư nước ngoài vì nhờ đó các doanh nghiệp có thể tự do kinh doanh khai thác dự án trong thời hạn mong muốn
Về hệ thống quản lý đầu tư ở Trung ương và địa phương: Các nước đều
có xu hướng phát triển hình thức cơ quan một cửa để đơn giản hóa các quy trình thủ tục cho nhà đầu tư Hệ thống quản lý đầu tư của Indonesia tương đối gọn gàng: ở cấp Trung ương chỉ có Cơ quan hợp tác đầu tư (BKPM) trực thuộc Tổng thống, là đầu mối thống nhất quản lý mọi dự án Tại địa phương có các cơ quan hợp tác đầu tư địa phương chỉ tập trung vào công tác hỗ trợ các nhà đầu tư để họ
có được các giấy phép cần thiết sau giấy phép đầu tư Nhờ có trung tâm xử lý số liệu máy tính ở BKPM nên các nhà quản lý có thể theo dõi kịp thời diễn biến của các xí nghiệp FDI, giúp công việc được tiến hành nhanh chóng, hiệu quả và chính xác Chính phủ Campuchia thành lập Hội đồng phát triển Campuchia (CDC) năm 1994 làm trung tâm quản lý đầu tư một cửa, với hai cơ quan điều hành là Cục Đầu tư Campuchia (CIB) và Cục Phục hồi và Phát triển Campuchia (CRDB) nhằm giải quyết nhanh chóng các vấn đề khúc mắc của nhà đầu tư nước ngoài
Trang 27Về thủ tục cấp giấy phép và triển khai dự án: Các nước đều nỗ lực cải thiện quá trình cấp phép cho nhà đầu tư theo hướng đảm bảo nhanh chóng và thông thoáng Tại Singapore, nhà đầu tư không phải xin phép đầu tư, Ủy ban phát triển kinh tế (EDB) của Singapore xét duyệt các dự án chỉ nhằm mục đích đảm bảo dự án đáp ứng đủ điều kiện để hưởng các chế độ khuyến khích,
ưu đãi Indonesia đã ban hành Luật đầu tư sửa đổi 2002 trong đó có quy định các nhà đầu tư sẽ làm việc trực tiếp với cơ quan Chính phủ tương thích như
Bộ tài chính, Bộ lao động, Bộ tư pháp cũng như các cơ quan địa phương Quy trình xin phép đầu tư thông thoáng và đơn giản hơn, thậm chí một số Đại sứ quan và Lãnh sự quán của Indonesia ở nước ngoài cũng có thể xem xét các đơn xin phép đầu tư Hội đồng phát triển Campuchia (CDC) là trung tâm dịch
vụ đầu tư một cửa, đảm bảo cấp phép đầu tư cho tất cả các dự án trong vòng
45 ngày, trừ những dự án liên quan đến nguồn tài nguyên thiên nhiên Mọi quy định đều rõ ràng và cụ thể, không đòi hỏi bất cứ một loại giấy phép đặc biệt nào
Thêm vào đó, các nước ASEAN hầu hết đều xóa bỏ các quy định hạn chế về tái đầu tư, chuyển thu nhập về nước, quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, đảm bảo đối xử bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; đồng thời, đảm bảo tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa Trong trường hợp cần thiết, doanh nghiệp FDI bị trưng mua, trưng dụng thì nhà đầu tư được bồi thường thỏa đáng
Nhìn chung, hầu hết các nước ASEAN sau khủng hoảng tài chính châu Á đều sửa đổi luật hoặc ban hành bổ sung các nghị định nới lỏng và đơn giản hóa các quy định, thủ tục liên quan đến FDI để cải thiện môi trường đầu tư trong nước, tăng cường thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
2 Các hình thức ưu đãi và hỗ trợ đầu tư
Các nước ASEAN đều ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực mới, sử dụng công nghệ cao hoặc hướng về xuất khẩu; khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư
Trang 28vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và/hoặc sử dụng nhiều lao động, vào các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn Đối với các dự
án thuộc danh mục ưu đãi đầu tư của các nước, các nhà đầu tư nước ngoài đều được hưởng nhiều ưu đãi miễn giảm tương đối cạnh tranh về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế VAT, ưu đãi về thuê đất… cùng nhiều
hỗ trợ khác Các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ này vừa nhằm tăng cường thu hút FDI vừa nhằm hướng nguồn FDI vào các lĩnh vực cũng như địa bàn mà các nước ưu tiên
2.1 Ưu đãi về thuế
Các nước ASEAN sử dụng thuế như một phương tiện chủ chốt để thu hút FDI và hướng dòng FDI vào các ngành, khu vực trọng điểm
Singapore được coi là một “thiên đường” về ưu đãi các loại thuế Chính phủ Singapore đã đưa ra bảng phân loại các xí nghiệp, các ngành sản xuất ưu tiên và đi cùng là các chế độ ưu đãi cụ thể nhằm hướng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào các lĩnh vực theo mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước Tùy theo lĩnh vực, địa bàn và quy mô hoạt động mà nhà đầu tư nước ngoài có thể được miễn toàn bộ thuế thu nhập, mức tối đa là trong thời gian 15 năm đối với các doanh nghiệp đầu tư trong ngành mũi nhọn hướng về xuất khẩu và có vốn đầu tư vào tài sản cố định từ 100 triệu đôla Singapore trở lên Các doanh nghiệp FDI đầu tư trong ngành mũi nhọn như ngành chế tạo và dịch
vụ thiết yếu cho kinh doanh quốc tế được miễn toàn bộ mức thuế thu nhập doanh nghiệp (22%) trong 5 - 10 năm Chính phủ miễn thuế thu nhập tương đương với một tỷ lệ nhất định (tới 50%) của vốn đầu tư cố định mới đối với các công ty hoạt động trong các ngành như chế tạo, dịch vụ, kỹ thuật, nghiên cứu
và triển khai, xây dựng hoặc các dự án giảm tiêu dùng nước, với điều kiện công
ty phải đầu tư một lượng nhất định vốn trong 5 năm Nếu trong quá trình kinh doanh bị lỗ thì được xem xét để kéo dài thời gian miễn giảm thuế Các doanh
Trang 29nghiệp FDI nói chung đều được miễn thuế nhập khẩu các thiết bị có liên quan đến việc thực hiện dự án đầu tư (Viện kinh tế và chính trị thế giới, 2004)
Tại Indonesia, các doanh nghiệp FDI được miễn thuế thu nhập từ 3-10 năm nếu đầu tư vào các ngành mới (22 ngành) tại các vùng đảo Java và Bali,
và từ 5-12 năm nếu đầu tư vào các vùng khác Miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, các bộ phận dự phòng và thiết bị hỗ trợ, nguyên liệu thô phục vụ sản xuất trong 2 năm đầu hoạt động đối với những công ty đang hoạt động muốn mở rộng công suất của mình trên 30% công suất
đã lắp đặt Máy móc, thiết bị, phụ tùng được ủy ban đầu tư phê duyệt trong danh mục quy định cũng sẽ được miễn giảm thuế nhập khẩu Indonesia có ưu đãi đặc biệt đối với FDI hướng vào xuất khẩu như miễn thuế VAT và thuế doanh thu đánh vào hàng xa xỉ hoặc nguyên liệu mua ở địa phương; hoàn thuế nhập khẩu hàng hóa và vật liệu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu; nhập khẩu không hạn chế nguyên liệu thô cần thiết không tính đến việc có hay không sản phẩm nội địa tương tự (Viện kinh tế và chính trị thế giới, 2004)
Campuchia miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (20%) với thời hạn từ 3-9 năm cho các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực được khuyến khích, miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu cho hầu hết các dự
án trong giai đoạn xây dựng và năm hoạt động đầu tiên, không thu thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (Vietnamnet, 2005)
Các nước khác như Malaysia, Thái Lan, Philippin đều đưa ra nhiều chính sách ưu đãi về miễn giảm thuế thu nhập, thuế xuất nhập khẩu,… cho các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực mới, sản xuất hướng về xuất khẩu Malaysia miễn thuế nhập khẩu tư liệu sản xuất cho các công ty trong các khu xuất khẩu và cho các dự án định hướng xuất khẩu, miễn/giảm thuế tối đa là 5 năm tính từ ngày sản xuất đối với các dự án vào lĩnh vực mới và miễn thuế trong thời hạn từ 5-10 năm đối với các dự án công nghệ cao Thái Lan miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án hướng ra xuất khẩu từ 3-8 năm tùy
Trang 30địa bàn hoạt động; miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu thiết yếu trong
5 năm cho các dự án đầu tư vào các địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư và xuất khẩu ít nhất 30% sản lượng Philippin miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (trong thời hạn 4-8 năm) khi đầu tư vào các lĩnh vực mới, hướng ra xuất khẩu
2.2 Các hình thức hỗ trợ đầu tư
Các nước ASEAN đều nhận thức được tầm quan trọng của các biện pháp hỗ trợ cho nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án nên các nước đã áp dụng cơ chế một cửa nhằm giúp nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần thông qua một đầu mối để có thể được hỗ trợ về mọi mặt Nhiều nước đưa ra các hình thức
hỗ trợ về đào tạo, về góp vốn tài sản, về khuyến khích các dịch vụ đầu tư…
Các công ty đầu tư 100% vốn nước ngoài hoặc công ty liên doanh trong lĩnh vực mũi nhọn tại Singapore được EDB hỗ trợ vốn để thành lập doanh nghiệp EDB thường mua không quá 30% vốn tự có của công ty, sau khi công
ty làm ăn có lãi, EDB sẽ bán lại cổ phần cho công ty EDB còn có chính sách
hỗ trợ 80% kinh phí hoạt động cho các quỹ phát triển nguồn nhân lực nội bộ doanh nghiệp bằng việc lập Quỹ phát triển kỹ năng với nhiều chương trình đào tạo đa dạng (chương trình đào tạo công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh, đào tạo cán bộ ) để giúp các doanh nghiệp FDI phát triển nguồn nhân lực (Bộ Thương mại, 2000) Malaysia áp dụng chính sách đào tạo lao động theo yêu cầu của chủ đầu tư Ủy ban đầu tư Thái Lan (BOI) cung cấp các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư nước ngoài như mở các trang web cung cấp thông tin về đầu tư, lập
cơ quan giúp phát triển mối liên hệ giữa các TNCs và các nhà cung cấp địa phương, lập chế độ một cửa cấp visa và giấy phép hoạt động trong vòng 3 giờ, lập trung tâm dịch vụ đầu tư cung cấp các dịch vụ tư vấn (Viện kinh tế và chính trị thế giới, 2004)
Nhìn chung, các nước ASEAN đều đang cố gắng xây dựng một chính sách đầu tư thông thoáng với nhiều ưu đãi, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài Điều này giúp cho môi trường đầu
tư của các nước ASEAN ngày càng hấp dẫn trong con mắt các nhà đầu tư
Trang 31III CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC THU HÚT ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC
1 So sánh môi trường đầu tư của Việt Nam với các nước ASEAN
1.1 Lợi thế của Việt Nam so với các nước ASEAN trong việc thu hút FDI của Trung Quốc
Chính trị ổn định, quy mô thị trường khá lớn với nhiều tiềm năng và vị trí địa lý chiến lược là lợi thế của Việt Nam so với nhiều nước ASEAN trong việc thu hút FDI của Trung Quốc
* Về môi trường chính trị, xã hội: Việt Nam được đánh giá là nước có nền chính trị ổn định và lành mạnh nhất khu vực Công ty tư vấn rủi ro chính trị
và kinh tế (PERC) của Hồng Kông đã xếp Việt Nam vào vị trí số 1 về ổn định trong khu vực sau sự kiện khủng bố 11/9/2002 (Viện kinh tế và chính trị thế giới, 2004) So với các nước ASEAN khác như Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippin, Myanma thì Việt Nam ít có các vấn đề liên quan đến tôn giáo và mâu thuẫn sắc tộc Tại Indonesia, tình hình chính trị – xã hội bất ổn liên miên
do phong trào ly khai Aceh và khủng bố từ các nhóm Hồi giáo cực đoan, mà đỉnh điểm là vụ ném bom đảo Bali (10/2002) Thái Lan thường xuyên diễn ra các vụ bạo động, đánh bom tại miền Nam do các nhóm Hồi giáo ly khai gây ra Philippin với hệ thống chính trị đa Đảng chứa đựng nhiều bất ổn Tại Myanma, biểu tình chống chế độ chính quyền quân phiệt liên tục diễn ra Ngược lại, Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất - Đảng Cộng Sản Việt Nam, hoạt động với mục tiêu "của dân, do dân và vì dân", được sự ủng hộ đồng tình của tất cả dân tộc, tôn giáo nên chính trị rất ổn định, đảm bảo an toàn cho dòng vốn FDI Đặc biệt đối với các nhà đầu tư nhỏ và vừa của Trung Quốc, kinh nghiệm và năng lực đầu tư ra nước ngoài còn hạn chế thì môi trường chính trị
ổn định để hoạt động kinh doanh là yếu tố quan trọng hàng đầu
* Về quy mô thị trường: Việt Nam là một thị trường tương đối lớn tại Đông Nam Á, với quy mô dân số trên 85 triệu người (2005), có sức mua khá
Trang 32lớn tại các thành phố chính, quá trình di dân và tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh Xu hướng tiêu dùng đã có nhiều biến chuyển do tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh chóng Theo số liệu của Cục tình báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA), tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Việt Nam trong những năm gần đây tương đương với GDP của Phillipin và Singapore, chỉ thấp hơn GDP của Indonesia, Thái Lan và Malaysia Đặc biệt, Việt Nam có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất khu vực trong nhiều năm, trên 7%/năm (giai đoạn 2000-2005) (Thông tấn xã Việt Nam, 2007) Triển vọng kinh tế tích cực ở Việt Nam hứa hẹn mở ra nhiều
cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường của Trung Quốc
* Về vị trí địa lý: Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, có đường biên giới dài tiếp giáp với Trung Quốc, là cửa ngõ để Trung Quốc đẩy mạnh liên kết hợp tác với các nước ASEAN Hơn nữa, Việt Nam còn có tiềm năng liên kết kinh tế Trung Quốc với khu vực và thế giới do có bờ biển dài thuận lợi phát triển giao thông biển Trong khi đó, phần lớn các nước ASEAN đều có vị trí kém thuận lợi hơn so với Việt Nam do hầu hết đều nằm sâu trong nội địa, việc giao thương bằng đường biển phải thông qua Việt Nam và Singpapore Đó là một ưu thế vượt trội trong việc thu hút FDI của Trung Quốc
Ngoài ra, Việt Nam còn có lợi thế về chi phí lương công nhân thấp hơn
so với nhiều nước trong khu vực (Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia) (Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản, 2006) Hơn nữa, Trung Quốc và Việt
Nam có sự tương đồng về chính trị Cả hai nước đều đang trong giai đoạn quá
độ đi lên Chủ nghĩa xã hội từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế định hướng thị trường có sự điều tiết của Nhà nước ở tầm vĩ mô Trung Quốc
mở cửa nền kinh tế trước Việt Nam gần một thập kỷ đã giúp các công ty Trung Quốc tích lũy được kinh nghiệm trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường cũng như phát triển kỹ năng marketing, quản lý trong môi trường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Do đó, nhà đầu tư Trung Quốc khi đầu tư vào Việt Nam có thể dễ dàng hiểu và nắm bắt được cách quản lý của Nhà nước, tâm lý người tiêu dùng
Trang 33Việt Nam nên không gặp khó khăn trong khâu quảng bá và đáp ứng nhu cầu nội địa
Các lợi thế trên cần được phát huy tối đa để gia tăng sức cạnh tranh của Việt Nam trong việc thu hút FDI từ Trung Quốc với các nước trong khu vực
1.2 Những hạn chế của Việt Nam so với các nước ASEAN trong việc thu hút FDI của Trung Quốc
So với nhiều nước khác trong khu vực như Thái Lan, Malaysia đặc biệt
là Singapore thì Việt Nam còn nhiều yếu điểm trong việc cạnh tranh thu hút FDI của Trung Quốc Một số hạn chế lớn của môi trường đầu tư ở Việt Nam đó
là thủ tục hành chính rườm rà, pháp luật liên quan đến đầu tư còn chồng chéo,
cơ sở hạ tầng yếu kém và nguồn nhân lực trình độ cao còn hạn chế, dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh tại Việt Nam cao hơn so với các nước ASEAN
* Về thủ tục hành chính: Thủ tục hành chính rườm rà gây phiền nhiễu cho nhà đầu tư thậm chí lỡ mất cơ hội kinh doanh là yếu điểm mà Việt Nam
từ lâu vẫn chưa khắc phục được Trong cuộc khảo sát môi trường kinh doanh của các nước trên thế giới năm 2008, Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá Việt Nam rất yếu ở khâu thủ tục hành chính Việc giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam hiện vẫn còn nhiều bất cập Theo báo cáo, các vụ phá sản tại Việt Nam thường tốn đến 5 năm và doanh nghiệp chỉ thu hồi lại được 18% nợ Về nghĩa
vụ thuế, trung bình, doanh nghiệp mất 1.050 giờ, tương đương với 130 ngày làm việc để hoàn thành các thủ tục liên quan đến đóng thuế Trong khi đó, con
số này ở Philippin là 195 giờ, Thái Lan là 264 giờ, Indonesia là 266 giờ, Thị trường lao động và vấn đề sa thải lao động đang đứng trong nhóm có thứ hạng thấp, khiến doanh nghiệp và cả thị trường lao động mất đi độ linh hoạt
* Về vấn đề pháp lý: Pháp luật liên quan đến đầu tư của Việt Nam còn bất cập, chưa hoàn chỉnh Theo Tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư 2005, các luật liên quan đến đầu tư (Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật đất đai, Luật môi trường, Luật xây dựng ) còn tồn tại các quy
Trang 34định chồng chéo, không rõ ràng thậm chí còn trái ngược, mâu thuẫn nhau (Tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư 2005, 2008) Trong khi đó, các nước như Singapore, Thái Lan, Malaysia do tiến hành hoạt động thu hút FDI sớm hơn Việt Nam nên đã xây dựng được một hệ thống pháp luật điều chỉnh FDI khá hoàn thiện, đồng bộ và minh bạch
* Về cơ sở hạ tầng: Chất lượng của các hàng hóa và dịch vụ công cộng của Việt Nam còn thấp Hệ thống đường bộ chưa theo kịp với tiến độ phát triển của nền kinh tế, thường xuyên có hiện tượng tắc nghẽn đặc biệt là ở các thành phố lớn; tuyến đường sắt đã cũ, tốc độ vận chuyển chậm; hàng không còn ít máy bay với mạng lưới bay hẹp và cảng hàng không nhỏ; các cảng biển còn quá
bé không đủ năng lực đón và xếp dỡ các tàu container cỡ lớn Việc cung cấp điện thiếu ổn định gây ra những chi phí phụ thêm cho nhà đầu tư cũng là một yếu điểm của Việt Nam Trong khi đó, Singapore và Malaysia có cơ sở hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế với mạng lưới bưu chính viễn thông được tư nhân hóa, nhiều sân bay quốc tế lớn đã cung cấp dịch vụ đa dạng và hiệu quả cho nhà đầu
tư Singapore còn sở hữu cảng biển lớn thứ hai thế giới với năng lực bốc xếp cao gấp nhiều lần so với Việt Nam (Viện kinh tế và chính trị thế giới, 2004)
* Về nguồn nhân lực: Việt Nam có lực lượng lao động phổ thông đông đảo, giá rẻ nhưng lao động lành nghề, có trình độ cao còn ít, chưa đáp ứng được đòi hỏi của của các nhà đầu tư, đặc biệt là từ phía các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc Theo điều tra hàng năm của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO), Việt Nam là nước đứng đầu về tình trạng thiếu đội ngũ quản lý, lao động cao cấp, kỹ sư và công nhân lành nghề và thạo ngoại ngữ (Vneconmy, 2006) Điều này khiến các doanh nghiệp phải tốn thêm nhiều thời gian và tiền của để phát triển nhân lực tại chỗ nếu muốn làm ăn lâu dài tại Việt Nam
* Về chi phí kinh doanh: Điều tra hàng năm của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cho thấy Việt Nam chỉ có lợi thế về lương công nhân, còn các chi phí kinh doanh khác như lương của cán bộ quản lý, giá
Trang 35điện, giá thuê văn phòng, cước viễn thông quốc tế, cước vận chuyển vẫn ở mức khá cao so với nhiều nước trong khu vực (Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia) Do nguồn nhân lực có trình độ còn ít nên nhà đầu tư nước ngoài phải thuê cán bộ quản lý với mức lương cao Hà Nội là thành phố
có giá thuê văn phòng và mức cước vận chuyển cao nhất trong số các thành phố lớn của ASEAN Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố đắt đỏ nhất khu vực tính theo tổng chi phí Cước điện thoại quốc tế đã giảm nhưng vẫn kém cạnh tranh so với hầu hết các nước khác
Giải quyết các tồn tại trên là nhu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay
để Việt Nam có thể hoàn thiện hơn nữa môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút FDI nói chung cũng như FDI của Trung Quốc nói riêng
2 Chính sách của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1 Chính sách tự do hóa FDI
Trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế quốc tế như hiện nay, Việt Nam rất cần có một môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, không phân biệt giữa các nhà đầu tư và có những chính sách tạo điều kiện cho việc thu hút, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư Với yêu cầu ngày càng bức thiết đó, cộng thêm mục tiêu cần phải đáp ứng được điều kiện gia nhập WTO, nước ta đã nhanh chóng tiến hành sửa đổi và cho ra đời Luật Đầu tư 2005 thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước trước đây Luật mới đã tạo ra những chuyển biến tích cực, nhất là với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam do đã mang lại môi trường pháp lý thống nhất hơn, hoàn thiện hơn, theo kịp tình hình phát triển kinh tế trong và ngoài nước Luật Đầu tư 2005 có nhiều thay đổi tích cực so với Luật Đầu tư nước ngoài
1997 theo chiều hướng nới lỏng các hạn chế về FDI và đơn giản hóa các quy định, thủ tục liên quan đến FDI giống như các nước ASEAN Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực thì Luật đầu tư vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết
Trang 36Luật đầu tư 2005 đã mở rộng hình thức, lĩnh vực, tỷ lệ đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam Nhà đầu tư có quyền tự chủ đầu tư - kinh doanh, có quyền tự quyết lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, đối tác đầu tư, Hình thức đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài được mở rộng: ngoài công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài), nhà đầu tư còn được thành lập công
ty cổ phần, công ty hợp danh theo luật doanh nghiệp, được góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam trong một số ngành nghề lĩnh vực Chính phủ quy định, và được mua lại, sáp nhập công ty chi nhánh theo quy định của pháp luật Tuy nhiên tỷ lệ cổ phần được góp hoặc được phép mua lại đến nay vẫn chưa có nghị định hướng dẫn cụ thể Ngoài ra, theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP, tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy phép đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đều thuộc diện phải đăng ký lại và chuyển đổi hình thức Việc này gây nhiều phiền phức cho các doanh nghiệp FDI Luật đầu tư 2005 xóa bỏ quy định vốn tối thiểu trước đây (30%) cho các chủ đầu tư nước ngoài Nhiều lĩnh vực nhạy cảm như lĩnh vực tài chính ngân hàng, kinh doanh bất động sản, vận tải biển, xuất nhập khẩu, phân phối,… đã và đang được mở cửa dần cho nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình thực hiện cam kết quốc tế trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Các quy định liên quan đến FDI (về ngoại hối, lao động, đất đai và quản lý đầu tư) đã được đơn giản hóa đi nhiều Việt Nam đã xóa bỏ các quy định hạn chế về tái đầu tư, chuyển thu nhập về nước, quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, đảm bảo công bằng giữa các nhà đầu tư trong
và ngoài nước Trước đây, doanh nghiệp FDI chỉ được thuê tối đa 3% lao động nước ngoài nhưng hiện nay quy định này đã được bãi bỏ, tuy nhiên vẫn duy trì quy định mức lương cơ bản cho người lao động Nhà đầu tư nước ngoài được quyền sử dụng đất không quá 50 năm; tối đa là 70 năm trong
Trang 37những trường hợp đặc biệt (Luật đầu tư nước ngoài là 30 năm và tối đa là 50 năm).
Việc đăng ký đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư được phân cấp mạnh
mẽ cho UBND cấp tỉnh và Ban quản lý các KCN, KCX, KCNC, KKT Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên tắc với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch hoặc chưa có quy hoạch, còn lại sẽ do UBND cấp tỉnh và các Ban quản lý tự quyết định và cấp giấy Chứng nhận đầu tư Bộ ngành quản lý cấp Nhà nước sẽ chỉ tập trung thực hiện chức năng hoạch định chính sách, dự báo, kiểm tra, giám sát Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2005 vẫn quy định khá chặt chẽ về tiền kiểm, kiểm tra ngay từ khi đăng ký đầu tư: dự án đầu tư nước ngoài dưới 300 tỷ phải đăng ký, trên 300 tỷ phải thẩm tra để cấp phép đầu tư (Điều 46,47, Luật Đầu tư 2005) Bên cạnh đó, chủ trương phân cấp quản lý cho địa phương tuy hợp lý nhưng vẫn việc thực thi chưa thực sự
có hiệu quả do năng lực cán bộ tại địa phương vẫn còn hạn chế
2.2 Ưu đãi và hỗ trợ FDI
Theo điều 27, Luật đầu tư 2005, Chính phủ Việt Nam dành nhiều ưu đãi hơn cho các nhà đầu tư khi đưa vốn vào các lĩnh vực sau:
- Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin; cơ khí chế tạo
- Nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thủy sản; làm muối; sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới
- Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao
Trang 38- Phát triển ngành, nghề truyền thống
- Những lĩnh vực sản xuất, dịch vụ khác cần khuyến khích
Theo điều 28, Luật đầu tư 2005, địa bàn ưu đãi đầu tư là những địa bàn
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, các KCN, KCX, KCNC, KKT
Các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi trên hoặc có dự án đầu tư mới, mở rộng quy mô sẽ được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, cũng như được Nhà nước hỗ trợ về chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN, KCX, KCNC, KKT
* Về thuế: Luật Đầu tư 2005 và Nghị định số 24/2007/NĐ-CP quy định nhà đầu tư được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (28%) từ 2-4 năm và giảm thuế từ 2-9 năm tùy thuộc vào lĩnh vực và địa bàn đầu tư Các dự án đầu tư được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 10-20% trong vòng 10-
15 năm tùy vào lĩnh vực, địa bàn đó được ưu đãi hay đặc biệt ưu đãi
* Về biện pháp hỗ trợ: Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ nêu
rõ các hỗ trợ đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng khi đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư như hỗ trợ về đào tạo, về dịch vụ đầu tư Về đào tạo: Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ nhà đầu tư lập quỹ hỗ trợ đào tạo từ nguồn vốn góp và tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài bằng cách thành lập các quỹ hỗ trợ đào tạo phi lợi nhuận được miễn giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế; và chi phí đào tạo của tổ chức kinh tế được tính vào chi phí hợp lý làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Chính phủ cũng hỗ trợ nguồn nhân sách cho việc đào tạo lao động trong các tổ chức kinh tế thông qua chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Về dịch vụ đầu tư: Việc hỗ trợ tín dụng đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật về hỗ trợ tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ các
Trang 39tổ chức, cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, được thực hiện các dịch
vụ hỗ trợ đầu tư, Có thể thấy Việt Nam đã có chú trọng đến các biện pháp
hỗ trợ cho nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án Tuy nhiên các hỗ trợ này vẫn còn khá chung chung, chưa cụ thể mức độ hỗ trợ của Nhà nước đối với nhà đầu tư
Luật đầu tư 2005 ra đời góp phần cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư của Việt Nam Các ưu đãi chúng ta đưa ra rất cạnh tranh với các nước ASEAN, đồng thời môi trường đầu tư ngày càng mở với các nhà đầu tư nước ngoài trong mọi lĩnh vực mà pháp luật không cấm đã tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài nói chung cũng như các doanh nghiệp Trung Quốc nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số quy định còn khá chặt chẽ, chưa thực sự thông thoáng với nhà đầu tư, việc thi hành các luật liên quan đến đầu tư vẫn còn nhiều bất cập Song song với việc hoàn thiện môi trường pháp lý, Việt Nam cũng cần quan tâm nhiều hơn nữa đến các yếu
tố khác có tác động không nhỏ đến mức độ hấp dẫn đầu tư như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và thủ tục hành chính để có thể cạnh tranh với các nước ASEAN trong việc thu hút FDI của Trung Quốc
Tóm lại, dưới tác động của các nhân tố “đẩy” từ trong nội bộ doanh nghiệp và từ chính sách khuyến khích của Nhà nước thì hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc ngày càng gia tăng mạnh mẽ Việt Nam và các nước ASEAN đều có nhiều chính sách “mở” hơn cùng nhiều ưu đãi khuyến khích đối với FDI sẽ cạnh tranh gay gắt trong thu hút FDI nói chung cũng như của Trung Quốc nói riêng Trong cuộc cạnh tranh này Việt Nam có những lợi thế và yếu điểm nhất định Tận dụng các lợi thế, hạn chế các yếu điểm đồng thời tích cực học hỏi kinh nghiệm của các nước ASEAN sẽ giúp Việt Nam gia tăng thu hút FDI của Trung Quốc
Trang 40CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA
TRUNG QUỐC VÀO CÁC NƯỚC ASEAN GIAI ĐOẠN
1 Quy mô và tốc độ tăng vốn đầu tư
Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào ASEAN giai đoạn 1999-2006 đã
có những bước chuyển biến đáng kể theo hướng tích cực Tổng lượng vốn FDI toàn giai đoạn lên tới 2.374,74 triệu USD, trong đó giai đoạn đầu từ năm
1999 đến năm 2002 tổng lượng vốn FDI chỉ đạt 1,95 triệu USD, giai đoạn sau
từ năm 2003 đến năm 2006, lượng vốn đầu tư tăng mạnh, tổng lượng vốn FDI trong bốn năm này lên tới 2.372,79 triệu USD, đưa Trung Quốc trở thành một trong mười nước đầu tư nhiều nhất vào ASEAN trên toàn thế giới (ASEAN Secretariat, 2007) Mức đầu tư cụ thể từng năm như sau:
Bảng 1: FDI của Trung Quốc vào ASEAN giai đoạn 1999-2006
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: ASEAN Secretariat (2006, 2007)
Ghi chú: A1: Vốn FDI của Trung Quốc vào ASEAN
A : Tổng vốn FDI vào ASEAN