Đề tài này, nhằm nêu lên những thực trạng và giải pháp để nâng cao hoạt động quản trị rủi ro của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh, với nội dung chính gồm 3 chương như sau: Chương I:
Trang 1Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Minh Hải
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Đình Thọ
Hà Nội, 2008
Trang 2Ngân hàng thương mại 3
I - Khái quát chung về quản trị rủi ro 3
1 - Khái niệm quản trị rủi ro 3
1.1 Khái niệm rủi ro 3
1.2 Khái niệm quản trị rủi ro 4
2 Quy trình quản trị rủi ro 4
2.1 Nhận diện (xác định) rủi ro 4
2.2 Phân tích, đánh giá rủi ro 5
2.3 Quản trị rủi ro 6
II - Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 8
1 - Tổng quan về ngân hàng thương mại (NHTM) 8
1.1 Khái niệm NHTM 8
1.2 Vai trò của NHTM 9
1.3 Chức năng của NHTM 10
1.4 Nhiệm vụ chủ yếu của NHTM 12
1.4.1 Huy động vốn 12
1.4.2 Nhiệm vụ sử dụng vốn 12
2 - Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng 12
2.1 Khái niệm rủi ro, quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng 12
2.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng 13
2.3 Vai trò của nghiên cứu rủi ro đến hiệu quả đầu tư trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng 14
2.4 Quy trình quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng 15
III Các tiêu chuẩn quản trị rủi ro trên thế giới 29
1 Các tiêu chuẩn quản trị rủi ro của Basel 29
1.1 Các nguyên tắc BASEL 29
Trang 32 Hệ thống chỉ tiêu Camels 34
2.1 Mức độ an toàn vốn (C) 35
2.2 Chất lượng tài sản có (A) 35
2.3 Quản trị rủi ro tín dụng (M) 36
2.4 Lợi nhuận (E) 36
2.5 Thanh khoản (L) 36
2.6 Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (S) 37
2.7 Phân tích mức chênh lệch 37
Chương II: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 38
I - Giới thiệu khái quát về chi nhánh ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 38
1 - Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 38
2 - Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 38
3 - Kết quả hoạt động đầu tư, kinh doanh tại chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh thời gian qua 42
3.1 Kết quả tài chính của Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 42
3.2 Hoạt động huy động vốn 43
3.3 Hoạt động sử dụng vốn 46
3.4 Hoạt động dịch vụ và các tiện ích ngân hàng 48
II, Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 50
1 - Đánh giá tổng quan về rủi ro trong kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 50
2 - Nhận diện những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 53
2.1 Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 53
Trang 43 - Phân tích, đánh giá rủi ro trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng
NN&PTNT Đông Anh 58
3.1 Phân tích, đánh giá rủi ro tín dụng 58
3.2 Phân tích, đánh giá rủi ro lãi suất 63
3.3 Phân tích, đánh giá rủi ro thanh khoản 64
4 - Tình hình quản trị rủi ro của Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 66
4.1 Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro 66
4.2 Các biện pháp xử lý rủi ro 77
5 - Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 85
5.1 Đối với hoạt động quản trị rủi ro tín dụng 85
5.2 Đối với hoạt động quản trị rủi ro khác 86
III Một số tồn tại trong hoạt động quản trị rủi ro của Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 87
1 Đối với hoạt động quản trị rủi ro tín dụng 88
2 Đối với hoạt động quản trị rủi ro khác 89
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh trong thời gian tới 90
I - Định hướng hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động quản trị rủi ro của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh trong thời gian tới 90
II - Một số giải pháp nâng cao hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh thời gian tới 91
1 - Giải pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro 91
1.1 Nâng cao chất lượng thẩm định 91
1.2 Nâng cao chất lượng thông tin phòng ngừa rủi ro theo hướng đa dạng, chính xác, kịp thời 95
1.3 Đa dạng hoá đầu tư phòng ngừa, phân tán rủi ro 96
Trang 52.1 Nâng cao chất lượng hoạt động của Quỹ DPRR 100
2.2 Đôn đốc thu hồi nợ quá hạn và xử lý tài sản xiết nợ 100
2.3 Một số biện pháp xử lý khác 103
3 - Giải pháp quản trị 104
3.1 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ định hướng theo rủi ro 104
3.2 Cần thiết lập phòng Quản trị rủi ro riêng 105
Kết luận……… 106
Danh mục tài liệu tham khảo……….107
Trang 6Bảng 1: Những biểu hiện của một khoản tín dụng xấuvà một chính sách tín dụng
kém hiệu quả 23
Bảng 2: Bảng hệ số phần trăm tương ứng với từng ngành theo quy định của Ủy ban giam sát theo ngân hàng thuộc BIS 38
Bảng 3: Kết quả tài chính của ngân hàng NN&PTNT Đông Anh 48
Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn 50
Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng đầu tư vốn 52
Bảng 6: Kết quả hoạt động dịch vụ và các tiện ích ngân hàng 53
Bảng 7: Lãi suất huy động và cho vay 55
Bảng 8: Bảng xác định tác động của giảm rủi ro đến hiệu quả của đầu tư 57
Bảng 9: Lãi suất huy động vốn của chi nhánh 61
Bảng 10: Vốn huy động và sử dụng phân theo loại tiền 62
Bảng 11: Tình hình nợ quá hạn 63
Bảng 12: Nợ quá hạn theo thời gian 65
Bảng 13: Nợ quá hạn phân theo kỳ hạn nợ 65
Bảng 14: Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế 66
Bảng 15: Huy động và sử dụng vốn phân theo thời hạn 68
Bảng 16: Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn 70
Bảng 17: Vốn huy động và sử dụng theo thời gian 70
Bảng 18: Trích lập DPRR đối với hoạt động cấp tín dụng 83
Bảng 19: Tình hình trích lập quỹ dự phòng rủi ro 85
Bảng 20: Tình hình sử dụng quỹ dự phòng rủi ro 86
Trang 71
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua, cùng với những thành tựu đổi mới của đất nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những đổi mới sâu sắc đóng góp vào việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, trong kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, đặc biệt
là rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp Sự sụp đổ của ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến toàn
bộ đời sống, kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi nước Chính vì vậy, ngày nay hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng đóng vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Cũng giống như các ngân hàng thương mại, chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh với hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng nên cũng chứa đựng nhiều loại rủi ro luôn đi sát các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng Trong quá trình hoạt động kinh doanh của chi nhánh, quản trị rủi ro là một hoạt động không thể thiếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên địa bàn huyện nói riêng và thành phố nói chung Tuy nhiên, làm thế nào để hạn chế mức thấp nhất rủi ro xảy ra là điều mà các nhà quản trị Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh luôn quan tâm, tìm tòi nghiên cứu Nhận thức được điều đó, trong thời gian thực tập tại
chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh em đã chọn nghiên cứu đề tài: "Thực
trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh"
Đề tài này, nhằm nêu lên những thực trạng và giải pháp để nâng cao hoạt động quản trị rủi ro của chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh, với nội dung chính gồm 3 chương như sau:
Chương I: Khái quát chung về quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại chi nhánh Ngân hàng
Trang 82
NN&PTNT Đông Anh
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tại chi
nhánh Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh
Mặc dù đã cố gắng, nhưng do thời gian có hạn và năng lực còn hạn chế, nên trong quá trình thực hiện đề tài này em khó tránh khỏi những thiếu sót Vậy em kính mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy, cô giáo và Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên Ngân hàng NN&PTNT Đông Anh
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 93
Chương I: Khái quát chung về quản trị rủi ro trong hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
I - Khái quát chung về quản trị rủi ro
1 - Khái niệm quản trị rủi ro
1.1 Khái niệm rủi ro
Thế giới vật chất quanh ta muôn hình muôn vẻ, vận động không ngừng, chúng ta không thể khẳng định chắc chắn về một điều gì đó xảy ra trong tương lai Chỉ trong những điều kiện nhất định chúng ta mới có thể nhận định tương đối chính xác về sự xuất hiện hay không của một số sự vật - hiện tượng nào đó Khi đó, hiện tượng hay sự việc xảy ra đem lại thuận lợi hay bất lợi cho con người (hiểu theo nghĩa tương đối) Thông thường, sự việc đem lại điều bất lợi cho con người, chúng ta gọi nó là sự rủi ro
Đó là cách tiếp cận rủi ro theo quan niệm không đối xứng, tức là quan niệm rủi ro xảy
ra gắn với thiệt hại Tuy nhiên, đối với những người theo quan niệm đối xứng thì họ lại coi rủi ro gắn với thiệt hại và may mắn
Có rất nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm và định nghĩa về rủi ro khác nhau của các nhà kinh tế và các nhà kinh doanh Do đó, để thâu tóm một định nghĩa chuẩn xác thế nào là rủi ro cho mọi môi trường kinh doanh cũng như mọi giai đoạn phát triển lại là
việc khó Nhưng nói chung, rủi ro là những biến cố không lường trước được, biến cố
mà chúng ta hoàn toàn không biết chắc Rủi ro ứng với sự sai lệch giữa dự kiến và thực tế
Rủi ro có thể xảy ra trong bất cứ lúc nào, hoàn cảnh nào và cũng có thể đến với bất kỳ ai Trong kinh doanh, có thể nói rủi ro luôn là người bạn đồng hành Khi rủi ro xảy ra, hoạt động kinh doanh sẽ gặp những thiệt hại nhất định, đôi khi là vô cùng lớn Rủi ro phát sinh muôn màu muôn vẻ, là hậu quả của những nhân tố chủ quan và khách
Trang 104
quan nhưng chủ yếu là rủi ro khách quan ngoài dự đoán, rủi ro có thể phát sinh từ các nguyên nhân như thiên tai, chiến tranh, năng lực sản xuất kém, do sự thay đổi trong chính sách nhà nước và rất nhiều nguyên nhân khác tuỳ thuộc vào bản chất công việc cũng như môi trường tiến hành công việc Nhìn chung, con người ghét sự rủi ro, muốn né tránh, gạt bỏ rủi ro ra khỏi cuộc sống của mình Nhưng rủi ro là những biểu hiện của thế giới khách quan, phát sinh và tồn tại ngoài ý muốn của con người Chính
vì vậy, chúng ta không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro ra khỏi môi trường sống hay môi trường kinh doanh mà chỉ có thể nghiên cứu nó, nhận biết nó và phòng ngừa hạn chế
nó đến mức thấp nhất
1.2 Khái niệm quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro dự án là việc nhận dạng, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn, triển khai và quản trịcác hoạt động nhằm khắc phục rủi ro
Quản trị rủi ro là việc chủ động kiểm soát các sự kiện tương lai dựa trên cơ sở kết quả dự báo trước các sự kiện xảy ra chứ không phải là sự phản ứng thụ động Như vậy, một chương trình quản trị rủi ro hiệu quả không những làm giảm bớt xác suất xuất hiện sai sót mà còn làm giảm mức độ ảnh hưởng của những sai sót đến việc thực hiện các mục tiêu của dự án
Quản trị rủi ro là quá trình liên tục, được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của chu kỳ dự án kể từ khi mới hình thành cho đến khi kết thúc dự án Trong suốt vòng đời của dự án, nhiều khâu công việc có mức độ rủi ro rất cao nên cần thiết phải phân chia thành nhiều giai đoạn để xem xét, phân tích rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn giải pháp phù
hợp nhằm giảm bớt và loại trừ rủi ro
2 Quy trình quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là một quá trình bao gồm nhiều nội dung, từ việc xác định rủi ro đến phân tích đánh giá rủi ro và đề ra những giải pháp chương trình để quản trị rủi ro
Quy trình quản trị rủi ro được chia thành nhiều giai đoạn, có thể chia quy trình quản trị rủi ro làm 3 giai đoạn như sau:
Trang 115
2.1 Nhận diện (xác định) rủi ro
Xác định rủi ro là quá trình phân tích, đánh giá, nhận dạng những lĩnh vực rủi ro tiềm tàng ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư kinh doanh nói chung và đến một dự án nói riêng Xét một cách tổng thể bao gồm các loại rủi ro sau:
2.1.1 Rủi ro thuần tuý và rủi ro suy tính
- Rủi ro thuần tuý là loại rủi ro nếu nó xảy ra thì dẫn đến kết quả tổn thất về kinh
tế Loại rủi ro này có đặc điểm sau: thứ nhất, rủi ro thuần tuý thường đưa đến kết cục là mất mát tổn thất hoặc không mất mát tổn thất; thứ hai, rủi ro thuần tuý là loại rủi ro
liên quan đến việc phá hoại tài sản Biện pháp đối phó với loại rủi ro này là bảo hiểm
- Rủi ro suy tính là loại rủi ro mà dẫn đến kết quả có thể là lời hoặc lỗ, được thua
hoặc không đổi, do ảnh hưởng của những nguyên nhân rất khó dự đoán trong khi phạm
vi ảnh hưởng rất rộng lớn Rủi ro suy tính là loại rủi ro thường xảy ra trong thực tế Đặc điểm cơ bản của loại rủi ro này là thường không được bảo hiểm nhưng có thể đối
phó bằng biện pháp rào chắn
2.1.2 Rủi ro có thể tính toán được và không tính toán được
- Rủi ro có thể tính toán được là loại rủi ro mà tần số xuất hiện của nó có thể tiên
đoán được ở một mức độ tin cậy nhất định
- Rủi ro không thể tính toán được là rủi ro mà tần số xuất hiện của nó bất thường
và rất khó dự đoán
2.1.3 Rủi ro nội sinh và rủi ro ngoại sinh
- Rủi ro nội sinh là rủi ro do những nguyên nhân nội tại của dự án Quy mô, độ
phức tạp, tính mới lạ của dự án cùng với các nhân tố như tốc độ thiết kế và xây dựng,
hệ thống tổ chức quản trị là những nguyên nhân nội sinh
- Rủi ro ngoại sinh là rủi ro do những nguyên nhân bên ngoài dự án gây nên
Những nhân tố rủi ro ngoại sinh thường gặp như lạm phát, thị trường, tính sẵn có của
lao động và nguyên liệu, độ bất định của chính trị, ảnh hưởng của thời tiết
2.2 Phân tích, đánh giá rủi ro
Trang 126
Khi đưa ra các quyết định đầu tư, doanh nghiệp thường dựa trên các số liệu giả định, những số liệu này đôi khi không thể lường trước những tình huống bất trắc nảy sinh trong tương lai có thể dẫn tới thua lỗ hoặc phá sản Chính vì vậy trước khi đưa ra một quyết định đầu tư cần phải phân tích đầy đủ, cần lường trước được những tình huống bất trắc sẽ nảy sinh trong tương lai, trên cơ sở đó tính toán lại hiệu quả đầu tư
Có thể phân tích và đánh giá mức độ rủi ro bằng phương pháp phân tích định tính và phân tích định lượng
Phân tích định tính là việc mô tả tác động của mỗi loại rủi ro và sắp xếp chúng
vào từng nhóm mức độ: rủi ro cao, trung bình, thấp
Mục đích của phân tích định tính là nhằm đánh giá tổng thể xem rủi ro tác động đến những bộ phận nào và mức độ ảnh hưởng của nó đến từng bộ phận và toàn bộ dự
án Đối với những dự án đơn giản có thể chỉ áp dụng phương pháp phân tích định tính
để xác định rủi ro Ngoài ra, có một số dự án không thể áp dụng phương pháp phân tích định lượng thì việc phân tích định tính để xác định rủi ro là rất cần thiết
Phân tích định lượng là việc sử dụng các phương pháp toán, thống kê và tin học
để ước lượng rủi ro về chi phí, thời gian, nguồn lực và mức độ bất định
2.3 Quản trị rủi ro
Đối với giai đoạn quản trị rủi ro có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau: tránh rủi ro, chấp nhận rủi ro, Tự phòng vệ rủi ro, ngăn ngừa thiêt hại, giảm bớt thiệt hại, chuyển dịch rủi ro, bảo hiểm
2.3.1 Phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro
- Tránh rủi ro: Né tránh rủi ro là loại bỏ khả năng bị thiệt hại, là việc không
chấp nhận dự án do rủi ro quá lớn Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp khả năng bị thiệt hại cao và mức độ thiệt hại lớn Tuy nhiên, một số loại rủi ro không thể né tránh như: rủi ro bị phá sản, bị kiện trách nhiệm Trong trường hợp này, chỉ có thể làm giảm mức độ thiệt hại mà không thể loại trừ khả năng bị thiệt hại
- Ngăn ngừa thiệt hại: Ngăn ngừa thiệt hại là hoạt động nhằm làm giảm tính
Trang 137
thường xuyên của thiệt hại khi nó xuất hiện
Để ngăn ngừa thiệt hại cần xác định nguồn gốc thiệt hại Có hai nhóm nhân tố chính đó là nhóm nhân tố môi trường đầu tư và nhân tố thuộc về bên trong dự án Một
số biện pháp ngăn ngừa như phát triển hệ thống an toàn, đào tạo lại lao động, thuê người bảo vệ
- Giảm bớt thiệt hại: Chương trình giảm bớt thiệt hại là việc chủ đầu tư, cán bộ
quản trị sử dụng các biện pháp đo lường phân tích, đánh giá lại rủi ro liên tục và xây dựng các kế hoạch để đối phó và làm giảm mức độ thiệt hại khi nó xảy ra Tuy nhiên, khi mức độ thiệt hại khá nghiêm trọng nếu nó xảy ra và khi không thể chuyển dịch
thiệt hại thì áp dụng biện pháp này là không phù hợp
2.3.2 Xử lý rủi ro
- Chấp nhận rủi ro: Chấp nhận rủi ro là trường hợp chủ đầu tư hoặc cán bộ dự
án hoàn toàn biết trước rủi ro và những hậu quả của nó nhưng sẵn sàng chấp nhận những rủi ro thiệt hại nếu nó xuất hiện Chấp nhận rủi ro áp dụng trong trường hợp mức độ thiệt hại thấp và khả năng bị thiệt hại không lớn Ngoài ra có những rủi ro mà
đơn vị phải chấp nhận ví dụ như thiên tai, dịch họa bất ngờ
- Tự phòng vệ rủi ro: Tự phòng vệ rủi ro là phương pháp quản trị rủi ro trong đó
đơn vị chấp nhận rủi ro và tự nguyện kết thành một nhóm với nhiều đơn vị rủi ro tương
tự khác đủ để dự đoán chính xác mức độ thiệt hại và do đó chuẩn bị trước nguồn quỹ
để bù đắp nếu nó xảy ra Tự phòng vệ rủi ro có đặc điểm:
- Hệ thống tự phòng vệ rủi ro cũng đáp ứng mọi chỉ tiêu của hệ thống bảo hiểm
Tự phòng vệ rủi ro có lợi thế là nâng cao khả năng ngăn ngừa thiệt hại, thủ tục chi trả bảo hiểm nhanh gọn đồng thời nâng cao khả năng sinh lợi và tạo điều kiện quay
Trang 14- Bảo hiểm: Theo quan điểm của nhà quản trịbảo hiểm thì bảo hiểm là sự chuyển
dịch rủi ro theo hợp đồng Từ trên quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ đơn thuần là việc chuyển dịch rủi ro mà còn làm giảm rủi ro vì nhóm người có rủi ro tương tự nhau
tự nguyện tham gia bảo hiểm đã cho phép dự đoán mức độ thiệt hại trước khi nó xuất hiện Bảo hiểm là công cụ quản trị rủi ro phù hợp khi khả năng thiệt hại thấp nhưng
mức thiệt hại có thể rất nghiêm trọng
- Chuyển dịch rủi ro: Chuyển dịch rủi ro là biện pháp trong đó một bên liên kết
với nhiều bên khác để chung chịu rủi ro Biện pháp chuyển dịch rủi ro giống phương pháp bảo hiểm ở chỗ: độ bất định về thiệt hại được chuyển từ cá nhân sang nhóm nhưng khác phương pháp bảo hiểm ở chỗ, bảo hiểm không chỉ đơn thuần bao gồm chuyển dịch rủi ro mà còn giảm được rủi ro thông qua dự đoán thiệt hại bằng luật số lớn trước khi nó xuất hiện
Chương trình quản trị rủi ro cần được xem xét đánh giá lại thường xuyên Vì môi trường kinh doanh và đầu tư luôn thay đổi Mỗi sự thay đổi trong kinh doanh có thể nảy sinh khả năng thiệt hại mới Cần xác định lại thiệt hại, số lượng, nguyên nhân và chuẩn bị các chương trình quản trị rủi ro thích hợp Có nhiều chương trình quản trị rủi
ro nhưng một nguyên tắc chung là khi lợi ích do chương trình nào đó tạo ra nhỏ hơn
chi phí của nó thì nên thay thế bằng một chương trình khác hợp trị hơn
II - Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1 - Tổng quan về ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1 Khái niệm NHTM
Về bản chất, NHTM cũng như các doanh nghiệp khác, nhưng có điểm khác biệt là
Trang 15Tại Việt Nam, theo luật tổ chức tín dụng ngày 26/12/1997 "Ngân hàng là loại hình
tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan" Hoạt động ngân hàng theo quy định là: hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Đặc trưng cơ bản để phân biệt NHTM với các trung gian tài chính ở chỗ NHTM là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, trong đó có tiền gửi không kỳ hạn, làm dịch vụ thanh toán Chính từ những hoạt động này đã làm cho ngân hàng có khả năng tăng bội số tiền
gửi của khách hàng thông qua hệ thống ngân hàng của mình
1.2 Vai trò của NHTM
1.2.1 Vai trò của NHTM với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất với hoạt động của doanh nghiệp Không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại vững chắc và tăng trưởng về qui mô sản xuất kinh doanh nếu không vay vốn của ngân hàng Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay vốn ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các kế hoạch kinh doanh, các dự án mở rộng sản xuất về quy mô cũng như nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp Ngân hàng với bản chất đi vay để cho vay đã đứng ra nhận tiền gửi của các cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức sau đó cung cấp cho các chủ thể có nhu cầu Như vậy cùng một lúc ngân hàng phải thoả mãn nhu cầu bảo quản tiền an toàn, hiệu quả, sinh lời của bên gửi tiền và nhu cầu vốn đủ và đúng hạn để thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh của bên vay tiền
Trang 1610
1.2.2 Vai trò của NHTM với sự phát triển của nền kinh tế
Khi cung cấp vốn cho doanh nghiệp là ngân hàng đã góp phần giúp cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đúng kế hoạch, sản xuất sản phẩm cung cấp cho xã hội, tạo việc làm, giảm thất nghiệp, tăng hoạt động thương mại trong nước và xuất khẩu trao đổi hàng hoá
Mặt khác, ngân hàng cung cấp cho khách hàng công cụ thanh toán, dịch vụ tiện ích, qua đó thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, giảm lượng tiền mặt giao dịch, tiết kiệm chi phí thanh toán cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế
1.2.3 Vai trò của NHTM với hoạt động quản trịNhà nước
Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả góp phần thực hiện các mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia như: ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế Qua việc NHTM huy động vốn được nhiều và các giao dịch thanh toán đều được thực hiện thông qua ngân hàng Ngân hàng Trung ương sẽ kiểm soát được lượng tiền mặt lưu thông, hạn chế nguy cơ lạm phát
1.3 Chức năng của NHTM
1.3.1 Chức năng trung gian tài chính
NHTM huy động các khoản vốn, tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các thành phần kinh tế, hình thành nên nguồn vốn của NHTM và thực hiện cho vay ra các thành phần kinh tế Với chức năng này, ngân hàng trở thành trung gian tài chính, thông qua ngân hàng, vốn được chuyển đến những nơi cần vốn một cách phù hợp với yêu cầu vay vốn
về thời hạn và giá trị Khi thực hiện chức năng này, NHTM đã tạo ra lợi ích cho tất cả các bên
- Với người gửi tiền: Vốn của họ được đảm bảo, đồng thời thu được lãi
- Với người vay tiền: Nhu cầu vốn được đáp ứng kịp thời, tiện lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh
- Với ngân hàng: Thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy
Trang 1711
động vốn, giảm thiểu rủi ro, đa dạng hoá danh mục đầu tư
Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM, chức năng này cũng phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại: đó là đi vay để cho vay và quyết định sự phát triển của ngân hàng và là cơ sở để thực hiện các chức năng khác
Mặt khác, chức năng trung gian tài chính, NHTM đã góp phần giảm chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian, hạn chế rủi ro do những nguyên nhân: người có vốn chưa sử dụng và người cần vốn không nắm được thông tin về nhau, khó gặp được nhau, độ chênh lệch về kỳ hạn, … NHTM trở thành cầu nối giữa người có vốn nhàn rỗi với ngư-
ời cần vốn trên thị trường, bởi tính chuyên môn, nghiệp vụ cao và mạng lưới giao dịch rộng Đồng thời hạn chế được tình trạng cho vay nặng lãi ở một số khu vực nông thôn
1.3.2 Chức năng trung gian thanh toán
NHTM mở cho các khách hàng của mình tài khoản để theo dõi các khoản thu, chi
Thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng: trích tiền từ tài khoản của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, chi mua sắm nguyên vật liệu, tài sản cố định hoặc nhập vào tài khoản của khách hàng tiền thu bán hàng, tiền lương cá nhân… nhờ thanh toán qua ngân hàng mà giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí cho xã hội Ngày nay cùng với xu hướng thương mại hoá toàn cầu, các quan hệ kinh tế quốc tế trở nên sôi động, do vậy NHTM không chỉ là trung gian thanh toán trong nước mà còn phát triển mạnh trên phạm vi quốc tế, cung cấp cho khách hàng các hình thức thanh toán đa dạng như: séc, L/C, uỷ nhiệm chi, chuyển tiền…
Cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình thanh toán, hiệu quả thanh toán càng được nâng cao, quy mô thanh toán không ngừng mở rộng
Với chức năng trung gian thanh toán, NHTM đã góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ, chu chuyển hàng hoá, thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế Mặt khác chức năng này cũng làm tăng lợi nhuận cho chính NHTM từ việc thu phí dịch vụ, tăng nguồn vốn của NHTM thể hiện trên số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng
1.3.3 Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Khi NHTM cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng
Trang 1812
lên, khách hàng có thể sử dụng vốn để mua hàng hoá và dịch vụ Do đó, bằng việc cho
vay NHTM đã tạo ra phương tiện thanh toán cho hoạt động kinh tế trong khu vực
1.4 Nhiệm vụ chủ yếu của NHTM
1.4.1 Huy động vốn
Huy động vốn là một trong những nhiệm vụ tạo vốn quan trọng hàng đầu của NHTM vì NHTM kinh doanh bằng vốn huy động là chủ yếu
Với chức năng và nhiệm vụ của mình, NHTM thu hút vốn nhàn rỗi, chưa sử dụng
từ các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư thông qua các hình thức: Mở tài khoản cho khách hàng để giao dịch thanh toán, các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu Bên cạnh đó NHTM cũng đi vay ngân hàng Trung ương khi cần thiết để tạo nên nguồn vốn phục vụ quá trình kinh doanh của mình
Với nghiệp vụ huy động vốn NHTM đã thực sự huy động được luồng vốn dồi dào
từ nền kinh tế, làm cho đồng tiền sinh lợi, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp được diễn ra liên tục, thông suốt
1.4.2 Nhiệm vụ sử dụng vốn
Khi huy động được vốn, NHTM sẽ sử dụng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác Đây là hoạt động phản ánh bản chất của NHTM (đi vay và cho vay)
Phần chênh lệch lãi suất cho vay và huy động huy động vốn sẽ là phần NHTM ược hưởng Nếu NHTM huy động được nguồn vốn dồi dào nhưng không có kế hoạch
đ-sử dụng vốn hợp trị , hiệu quả thì không những không đem lại lợi nhuận mà còn không
bù đắp được chi phí huy động Do vậy nhiệm vụ sử dụng vốn được coi là nhiệm vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho NHTM
* Ngoài hai nhiệm vụ huy động vốn và sử dụng vốn, NHTM còn một số nhiệm vụ
như: Cung ứng các dịch vụ phong phú để phục vụ khách hàng Trên cơ sở tài khoản của khách hàng mở tại NHTM, ngân hàng sẽ thực hiện các yêu cầu chuyển tiền, uỷ
nhiệm chi, thanh toán séc, chuyển khoản
Trang 1913
2 - Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
2.1 Khái niệm rủi ro, quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù cặp đôi Kinh tế thị trường làm đa dạng hoá các thành phần kinh tế, bình đẳng hoá hoạt động của các thành phần này và thúc đẩy cạnh tranh lẫn nhau Rủi ro tuy là sự "bất trắc gây mất mát thiệt hại", "sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi" song lại là hiện tượng đồng hành với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, trong hoạt
động kinh doanh Vậy rủi ro ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây
mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động của ngân hàng
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài sự tác động trên Thậm chí với hoạt động ngân hàng hầu như không có loại nghiệp vụ nào, loại dịch vụ nào là không có rủi ro Bởi lẽ, hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trường là một hoạt động rất nhạy cảm, mọi biến động trong nền kinh tế, xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động của ngân hàng, có thể gây nên những sáo trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu quả của ngân hàng bị giảm sút một cách nhanh chóng Do vậy hoạt động kinh doanh của
NHTM luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn, nó có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào
Vì vậy, hoạt động quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là hoạt động không
thể thiếu được trong mỗi ngân hàng hiện nay Quản trị rủi ro là một quá trình chấp
nhận rủi ro đã được tính toán trước với mục đích hạn chế các mất mát tài chính và
tăng cường lợi nhuận cho ngân hàng, ngược lại với trốn tránh rủi ro
2.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
2.2.1 Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho vay
Rủi ro ảnh hưởng đến uy tín, sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường tài chính, ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng, giảm khả năng thanh toán của ngân hàng, và có nguy cơ gây mất vốn kinh doanh, phá sản ngân hàng
Trang 2014
Khi bất kỳ một rủi ro nào đó xảy ra đều có thể làm cho thu nhập từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị giảm sút, không những thế mà còn làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường, gây hoang mang mất lòng tin từ phía khách hàng Nếu rủi ro xảy
ra ở mức độ cao sẽ có nguy cơ ngân hàng bị mất vốn, mất khả năng thanh toán gây ra phá sản ngân hàng
2.2.2 Đối với nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà vốn trong nền kinh tế, và trong sự thành công của chính sách tiền tệ quốc gia Nếu rủi ro xảy ra làm giảm vòng quay sử dụng vốn của ngân hàng, giảm khả năng cung cấp vốn cho nền
kinh tế, làm chậm tốc độ lưu chuyển vốn trong nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng có tính chất xã hội hoá cao, khi một ngân hàng rơi vào tình trạng đổ vỡ sẽ làm ảnh hưởng đến các ngân hàng khác Rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng, tình trạng này kéo dài sẽ hoặc đến một mức độ nào đó sẽ làm cho người gửi tiền mất lòng tin và ồ ạt kéo đến rút tiền gửi ra Tâm lý hoang mang mất tin tưởng vào hệ thống ngân hàng, sẽ làm nhiều người khác đến các ngân hàng khác rút tiền ra, các ngân hàng khác sẽ lâm vào tình trạng khó khăn, gây ra mất ổn định của toàn hệ thống ngân hàng và sự mất ổn định của hệ thống tài chính quốc gia nói chung Sự khủng hoảng của hệ thống tài chính quốc gia sẽ dẫn đến sự khủng hoảng chung của cả nền kinh tế trong nước và thậm chí kéo theo sự khủng hoảng của nền kinh tế khu vực
2.3 Vai trò của nghiên cứu rủi ro đến hiệu quả đầu tư trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt : kinh doanh tiền tệ với chức năng là trung gian tài chính ngân hànghuy động các khoản vốn, tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các thành phần kinh tế, hình thành nên nguồn vốn của ngân hàng thương mại và thực hiện cho vay ra các thành phần kinh tế Chức năng này thể hiện bản chất của ngân hàng thương mại: đi vay để cho vay Phần chênh lệch lãi
Trang 2115
suất cho vay và huy động vốn sẽ là phần ngân hàng thương mại được hưởng Lãi suất cho vay là một yếu tố quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Việc xác định lãi suất cho vay sẽ phải dựa trên các thông số về mức kỳ vọng sinh lời của ngân hàng, rủi ro tín dụng của khoản vay và tỷ lệ an toàn vốn
Lãi suất cho vay = Lãi suất thực + chiết khấu rủi ro
Nếu tỷ lệ rủi ro giảm thì lãi suất cho vay sẽ giảm Do vậy, hiệu quả của hoạt động đầu tư sẽ tăng xét cả trên góc độ của chủ đầu tư và của cả ngân hàng Đối với chủ đầu
tư, lãi suất cho vay giảm khiến cho chi phí sản xuất, kinh doanh giảm sẽ dẫn đến lợi nhuận kinh doanh tăng Còn đối với ngân hàng, giảm thiểu rủi ro tức là đã giảm khả năng mất vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng Trong điều kiện kinh doanh ngân hàng hiện nay cạnh tranh ngày càng khốc liệt do đó giảm thiểu rủi ro tức là
đã khiến cho lãi suất cho vay giảm, đây là một trong những nhân tố nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng giúp cho quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng đạt
hiệu quả cao
2.4 Quy trình quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
2.4.1 Nhận diện rủi ro
Hoạt động kinh doanh của NHTM vô cùng mạo hiểm, có nguy cơ bị tổn thất rất lớn Điều này cũng khẳng định kinh doanh ngân hàng là một nghề lắm rủi ro Nhận thức và đánh giá đúng đắn về các rủi ro ngân hàng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng thường xuyên của các NHTM Nếu hiểu rõ chúng ta có thể chấp nhận rủi ro một cách
có ý thức và có kế hoạch để đối phó với hậu quả khi sự việc xấu đi
Các rủi ro thường gặp phải trong hoạt động kinh doanh của mình bao gồm các rủi
ro cơ bản như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất; ngoài
ra còn các rủi ro khác như: rủi ro hoạt động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và hoạt động, rủi ro quốc gia và các rủi ro thuần tuý khác Tất cả các rủi ro khi xảy ra ở mức độ nghiêm trọng đều dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán hay còn gọi là rủi ro thanh khoản
Trang 2216 CÁC RỦI RO NGÂN HÀNG
Rủi ro tín dụng
Rủi ro lãi suất
Rủi ro hối đoái
Rủi ro hoạt động
Rủi ro cnghệ
&hoạt động
Rủi ro qgia& rủi ro khác
Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là rủi ro có liên quan đến rủi ro của một
bên đối tác trong một giao dịch, thường là giao dịch liên ngân hàng và qua hệ thống thanh toán Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức Trong những trường hợp như vậy thì ngân hàng phải đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản Có của mình đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt ngân hàng có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản, ví dụ như trong tình huống dân chúng mất lòng tin vào ngân hàng, hoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời vụ mà ngân hàng không dự tính trước được đòi hỏi ngân hàng phải chi trả tức thời một khoản tiền lớn hơn mức bình thường Do vậy, các tổ chức tín dụng phải thường xuyên duy trì một tài sản Có với tính "lỏng" cao để có thể đảm bảo chi trả cho khách hàng
Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán tức là đáp ứng được nhu cầu thanh toán hiện tại, đột xuất có vấn
đề nảy sinh và đáp ứng được khả năng thanh toán trong tương lai Khi ngân hàng thiếu khả năng thanh toán, nếu không được giải quyết một cách kịp thời có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán Khi ngân hàng thừa khả năng thanh toán sẽ dẫn đến đọng vốn, làm giảm khả năng sinh lời, thu nhập của ngân hàng giảm
Rủi ro thanh khoản nảy sinh do những nguyên nhân sau:
Trang 2317
- Ngân hàng huy động và đi vay vốn với thời hạn ngắn, và cứ tuần hoàn chúng để
sử dụng cho vay với thời hạn dài hơn Do đó, nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về thời hạn đến hạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ
- Sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi lãi suất Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn, những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất thấp đã thoả thuận Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là thanh khoản của ngân hàng
- Ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm sói mòn lòng tin của dân chúng vào ngân hàng Khi khách hàng ồ ạt rút tiền ra khỏi ngân hàng sẽ khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi
ro thanh khoản
Đây là loại rủi ro riêng của ngân hàng và liên quan đến sự sống còn của ngân hàng Rủi ro này thường là hậu quả của một hay nhiều loại rủi ro mà ngân hàng không lường trước được Trong trường hợp này, vốn tự có của ngân hàng không có khả năng
bù đắp hết tất cả các khoản mất mát, thiệt hại, ngân hàng dễ rơi vào tình trạng vỡ nợ
hay phá sản
- Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là một hiện tượng thường gặp ở bất kỳ một
NHTM nào, và nó cũng xảy ra trên tất cả các lĩnh vực, đối tượng, vùng đầu tư: quốc doanh, hợp tác xã, hộ sản xuất, cho vay sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng; cho vay khu vực nông thôn, thành thị Rủi ro tín dụng xảy ra có thể do nguyên nhân chủ quan về phía NHTM, khách hàng vay vốn, nhưng cũng có thể do nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, địch hoạ
Rủi ro tín dụng là rủi ro trong hoạt động cho vay, xảy ra khi không thu được đủ nợ theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng (hay Khế ước nhận nợ)
Như vậy, rủi ro tín dụng xuất hiện khi xảy ra một hoặc đồng thời cả hai điều kiện:
không thu đủ nợ của khoản vay (bao gồm cả gốc và lãi) và không thu được theo đúng thời hạn trong Hợp đồng tín dụng Nếu tất cả các khoản vay đầu tư của ngân hàng đều
Trang 2418
được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ rủi ro tín dụng nào Trong trường hợp người vay tiền phá sản, thì việc thu hồi gốc và lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó, ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng
Bất kỳ một NHTM nào cũng không muốn để xảy ra rủi ro tín dụng, vì rủi ro tín dụng sẽ gắn liền với việc mất một phần hoặc toàn bộ vốn, lãi Thu hồi nợ khó khăn, tỉ
lệ nợ quá hạn cao, và đương nhiên là giảm hiệu quả kinh doanh của NHTM Nhưng trong thực tế vẫn phát sinh ngoài ý muốn của các nhà đầu tư cũng như khách hàng vay vốn (loại trừ yếu tố cố ý lừa đảo của các nhà vay vốn) Rủi ro tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độ nghề nghiệp của cán bộ tín dụng, các phương tiện dự báo, phòng ngừa rủi ro của hệ thống ngân hàng, khả năng trình độ của đơn vị, người vay vốn, tình hình suy thoái của nền kinh tế, tình hình thị trường tiêu thụ sản phẩm, những bất trắc từ thiên nhiên Để quản trị rủi ro tín dụng, cần phải nhận biết những dấu hiệu khi rủi ro tín dụng xuất hiện, ví dụ như:
- Nợ quá hạn, lãi treo phát sinh Nợ quá hạn và lãi treo phát sinh sẽ làm gia tăng các khoản chi phí cho việc đi đòi nợ, tăng chi phí hoạt động kinh doanh nên sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh Nợ quá hạn và lãi treo phát sinh cũng sẽ làm mất cân bằng các cân đối tài chính, ảnh hưởng xấu đến tính chủ động trong kế hoạch nguồn vốn của ngân hàng
- Không thu được một phần hay toàn bộ nợ mà khách hàng phải trả theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng Mức độ rủi ro này phụ thuộc vào các chỉ tiêu sau: Tỉ trọng Nợ khó đòi, Nợ khoanh, Xoá nợ/Tổng dư nợ cho vay; Miễn giảm lãi/Thu nhập từ hoạt động tín dụng Các tỉ trọng này lớn là dấu hiệu trực tiếp cho biết đã hoặc nguy cơ
sẽ mất một phần hay toàn bộ nợ không thu được
Rủi ro tín dụng là rủi ro hết sức phức tạp, quản trịvà phòng ngừa nó rất khó khăn,
nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào Bất cứ một rủi ro nào đó của người vay cũng có thể đưa đến rủi ro cho ngân hàng Ngân hàng không thể loại trừ khả năng rủi
ro, song nếu ngân hàng có những giải pháp đồng bộ hữu hiệu thì có thể ngăn ngừa rủi
ro, hạn chế tối đa những thiệt hại có thể xảy ra
Trang 2519
- Rủi ro lãi suất: Cũng như giá cả của mọi loại hàng hoá khác trong nền kinh tế
thì trường, lãi suất cũng thường xuyên thay đổi, ảnh hưởng đến thu nhập và chi phí của chủ thể hoạt động trên thị trường tài chính Lãi suất là chi phí để vay hoặc giá phải trả
để thuê vốn trong một thời gian nào đó Như vậy, lãi suất cũng là một loại giá cả Rủi
ro lãi suất là rủi ro ngân hàng phải gánh chịu khi có sự biến động về lãi suất làm giảm tiền lãi và thu nhập của ngân hàng Thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra làm chi phí cho nguồn vốn lớn hơn chi phí sử dụng vốn Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh của ngân hàng
Như vậy, rủi ro lãi suất là những tác động do biến động lãi suất đối với hoạt động tài chính của ngân hàng Rủi ro lãi suất thường xảy ra trong những trường hợp sau:
- Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng lên, chi phí của ngân hàng cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân hàng Khi lạm phát cao thì thường có lợi cho người vay vốn và bất lợi cho người cho vay
- Rủi ro lãi suất cũng có thể xảy ra do trình độ thấp kém, bị thua thiệt trong việc cạnh tranh lãi suất ở thị trường Hoặc do nhiều yếu tố của nền kinh tế tác động đến lãi suất như cung, cầu, yếu tố thị trường khi nhà nước có quyết định điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm xuống trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn trả Như vậy cho vay bị giảm thấp, nhưng phần trả lãi cho những khoản tiền gửi có kỳ hạn lại không
giảm tương ứng dẫn đến rủi ro lãi suất
- Rủi ro hối đoái: Kinh doanh ngoại tệ theo nghĩa rộng bao gồm việc mua bán,
gửi vay các loại ngoại tệ khác nhau nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu về ngoại tệ cho ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận thông qua chênh lệch về tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau; hiểu theo nghĩa hẹp thì kinh doanh ngoại tệ đơn thuần là các hoạt động mua bán ngoại tệ của các NHTM khi tham gia trên thị trường hối đoái trong và ngoài nước nhằm đảm bảo về nhu cầu ngoại tệ của khách hàng, thu lời qua chênh lệch
tỷ giá và kinh doanh cho ngân hàng
Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối do sự biến động về tỷ giá giữa các đồng tiền Nếu tỉ giá bán ra lớn hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh
Trang 2620
doanh có lãi, còn ngược lại thì lỗ
Trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá luôn biến động, với biến đổi của tỷ giá hối đoái, bất kỳ một khoản nợ nào cho dù dài hay ngắn hạn, đối với một đồng tiền nhất định, đều có thể tạo cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá hối đoái Sự thay đổi
tỷ giá dẫn đến sự thay đổi về giá trị ngoại hối, một trạng thái ngoại hối dù ở thế trường hay ở thế đoản đều có nguy cơ gây tổn thất cho các nhà giao dịch Dư dật về ngoại tệ càng lớn thì rủi ro càng cao khi tỷ giá giảm, ngược lại đoản về ngoại tệ nào đó càng mạnh thì rủi ro không ít khi tỷ giá tăng
- Rủi ro hoạt động ngoại bảng: Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không
thuộc bảng cân đối tài sản (nội bảng), bởi vì các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ chứng khoán hay giấy nhận nợ sơ cấp hoặc ngân hàng phát hành các chứng khoán hay giấy nhận nợ thứ cấp Tuy nhiên, các hoạt động ngoại bảng có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản nội bảng, bởi vì các hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra những tài sản Có và tài sản Nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng Do đó, các nhà kế toán ghi chép các hoạt động ngoại bảng ở phía dưới bảng cân đối tài sản nội bảng
Xuất phát từ tính chất của các hoạt động ngoại bảng là ngân hàng thu được phí trong khi không phải sử dụng đến vốn kinh doanh cho nên đã khuyến khích phát triển các hoạt động ngoại bảng ngày càng phát triển Tuy nhiên, những hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Trong thực tế, những trường hợp thua lỗ nghiêm trọng trong hoạt động ngoại bảng đã trở thành nguyên nhân chính khiến cho ngân hàng có thể đi đến phá sản
Ngày nay hoạt động ngoại bảng rất phong phú và đa dạng, ví dụ như ngân hàng cam kết tín dụng cho công ty, hoạt động bao thầu phát hành trái phiếu, trạng thái ngoại hối trong các nghiệp vụ dài hạn, tương lai, hoán đổi, quyền chọn và các nghiệp vụ phái sinh khác Trong khi một số hoạt động ngoại bảng được sử dụng tích cực vào việc phòng ngừa rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro tín dụng thì nếu việc quản trị điều hành không hiệu quả hoặc không đánh giá đúng được tác dụng của các nghiệp vụ ngoại
Trang 2721
bảng có thể dẫn đến tổn thất to lớn
- Rủi ro công nghệ và hoạt động: Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản
đầu tư cho phát triển công nghệ không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã
dự tính khi mở rộng quy mô hoạt động Tính không hiệu quả trong đầu tư công nghệ của ngân hàng phát sinh trong trường hợp như dung lượng đầu tư quá lớn dẫn đến công nghệ không sử dụng đến và hậu quả là bộ máy tổ chức trở nên quan liêu kém hiệu quả;
hoặc là quy mô hoạt động không được mở rộng mặc dù đã đầu tư công nghệ mới Rủi
ro về công nghệ có thể gây nên hậu quả là khả năng cạnh tranh của ngân hàng giảm xuống đáng kể và nguyên nhân tiềm ẩn của sự phá sản ngân hàng trong tương lai
Ngược lại, lợi ích từ việc đầu tư công nghệ là tạo cho ngân hàng một sức bật quan trọng trong cuộc cạnh tranh dữ dội trên thương trường và đồng thời cho phép ngân hàng phát triển các sản phẩm mới, tiên tiến, hiện đại giúp cho ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững
Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thể phát sinh bất cứ khi nào nếu hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc là khi hệ thống hỗ trợ bên trong ngừng hoạt động Ví dụ, trong giao dịch trên thị trường liên ngân hàng, ngân hàng có thể là người cho vay hoặc là người đi vay Việc thanh toán giữa các ngân hàng diễn ra trong ngày Thông thường thì hệ thống máy tính của ngân hàng hoạt động hiệu quả nhưng đôi khi cũng xảy ra trục trặc và do đó rủi ro có thể phát sinh Rủi ro có thể xảy ra khi hệ thống máy tính đã xử lý sai khoản đi vay của ngân hàng thành khoản cho vay Kết quả là đến cuối ngày trạng thái tiền cho vay của ngân hàng có thể ở mức cao quá mức, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng và một tình thế khẩn cấp
đã đến, ngân hàng này phải lập tức vay tiền của NHTƯ để đảm bảo cho khả năng thanh toán
- Rủi ro quốc gia và rủi ro khác
Rủi ro quốc gia: ngoài các rủi ro về ngoại hối và rủi ro lãi suất ngoại tệ khi tài sản
Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ không cân xứng, thì ngay cả trong trường hợp ngân hàng đầu tư bằng bản tệ cho các công ty nước ngoài có trụ sở ở nước ngoài cũng có thể
Trang 2822
chịu rủi ro đầu tư nước ngoài đó là rủi ro quốc gia Trong trường hợp ngân hàng đầu tư cho công ty nước ngoài thì ngay cả trong trường hợp công ty có khả năng và sẵn sàng hoàn trả vốn vay, nhưng cũng có thể không thực hiện được, bởi vì, chính phủ nước này cấm hoặc hạn chế việc thanh toán cho nước ngoài do dự trữ ngoại hối hạn hẹp hay vì trị do chính trị Trong trường hợp này, ngân hàng như là chủ nợ có rất ít hoặc không
có cơ hội khiếu nại lên toà án địa phương hoặc toà án quốc tế Một đảm bảo cho việc thu hồi được vốn gốc và lãi đầu tư ở nước ngoài là việc phải kiểm soát được và dự tính trạng thái cung cầu vốn và tín dụng trong tương lai của quốc gia mà ngân hàng có ý định đầu tư
Rủi ro khác bao gồm thay đổi thuế đột ngột, ảnh hưởng của chiến tranh làm cho
các điều kiện trên thị trường tài chính thay đổi đột biến không dự tính trước, sự sụp đổ đột ngột của thị trường chứng khoán, rủi ro trộm cắp, lừa đảo
Hoặc những rủi ro bắt nguồn từ yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát gia tăng, sự biến động vô lối của giá cả hàng hoá, thất nghiệp đều có ảnh hưởng đến sự biến động lãi suất, bộc lộ rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản
2.4.2 Phân tích, đánh giá rủi ro
Sau khi nhận biết được những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, người quản trịtiến hành phân tích đánh giá rủi ro để có biện pháp xử lý thích hợp Đối với các rủi ro cơ bản thường gặp trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng (rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản ) các nhà quản trị thường sử dụng một số phương pháp phân tích rủi ro như sau:
2.4.2.1 Rủi ro tín dụng
- Mô hình phân tích định tính rủi ro tín dụng:
Cho dù hầu hết các ngân hàng đã xây dựng một cơ chế bảo đảm an toàn tín dụng, nhưng điều không thể tránh khỏi là một số khoản tín dụng thể hiện trên sổ sách là những khoản tín dụng có vấn đề Kiểm tra tín dụng theo mô hình phân tích định tính sau giúp cho các nhà quản trị có cái nhìn xác thực hơn về những khoản tín dụng có vấn
đề, chính sách tín dung kém hiệu quả để từ đó đưa ra phương hướng, biện pháp giải
Trang 293 Có hồ sơ đảo nợ (mỗi lần vay mới thì nợ gốc giảm xuống một ít)
3 Cho vay trên cơ sở lời hứa của khách hàng duy trì số dư tiền gửi lớn
4 Lãi suất tín dụng cao không bình thường (để bù đắp rủi ro tín dụng)
4 Thiếu kế hoạch rõ ràng để thanh lý từng tài khoản tín dụng
5 Tài khoản phải thu hay hàng tồn kho tăng không bình thường
5 Tỷ lệ tín dụng cao cho khách hàng có trụ sở ngoài lãnh địa hoạt động của ngân hàng
7 Tỷ lệ cho vay nội bộ cao (cán bộ công nhân viên, hội đồng quản trị, ban tổng giám đốc, các cổ đông )
8 Chất lượng bảo đảm tín dụng thấp 8 Có xu hướng quá thái trong cạnh
tranh (cấp tín dụng xấu để giữ chân khách hàng)
9 Tin vào đánh giá lại tài sản để tăng vốn chủ sở hữu của khách hàng
9 Cho vay hỗ trợ các mục đích đầu cơ
Trang 30- Mô hình phân tích định lượng rủi ro tín dụng
Phân tích định lượng rủi ro tín dụng các ngân hàng thường sử dụng mô hình phân tích xác suất thống kê toán
Theo đó, tần số xuất hiện rủi ro được xác định như sau:
Số món vay bị rủi ro trong kỳ báo cáo
Tổng số lần cho vay trong kỳ báo cáo
Tổng giá trị tài sản bị rủi roTổng giá trị các món cho vay trong kỳTrên cơ sở xác suất rủi ro, ngân hàng có chiến lược quản trịthích hợp sao cho đảm bảo khả năng thanh toán, thu lợi nhuận và giảm đến tối thiểu thiệt hại nếu rủi ro xảy ra
Thông thường các để phân tích, đánh giá biểu hiện của rủi ro tín dụng, các ngân hàng thường sử dụng tiêu thức sau:
1 Nợ quá hạn so với tổng dư nợ: thể hiện chất lượng tín dụng và hiệu quả sử
dụng vốn Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt, điều đó chứng tỏ hoạt động kinh doanh vốn của
ngân hàng là có hiệu quả
Dựa vào đó, các nhà phân tích tiến hành phân tích tỷ lệ nợ quá hạn theo thời gian, theo kỳ hạn nợ, theo thành phần kinh tế, để từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp giải quyết phù hợp
2 Thất thoát nợ so với tổng dư nợ: tỷ lệ này càng cao chứng tỏ công tác quản
trịnợ của ngân hàng không đạt hiệu quả, tỷ lệ thuận với mức độ rủi ro tín dụng
3 Dự phòng thất thoát nợ so với tổng dư nợ: tỷ lệ này thể hiện phần dư nợ cho
vay được dự trữ cho tổn thất là bao nhiêu Tỷ lệ này được trích theo quy định của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam để đảm bảo cho hoạt động của Quỹ Dự phòng rủi ro
Trang 3125
2.4.2.2 Mô hình lượng hoá rủi ro lãi suất
- Mô hình "Kỳ hạn đến hạn": Mô hình "Kỳ hạn đến hạn" là một phương pháp đơn
giản, trực quan nên đã được các ngân hàng sử dụng khá phổ biến
Để áp dụng phương pháp lượng hoá rủi ro lãi suất đối với danh mục tài sản Có và tài sản Nợ của ngân hàng, trước hết ta phải tính được kỳ hạn bình quân của danh mục tài sản Gọi MA là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản Có; ML là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản Nợ, ta có:
xu hướng đầu tư vào tài sản có kỳ hạn dài, mặt khác, vốn huy động thường là ngắn hạn
Như vậy, khi lãi suất thị trường tăng, thì thị giá tài sản Có và tài sản Nợ đều giảm, nhưng do tài sản Có có kỳ hạn dài hơn vốn huy động nên thị giá tài sản Có sẽ giảm nhiều hơn so với vốn huy động Do đó, khi lãi suất thị trường tăng sẽ dẫn đến thiệt hại
về tài sản cho ngân hàng (chênh lệch giữa MA và MLcàng lớn thì mức độ thiệt hại càng nhiều), làm giảm lợi nhuận hoặc nghiêm trọng hơn khi lãi suất tăng đến một mức độ nào đó thì có thể khiến cho ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán cuối cùng
- Mô hình thời lượng: Thời lượng là phép đo trực tiếp độ nhạy cảm của giá trị tài
sản Có và tài sản Nợ đối với lãi suất Hay nói cách khác, thời lượng của tài sản Có và
tài sản Nợ càng lớn thì giá trị của tài sản càng nhạy cảm với lãi suất
Trang 3226
∆E = - (DA - DL.k) A
Trong đó:
∆E : chênh lệch về thời lượng
DA, DL : thời lượng tài sản Có và tài sản Nợ
k : tỷ lệ vốn huy động trên tổng tài sản Có của ngân hàng
A : tổng tài sản Có ∆$
% : mức thay đổi lãi suất
Chênh lệch về thời lượng càng lớn thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao
Áp dụng mô hình thời lượng vào việc phân tích, đánh giá rủi ro lãi suất là rất hiệu quả song rất khó áp dụng vào thực tiễn hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi việc cơ cấu lại bảng cân đối tài sản bao gồm một danh mục tài sản lớn và phức tạp có thể rất tốn kém về mặt thời gian và tiền bạc, mặt khác tài sản lại có giá trị theo thời gian do đó rất khó để có thể xác định được chính xác giá trị thực của nó
2.4.2.3 Mô hình lượng hoá rủi ro thanh khoản
- Độ lệch tài trợ và nhu cầu tài trợ:
Trong quản trị, ngân hàng thường quan tâm đến số dư tiền gửi trung bình (bao gồm cả tiền gửi không kỳ hạn) như là nguồn thường xuyên để tài trợ cho dư nợ tín dụng trung bình trong hầu hết các thời gian
Độ lệch tài trợ = Dư nợ tín dụng trung bình - Số dư tiền gửi trung bình
Nếu độ lệch tài trợ là dương, thì ngân hàng tài trợ phần tín dụng phụ trội bằng cách giảm số dư tiền mặt dự trữ và các tài sản thanh khoản hay đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ
Trang 3327
khoản trong tương lai đối với ngân hàng, và biểu hiện bằng việc tiền gửi thường xuyên giảm xuống và dư nợ tín dụng tăng lên Nếu nhu cầu tài trợ của ngân hàng vượt quá mức tín dụng được phép, thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản
- Hệ thống các chỉ tiêu thanh khoản:
1 Tỷ lệ "tín dụng/tiền gửi" (hay hệ số sử dụng vốn/vốn huy động): Nếu một ngân
hàng có tỷ lệ "tín dụng/tiền gửi" cao, hàm ý ngân hàng đã dựa chủ yếu vào nguồn vốn ngắn hạn hơn là nguồn vốn dài hạn để tài trợ tín dụng Điều này có thể là tiềm ẩn rủi
ro thanh khoản trong tương lai đối với ngân hàng nếu như ngân hàng đã đi vay hết khả năng của mình trên thị trường tiền tệ
2.Tỷ lệ "cam kết tín dụng/tổng tài sản": Nếu tỷ lệ này cao phản ánh nhu cầu thanh
khoản cũng phải cao để đáp ứng nhu cầu rút tiền bất cứ lúc nào của người vay Như vậy, một ngân hàng có nhiều cam kết tín dụng sẽ phải đối mặt với rủi ro thanh khoản lớn hơn ngân hàng có ít cam kết tín dụng
1 Chỉ tiêu trạng thái tiền mặt:
Trạng thái tiền mặt:
Tiền mặt & Tiền gửi đến hạn tại các tổ chức tín dụng khác
Tổng tài sản Có Nếu chỉ tiêu "trạng thái tiền mặt" càng lớn, hàm ý ngân hàng càng có khả năng xử
lý các nhu cầu tiền mặt tức thời
2 Chỉ tiêu cơ cấu tiền gửi
Cơ cấu tiền gửi .ề /ử 01ô/ 0ỳ 1ạ .ề /ử 2ó 0ỳ 1ạ
Chỉ tiêu này càng thấp thì nhu cầu thanh khoản của ngân hàng càng thấp
2.4.3 Quản trị rủi ro
2.4.3.1 Phương pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro
Để phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro hiện nay các NHTM thường sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
- Thực hiện tốt quy trình thẩm định trước, trong và sau khi thực hiện một hợp
Trang 3428
đồng tín dụng: thông qua quá trình thẩm định, tổ chức tín dụng sẽ lượng định được mức độ rủi ro trong quá trình thực hiện một hợp đồng tín dụng và thông qua đó để có các biện pháp xử lý kịp thời nhằm hạn chế tới mức tối đa vốn bị thất thoát
- Sử dụng các biện pháp đảm bảo an toàn vốn: là việc các tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro tạo cơ sở kinh tế cho các khoản thiệt hại khi có rủi ro xảy ra
- Sử dụng hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro: hệ thống thông tin đa dạng, đầy
đủ, kịp thời, chính xác về tất cả các khía cạnh, lĩnh vực liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng là công cụ không thể thiếu đối với các nhà quản trị ngân hàng trong hoạt động kinh doanh nói chung và đặc biệt là hoạt động quản trị rủi ro của ngân hàng nói riêng
- Đầu tư phân tán rủi ro: đa dạng hoá đầu tư là biện pháp chiến lược có tính chủ động nhằm phân tán giảm bớt rủi ro trong hoạt động ngân hàng bởi hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động vô cùng mạo hiểm, có nguy cơ bị tổn thất lớn do đó không thể kinh doanh liều lĩnh theo kiểu "được ăn cả, ngã về không" như hoạt động đầu tư kinh doanh của một số doanh nghiệp
- Đội ngũ cán bộ ngân hàng phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức tốt: kinh doanh ngân hàng là một nghề kinh doanh đặc biệt trong đó trình độ
và đạo đức của cán bộ nghiệp vụ ngân hàng đóng vai trò là nhân tố quyết định trong việc ngăn ngừa, hạn chế rủi ro xảy ra
- Thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ: hoạt động này có vai trò quan trọng đối với công tác quản trị và điều hành ngân hàng trong điều kiện kinh doanh đa dạng, sự cạnh tranh quyết liệt nhằm giúp phát hiện kịp thời những vi phạm và những phương hướng xử lý thích hợp góp phần ngăn ngừa, hạn chế rủi ro
2.4.3.2 Một số biện pháp xử lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
- Sử dụng Quỹ Dự phòng rủi ro: đây là biện pháp ngân hàng trích ra từ thu nhập theo một tỷ lệ quy định để trang trải một phần hay toàn bộ các khoản vốn trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro đối với mỗi khoản tín dụng và rủi ro từ các hoạt động dịch vụ
Trang 3529
khác
- Sử dụng các biện pháp xử lý nợ rủi ro: sử dụng biện pháp khai thác như gia hạn nợ; đôn đốc, giám sát các khoản nợ quá hạn thông thường và biện pháp thanh lý đối với những khoản nợ quá hạn không có khả năng thu hồi
III Các tiêu chuẩn quản trị rủi ro trên thế giới
1 Các tiêu chuẩn quản trị rủi ro của Basel
Basel là Ủy ban Giám sát ngân hàng do các NHTW các nước G10 thành lập năm
1975 dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Thanh toán quốc tế Sau một thời gian hoạt động,
Ủy ban đã nghiên cứu và đưa ra các yêu cầu về an toàn vốn, được ban hành lần đầu vào năm 1988 và gọi là Basel 1 Năm 1999, Ủy ban đã đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu, đây là những nguyên tắc tối thiểu và được xem là tài liệu để các cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng và các nhà quản trịtài chính tham khảo Do những hạn chế của Basel 1, một hiệp ước mới về vốn đã được thông qua vào năm 2001
và gọi là Basel 2 Hiệp ước Basel 2 gồm 3 trụ cột:
- Trụ cột thứ nhất: Yêu cầu về vốn tối− thiểu
- Trụ cột thứ hai: Cơ quan thanh tra trực tiếp đánh giá mức độ− tuân thủ yêu cầu vốn tối thiểu của ngân hàng
- Trụ cột thứ ba: Nguyên− tắc thị trường và minh bạch thông tin
1.1 Các nguyên tắc BASEL
Nguyên tắc 1: Các tiền đề để giám sát ngân hàng hiệu quả
Nguyên tắc này quy định, một hệ thống giám sát nghiệp vụ ngân hàng có hiệu quả phải phân định trách nhiệm và mục tiêu rõ ràng đối với từng cơ quan tham gia giám sát ngân hàng, có một khung pháp trị phù hợp cho việc giám sát nghiệp vụ ngân hàng
Các nguyên tắc 2-5: Cấp phép và cơ cấu
Xác định rõ các hoạt động mà tổ chức tài chính được phép thực hiện và chịu sự giám sát, cơ quan cấp phép có quyền đưa ra các tiêu chí và bác bỏ đơn xin thành lập nếu không đạt yêu cầu Chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng có quyền rà soát và
Trang 3630
từ chối bất kỳ đề xuất nào đối với việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát ngân hàng hiện tại cho những bên khác, có quyền thiết lập các tiêu chí để rà soát việc
bổ sung và đầu tư của ngân hàng
Các nguyên tắc 6-15: Qui chế và yêu cầu về giám sát thận trọng
Các nguyên tắc này đề ra yêu cầu đối với ngân hàng về vốn an toàn, đánh giá chính sách tín dụng và kiểm soát nợ vay, đánh giá chất lượng tài sản, hệ thống thông tin về khách hàng vay vốn, giới hạn cho vay đối với một khách hàng, hệ thống đo lường và giám sát rủi ro, thiết lập được qui trình quản trị rủi ro tổng thể, hệ thống kiểm soát nội
bộ
Các nguyên tắc 16-20: các phương pháp giám sát ngân hàng liên tục
Đưa ra các nguyên tắc đối với một hệ thống giám sát ngân hàng hiệu quả, bao gồm giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, hiểu rõ hoạt động ngân hàng và thường xuyên liên
hệ với Ban Giám đốc ngân hàng, xây dựng các biện pháp thích hợp về thu thập và xử
lý thông tin, có biện pháp thẩm định độc lập các thông tin giám sát, tăng cường năng lực của chuyên gia giám sát tổng thể hoạt động của nhóm ngân hàng
Nguyên tắc 21: các yêu cầu về thông tin
Chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng phải biết chắc mỗi ngân hàng có hệ thống lưu trữ tài liệu phù hợp theo yêu cầu về kế toán, có thể nắm được tình hình tài chính thực tế của ngân hàng
Nguyên tắc 22: quyền lực của thanh tra ngân hàng
Chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng phải có các biện pháp giám sát bắt buộc
để có thể đưa ra được hành động can thiệp kịp thời (kể cả thu hồi giấy phép) khi ngân hàng không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về an toàn và hiệu quả kinh doanh
Các nguyên tắc 23-25: hoạt động thanh tra ngân hàng xuyên quốc gia
Chuyên gia giám sát nghiệp vụ ngân hàng phải thực hiện giám sát tổng hợp các tổ chức tài chính có giao dịch quốc tế, thiết lập quan hệ và trao đổi thông tin với những chuyên gia giám sát khác, yêu cầu các ngân hàng nước ngoài phải hoạt động theo các tiêu chuẩn như đối với các ngân hàng trong nước
Trang 3731
1.2 Nhóm các tiêu chuẩn Basel
Đó là qui định về mức vốn tối thiểu mà các TCTD phải đảm bảo trong quá trình hoạt động, được cụ thể hóa tại Hiệp ước về vốn của ban BASEL năm 1988 (Basel 1) và sau này được điều chỉnh bổ sung bằng Basel 2 (năm 2001) Theo qui định Basel, vốn tự
có của ngân hàng gồm 2 phần: vốn cấp 1 và vốn cấp 2, vốn tự có tối thiểu phải bằng 8% tổng tài sản có rủi ro, vốn cấp 2 tối đa bằng 100% vốn cấp 1 Vốn cấp 1 gồm vốn góp, thặng dư vốn, các quĩ dự trữ, lợi nhuận để lại, phần vốn góp vào các công ty trực thuộc Vốn cấp 2 gồm dự phòng bù đắp rủi ro, quĩ dự trữ đánh giá lại tài sản, giá trị tăng lên của các trái phiếu có khả năng chuyển đổi, các công cụ vốn lưỡng tính, nợ thức cấp
So với Basel 1, Basel 2 chỉ đơn thuần làm tinh xảo hơn cách thức đo lường và tính toán rủi ro nhằm giúp các ngân hàng quản trị rủi ro nhạy bén hơn nhờ vào qui định bắt buộc phải áp dụng một hệ thống đo lường và quản trị rủi ro phức tạp trên cơ sở xếp hạng độ tín nhiệm và mức độ rủi ro thực tế
1.3 Các phương pháp đo lường rủi ro bao gồm:
1.3.1 Các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng
- Phương pháp chuẩn hóa: phụ thuộc vào đánh giá của các tổ− chức xếp hạng tín nhiệm độc lập
- Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá− nội bộ cơ bản: Các ngân hàng đưa ra những khoản rủi ro ngầm định
- Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ tiên tiến: Các ngân hàng đưa ra một loạt thông tin đầu vào về rủi ro
1.3.2 Các phương pháp đo lường rủi ro thị trường
- Phương pháp chuẩn hóa: Do cơ quan quản trị ngân hàng thiết lập
- Phương pháp sử dụng các mô hình nội bộ: Các ngân hàng áp dụng các− mô hình nội bộ
1.3.3 Các phương pháp đo lường rủi ro hoạt động
Trang 3832
- Phương pháp dùng chỉ tiêu cơ bản: (Một chỉ tiêu áp dụng cho một qui định), để tính toán lượng vốn tối thiểu cần đảm bảo đối với rủi ro hoạt động, ngân hàng lấy tổng thu nhập bình quân hàng năm trong 3 năm gần nhất nhân với 0,15 (hệ số này
do Ủy ban Basel qui định, thể hiện tương quan giữa mức vốn tối thiểu chung của toàn
hệ thống với mức chỉ số chung của toàn hệ thống) Tổng thu nhập này bằng thu nhập thuần từ tiền lãi cộng với thu nhập thuần không phải từ tiền lãi, là thu nhập trước khi trích lập dự phòng, không bao gồm các khoản lỗ/lãi thu được từ kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và các khoản thu nhập bất thường
- Phương pháp chuẩn hóa: (Nhiều chỉ tiêu áp dụng cho một qui định) Trong
đó, các nội dung hoạt động của ngân hàng được chia thành 8 lĩnh vực Theo đó, ngân hàng sẽ tính toán lượng vốn tối thiểu cần đảm bảo cho từng lĩnh vực kinh doanh bằng cách nhân thu nhập thuần từ lĩnh vực kinh doanh đó với các hệ số tương ứng theo qui định của Ủy ban Giám sát ngân hàng thuộc BIS (xem bảng dưới đây) Lượng vốn tối thiểu đối với rủi ro hoạt động của toàn ngân hàng sẽ bằng tổng vốn tối thiểu của từng lĩnh vực kinh doanh
Bảng 2: Bảng hệ số phần trăm tương ứng với từng ngành theo quy định của Ủy
ban giam sát theo ngân hàng thuộc BIS
Đơn vị: %
Lĩnh vực kinh doanh Hệ số (%)
Tài trợ doanh nghiệp 18 Các hoạt động mua bán 18 Hoạt động ngân hàng bán lẻ 12 Hoạt động ngân hàng thương mại 15
Trang 3933
Dịch vụ đại trị 15 Quản trịtài sản có 12 Môi giới bán lẻ 12
Đối với phương pháp chỉ số cơ bản và phương pháp chuẩn hóa: Theo Basel 2, hai phương pháp này chủ yếu áp dụng đối với những ngân hàng không phải đối mặt với mức độ rủi ro lớn về hoạt động do nội dung hoạt động hay do phạm vi hoạt động
Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp chuẩn hóa, ngân hàng phải có hệ thống quản trị rủi
ro hoạt động đáp ứng đầy đủ những yêu cầu tối thiểu qui định tại Basel 2 Cả hai phương pháp đều đòi hỏi ngân hàng phải duy trì số lượng vốn tương ứng với một tỉ lệ phần trăm nhất định so với tổng giá trị rủi ro hoạt động xác định được
- Phương pháp đo lường nội bộ nâng cao (AMA): (Các ngân hàng áp dụng−
các mô hình nội bộ) Theo phương pháp này, mức vốn tối thiểu ngân hàng cần duy trì sẽ tương đương với mức rủi ro mà ngân hàng tính toán được bằng hệ thống đo lường rủi
ro hoạt động nội bộ của ngân hàng Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp này, một ngân hàng phải đảm bảo các tiêu chuẩn định tính và định lượng do Ủy ban đề ra và phải được cơ quan thanh tra giám sát chấp thuận
1.4 Vấn đề áp dụng Basel 2 tại Việt Nam
Mặc dù sau năm 2010 Việt Nam mới áp dụng Basel 2, nhưng Basel 2 đã ảnh hưởng lớn đến các NHTM Việt Nam, nhất là yêu cầu về quản trị rủi ro Việc áp dụng Basel 2 đòi hỏi chi phí khá cao, các TCTD phải sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, bao gồm các qui trình, thủ tục và công nghệ thông tin để đánh giá khách hàng với mức độ rủi ro tín dụng khác nhau Vì thế, mức rủi ro của các ngân hàng lớn có thể giảm, nhưng của các ngân hàng nhỏ và yếu kém có thể tăng lên Khi đó, các ngân hàng nhỏ sẽ chịu chi phí đầu vào tăng, nên lãi suất đầu ra sẽ tăng hoặc chênh lệch lãi suất thấp hơn, gây ảnh hưởng bất lợi đến lợi nhuận của ngân hàng Trong điều kiện đó, các
Trang 4034
ngân hàng nhỏ phải hợp nhất hoặc sáp nhập để hạn chế rủi ro Điều này dường như đã được các NHTM Việt Nam xác nhận và nhiều ngân hàng đã xây dựng chiến lược kinh doanh riêng, trong đó chú trọng mở rộng qui mô về vốn và loại hình dịch vụ theo hướng sáp nhập thành ngân hàng lớn hơn và liên doanh, liên kết với các ngân hàng nước ngoài
Về giám sát vĩ mô, NHNN đã ban hành Quyết định 457 và Quyết định 493 qui định về các tỉ lệ an toàn, về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của TCTD, trong đó Quyết định 493 đã tiến dần đến những đánh giá mang các yếu tố định tính và dự phòng được chia thành dự phòng chung và dự phòng cụ thể đã hướng tới khuôn khổ thuộc dự phòng theo Basel 2
CAMELS là những chữ cái viết tắt để chỉ các chỉ tiêu cấu thành hệ thống xếp hạng đối với một ngân hàng gồm: Capital (vốn), Assets (tài sản) Management (quản trị ), Earnings (lợi nhuận), Liquidity (thanh khoản) và Sensitivity (độ nhạy cảm với các rủi
ro thị trường) Đối với nhiều ngân hàng, khái niệm này không phải là xa lạ Nhưng việc xây dựng một hệ thống chỉ số theo tiêu chuẩn CAMELS và sử dụng nó như một công