1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam

105 694 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô hình quản lý và kinh doanh rác thải phù hợp cho Việt Nam
Tác giả Trần Thị Minh Huệ
Người hướng dẫn ThS. Trần Minh Nguyệt
Trường học Trường Đại học Ngoại thương, Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế
Chuyên ngành Kỹ thuật Quản lý và Kinh doanh Rác thải
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, cũng như lo ngại việc nghiên cứu trên phạm vi rộng có thể gây loãng đề tài nghiên cứu và mất đi tính hấp dẫn của nó, em xin được

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

MÔ HÌNH QUẢN LÝ VÀ KINH DOANH RÁC THẢI

PHÙ HỢP CHO VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Trần Thị Minh Huệ

Giáo viên hướng dẫn : ThS Trần Minh Nguyệt

HÀ NỘI, 6/2008

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU

LỜI CẢM ƠN

LỜI NÓI ĐẦU 1

A Đặt vấn đề 7

B Phương pháp nghiên cứu 7

C Phạm vi nghiên cứu 7

D Mục đích nghiên cứu 7

E Bố cục khóa luận 8

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9

A Một số khái niệm cơ bản: 9

I Khái niệm rác thải, chất thải, phế thải: 9

1 Rác thải, chất thải, phế thải là gì 3

2 Quản lý rác thải và kinh doanh rác thải 4

3 Một số khái niệm khác 6

II Phân loại rác thải: 13

1 Theo nguồn phát sinh 7

2 Theo hàm lược chất hoá học có trong rác 8

III Vai trò của rác thải, chất thải và kinh doanh rác thải 16

B Mô hình quản lý và kinh doanh rác thải dưới góc nhìn kinh tế 17

1 Rác thải dưới góc nhìn kinh tế 18

a Đặc tính của rác thải 12

b Liệu rác thải còn giữ được giá trị hay không 12

2 Rác thải dưới góc nhìn “bộ phận trong cả chu trình” 18

2.1 Rác thải trong hệ thống nguyên liệu sản xuất 12

2.2 Giá trị, lợi ích và chi phí của các khâu liên quan 15

3 Khung lý thuyết và các nguyên tắc thiết kế mô hình……… … 20

3.1 Rác thải và các hoạt động liên quan là hàng hoá công cộng hay tư nhân 20

3.2 Nguyên tắc thiết kế mô hình 24

3.3 Thực hiện việc kiểm toán chất thải 26

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ VÀ KINH DOANH RÁC THẢI Ở VIỆT NAM (cụ thể HÀ NỘI) 34

A Phân tích tình hình chung 35

1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam: 35

Trang 3

2 Hiện trạng môi trường rác thải ở Việt Nam 37

B Một số mô hình quản lý và kinh doanh rác thải tại Việt Nam 44

I Hệ thống quản lý Nhà nước về rác thải 45

1 Hệ thống pháp luật, chính sách và các cơ quan quản lý rác thải 39

2 Hệ thống cơ quan quản lý môi trường 40

II Mô hình công ty – URENCO 48

1 Cơ cấu tổ chức 42

2 Phạm Vi hoạt động 43

3 Dịch vụ cung cấp 45

4 Hiệu quả hoạt động 45

III Mô hình cộng đồng quản lý – hệ thống thu gom trên cơ sở cộng đồng ở xã Minh Khai, phường Nhân Chính và phường Thành Công 56

1.Đặc điểm kinh tế xã hội 50

2 Mô hình tổ chức quản lý rác thải ở ba phường 54

3 Nhận thức của cộng đồng về các vấn đề chung 59

4 Nhận thức của cộng đồng về các sáng kiến quản lý chất thải cộng đồng 64

5 Mức độ tham gia của người dân vào việc ra quyết định về hệ thống quản lý chất thải trên cơ sở cộng đồng 66

6 Kết quả 68

IV Mô hình kinh doanh rác tái chế cá thể, tự phát – làng tái chế Minh Khai, Đa Hội, Dương Ô, Triều Khúc 76

1 Các loại vật chất, nguyên liệu chính được tái chế 70

2 Cơ chế hoạt động hệ thống tái chế hiện có 71

3 Hiệu quả hoạt động 73

4 Dòng tái chế tổng quát 76

V Mô hình dự án có sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) – 3R HN 84

1 Giới thiệu chung về dự án 3R HN 78

2 Mục tiêu hoạt động của dự án 80

3 Đánh giá các kết quả đạt được 82

Chương III: GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HIỆU QUẢ MÔ HÌNH KINH DOANH RÁC THẢI Ở VIỆT NAM 89

A Về vĩ mô (Nhà nước) 90

I Xây dựng và hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý vững mạnh 90

II Tăng cường đầu tư và mở rộng hoạt động của dịch vụ quản lý rác thải 92

III Xây dựng các khuyến khích cho việc tối thiểu hóa rác thải và tăng cường tái chế 93

IV Tăng cường thông tin cộng đồng – xây dựng hệ thống quản lý thông tin môi trường (EIMS) 94

B Về vi mô 95

I Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ liên quan đến rác thải 95

II Từ phía các làng nghề tái chế 97

III Về phía cộng đồng 99

KẾT LUẬN 101

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1 Tỉ lệ một số loại rác thải 14

Hình 2 Tỷ lệ chất thải theo phân loại ở Việt Nam 16

Hình 3 Chu trình khâu chế tạo 19

Hình 4 Chu trình khâu dịch vụ 19

Hình 5 Các mục tiêu của hệ thống quản lý nguyên liệu 20

Hình 6 Mô hình quản lý chất thải rắn 21

Hình 7 Hàng hoá công cộng và hàng hoá tư nhân 27

Hình 8 Ma trận lý thuyết trò chơi giữa hai hộ gia đình trong khu phố 28

Hình 9 Các yếu tố liên quan trong kiểm toán chất thải 32

Hình 10 Biểu đồ thành phần chất thải công nghiệp nguy hại tại Đồng Nai 41

Hình 11 Sơ đồ tổ chức bộ Tài nguyên Môi trường (2008) 47

Hình 12 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý URENCO 49

Hình 13 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý Xí nghiệp môi trường số 5 51

Hình 14 Sơ đồ tổ chức ban quản lý xã, Phường 60

Hình 15 Cơ cấu tổ chức BQL thu gom rác thải ở Minh Khai 61

Hình 16 Cơ cấu tổ chức BQL thu gom rác thải ở Nhân Chính 63

Hình 17 Cơ cấu tổ chức BQL thu gom rác thải ở Thành Công 64

Hình 18 Recycling stage – Dòng tái chế tổng quát 83

Hình 19 Phân loại rác thải tại nguồn 86

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1 Ưu nhược điểm của tái sử dụng 23

Bảng 2 Ưu nhược điểm của hoạt động tái chế 23

Bảng 3 Tại sao chúng ta nên tái chế? 24

Bảng 4 Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 1986-2008 36

Bảng 5 Tình hình phát sinh chất thải rắn 37

Bảng 6 Khối lượng chất thải rắn các đô thị miền Bắc từ năm 2000-2004 38

Bảng 7 Tổng hợp về khối lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh ở một số địa phương trong các vùng kinh tế trọng điểm - năm 2003 39

Bảng 8 Tỷ lệ phát sinh chất thải từ các cơ sở y tế 42

Bảng 9 Tình hình xử lý và tiêu thụ CTR tại 1 số đô thị Việt Nam năm 2001 43

Bảng 10 Các đơn vị thành viên của URENCO 49

Bảng 11 Lượng chất thải rắn được thu gom bởi URENCO 50

Bảng 13 Giá sản phẩm phân bón (năm 2003) 54

Bảng 14 Các bãi chôn lấp trước kia của URENCO 54

Bảng 15 Một số dự án Quản lý rác thải trên địa bàn Hà Nội (đến 2002) 55

Bảng 16 Thông tin về các hộ gia đình trong 3 cộng đồng 58

Bảng 17 Thành phần cư dân trong 3 cộng đồng (theo nghề nghiệp) 59

Bảng 18 Kết quả điều tra các hộ gia đình về mức độ tham gia cộng đồng 65

Trang 5

Bảng 19 Những vấn đề chung trong cộng đồng được đưa ra 67

Bảng 20 Trao đổi giữa mọi người trong cộng đồng 69

Bảng 21 Quan điểm cộng đồng về môi trường & quản lý rác cộng đồng 70

Bảng 22 Lợi ích và tác động kinh tế của quản lý rác thải cộng đồng 71

Bảng 23 Kết quả điều tra quan điểm cộng đồngvề QLCT 73

Bảng 24 Kết quả thực tế từ hệ thống quản lý rác thải cộng đồng 74

Bảng 25 Giá cả các nguyên vật liệu có thể tái chế 82

Bảng 26 Nguyên liệu thu gom tại bãi chôn lấp Nam Sơn 82

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Vì đề tài “Mô hình quản lý và kinh doanh rác thải phù hợp cho Việt Nam” là một

đề tài khá mới mẻ, đặc biệt với sinh viên trường Đại học Ngoại thương, việc tìm kiếm tài liệu gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, nhờ có sự hướng dẫn chỉ bảo tận

tình của Thạc sĩ Trần Minh Nguyệt, em đã không bị chệch hướng khóa luận

của sinh viên một trường thuộc khối kinh tế, không bị sa đà vào việc trình bày thực trạng và có được nhiều nguồn tìm kiếm tài liệu vô cùng hữu ích Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại thương đã dìu dắt, dạy bảo chúng em trong suốt 4 năm học qua Những gì các

thầy cô cho chúng em không dừng lại ở kiến thức, sách vở, thông tin mà còn ở việc chia sẻ những kinh nghiệm thực tế, những kĩ năng sống cần thiết, niềm đam

mê khoa học và nhiều hơn thế nữa Đó là những hành trang quý giá sẽ theo chúng em đi suốt cuộc đời

Em xin chân thành cảm ơn Tổ chức hợp tác quốc tế JICA – Nhật Bản, “bác Gúc” (www.google.com), Ban quản trị diễn đàn Trí Tuệ Xanh – TTVNOL (www.ttvnol.com/forum/ttx), diễn đàn E&M (eandm@yahoogroups.com), nhóm tình nguyện 3R HN (www.3r-hn.vn), nhóm GreenZoom

(www.greenzoom.org) vì những kho tư liệu chia sẻ vô cùng quý giá Cảm ơn các anh chị và các bạn đã giúp đỡ em hoàn thiện khóa luận này

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

A Đặt vấn đề

Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống Khi kinh tế phát triển, dân số tăng lên, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa trong xã hội cao dần, rác thải cũng nhiều hơn Nhắc đến rác thải, người ta thường nghĩ ngay đến những thứ bỏ đi, không còn dùng được nữa, không còn chút giá trị nào, và vì thế, càng tống khứ nó sớm khỏi chỗ của mình càng tốt Trong xã hội, việc thu gom, xử lý rác thải được coi là thứ hàng hóa công cộng và thuộc trách nhiệm quản lý của Nhà nước Việc kinh doanh rác thải có lẽ là một khái niệm còn rất xa lạ với nhiều người Dưới góc nhìn kinh tế, rác thải có giá trị không? Có thể kinh doanh được không? Trong bài

khóa luận, em xin được chia sẻ một góc nhìn riêng về việc quản lý và kinh

doanh loại “hàng hóa” vô cùng đặc biệt này

B Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp tổng hợp các nghiên cứu của các tác giả trước

đó về các chủ đề khác nhau có liên quan đến rác thải cũng như phân tích thêm giá trị kinh tế của rác, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá, phán đoán tiềm năng phát triển của mô hình quản lý và kinh doanh này Khóa luận cũng luôn coi trọng các nguyên tắc: khoa học, khách quan, lịch sử, biện chứng…

C Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, cũng như lo ngại việc nghiên cứu trên phạm vi rộng có thể gây loãng đề tài nghiên cứu và mất đi tính hấp dẫn của nó,

em xin được đi sâu phân tích mô hình quản lý và kinh doanh rác thải ở Việt Nam

mà cụ thể là trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới 5 góc nhìn: Nhà nước (khu vực

công), công ty cổ phần và các mô hình kinh doanh rác tái chế nhỏ lẻ, tự phát (khu vực tư nhân), cộng đồng quản lý (xã hội dân sự) và dự án của các tổ chức phi chính phủ (NGOs)

D Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu giá trị của rác thải và các hoạt động liên quan đến rác thải, cũng như phân tích các mô hình quản lý và kinh doanh rác thải ở Hà Nội,

Trang 8

khóa luận hi vọng có thể giúp người đọc có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về hiệu quả quản lý cũng như khả năng phát triển của việc kinh doanh rác thải và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hiệu quả cho các mô hình này

E Bố cục khóa luận

Khóa luận được chia thành 3 phần chính:

Chương I: Cơ sở lý thuyết – xem xét các khái niệm cơ bản về rác thải (định

nghĩa, vai trò, phân loại) cũng như giá trị của rác thải dưới góc nhìn kinh tế, từ

đó xây dựng khung lý thuyết cho mô hình quản lý và kinh doanh rác thải

Chương II: Phân tích các mô hình quản lý và kinh doanh rác thải ở Việt Nam

(cụ thể ở Hà Nội) – dưới 5 góc nhìn: Nhà nước (khu vực công), công ty cổ phần

và các mô hình kinh doanh rác tái chế nhỏ lẻ, tự phát (khu vực tư nhân), cộng đồng quản lý (xã hội dân sự) và dự án của các tổ chức phi chính phủ (NGOs)

Chương III: Giải pháp cải thiện hiệu quả hoạt động của các mô hình quản lý và

kinh doanh rác thải ở Việt Nam - đề xuất các giải pháp vi mô cũng như vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho hệ thống quản lý và kinh doanh rác thải ở Việt Nam

Với một đề tài mới, không thuộc chuyên ngành học và hạn chế về mặt kiến thức, trong khóa luận chắc chắn còn nhiều sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo và chia sẻ của các thầy cô để khoá luận của em được hoàn thiện hơn

Trang 9

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương đầu tiên của khóa luận sẽ tìm hiểu một số khái niệm cơ bản về rác thải, chất thải, phế thải, quản lý chất thải, kinh doanh rác thải… cùng với vai trò và các cách phân loại rác thải trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đây chính là những khái niệm cơ bản nhất, là những viên gạch đầu tiên xây lên mô hình kinh doanh rác thải

Tiếp theo đó là phần khung lý thuyết cho mô hình quản lý và kinh doanh rác thải

ở Việt Nam Trước hết là nhìn nhận khái niệm rác thải dưới một góc độ khác – góc nhìn kinh tế, để xem liệu rác thải còn có giá trị hay không, và giá trị của nó, hiểu theo nghĩa là lợi ích kinh tế - xã hội mà các chu trình xử lý liên quan đến rác thải (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, thu gom, chôn lấp…) đem lại như thế nào

Từ đó, xây dựng một số nguyên tắc cơ bản để xây dựng mô hình quản lý và kinh doanh rác thải cho mỗi cộng đồng

Trong suốt cuốn khoá luận này, giá trị của rác thải luôn được xem xét dưới góc

nhìn kinh tế - xã hội và theo 4 cấp độ: Hệ thống quản lý của Nhà nước, Mô hình

kinh doanh của tư nhân (công ty), Mô hình quản lý của cộng đồng (xã hội dân sự), và Mô hình hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (dự án của các NGOs)

A Một số khái niệm cơ bản:

I Khái niệm rác thải, chất thải, phế thải:

1 Rác thải, chất thải, phế thải là gì?

Rác thải là một khái niệm gây tranh cãi Mỗi người có một cách hiểu riêng

Trong các các văn bản, cơ sở dữ liệu chính thống như Luật, Nghị định, Pháp lệnh, báo chí… cũng ít thấy định nghĩa cho khái niệm này

Trong Từ điển Tiếng Việt, rác thải được dẫn chiếu là cùng nghĩa với chất thải,

“là chất loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt động khác Rác thải có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác” (từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam)

Trong cuộc sống hàng ngày, khi nhắc tới rác thải, ta thường nghĩ đến những thứ

bỏ đi, không còn dùng nữa

Trang 10

Trong Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005 có nhắc đến khái niệm chất thải:

"Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,

dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác."

Theo Wikipedia: “Rác thải hay chất thải (waste) là vật liệu hay vật chất không

mong muốn Nó cũng liên quan đến những vật bỏ đi, bã, đồ đồng nát tùy thuộc vào loại vật liệu và các thuật ngữ địa phương Trong các cơ thể sống, chất thải liên quan đến những vật chất hay chất độc không mong muốn được thải ra khỏi

cơ thể.” Và định nghĩa rác thải sinh hoạt đô thị (Municipal solid waste - MSW):

Rác thải sinh hoạt đô thị thường bao gồm rác sinh hoạt (rác thải dân cư) và đôi khi có thêm rác thương mại (commercial waste) do chính quyền địa phương thu gom Các loại này có thể là chất thải rắn hoặc nửa rắn, nhưng không bao gồm chất thải nguy hại công nghiệp Khái niệm "rác sinh hoạt" thường có liên quan đến rác từ nguồn là các hộ dân cư và bao gồm các vật liệu chưa tách rời hoặc chuyển đi để tái sản xuất

Trong luận văn này, để tiện theo dõi, chúng ta sẽ chấp nhận hai khái niệm "chất

thải rắn" và "rác thải" là một Như vậy, rác thải sẽ được hiểu là vật chất dạng rắn

được thải ra từ quá trình sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh…

2 Quản lý rác thải và kinh doanh rác thải:

a Quản lý rác thải:

Như đã trình bày ở trên, khoá luận thống nhất rác thải với chất thải rắn, và vì thế, trong định nghĩa về “quản lý rác thải” cũng sẽ sử dụng cụm từ hay thấy trong các văn bản là “quản lý chất thải”

Tại lớp tập huấn Quản lý chất thải tổng hợp, Dự án kinh tế chất thải WASTE – ECON, ngày 4-6/6/2004, nhiều khái niệm về quản lý chất thải đã được đưa ra

Quản lý chất thải là việc kiểm soát của con người tới quá trình thu gom, xử lý

và chôn lấp các loại rác thải khác nhau, nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của rác đến môi trường và xã hội

Quản lý chất thải là việc thu thập, vận chuyển, xử lý, tái chế hoặc vứt bỏ rác

thải Thuật ngữ này thường có liên quan đến thẩm mĩ học Quản lý chất thải thường được tiến hành nhằm giảm thiểu tác động của chất thải đến môi trường và nhằm khôi phục nguồn lực từ chúng Quản lý chất thải có thể bao gồm các loại

Trang 11

chất thải rắn, lỏng, khí hoặc hạt nhân, với các phương pháp và lĩnh vực chuyên môn riêng cho từng loại

Theo tiến sĩ Danh Sơn - viện nghiên cứu và chính sách Khoa học và Công nghệ,

Bộ Khoa học và Công nghệ, có 4 cách tiếp cận trong quản lý chất thải

+ Cuối đường ống (end-pipe approach)

+ Dọc theo quá trình sản xuất (production-pipe-line approach): cách tiếp cận này cũng giống cách tiếp cận sản xuất sạch

+ nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng (consumer – driven approach)

+ hỗn hợp (mixed approach)

Quản lý chất thải tổng hợp: là một hệ thống tối ưu của các nguyên tắc quản lý

chất thải, dựa trên sự đánh giá hoàn chỉnh các nghiên cứu về môi trường, năng lượng, kinh tế, chính trị - xã hội, bao gồm sự tổ hợp của hai hay nhiều hợp phần của thang bậc chất thải (

Việc quản lý chất thải ở các nước phát triển và đang phát triển, thành thị và nông thôn, dân cư và công nghiệp, các nhà sản xuất khác nhau rất khác nhau Việc quản lý các chất thải không nguy hại từ sinh hoạt và sản xuất ở các thành phố lớn thường là trách nhiệm của chức trách chính quyền địa phương, trong khi rác thải thương mại và công nghiệp thường là trách nhiệm của người sản xuất

b Kinh doanh rác thải:

“Có môn học nào nghiên cứu riêng về chất thải hay không? Và có ngành khoa học nào xem xét đến lợi ích kinh tế của chất thải hay nhìn nhận rác thải từ góc độ lợi ích kinh tế - xã hội hay không?” Câu trả lời là ngành kinh tế chất thải Đây là lĩnh vực khoa học mới hình thành như là gạch nối giữa khoa học kinh tế và khoa học môi trường

“Kinh tế chất thải bao gồm tất cả các khía cạnh phát sinh, vận chuyển và chôn lấp chất thải, các tác động về kinh tế của việc chôn lấp chất thải” (J Whitney, chuyên gia tư vấn dự án Waste-econ)

Trong từ điển và các văn bản chính thống không có định nghĩa về "kinh doanh rác thải" Vì thế, trong khoá luận này, chúng ta sẽ dựa trên cơ sở, góc nhìn của bộ

môn Kinh tế chất thải và thống nhất khái niệm "quản lý và kinh doanh rác

thải" được đề cập trong khoá luận này bao gồm tất cả các hoạt động quản lý,

Trang 12

kinh doanh, trao đổi, buôn bán… rác thải trong tất cả các khía cạnh phát sinh, vận chuyển, chôn lấp để thu được giá trị kinh tế, hoặc giá trị kinh tế - xã hội

Vì thế, chủ thể trong quá trình quản lý và kinh doanh không chỉ giới hạn ở khu

vực tư nhân (các cá nhân hay doanh nghiệp) mà mở rộng ra cả khu vực công – Nhà nước và khu vực xã hội dân sự - cộng đồng Chẳng hạn như hệ thống quản

lý chất thải của Chính quyền địa phương đem lại lợi ích về sức khoẻ cho người dân, cải thiện hình ảnh của cộng đồng… thì mô hình quản lý đó cũng được coi là việc “kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải” Một ví dụ khác là việc thu gom sắt, nhựa, giấy để tái chế và tạo ra sản phẩm mới có giá trị lớn hơn để thu lợi nhuận, đem lại lợi ích kinh tế cho những người thu gom và cơ sở sản xuất thì cũng được xem là kinh doanh rác thải

3 Một số khái niệm khác:

Cần chú ý có một số khái niệm cũng hay được nhắc tới và nhầm lần với khái niệm rác thải hay chất thải, đó là phế thải và phế liệu

Phế thải bao gồm những chất mà người ta không thể sử dụng tiếp tục được nữa

Phế thải là những thứ bỏ đi, không còn giá trị sử dụng và là thứ để vứt đi (dự án

Waste-Econ )

Trong Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005 có nhắc đến khái niệm phế liệu:

"Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng

được thu hồi để dùng làm nguyên liệu sản xuất."

"Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,

dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác." Trong khoá luận này, chất thải nguy hại không được xếp vào “rác thải” và nằm trong danh sách không được phép kinh doanh (theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 về Quản lý chất thải rắn) (website: www.chathairannguyhai.net)

Khoá luận cũng xem xét một khái niệm cơ bản trong Kinh tế Môi trường, do đặc thù của “sản phẩm” trong mô hình quản lý và kinh doanh này là “rác thải”, đó là khái niệm Phát triển bền vững:

Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà

không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên

Trang 13

cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội

và bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005)

Bất kể là mô hình kinh doanh tập trung theo hướng tăng lợi nhuận (lợi ích) hay giảm chi phí (thiệt hại) thì tôn chỉ trong bài khoá luận này vẫn là hướng tới sự phát triển bền vững

II Phân loại rác thải:

Trên thế giới có rất nhiều cách phân loại rác thải khác nhau.Tác giả xin giới hạn việc phân loại rác thải trên hai cơ sở là nguồn phát sinh và thành phần hoá học có trong rác thải Ngoài ra, tác giả xin đưa ra cách phân loại ở một số nước trên thế giới

1 Theo nguồn phát sinh:

Theo nguồn phát sinh (trong định nghĩa “rác thải” của Từ điển Tiếng Việt), rác thải được chia thành các loại:

a Rác thải sinh hoạt, dịch vụ

Loại rác thải này có thể là rác thải từ hộ gia đình hoặc từ các cơ sở công cộng

- Rác thải từ hộ gia đình (chẳng hạn như phân, nước thải, rác, đồ ăn ) có thể là chất thải thực phẩm chứa các chất hữu cơ dễ phân hủy hoặc phân hủy nhanh, đặc biệt khi thời tiết nóng ẩm, thải bỏ từ quá trình chế biến, buôn bán, tiêu dùng, thực phẩm; hoặc chất thải khác – không có khả năng phân hủy thối rữa nhưng dễ gây

ra bụi, như các phần còn lại của quá trình cháy (như tro xỉ, xỉ than ), thải ra từ các hộ gia đình hoặc từ các loại bếp, lò đốt; các đồ gia dụng đã qua sử dụng được làm từ các loại vật liệu khác nhau

- Rác thải từ các cơ sở công cộng, dịch vụ có ít hoặc không có khả năng phân hủy, thối rữa, như giấy và các sản phẩm giấy đã sử dụng, chai lọ, thủy tinh, kim loại, gốm sứ, đất cát, bụi đất thu gom được từ các bãi tắm, công viên, khu vực công cộng, dịch vụ, công sở, trường học hoặc đường phố

b Chất thải rắn xây dựng

Chất thải từ hoạt động xây dựng được thải ra do phá dỡ, cải tạo các hạng mục/công trình xây dựng cũ hoặc do xây dựng các hạng mục/công trình mới (nhà, cầu, đường giao thông ) như vôi vữa, gạch ngói vỡ, bê tông, ống dẫn nước, tấm lợp v.v và các vật liệu khác

Trang 14

c Chất thải rắn công nghiệp

Đó là chất thải của các quá trình công nghệ sản xuất công nghiệp và phế thải rắn của các cơ sở xử lý Ví dụ như than để chạy nhà máy nhiệt điện, khai thác mỏ,

sản xuất hóa chất, nhựa dẻo, nylon…

d Chất thải nông nghiệp

Chất thải nông nghiệp có thể bao gồm một trong các dạng sau đây:

- Chất thải của các quá trình sản xuất nông nghiệp như phân và nước tiểu động vật (trong chăn nuôi): là nguồn phân bón quý cho nông nghiệp (trồng trọt) nếu áp dụng biện pháp canh tác và vệ sinh hợp lý

- Những sản phẩm hóa học như phân bón, chất điều hòa sinh trưởng, thuốc trừ sâu, trừ cỏ

- Chất thải của các quá trình sản xuất nông nghiệp: thùng, lọ, hộp chứa phân bón, thuốc trừ sâu

e Chất thải y tế: là chất thải từ các bệnh viện, các cơ sở y tế, trạm xá…

f Chất thải từ các nguồn khác

2 Theo hàm lượng chất hóa học có trong rác

Theo hàm lượng các chất hoá học có trong rác, rác thải được chia thành rác hữu

cơ và rác vô cơ Trong rác vô cơ người ta lại chia ra các nhóm nhỏ hơn: vật liệu xây dựng; sành sứ; bìa giấy, gỗ ; kim loại

(nguồn: TS Danh Sơn)

3 Phân loại rác ở một số nước trên thế giới:

Trang 15

Khoá luận xin đưa ra một số cách phân loại rác ở Nhật Bản và Hàn Quốc – hai quốc gia lớn trong khu vực châu Á, có nhiều nét tương đồng về văn hóa với Việt Nam

Cách đây khoảng 50 năm, Nhật Bản cũng ở tình trạng “bức xúc với rác” như Việt Nam hiện nay Nhưng ngày nay, tại các khu dân cư ở các thành phố lớn của Nhật Bản (Tokyo, Osaka, Kitakyusu ), người dân được tuyên truyền và rất tự giác phân loại rác thải thành 3 loại cơ bản:

- Rác cháy hoặc phân huỷ được (bao gồm rác từ nhà bếp như: cá, rau, giấy, quần

áo, đồ dùng sinh lý, đầu mẩu thuốc lá…)

- Rác không cháy được (bao gồm các loại nhựa, kim loại, kính, đồ gốm sứ, đồ da,

vũ khí, đinh, bóng đèn tròn và bóng đèn huỳnh quang )

- Rác to khó xử lí (bao gồm đồ nội thất, đồ điện tử, xe đạp )

Cách phân loại này giúp chính phủ quản lý rác thải dễ dàng hơn và có các hình thức xử lý phù hợp cho từng loại rác, đồng thời khuyến khích hoạt động tái chế

Ở Hàn Quốc, rác thải được phân thành 3 loại: Rác thải sinh hoạt, Rác thải xây

dựng, Rác thải công nghiệp Cách phân loại này khá đơn giản và giúp Nhà nước quản lý theo ngành khá hiệu quả

Wikipedia chia rác thải thành 5 loại sau:

- Rác thải sinh hoạt hữu cơ: rác thức ăn và bếp, rác xanh, giấy (có thể tái chế được);

- Các vật liệu tái chế: giấy, thủy tinh, chai lọ, hộp, kim loại, một số loại nhựa nhất định ;

- Rác thải trơ: chất thải từ vật liệu xây dựng và phá hủy, vôi gạch đổ nát ;

- Rác hỗn hợp: quần áo bỏ, Tetra Paks, phế liệu nhựa như đồ chơi;

- Rác nguy hại dân cư (hay còn gọi là rác thải nguy hại sinh hoạt) và chất thải độc hại: y tế, rác điện tử, tranh, thuốc, đui bóng đèn, bóng đèn huỳnh quang, bình xịt, thùng chứa phân bón và thuốc trừ sâu, ắc quy, xi đánh giầy

Cách phân chia này rất chi tiết, cụ thể và khá phổ biến ở các nước phát triển

4 Phân loại rác thải ở Việt Nam:

Trang 16

Ở Việt Nam, rác thải được phân thành 3 loại: chất thải từ sinh hoạt gia cư gọi là rác sinh hoạt, chất thải y tế, và chất thải công nghiệp (theo website Bộ Tài nguyên Môi trường tháng 4/2008)

(nguồn: TS Danh Sơn)

Theo thống kê qua Hội thảo xây dựng chiến lược kiểm soát ô nhiễm ở Việt Nam vào tháng 12 năm 2004, trung bình tổng lượng chất thải rắn hàng năm trên 49 ngàn tấn chia ra theo tỷ lệ sau: Chất thải gia cư 44%, chất thải y tế 1%, và chất thải công nghiệp chiếm 55%

Rác thải sinh hoạt lại được chia thành 3 loại: rác hữu cơ, rác vô cơ và rác có thể tái chế (3R HN) Hình thức phân loại này chưa chính thức áp dụng cho cả nước

III Vai trò của việc quản lý và kinh doanh rác thải

Rác thải có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của loài người, cả về mặt kĩ thuật

Cần phải khẳng định rằng trong bất cứ xã hội nào, tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số là điều hiển nhiên, tất yếu để phát triển xã hội Có thể nói xã hội càng

Trang 17

phát triển, tiêu dùng càng nhiều, rác thải cũng gia tăng nhanh chóng Quản lý rác thải không chỉ là vấn đề đơn thuần của một khu vực, một địa phương, một quốc gia mà là vấn đề toàn cầu

Thành phần của rác thay đổi theo thời gian và không gian Sự phát triển công nghiệp và sáng tạo có liên quan trực tiếp đến các vật liệu rác Ví dụ như nhựa và công nghệ hạt nhân Một vài thành phần của rác có giá trị kinh tế và có thể tái chế được khi được thu hồi đúng cách Như vậy, về mặt kĩ thuật, khi công nghệ ngày càng phát triển, thành phần của rác thải cũng đa dạng hơn, việc quản lý cũng trở nên phức tạp hơn

Rác thải hữu cơ chẳng hạn như rác hay chất thải thực phẩm, sẽ bị phân hủy tự nhiên bởi các vi sinh vật kỵ khí hay không kỵ khí Nếu như việc vứt rác hữu cơ không được kiểm soát chặt chẽ thì có thể gây ra một số vấn đề như tăng lượng khí thải nhà kính và có thể tác động đến sức khỏe con người thông qua việc gia tăng nguồn bệnh Tác động này mang tính trực tiếp nhất, có ảnh hưởng đến cả cộng đồng

Việc quản lý và kinh doanh rác thải như định nghĩa đã được thống nhất trong khoá luận này, bao gồm cả việc quản lý của chính quyền, việc buôn bán, trao đổi của khu vực tư nhân, những hỗ trợ của các NGOs… là hết sức cần thiết nhằm

kiểm soát một cách hiệu quả nguồn lực kinh tế mang tên rác thải Trách nhiệm

khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực này thuộc về từng cá nhân và cả cộng đồng

Một số câu hỏi thường được đặt ra liên quan đến quản lý và kinh doanh rác thải là: “Cần quản lý chất thải như thế nào?” “Thế nào là cách tiếp cận hợp lý?”,

“Trách nhiệm quản lý thuộc về ai?”, “Ai phải trả tiền cho việc quản lý và phải trả bao nhiêu?”

B Mô hình kinh doanh rác thải dưới góc nhìn kinh tế

Phần này sẽ nhìn nhận lại khái niệm chất thải dưới góc độ kinh tế - như một loại hàng hóa - xem xét phần giá trị còn lại của chất thải và sự chuyển hóa giá trị chất thải qua các bước trong quản lý tổng hợp chất thải, bao gồm: ngăn ngừa, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, thu gom, chôn lấp… và xây dựng khung lý thuyết cho

“mô hình quản lý và kinh doanh rác thải”

Trang 18

1 Rác thải dưới góc nhìn kinh tế

a Đặc tính của rác thải

Rác thải dưới góc nhìn kinh tế gồm 4 đặc tính sau:

- Các chất hoặc vật liệu mà người chủ hoặc người tạo ra chúng hiện tại không sử dụng và chúng bị thải bỏ

- Rác thải gia đình, các sản phẩm phế thải của các hoạt động công nghiệp

- Các chất đặc biệt bị người chủ, người sở hữu đầu tiên loại bỏ, rồi sau đó bị vứt

bỏ thường là do một người nào đó khác phải thu dọn

- Các chất mà theo quan điểm của nhiều người là “ra khỏi chỗ của tôi không phải bận tâm của tôi” hay “khuất mắt trông coi”

(Trình bày của GS TS Trần Hiếu Nhuệ, Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị

và khu công nghiệp, tháng 6/2004)

b Liệu rác thải còn giữ được giá trị hay không?

Trước hết, ta có thể dễ dàng thấy rằng rất nhiều chất được coi là rác thải vẫn mang tính năng sử dụng hữu ích Thường được sử dụng bởi một người nào đó sau khi người sở hữu ban đầu không sử dụng nữa và thải bỏ Điều này có nghĩa

là rác thải có thể mất giá trị hay trở thành vô giá trị với người chủ ban đầu, nhưng nó vẫn có thể có giá trị với người khác Điều quan trọng trong quản lý và kinh doanh là tạo điều kiện cho việc chuyển giao giá trị của rác thải từ người sử dụng này sang người sử dụng khác theo cách có hiệu quả

2 Rác thải dưới góc nhìn “bộ phận trong cả chu trình”

2.1 Rác thải trong hệ thống nguyên liệu sản xuất:

Theo định luật bảo toàn năng lượng, vật chất không tự nhiên sinh ra cũng không

tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác

Rác thải cũng vậy Mọi vật chất bị loại bỏ đều đến một nơi nào đó: tái sử dụng, tái chế hoặc đem đến bãi thải, có thể tác động môi trường và gây rủi ro cho sức khỏe con người

Dòng thải của rác, gồm các thành phần với tỉ lệ tương đối ổn định các chất hữu

cơ, các loại nhựa, giấy, kim loại, thuỷ tinh, vải, các chất không thể tái chế như chất thải xây dựng và chất thải công nghiệp

Trang 19

Trong khâu chế tạo, từ những giai đoạn đầu như chiết và khai thác, phân loại tinh chế, chuẩn bị nguyên liệu đến tạo hình, sản xuất… hay trong khâu dịch vụ, từ việc vận chuyển, cung cấp cơ sở thiết bị đến tiếp thị, phân phối… đều có thể tạo

ra sản phẩm phụ chính là rác thải

Có thể thấy vị trí của rác thải trong khâu chế tạo và khâu dịch vụ ở hình dưới đây:

(nguồn: GS TS Murray Haight)

Rõ ràng là bất cứ quá trình nào trong việc sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm đều phải sử dụng các nguyên liệu đầu vào, năng lượng, nước, không khí để tạo ra

Trang 20

giá trị, tạo ra sản phẩm hoặc gia tăng giá trị của sản phẩm, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng

Trong các quá trình đó việc tạo ra chất thải trong tất cả các dạng vật chất (rắn, lỏng, khí…) là không thể tránh khỏi Chất thải được tạo ra như là các thành phần

“phi sản phẩm” của chu trình tạo giá trị, tồn tại song song với sản phẩm Câu hỏi đặt ra không phải là “loại bỏ hoàn toàn chất thải” mà là “làm sao để đạt được mức tối ưu”, tức là đạt được lợi nhuận (lợi ích) tối đa về mặt kinh tế và môi trường Đó chính là mục tiêu của hệ thống quản lý nguyên liệu

Hình 5 Các mục tiêu của hệ thống quản lý nguyên liệu

(nguồn: GS TS Murray Haight)

Trong mô hình trên, có thể thấy, hệ thống quản lý nguyên liệu đòi hỏi việc tối ưu hoá không chỉ là đầu vào (các nguồn lực) để đạt lợi nhuận cả về môi trường và tài chính, mà còn là giảm thiểu tối đa đầu ra phi sản phẩm để đạt được lợi nhuận

cả về môi trường và kinh tế Xét về mặt này, lợi ích môi trường của việc “quản lý

và kinh doanh rác thải” gắn liền với lợi ích kinh tế của doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ Nó cũng phù hợp với nguyên tắc quản lý chất lượng và hiệu quả về thời gian

Trang 21

Cũng từ sơ đồ này, ta thấy rõ sự liên quan của các bên đến hệ thống quản lý nguyên liệu, gồm cả hộ gia đình - ở vị trí trung tâm, và các khu vực sản xuất, dịch vụ, nông nghiệp, khu vực quản lý nhà nước

2.2 Giá trị, lợi ích và chi phí của các khâu liên quan:

Hình 6 cho thấy hệ thống quản lý chất thải rắn tổng hợp bao gồm chu trình đầu vào - chất thải, năng lượng, nguyên liệu, nước, qua các quy trình từ thủ công đến

sử dụng công nghệ hiện đại, từ thu gom, phân loại, tái chế… đến xử lý nhiệt, sinh học, để cho ra các sản phẩm là nguyên liệu thứ cấp, phân compost, các năng lượng hữu ích, đồng thời tạo ra khí thải, nước thải và các chất trơ được chôn lấp Tất nhiên, mô hình này chỉ là khái quát, chưa tổng hợp được tất cả các hoạt động.Trong mô hình này, chất thải đóng vai trò là đầu vào và đầu ra là các loại chất thải ở các dạng khác nhau như khí, lỏng, rắn…

(nguồn: GS TS Murray Haight)

Tiếp theo khoá luận sẽ phân tích giá trị của mỗi hoạt động liên quan trong hệ thống quản lý này, bao gồm: ngăn ngừa, giảm thiểu (reduction), tái sử dụng (reuse), tái chế (recycle), thu hồi hay phục hồi (recoverable) và thải bỏ

Trong bộ môn kinh tế chất thải, các hoạt động này được xếp vào thang bậc quản

lý chất thải, gồm:

Trang 22

Ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa hoặc là việc ngăn ngừa tuyệt đối (hoặc xả thải ở mức không) Điều này không dễ gì đạt được, thường yêu cầu có sự thay đổi trong sản phẩm, thiết kế lại quy trình sản xuất hoặc thói quen của người tiêu dùng

b Giảm thiểu:

Giảm thiểu là việc tránh tạo ra chất thải Giảm thiểu tối đa chất thải bao gồm giảm thiểu tại nguồn, tái chế và xử lý Giảm thiểu tại nguồn là việc thay thế sản phẩm và giảm thiểu hoặc ngăn ngừa sự phát sinh chất thải trong một quy trình Tái chế là việc giảm thể tích của chất thải thông qua việc tạo ra các chất liệu có giá trị có khả năng được tận dụng sau này Xử lý là hoạt động này nhằm giảm thể tích của chất thải thông qua việc tạo ra các nguyên liệu có giá trị

Trang 23

Bảng 1 Ưu nhược điểm của tái sử dụng

- Các hoạt động ngăn ngừa sự phát sinh

chất thải

- Theo đúng nghĩa là nhằm giảm lượng

chất thải phải xử lý

- Có thể giúp giảm lượng chất thải

nguy hại đi vào dòng thải chính

- Hỗ trợ nâng cao nhận thức của cộng

đồng đối với các vấn đề quản lý chất

thải

- Có thể kéo dài tuổi thọ của công

trình, thiết bị xử lý và loại bỏ chất thải

- Có tiềm năng về nâng cao tính hiệu

quả công nghiệp

- Việc làm sạch và sửa chữa có thể tiêu tốn nhiều tài nguyên hơn là tiết kiệm

- Khoảng cách vận chuyển cho việc tái

sử dụng

- Các hạn chế về thiết kế

- Các vấn đề sức khỏe cộng đồng

- Chỉ có tác động hạn chế đối với chất thải

d Tái chế

Tái chế có liên quan tới việc tách một sản phẩm cũ và sử dụng các nguyên liệu

đó để tạo thành một sản phẩm mới Nguyên liệu phải được gia công lại và các công đoạn bổ sung có những ảnh hưởng phụ đến môi trường

Có 3 phương thức tái chế Thứ nhất là trực tiếp sử dụng hoặc tái sử dụng chất thải trong quy trình sản xuất công nghiệp Thứ hai là thu hồi nguyên liệu thứ cấp cho mục đích sử dụng khác Và thứ ba là loại bỏ tạp chất nhằm thu được chất liệu không chứa chất ô nhiễm

Các hoạt động tái chế bao gồm: thu gom nguyên liệu thứ cấp, chuẩn bị nguyên liệu cho thị trường và sản xuất sản phẩm mới Do các quy trình sản xuất công nghiệp, nguyên liệu có tiềm năng tái chế phải được phân loại riêng Yêu cầu đặt

ra là phải giảm thiểu hoặc ngăn ngừa các sự nhiễm bẩn

Trong tái chế rác thải có hai quy trình là mạch kín (tái chế sơ cấp) sử dụng nguyên liệu cho cùng một loại sản phẩm và vòng hở (tái chế thứ cấp) tạo ra các loại sản phẩm mới từ nguyên liệu ban đầu

Tái chế là một quy trình sản xuất công nghiệp liên quan tới nguồn nguyên liệu, năng lượng và các tác động môi trường của chúng Hoạt động tái chế có những

ưu nhược điểm có thể kể ra trong bảng sau

- Giảm mức tiêu thụ tài nguyên - Kết quả đạt được có thể không thực tế

Trang 24

- Giảm nhu cầu năng lượng

hoặc không như mong muốn

- Quy trình phức tạp và nhất thiết phải tốn các nguồn tài lực cho vận chuyển, phân loại và làm sạch

- Các chất thải khác lại được sản sinh

- Chu kỳ sử dụng bị giới hạn

Dự tính khoảng 20-25% rác thải từ hộ gia đình (ở các nước phát triển) có thể tái chế được Còn ở các nước phát triển, tỉ lệ này cao hơn nhiều Chúng ta có thể

thấy các tỉ lệ trong hình vẽ sau (theo Waste-econ)

(nguồn: trường Đại học Quốc gia Australia)

Nghiên cứu của trường Đại học Quốc gia Australia cho thấy việc tái chế giấy có

thể giảm tới 50% năng lượng và giảm được 90% nước từ cây cối Tái chế lọ nhựa PET giúp tiết kiệm 84% năng lượng để sản xuất lọ đó từ nguyên liệu thô Với thuỷ tinh, tỷ lệ này là 74% và với nhôm là 95%

Trang 25

hợp Thứ hai là thu gom tại các điểm thu gom: các hộ gia đình lưu chuyển vật liệu có khả năng tái chế tới khu tập trung với các container chuyên dụng nhằm phân loại các vật liệu theo từng nhóm khác nhau Thứ ba là tại các khu tập trung:

có thể đáp ứng khả năng lưu chứa chất thải đối với một tòa nhà công trình hoặc một khu vực nhất định có mật đọ dân cư cao Cuối cùng là phương thức thu gom hỗn hợp: một số loại vật liệu được thu gom trực tiếp từ các hộ gia đình, một số khác được các chủ hộ chuyển tới địa điểm thu gom

Về mặt chi phí, có 2 phương thức thu gom là phương thức B&C (Buy & Collect)

- các chủ hộ chịu chi phí thu gom và phương thức A (Authority) - các chi phí thu gom và vận chuyển được xác định bởi cơ quan có thẩm quyền

Phương thức thu gom có thể ảnh hưởng tới việc khả năng thu hồi Chẳng hạn trong phương thức A, các chất không bị nhiễm bẩn có khả năng thu hồi có tỷ lệ phần trăm cao hơn

f Thu hồi nguyên liệu

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức thu hồi vật chất như mức thuận tiện và mức thúc đẩy Mức thuận tiện bao gồm các yếu tố: lượng phân loại, trở ngại trong phân loại, yêu cầu thêm diện tích lưu kho, khoảng cách đến điểm thu gom, mức

độ vệ sinh… Mức thúc đẩy gồm: chất lượng và tần suất thúc đẩy, môi trường/ nhận thức/ mối quan tâm, áp lực cùng cấp, các yêu cầu có tính pháp lý và sự sẵn

có các phương pháp lựa chọn tiêu hủy rác thải thay thế…

Tại nhiều quốc gia, hệ thống phân loại chuyên dụng được biết như là MRF (Material Recovery Facilities) hay hệ thống phục hồi nguyên liệu được thiết lập hay điều khiển bởi cơ quan có thẩm quyền hoặc công ty tư nhân Việc phân loại

có thể được thực hiện bằng tay, cơ giới hoặc cả hai

g Chôn lấp (thải bỏ):

Chôn lấp là việc tiêu hủy rác thải bằng phương pháp chôn nén và phủ lấp bề mặt trong điều kiện được hoặc không được kiểm soát, thường áp dụng công nghệ cổ điển và thông dụng nhất Đây là phương pháp tiêu hủy rác cuối cùng, không thể tránh khỏi và là một phần hợp thành quan trọng trong chiến lược quản lý chất thải tổng hợp Nó cũng là giải pháp ít tốn kém nhất và thường không yêu cầu tiền

xử lý

Trang 26

Như vậy, mỗi khâu trong chuỗi hệ thống quản lý chất thải có thể đem lại các giá trị, lợi ích khác nhau, đồng thời đòi hỏi chi phí khác nhau Do vậy, ta cần phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phí của mỗi hoạt động khi tiến hành việc quản lý và kinh doanh rác thải

3 Khung lý thuyết và các nguyên tắc thiết kế mô hình

3.1 Rác thải và các hoạt động liên quan là hàng hoá công cộng hay tư nhân?

Đề thực hiện thành công các thiết kế định hướng từ dưới lên (bottom up), cần phải hiểu được cơ sở lí thuyết về các nguồn tài nguyên hay hàng hoá - mà trong trường hợp này là rác thải và các hoạt động liên quan đến rác thải (như thu gom, tái chế, thải bỏ…)

Vào năm 1998, McKean tranh luận rằng hàng hoá công cộng là loại hàng hoá mà việc tiêu dùng nó không làm giảm lượng tiêu dùng sẵn có cho những người khác,

nó không cạnh tranh và không loại trừ, không thể tiêu thụ hết và nên được chi trả bởi các quỹ công cộng và được "vận chuyển" bởi những cơ sở công cộng Ngược lại, hàng hoá tư nhân có thể chia nhỏ và số lượng tiêu dùng của người này sẽ ảnh hưởng tới lượng tiêu dùng của người khác Các hàng hoá này vì thế sẽ được các

cá nhân thanh toán (thường thông qua phí sử dụng) và được vận chuyển bởi khu vực tư nhân

Rất nhiều hoạt động nằm trong khái niệm "quản lý chất thải rắn" nằm trong khu vực được coi là "hàng hoá công cộng hoàn toàn" Có thể thấy phân loại của một

số loại rác thải và việc quản lý chất thải thành hàng hoá công cộng, tư nhân trong hình 8

Trang 27

Hình 7 Hàng hoá công cộng và hàng hoá tư nhân

(nguồn: David W Richardson)

Từ bảng biểu trên, có thể thấy việc thu gom rồi bán các nguyên vật liệu tái chế được xem là một thứ hàng hoá tư nhân và hoàn toàn khả thi trong việc thực hiện Việc tiêu dùng diễn ra riêng biệt, đơn lẻ Vì thế, có thể xem các loại rác thải

có khả năng trở thành nguyên liệu tái chế giống như hàng hoá thông thường

Hoạt động thu gom rác thải thông thường có thể xem là khả thi để tiến hành,

mang xu hướng của thứ hàng hoá tư nhân, nhưng cần sự tham gia tiêu thụ của nhiều người mà xét thấy ở đây là các cộng đồng địa phương Việc thu gom

rác tái chế ở cộng đồng cần sự tiêu dùng của tập thể, và có hơi hướng của hàng hoá công cộng, nên việc thực hiện khó khăn hơn Các hoạt động như thu gom rác thông thường, chôn lấp an toàn, vận chuyển rác thải đến bãi chôn lấp, dọn dẹp đường phố và các khu vực công cộng được xếp vào nhóm hàng hoá công cộng, cần có sự tiêu dùng của số đông

Trong vấn đề môi trường đô thị, rác thải đóng vai trò như một nguồn lực mở Có thể quản lý thông qua chính quyền trung ương, khu vực hoặc địa phương, cơ sở hoặc bởi các nhóm cộng đồng, các cá nhân hay khu vực tư nhân, hoặc có thể không phải bất cứ chủ thể nào kể trên (theo Furedy, 1989)

Trang 28

Hadin (năm 1968) đã kết luận rằng hoạt động thu gom (thông qua việc cưỡng chế) là cần thiết để đạt đuợc giải pháp mà xã hội mong muốn Theo cách này, các vấn đề rác thải hay vệ sinh đường phố có thể được nhìn dưới góc độ hợp tác Năm 1973, trong một nghiên cứu của mình, Sen mô tả tình huống này bằng ví dụ

về những chai thuỷ tinh và các cá nhân phải lựa chọn một trong bốn phương án (giống như nguyên tắc lý thuyết trò chơi) Nếu như hai hộ gia đình cùng sống trên một con phố, sự hợp tác là cần thiết để cả hai cùng không xả rác ra đường phố và giữ cho con phố sạch sẽ Nhưng nó sẽ đòi hỏi hai hộ gia đình phải bỏ chi phí Theo Sen định nghĩa chi phí là các nỗ lực cần tăng cường hay phải bỏ thêm thời gian

Việc thải bỏ rác trên đường phố sẽ là phương án thay thế rẻ hơn và mỗi cá nhân độc lập sẽ muốn vứt rác ra đường hơn là việc phải vướng vào việc mang rác

bỏ vào thùng thu gom hay tệ hơn là phải mang rác đi đổ vào giờ thích hợp (chẳng hạn như khi có kẻng đổ rác) (theo Basu, 1997)

Những gì được coi là hành vi hợp lý của mỗi cá nhân lại dẫn tới một kết quả mà

xã hội không mong muốn - một khu phố ngập rác Nói chung, những lợi ích từ việc giữ sạch đường phố là ví dụ điển hình về hàng hoá công cộng, khi mà chi phí là tư nhân Sen (1973) cũng đưa ra ví dụ về tình huống tiến thoái lưỡng nan của một tù nhân (trong lý thuyết trò chơi) khi phải đưa ra một sự lựa chọn để giữ đường phố sạch với chi phí 15 (đơn vị tiền tệ) một tháng cho mỗi hộ Chi phí có thể thấy trong ma trận sau:

HỘ GIA ĐÌNH 2 Hợp tác Không hợp tác

HỘ GIA ĐÌNH

1

Hợp tác -15, -15 -15, 0 Không hợp tác -15, 0 0, 0

(nguồn: David W Richardson)

Từ góc nhìn chi phí, Sen (1973) đã chỉ ra rằng hộ gia đình 1 sẽ đạt tối ưu nếu không hợp tác, trong khi hộ gia đình kia phải trả toàn bộ (theo Anand, 2000) Tương tự như vậy, hộ gia đình 2 sẽ đạt tối ưu khi không hợp tác, nhưng hộ gia

Trang 29

đình 1 phải thanh toán Sen (1982) đã khẳng định: không hợp tác sẽ là xu hướng áp đảo

Do đó, các cộng đồng với khả năng tiếp cận hạn chế để từ chối việc thu gom bởi các tổ chức công cộng hay ở những nơi không có các tổ chức tư nhân cần phải cố gắng để hợp tác và tham gia vào hệ thống thu gom và chôn lấp rác thải cộng đồng nhằm tối thiểu hoá chi phí Hệ thống cộng đồng này có thể bao gồm việc thu gom từ khu vực công cộng hoặc từ các tổ chức tư nhân hay các hộ gia đình Cần phải có sự tham gia của cư dân, những người thải rác ở các điểm thu gom tập trung hay đổ rác khi những công nhân vệ sinh môi trường đánh kẻng Sự tham gia của cộng đồng này là đóng góp một cách tự nguyện và đáng kể Đối với các điểm thu gom tập trung, rất khó để ước tính đuợc số lượng cư dân mang rác đến Thêm vào đó, cư dân trong cộng đồng không mang rác ra đổ khi những người đi thu gom đánh kẻng, rác thải theo một cách nào đó chắc chắn sẽ gây ô nhiễm khu vực công cộng nơi họ thải bỏ trên đường phố, khi chôn hoặc đốt chúng Sử dụng các biện pháp chôn lấp không hợp lý, các hoạt động này sẽ gây

tác động tiêu cực tới các thành viên trong cộng đồng Theo cách này, hệ thống cộng đồng thu gom rác thải có thể được coi như một thứ hàng hoá công cộng

Từ đó, có thể thấy rằng, việc thu gom rác thải từ các hộ gia đình đơn lẻ có thể

được coi là hàng hoá công cộng hay không sẽ phụ thuộc vào trình độ văn hoá và địa vị xã hội của cư dân trong cộng đồng đó Vì thế, nó cũng phụ thuộc vào mức phí phải trả có quá cao không, thường thì trong đa số các trường hợp, các tổ

chức cộng đồng có tiếng nói sẽ xây dựng ra một mô hình bù đắp chi phí thông qua việc thu phí sử dụng Trong các cộng đồng mà cư dân nhận thức được sự cần thiết phải có môi trường công cộng trong lành và không vướng phải sự hạn chế nguồn lực, sự thiếu năng lực của chính quyền, dịch vụ thu gom rác thải từ các hộ gia đình có thể được coi là hàng hoá tư nhân cho các hộ gia đình sẵn sàng chi trả cho dịch vụ đó (theo Furedy, 1989) Trong cộng đồng nơi mà dân cư còn nhận thức hạn chế về sự cần thiết phải có một môi trường sạch sẽ, sẽ có sự chống đối việc thu phí sử dụng và xu hướng chung là sẽ thực hiện các hành vi gây ô nhiễm môi trường như vứt rác ở những nơi công cộng, hay trên các mảnh đất canh tác, hay đốt rác

Trang 30

3.2 Nguyên tắc thiết kế mô hình kinh doanh rác thải

Với phân tích về hàng hoá công cộng ở trên, việc xây dựng hệ thống quản lý dựa trên cơ sở cộng đồng là cần thiết, và cần phải xây dựng các nguyên tắc thiết kế

mô hình “kinh doanh rác thải” trên cơ sở cộng đồng này

Năm 1992, Ostrom cho rằng những người sử dụng và nhà cung cấp hệ thống thuỷ lợi có thể lợi dụng những kẽ hở trong các văn bản pháp lý để đối phó với các quy định vật lý, kinh tế, xã hội, văn hoá của từng hệ thống Điều này cũng đúng với việc quản lý rác thải khi mà những người giám sát hệ thống phải xây dựng, thiết kế và thực thi hệ thống văn bản pháp quy cho việc thu gom và chôn lấp rác thải cộng đồng Esman và Uphoff năm 1984 đã lưu ý rằng bản thân trong các tổ chức này đã có sẵn rất nhiều văn bản pháp quy về tổ chức hay cấu trúc rồi Ostrom năm 1990 đã định nghĩa nguyên tắc này như sau: "một phần hay một điều kiện giúp cho việc tính toán thành công của các tổ chức trong việc duy trì các công việc thể chất và đạt được sự tuân thủ các quy định hiện hành của các thế hệ những người sử dụng" Ostrom tập trung mô tả các quy tắc tồn tại lâu dài, các hệ thống tự tổ chức

Trường hợp này khá đặc biệt ở Việt Nam Từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới (1986), các hệ thống tự tổ chức được coi là riêng biệt, nằm ngoài phạm vi "kế hoạch tập trung" của chính phủ Hệ thống này không mới lạ gì ở Việt Nam, tuy nhiên, các quy định tổ chức từ trước tới nay lại bao gồm cả quy định ở mức độ cao là hệ thống kiểm soát và can thiệp của chính phủ Điều đặc biệt trong trường hợp nghiên cứu hiện tại là quản lý rác thải không được nghiên cứu riêng biệt và thực tế ở Việt Nam cho thấy nhiều điểm giống với nguyên tắc thiết kế

Theo nguyên tắc phát triển cộng đồng, để xây dựng thành công hệ thống quản lý rác thải, cần tuân thủ theo 5 nguyên tắc sau:

a Nguyên tắc 1: Ranh giới được xác định rõ ràng

Ostrom (1992) lưu ý rằng "việc phân định ranh giới và đặc biệt là với quyền sử dụng nó có thể coi là bước đầu tiên trong việc tổ chức các hoạt động thu gom Nếu ranh giới không rõ ràng, không ai có thể biết được ai đang quản lý cái gì, cho ai." Điều này có liên quan tới các điều khoản về quản lý rác thải khi mà

có định nghĩa rõ ràng cộng đồng là gì Trong khoá luận này, các

Trang 31

cộng đồng đuợc định nghĩa rõ ràng dựa trên cấp quản lý cấp tỉnh, thành phố

và phí thu gom Những người thu gom rác quen thuộc với các hộ gia đình và các tuyến thu gom đã được xác định, cũng trở nên quen thuộc với cư dân thông qua rác thải hàng ngày và việc thu gom phí đổ rác Do đó, họ không thể là những người xa lạ như những người phi cư trú Điều này khẳng định cộng đồng

là đóng đối với người ngoài, bởi như thế hệ thống sẽ không đem lại lợi ích cho những người không đóng góp nó (ở đây là lợi ích từ việc chôn lấp rác miễn phí)

b Nguyên tắc 2: Sự cân bằng hợp lý giữa lợi ích và chi phí

Nguyên tắc này cho rằng phí tiêu thụ dịch vụ và chi phí phải phù hợp với việc thải rác của các hộ gia đình và được điều chỉnh theo hai cách Cách thứ nhất là bằng khối lượng, hay chính là số túi rác mỗi gia đình thải ra Cá nhân, hộ gia đình nào thải rác nhiều hơn sẽ phải trả nhiều phí hơn, chẳng hạn nếu một hộ gia đình thải hai túi rác thì họ sẽ phải trả phí gấp đôi hộ gia đình chỉ thải một túi Cách thứ hai là tính phí dựa trên số nhân khẩu trong hộ gia đình, chẳng hạn: một hộ gia đình có 4 nhân khẩu sẽ phải trả phí gấp đôi hộ chỉ có hai người

c Nguyên tắc 3: Cam kết cộng đồng dựa trên sự đồng thuận

Các cư dân trong cộng đồng sẽ được quyền và được khuyến khích tham gia vào các quyết định có liên quan đến hệ thống rác thải, cung cấp "đầu vào" cho tổ chức quản lý và thu hút sự quan tâm đến những vấn đề của họ

d Nguyên tắc 4: Giám sát chặt chẽ

Khi cư dân trong cộng đồng thấy những người khác trong cộng đồng vứt rác vào những lúc và ở những nơi không phù hợp, họ sẽ thông báo với các tổ chức nhằm buộc người đó phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình

e Nguyên tắc 5: Cơ chế xử phạt nghiêm minh

Các cá nhân khi bị cư dân trong cộng đồng giám sát và phát hiện thấy vi phạm hoặc không chịu trả phí tiêu thụ sẽ phải đối mặt với cơ chế xử phạt Cũng theo đó, các cá nhân không tham gia vào hệ thống này sẽ bị tách biệt khỏi các hoạt động cộng đồng Chính sự loại trừ này có thể khuyến khích được các cư dân tham gia

f Nguyên tắc 6: Cá nhân nhận thức tối thiểu về quyền lợi của mình

Trang 32

Các cộng đồng được cho phép sáng tạo ra các tổ chức và hệ thống quản lý chất thải của riêng họ và được chính quyền địa phương cấp trên thông qua Các cá nhân trong cộng đồng cũng nhận thức được một cách rõ rệt sự cần thiết phải tổ chức mô hình thu gom rác thải và có những hành vi hợp lý

3.3 Thực kiện việc kiểm toán chất thải:

a Khái niệm

Murray Haight định nghĩa: Kiểm toán chất thải là quy trình thực hiện từng bước được sử dụng để cung cấp các thông tin về khối lượng và thành phần của chất thải được sinh ra từ một cơ sở

b Tại sao phải kiểm toán chất thải?

Kiểm toán chất thải nhằm cung cấp các thông tin cần thiết nhằm chuẩn bị kế hoạch giảm thiểu chất thải, xem xét lại cách tiếp cận chi phí – lợi ích để giảm thiểu chất thải, tuân theo các nguyên tắc, luật môi trường hiện hành và nhằm hỗ trợ việc chứng nhận, ví dụ ISO 14000

(nguồn: GS TS Murray Haight)

Kiểm toán chất thải liên quan tới việc xác định: Lượng chất thải được tạo ra là bao nhiêu? Thành phần chất được thải ra là gì? Nguồn gốc và nguyên nhân của

sự phát sinh chất thải?

Kiểm toán chất thải gồm 7 bước cơ bản: xem xét quá trình vận hành; nhận dạng chất thải; lên kế hoạch kiểm toán; tiến hành kiểm toán; phân tích dữ liệu; báo cáo kết quả; thực thi, ví dụ: các nguyên tắc thực hành quy trình mới

Báo cáo kiểm toán chất thải xác định các cơ hội nhằm: giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, giảm thiểu hoặc ngăn ngừa các thành phần độc hại, tiết kiệm chi phí Từ

Trang 33

đó đánh giá lợi ích tổng thể cho chương trình quản lý chất thải của công ty bạn

và cung cấp mốc chuẩn cho công tác quan trắc

Việc thực hiện kiểm toán chất thải cũng quan trọng như thực hiện kiểm toán trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, không chỉ giúp bản thân cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, cộng đồng, chính phủ… nhận thức được chuyện gì đang diễn ra mà còn giúp họ nhìn nhận lại và cải thiện hoạt động để tăng hiệu quả và năng lực quản ý và kinh doanh rác thải

Trang 34

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ KINH

DOANH RÁC THẢI Ở VIỆT NAM (cụ thể HÀ NỘI)

Trong chương thứ II này, khóa luận sẽ đi sâu nghiên cứu mô hình kinh doanh rác thải ở Việt Nam Ở đây, rác thải và các dịch vụ liên quan đến rác thải (thu gom,

tái chế, chôn lấp…) sẽ được xem xét dưới góc độ một loại hàng hóa – là “đầu ra” phi sản phẩm của quá trình phát triển kinh tế, là nguồn lực “đầu vào” cho quá trình tái chế, hay là “sản phẩm dịch vụ” cho các cá nhân, cộng đồng

Trước hết, trong phần A, khóa luận sẽ trình bày tổng quát và khách quan về thực trạng phát sinh của rác thải và các hoạt động liên quan ở Việt Nam hiện nay Trong đó, rác thải được xem như là kết quả “không mong muốn” nhưng là tất yếu của quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số Tại đó, giá trị của rác thải là giá trị âm, hay nói cách khác, rác thải là vấn nạn, đem lại tác động tiêu cực cho xã hội Khi đó, giá trị kinh tế của rác thải có lẽ không quan trọng bằng giá trị môi trường và giá trị xã hội mà các hoạt động có liên quan đến rác thải mang lại

Trong phần B của chương này, khóa luận xin được phân tích một cách chi tiết hơn các mô hình “kinh doanh rác thải” hiện tại ở Hà Nội, một thành phố lớn và

là thủ đô của Việt Nam Như đã nói ở chương I, việc “kinh doanh rác thải” bao

gồm tất cả các hoạt động quản lý, kinh doanh, trao đổi, buôn bán… rác thải

trong tất cả các khía cạnh phát sinh, vận chuyển, chôn lấp để thu được giá trị kinh tế, hoặc giá trị kinh tế - xã hội Chúng ta sẽ cùng xem xét mô hình “kinh

doanh rác thải” ở 3 khu vực: khu vực công (public sector), khu vực tư nhân (private sector) và khu vực xã hội dân sự (civil society), trong đó sẽ lần lượt

xem xét tới mức độ kinh tế tăng dần theo 5 cấp độ: hệ thống quản lý Nhà nước,

mô hình công ty nhà nước – công ty môi trường đô thị URENCO, mô hình cộng đồng quản lý, mô hình buôn bán rác tái chế một cách tự phát, và cuối cùng là hoạt động dự án của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) Khóa luận sẽ

dựa trên lý thuyết “bàn tay vô hình” của Adam Smiths và tìm lời giải cho câu hỏi

“Ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm về rác thải?”

Trang 35

A Phân tích tình hình chung

1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam:

Dấu mốc đáng nhớ nhất đối với sự phát triển của Việt Nam có lẽ là công cuộc

“Đổi mới” từ Đại hội Đảng VI năm 1986 Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế

kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội

Việc xây dựng luật và các thể chế thị trường ở Việt Nam đã từng bước xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, nhấn mạnh quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế, thành lập hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân hàng, hình thành các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường đất đai… Cải cách hành chính được thúc đẩy nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trường thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế Chiến lược cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 là một quyết tâm của Chính phủ Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc sửa đổi các thủ tục hành chính, luật pháp, cơ chế quản lý kinh tế… để tạo ra một thể chế năng động, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Cơ cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển dịch theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế

về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế

Trang 36

Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu quả các thành tựu kinh tế vào mục tiêu phát

triển xã hội như phân chia một cách tương đối đồng đều các lợi ích của đổi mới

cho đại đa số dân chúng; gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng

cuộc sống, phát triển y tế, giáo dục; nâng chỉ số phát triển con người (HDI) của

Việt Nam từ vị trí thứ 120/174 nước năm 1994, lên vị trí thứ 108/177 nước trên

thế giới năm 2005; tăng tuổi thọ trung bình của người dân từ 50 tuổi trong những

năm 1960 lên 72 tuổi năm 2005, giảm tỷ lệ số hộ đói nghèo từ trên 70% đầu

những năm 1980 xuống dưới 7% năm 2005

Năm 1992-

1997

1998 1999 200 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

(dự tính)

Tỷ

lệ

(%)

8-9 5,8 4,8 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 8,2 8,48 7.5

(Nguồn: website Tổng cục thống kê và World bank)

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997 đã tác

động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta Tổng sản phẩm trong nước trong những

năm 1992-1997 thường đạt mức tăng trưởng hàng năm 8-9% đã đột ngột giảm

xuống chỉ còn tăng 5,8% vào năm 1998 và tăng 4,8% vào năm 1999 Nhưng từ

năm 2000 đến nay, nền kinh tế nước ta đã lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độ

tăng năm sau luôn luôn cao hơn năm trước (Năm 2000 tăng 6,79%; năm 2001

tăng 6,89%; năm 2002 tăng 7,08%; năm 2003 tăng 7,34%; năm 2004 tăng 7,79%

và năm 2005 ước tính tăng 8,43%) Tính ra trong 5 năm 2001-2005, bình quân

mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,51%, đưa quy mô nền kinh tế năm

2005 gấp 1,44 lần năm 2000 Năm 2006 là 8,2% và năm 2007 là 8.48% Theo

thông tin từ giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam trong Báo cáo cập nhật

tình hình kinh tế khu vực Đông Á – Thái Bình Dương tháng 4/2008, dự kiến tăng

trưởng kinh tế trong năm nay của Việt Nam sẽ đạt mức 7,5-8% (website Tổng

cục thống kê, 2007)

Trong 5 năm 2001-2005, kinh tế nước ta không những tăng trưởng tương đối cao

mà cơ cấu kinh tế còn tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại

hoá Nếu phân chia nền kinh tế thành 3 khu vực: (1) Nông lâm nghiệp và thuỷ

Trang 37

sản; (2) Công nghiệp và xây dựng; (3) Dịch vụ, thì tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giá thực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 36,73% năm 2000 lên 38,13% năm 2001; 38,49% năm 2002; 39,47% năm 2003; 40,21% năm 2004 và năm 2005 chiếm 41,04% Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tuy đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm 5,42% về giá trị sản xuất và 3,83% về giá trị tăng thêm, nhưng tỷ trọng trong tổng sản phẩm trong nước đã giảm từ 24,53% năm 2000 xuống 23,24% năm 2001; 23,03% năm 2003; 21,81% năm 2004 và năm 2005 chỉ còn 20,89% Khu vực dịch vụ vẫn duy trì được tỷ trọng chiếm trên dưới 38% tổng sản phẩm trong nước

Tỷ trọng của ba khu vực qua các năm như trên đã thể hiện rất rõ nền kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nhờ có tăng trưởng kinh tế, thu nhập của người dân được cải thiện, việc tiêu dùng của người dân cũng tăng mạnh và rác thải tạo ra ngày càng nhiều, gây áp lực lớn đến môi trường

2 Hiện trạng môi trường rác thải ở Việt Nam

Một lần nữa, khái niệm rác thải và chất thải rắn trong khóa luận này được sử dụng đồng nhất, có thể thay thế cho nhau Thực tế, khái niệm chất thải rắn có thể rộng hơn và được sử dụng nhiều hơn trong các văn bản chính thống, vì thế phần phân tích thực trạng rác thải này sẽ sử dụng cụm từ “chất thải rắn”

2.1 Chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp

a Chất thải sinh hoạt:

Theo số lượng thống kê năm 2002, lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân khoảng từ 0,6 đến 0,9 kg/người/ngày ở các đô thị lớn và dao động từ 0,4 đến 0,5 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ Đến năm 2004, tỷ lệ đó đã tăng tới 0,9 đến 1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn và 0,5 đến 0,65 kg/người/ngày tại các đô thị nhỏ

Các loại chất thải rắn Toàn quốc Đô thị Nông thôn

Tổng lượng phát thải chất thải sinh

hoạt (tấn/năm) 12.800.000 6.400.000 6.400.000 Chất thải nguy hại từ công nghiệp

Trang 38

Chất thải không nguy hại từ công

nghiệp (tấn/năm) 2.510.000 1.740.000 770.000

Chất thải y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21.000 - -

Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung

bình theo đầu người

Nguồn: Báo cáo Diễn biến môi trường Việt Nam 2004 - Chất thải rắn

Theo báo cáo "Diễn biến môi trường Việt Nam 2004 - Chất thải rắn" thì hầu hết

các loại chất thải rắn phát sinh tập trung chủ yếu ở các đô thị (bảng 5)

Ở hầu hết các đô thị, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt chiếm 60-70% tổng

lượng chất thải rắn đô thị Một số đô thị có đến 90% là chất thải rắn sinh hoạt

Theo kết quả nghiên cứu năm 2005 của Bộ Xây dựng về lượng phát sinh

chất thải rắn ở các đô thị cho thấy tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ các

đô thị có xu huớng tăng đều, trung bình từ 10-16% mỗi năm

Số liệu quan trắc môi tại một số tỉnh thành phía Bắc (bảng 6) cho thấy trong thực

tế lượng chất thải rắn phát sinh hàng năm ở các đô thị lớn như Hà Nội tăng

khá nhanh nhưng ở một số đô thị nhỏ như Thái Nguyên, Nam Định và Lào Cai

(các đô thị loại 3 và loại 4) thì tăng không nhiều, do tốc độ đô thị hoá ở các nơi

này không nhanh, đặc biệt là vùng núi

bình 1926 1497 783 581 165 119 117 63 83 53

Tỷ lệ

Nguồn: Số liệu quan trắc hàng năm của TTKTMTĐT&KCN, Đại học Xây dựng

Hà Nội và Báo cáo của Bộ Xây dựng 2005 Ghi chú:

PS: Lượng phát sinh trung bình (tấn/ngày)

Trang 39

TG: Lượng được thu gom trung bình theo thực tế (tấn/ngày)

* Bao gồm các quận nội thành

** Bao gồm 5 quận nội thành và thị xã Đồ Sơn

*** Bao gồm thị xã Lào Cai và thị trấn Sa Pa

Thành phần chất thải rắn bao gồm: chất hưu cơ, cao su, nhựa, giấy, bìa các tông, giẻ vụn, kim loại, thuỷ tinh, gốm sứ, đất đá, gạch, cát Tỷ lệ phần trăm các chất

có trong rác thải không ổn định, rất biến động theo mỗi địa điểm thu gom rác, khu vực sinh sống và phát triển sản xuất Tỷ lệ thành phần các chất hữu

cơ chiếm 40% - 60% tổng lượng chất thải Theo kết quả quan trắc, tỷ lệ thành phần nilon, chất dẻo trong rác thải đã có chiều hướng giảm (còn từ 3-7%), cá biệt

ở một số đô thị nhỏ như Lào Cai và Sa Pa, tỷ lệ chất dẻo thấp (chiếm 1,1%), đó

là do trong vòng hai năm nay một số loại hình công nghệ thu hồi và tái chế chất dẻo đã bước đầu hoạt động và góp phần làm giảm lượng chất dẻo thải ra bãi chôn lấp

Chất thải rắn công nghiệp: hầu hết chất thải rắn công nghiệp tập trung chủ yếu ở các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp tập trung và các đô thị phát triển Bảng 7 là tổng hợp về khối lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh ở một

số địa phương trong các vùng kinh tế trọng điểm

Còn theo thống kê của các Sở Khoa học, công nghệ và môi trường thì khối lượng chất thải rắn phát sinh tại các tỉnh, thành phố tính đến năm 2003 còn cao hơn rất nhiều

địa phương trong các vùng kinh tế trọng điểm - năm 2003

Quảng Ninh 11 855 Bà Rịa - Vũng Tàu 29 700 Tổng cộng toàn

Tổng cộng toàn

Trang 40

Nguồn: Đánh giá diễn biến và dự báo môi trường 2 vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam & đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường, NXB Xây dựng,

2004

b Chất thải rắn nguy hại:

Các chất thải rắn nguy hại chủ yếu phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề và y tế

Theo thống kê năm 2004, chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh chủ yếu ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Điển hình là ở các tỉnh Đồng Nai, thành phố

Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu Các ngành công nghiệp nhẹ, hoá chất và cơ khí luyện kim là ngành phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất

Tổng lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh từ các làng nghề truyền thống trong toàn quốc khoảng 2.400 tấn/năm Các làng nghề thuộc các tỉnh phía Bắc phát sinh chất thải rắn nguy hại nhiều nhất (khoảng 2.200 tấn/năm) Trong đó điển hình là các tỉnh: Bắc Ninh (1.150 tấn/năm), Hà Tây (350 tấn/năm), Hà Nội (300 tấn/năm), Hưng Yên (230 tấn/năm) Các làng nghề tái chế sắt, nhựa, đúc đồng, nhôm tạo ra nhiều chất thải rắn nguy hại nhất

Chất thải rắn y tế: Chất thải rắn y tế chiếm tỷ lệ nhỏ nhất so với chất thải rắn sinh hoạt và công nghiệp Lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh cần phải xử lý ước tính khoảng 34 tấn/ngày đêm trong toàn quốc Trong đó 1/3 lượng chất thải

y tế nguy hại tập trung ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; 2/3 còn lại ở các tỉnh, thành khác Nếu phân theo khu vực của các tỉnh, thành thì 70% lượng chất thải y tế nguy hại tập trung ở các thành phố, thị xã, 30% ở các huyện, xã nông thôn, miền núi

2.2 Thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp

Công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém Lượng chất thải rắn thu gom mới chỉ đạt khoảng 70% và chủ yếu tập trung ở nội thị Tại nhiều đô thị, khu công nghiệp, chất thải nguy hại không được phân loại riêng, còn chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt Phần lớn các đô thị, khu công nghiệp chưa có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp

vệ sinh và vận hành đúng quy trình nên đã ảnh hưởng tới đời sống của nhân dân Việc lựa chọn điểm chôn lấp hoặc khu xử lý chất thải rắn tại các đô thị còn gặp

Ngày đăng: 26/05/2014, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Sen, năm 1982, “Rational Fools: A critique of the Behavioral Foundations of Economic Theory” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rational Fools: A critique of the Behavioral Foundations of Economic Theory
1. Luật Bảo vệ Môi trường, số 52/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Khác
2. Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam 2005, Phần Tổng quan, chương II, Chất thải rắn Khác
3. Nghị định 59/2007/ND-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007 về Quản lý chất thải rắn Khác
4. SLC - Sudokwon landfill site management corp., Bãi chôn lấp rác vùng thủ đô hướng đến Dream Park (tờ rơi), Triễn lãm quốc tế sản phẩm sinh thái, tháng 3/2008 Khác
6. Eco-Community for Asia (tờ rơi), G-project, Triển lãm quốc tế sản phẩm sinh thái, tháng 3/2008 Khác
7. Tiến sĩ Danh Sơn, Kinh tế chất thải và Quản lý tổng hợp chất thải, Viện chiến luợc và chính sách khoa học và Công nghệ, bộ Khoa học và công nghệ, Quảng Ninh, ngày 4-6/6/2004. (lớp tập huấn về Quản lý tổng hợp chất thải) Khác
8. Giáo sư, tiến sĩ Trần Hiếu Nhuệ, Trung tâm Kỹ thuật môi trường Đô thị và Khu công nghiệp, Tình hình quản lý chất thải rắn ở các đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam, Quảng Ninh, tháng 6/2004 Khác
9. Giáo sư Murry Haight, Trường Quy hoạch Đại học tổng hợp Waterloo, Khung chương trình cho quản lý chất thải tổng hợp, tháng 6/2004 Khác
10. Tổng hợp thông tin dự án: Nâng cao năng lực quản lý đô thị, tháng 12/2003, Hiệp hội các đô thị Việt Nam Khác
11. Thạc sỹ Nguyễn Trọng Nhân, sở Tài nguyên Môi trường TP Hồ Chí Minh, Báo Người lao động, 13/09/2007.Tài liệu Tiếng Anh Khác
1. David W. Richardson, Community – based solid waste management systems in Hanoi, Viet nam, A research paper submitted to the Falcuty of Forestry, University of Toronto, Ontario, Canada, ngày 10/1/2003 Khác
2. Nippon Koei Co., Ltd., Engineering Consulting Firms Association, Japan, Development of Recycling Network and establishment of recycling – based society : Cases of Hanoi and Jakarta study, Study report, tháng 12/2003 Khác
3. A.P. Gomes, M.A. Matos, I.C. Carvalho, Separate collection of the biogegradable fraction of Management Solid Waste : an economic assessment, ngày 13/8/2007 Khác
4. Ostrom, năm 1990, Governing the Commons, The Evolution of Institutions for Collective Action, Cambridge University Press, USA Khác
5. Ostrom, năm 1992, Crafting Institutions for Self-governing irrigation Systems, ICS Press, San Francisco Khác
6. Sen, năm 1973, Behaviour and the Concept of Preference. Economic XL (159), 241-259 Khác
8. ANU – the Australian National University, Guideline for Minimising Waste at the Australian National University, 2007 (tờ rơi) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2  Tỷ lệ chất thải theo phân loại ở Việt Nam  (nguồn: TS. Danh Sơn) - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Hình 2 Tỷ lệ chất thải theo phân loại ở Việt Nam (nguồn: TS. Danh Sơn) (Trang 16)
Hình 3  Chu trình khâu chế tạo - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Hình 3 Chu trình khâu chế tạo (Trang 19)
Hình 5 Các mục tiêu của hệ thống quản lý nguyên liệu - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Hình 5 Các mục tiêu của hệ thống quản lý nguyên liệu (Trang 20)
Hình 6 cho thấy hệ thống quản lý chất thải rắn tổng hợp bao gồm chu trình đầu  vào - chất thải, năng lượng, nguyên liệu, nước, qua các quy trình từ thủ công đến  sử  dụng  công  nghệ  hiện  đại,  từ  thu  gom,  phân  loại,  tái  chế…  đến  xử  lý  nhiệt, - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Hình 6 cho thấy hệ thống quản lý chất thải rắn tổng hợp bao gồm chu trình đầu vào - chất thải, năng lượng, nguyên liệu, nước, qua các quy trình từ thủ công đến sử dụng công nghệ hiện đại, từ thu gom, phân loại, tái chế… đến xử lý nhiệt, (Trang 21)
Bảng 1 Ưu nhược điểm của tái sử dụng - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Bảng 1 Ưu nhược điểm của tái sử dụng (Trang 23)
Bảng 3  Tại sao chúng ta nên tái chế? - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Bảng 3 Tại sao chúng ta nên tái chế? (Trang 24)
Hình 7  Hàng hoá công cộng và hàng hoá tư nhân  (nguồn: David W. Richardson) - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Hình 7 Hàng hoá công cộng và hàng hoá tư nhân (nguồn: David W. Richardson) (Trang 27)
Hình 8  Ma trận lý thuyết trò chơi giữa hai hộ gia đình trong khu phố  (nguồn: David W - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Hình 8 Ma trận lý thuyết trò chơi giữa hai hộ gia đình trong khu phố (nguồn: David W (Trang 28)
Bảng 4  Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 1986-2008  (Nguồn: website Tổng cục thống kê và World bank) - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Bảng 4 Tỷ lệ tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 1986-2008 (Nguồn: website Tổng cục thống kê và World bank) (Trang 36)
Bảng 6  Khối lượng chất thải rắn các đô thị miền Bắc từ năm 2000-2004 - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Bảng 6 Khối lượng chất thải rắn các đô thị miền Bắc từ năm 2000-2004 (Trang 38)
Bảng 7  Tổng hợp về khối lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh ở một số  địa phương trong các vùng kinh tế trọng điểm - năm 2003 - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Bảng 7 Tổng hợp về khối lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh ở một số địa phương trong các vùng kinh tế trọng điểm - năm 2003 (Trang 39)
Hình 10  Biểu đồ thành phần chất thải công nghiệp nguy hại tại Đồng Nai - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Hình 10 Biểu đồ thành phần chất thải công nghiệp nguy hại tại Đồng Nai (Trang 41)
Bảng 8  Tỷ lệ phát sinh chất thải từ các cơ sở y tế - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Bảng 8 Tỷ lệ phát sinh chất thải từ các cơ sở y tế (Trang 42)
Bảng 9  Tình hình xử lý và tiêu thụ CTR tại 1 số đô thị Việt Nam năm 2001 - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Bảng 9 Tình hình xử lý và tiêu thụ CTR tại 1 số đô thị Việt Nam năm 2001 (Trang 43)
Hình 11  Sơ đồ tổ chức bộ Tài nguyên Môi trường (2008) - Mô hình quản lý kinh doanh rác thải phù hợp cho việt nam
Hình 11 Sơ đồ tổ chức bộ Tài nguyên Môi trường (2008) (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w