Với những suy nghĩ trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài " Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất - Thực trạng và giải pháp tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Quang Trung" cho khóa lu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
- -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
CHI NHÁNH QUANG TRUNG
Sinh viên thực hiện : Lê Huyền Trang
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Hoàng Anh
Hà Nội – Tháng 06/2008
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ x
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
I RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1 RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 4
2 CÁC LOẠI RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
2.1 RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 7
2.2 RỦI RO THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN 8
2.3 RỦI RO LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT 9
2.4 RỦI RO HỐI ĐOÁI VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO HỐI ĐOÁI 9
2.5 CÁC LOẠI RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO KHÁC 10
3 SỰ CẦN THIẾT CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CÁC NHTM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 11 II RỦI RO LÃI SUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12
1 RỦI RO LÃI SUẤT 12
1.1 KHÁI NIỆM 12
1.2 PHÂN LOẠI 12
1.2.1 RỦI RO VỀ LÃI SUẤT TÁI TÀI TRỢ: 12
1.2.2 RỦI RO LÃI SUẤT TÁI ĐẦU TƯ: 13
1.2.3 RỦI RO GIẢM GIÁ TRỊ TÀI SẢN: 14
1.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA RỦI RO LÃI SUẤT 14
Trang 31.3.1 SỰ KHÔNG CÂN XỨNG GIỮA CÁC KỲ HẠN CỦA TÀI SẢN
NỢ VÀ
TÀI SẢN CÓ 14
1.3.2 SỰ THAY ĐỔI CỦA LÃI SUẤT THỊ TRƯỜNG NGOÀI DỰ KIẾN 16
1.4 KHE HỞ NHẠY CẢM LÃI SUẤT - THƯỚC ĐO KHẢ NĂNG XẢY RA RỦI RO LÃI SUẤT 18
2 QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT 19
2.1 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO 19
2.2 NHẬN BIẾT RỦI RO VÀ DỰ BÁO LÃI SUẤT 20
2.3 LƯỢNG HÓA RỦI RO LÃI SUẤT 21
2.3.1 MÔ HÌNH KỲ HẠN ĐẾN HẠN 23
2.4 CÁC NGHIỆP VỤ PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT 28
2.4.1 ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KỲ HẠN BẢNG CÂN ĐỐI TÀI SẢN 28
2.4.1.1 PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT BẰNG HỢP ĐỒNG KỲ HẠN 29
2.4.1.2 PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT BẰNG HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI 30
2.4.1.3 PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT BẰNG HỢP ĐỒNG HOÁN ĐỔI 31
2.4.1.4 PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT BẰNG HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN 32
III KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NHTM TẠI MỘT SỐ NƯỚC 35
1 KINH NGHIỆM CỦA MỸ 36
2 KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN 37
3 KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 38
4 BÀI HỌC TỪ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 40
Trang 4CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
- CHI NHÁNH QUANG TRUNG 43
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 43
1 VÀI NÉT VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 43
2 GIỚI THIỆU CHUNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 44
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 44
2.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC 44
2.3 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH QUANG TRUNG 46
2.3.1 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN 46
2.3.2 HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN 48
2.3.3 HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ 49
2.3.4 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 50
II RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG ĐT&PT - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 51
1 ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT TỚI TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA NHĐT&PT - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 51
2 ĐÁNH GIÁ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NHĐT&PT - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 54
2.1 LỰA CHỌN MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG RỦI RO LÃI SUẤT 55
2.2 SỬ DỤNG MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ LẠI ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NHĐT&PT - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 55
2.2.1 PHÂN LOẠI TÀI SẢN CÓ VÀ TÀI SẢN NỢ NHẠY CẢM VỚI LÃI SUẤT 55 2.2.2 XÁC ĐỊNH CHÊNH LỆCH (GAP) GIỮA TSC VÀ TSN NHẠY CẢM VỚI
Trang 5LÃI SUẤT 59
2.2.3 XÁC ĐỊNH BIẾN ĐỔI THU NHẬP RÒNG TỪ LÃI (RỦI RO LÃI SUẤT) KHI LÃI SUẤT THỊ TRƯỜNG BIẾN ĐỘNG 61
III THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NHĐT&PT CHI NHÁNH QUANG TRUNG 64
1 CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ LIÊN QUAN 64
2 QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT 66
2.1 CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT 66
2.2 CÔNG TÁC DỰ BÁO, NHẬN BIẾT VÀ ĐO LƯỜNG RỦI RO LÃI SUẤT 68
2.3 CÁC BIỆN PHÁP ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT 68
IV ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NHĐT&PT CHI NHÁNH QUANG TRUNG 69
1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 70
2 HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 70
2.1 HẠN CHẾ 70
2.2 NGUYÊN NHÂN 71
2.2.1 NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN 71
2.2.2 NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN 74
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 78
I ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA NHĐT&PT CHI NHÁNH QUANG TRUNG 78
1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO KINH DOANH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM 78
2 ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH CỦA NHĐT&PT
Trang 6VIỆT NAM 79
2.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHĐT&PT VIỆT NAM 79
2.2 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHĐT&PT VIỆT NAM 80
3 ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KINH DOANH CÙA NHĐT&PT QUANG TRUNG 81
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHĐT&PT QUANG TRUNG 81
3.2 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHĐT&PT QUANG TRUNG 82
II GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NHĐT&PT - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 82
1 NHÓM GIẢI PHÁP TỔ CHỨC QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT 84
1.1 HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT 84
1.2 THIẾT LẬP MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ RỦI RO 86
2 NHÓM GIẢI PHÁP HOÀN THÀNH ĐIỀU KIỆN ĐỂ LƯỢNG HÓA RỦI RO LÃI SUẤT 87
2.1 ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH LƯỢNG, ĐÁNH GIÁ RỦI RO MỘT CÁCH PHÙ HỢP 87
Trang 72.2 CẢI TIẾN PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ NHẰM CUNG CẤP
NHỮNG THÔNG TIN
CẦN THIẾT, TẠO ĐIỀU KIỆN CHO VIỆC ĐO LƯỜNG, GIÁM SÁT, KIỂM SOÁT VÀ
BÁO CÁO TÌNH HÌNH RỦI RO LÃI SUẤT 87
2.3 THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP CẦN THIẾT NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ CỦA MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ LẠI 88
3 NHÓM GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT 89
3.1 VỀ VIỆC DUY TRÌ SỰ CÂN XỨNG VỀ KỲ HẠN GIỮA TSC VÀ TSN 89
3.2 ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT THẢ NỔI 89
3.3 VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC HỢP ĐỒNG PHÁI SINH 90
4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC 91
4.1 NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA BAN LÃNH ĐẠO NGÂN HÀNG 91
4.2 ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 92
4.3 HIỆN ĐẠI HOÁ CÔNG NGHỆ NGÂN HÀNG 94
4.4 TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT, KIỂM TOÁN NỘI BỘ 95
4.5 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN VÀ CÁC BÁO CÁO RỦI RO LÃI SUẤT 97
4.6 DUY TRÌ ĐỦ MỨC VỐN TỰ CÓ CẦN THIẾT THEO QUY ĐỊNH VỀ TỶ LỆ AN TOÀN VỐN TỐI THIỂU CỦA NHNN 98
III KIẾN NGHỊ ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NHĐT&PT - CHI NHÁNH QUANG TRUNG 99
1 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ 99
Trang 81.1 NHÀ NƯỚC CẦN XÂY DỰNG ĐỒNG BỘ KHUÔN KHỔ PHÁP
LÝ, ÁP DỤNG ĐẨY ĐỦ HƠN CÁC THIẾT CHẾ VÀ CHUẨN MỰC
QUỐC TẾ VỀ AN TOÀN TRONG KINH DOANH
TIỀN TỆ NGÂN HÀNG 99
1.2 HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH,
TIỀN TỆ THEO CHIỀU SÂU 99
1.3 NHÀ NƯỚC NÊN CÓ CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH VÀ HỖ
TRỢ CÁC NHTM TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG
NGHỆ VÀ HẠ TẦNG THANH TOÁN LIÊN NGÂN HÀNG 100
2 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 100
2.1 BAN HÀNH QUY CHẾ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC NHTM 100
2.2 NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CẦN QUAN TÂM THỰC HIỆN TỐT
VIỆC DỰ BÁO NHỮNG BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT THỊ TRƯỜNG,
CUNG CẤP THÔNG TIN CHO CÁC NHTM TRONG VIỆC ĐO
LƯỜNG RỦI RO LÃI SUẤT 101
2.3 XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CÁC QUY CHẾ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN THỰC HIỆN
NGHIỆP VỤ PHÁI SINH TẠI CÁC NHTM 101
2.4 HOÀN THIỆN QUY CHẾ THANH TRA GIÁM SÁT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG THANH TRA NHNN 102
3 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM 102
KẾT LUẬN 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 9DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
NHĐT&PT Ngân hàng Đầu tƣ và phát triển
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tác động của rủi ro lãi suất tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng 16 Bảng 2: Tình hình cho vay qua các năm 48 Bảng 3: Kêt quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh 2005 - 2007 50 Bảng 4: Chi nhánh phí trả lãi huy động vốn của NHĐT&PT
Chi nhánh Quang Trung 52 Bảng 5: Thu nhập lãi từ hoạt động sử dụng vốn tại NHĐT&PT
Chi nhánh Quang Trung 53 Bảng 6: Chênh lệch thu nhập lãi & chi phí lãi của NHĐT&PT Quang Trung 53 Bảng 7: Bảng cân đối tài sản của NHĐT&PT - Chi nhánh Quang Trung 55 Bảng 8: Chênh lệch TSC và TSN nhạy cảm với lãi suất tại NHĐT&PT
Chi nhánh Quang Trung 59 Bảng 9: Chênh lệch TSC và TSN nhạy cảm với lãi suất tại NHĐT&PT Quang
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Đồ thị thu nhập của hợp đồng quyền chọn 34 Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động tại chi nhánh NHĐT&PT
Quang Trung giai đoạn 2005 - 2007 47 Biểu đồ 3: Tốc độ tăng trưởng thu dịch vụ ròng Chi nhánh Quang Trung
giai đoạn 2005 - 2007 49
Sơ đồ 1: Khái quát bộ máy tổ chức của Chi nhánh Quang Trung 45
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM) trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn rủi ro, gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh và
uy tín của chính ngân hàng và có tính lây chuyền, ảnh hưởng rất mạnh đến toàn bộ kinh tế, chính trị, đời sống của một quốc gia Vì vậy, để hoạt động ngân hàng phát triển vững chắc, an toàn và hiệu quả, cần phải kiểm soát và hạn chế được rủi ro thông qua công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Trong xu thế hội nhập tài chính khu vực và thế giới, đồng thời trong bối cảnh Việt nam đã gia nhập WTO, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt nam phải đối mặt với nguy cơ cạnh tranh ngày càng khốc liệt do sự xâm nhập của các TCTD nước ngoài Điều đó buộc các NHTM Việt nam nếu muốn tồn tại phải thiết lập được cơ chế quản lý rủi ro kinh doanh hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế vì đây là điều kiện quan trọng, quyết định sự thành công trong cạnh tranh của các NHTM Trên thực tế, quản lý rủi ro đã giành được sự quan tâm chú ý của các NHTM Việt nam, tuy nhiên chưa toàn diện Hầu như các NHTM chỉ chú trọng tới quản lý rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản mà chưa đi sâu nghiên cứu biện pháp quản lý các loại rủi ro đặc thù khác của NHTM như: rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái
Trong xu thế tự do hóa tài chính hiện nay, việc điều hành chính sách lãi suất của NHNN đã có nhiều thay đổi: từ việc quy định khung lãi suất, trần lãi suất, áp dụng lãi suất cơ bản, rồi áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận và gần đây nhất ngày 17/5/2008, NHNN đã quyết định áp dụng cơ chế lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các
tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Xu thế này tất yếu dẫn tới những biến động thường xuyên của lãi suất do những yếu tố tác động đến cung cầu vốn trong nền kinh tế Như vậy các NHTM đang đứng trước nguy cơ rủi ro lãi suất nhiều hơn đòi hỏi cần có sự quan tâm thích đáng của các nhà quản lý điều hành ngân hàng nhằm đảm bảo duy trì sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM cũng như sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia Xuất phát từ thực tế đó, việc đi sâu
Trang 13nghiên cứu về rủi ro lãi suất nhằm tìm kiếm các giải pháp quản lý phù hợp là rất cần thiết và quan trọng với mỗi ngân hàng
Với những suy nghĩ trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài " Hoạt động quản trị
rủi ro lãi suất - Thực trạng và giải pháp tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Quang Trung" cho khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn thể hiện
một số quan điểm về vấn đề này đối với những người quan tâm
Mục đích nghiên cứu đề tài
Khóa luận nghiên cứu lý luận cơ bản về rủi ro lãi suất và hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Trên cơ
sở thực trạng hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam - Chi nhánh Quang Trung, khóa luận phân tích, đánh giá những kết quả, hạn chế của công tác phòng ngừa rủi ro, tìm ra nguyên nhân làm hạn chế công tác phòng ngừa rủi ro lãi suất; từ đó nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Quang Trung
Đối tượng và pham vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển - Chi nhánh Quang Trung
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng Đầu tư và phát triển - Chi nhánh Quang Trung, thời gian từ năm 2005 đến năm 2007
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu, khóa luận đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp thống kê, phương pháp tư duy logic, phân tích kinh tế, tổng hợp, so sánh số liệu, khái quát hoá vấn đề để đạt mục tiêu của khóa luận
Trang 14Kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương I Tổng quan về hoạt động quản trị rủi ro lãi suất của các Ngân hàng
thương mại Chương II Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt nam - Chi nhánh Quang Trung Chương III Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam - Chi nhánh Quang Trung
Trang 15CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Rủi ro và quản trị rủi ro
Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong các hoạt động kinh tế, con người luôn phải đối mặt với các rủi ro Rủi ro là điều không thể tránh khỏi và con người chỉ còn cách chấp nhận rủi ro Có khá nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro và các quan niệm này không hoàn toàn thống nhất với nhau
Một trong những quan điểm đầu tiên được ra bởi Allan H.Willett1 Ông cho
rằng “rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất” và quan điểm này được nhiều các
học giả như Hardy, Blanchard Crobough và Redding, Kulp, Anghell2 ủng hộ
Trong khi đó, một số học giả như Jonh Haynes3, Irving Pfeffer4 lại cho rằng
“rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất” Quan điểm này sau đó cũng được sử dụng
trong khá nhiều tài liệu về rủi ro5
Khác với các học giả trên, trong “Risk Management in banking‖, Joel Bessis6lại cho rằng “Rủi ro là những điều không chắc chắn dẫn đến sự biến đổi bất lợi về
J Crobough and Amos E Redding, Casualty Insurance (New York: Prentice-Hall, Inc.); C A Kulp,
Casualty Insurance (New York: The Ronald Press Company); Frank Joseph Angell, Insurance, Principles and Practices (New York: The Ronald Press Company)
Joel Besis, (2001), “Risk management in banking‖, John Wiley & Sons Ltd, Baffins Lane, Chichester, West
Sussex, PO19 1UD, England
Trang 16lợi nhuận hay dẫn đến thua lỗ” hay như Peter S.Rose7 quan niệm “rủi ro là mức độ
không chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện” Theo đó, không phải cứ rủi ro là
thua lỗ là tổn thất mà chỉ phát sinh khi có sự không chắc chắn về những điều xảy ra,
và khi xác suất là 0 hoặc là 1 thì không có rủi ro
Đặc biệt, Frank H.Knight8
lại có một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi
coi “rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được” Trong cuốn từ điển Kinh
tế học hiện đại9 do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành, rủi ro cũng được
định nghĩa khá giống với quan điểm trên "“Rủi ro là hoàn cảnh trong đó có một sự
kiện xảy ra với một số xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện
đã có một phân phối xác suất”
Ở Việt nam, PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân trong cuốn Quản trị rủi ro và khủng hoảng10 cho rằng “rủi ro là những tác hại bất thường xảy ra mà các hệ thống
không thể lường trước nhưng phải chấp nhận để xử lý”
Phân tích các định nghĩa cho thấy, tuy có sự khác biệt nhưng các định nghĩa này đều đề cập tới hai thuộc tính cơ bản của rủi ro, đó là:
Kết quả không thể xác định chắc chắn: một khi tồn tại rủi ro trong một sự kiện hay hành động, sẽ phải có ít nhất hai kết quả có khả năng xảy ra Nếu một sự kiện hay hành động mà kết quả của nó được biết chắc chắn thì sẽ không thể có rủi
ro gắn với sự kiện hay hành động đó Chẳng hạn việc đầu tư vào các tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị sẽ phải đối mặt với những tổn thất do hao mòn hữu hình và vô hình gây ra Kết quả này người đầu tư hoàn toàn biết trước nên việc phải gánh chịu những tổn thất nói trên không được coi là rủi ro Như vậy, rủi ro chỉ phát sinh khi có sự không chắc chắn xảy ra, theo đó nếu xác suất là 0 hoặc 1 thì sẽ không
Trang 17 Kết quả không mong muốn: trong các kết quả có thể xảy ra, ít nhất có một kết quả là không mong muốn Kết quả không mong muốn thường được hiểu là một tổn thất hay thiệt hại về của cải hoặc con người
Trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng việc nắm bắt và đo lường rủi ro hay nói cách khác là hoạt động quản trị rủi ro đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
Vậy hoạt động quản trị rủi ro là gì?
Cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về quản trị rủi ro Có nhiều trường phái nghiên cứu về rủi ro và quản trị rủi ro đưa ra những khái niệm về quản trị rủi ro rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn trái ngược nhau
Có những tác giả cho rằng quản trị rủi ro đồng nghĩa với mua bảo hiểm Hay quản trị rủi ro chỉ quản trị những rủi ro thuần tuý, những rủi ro có thể phân tán,
những “ rủi ro có thể mua bảo hiểm”
Ngược lại, trường phái mới cho rằng cần quản trị tất cả mọi loại rủi ro của tổ chức một cách toàn diện Tán đồng quan điểm “quản trị rủi ro toàn diện” của H.Fleix Klorman11, PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân cho rằng: ”Quản trị rủi ro là quá
trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu tổn thất, mất mát và những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro” 12
Trong kinh doanh ngân hàng, việc đương đầu với rủi ro là điều không thể tránh khỏi được Việc thừa nhận một tỷ lệ rủi ro tự nhiên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là yêu cầu khách quan hợp lý Vấn đề là làm thế nào để hạn chế rủi ro này ở một tỷ lệ thấp nhất có thể chấp nhận được Hiện nay, một chương trình quản tri rủi ro hoàn thiện bao gồm 4 yếu tố: xác định hạn mức hạn mức rủi ro (đưa
ra mức rủi ro chấp nhận được), đánh giá rủi ro, theo dõi tổng thể rủi ro và quá trình quản trị rủi ro Quy trình đánh giá rủi ro cũng bao gồm 4 yếu tố: nhận biết rủi ro, định lượng rủi ro, theo dõi rủi ro và kiểm soát rủi ro Việc thực hiện quy trình quản trị rủi ro một cách hợp lý và hiệu quả sẽ giúp các doanh nghiệp có thể giữ rủi ro ở
Trang 18mức có thể chấp nhận được trong nỗ lực để có được lợi nhuận, trên cơ sở sẵn sàng chịu đựng rủi ro và sức mạnh tài chính của ngân hàng
2 Các loại rủi ro và quản trị rủi ro trong Ngân hàng thương mại
Các NHTM không chỉ làm cầu nối trung gian tài chính thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng mà còn là trung tâm biến đổi và tiếp nhận rủi ro trong nền kinh tế Chính vì vậy, các NHTM luôn phải đối đầu với mọi loại rủi
ro trong hầu hết các hoạt động kinh doanh của mình như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro hoạt động và nhiều loại rủi ro khác nữa Mỗi loại rủi ro đều có những đặc điểm riêng, quản trị mỗi loại rủi ro đó cũng cần phải áp dụng những phương pháp riêng Vì vậy, muốn nâng cao năng lực quản trị rủi ro đó của các NHTM Việt nam cần phải nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc bản chất của mỗi loại rủi ro, những biện pháp chủ yếu cần áp dụng để phòng ngừa, hạn chế rủi ro và giảm thấp những tổn thất và thiệt hại do rủi ro gây ra
2.1 Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
A.Saunders và H.Lange13 đã định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm
tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự định mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện được đầy đủ cả về số lượng và thời hạn” Như vậy, rủi ro tín dụng là những thiệt hai
kinh tế mà ngân hàng thương mại phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan
Rủi ro tín dụng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau Trước tiên, rủi ro trong hoạt động tín dụng phát sinh từ phía hai bên tham gia tín dụng là ngân hàng cho vay và người đi vay như: đánh giá sai năng lực tài chính và sản xuất kinh doanh của người cho vay; không chú trọng đến chất lượng và an toàn vốn vay, trình độ của đội ngũ cán bộ tín dụng còn non kém; các khách hàng sử dụng vốn vay không hiệu quả , sai mục đích, không có thiện chí trả nợ; tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Ngoài ra, rủi ro còn phát sinh do sự biến động của môi
13
H Lange & Marcia Millon Cornett A Saunders , (2005), “A Risk Management Approach”, McGraw Hill
Publishers
Trang 19trường kinh tế trong và ngoài nước; quá trình hội nhập, tự do hóa tài chính; môi trường pháp lý chưa hoàn thiện; hệ thống thông tin và các tiêu chuẩn tín dụng còn nhiều bất cập v.v
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan Vì vậy, các NHTM phải có chính sách quản trị rủi ro hợp lý và hiệu quả Để đạt được điều này, các nhà quản trị ngân hàng cần vận dụng một cách hiệu quả các mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng như: mô hình chất lượng, mô hình Moody’s và Standard & Poor’s, mô hình điểm số Z và mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng Các mô hình này như là các công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản trị ngân hàng có những quyết định đúng đắn trước khi cấp tín dụng Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng phải có các biện pháp hỗ trợ như xây dựng cho mình các chính sách tín dụng phù hợp; xây dựng các mối quan hệ dài lâu gắn bó với khách hàng; sử dụng các công cụ bảo đảm tiền vay; mua bảo hiểm cho các khoản tín dụng; thiết lập quỹ dự phòng đối với các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi; nâng cao chất lượng công tác kiểm toán nội bộ đối với các hoạt động tín dụng; tham gia trung tâm thông tin tín dụng; dự đoán yếu tố môi trường kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
2.2 Rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không có được đủ vốn khả dụng (cung thanh khoản) với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần để đáp ứng cầu thanh khoản Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản là sự không cân xứng
về kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ của NHTM, sự nhạy cảm của tài sản chính với những thay đổi của lãi suất và ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo
Quản trị rủi ro thanh khoản bao gồm 4 nội dung chính: tổ chức quản trị rủi ro thanh khoản, nhận biết rủi ro thanh khoản, đo lường rủi ro thanh khoản, đề ra biện pháp quản trị rủi ro thanh khoản.Việc phòng ngừa rủi ro thanh khoản cớ thể thông qua 3 biện pháp cụ thể là quản trị tài sản Có, quản trị tài sản Nợ, quản trị thanh khoản kết hợp Quản trị tài sản Nợ và việc đa dạng hóa nguồn vốn, tăng cường các nguồn vốn dài hạn Trong khi đó, đối với tài sản Có, các nhà quản trị ngân hàng cần
Trang 20xác định nhu cầu thanh khoản và có phương án quản lý quý đảm bảo thanh toán Ngoài ra, các NHTM cần phải chú trọng và đảm bảo các quy tắc của BIS14 nhằm xây dựng cho mình một chương trình quản trị rủi ro thanh khoản hiệu quả và phù hợp với thông lệ, tiêu chuẩn quốc tế
2.3 Rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất
Lãi suất là giá cả của phần lớn các sản phẩm của ngân hàng nên nó có thể tác động trực tiếp đến tài sản Có và tài sản Nợ của ngân hàng Mọi sự thay đổi của lãi suất đều có thể tác động đến việc tăng hay giảm chi phí và thu nhập của ngân hàng
Vì vậy, rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trường có sự biến động Các nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất là sự biến động lãi suất thị trường trái với dự kiến và sự không cân xứng về kỳ hạn của tài sản Nợ và tài sản Có
Với sự biến động lớn của lãi suất trong những năm gần đây thì việc quản trị rủi ro lãi suất ngày càng trở nên quan trọng Để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro do biến động của lãi suất, các ngân hàng cần phải tăng cường áp dụng các phương pháp hiện đại để đo lường, đánh giá ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đến hoạt động kinh doanh Việc đo lường mức độ rủi ro lãi suất có thể thông qua các mô hình kỳ hạn, mô hình định giá lại và mô hình thời lượng Ngoài ra, ngân hàng cần phải có các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất như sử dụng hợp đồng phái sinh như hợp đồng lãi suất kỳ hạn, hợp đồng lãi suất tương lai, hợp đồng quyền chọn lãi suất, hợp đồng hoán đổi lãi suất; điều chỉnh cơ cấu kỳ hạn Bảng cân đối tài sản, áp dụng chính sách lãi suất thả nổi
2.4 Rủi ro hối đoái và quản trị rủi ro hối đoái
Trên thị trường ngoại hối nói riêng và thị trường tiền tệ nói chung, các NHTM luôn đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nhà môi giới, nhà chấp nhận giá, nhà đầu cơ và nhà bảo hiểm rủi ro ngoại hối Do đó, trong cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ của nhiều ngân hàng thì ngoại tệ chiếm một tỷ trọng đáng kể Khi tỷ giá hối đoái trên thị trường thay đổi thì giá trị tài sản Có và tài sản Nợ cũng sẽ thay đổi,
14
Các nguyên tắc về tính thanh khoản của ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS)
Trang 21ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ rủi ro hối đoái Như vậy, rủi ro hối đoái phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối nắm giữ,
và vì thế làm cho Ngân hàng có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động
Có thể thấy, một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro ngoại hối đó là sự không cân xứng giữa tài sản Có và tài sản Nợ đối với từng loại ngoại tệ Sự không cân xứng được biểu thị dưới hai trạng thái gọi là Trạng thái đoản (Short Position) hay trạng thái dư bán ngoại tệ và Trạng thái trường (Long Position) hay trạng thái
dư mua ngoại tệ ở trạng thái đoản (trường hợp một ngoại tệ có nguồn ra lớn hơn nguồn vào) nếu ngoại tệ tăng giá ngân hàng sẽ bị lỗ và ở trạng thái trường (trường hợp một ngoại tệ có nguồn vào lớn hơn nguồn ra) thì ngược lại tức là nếu ngoại tệ tăng giá thì ngân hàng sẽ có lãi Tuy nhiên, khi sự không cân xứng này được khắc phục thì rủi ro ngoại hối có thể được phòng ngừa hay không? Cần lưu ý rằng, trạng thái cân xứng giữa tài sản Có và tài sản Nợ đối với từng loại ngoại tệ cũng chỉ loại trừ được rủi ro tỷ giá, còn rủi ro lãi suất ngoại tệ vẫn phát sinh nếu các kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ không cân xứng nhau
Để loại trừ và giảm bớt rủi ro hối đoái, các ngân hàng phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro hối đoái bao gồm: đánh giá mức độ của rủi ro hối đoái và đưa ra các biện pháp quản lý rủi ro hối đoái trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Để
đo lường rủi ro hối đoái, ta cần xác định trạng thái ròng nội bảng và ngoại bảng đối với từng loại ngoại tệ để lượng hóa được quy mô tiềm ẩn rủi ro ngoại hối đồng thời cần nhận biết rõ các nhân tố gây biến động đén tỷ giá và mức độ gây biến động của các nhân tố này Thông qua việc đánh giá mức độ rủi ro hối đoái, các nhà quản trị ngân hàng đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro hối đoái như: sử dụng các hợp đồng kỳ hạn tiền tệ, các hợp đồng tương lai tiền tệ, hợp đồng quyền chọn tiền tệ, hợp đồng hoán đổi tiền tệ, quản lý bằng công cụ hạn mức, tạo lập và sử dụng quỹ dự phòng, đa dạng hóa các loạt ngoại tệ trong kinh doanh
2.5 Các loại rủi ro và quản trị rủi ro khác
Ngoài các loại rủi ro nói trên, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng còn tồn tại rất nhiều những rủi ro khác bao gồm:
Trang 22 Rủi ro hoạt động: bao gồm các rủi ro có thể phát sinh do cách thức điều hành, quản lý của một ngân hàng như tham ô, năng lực quản lý kém, không có phương án phòng, chống hạn chế thiệt hại khi rủi ro xảy ra
Rủi ro công nghệ: là loại rủi ro phát sinh khi khoản đầu tư phát triển công nghệ không tạo ra khoản tiết kiệm chi phí dự kiến khi mở rộng quy mô hoạt động
Rủi ro thị trường: Là loại rủi ro tổn thất tài sản, xảy ra khi có sự thay đổi của các điều kiện thị trường hay những biến động của thị trường làm ảnh hưởng đến lãi suất, tỷ giá ngoại hối, giá chứng khoán mà ngân hàng đầu tư
Các loại rủi ro khác là rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín
Đối với những loại rủi ro này, biện pháp cơ bản để quản lý là phải tăng cường khả năng chống đỡ rủi ro của mỗi ngân hàng Khả năng chống đỡ rủi ro thể hiện năng lực chịu đựng rủi ro ở mức độ nhất định của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh Để duy trì và phát triển khả năng này, mỗi ngân hàng trước hết cần phải nâng cấp hệ thống thông tin khách hàng, hệ thống phòng ngừa rủi ro để hoạt động hiệu quả hơn; nâng cao các công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ; học tập các NHTM nước ngoài trong công tác quản trị rủi ro; tiến tới sử dụng hệ thóng quản trị ngân hàng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế
3 Sự cần thiết của hoạt động quản trị rủi ro trong các NHTM trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế
Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn rủi ro, gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh và uy tín của chính ngân hàng và có tính lây chuyền, ảnh hưởng rất mạnh đến toàn bộ đời sống, kinh tế, chính trị của một quốc gia Vì vậy, để hoạt động ngân hàng phát triển vững chắc, an toàn và hiệu quả, cần phải kiểm soát và hạn chế được rủi ro thông qua công tác quản lý rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Việc thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro cho phép nhận dạng các ngân hàng,
tổ chức tín dụng và các lĩnh vực có vấn đề hoặc có khả năng nảy sinh vấn đề để xử
lý kịp thời và đúng lúc các rủi ro phát sinh Bên cạnh đó quản trị rủi ro còn có vai trò:
Trang 23 Góp phần bình ổn hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng: các NHTM không chỉ cung cấp dịch vụ cho các khách hàng cá nhân hay các doanh nghiệp mà còn thực hiện nhiều giao dịch khác với các ngân hàng khác Điều đó tạo nên tính lan truyền trong hệ thống ngân hàng Vì vậy, khi một ngân hàng có hoạt động quản trị rủi ro tốt sẽ có một tác động tích cực tới sự bình ổn của toàn bộ hệ thống ngân hàng
Nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng: đây là hiệu quả rõ ràng và trực tiếp nhất mà hoạt động quản trị rủi ro mang lại Một khi có một mô hình quản trị hiệu quả thì sẽ duy trì rủi ro ở một tỷ lệ thấp nhất có thể góp phần giảm thiểu chi phí, tăng cao lợi nhuận, đẩy mạnh thương hiệu
Nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín của ngân hàng: quản trị rủi ro hiệu quả sẽ giúp cho ngân hàng giảm thiểu được chi phí, thiệt hại phát sinh thêm, nâng cao chất lượng dịch vụ tạo lợi thế cạnh tranh về giá và chất lượng sản phẩm Hơn thế nữa, để có một chiến lược quản trị rủi ro tốt, đòi hỏi ngân hàng phải có một chính sách tài chính minh bạch, đội ngũ cán bộ và nhà quản trị chuyên nghiệp Điều
đó góp phần nâng cao uy tín,tăng sự tin tưởng của khách hàng, mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng
II RỦI RO LÃI SUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Rủi ro lãi suất
1.1 Khái niệm
Lãi suất là giá cả của các khoản cho vay, tiền gửi của ngân hàng Như nhiều giá cả của các hàng hóa khác, lãi suất thường xuyên biến động và có thể tạo ra thu nhập hoặc gây tổn thất cho ngân hàng Như phần trên đã được đề cập tới, rủi ro lãi suất là rủi ro do sự biến động của lãi suất gây nên làm thay đổi tiền lãi và thu nhập
của ngân hàng Hay nói cách khác, rủi ro lãi suất có thể hiểu là "rủi ro đối với thu
nhập lãi thuần do những thay đổi bất lợi của lãi suất"
1.2 Phân loại
Rủi ro lãi suất có thể được phân loại thành:
1.2.1 Rủi ro về lãi suất tái tài trợ:
Trang 24Ta có thể phân tích về loại rủi ro này thông qua một ví dụ sau:
Giả sử, ngân hàng đang có nhu cầu cho vay một khoản tiền có lãi suất cố định 10% và kỳ hạn là 2 năm Ngân hàng tìm kiếm nguồn vay trên thị trường bằng một cách huy động một khoản tiền tương tự lãi suất 9% có kỳ hạn 1 năm Ta có thể biểu diễn bằng sơ đồ trường hợp trên như sau:
Sau năm thứ nhất, bằng cách vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn 2 năm, ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 10% - 9% = 1% Vào thời điểm này, ngân hàng phải đi vay một khoản khác để hoàn trả vốn đi vay có kỳ hạn
1 năm Cách tài trợ như trên được gọi là tái tài trợ: là tình trạng trong đó kì hạn của
tài sản (khoản cho vay) dài hơn kỳ hạn của nguồn tiền (khoản đi vay) Như vậy, nếu
lãi suất thị trường năm thứ 2 không đổi, ngân hàng có thể thu được mức lợi nhuận năm 2 bằng với năm 1 là 1% Tuy nhiên, trên thực tế lãi suất trị trường biến đổi liên tục cho nên ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về sự thay đổi lãi suất Giả sử, sang năm thứ hai, ngân hàng chỉ có thể huy động vốn với mức lãi suất hiện hành là 11% thì lợi nhuận mà ngân hàng thu được là 1 con số âm, tức là ngân hàng sẽ chịu thua
lỗ 10% - 11% = - 1%và lợi nhuận của cả hai năm sẽ bằng 0 Thậm chí, nếu lãi suất thị trường năm 2 lớn hơn 11% ngân hàng còn chịu lỗ cả 2 năm Kết quả là, trong mọi trường hợp nếu ngân hàng duy trì tài sản Có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản
Nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản Nợ Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo lớn hơn mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn
1.2.2 Rủi ro lãi suất tái đầu tư:
Cũng xét một ví dụ tương tự như trên nhưng kỳ hạn của vốn huy động là 2 năm, còn kỳ hạn của khoản cho vay là 1 năm Ta có sơ đồ sau:
Tài sản Có
Trang 25Tương tự như trường hợp trên, sau năm 1 ngân hàng thu được lợi nhuận là 1% Vì tài sản chỉ có kỳ hạn 1 năm, nên sau năm 1 ngân hàng có một khoản tiền nhàn rỗi, lúc này ngân hàng tiếp tục cho vay với lãi suất thì trường Cách đầu tư như
trên gọi là tái đầu tư: là tình trạng trong đó kỳ hạn của tài sản ngắn hơn kỳ hạn của
nguồn tiền Sang năm thứ 2, nếu lãi suất tái đầu tư của thị trường giảm xuống còn
8% thì chênh lệch lãi suất là 8% - 9% = 1%, tức là ngân hàng chịu lỗ Sau hai năm, lợi nhuận của ngân hàng bằng 0 Kết quả là, ngân hàng gặp phải rủi ro về lãi suất tái đầu tư trong trường hợp kỳ hạn của tài sản Có ngẵn hơn kỳ hạn của tài sản Nợ
1.2.3 Rủi ro giảm giá trị tài sản:
Như chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản Có hay tài sản Nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản Có
và tài sản Nợ giảm xuống Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị của tài sản Có và tài sản Nợ sẽ tăng lên Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản Có có kỳ hạn dài hơn tài sản Nợ, thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản Có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản Nợ, Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng
1.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất
Có hai nguyên nhân chính gây ra rủi ro lãi suất:
1.3.1 Sự không cân xứng giữa các kỳ hạn của tài sản Nợ và tài sản Có Đây là nguyên nhân chủ yếu tạo ra rủi ro lãi suất Việc không cân xứng giữa tài sản Có và tài sản Nợ đã tạo ra 3 loại rủi ro lãi suất phổ biến của các NHTM hiện nay Điều này đã được phân tích rõ qua các ví dụ ở phần trên
Vậy tại sao các ngân hàng lại không phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng cách làm cho kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ cân xứng nhau? Xét về lý thuyết, đây
Tài sản Có
Trang 26có thể là một phương pháp tối ưu trong việc loại bỏ rủi ro lãi suất Tuy nhiên, việc
để cho hai loại tài sản này cân xứng nhau lại đối lập với chức năng tích cực chuyển hóa tài sản của ngân hàng Nghĩa là, tại cùng một thời điểm, ngân hàng không thể vừa là người chuyển hóa tài sản lại vừa là người trực tiếp phòng ngừa rủi ro cho bảng cân đối tài sản của mình Việc làm cho các kỳ hạn cân xứng nhau, một mặt, giảm được rủi ro lãi suất; mặt khác, lại làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng, bởi lẽ nó làm giảm các cơ hội đầu tư vào những lĩnh vực có rủi ro song khả năng sinh lời lớn
Trang 271.3.2 Sự thay đổi của lãi suất thị trường ngoài dự kiến
Lãi suất thị trường thường xuyên thay đổi Điều này khiến các ngân hàng luôn nghiên cứu và dự báo lãi suất Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ngân hàng không thể dự báo được chính xác mức độ thay đổi này
Nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương thì khi lãi suất thị trường tăng, chênh lệch lãi suất tăng và ngược lại khi lãi suất thị trường giảm chênh lệch lãi suất giảm
Trong trường hợp ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm, khi lãi suất thị trường tăng, chênh lệch lãi suất giảm Còn khi lãi suất thị trường giảm thì chênh lệch lãi suất tăng
Hơn nữa, ngân hàng quy định hình thức lãi suất huy động vốn và hình thức lãi suất cho vay khác nhau: cho vay với lãi suất cố đinh, trong khi đó lại huy động vốn với lãi suất thả nổi Việc thay đổi của lãi suát thị trường sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới thu nhập của ngân hàng và làm cho NHTM chịu rủi ro lãi suất Ta có thể thấy được điều đó khi phân tích sự thay đổi của lãi suất cố định và lãi suất thả nổi ảnh hưởng thế nào tới các khoản cho vay và đi vay:
Bảng 1: Tác động của rủi ro lãi suất tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng
suất
Sự tác động của lãi suất trong hiện tại
Trang 28(Nguån: Joel Besis (2001), “Risk management in banking”, John Wiley&Sons Ltd,
154)
Trang 291.4 Khe hở nhạy cảm lãi suất - Thước đo khả năng xảy ra rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất được đánh giá thông qua sự không cân xứng về kỳ hạn của tài sản Có, tài sản Nợ và sự thay đổi của lãi suất thị trường Sự không cân xứng được
đo bằng khe hở nhạy cảm lãi suất:
Khe hở
Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất -
Giá trị nợ nhạy cảm lãi suất Các tài sản và khoản nợ nhạy cảm là những tài sẳn và các khoản vốn vay có thể được định giá lại khi lãi suất thay đổi Các loại tài sản nguồn vốn nhạy cảm là các khoản tiền gửi ngắn hạn, các khoản đi vay và cho vay trên thị trường liên ngân hàng, chứng khoán ngắn hạn của chính phủ, các khoản tiền cho vay ngắn hạn Các khoản ít nhạy cảm thuộc về tài sản và nguồn vốn trung và dài hạn
Khi giá trị tài sản nhạy cảm lớn hơn giá trị nợ nhạy cảm thì ngân hàng được xem là có khe hở nhạy cảm lãi suất dương hay nhạy cảm tài sản Ví dụ, một ngân hàng có tổng tài sản nhạy cảm lãi suất trị giá 500 triệu USD và tổng giá trị nợ nhạy cảm lãi suất là 400 triệu USD Như vậy, ngân hàng này có khe hở nhạy cảm lãi suất dương là 100 triệu USD Nếu lãi suất tăng, các yếu tố khác không đổi thì thu nhập lãi của ngân hàng sẽ tăng Ngược lại, nếu lãi suất giảm thì thu nhập lãi của ngân hàng sẽ giảm, Tức là, sự tăng của lãi suất tỷ lệ thuận với sự tăng thu nhập lãi của ngân hàng
Trong trường hợp ngược lại, nếu một ngân hàng nắm giữ lượng tài sản nhạy cảm lãi suất trị giá 150 triệu USD và nợ nhạy cảm lãi suất trị giá 200 triệu USD thì ngân hàng được xem là có trạng thái nhạy cảm nợ và khe hở nhạy cảm lãi suất là
âm 50 triệu USD Hay nói cách khác, khi giá trị tài sản nhạy cảm nhỏ hơn giá trị nợ nhạy cảm, ngân hàng được xem là có khe hở nhạy cảm âm hay nhạy cảm nợ Khi đó,
sự tăng của lãi suất tỷ lệ nghịch với sự tăng thu nhập lãi của ngân hàng
Hiện nay, quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất là một công cụ phổ biến phục vụ hoạt động quản lý rủi ro lãi suất Kỹ thuật này tập trung vào việc bảo vệ hoặc tối đa hóa tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng - tỷ lệ giữa thu từ lãi trừ chi phí trả lãi
và chia cho tổng tài sản hoặc tổng tài sản sinh lời Các ngân hàng lớn ngày nay sử dụng máy tính để xác định giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất và giá trị nợ nhạy cảm lãi
Trang 30suất trong những khoảng thời gian khác nhau và quản lý mức độ nhạy cảm lãi suất dựa trên quan điểm quản lý rủi ro và dựa trên sự nhạy cảm về rủi ro của những người quản lý ngân hàng Tuy nhiên, kỹ thuật này còn nhiều những hạn chế không nhỏ Sự lựa chọn các khoảng thời gian để phân tích hoàn toàn tùy theo từng ngân hàng Đồng thời, lãi suất trong hoạt động ngân hàng và lãi suất thị trường thay đổi với những tốc độ khác nhau Hơn nữa, ta cũng thấy rằng quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất không nhằm mục đích bảo vệ giá trị tài sản và đặc biệt không bảo vệ được giá trị ròng của ngân hàng
2 Quản trị rủi ro lãi suất
Trong những năm gần đây, các NHTM và các cơ quan quản lý tại nhiều quốc gia trên thế giới đã giành nhiều thời gian và công sức để phát triển hệ thống giám sát và quản lý rủi ro lãi suất nhằm tách biệt danh mục tài sản Có, tài sản Nợ và lợi nhuận của ngân hàng khỏi ảnh hưởng tiêu cực của những biến động lãi suất Dù lãi suất thay đổi, các ngân hàng luôn mong muốn đạt được thu nhập dự kiến ở mức tương đối ổn định và đây chính là mục tiêu của ngân hàng trong công tác quản lý rủi
ro lãi suất
Quản trị rủi ro lãi suất bao gồm các yếu tố sau:
2.1 Tổ chức hoạt động quản lý rủi ro
Một ngân hàng cần triển khai các chương trình quản lý rủi ro mà các ngân hàng có nguy cơ phải đối mặt Có thể nói, đây là khâu chuẩn bị về kiến thức, đội ngũ, cơ sở hạ tầng, thông tin cho một quy trình quản trị rủi ro lãi suất
Công việc đầu tiên là các ngân hàng cần phải quyết định và xác định rõ ràng mức độ rủi ro lãi suất mà ngân hàng đó chấp nhận được Vấn đề này phải là một trong các mục tiêu chiến lược tổng thể của ngân hàng Phải tùy theo mô hình tổ chức và lĩnh vực hoạt động của ngân hàng để quyết định mô hình quản trị rủi ro thích hợp, từ đó xác định trách nhiệm tổng thể của các cấp trong quản lý rủi ro Nơi tạo ra lợi nhuận cũng là nơi tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất Vì thế bộ phận kiểm soát rủi
ro tổn thất phải song song với bộ phận tạo ra lợi nhuận
Trên cơ sở mức độ rủi ro mà một ngân hàng có thể chấp nhận, ngân hàng đó cần xác định rõ những sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng đó cung cấp Kết hợp
Trang 31cùng các vấn đề tác nghiệp như liệu ngân hàng có đủ các nguồn lực cần thiết và năng lực về mặt kỹ thuật để triển khai hiệu quả sản phẩm đó, ngân hàng cũng cần phải có các cơ chế để đảm bảo rằng bất cứ một sản phẩm mới nào cũng phải trải qua một quy trình đánh giá chính thức để xem liệu sản phẩm đó có phù hợp với chiến lược và mức độ rủi ro mà ngân hàng đó chấp nhận hay không
Bên cạnh các yếu tố trên, một ngân hàng cần đảm bảo rằng đội ngũ nhân viên của mình cần có đủ kiến thức để quản lý các sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cũng như các rủi ro gắn liền với chúng Hơn thế nữa, ngân hàng cũng cần có đầy đủ các hệ thống như hệ thống công nghệ thông tin, phương thức tổ chức hành chính để xử lý các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng đó cung cấp và để
có thể đo lường và kiểm soát các rủi ro liên quan
2.2 Nhận biết rủi ro và dự báo lãi suất
Lãi suất thị trường là một yếu tố luôn luôn biến động Trong quản trị rủi ro lãi suất, việc nhận biết và dự báo lãi suất là một yếu tố không thể thiếu Việc dự báo này giúp định hướng cho các nhà quản trị biết cần phải sử dụng những biện pháp phòng ngừa nào và sử dụng như thế nào cho hợp lý và đạt được hiệu quả cao
Để có thể dự đoán được sự thay đổi của lãi suất thị trường, ta cần xác định các nhân tố gây nên sự biến động đó Trên thực tế, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất thị trường mà một nhà quản trị dù có tài ba đến mấy cũng không thể lường trước được Tuy nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta cần phải xem xét một số nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới lãi suất để có thể dự đoán được phần nào sự biến động của nó Các nhân tố chủ yếu đó bao gồm:
Cung - cầu tín dụng: Giá cả thị trường của bất cứ loại hàng hóa nào đều bị chi phối bởi quy luật cung cầu Giá cả của các khoản tín dụng hay lãi suất được xác định tại vị trí cân bằng của cung và cầu tín dụng Lãi suất tác động tới cung cầu quỹ cho vay, tác động đến cung và tiết chế cầu Khi lãi suất tăng sẽ khiến cầu quỹ cho vay tăng và cung của quỹ cho vay giảm; ngược lại lãi suất giảm làm tăng cung và giảm cầu quỹ cho vay Mặt khác, cung và cầu quỹ cho vay cũng tác động trở lại đối với lãi suất theo hướng cung tăng làm cho lãi suất giảm và ngược lại, khi cầu tăng sẽ kéo theo sự tăng lên của lãi suất
Trang 32 Cung cầu tiền tệ: lãi suất được hình thành trên cơ sở quan hệ giữa cung
và cầu tiền tệ Cung tiền được tạo nên từ việc NHTW cung ứng tiền vào lưu thông bằng cách cho các TCTD, kho bạc Nhà nước, mua vàng, ngoại tệ trên thị trường ngoại hối hoặc mua chứng khoán trong nghiệp vụ thị trường mở Khi cung tiền lớn hơn cầu tiền, lãi suất tăng và ngược lại khi cầu tiền lớn hơn cung tiền lãi suất giảm
Lạm phát: Tỷ lệ lạm phát và lãi suất có mối quan hệ chặt chẽ và tỷ lệ thuận với nhau theo chiều hướng lãi suất tăng cao trong các thời kỳ tỷ lệ lạm phát tăng cao Khi lạm phát tăng cao, người ta có xu hướng găm giữ tiền lại hoặc chuyển sang thị trường tài sản hay các thị trường nước ngoài không bị lạm phát cao làm cho cung quỹ cho vay giảm và làm lãi suất tăng Mặt khác, lạm phát tăng còn kích thích cho cầu tín dụng tăng vì có thể vay tiền để tiêu dùng hay bù đắp khoản lỗ do lạm phát khiến cho lãi suất cũng tăng Kết hợp sự tăng cầu và giảm cung làm cho lãi suất tăng cao hơn hay nói tóm lại lạm phát tăng làm tăng lãi suất thị trường
Thu chi ngân sách Nhà nước: Khi ngân sách Nhà nước bội chi, Chính phủ sẽ tìm nguồn chi tiêu thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ làm cầu quỹ cho vay tăng làm lãi suất tăng chưa kể nếu ngân hàng Trung ương phát hành thêm tiền sẽ làm tăng lạm phát và khiến cho lãi suất cũng tăng lên theo Ngược lại bội thu ngân sách sẽ khiến cho cung quỹ cho vay tăng và làm giảm lãi suất Hay nói cách khác , lãi suất cũng chịu ảnh hưởng của thu chi ngân sách Nhà nước
2.3 Lượng hóa rủi ro lãi suất
Lãi suất thị trường là do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định, là một yếu tố thường xuyên biến đổi và khó dự đoán, điều này khiến ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ tiềm ẩn rủi ro lãi suất Để phòng ngừa rủi ro lãi suất đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường công tác quản lý, đặc biệt là áp dụng phương pháp hiện đại để lượng hoá rủi ro lãi suất có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh không và ảnh hưởng đến mức độ nào? Đây là một khâu quan trọng giúp các nhà quản trị ngân hàng xác định được quy mô của rủi ro từ đó có thể đưa ra được những biện pháp phòng ngừa và hạn chế tối ưu nhất đối với những rủi ro mà ngân hàng mình phải đối mặt Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình lượng hoá rủi ro lãi suất đang được các ngân hàng hiện đại áp dụng, đó là:
Trang 33 Mô hình kỳ hạn đến hạn (the maturity model)
Mô hình định giá lại (the repricing model)
Mô hình thời lƣợng (the duration model)
Trang 342.3.1 Mô hình kỳ hạn đến hạn
Đây là một phương pháp khá đơn giản, trực quan để lượng hóa rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Mô hình đo lường rủi ro thông qua việc xác định mức lãi suất mà tại đó chênh lệch giá trị kỳ hạn đến hạn bình quân của tài sản Có và tài sản Nợ bằng 0 Để áp dụng phương pháp này, trước hết ta cần tính kỳ hạn bình quân của một danh mục tài sản
Gọi MA là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản Có, Ml là kỳ hạn đến hạn của danh mục tài sản Nợ, ta có:
W 1
1) Một sự tăng (giảm) lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự giảm (tăng) giá trị của danh mục tài sản
2) Khi lãi suất thị trường tăng (giảm), thì danh mục tài sản có kỳ hạn càng dài,
sẽ giảm (tăng) giá càng lớn
Đối với các NHTM hiện nay, cơ cấu kỳ hạn của bảng cân đối tài sản thường
ở trạng thái MA>ML do các ngân hàng có xu hướng đầu tư vào các TSC kỳ hạn dài
mà vốn huy động thì ngắn hạn Chính vì vậy, giả sử khi lãi suất thị trường tăng, vì TSC có kỳ hạn dài hơn vốn huy động, nên thị giá TSC giảm nhiều hơn so với vốn huy động Sự chênh lệch này chính là mức thay đổi vốn tự có là: ∆E = ∆A - ∆L Như vậy, theo hai quy tắc trên, khi lãi suất giảm thì ∆E tăng, ngược lại khi lãi suất tăng thì ∆E giảm và khi lãi suất tăng đến mức nào đó thì ∆E sẽ bằng thậm chí nhỏ hơn 0 Vì vậy, khi giải bất phương trình E < 0 ta sẽ tìm ra được mức lãi suất mà tại
đó ngân hàng mất khả năng thanh toán hoàn toàn
Tóm lại, việc không cân xứng giữa tài sản Có và tài sản Nợ là nguyên nhân chính gây ra rủi ro lãi suất của ngân hàng, thậm chí khi lãi suất biến động đến một
Trang 35mức nhất định thỡ ngõn hàng cú thể rơi vào trạng thỏi mất khả năng thanh toỏn Bởi
vỡ mụ hỡnh kỳ hạn đến hạn đó khụng đề cập đến yếu tố thời lượng của cỏc tài sản Cú
và tài sản Nợ, cho nờn mụ hỡnh này cũn khiếm khuyết nhất định Tuy nhiờn, do cú
ưu điểm là đơn giản và trực quan, nờn đó được cỏc ngõn hàng sử dụng khỏ phổ biến, điều này cũng phự hợp với cỏc ngõn hàng Việt nam hiện nay đang trong quỏ trỡnh chuyển đổi tiến tới hiện đại húa
2.3.1 Mụ hỡnh định giỏ lại
► Lượng húa rủi ro lói suất bằng mụ hỡnh định giỏ lại
Nội dung của mụ hỡnh định giỏ lại là việc phõn tớch cỏc luồng tiền dựa trờn nguyờn tắc giỏ trị ghi sổ nhằm xỏc định chờnh lệch giữa lói suất thu được từ tài sản
Cú và lói suất thanh toỏn cho vốn huy động sau một thời gian nhất định Đõy chớnh
là điểm khỏc biệt cơ bản so với mụ hỡnh kia
Hiện nay, hầu hết cỏc ngõn hàng trờn thế giới đều lập bỏo cỏo định kỳ hàng quý chờnh lệch giữa tài sản Cú và tài sản Nợ với kỳ hạn đến nhỏ nhất là 1 ngày để quản trị rủi ro lói suất Cỏc ngõn hàng tớnh số chờnh lệch giữa tài sản Cú và tài sản
Nợ đối với từng kỳ hạn và đặt chỳng trong mối quan hệ với độ nhạy cảm lói suất thị trường Độ nhạy cảm trong trường hợp này chớnh là khoảng thời gian mà tài sản Cú
và tài sản Nợ được định giỏ lại Điều đú cú nghĩa là nhà quản trị ngõn hàng cũn phải chờ bao lõu để ỏp mức lói suất mới vào từng kỳ hạn khỏc nhau
Theo phương phỏp này, rủi ro lói suất được thể hiện qua sự thay đổi của thu nhập rũng mỗi khi lói suất thay đổi Sự thay đổi này được xỏc định theo cụng thức:
∆NHi = (GAPi) x ∆Rj = (RSAi= - RSLi) x ∆Ri
Trong đú:
- ∆NHi: Sự thay đổi thu nhập rũng từ lói suất của nhúm i
- GAPi = Sự chờnh lệch giỏ trị giữa tài sản Cú và tài sản Nợ (giỏ trị ghi sổ) của nhúm i
- ∆Ri = Mức thay đổi lãi suất của nhóm i
- RSAi = Số d- ghi sổ của tài sản Có thuộc nhóm i (Rate Sensitivity Assets)
- RSLi = Số d- ghi sổ của tài sản Nợ thuộc nhóm i (Rate
Trang 36Sensitivity Liabilities) Theo công thức trên, ta thấy mô hình định giá lại sử dụng các giá trị của tài sản Có và tài sản Nợ theo giá trị ghi sổ tức là giá trị lịch sử Do đó, nếu lãi suất thay
đổi thì chỉ chịu ảnh h-ởng lên thu nhập hay chi phí từ lãi suất, tức là mức thay đổi ròng của thu nhập tự lãi suất
Tuy nhiên, trong tr-ờng hợp cơ chế hạch toán bảng cân đối tài sản là giá trị thị tr-ờng, ngân hàng vẫn có thể tính đ-ợc đ-ợc sự chênh lệch giữa tài sản Có và tài sản Nợ theo ph-ơng pháp tích lũy của nhiều kỳ hạn khác nhau Trong thực tế, ph-ơng pháp tích lũy đ-ợc ứng dụng phổ biến nhất là đến 12 tháng Ta có công thức:
∆NHi = CGAPi x ∆Ri
Trong đú: - ∆Ri là tỷ lệ thay đổi lói suất trung bỡnh
- CGAPI là chờnh lệch tớch lũy (Cumulative Gaps) Nhận thấy, khi CGAP < 0, R biến đổi cựng chiều với ngõn hàng và ngược lại nếu CGAP > 0, R biến đổi ngược chiều với NH Để tớnh độ chờnh lệch tớch lũy năm của bảng cõn đối tài sản (CGAP) chỳng ta cần xỏc định trong một năm tới, lói suất thị trường thay đổi, thỡ những tài sản Cú và tài sản Nợ nào sẽ chịu ảnh hưởng của thay đổi lói suất Hay núi cỏch khỏc chỳng ta cần xỏc định trong 1 năm, những tài sản Nợ và tài sản Cú nhạy cảm với lói suất thị trường
► Những ưu điểm và hạn chế của mụ hỡnh định giỏ lại
Mụ hỡnh định giỏ lại là một cụng cụ hữu ớch, tương đối đơn giản và trực quan đối với nhà quản trị ngõn hàng trong việc đo lường đỏnh giỏ mức độ rủi ro lói suất
Mụ hỡnh này thể hiện hai ưu điểm nổi bật đú là:
- Cung cấp thụng tin về cơ cấu tài sản Cú và tài sản Nợ sẽ được định giỏ lại
- Dễ dàng xỏc định được sự thay đổi của thu nhập rũng về lói suất mỗi khi lói suất thay đổi
Tuy nhiờn, bờn cạnh đú mụ hỡnh này cũn bộc lộ nhiều điểm yếu sau:
Hiệu ứng của thị giỏ tài sản: Sự thay đổi của lói suất ngoài ảnh hưởng lờn thu nhập lói suất cũn ảnh hưởng đến thị giỏ của tài sản Cú và tài sản Nợ Mụ hỡnh định giỏ lại chỉ đề cập đến giỏ trị ghi sổ của tài sản Cú và tài sản Nợ mà khụng
Trang 37đề cập đến giá trị thị trường của chúng nên chỉ phản ánh được một phần rủi ro mà thôi
Vấn đề kỳ định giá tích lũy: vấn đề phân nhóm tài sản theo một khung
kỳ hạn nhất định đã phản ánh sai lệch thông tin về cơ cấu các tài sản Có và tài sản
Nợ trong cùng một nhóm Để khắc phục hạn chế này, các ngân hàng lớn trên thế giới đã nối mạng nội bộ online cho phép ngân hàng có thể định giá tài sản tại bất kỳ thời điểm nào
Vấn đề tài sản đến hạn: vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp tới việc phân định đâu là tài sản và vốn nhạy cảm với lãi suất Trên thực tế, ngân hàng thường tái đầu tư những khoản tiền được trả góp định kỳ hàng tháng đối với những khoản tín dụng dài hạn có thế chấp Chính vì thế, trong khi kỳ hạn đến hạn của tài sản Có và tài sản Nợ có thể là dài hạn, nhưng chúng vẫn phát sinh những luồng tiền trong năm
và tạo ra những tài sản nhạy cảm với lãi suất
2.3.2 Mô hình thời lượng
► Phương pháp xác định thời lượng của tài sản
So với hai mô hình trên, mô hình thời lượng hoàn hảo hơn nhiều trng việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản Có và tài sản Nợ đối với lãi suất, bởi vì nó đề cập đến yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản Nợ
và tài sản Có
Trước tiên ta cần biết thời lượng là gì? Thời lượng (Ducation) của một tài sản là thước đo thời gian tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó Thời lượng của một khoản tín dụng có thể bằng, nhỏ hơn hoặc lớn hơn kỳ hạn của khoản tín dụng đó Để tính toán và phòng ngừa rủi ro lãi suất thì ngân hàng cần thiết phải quản lý được chênh lệch về thời lượng hơn là chênh lệch kỳ hạn đáo hạn Thời lượng của tài sản được tính bằng công thức:
1
t t
CF R n
Trang 38Trong đó: - N là tổng số luồng tiền xảy ra
- n là số lần luồng tiền xảy ra trong một năm
- M: kỳ hạn của chứng khoán tính theo năm (M = N/n)
- t là thời điểm xảy ra luồng tiền (t = 1,2,3, ,N)
- CFt là luồng tiền nhận được tại thời điểm cuối kỳ t (Cash Flow)
- PVt là giá trị hiện tại của luồng tiền xảy ra tại thời điểm t (Present value)
- R là mức lãi suất thị trường hiện hành (%/năm)
► Mô hình thời lượng và đo lường rủi ro
Để đo mức chênh lệch về thời lượng, trước hết ta cần xác định thời lượng của tài sản Có và tài sản Nợ
Trong đó: - DA, DL: Thời lượng của toàn bộ tài sản Có và tài sản Nợ
- DAi, DLi: thời lượng của tài sản Có i và tài sản Nợ j
- WAi, WLj: tỷ trọng của tài sản Có i và tài sản Nợ j
- m: số loại tài sản Nợ phân theo tiêu chí kỳ hạn
với WA1+ WA2+ + WAn = 1
i = 1,2,3, ,n
j = 1,2,3, ,m Như ta đã biết, sự thay đổi vốn tự có của ngân hàng khi lãi suất thay đổi bằng khoản chênh lệch giữa thay đổi thị giá tài sản Có và tài sản Nợ Mối quan hệ giữa thời lượng và sự thay đổi này được thể hiện qua công thức:
Trong đó: - ∆E là thay đổi vốn tự có của ngân hàng
- DA, DL là thời lượng tài sản Có, tài sản Nợ
- k: tỷ lệ giữa vốn huy động và tài sản Có, k = L/A
- A: Quy mô tài sản Có của ngân hàng
Trang 39- ∆R/(1 + R) : mức thay đổi lãi suất
Từ công thức trên ta rút ra được 3 kết luận:
1) Chênh lệch thời lượng giữa tài sản Có và tài sản Nợ đã được điều chỉnh bởi
tỷ lệ đòn bẩy (DA - DL.k).Chênh lệch được tính bằng năm, phản ánh sự không cân xứng về thời lượng của hai vế bảng cân đối tài sản Đặc biệt, nếu chênh lệch này lớn, thì tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao
2) Qui mô của ngân hàng, tức tổng tài sản A: qui mô tài sản của ngân hàng lớn, thì tiềm ẩn rủi ro ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao
3) Mức thay đổi lãi suất ∆R/(1+R): Mức thay đổi lãi suất càng nhiều, thì tiềm
ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao
Như vậy, chúng ta có thể biểu diễn rủi ro lãi suất đối với vốn tự có của ngân hàng, như sau:
∆E = - Chênh lệch thời lượng đã điều chỉnh x Qui mô tài sản x Mức thay đổi lãi suất
2.4 Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất
Có thể nói, việc đề ra các biện pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất
là khâu cuối cùng và cũng là khâu quan trọng nhất trong toàn bộ chiến lược quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng Mục đích của việc ngân hàng tiến hành hoạt động phòng chống rủi ro lãi suất thường nhằm đạt 3 mục tiêu cơ bản:
Bảo vệ giá trị chứng khoán và các khoản tín dụng mang lãi suất cố định nhằm tránh tổn thất do lãi suất thị trường tăng
Hạn chế chi phí vay vốn của ngân hàng
Ngăn chặn khả năng lãi suất của các khoản cho vay đầu tư giảm sút trong tương lai
Nhằm đạt được 3 mục đích này, các NHTM đã sử dụng rất nhiều biện pháp
để hạn chế và phòng ngừa rủi ro lãi suất
2.4.1 Điều chỉnh cơ cấu kỳ hạn bảng cân đối tài sản
Để tránh rủi ro lãi suất có thể loại trừ yếu tố chủ yếu gây ra rủi ro đó là duy trì khe hở lãi suất càng thấp càng tốt Nội dung chủ yếu của phương pháp này là tìm kiếm các nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp với kỳ hạn của tài sản Đối với các ngân
Trang 40hàng nhỏ, các khoản cho vay thường là ngắn hạn Tìm kiếm các nguồn ngắn hạn cũng thuận tiện hơn nguồn trung và dài hạn Do đó, đối với các ngân hàng sắp xếp các nguồn phù hợp với tài sản này để hạn chế rủi ro lãi suất Tuy nhiên, phương pháp này rất khó thực hiện tại các ngân hàng lớn do nhu cầu cho vay và đầu tư trung
và dài hạn tại các ngân hàng này khá lớn Hơn nữa, phương pháp này loại trừ luôn việc gia tăng khoản thu khi lãi suất thay đổi phù hợp với dự đoán của các nhà quản
lý
2.4.2 Áp dụng chính sách lãi suất thả nổi
Khi lãi suất cố định thì thời hạn nguồn vay và tài sản là yếu tố tạo ra rủi ro lãi suất Để hạn chế rủi ro lãi suất nhiều ngân hàng đã áp dụng chế độ thả nổi lãi suất Phương pháp này hiện nay đang được sử dụng nhiều với các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng hoặc trong các hợp đồng ngắn hạn Tuy nhiên, nó không thể thay thế lãi suất cố định Phần lớn người gửi tiết kiệm hay các khách hàng đi vay đều yêu cầu lãi suất cố định để dự tính trước được hiệu quả của dự án
2.4.3 Sử dụng các hợp đồng phái sinh
Các biện pháp phòng ngừa ngoại bảng là việc các ngân hàng sử dụng các hợp đồng phái sinh để cho giá trị của tài sản là cố định cho dù lãi suất thị trường thay đổi như thế nào Việc sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro là một trong những biện pháp khá hiệu quả bởi nó có thể được sử dụng cho một danh mục tài sản hay được sử dụng một cách chọn lọc đối với một bộ phận tài sản nhất định Đồng thời, một ngân hàng có thể quyêt định phòng ngừa rủi ro đối với tài sản này
và không phòng ngừa rủi ro đối với tài sản khác nếu ngân hàng muốn đầu cơ lãi suất
Các ngân hàng sử dụng 4 loại hợp đồng phái sinh để hạn chế rủi ro lãi suất: