Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do khoá luận viết về một đề tài khá rộng và khả năng hiểu biết còn hạn chế, thời gian lại có hạn nên khoá luận tốt nghiệp này chắc chắn không tránh khỏi thiếu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế ngoại thương, những người đã tận tâm dạy dỗ, dìu dắt em trong gần bốn năm qua dưới mái trường Đại học Ngoại thương Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn Thạc sĩ Lương Thị Ngọc Oanh, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo rất nhiệt tình để em có thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người luôn động viên và tạo điều kiện để em thực hiện tốt khoá luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do khoá luận viết về một đề tài khá rộng
và khả năng hiểu biết còn hạn chế, thời gian lại có hạn nên khoá luận tốt nghiệp này chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo của các thầy cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến việc phát triển ngành du lịch Việt Nam
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN 3
BỀN VỮNG 3
I KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH DU LỊCH 4
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DU LỊCH 4
1.1 KHÁI NIỆM DU LỊCH 4
1.2 SẢN PHẨM DU LỊCH VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM DU LỊCH 5
1.3 CÁC HÌNH THỨC DU LỊCH HIỆN NAY 6
2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH DU LỊCH 6
2.1 KHÁI NIỆM VỀ KINH DOANH DU LỊCH 6
2.2 ĐẶC ĐIỂM NGÀNH DU LỊCH 9
2.2.1 BẢN CHẤT XÃ HỘI 9
2.2.2 BẢN CHẤT KINH TẾ: 9
2.2.3 BẢN CHẤT CHÍNH TRỊ 10
2.2.4 BẢN CHẤT VỀ SINH THÁI: 11
3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 11 3.1 AN NINH CHÍNH TRỊ VÀ AN TOÀN XÃ HỘI 12
3.2 PHÁT TRIỂN KINH TẾ 12
3.3 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA NƯỚC SỞ TẠI 13
3.4 TÀI NGUYÊN DU LỊCH 13
3.5 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 14
Trang 43.6 CÁC YẾU TỐ KHÁC 14
Trang 5II KHÁI NIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 14
1 PHÁT TRIỂN 14
2 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 16
III DU LỊCH HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 17
1 KHÁI NIỆM DU LỊCH HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 18
2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ DU LỊCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 18
2.1 CÁC CHỈ SỐ VỀ THU NHẬP DU LỊCH 18
2.2 CÁC CHỈ SỐ LIÊN QUAN ĐẾN KHÁCH DU LỊCH: 19
2.3 CÁC CHỈ SỐ VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 20
2.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐẦU TƯ CHO DU LỊCH 20
3 ĐÓNG GÓP CỦA DU LỊCH HƯỚNG TỚI BỀN VỮNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DU LỊCH VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 23
I VỊ TRÍ NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 23
II TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM 25
1 VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 25
2 VỀ ĐIỀU KIỆN NHÂN VĂN 26
3 VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 27
4 SỰ QUAN TÂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH 28
5 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM 29
6 VIỆT NAM ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ LÀ ĐIỂM ĐẾN AN TOÀN 30
III ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 31
1 NHỮNG THÀNH TỰU NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC 31
Trang 61.1 CHỈ TIÊU THU NHẬP DU LỊCH 31
1.2 CHỈ TIÊU KHÁCH DU LỊCH 34
1.3 CHỈ TIÊU CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 38
1.4 CHỈ TIÊU ĐẦU TƢ CHO DU LỊCH 39
Trang 71.5 MỘT SỐ THÀNH TỰU KHÁC 40
2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NGÀNH DU LỊCH 44
2.1 CHỈ TIÊU THU NHẬP 44
2.2 CHỈ TIÊU KHÁCH DU LỊCH 44
2.3 CHỈ TIÊU NGUỒN NHÂN LỰC 48
2.4 CHỈ TIÊU ĐẦU TƯ 49
2.5 MỘT SỐ HẠN CHẾ KHÁC 51
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DU LỊCH VIỆT NAM HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 58
I QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM 58
1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 58
1.1 PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐẠT HIỆU QUẢ TRÊN NHIỀU PHƯƠNG DIỆN 58
1.2 PHÁT TRIỂN DU LỊCH VỚI NHIỀU THÀNH PHẦN KINH TẾ THAM GIA VÀ CÓ SỰ QUẢN LÝ THỐNG NHẤT CỦA NHÀ NƯỚC 59
1.3 PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUỐC TẾ VÀ DU LỊCH NỘI ĐỊA 59
1.4 PHÁT TRIỂN DU LỊCH NHANH VÀ BỀN VỮNG 60
1.5 XÂY DỰNG DU LỊCH THÀNH NGÀNH MŨI NHỌN 60
2 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH: 61
2.1 MỤC TIÊU TỔNG QUÁT 61
2.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ: 62
2.2.1 TĂNG CƯỜNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH 62
2.2.2 NÂNG CAO NGUỒN THU NHẬP TỪ DU LỊCH 62
2.2.3 XÂY DỰNG MỚI, TRANG BỊ LẠI CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT DU LỊCH 62 2.2.4 TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC QUỐC TẾ, ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÚC TIẾN, TUYÊN TRUYỀN QUẢNG BÁ, NGHIÊN CỨU,
Trang 8ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ ĐÀO TẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 63
Trang 9II MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DU LỊCH VIỆT NAM HƯỚNG TỚI PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG 63
1 NHỮNG GIẢI PHÁP MANG TÍNH VĨ MÔ 63
1.1 KIỆN TOÀN VÀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ 64
1.2 TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH 65
1.3 TĂNG CƯỜNG XÚC TIẾN TUYÊN TRUYỀN QUẢNG BÁ DU LỊCH 67
1.4 CHÚ TRỌNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC NGàNH DU LỊCH 69
1.5 ĐẨY MẠNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 70
1.6 BẢO VỆ, TÔN TẠO TÀI NGUYÊN DU LỊCH VÀ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, XÃ HỘI 71
1.7 CHỦ ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ TRANH THỦ NGUỒN LỰC BÊN NGOÀI 72
2 NHỮNG GIẢI PHÁP MANG TÍNH VI MÔ 73
2.1 ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ KINH DOANH LỮ HÀNH 74
2.2 ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ KINH DOANH LƯU TRÚ 77
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ thế giới
ASEANTA Hiệp hội du lịch Đông Nam Á
WCED Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới
WTTC Hội đồng lữ hành và du lịch quốc tế
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Kết quả kinh doanh du lịch trong giai đoạn 2003-2008 31 Bảng 2: Kết quả thu hút khách du lịch trong giai đoạn 2003-2008 34 Bảng 3: Mức chi tiêu trung bình một ngày của khách du lịch tại Việt Nam 36 Bảng 4: Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam từ 1995 – 2010 45
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Thu nhập xã hội từ du lịch, 2003-2008 32 Biểu đồ 2: Sự phát triển số l-ợng khách du lịch quốc tế, 2003-2008 34 Biểu đồ 3: Sự phát triển số l-ợng khách du lịch nội địa, 2003-2008 35
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
I Tên đề tài
“Du lịch Việt Nam: Cơ hội, thách thức và các biện pháp thúc đẩy hướng tới phát triển bền vững”
II Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội và ngày càng phát triển với nhịp độ cao Du lịch không còn được coi là nhu cầu cao cấp, thậm chí ở nhiều nước phát triển nó là nhu cầu không thể thiếu được của mỗi người dân Về phương diện kinh tế, du lịch được coi như một ngành công nghiệp không khói - một ngành có khả năng giải quyết một số lượng lớn công ăn việc làm và đem lại nhiều thu nhập ngoại tệ, điều chỉnh cán cân thanh toán, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển Về phương diện xã hội, nó đem lại sự thoả mãn cho người đi du lịch, góp phần tăng cường giao lưu văn hoá, phát triển bản sắc văn hoá của các dân tộc
Gần 45 năm hình thành và phát triển, đặc biệt là từ năm 1990, du lịch Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với du lịch các nước trong khu vực Từ một ngành kinh tế tổng hợp, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội, đến nay du lịch đã được xác định
là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã xác định
“Phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”- đây là một vinh dự to lớn của toàn ngành du lịch Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đồng thời, đây cũng là một đòi hỏi lớn lao đối với ngành du lịch nói riêng và là nhiệm vụ của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân nói chung trong sự vận động đi lên của toàn dân tộc những năm đầu thế kỷ 21
Trang 13Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, du lịch Việt Nam còn có những khó khăn, hạn chế dẫn đến sự phát triển không bền vững, do vậy, việc phân tích cụ thể, chi tiết thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch thời gian qua
từ đó, rút ra những đánh giá làm tiền đề cho việc đề xuất những giải pháp để thúc đẩy du lịch Việt Nam hướng tới phát triển bền vững trong thời gian tới là một vấn đề hết sức cần thiết, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới hiện nay Với ý nghĩa thiết thực đó, em quyết định
chọn đề tài: "Du lịch Việt Nam: Cơ hội, thách thức và các biện pháp thúc
đẩy hướng tới phát triển bền vững" cho khoá luận tốt nghiệp của mình
III Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khoá luận là nhằm đưa ra một cái nhìn tổng quan nhất về hoạt động của ngành Du lịch Việt Nam trong những năm gần đây và những dự báo khách quan về khả năng phát triển của du lịch Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, hạn chế những tồn tại để thúc đẩy du lịch Việt Nam hướng tới phát triển bền vững trong thời gian tới
IV Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm khoá luận tốt nghiệp này, em đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, em còn sử dụng một số phương pháp như phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá, phương pháp thống kê và phương pháp dự báo
V Bố cục của Đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khoá luận tốt nghiệp được chia thành ba chương:
Chương I: Khái quát về du lịch hướng tới phát triển bền vững
Trong chương này, em cung cấp một số cơ sở lý luận cơ bản về du lịch,
về phát triển bền vững từ đó có cơ sở để phân tích và đánh giá tình hình phát triển du lịch Việt Nam ở chương sau
Trang 14Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch ở Việt Nam trong những năm gần đây
Trong chương này, trước khi đi vào xem xét thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch Việt Nam, em phân tích vị trí và tiềm năng phát triển của ngành
du lịch ở Việt Nam, tiếp theo, phân tích những thành tựu mà ngành du lịch Việt Nam đã đạt được cũng như những hạn chế , đồng thời tìm ra nguyên nhân của những tồn tại đó nhằm tạo tiền đề cho việc đưa ra những giải pháp tương ứng ở chương tiếp theo
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh du lịch ở Việt Nam trong giai đoạn tới
Chương cuối được mở đầu bằng việc trình bày mục tiêu, quan điểm phát triển du lịch của Đảng, Nhà nước và được khép lại bằng việc đưa ra những giải pháp vi mô và vĩ mô nhằm tăng cường phát triển hoạt động kinh doanh du lịch ở Việt Nam trong thời gian tới theo hướng phát triển bền vững
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG
Trang 15I KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH DU LỊCH
1 Những vấn đề cơ bản về du lịch
1.1 Khái niệm du lịch
Quan niệm về du lịch thay đổi theo quá trình phát triển của nó Trước thế kỷ XIX, du lịch chỉ là hiện tượng lẻ tẻ của một số ít người ở tầng lớp trên Đến đầu thế kỷ XX, khách du lịch vẫn tự lo lấy việc đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi
ở nơi du lịch, lúc đó du lịch chưa được coi là hoạt động kinh doanh, nó nằm ngoài lề của nền kinh tế Vì vậy vào thời kỳ này, người ta coi du lịch như là một hiện tượng nhân văn, hiện tượng xã hội nhằm làm phong phú thêm nhận
thức của con người Trên quan điểm này, du lịch được coi là hiện tượng
những người đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình do nhiều nguyên nhân khác nhau, ngoại trừ mục đích kiếm tiền và ở đó những
người này phải tiêu tiền mà họ kiếm được ở nơi khác
Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai khi dòng khách du lịch ngày càng đông, việc giải quyết nhu cầu ăn, ở, giải trí… đã trở thành một cơ hội kinh doanh Với góc độ đó du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là
một hoạt động kinh tế Du lịch được coi là toàn bộ những hoạt động và những
công việc phối hợp nhau nhằm thoả mãn các yêu cầu của khách du lịch 1
Du lịch ngày càng phát triển, các hoạt động kinh doanh du lịch ngày càng gắn bó và phối hợp với nhau tạo thành một hệ thống rộng lớn và chặt
chẽ Dưới góc độ này, du lịch được coi là một ngành công nghiệp với toàn bộ
các hoạt động mà mục tiêu là kết hợp giá trị của các tài nguyên du lịch thiên nhiên và văn hoá với các hàng hoá, dịch vụ để tạo ra sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Nhìn chung hiện nay đại đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng nên xem xét thuật ngữ du lịch dưới hai góc độ: 1/ Du lịch là hiện tượng của xã hội, và 2/
1
Trung tâm từ điển Bách Khoa Việt Nam- Hà Nội, năm 1995, Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1
Trang 16Du lịch là một ngành kinh tế Việc nhận định rõ hai góc độ cơ bản của khái niệm
du lịch có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch Cho đến nay, không ít người chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế, do đó, mục tiêu quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội Nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tình đoàn kết Chính vì vậy toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đầu
tư cho giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác
Như vậy, cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, khái niệm du lịch cũng có sự phát triển, đi từ hiện tượng đến bản chất Tuỳ thuộc vào từng góc độ nghiên cứu mà người ta sử dụng khái niệm du lịch với các nội dung khác nhau Luận văn này sẽ đứng trên góc độ thứ hai của du lịch - du lịch là
“một lĩnh vực kinh doanh” để xem xét tính hiệu quả của du lịch dưới góc độ thứ nhất – du lịch là “một hiện tượng xã hội”
Sản phẩm du lịch là sản phẩm tổng hợp bao gồm vận chuyển, lưu trú, ăn uống và những loại hình dịch vụ khác
Sản phẩm du lịch được bán ra một nơi có khoảng cách rất xa cho nên muốn tiêu thụ được phải qua nhiều kênh phân phối hoặc có sự phối hợp của nhiều quốc gia trong cùng một chuyến đi của du khách
Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm du lịch dễ bị thay thế,
Trang 17nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chính trị, tình hình kinh tế - xã hội Đồng thời sản phẩm du lịch thường bị chi phối và mất cân đối bởi tính thời vụ
1.3 Các hình thức du lịch hiện nay
Nền kinh tế càng phát triển, đời sống càng được nâng cao thì nhu cầu của khách du lịch ngày càng đa dạng và phát triển không ngừng Do đó việc phân loại các loại hình du lịch là rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Theo xu thế du lịch thế giới ngày nay du lịch diễn ra hai thể loại
là du lịch xanh và du lịch văn hoá
Du lịch xanh là hoà mình vào thiên nhiên xanh với nhiều mục đích khác nhau như ngắm cảnh, tắm biển, leo núi, nghỉ dưỡng, chữa bệnh Trong
du lịch xanh, xu hướng du lịch điền dã (du lịch sinh thái) đến các làng quê ngày càng thu hút nhiều du khách
Du lịch văn hoá là loại hình du lịch giúp cho du khách thấy được bề dày lịch sử, văn hoá, các phong tục tập quán của các địa phương bao gồm hệ thống đình chùa, nhà thờ, lễ hội dân gian…
Đi sâu vào các thể loại du lịch cụ thể, theo cách tiếp cận truyền thống thì có các loại hình du lịch cơ bản như sau:
Căn cứ vào thành phần của khách: du lịch thượng lưu, bình dân, ba lô Căn cứ vào phương tiện giao thông: du lịch tàu thuỷ, máy bay, xe đạp Căn cứ vào phương thức ký kết hợp đồng: du lịch trọn gói, du lịch không trọn gói
Căn cứ hình thức tổ chức: du lịch theo đoàn, theo gia đình, cá nhân
2 Khái niệm và đặc điểm của ngành du lịch
2.1 Khái niệm về kinh doanh du lịch
Kinh doanh du lịch là quá trình tổ chức sản xuất, lưu thông mua bán hàng
Trang 18hoá du lịch trên thị trường nhằm đảm bảo hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội.1
Ngày nay, tổng sản phẩm quốc dân của một nước hay doanh thu của một doanh nghiệp không thể không tính đến sự đóng góp của lĩnh vực dịch
vụ Khác với các sản phẩm thông thường được sản xuất ra trước khi bán và dùng, sản phẩm dịch được tạo ra và tiêu dùng ngay cùng một lúc Dịch vụ trong ngành du lịch rất đa dạng, diễn ra ở nhiều hình thức kinh doanh khác nhau, về cơ bản có 4 loại hình chủ yếu sau:
Kinh doanh lữ hành
Kinh doanh khách sạn
Kinh doanh vận chuyển du lịch
Kinh doanh các dịch vụ khác
Kinh doanh lữ hành: là ngành kinh doanh các chương trình du lịch
bao gồm: sản xuất, đại lý, môi giới nhằm cung ứng một cách thuận lợi các dịch vụ du lịch Hiện nay, loại hình này rất phát triển trên thế giới nói chung
và ở Việt Nam nói riêng Kinh doanh lữ hành bao gồm: các hãng lữ hành quốc tế, lữ hành nội địa và đại lý lữ hành Ngành kinh doanh lữ hành có vai trò quyết định đối với sự phát triển của du lịch thế giới Thực tế cho thấy trên 80% khách du lịch sử dụng loại hình dịch vụ này Dịch vụ lữ hành phát triển
sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của các loại hình dịch vụ du lịch khác
Kinh doanh khách sạn du lịch: Kinh doanh khách sạn bao gồm việc
cung cấp cho khách các dịch vụ về cư trú, ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí, các hàng hóa, các dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân Sản phẩm của dịch
vụ khách sạn là sản phẩm dịch vụ trực tiếp phục vụ người tiêu dùng hay nó chính là một hình thức xuất khẩu trực tiếp (đối với khách du lịch là người nước ngoài) Kinh doanh khách sạn có hai chức năng chính của là kinh doanh lưu trú và kinh doanh ăn uống, ngoài ra còn có dịch vụ bổ sung Trong đó:
1
PTS Trần Nhạn, năm 1996, Địa lý du lịch và kinh doanh du lịch, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Hà Nội
Trang 19Kinh doanh lưu trú bao gồm kinh doanh các loại buồng ngủ, nghỉ loại
này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu khách sạn Thực tế cho thấy, du khách thường chi cho lưu trú trong tổng chi tiêu cho du lịch là: Trung Quốc 22.5%, Australia 46%, Indonesia 30.8%
Kinh doanh ăn uống là kinh doanh các mặt hàng ăn uống và chủ yếu phục
vụ cho khách theo tuyến khép kín Kinh doanh ăn uống đóng vai trò quan trọng trong tổng doanh thu của khách sạn, đây là phương thức xuất khẩu tại chỗ tối ưu Trên thực tế, phương thức này mang lại hiệu quả gấp 10 lần so với ngoại thương Chi cho ăn uống của khách trong tổng chi tiêu ở một số nước là: Trung Quốc 9.5% , Hồng Kông 10.98% , Indonesia 17.4% , Thái Lan 15.1%
Kinh doanh các dịch vụ bổ sung bao gồm: dịch vụ giặt là quần áo, sửa
chữa giày dép, đồng hồ, mua vé xem phim, đặt vé máy bay, đặt chỗ khách sạn, dịch vụ vui chơi giải trí, biểu diễn ca nhạc, cho thuê xe đạp, xe máy, ô tô, bán hàng lưu niệm, chữa bệnh Loại hình kinh doanh này rất khó thống kê đầy đủ do luôn thay đổi theo nhu cầu của khách
Kinh doanh vận chuyển du lịch: cung cấp cho khách các phương tiện
vận chuyển khác nhau: thô sơ, truyền thống hoặc hiện đại Ví dụ như vận chuyển bằng máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ, ô tô, xe đạp, cáp vận chuyển và các phương tiện vận chuyển thông tin theo nhu cầu của khách như điện thoại, fax Loại hình kinh doanh này đòi hỏi phải đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách và đạt hiệu quả cao
Kinh doanh các dịch vụ khác:
Dịch vụ thông tin bao gồm nhiều dạng khác nhau như: dịch vụ môi
giới, tìm địa chỉ, thông tin về giá cả, tư vấn về pháp lý
Dịch vụ thanh toán: dịch vụ này tạo thuận lợi cho khách được thanh
toán một cách dễ dàng Hình thức thanh toán có thể bằng séc, chuyển khoản séc du lịch, thẻ tín dụng Các hình thức này ngày càng được mở rộng
Dịch vụ bảo hiểm: Bảo hiểm có hai loại: bảo hiểm cho các nhà kinh
Trang 20doanh dịch vụ du lịch và bảo hiểm cho người đi du lịch
Dịch vụ thương mại: có thể nói chắc chắn rằng hiếm có một khách du
lịch nào mà sau chuyến đi không mua bất cứ vật phẩm nào làm kỷ niệm cho người thân, bạn bè và cho chính mình Chi tiêu cho việc mua các vật phẩm này cùng với chi tiêu của khách trong thời gian nghỉ ngơi tại các điểm du lịch
đã lên tới 30 - 40%1
tổng chi tiêu trong chuyến đi của họ, đặc biệt đối với những nước có chính sách khuyến khích khách du lịch chi tiêu như: Thái Lan, Singapo, Pháp, Mỹ
2.2 Đặc điểm ngành du lịch
2.2.1 Bản chất xã hội
Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ của con người Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh đường tiêu hoá giảm 20%.2
Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn… Điều đó quyết định sự
phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội
Trang 21nhu cầu về sản phẩm của du khách tăng Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng đó
mà ngành kinh tế du lịch không ngừng mở rộng hoạt động của mình đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cân bằng thu chi ngoại tệ của một đất nước Đối với một đất nước có thế mạnh về tiềm năng du lịch, ngành du lịch phát triển sẽ tạo nguồn thu nhập về ngoại tệ lớn cho đất nước với tỷ suất lợi nhuận cao
Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, du lịch tạo ra nhiều việc làm cho xã hội Bên cạnh đó, ngành du lịch còn tạo ra các nguồn thu làm lợi cho cư dân địa phương, các khoản thuế thu từ kinh doanh du lịch Ngoài ra vì
du lịch là một ngành xuất khẩu tại chỗ nên có thể xuất được những mặt hàng tươi sống khó bảo quản mà ít bị rủi ro như : hoa, rau quả tươi, thực phẩm những mặt hàng phục vụ khách du lịch tại chỗ nên không cần đóng gói, vận chuyển, bảo quản phức tạp, tốn kém Đây là một ưu thế nổi trội của ngành du lịch so với ngành ngoại thương
Bản chất kinh tế của du lịch còn thể hiện ở một khía cạnh khác - Du lịch góp phần vào việc hồi phục sức khoẻ, đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh doanh rõ rệt Thông qua hoạt động nghỉ ngơi, du lịch, tỷ lệ ốm đau trong khi làm việc giảm đi, tỷ lệ ốm đau ở độ tuổi lao động hạ thấp và rút ngắn thời gian chữa bệnh Ở các nước kinh tế phát triển, nguồn lao động gia tăng rất chậm, vì thế sức khỏe và khả năng lao động trở thành nhân tố quan trọng để đẩy mạnh nền sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả của nó
2.2.3 Bản chất chính trị
Du lịch như là một nhân tố củng cố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau Trước
xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá và hội nhập nền kinh tế quốc tế, du lịch đã
Trang 22thực sự là sứ giả của hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, các dân tộc, góp phần thắt chặt mối quan hệ kinh tế - chính trị giữa các quốc gia
2.2.4 Bản chất về sinh thái:
Du lịch tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Để đáp ứng nhu cầu du lịch, trong cơ cấu sử dụng đất đai nói chung phải dành riêng những lãnh thổ nhất định có môi trường tự nhiên ít thay đổi, xây dựng các công viên rừng quanh thành phố, thi hành các biện pháp bảo vệ nguồn nước
và bầu khí quyển nhằm tạo nên môi trường sống thích hợp Việc làm quen với các danh thắng và môi trường thiên nhiên bao quanh có ý nghĩa không nhỏ đối với khách du lịch Nó tạo điều kiện cho họ hiểu biết sâu sắc các tri thức về
tự nhiên, hình thành quan niệm và thói quen bảo vệ tự nhiên, góp phần giáo dục cho khách du lịch về mặt sinh thái học
Trong lĩnh vực du lịch, xã hội và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt xã hội cần đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của khách du lịch
và của việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch Du lịch và bảo vệ môi trường là những hoạt động gần gũi và liên quan đến nhau
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch
Du lịch chỉ có thể phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh thuận lợi nhất định Trong số các điều kiện đó có những điều kiện trực tiếp tác động đến việc hình thành nhu cầu du lịch và việc tổ chức các hoạt động kinh doanh
du lịch, bên cạnh đó có những điều kiện mang tính phổ biến nằm trong các mặt của đời sống xã hội và cũng có những điều kiện gắn với đặc điểm của từng khu vực địa lý Tuy nhiên, tất cả các điều kiện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành môi trường cho sự phát sinh, phát triển du lịch Mặt khác, bản thân sự có mặt, sự phát triển du lịch cũng trở thành một thành tố của môi trường đó, và do vậy nó có thể tác động tích cực hoặc có thể cản trở chính sự phát triển đó
Trang 233.1 An ninh chính trị và an toàn xã hội
Không khí chính trị hoà bình đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan
hệ kinh tế, văn hoá và chính trị giữa các dân tộc Du lịch nói chung, du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển được trong bầu không khí hoà bình, ổn định Du khách thích đến những đất nước và vùng du lịch có không khí chính trị hoà bình, những điểm du lịch mà tại đó không có sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo ở đó du khách có thể gặp gỡ dân bản xứ, giao thiệp và làm quen với phong tục tập quán của địa phương sẽ thu hút được nhiều du khách hơn
Do vậy, nhờ du lịch mà các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, gần gũi nhau hơn và có khuynh hướng hoà bình hơn Tóm lại, du lịch phát triển là nhờ có bầu không khí chính trị hoà bình và bầu không khí đó càng được củng cố khi mở rộng và
phát triển trao đổi du lịch giữa các quốc gia và dân tộc
3.2 Phát triển kinh tế
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của du lịch là điều kiện kinh tế Nền kinh tế phát triển là tiền đề cho sự
ra đời và phát triển của ngành du lịch Những nước có nền kinh tế phát triển
sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Việc phát triển các ngành kinh
tế như giao thông, công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch
Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn
là người tiêu dùng của nhiều loại dịch vụ hàng hoá, do đó họ phải có phương tiện vật chất đầy đủ Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch Con người khi muốn đi du lịch không chỉ cần thời gian mà còn phải có đủ tiền mới thực hiện được mong muốn đó Người ta đã xác lập được rằng mỗi khi thu nhập của nhân dân tăng thì sự tiêu dùng du lịch cũng tăng theo Phúc lợi vật chất của nhân dân luôn phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và vào thu nhập quốc dân của đất nước đó
Trang 243.3 Chính sách phát triển du lịch của nước sở tại
Hiện nay trên thế giới hầu như không có một nơi nào không tồn tại một
bộ máy quản lý xã hội Rõ ràng rằng bộ máy này có vai trò quyết định đến các hoạt động của cộng đồng đó Hoạt động du lịch cũng không nằm ngoài quy luật ấy Một khu vực có tài nguyên phong phú, mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không yểm trợ cho các hoạt động
du lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển được
3.4 Tài nguyên du lịch
Các điều kiện về môi trường tự nhiên có liên quan đến sự phát triển của hoạt động du lịch Khách du lịch thường ưa thích những nơi nhiều đồi núi, biển cả, có khí hậu điều hoà, và thường lẩn tránh nơi bằng phẳng mà họ cho là
tẻ nhạt và không thích hợp với du lịch; thế giới động thực vật cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch, thực vật phong phú và quý hiếm thì sẽ thu hút được các khách du lịch văn hoá với lòng ham tìm tòi nghiên cứu thiên nhiên Các nguồn nước khoáng cũng là tiền đề không thể thiếu được đối với việc phát triển du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh
Giá trị văn hoá lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển du lịch ở một điểm, một vùng hoặc một đất nước Các tài nguyên có giá trị lịch sử có sức hút đặc biệt với du khách có trình độ cao, ham hiểu biết Một số nước có nhiều tượng đài lịch sử từ thời phong kiến như: Séc, Thổ Nhĩ Kỳ, Đức, Pháp, Nga, Belarus, Ucraina hay những nước nổi tiếng với những công trình lịch sử từ thời cổ đại như: Ai Cập, Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc, Mêxicô, Italia là những điểm du lịch được nhiều khách biết đến
Tương tự, các tài nguyên có giá trị văn hoá cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu như các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố có triển lãm nghệ thuật và điêu khắc, những làng mạc có kiến trúc
và xây dựng độc đáo
Ngoài ra, một số sự kiện đặc biệt cũng có thể thu hút khách du lịch và
Trang 25là điều kiện đặc trưng để phát triển du lịch, ví dụ như: các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, các cuộc kỷ niệm tín ngưỡng hoặc chính trị, các đại hội, liên hoan
3.5 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển tạo điều kiện cho hoạt động du lịch trở nên dễ dàng và nhanh chóng Phương tiện giao thông vận tải ngày càng hiện đại và hoàn thiện làm cho chúng ta có thể đi đến mọi nơi trên trái đất một cách dễ dàng trong một khoảng thời gian rất ngắn Phương tiện truyền thông và thông tin liên lạc cho phép chúng ta có thể cập nhật tất cả các thông tin cần thiết về các nơi du lịch hấp dẫn trên thế giới mà không cần phải đi đâu cả Công nghệ thông tin là phương tiện hữu hiệu để quảng bá hình ảnh một đất nước cho bạn bè thế giới, nhờ đó mà thu hút ngày càng nhiều du khách đến tham quan
đó khi phát triển, du lịch sẽ đảm bảo phục vụ du khách một cách văn minh, lịch sự và thu hút ngày càng đông đảo du khách Ngược lại, những hành vi thiếu văn hoá sẽ là nhân tố cản trở du lịch phát triển
II KHÁI NIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1 Phát triển
Trang 26Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia Để đo lường kết quả sản xuất xã hội hàng năm, các nước có nền kinh tế thị trường vẫn thường sử dụng 2 loại chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product, viết tắt là GNP), Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product, viết tắt là GDP) Các chỉ tiêu này phản ánh mức tăng trưởng sản xuất hàng hoá và dịch
vụ của mỗi quốc gia sau một giai đoạn nhất định nào đó được biểu thị bằng chỉ số % (thường là 1 năm)
Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là
sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay GDP, GDP/đầu người thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế - xã hội mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã hội
Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản, khái niệm phát triển kinh tế
đã đáp ứng được các nhu cầu đặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội Tuy nhiên như đã biết, trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, do xu hướng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức tạp,
Trang 27nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố Từ đó đòi hỏi
sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế giới phải được nâng lên tầm cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp tác, phát triển Thực tiễn đó
đã thúc đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát triển mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế , đó là khái niệm phát triển bền vững
2 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm "phát triển bền vững" nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả khó khôi phục
ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên Phát triển mà làm hủy hoại môi trường là một phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt là một phát triển không bền vững Có người còn thêm rằng lối phát triển phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (như FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn Nói ngắn gọn, phát triển là không bền vững nếu nó không thể giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong tương lai Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng
để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh
tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Trang 28Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Futur) của ủy ban Môi trường
và Phát triển Thế giới - WCED (nay là ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm
có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo
vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường
Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáo Brundtlan với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường mà còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội
Một số quan điểm cho rằng khái niệm "Phát triển bền vững' mới chỉ dừng lại ở cấp độ lý thuyết mơ hồ và phức tạp, tuy nhiên nó đã có những đóng góp nhất định "Phát triển bền vững” là khái niệm mới ở Việt Nam Việc tiến hành xây dựng và thao tác hoá khái niệm này phù hợp với thực tiễn đất nước
và bối cảnh thế giới hiện nay sẽ có ý nghĩa quan trọng Các nghiên cứu khoa học môi trường, khoa học xã hội, trong đó đặc biệt là kinh tế học, xã hội học,
và luật học hy vọng sẽ có nhiều đóng góp cho việc hoàn thiện hệ thống quan điểm lý luận về phát triển bền vững ở nước ta trong những thập niên sắp tới
Không thể chối cãi: "Phát triển bền vững" là một ý niệm hữu ích, đáng lưu tâm Nhưng chỉ để ý đến mối liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và tăng trưởng kinh tế là chưa khai thác hết sự quan trọng của ý niệm "bền vững" Ý niệm ấy sẽ hữu ích hơn nếu được áp dụng vào hai thành
tố nòng cốt khác của phát triển, đó là văn hóa và xã hội
III DU LỊCH HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Trang 291 Khái niệm du lịch hướng tới phát triển bền vững
Theo luật Du lịch: “Du lịch phát triển bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng với nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”
Theo định nghĩa của WTO năm 1992 thì “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai”
Nhìn chung, các khái niệm về du lịch phát triển bền vững khá thống nhất với nhau về nội dung và phù hợp với khái niệm phát triển bền vững như
đã đề cập ở trên
Tuy nhiên khái niệm phát triển bền vững hay du lịch phát triển bền vững chỉ mang tính tương đối bởi trong một xã hội luôn có sự thay đổi và phát triển thì sự bền vững của yếu tố này lại có thể là nguyên nhân ảnh hưởng tới sự bền vững của những yếu tố khác Không một xã hội nào, nền kinh tế nào có thể đạt được sự phát triển tuyệt đối Mọi hoạt động, mọi biện pháp của con người chỉ nhằm mục đích đảm bảo khả năng khai thác lâu bền của nguồn tài nguyên trên trái đất
Du lịch bền vững ở Việt Nam là một khái niệm còn khá mới mẻ Tuy nhiên nhận thức về một phương thức phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho cộng đồng đã bước đầu hình thành như một số loại hình du lịch thân thiện với môi trường với tên gọi
du lịch sinh thái, du lịch xanh Bởi vậy trong bài viết này em chỉ xin đề cập tới khái niệm “du lịch hướng tới phát triển bền vững”
2 Các chỉ tiêu đánh giá du lịch phát triển bền vững
2.1 Các chỉ số về thu nhập du lịch
Cũng như các ngành kinh tế khác, sự phát triển du lịch được đánh giá thông qua sự gia tăng về doanh thu, về giá trị đóng góp cho nền kinh tế quốc
Trang 30dân Tuy nhiên trên quan niệm phát triển bền vững thì ngoài sự gia tăng của các chỉ số này cần xem xét đến các yếu tố khác như: Giá trị gia tăng đều qua các năm, ảnh hưởng của sự phát triển ngành đến các ngành kinh tế khác và đến xã hội
Sự tăng trưởng của GDP vẫn là dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất để nhận biết sự phát triển của một ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng
Tỷ lệ GDP du lịch trong cơ cấu GDP của địa phương được biểu thị bằng chỉ số M và được xác định thông qua công thức:
M = Tp/Np Trong đó:
Tp: GDP của ngành du lịch
Np: Tổng GDP của nền kinh tế
Chỉ số M phản ánh tình trạng phát triển thực tế của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân Giá trị M càng cao và ổn định theo thời gian thì ngành
du lịch càng phát triển gần với mục tiêu phát triển bền vững
Bên cạnh đó, dấu hiệu để đánh giá mức độ bền vững của hoạt động du lịch có thể được xem xét thông qua mức độ đóng góp vào ngân sách nhà nước của ngành du lịch
2.2 Các chỉ số liên quan đến khách du lịch:
Trên quan điểm phát triển du lịch thông thường, chỉ số về khách du lịch luôn được quan tâm xem xét Nhưng nếu xét về sự phát triển du lịch trên quan điểm phát triển bền vững thì các chỉ số về thời gian lưu trú, mức độ chi tiêu, mức độ hài lòng và tỷ lệ quay lại một quốc gia, một vùng, một điểm du lịch nào đó của khách sẽ có ý nghĩa hơn
Xét về hiệu quả kinh tế, so với việc đông khách nhưng thời gian lưu trú ngắn, mức chi tiêu thấp thì trường hợp ít khách song thời gian lưu trú dài hơn
Trang 31và mức chi tiêu cao hơn mang lại hiểu quả cao hơn Bởi điều này cho phép vẫn đảm bảo sự tăng trưởng về doanh thu du lịch trong khi hạn chế được chi phí phục vụ một lượng khách lớn hơn và hạn chế được tác động đến môi trường
Số lượng, tỷ lệ khách quay lại một quốc gia, một vùng hoặc một địa điểm du lịch là một trong những thước đo khách quan cho sự hấp dẫn, chất lượng sản phẩm du lịch của quốc gia, vùng, địa điểm đó Kết quả nghiên cứu phân tích cho thấy chỉ số này góp phần quan trọng trong việc dự báo xu hướng phát triển luồng khách và giúp cho việc xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu của khách
2.3 Các chỉ số về chất lượng nguồn nhân lực du lịch
Trong hoạt động du lịch, chất lượng đội ngũ lao động luôn là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển Điều này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của hoạt động du lịch Chất lượng đội ngũ lao động là nhân tố quan trọng trong việc quyết định chất lượng sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ và kết quả cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, đến sự tăng trưởng đứng từ góc độ kinh tế Như vậy, một đội ngũ lao động chất lượng cao không chỉ là yếu tố thu hút khách, nâng cao uy tín, hình ảnh du lịch mà còn là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh, đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững và được coi là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận biết sự phát triển bền vững của du lịch
2.4 Các chỉ tiêu đầu tư cho du lịch
Đối với bất kỳ ngành kinh tế nào, đầu tư luôn là đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành kinh tế đó Các nguồn vốn đầu tư tồn tại dưới hai dạng
là các nguồn vốn huy động trong nước và các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nếu như các nguồn vồn đầu tư trong nước có tác dụng làm phong phú thêm các loại hình dịch vụ và tạo công ăn việc làm thì các nguồn vôn đầu tư nước ngoài lại có vai trò như đòn bẩy, thúc đẩy sự phát triển của ngành du
Trang 32lịch núi riờng và nền kinh tế núi chung
Trong một khoảng thời gian nghiờn cứu xỏc định mức độ biến đổi của cỏc nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch sẽ cho thấy những nhận định cơ bản về tương lai phỏt triển của ngành Trong đú tỷ số K sẽ là dấu hiệu nhận biết về tớnh bền vững của ngành du lịch đứng ở gúc độ đảm bảo vốn đầu
tư cho phỏt triển
K =
Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du
lịch
Tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế
Ngoài việc xem xét đến nguồn và giá trị vốn đầu t- trên quan điểm phát triển bền vững, đối t-ợng đầu t- (cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch, tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi tr-ờng, đào tạo nguồn nhân lực) cũng là yếu tố quan trọng cần đ-ợc đánh giá và xem xét nh- một dấu hiệu quan trọng của phát triển bền vững Việc xem xét đánh giá dấu hiệu này có thể thông qua các chỉ tiêu về tỷ lệ vốn đầu t- cho tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi tr-ờng trong một dự án hoặc tỷ lệ các khu, điểm du lịch đ-ợc đầu t- tôn tạo và bảo vệ Khu vực nào, quốc gia nào càng có nhiều điểm du lich đ-ợc đầu t-, bảo vệ chứng
tỏ hoạt động phát triển du lịch ở khu vực, quốc gia đó càng gắn với mục tiêu phát triển bền vững Theo WTO, nếu tỷ số này v-ợt quá 50% thì hoạt động du lịch đ-ợc xem là trạng thái phát triển bền vững
Thêm vào đó, trong việc đầu t-, ngoài nguồn vốn đầu t- từ nhà n-ớc hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn đầu t- quan trọng là từ thu nhập du lịch Nguồn đầu t- này càng lớn càng chứng tỏ đ-ợc ý thức của ngành du lịch đối với tầm quan trọng của phát triển bền vững Chính vì vậy, quy mô đầu t- bảo
vệ, tôn tạo tài nguyên, môi tr-ờng du lịch từ thu nhập du lịch sẽ đ-ợc xem là dấu hiệu nhận biết quan trọng của phát triển du lịch bền vững từ góc độ đảm bảo bền vững của tài nguyên và môi tr-ờng Không những vậy, tỷ lệ doanh thu
mà ngành du lịch trích lại cho cơ quan chủ quản các nguồn tài nguyên du lịch
để tái đầu t- càng cao chứng tỏ khả năng phối hợp liên ngành tốt
Trang 333 Đóng góp của du lịch h-ớng tới bền vững đối với phát triển bền vững
Là ngành công nghiệp “không khói”, bỏ vốn ít mà quay vòng lại nhanh, Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (WTTC) đã công bố du lịch là công nghệ lớn nhất thế giới, v-ợt lên cả công nghệ sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp Nh- đã phân tích ở mục 2.2 ch-ơng I, thông qua mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, sự phát triển của ngành du lịch sẽ giữ vai trò tích cực trong sự phát triển của các ngành kinh tế khác Du lịch phát triển nhanh và bền vững khi các lĩnh vực kinh tế xã hội phát triển đồng bộ, đặc biệt là các lĩnh vực văn hoá, th-ơng mại, giao thông, vận tải, giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, đối ngoại, quốc phòng, an ninh… Mặt khỏc, mọi phương ỏn phỏt triển du lịch cần cú sự phối hợp chặt chẽ với cỏc ngành, cỏc cấp trong một kế hoạch tổng thể cho từng giai đoạn, phự hợp với khả năng quản lý và phỏt triển, đỏp ứng kịp thời cỏc nhiệm vụ kinh tế - xó hội trước mắt và lõu dài
Như đó đề cập ở trờn, phỏt triển bền vững phải đảm bảo cú sự phỏt triển kinh tế hiệu quả, xó hội cụng bằng và mụi trường được bảo vệ giữ gỡn Muốn vậy cỏc thành phần kinh tế, cỏc cơ quan chức năng phải cựng thực hiện việc dung hoà giữa ba lĩnh vực: kinh tế – xó hội – mụi trường Cỏc nguyờn tắc cơ bản để du lịch phỏt triển bền vững cũng khụng tỏch rời nguyờn tắc chung của phỏt triển bền vững Tuy nhiờn mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong phỏt triển kinh
tế xó hội lại cú những mục tiờu, những đặc trưng riờng của mỡnh Do vậy phỏt triển du lịch phải tuõn thủ cỏc nguyờn tắc cỏc nguyờn tắc riờng trờn cơ sở cỏc nguyờn tắc chung của phỏt triển bền vững
Việc thực hiện một cỏch nghiờm tỳc và đầy đủ cỏc nguyờn tắc cơ bản sẽ đảm bảo chắc chắn cho sự phỏt triển bền vững của ngành du lịch núi riờng và của nền kinh tế núi chung Phỏt triển bền vững chớnh là chỡa khoỏ thành cụng lõu dài cho ngành du lịch
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DU LỊCH VIỆT NAM TRONG NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY
I VỊ TRÍ NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
Việt Nam là một nước có tiềm năng và tài nguyên du lịch lớn, đa dạng, phong phú Trong những năm qua, ngành du lịch đã có những bước đi tương đối vững chắc, tạo ra bước phát triển mới Từ một ngành kinh tế tổng hợp, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội, đến nay du lịch đã được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kì công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Các lợi ích kinh tế mang lại từ du lịch là điều không thể phủ nhận
Thực tế cho thấy so với năm 1996 số du khách quốc tế đến Việt Nam năm 2007 tăng 2,5 lần (từ 1,6 triệu lượt tới hơn 4 triệu lượt người), du khách nội địa tăng hơn 2,7 lần (từ 7,3 triệu lượt tới gần 20,3 triệu lượt người) Doanh thu du lịch ngày càng tăng, doanh thu du lịch năm 2005 đạt trên 30 nghìn tỉ đồng với tốc độ tăng trưởng là 15,4%, năm 2006 đạt 51 ngàn tỉ đồng, tăng 70% so với năm trước Năm gần đây nhất -2007- thu nhập du lịch đạt 56 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8% so với năm 2006 Có thể thấy doanh thu từ hoạt động du lịch đã đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách Nhà nước Du lịch còn là ngành thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo thống kê của Tổng cục Du lịch năm 2007 có 47 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn hơn 1,8 tỉ USD, chiếm gần 9
% tổng số vốn FDI vào Việt Nam” tăng xấp xỉ 200% so với năm 2006.1
Như vậy trước hết, kinh tế du lịch góp phần làm tăng thu nhập quốc
dân thông qua hoạt động du lịch quốc tế; hoạt động ăn uống trong du lịch nội
1
Tổng cục Du lịch, Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 vầ phương hướng nhiệm vụ năm
2008 của ngành Du lịch, năm 2007
Trang 35địa, sản xuất hàng lưu niệm, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật… trong đó hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước
Việc phát triển du lịch Việt Nam đồng thời đã kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện…
Với một nước có thu nhập thấp và tỷ lệ thất nghiệp cao như Việt Nam thì ngành du lịch đã góp phần giải quyết rất lớn đến công ăn việc làm và tạo
điều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địa phương Bên cạnh đó, ngành du lịch
còn tạo ra các nguồn lợi cho cư dân địa phương nhờ việc phát triển các hoạt động kinh doanh du lịch; các khoản thuế thu từ kinh doanh du lịch do khách
du lịch đóng góp giúp chính quyền địa phương chi tiêu cho giáo dục, y tế và các dịch vụ khác
Như vậy, sự phát triển của ngành du lịch có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có những bước đi tương đối vững chắc, tạo ra bước phát triển mới Sự phát triển du lịch không chỉ góp phần thực hiện các mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần to lớn để Việt Nam phát triển và mở rộng quan hệ đối ngoại trong xu thế toàn cầu hoá, thực hiện tốt đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng
Tuy nhiên, trình độ phát triển của Du lịch Việt Nam còn thấp, vị trí của
du lịch trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam còn kém xa so với các trung tâm du lịch trong khu vực như Singapore, Hồng Kông, Thái Lan Để thực hiện định hướng phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao vai trò của du lịch Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân, du lịch Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm Do xuất phát điểm thấp vì vậy không thể đòi hỏi sự ra tăng về số lượng ngay lập tức, điều mà ngành du lịch
Trang 36Việt Nam cần quan tầm là dựa vào những tiềm năng có sẵn để phát triển du lịch về cả về chiều rộng và chiều sâu
II TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM
Đất nước Việt Nam tươi đẹp, điều kiện tự nhiên và bề dày lịch sử văn hoá phong phú, đa dạng và hấp dẫn Con người Việt Nam cần cù, thông minh, hiếu khách và có đôi bàn tay khéo léo Đó là những vốn quý mà nhiều nước
có ngành Du lịch phát triển mong muốn có được Tài nguyên du lịch Việt Nam có thể ví như vỉa ngọc trai quý giá trải dài từ Nam ra Bắc với gần 3000
km bờ biển vẫn chưa được khai thác triệt để Trên bản đồ Đông Nam Á, Việt Nam nằm ở vị trí mặt tiền của một điểm buôn bán sầm uất nhất, gần các đường hàng không quốc tế hết sức thuận tiện
1 Về điều kiện tự nhiên
Bờ biển: Bờ biển Việt Nam kéo dài hơn 3200 km với nhiều cảnh
quan phong phú, đa dạng là một tiềm năng rất có giá trị cho du lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí, tập trung chủ yếu ở miền Trung
Địa hình karst: Địa hình Karst thường tạo nên các điểm du lịch
hấp dẫn Có hơn 200 hang động karst rất đa dạng và có độ karst hoá khác nhau cần được quan tâm khai thác cho ngành Du lịch
Khí hậu: Cả nước nói chung không ở nơi nào có khí hậu quá
nóng không thích nghi được với cuộc sống con người Khí hậu có sự phân hoá
rõ rệt theo vĩ tuyến, theo mùa và theo độ cao ảnh hưởng đến tổ chức du lịch
Trở ngại chính ảnh hưởng đến hoạt động du lịch là bão trên các vùng biển, duyên hải và hải đảo Gió mùa đông bắc trong mùa đông ở phía Bắc, gió bụi trong mùa khô và lũ lụt trong mùa mưa ở phía Nam
Sinh vật: Rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, sinh
thái mà còn có giá trị đối với du lịch, nhất là rừng nguyên sinh hoặc thuần
chủng Diện tích của rừng Việt Nam chủ yếu tập trung ở 3 vùng:
Trang 37 Bắc Trung Bộ: gần 1,7 triệu ha
Duyên hải miền trung: gần 1,7 triệu ha
Tây Nguyên: 3,3 triệu ha
Nước khoáng: Nguồn nước khoáng phong phú ở Việt Nam có ý
nghĩa rất lớn và trực tiếp đối với việc phát triển du lịch Cho đến nay đã phát hiện ra được hơn 400 nguồn nước khoáng tự nhiên và những lỗ khoan nước nhiệt độ từ 270C đến 1050C Thành phần hoá học của nước khoáng rất đa dạng, từ cacbonat đến natri với độ khoáng hoá 33,66g/lít Trong thành phần của nước khoáng, hàm lượng các vi nguyên tố khá cao: Brôm 64,04mg/lit, Iôt 19,04mg/lit, Sắt 373mg/lít, Bo 256mg/lit, SiO2 488mg/lit rất có giá trị đối với việc chữa bệnh Đây là nguồn tài nguyên quý giá cho du lịch điều dưỡng, trị bệnh
Nhận xét:
Theo đánh giá của các chuyên gia thì tài nguyên du lịch Việt Nam có khả năng đem lại cho Việt Nam sự hấp dẫn và chỗ đứng xứng đáng trên thị trường du lịch Du lịch Việt Nam có đủ khả năng buộc thị trường phải chấp nhận giá cao hơn các đối thủ cạnh tranh khác như Thái Lan, Malaysia là những nơi không được thiên nhiên ưu ái nhiều như Việt Nam Tuy nhiên, đó chỉ là ưu thế bề ngoài của một điểm du lịch chứ chưa phải là yếu tố quyết định trong cạnh tranh
2 Về điều kiện nhân văn
Các di tích văn hoá lịch sử: di tích văn hoá lịch sử là tài nguyên
quan trọng hàng đầu của du lịch Cho đến hết năm 2007, toàn quốc đã có hơn
1000 di tích được nhà nước chính thức xếp hạng, trong đó có di tích triều Nguyễn ở cố đô Huế, đô thị cổ Hội An và thắng cảnh Hạ Long đã được UNESCO xếp hạng vào danh mục các di sản văn hoá của nhân loại
Trang 38 Các lễ hội: hấp dẫn khách du lịch không kém gì các di tích văn
hoá - lịch sử Các lễ hội thường gắn với sinh hoạt văn hoá dân gian như hát đối đáp, múa xoè, ném còn, lễ đâm trâu, hát trường ca thần thoại
Văn hoá dân tộc: Là một đối tượng hấp dẫn của hoạt động du
lịch Việt Nam có 54 dân tộc, với nhiều ngành nghề cổ truyền, nhiều kỹ năng độc đáo và các hoạt động văn hoá - văn nghệ đặc sắc, đa dạng
Văn hoá - nghệ thuật: Là quốc gia có tiềm năng lâu đời về văn
hoá nghệ thuật, Việt Nam có một nền kiến trúc có giá trị, được bố cục theo thuyết phong thuỷ của triết học phương Đông và có một nền nghệ thuật truyền thống dân gian phát triển như nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, múa và
đặc biệt là nghệ thuật ẩm thực dân tộc Việt Nam
3 Về nguồn nhân lực
Việt Nam là một nước có dân số trẻ Lực lượng này là nguồn cung cấp lao động chính thúc đẩy sự phát triển của ngành Du lịch nước nhà Người dân Việt Nam cần cù, ham học hỏi và có đôi bàn tay khéo léo đã làm ra những sản vật độc đáo hấp dẫn khách du lịch Đó chính là những lợi thế lớn để phát triển
du lịch
Đội ngũ lao động trong ngành Du lịch đã tăng lên đáng kể trong những năm qua Ngành đã thu hút được trên 30 triệu USD cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch Năm 2007 dự án phát triển nguồn nhân lực cho du lịch Việt Nam đã được đầu tư tổng số vốn là 12 triệu EUR, trong đó 10,8 triệu EUR là khoản tài trợ của Liên minh Châu Âu.1
Du lịch là ngành phụ thuộc nhiều hơn vào yếu tố con người so với các ngành kinh tế khác Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành đòi hỏi những yêu cầu cao và khắt khe Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, với chiến lược đào tạo được hoạch định theo những bước đi thích
1
Mai Châu, năm 2008, Du lịch Việt Nam- Một năm nhìn lại, Báo lao động cuối tuần số 5 ngày 1 tháng 2 năm
2008
Trang 39hợp để từng bước nâng cao chất lượng, đưa đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch đi vào ổn định, chắc chắn chúng ta sẽ phát huy và tận dụng
được tiềm năng to lớn này để đạt được những mục tiêu chủ yếu đã đặt ra
4 Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với việc phát triển du lịch
Cùng với sự đổi mới, Đảng và Nhà nước ta cũng đã hết sức quan tâm đến việc phát triển du lịch, sự quan tâm được thể hiện ở việc Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về du lịch, phối hợp với ngành Du lịch triển khai và thực hiện những chương trình hành động quốc gia về du lịch, đầu tư cho lĩnh vực du lịch…
Chính sách phát triển du lịch của nước ta đã được vạch ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, phát triển ở Đại hội Đảng lần thứ VII và VIII và
cụ thể hoá bằng Nghị quyết 45/CP của Chính phủ, đặc biệt Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Du lịch số 11/1999/PL-UBTVQH10, luật du lịch Việt Nam năm 2005 là cơ sở pháp lý cho ngành du lịch Việt Nam góp phần nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tác động liên ngành để du lịch phát triển, hội nhập nhanh với khu vực và quốc tế
Bên cạnh Pháp lệnh du lịch, luật du lịch, Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật khác liên quan đến du lịch nhằm tăng cường giữ gìn trật tự, trị an và vệ sinh môi trường tại các điểm tham quan, du lịch; đưa ra qui định chi tiết thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước, sửa đổi bổ sung một số ngành nghề kinh doanh du lịch vào danh mục những ngành nghề được hưởng ưu đãi đầu tư…
Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam cũng tham gia ký kết 39 hiệp định thoả thuận, hợp tác du lịch song phương và thực hiện các cam kết đa phương, tranh thủ sự giúp đỡ từ các tổ chức quốc tế như: UNWTO, tổ chức phát triển du lịch
Hà Lan (SNV), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), hiệp hội du lịch châu Á- Thái Bình Dương (PATA) Việt Nam tiếp tục cam kết du lịch trong Tổ chức
Trang 40Thương mại Thế giới (WTO), đàm phán mở cửa dịch vụ hướng tới xây dựng khu vực tự do ASEAN vào năm 2010 Hiện nay, dưới sự chỉ đạo của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch đang tích cực chuẩn bị cho việc tổ chức Diễn đàn Du lịch ASEAN (AFT) năm 2009.1
Về vấn đề đầu tư cho ngành Du lịch, ngoài việc tiếp nhận những dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài cho ngành Du lịch Việt Nam, Nhà nước Việt Nam còn trực tiếp bỏ ra những khoản từ nguồn vốn ngân sách để đầu tư cho cơ sở
hạ tầng du lịch Việt Nam Tính đến nay gần bốn nghìn tỷ đồng được Nhà
nước đầu tư trong những năm qua, tuy chưa đáp ứng được yêu cầu nhưng đây chính là cú huých tạo đà hết sức quan trọng Chính từ "vốn mồi" này, các địa phương đã nhận thức đầy đủ hơn vai trò của việc phát triển cơ sở hạ tầng cho du lịch và cùng đó là hiệu quả của nó, nên đã chủ động đầu tư đúng mức
5 Chiến lược phát triển du lịch ở Việt Nam
Dựa trên cơ sở đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, nhận biết được những cơ may, hiểm họa cũng như xu thế phát triển của thị trường du lịch thế giới và khu vực, du lịch Việt Nam đã chuẩn bị cho mình chiến lược phát triển cụ thể trong giai đoạn 2001 - 2010 Điều này giữ vai trò hết sức quan trọng bởi nó giúp du lịch Việt Nam tự nhìn nhận lại mình trước bối cảnh mới, đồng thời có kế hoạch, chương trình cụ thể để có thể đứng vững trong hội nhập quốc tế, hoàn thành các mục tiêu đã đề ra Trên tinh thần đó, ngày 22/7/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 97/2002/QĐ - TTG phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001- 2010 Quyết định nêu ra mục tiêu chiến lược là “phát triển
du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”
Theo đó, mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển du lịch Việt Nam
2001 - 2010 là: Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên
1
Tổng cục Du lịch Việt Nam, Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 và phương hướng nhiệm vụ năm 2008 của ngành du lịch, năm 2007