1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam

105 720 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Hoàng Điệp
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Thùy Vinh
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

-*** -

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trên thế giới hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới thực sự đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, và hình thành ngày càng rõ rệt hơn Thế giới đang dần dần chuyển mình từ thế đối đầu, từ xung đột để chuyển sang xu thế liên kết hợp tác, cùng nhau phát triển Xu thế toàn cầu hóa kéo theo xu thế phân công lao động ngày càng sâu sắc, đòi hỏi mỗi quốc gia phải tự biết chủ động phát huy những tiềm năng và thế mạnh của mình để hội nhập và phát triển vào nền kinh tế chung toàn cầu Trong cái xu thế hội nhập tất yếu đó, chúng ta đang phải đối mặt với một thực tế là

sự phát triển kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới,và thậm chí giữa các quốc gia trong cùng một khu vực đang diễn ra rất khác nhau và rất không đồng đều, khoảng cách giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển cũng như các nước chậm phát triển ngày càng xa

Và cũng chính từ nhịp đập của toàn cầu hóa, nhu cầu hỗ trợ nhau cùng phát triển đang ngày càng được hiện thực hóa Các quốc gia phát triển dần dần nhận ra được vai trò của mình trong việc giúp đỡ, hỗ trợ các nước nghèo, kém phát triển hay đang phát triển có thể vươn lên tiến kịp thời đại, và tất yếu góp phần đẩy mạnh các mối quan

hệ hợp tác song phương, đa phương trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa… để cùng phát triển Hiện nay, các hình thức hỗ trợ mà các nước phát triển hay các tổ chức quốc tế giành cho các nước chậm phát triển cũng rất đa dạng, mà phổ biến là các hình thức cấp vốn, cho vay với nhiều điều kiện ưu đãi, trong đó có một hình thức rất phổ biến đó là hình thức hỗ trợ phát triển chính thức, gọi tắt là ODA ( Official Development Assisstance)

Thực tế đã chứng minh nguồn vốn này đã góp phần không nhỏ, thậm chí đóng vai trò chủ chốt đối với nhiều quốc gia, trong việc xây dựng, phát triển các tiềm lực

Trang 3

hoặc được nhận viện trợ, qua đó giúp các quốc gia này tiến kịp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế Thế giới, giảm nguy cơ tụt hậu so với những nước có nền kinh tế phát triển

Từ những năm đầu mở của nền kinh tế trở lại đây và đặc biệt là trong những năm gần đây, các dự án viện trợ, đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam ngày càng tăng mạnh, cả về lượng và về chất Cùng với sự tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định, nhu cầu về vốn tập trung phát huy các nguồn lực tiềm năng cần thiết để thúc đẩy tiến trình “Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá” đất nước cũng tăng mạnh và trở thành một trong những yếu tố hết sức quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm Nghị Quyết số 15 NQ/TW ngày 18/3/2002 đã nhấn mạnh rõ vấn đề: "Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế để tranh thủ vốn, công nghệ, thiết bị và thị trường"

Đối với Việt Nam, nguồn vốn ODA luôn là một nguồn vốn quan trọng, có hiệu quả và rất cần thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt trong thời gian tới, khi Việt Nam đẩy nhanh hơn tốc độ phát triển kinh tế - xã hội Trong danh mục dự án đầu tư ưu tiên vận động vốn OAD thời kỳ 2001-2005 và 2006-2010, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra hàng trăm dự án với tổng vốn ODA lên tới hàng chục tỷ USD Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được rất đáng khích lệ, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong công tác thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam Giải pháp khắc phục và nâng cao việc thu hút và sử dụng vốn ODA luôn là một bài toán thường trực

và chưa có lời giải tối ưu cho Chính phủ, các Bộ ngành và các viện nghiên cứu chiến lược cũng như toàn thể những người quan tâm khác

Trong phần nội dụng dưới đây sẽ phần nào làm rõ hơn cho người đọc một cách tổng quát về thực trạng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA trong hơn 10 năm qua (1993-2006), đặc biệt là trong ngành lâm nghiệp, một ngành đầy tiềm năng, và luôn được Chính phủ ưu tiên tạo điều kiện thu hút vốn ODA nhưng lại chưa được khai thác một cách hiệu quả, gây thất thoát lãng phí trầm trọng cũng như làm suy giảm lòng tin của các nước viện trợ Trên cơ sở đó, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, dự

Trang 4

án ODA, phân tích những tồn tại, hạn chế và những cơ hội, thách thức, qua đó đề xuất

và kiến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn ODA ở Việt Nam nói chung và đối với ngành lâm nghiệp nói riêng thời kỳ từ nay đến năm 2020

Nội dung chính của Luận văn bao gồm 3 phần như sau:

Chương I : Tổng quan về vốn ODA

Chương II : Thực trạng việc thu hút và sử dụng vốn ODA trong lĩnh

vực Lâm nghiệp ở Việt Nam Chương III : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn

ODA trong lĩnh vực Lâm nghiệp ở Việt Nam

Trang 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VỐN ODA

I KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VỐN ODA

Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ các nước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển Liên hiệp quốc, trong một phiên họp toàn thể của #ại hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các nước phát triển dành 1% Tổng thu nhập quốc nội (GNP) của mình để hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền vững về kinh tế

và xã hội của các nước đang phát triển

Với tên gọi là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, ODA về nguyên tắc chỉ tập trung cho việc khôi phục và thúc đẩy sự phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội của một quốc gia như xây dựng đường xá, giao thông công cộng, các công trình thuỷ lợi, bệnh viện,

Trang 6

trường học, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường, vv Những dự án được đầu tư từ nguồn vốn ODA thường là các dự án không hoặc ít có khả năng sinh lời cao, ít có khả năng thu hút được nguồn đầu tư tư nhân Vì vậy, nguồn lực này rất có ý nghĩa để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án phục vụ các lợi ích công cộng

Quan điểm về vốn ODA thay đổi cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế Hiện nay, thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã hình thành một xu thế hoàn toàn mới Quan niệm này cho rằng ODA là một hình thức hợp tác phát triển của các nước công nghiệp hoá và các tổ chức quốc tế với các nước chậm phát triển và đang phát triển ODA mà các nước phát triển, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ NGOs… bỏ ra sẽ đem lại lợi ích cho cả đôi bên Các nước phát triển thông qua việc cung cấp ODA, một mặt muốn nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, mặt khác việc đầu tư cho các nước chậm phát triển và đang phát triển nâng cấp kết cấu hạ tầng sẽ tạo ta thị trường rộng lớn hơn, có điều kiện tốt hơn để họ tiến hành đầu tư trực tiếp Theo qui chế quản lí và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (Ban hành kèm theo Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04 tháng 05 năm 2001 của Chính phủ),

Hỗ trợ phát triển chính thức là hoạt động hợp tác phát triển giữa Chính phủ với nhà tài trợ, bao gồm:

 Chính phủ nước ngoài

 Các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, bao gồm:

 Các tổ chức phát triển Liên Hợp Quốc (LHQ) như: Chương trình phát triển của LHQ (UNDP);Quĩ nhi đồng LHQ(UNICEF); Chương trình lương thực thế giới (WFP); Tổ chức lương thực và nông lâm LHQ (FAO); Quĩ dân số LHQ (UNDCF); Tổ chức phát triển công nghiệp của LHQ (UNIDO); Tổ chức y tế thế giới (WHO); Tổ chức văn hoá khoa học và giáo dục (UNESCO); Quĩ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD)…

Trang 7

 Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN)

 Các tổ chức tài chính quốc tế: Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) và ngân hàng tái thiết phát triển quốc tế (IBRD) thuộc nhóm ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB), Quĩ các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), Ngân hàng đầu tư Bắc Âu (NIB)…

2 Đặc điểm

2.1 Mang tính chất ưu đãi cao

Trong nhiều hình thức vay vốn và tài trợ mà một nước giành cho một nước khác, vốn ODA luôn được coi là nguồn vốn mang nhiều tính ưu đãi và ưu tiên hơn cả Các khoản vốn ODA thường có thời gian vay (thời gian hoàn trả) dài, thường từ 20-30 năm trở lên, có thời hạn ân hạn dài (thời gian chỉ phải trả lãi vay, chưa phải trả nợ gốc) Thông thường ODA có một phần viện trợ không hoàn lại (tức là cho không), đây chính

là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại Yếu tố cho vay được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh giữa mức lãi suất viện trợ và mức lãi suất tín dụng thương mại trong tập quán quốc tế Đối với ODA ưu đãi, yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25% giá trị khoản vay Nguồn vốn vay của các tổ chức WB, ADB chỉ có phí phục vụ, thời hạn cho vay dài bao gồm cả thời hạn ân hạn Cụ thể: Vay IDA không lãi suất, phí phục vụ 0,75%/năm, thời hạn vay 40 năm, bao gồm cả thời kỳ

ân hạn 10 năm; Vay ADF không lãi suất,phí phục vụ 1%, thời hạn cho vay 40 năm, bao gồm cả thời kỳ ân hạn 10 năm; Vay các chính phủ tuỳ thuộc vào loại đồng tiền cho vay khác nhau thì mức lãi suất khác nhau, thời gian vay từ 20-40 năm, trong đó thời kỳ ân hạn từ 5-10 năm

Tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển và vì mục tiêu phát triển Thông thường mỗi nước cung cấp ODA đều có những chính sách riêng tập trung vào lĩnh vực họ quan tâm hoặc

Trang 8

có khả năng (Công nghệ, kinh nghiệm quản lí) Đồng thời mục tiêu ưu tiên của các nước này cùng thay đổi theo từng giai đoạn Vì vậy, việc nắm được hướng ưu tiên của các nước, các tổ chức là hết sức cần thiết đối với những nước tiếp nhận viện trợ

Hiện tại Việt Nam đang được hưởng các khoản vay ODA ưu đãi (vốn vay ưu đãi) của cộng đồng các nhà tài trợ ODA ưu đãi chỉ dành cho những nước (chủ yếu những nước đang phát triển) có thu nhập thấp, bình quân đầu người dưới 850 USD/người/năm

và nó có một số đặc điểm cơ bản sau: lãi suất thấp, thời hạn vay dài, thời gian ân hạn cao Trong số hơn 430 nhà tài trợ mà Việt Nam có mối quan hệ vay mượn dưới hình thức ODA hiện nay có 3 nhà tài trợ ODA lớn nhất, chiếm tỷ trọng từ 70% - 80% tổng nguồn vốn ODA hàng năm, đó là: Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu á (ADB) ODA của WB thường có lãi suất 0,75%/năm, thời hạn cho vay 40 năm, trong đó 10 năm ân hạn, có các điều khoản ràng buộc về mua sắm hàng hoá, dịch vụ đi kèm ODA của ADB thường có lãi suất 1%/năm, thời hạn cho vay 40 năm, trong đó 10 năm ân hạn và có các điều khoản ràng buộc về mua sắm hàng hoá, dịch vụ đi kèm ODA của Nhật Bản thường có lãi suất từ 0,75%/năm đến tối đa là 3%/năm tuỳ theo tính chất từng dự án, thời hạn cho vay 30 - 40 năm, trong đó có 8 - 10 năm ân hạn và có ràng buộc về tư vấn, hàng hoá, dịch vụ đi kèm Các nhà tài trợ còn lại cũng áp dụng các điều kiện tương tự

Trang 9

Tuy nhiên, viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là trợ giúp hữu nghị mà còn là công cụ để kiếm lời về kinh tế lẫn chính trị cho các nước tài trợ Trong nhiều trường hợp, ODA thường gắn với những điều kiện ràng buộc về kinh tế, xã hội, thậm chí cả về chính trị Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu

về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới).Ví dụ:

 Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo

hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao

 Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới)

 Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất

Trang 10

 Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia

Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút

và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần

II PHÂN LOẠI VỐN ODA

cụ thể các điều kiện cho vay ưu đãi

 ODA hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc dưới các khoản vay

ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại nhưng tính chung lại, “yếu tố không hoàn lại” đạt không dưới 25% của tổng giá trị các khoản đó

2 Theo mục đích

 Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội và môi trường Đây thường là những khoản vay ưu đãi

Trang 11

 Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu tiền đầu tư, phát triển thể chế và nguồn nhân lực… Loại viện trợ này chủ yếu là không hoàn lại

3 Theo điều kiện

 ODA không ràng buộc: Việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bời nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng

 ODA có ràng buộc

 Bởi nguồn sử dụng: Việc sắm hàng hóa, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn ODA chỉ giới hạn trong một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (Đối với viện trợ song phương), hoặc công ty của các nước thành viên (Với viện trợ đa phương)

 Bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng ở một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể

 ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chi ở bất cứ nơi nào

III PHÂN BIỆT ODA VÀ ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP

1 Giống nhau:

Đều là hình thức đầu tư quốc tế: Là sự di chuyển các loại tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý….từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận đầu tư trên phạm vi toàn cầu Ngoài ra còn có một số đặc điểm như:

 Chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài

 Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới (liên quan đến khía cạnh chính sách, pháp luật, hải quan và cước phí vận chuyển)

Trang 12

 Vốn đầu tư được tính bằng ngoại tệ

 Được thực hiện tại nước nhận đầu tư (nhận viện trợ)

 Phải qua quá trình, thủ tục thẩm định, xét duyệt đầu tư…

2 Khác nhau:

 Đầu tư gián tiếp (hay đầu tư tài chính): Chủ đầu tư bỏ tài sản (chủ yếu dưới dạng vốn) để mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, trái phiếu… nhằm hưởng lợi tức

mà không trực tiếp quản lí tài sản của mình Thời gian đầu tư thừờng là ngắn hạn

 ODA (Viện trợ phát triển chính thức): là hình thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển #iều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% ODA luôn đi kèm các điều kiện ưu đãi (Vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, lãi suất hấp dẫn…), mang lại lợi ích cho cả 2 bên

IV CÁC HÌNH THỨC VIỆN TRỢ VỐN ODA

1 Hỗ trợ dự án

“Dự án” là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trong một thời hạn nhất định, dựa trên những nguồn lực xác định Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật

 “Dự án đầu tư” là dự án tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định

 “Dự án hỗ trợ kỹ thuật” là dự án tập trung chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố kỹ thuật phần mềm, bao gồm các dự án phát triển năng lực thể chế, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ hoặc chuyển giao kiến thức, kinh nghiệm và

Trang 13

các dự án cung cấp các yếu tố đầu vào về kỹ thuật để chuẩn bị thực hiện chương trình,

dự án đầu tư

2 Hỗ trợ cán cân thanh toán

Thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hỗ trợ nhập khẩu Ngoại tệ, hàng hoá, dây chuyền sản xuất chuyển vào qua hình thức này

có thể được sử dụng để hỗ trợ cho ngân sách Điều này xảy ra khi hàng hoá nhập vào nhờ hình thức này được bán trên thị trường trong nước và số thu nhập bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của chính phủ

3 Hỗ trợ chương trình

“Chương trình” là một tập hợp các hoạt động, các dự án có liên quan đến nhau và

có thể liên quan đến nhiều ngành kinh tế, kỹ thuật, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau, được thực hiện thông qua phương pháp tiếp cận liên ngành, có thời gian thực hiện tương đối dài hoặc theo nhiều giai đoạn và nguồn lực thể hiện có thể được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, theo nhiều phương thức khác nhau

V NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ LĨNH VỰC ƯU TIÊN SỬ DỤNG VỐN ODA

Trang 14

 Chính phủ nắm vai trò quản lí và chỉ đạo, phát huy cao độ tính chủ động, trách nhiệm của cơ quan chủ quản,các cơ quan, đơn vị thực hiện;

 Bảo đảm tính tổng hợp, thống nhất và đồng bộ trong công tác quản lí ODA;

 Bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các bên có liên quan, trong đó có các đối tượng thụ hưởng;

 Bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch về quyền hạn và trách nhiệm của các bên

có liên quan;

 Bảo đảm hài hoà thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ

Quá trình thu hút, quản lí và sử dụng nguồn vốn ODA phải tuân theo các quy định của Luật ngân sách Nhà nước, quy chế quản lí và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Quy chế quản lí vay và trả nợ nước ngoài và các chế độ quản lí hiện hành khác của Nhà nước Trường hợp điều ước quốc tế về ODA đã được ký kết giữa Nhà nước hoặc chính phủ với nhà tài trợ có quy định khác thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó

2 Các lĩnh vực ưu tiên sử dụng ODA

Vốn ODA không hoàn lại được ưu tiên sử dụng cho những chương trình, dự án/chương trình thuộc các lĩnh vực:

 Xoá đói giảm nghèo, trước hết tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; Y

tế, dân số và phát triển;

 Giáo dục, phát triển nguồn nhân lực;

 Các vấn đề xã hội (tạo việc làm, cấp nước sinh hoạt, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội);

 Bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nghiên cứu khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai;

Trang 15

 Nghiên cứu, chuẩn bị các chương trình, dự án phát triển (qui hoạch, điều tra

cơ bản);

 Cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của các cơ quan quản lí Nhà nước ở Trung ương, địa phương và phát triển các thể chế;

 Một số lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng chính phủ

Trong quá trình thực hiện, danh mục và thứ tự các lĩnh vực ưu tiên sử dụng nguồn vốn ODA sẽ được chính phủ điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển

Trang 16

VI VAI TRÒ CỦA VỐN ODA ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ

Một trong những nội dung quan trọng đối với những nước nghèo là phải huy động

và khơi dậy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Trong đó các nguồn lực trong nước có vai trò và ý nghĩa quyết định, các nguồn lực bên ngoài có vai trò và ý nghĩa quan trọng Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là một trong những nguồn lực bên ngoài cần được quan tâm và khai thác Nếu kết hợp với các nguồn lực khác một cách hợp lí thì sẽ có thể mang lại những hiệu quả thiết thực đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội

1 Là nguồn ngoại lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội

Vốn vay và tài trợ quốc tế là hình thức hợp tác phát triển giữa các nước phát triển, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển Một bộ phận của vốn vay và tài trợ quốc tế được dành cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội như đầu tư cho xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, nâng cấp mạng lưới y tế, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát triển giáo dục.… Nguồn vốn này được sử dụng cho những dự án quan trọng nhưng ít thu hút được đầu tư trong nước

ODA là một bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt của các nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế Ngày nay, hầu hết các nước đều thừa nhận rằng ODA là một nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển kinh tế-xã hội Những lợi ích mà nguồn vốn này mang lại không chỉ đem lại hiệu quả nhất định đối với nước vay và tiếp nhận tài trợ mà còn có ích cho các tổ chức và các nước cho vay và tài trợ quốc tế Trong lĩnh vực phát triển Cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, vai trò của ODA thể hiện ở những lợi ích mà nó đem lại như:

 Thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua đầu tư phát triển các công trình thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng; trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy GDP tăng trưởng và tạo

ra công ăn việc làm

Trang 17

 Nhờ có nguồn vốn ODA mà các nước đi vay hoặc tiếp nhận tài trợ có thể thực hiện được những dự án phát triển kết cấu hạ tầng có vốn đầu tư lớn

 Các dự án hoặc chương trình đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng có sử dụng vốn vay và tài trợ này hầu hết là những công trình cơ sở mức độ kỹ thuật phức tạp, yêu cầu trình độ công nghệ cao mà các nước đi vay hoặc tiếp nhận tài trợ khó có thể đáp ứng được

 ODA góp phần hỗ trợ cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng xã hội như y tế và chăm sóc sức khoẻ ban đầu, giáo dục ở tất cả các cấp học (Đại học, trung học phổ thông, trung học cơ sở và tiểu học) và hệ thống đào tạo nghề… Những chương trình quốc gia cũng nhận được sự hỗ trợ của ODA như chương trình tiêm chủng mở rộng; chương trình nước sạch nông thôn; chương trình hỗ trợ các xã nghèo…

 ODA được sử dụng để hỗ trợ bảo vệ môi trường sinh thái: Phát triển các hệ thống cấp thoát nước, trồng và chăm sóc rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ…

2 Góp phần cải cách và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong lĩnh vực cải cách kinh tế , ODA được sử dụng để tăng cường năng lực và thể chế thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật (TA) trong nhiều lĩnh vực như luật pháp, cải cách hành chính công, ngân hàng, tài chính…

ODA cũng góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế: Đối với các nước đang phát triển, ODA được ưu tiên sử dụng nhiều trong các lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với xoá đói giảm nghèo….Các lĩnh vực thu hút được nhiều ODA như giáo dục, đào tạo, y tế, quản lí, khoa học công nghệ, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước, hạ tầng đô thị, bảo vệ môi trường, tăng cường năng lực và phát triển thể chế… Qua đó làm thay đổi cục diện cơ cấu các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế

3 Góp phần đẩy mạnh phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại

Trang 18

ODA phản ánh một trong những mối quan hệ quốc tế giữa một bên là các nước phát triển và một bên là các nước đang phát triển, chậm phát triển thông qua việc cung cấp các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản vay ưu đãi Chính vì thế, việc tăng cường thu hút ODA góp phần thúc đẩy mối quan hệ song phương, đa phương giữa các nước và các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ… trên toàn thế giới, qua đó mở rộng sự hợp tác trên nhiều phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học, xã hội, công nghệ… giữa nước tài trợ và các tổ chức tài trợ với các nước tiếp nhận viện trợ, thúc đẩy mối quan hệ lẫn nhau giữa các nước trong phạm vi khu vực và toàn cầu

VII CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA

1 Hiệu quả của việc sử dụng vốn ODA

Việc viện trợ vốn, kỹ thuật, công nghệ….của một quốc gia dành cho một quốc gia khác không phải đơn thuần chỉ dựa vào mối quan hệ song phương giữa hai quốc gia này, chính tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn viện trợ của nước khác dành cho nước mình đóng vai trò then chốt trong các quyết định cấp viện trợ Chính vì vậy mà các quốc gia phát triển đã xây dựng nên một hệ thống tiêu chi đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn ODA nhằm đánh giá chính xác vấn đề cấp ODA cho nước khác Trong đó, Việc các quốc gia tiếp nhận ODA thực hiện đúng và đầy đủ các tiêu chí sau sẽ được coi là sử dụng có hiệu quả vốn ODA:

1.1 Thực hiện các mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia

Hầu hết các chương trình, dự án ODA của nước nhận viện trợ (là những nước đang hoặc chậm phát triển) đều được ưu tiên hướng vào các mục tiêu như:

 Xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội đất nước

 Thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo

Trang 19

 Hỗ trợ bảo vệ môi trường sinh thái

 Tranh thủ tiếp thu khoa học,công nghệ, kinh nghiệm quản lí tiến tiến trên thế giới

 Tăng cường năng lực, phát triển thể chế

ODA được coi là hiệu quả trước hết phải đạt được các mục tiêu, chương trình đề

ra, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội của quốc gia nhận viện trợ

1.2 Thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt với các nước trên thế giới trong tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế

Thu hút ngày càng nhiều ODA ở các quốc gia đang phát triển chứng tỏ vị thế của các nhà tài trợ cũng như mối quan hệ ngày càng mật thiết hơn giữa các bên tham gia Việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này cũng chứng tỏ uy tín của các nước nhận tài trợ trên trường quốc tế, tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trực tiếp khác từ bên ngoài Qua đó, góp phần thúc đẩy quan hệ nhiều mặt với phương châm cùng có lợi giữa các quốc gia và các tổ chức tài trợ với nước nhận viện trợ Đó cũng là mục tiêu và

xu thế chung trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Thu hút ngày càng nhiều vốn ODA và sử dụng có hiệu quả đòi hỏi phải tăng cường các mối quan hệ giao lưu trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị văn hoá, xã hội trong phạm vi khu vực và thế giới

2 Hệ thống cơ sở pháp lý

Có thể nói môi trường đầu tư và pháp lý của nước tiếp nhận viện trợ sẽ hoặc là thúc đẩy, hoặc là kìm hãm khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA Một môi trường thông thoáng, có nhiều chính sách ưu đãi về đất đai, thuế… sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn là các qui trình, thủ tục dài dòng, hệ thống văn bản pháp lý thiếu tính đồng bộ và nhất quán…

Trang 20

Trong điều kiện nền kinh tế của các nước tiếp nhận viện trợ còn gặp rất nhiều khó khăn và rất cần đến nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài, trong đó ODA là nguồn viện trợ khá quan trọng thì việc tinh giản hoá các quy trình, thủ tục đầu tư, triển khai và thực hiện, kiện toàn hệ thống văn bản pháp lý liên quan, cũng như tạo ra nhiều chính sách ưu đãi

để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài là điều cần thiết, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển

3 Các cam kết giữa nước nhận viện trợ và các nhà tài trợ

Đối với phần lớn các chương trình, dự án ODA, mỗi nhà tài trợ đều có những chính sách và quy định riêng biệt Hầu hết các nhà tài trợ có chiến lược hợp tác phát triển hoặc các định hướng ưu tiên hợp tác khác nhau với nước nhận viện trợ Các văn kiện này cũng có những sự khác nhau về nội dung và cách tiếp cận Thông thường, mỗi nhà tài trợ lại có những quy trình, thủ tục và phương pháp quản lí các chương trình, dự

án viện trợ khác nhau, chưa kể đến việc các quy trình, thủ tục này có thể cũng rất khác với các quy định của hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận viện trợ Việc tồn tại cùng một lúc quá nhiều các quy trình, thủ tục khác nhau này sẽ tạo nên một gánh nặng lớn cho bộ máy hành chính của quốc gia tiếp nhận viện trợ, dẫn đến việc trùng lắp trong đầu

tư nguồn lực, tạo ra sự lãng phí về thời gian, tiền bạc của các phía đối tác liên quan trong khâu thiết kế, xây dựng dự án; chưa kể đến khâu thực hiện và quản lí dự án, trong

đó sự khác biệt trong pháp luật giữa nước nhận viện trợ và nhà tài trợ trong các lĩnh vực đấu thầu, mua sắm, kế toán, theo dõi dự án… có thể gây khó khăn cho các Ban quản lí

dự án, đối tượng chịu sự ràng buộc của cả hai hệ thống này

4 Tính khả thi, quy mô của chương trình, dự án đầu tư bằng vốn ODA

Trước khi tiến hành thực hiện bất cứ một dự án, chương trình nào cũng đòi hỏi sự thẩm định kỹ lưỡng về tính khả thi của chúng trong mối tương quan giữa các điều kiện

cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân lực, địa hình, thời tiết… Những yếu tố này rất quan trọng, góp phần vào khả năng thành công của những dự án đó Thiếu tính khả thi, dự án khi

Trang 21

triển khai vào thực tế sẽ gặp rất nhiều khó khăn, kéo dài thời gian thực hiện, phải thiết

kế lại, thậm chí gây lãng phí vốn do không thể thực hiện được chương trình, dự án đã thiết kế Mặt khác, quy mô của dự án cũng cần được cân nhắc và xem xét Nếu triển khai trong diện rộng, quy mô lớn thì hiệu quả sử dụng nguồn vốn mang lại cũng có thể

bị giảm nếu không chuẩn bị các điều kiện tương hỗ phòng trừ Để đảm bảo tính khả thi tốt, cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng và quy hoạch vùng dự án một cách rõ ràng

5 Khả năng vốn đối ứng

“Vốn đối ứng” là giá trị các nguồn lực (tiền mặt, hiện vật) huy động trong nước

để chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án ODA theo yêu cầu của chương trình,

dự án Tuỳ theo từng chương trình, dự án, nhu cầu vốn đối ứng là khác nhau Vốn đối ứng có thể bao gồm toàn bộ hoặc một số thành phần dưới đây:

 Vốn chuẩn bị chương trình, dự án ODA

 Chi phí nghiên cứu, điều tra, khảo sát, thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu ban đầu

 Chi phí lập văn kiện chương trình, dự án

 Chi phí cho ban chuẩn bị chương trình, dự án (kể cả chi phí cần thiết để đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm nòng cốt cho Ban quản lí chương trình, dự

án trong giai đoạn sau)

Trong đó, vốn chuẩn bị thực hiện và thực hiện chương trình, dự án ODA bao gồm:

 Chi phí cho Ban quản lí chương trình, dự án (lương, thưởng, phụ cấp, văn phòng, phương tiện làm việc, chi phí hành chính, theo dõi, đánh giá dự án, giám sát chất lượng, nghiệm thu, bàn giao, quyết toán)

Trang 22

 Chi phí thẩm định thiết kế, duyệt tổng dự toán, hoàn tất các thủ tục đầu tư xây dựng và thủ tục hành chính cần thiết khác Chi phí tổ chức đấu thầu; Chi phí hội nghị, hội thảo, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ quản lí và thực hiện chương trình, dự án

 Chi phí tiếp nhận và phổ biến công nghệ, kinh nghiệm, kỹ năng quốc tế Chi phí tuyên truyền, quảng cáo các chương trình, dự án và các hoạt động tham dự của cộng đồng Chi trả các loại thuế gián thu, phí hải quan, phí bảo hiểm theo quy định hiện hành

 Chi phí kiểm toán; chi phí thực hiện một số hoạt động cơ bản của chương trình, dự án (khảo sát, thiết kế kỹ thuật, thi công, đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư, xây dựng một số hạng mục công trình, mua sắm một số trang thiết bị)

 Chi phí dự phòng và các chi phí hợp lý khác

Các chương trình, dự án ODA, kể cả vốn không hoàn lại và vốn vay, các nhà tài trợ thường yêu cầu bên tiếp nhận phải có một khoản vốn đối ứng nhất định Do đó, các chương trình, dự án ODA đều phải bảo đảm đủ số vốn đối ứng để chuẩn bị thực hiện và thực hiện Nguồn vốn và cơ chế sử dụng vốn đối ứng phải được quy định trong quyết định phê duyệt văn kiện chương trình, dự án ODA

Vốn đối ứng thuộc diện ngân sách Nhà nước cấp phát do cơ quan chủ quản bố trí đầy đủ, kịp thời, phù hợp với tiến độ, với quy định pháp luật và điều ước quốc tế về ODA đã ký kết

Các chương trình, dự án ODA thuộc diện Nhà nước cho vay lại từ ngân sách hoặc cấp phát một phần thì chủ dự án phải tự lo toàn bộ vốn đối ứng và phải giải trình đầy đủ

về khả năng và kế hoạch đảm bảo vốn đối ứng trước khi ký hợp đồng vay lại

Khả năng vốn đối ứng thường liên quan mật thiết đến công tác giải ngân nhanh hay chậm của một chương trình hay dự án Nguồn vốn đối ứng đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện mua sắm vật tư, thiết bị… và nhất là công tác đền bù giải

Trang 23

phóng mặt bằng Dự trù một quỹ đối ứng cần thiết đủ để thực hiện tốt giải ngân sẽ đảm bảo tiến độ và hiệu quả của chương trình, dự án đó

6 Năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ trong công tác thẩm định, phê duyệt và quản lý các dự án ODA

Đội ngũ cán bộ luôn đóng vai trò trung tâm của các chương trình, dự án Năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ tốt sẽ tạo hiệu quả trong công tác thẩm định, phê duyệt cũng như trong quá trình triển khai, theo dõi và đánh giá dự án và ngược lại

Cần phải nói thêm rằng, không chỉ trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ các cấp quản lí và thực hiện trong nước mà cả những chuyên gia tư vấn nước ngoài cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả của mỗi dự án Cần tăng cường đào tạo và nâng cao năng lực thể chế để bảo đảm sự thành công và hiệu quả của các chương trình,

dự án đó

Tóm lại, ODA là một bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt của các nguồn vốn vay

và tài trợ quốc tế Nguồn vốn này có những ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển kinh tế -xã hội của mỗi quốc gia, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là đối với các nước đang phát triển

ODA chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, vì vậy cần xem xét và đánh giá toàn diện khả năng ảnh hưởng của các nhân tố này để góp phần đẩy mạnh việc thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng ODA phù hợp với đặc thù của từng chương trình, dự án đầu tư

Trang 24

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA TRONG NGÀNH LÂM NGHIỆP Ở VIỆT NAM

I QUY TRÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA Ở VIỆT NAM

Quy trình thu hút, quản lí và sử dụng ODA được tiến hành theo các bước chủ yếu sau:

1 Vận động, đàm phán ký kết điều ước quốc tế khung về ODA

Danh mục các chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA tại hội nghị thường niên nhóm Tư vấn các nhà tài trợ (Hội nghị CG) Trong tuần thứ nhất của tháng 8 hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản hướng dẫn các cơ quan chủ quản chuẩn bị vào trước cuối tháng 9 hàng năm, các cơ quan chủ quản gửi cho Bộ Kế hoạch và đầu tư danh mục các chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA tại hội nghị CG thường niên

 Phối hợp các hoạt động vận động ODA, bao gồm: Tổ chức hội nghị điều phối ODA theo ngành, tổ chức hội nghị điều phối ODA theo lãnh thổ, các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước ngoài tổ chức vận động ODA….Trên cơ sở kết quả vận động ODA, Bộ Kế hoạch và đầu tư tổng hợp trình thủ tướng Chính phủ danh mục chương trình, dự án ODA đối với nhà tài trợ tương ứng do các cơ quan chủ quản (Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh) đề xuất và các chương trình, dự án ODA do nhà tài trợ

đề xuất

 Đàm phán, ký kết điều ước quốc tế khung về ODA Bộ kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, văn phòng Chính phủ và các cơ quan có nhu cầu ODA chuẩn bị nội dung và tiến hành đàm phán, ký kết với nhà tài trợ các điều ước quốc tế khung về ODA

 Thông báo điều ước quốc tế khung về ODA Sau khi điều ước quốc tế khung

Trang 25

quan chủ quản về chương trình, dự án được nhà tài trợ đồng ý xem xét tài trợ trong từng thời kỳ để tiến hành các bước chuẩn bị tiếp theo

2 Chuẩn bị, thẩm định và phê duyệt nội dung chương trình dự án ODA

 Công tác chuẩn bị được thực hiện như sau: Trước hết, cơ quan viện trợ sẽ yêu cầu lập văn kiện chương trình, dự án ODA, sau đó là việc xác định cơ chế tài chính trong nước đối với việc sử dụng ODA Sau khi hoàn tất các khâu trên, cơ quan hoặc bộ phận tiếp nhận ODA sẽ lên kế hoạch chuẩn bị vốn cho chương trình, dự án ODA đó Nội dung chủ yếu của kế hoạch chuẩn bị chương trình, dự án ODA:

 Mục tiêu và kết quả phải đạt được của quá trình chuẩn bị kèm theo đề cương chi tiêt và yêu cầu về nội dung đối với văn kiện chương trình, dự án.Trình tự các bước chuẩn bị, kết quả chủ yếu của mỗi bước, hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng kết quả

 Phân công thực hiện, tổ chức và nêu rõ các đối tượng cần được thu hút tham gia quá trình chuẩn bị

 Những khác biệt giữa thủ tục của Nhà tài trợ và nước nhận viện trợ`

 Thời biểu hoàn thành các hoạt động, kết quả của quá trình chuẩn bị và lịch biểu huy động các đầu vào tương ứng

 Thẩm định và phê duyệt nội dung chương trình dự án ODA sẽ do thủ tướng chính phủ có thẩm quyền phê duyệt

3 Đàm phán, ký kết, phê chuẩn hoặc phê duyệt điều ước quốc tế cụ thể

về ODA

 Đàm phán: Thủ tướng Chính phủ chỉ định cơ quan thay mặt Chính phủ chủ trì đàm phán Điều ước quốc tế về ODA với Bên nước ngoài

Trang 26

 Ký kết: Trường hợp điều ước quốc tế về ODA phải được ký kết với danh nghĩa Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét quyết định sau khi cơ quan chủ quản chủ trì đàm phán thực hiện trình Thủ tướng Chính phủ về kết quả đàm phán, nội dung các văn bản thoả thuận sẽ ký với Bên nước ngoài, đồng thời đề xuất người thay mặt Chính phủ ký điều ước quốc tế về ODA với Bên nước ngoại Văn bản trình Thủ tướng Chính phủ phải kèm theo ý kiến bằng văn bản của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Bộ tư pháp

 Phê chuẩn hoặc phê duyệt: Chính phủ phê duyệt điều ước quốc tế về ODA

4 Thực hiện chương trình, dự án ODA

Việc quản lí và sử dụng vốn ODA cho các công trình xây dựng cơ bản phải tuân theo quy chế này và các chế độ quản lí hiện hành của Nhà nước về quản lí đầu tư và xây dựng, trường hợp điều ước quốc tế về có quy định khác thì tuân theo Điều ước quốc tế về ODA đã ký kết

5 Theo dõi, đánh giá, nghiệm thu, quyết toán và bàn giao kết quả chương trình, dự án ODA

 Công tác theo dõi, đánh giá các chương trình, dự án ODA phải được tiến hành thường xuyên, định kỳ cập nhật tình hình thực hiện chương trình, dự án và phải:

 Xác định rõ các nguồn lực sử dụng, tiến độ thực hiện, thời hạn hoàn thành, mục tiêu chất lượng và tiêu chí chấp nhận kết quả đối với từng dự án

 Thiết lập hệ thống thông tin nội bộ, thu thập và lưu trữ đầy đủ thông tin, dữ liệu, tài liệu, sổ sách, chứng từ của các chương trình, dự án, báo cáo của nhà thầu…

 Lập báo cáo thực hiện theo quy định, cung cấp chia sẻ thông tin qua hệ thống theo dõi đánh giá giữa các cấp chủ quản

 Nghiệm thu, quyết toán và bàn giao kết quả chương trình, dự án:

Trang 27

 Việc thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, cấp phép xây dựng, quản lí chất lượng công trình, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo hiểm công trình xây dựng thuộc chương trình, dự án ODA đầu tư được thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lí đầu tư và xây dựng

 Đối với chương trình, dự án ODA hỗ trợ kỹ thuật, sau khi kết thúc thực hiện, Chủ dự án tổ chức nghiệm thu và tiến hành các biện pháp cần thiết để tiếp tục khai thác và phát huy kết quả đạt được

 Việc quyết toán chương trình, dự án ODA phải được thực hiện phù hợp với quy định trong các điều ước quốc tế về ODA và các quy định của Nhà nước

II THỰC TRẠNG NGÀNH LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

1 Tài nguyên rừng và tiềm năng

Do việc quản lý sử dụng chưa bền vững và nhu cầu rất lớn về khai hoang đất rừng

và lâm sản cho phát triển kinh tế - xã hội, nên diện tích và chất lượng rừng trong nhiều năm trước đây đã bị suy giảm liên tục Theo các tài liệu đã có được, năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43%, đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ rừng 27,2%; thời kỳ 1980 - 1990, bình quân mỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng

đã bị mất Nhưng từ 1990 trở lại đây, diện tích rừng đã tăng liên tục nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên (trừ vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ diện tích rừng vẫn có chiều hướng giảm) Theo công bố tại Quyết định số 1970/QĐ/BNN-KL-LN ngày 06 tháng 07 năm 2006, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2005, diện tích rừng toàn quốc là 12,61 triệu ha (độ che phủ rừng 37%) trong đó 10,28 triệu ha rừng tự nhiên và 2,33 triệu ha rừng trồng; được phân chia theo 3 loại rừng như sau:

 Rừng đặc dụng: 1,93 triệu ha, chiếm 15,2%;

 Rừng phòng hộ: 6,20 triệu ha, chiếm 49,0%;

 Rừng sản xuất : 4,48 triệu ha, chiếm 35,8%

Trang 28

Tổng trữ lượng gỗ là 813,3 triệu m3 (rừng tự nhiên chiếm 94%, rừng trồng 6%)

và khoảng 8,5 tỷ cây tre, nứa Trữ lượng gỗ bình quân của rừng tự nhiên là 76,5/m3/ha

và rừng trồng là 40,6 m3/ha Gỗ tập trung chủ yếu ở 3 vùng là Tây Nguyên chiếm 33,8%, Bắc Trung Bộ 23% và Nam Trung Bộ 17,4% tổng trữ lượng Tổng diện tích lâm sản ngoài gỗ được gây trồng là 379.000 ha, chủ yếu tập trung ở 3 vùng Bắc Trung

Bộ, Tây Nguyên và Đông Bắc

Với vốn rừng như trên, chỉ tiêu bình quân hiện nay ở nước ta là 0,15 ha rừng/người và 9,16 m3 gỗ/người, thuộc loại thấp so với chỉ tiêu tương ứng của thế giới

là 0,97 ha/người và 75m3/người

Diện tích đất chưa sử dụng toàn quốc là 6,76 triệu ha, trong đó đất trống đồi núi trọc là 6,16 triệu ha chiếm 18,59% diện tích của cả nước; phân bố giảm dần theo vùng như sau: vùng Đông Bắc chiếm 28% tổng diện tích đất trống đồi núi trọc, Tây Bắc 21%, Bắc Trung Bộ 19%, duyên hải Nam Trung Bộ 13%, Tây Nguyên 12%, Đông Nam Bộ 5% Trong tổng diện tích đất trống đồi núi trọc có tới 71% diện tích phân bố

ở độ cao < 700 m và 38% diện tích phân bố ở độ dốc từ 16 - 350 Diện tích đất trống đồi núi trọc này sẽ là tiềm năng, nhưng cũng là thách thức cho phát triển sản xuất lâm nghiệp trong giai đoạn tới, vì phần lớn là đất dốc, bạc màu và phân bố rải rác

2 Tồn tại, yếu kém trong ngành Lâm nghiệp

Diện tích rừng tuy có tăng nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học rừng tự nhiên nhiều nơi vẫn tiếp tục bị suy giảm (năm 2005 so với kết quả tổng kiểm kê rừng năm 1999, diện tích rừng tự nhiên là rừng giàu giảm 10,2%, rừng trung bình giảm 13,4%; trong khi đó rừng phục hồi tăng 20,7%, rừng trồng tăng 50,8%) Tiến độ thực hiện trồng rừng của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng chưa đạt mục tiêu, riêng (giai đoạn 1998 - 2005, tổng diện tích rừng trồng mới đạt 70% kế hoạch, trồng rừng nguyên liệu công nghiệp chỉ đạt 49% kế hoạch) Một số địa phương, rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác bất hợp pháp, làm nương rẫy (từ

Trang 29

năm 2000 đến năm 2005, bình quân có 9.345 vụ phá rừng/năm và diện tích bị chặt phá 2.160 ha/năm) và hiện tượng lũ ống, lũ quét, hạn hán, sụt lở đất bất thường có một phần nguyên nhân do mất hoặc suy thoái rừng;

Tăng trưởng của ngành Lâm nghiệp thấp và chưa bền vững (theo Tổng cục Thống

kê, tốc độ phát triển của ngành Lâm nghiệp năm 2000: 4,9%, năm 2001: 1,9%, năm 2002: 1,6%, năm 2003: 1,1%, năm 2004: 1,1%, năm 2005: 1,2%), lợi nhuận thấp, sức cạnh tranh yếu, tiềm năng tài nguyên rừng chưa được khai thác tổng hợp và hợp lý, nhất là lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ môi trường Rừng trồng cũng như rừng tự nhiên năng suất và chất lượng thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu cho phát triển kinh tế -

xã hội, đặc biệt là nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu;

Ngành công nghiệp chế biến lâm sản mấy năm gần đây tuy phát triển nhanh nhưng chủ yếu là tự phát, chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, tính cạnh tranh chưa cao, sự liên kết và phân công sản xuất chưa tốt, chưa xây dựng được thương hiệu trên thị trường thế giới, thiếu vốn đầu tư cho phát triển và hiện đại hoá công nghệ; nguồn gỗ nguyên liệu chưa ổn định, phụ thuộc vào nhập khẩu (trong 4 năm qua, kim ngạch xuất khẩu chế biến lâm sản tăng đột biến 400%, nhưng nguyên liệu nhập khẩu chiếm tới 80% tổng nhu cầu);

Tác động của ngành lâm nghiệp đối với xoá đói, giảm nghèo còn hạn chế, chưa tạo ra được nhiều việc làm; thu nhập của người làm nghề rừng thấp và chưa ổn định (tại Thanh Hoá, thu nhập bình quân từ lâm nghiệp của nhóm hộ khá đạt khoảng 461 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ thoát nghèo đạt 786 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ nghèo đạt 241 nghìn đồng/người/năm), đa số người dân miền núi chưa thể sống được bằng nghề rừng, đời sống của cán bộ, công nhân viên lâm nghiệp còn rất khó khăn

III THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA

1 Tình hình vận động và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam

Trang 30

Công tác vận động nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) ở Việt Nam trong thời gian qua đã được thực hiện tích cực, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Việc vận động ODA đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và ở tất cả các cấp từ Trung ương đến cơ sở cũng như ở các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài

Thông qua các Hội nghị CG thường niên, các nhà tài trợ đã cam kết ODA cho Việt Nam với mức năm sau cao hơn năm trước và dự kiến tổng lượng đạt 14,7 tỷ USD trong giai đoạn 2001 - 2005 Số vốn ODA cam kết nói trên bao gồm viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 15 - 20%, phần còn lại là vốn vay ưu đãi Số vốn ODA cam kết này được sử dụng trong nhiều năm, tuỳ thuộc vào thời hạn của các chương trình và dự

Y tế-xã hội Khác

(Nguồn: UNDP-2004)

Trang 31

Biểu đồ 2 : 10 ngành tiếp nhận ODA nhiều nhất năm 2003

37 46 84 88 112 115 123

172

285 298

Giao thông vận tải Quản lí kinh tế Năng lượng Phát triển xã hội Phát triển vùng lãnh thổ

Nông nghiệp Phát triển nguồn lực con người

Y tế Tài nguyên thiên nhiên

Nguồn vốn ODA đã được ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực như giao thông vận tải; phát triển nguồn và mạng lưới truyền tải và phân phối điện; phát triển nông nghiệp

và nông thôn bao gồm thuỷ lợi, thuỷ sản, lâm nghiệp kết hợp xoá đói giảm nghèo; cấp thoát nước và bảo vệ môi trường; y tế, giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ, tăng

Trang 32

cường năng lực và thể chế Cơ cấu sử dụng ODA gần sát với yêu cầu do Đại hội IX

0 0.5 1 1.5 2 2.5

Công tác quản lý nhà nước về ODA đã được tăng cường Năm 2001, Chính phủ

đã ban hành Nghị định mới về quản lý và sử dụng ODA, tạo ra khung pháp lý chặt chẽ

Trang 33

2005, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Nghị định nói trên của Chính phủ Công tác quản lý nhà nước về ODA ở các cấp về cơ bản đã tập trung vào một đầu mối, ở Trung ương là Bộ Kế hoạch

và Đầu tư, ở các Bộ là các Vụ Kế hoạch và Đầu tư hoặc Vụ Hợp tác quốc tế, ở các tỉnh

là các Sở Kế hoạch và Đầu tư Tuy nhiên, ở một số địa phương công tác quản lý ODA vẫn còn phân tán, ảnh hưởng tới công tác phối hợp và sử dụng có hiệu quả nguồn lực này

Nhìn chung, sự ổn định chính trị, xã hội; công cuộc đổi mới được tiếp tục cả chiều sâu lẫn bề rộng, nền kinh tế có tăng trưởng liên tục, năm sau cao hơn năm trước; công tác xoá đói giảm nghèo đạt được những kết quả rõ rệt; nhiều vấn đề phát triển xã hội đạt được những tiến bộ khích lệ, chủ động hội nhập quốc tế được triển khai tích cực đã tạo ra một môi trường rất thuận lợi để vận động ODA hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm 2001 - 2005

1.1 Những thành tựu đạt được trong sử dụng vốn ODA

Thứ nhất, nguồn vốn ODA đã bổ sung một phần quan trọng cho ngân sách nhà

nước để đầu tư phát triển, chiếm khoảng từ 22% đến 25% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả phần vốn ODA cho vay lại từ ngân sách nhà nước)

Thứ hai, những công trình quan trọng được tài trợ bởi ODA đa góp phần cải thiện

cơ bản và phát triển một bước cơ sở hạ tầng kinh tế, trước hết là giao thông vận tải và năng lượng điện, góp phần khơi dậy nguồn vốn trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân

Thông qua các dự án ODA, hệ thống đường bộ được phát triển đáng kể từ quốc lộ 1A, 10, 18, 9, đường xuyên á (đoạn Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài), các cầu lớn (Mỹ Thuận, Cần Thơ, Thanh Trì, Bính ); nâng cấp và mở rộng các cảng biển như Cái Lân (Hải Phòng), Sài Gòn, Tiên Sa (Đà Nẵng), xây dựng cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, phát triển giao thông nông thôn ở hầu hết các tỉnh

Trang 34

Nguồn vốn ODA đã đầu tư phát triển ngành điện bao gồm phát triển nguồn điện (các dự án Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2-1, Ô Môn, Phả Lại 2, Hàm Thuận - Đa My, Đại Ninh,

Đa Nhim) và phát triển hệ thống đường dây 500 kV Plâyku - Nhà Bè, gần 50 trạm biến

áp của cả nước, cải tạo nâng cấp mạng lưới điện thành thị và nông thôn ở trên 30 tỉnh

và thành phố

Thứ ba, vốn ODA đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp và

nông thôn kết hợp xoá đói giảm nghèo Số liệu các cuộc điều tra mức sống dân cư trong thời gian qua cho thấy tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ mức 58% vào năm 1983 xuống còn 37% năm 1998; 28,9% năm 2002 và ước dưới 10% năm 2004 Kết quả này cho thấy Việt Nam đã vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) mà nước ta cam kết với thế giới Những kết quả này có sự góp phần quan trọng của vốn ODA Điều này được thể hiện rõ nét thông qua các dự án phát triển nông nghiệp và nông thôn, kết hợp xoá đói giảm nghèo, trong đó nguồn vốn ODA đã giúp nông dân nghèo tiếp cận nguồn vốn vay để tạo ra các ngành nghề phụ, hỗ trợ phát triển công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, phát triển giao thông nông thôn, thuỷ lợi, cung cấp nước sạch, phát triển lưới điện sinh hoạt, trạm y tế, trường học

Thứ tư, nguồn vốn ODA đã hỗ trợ phát triển các tỉnh và thành phố, nhất là hỗ trợ

xoá đói giảm nghèo, phát triển hạ tầng quy mô nhỏ ở các vùng nông thông miền núi; hầu hết các tỉnh và thành phố có các dự án hệ thống cấp nước sinh hoạt, trường học, bệnh viện hệ thống thuỷ lợi, một số dự án thoát nước, phát triển cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ

Thứ năm, vốn ODA đóng góp cho sự phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, tác động

tích cực đến việc cải thiện chỉ số phát triển con người ở Việt Nam Tổng nguồn vốn ODA cho giáo dục và đào tạo ước chiếm khoảng 8,5 - 10% tổng kinh phí giáo dục và đào tạo, đã góp phần cải thiện chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, như các dự án

Trang 35

Nguồn vốn ODA đã đóng góp cho sự thành công của một số chương trình quốc gia, ngành có ý nghĩa sâu rộng như chương trình dân số và phát triển, chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình dinh dưỡng trẻ em, chương trình nước sạch nông thôn, chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chương trình xoá đói giảm nghèo Nhờ vậy, thứ hạng các quốc gia và chỉ số phát triển con người của Liên Hợp quốc đều được cải thiện hàng năm

Thứ sáu, vốn ODA đã góp phần tăng cường năng lực và thể chế thông qua các

chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế theo lịch trình phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và lộ trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường năng lực con người Thông qua các dự án ODA, hàng ngàn cán bộ Việt Nam được đào tạo và đào tạo lại; nhiều công nghệ sản xuất, kỹ năng quản lý hiệnđại được chuyển giao

Thứ bẩy, quan hệ giữa phía Việt Nam và các nhà tài trợ đã được thiết lập trên cơ

sở quan hệ đối tác, đề cao vai trò làm chủ của bên tiếp nhận ODA thông qua các hoạt động hài hoà và tuân thủ các quy trình và thủ tục ODA Điều này được thể hiện trên nhiều lĩnh vực như phát triển các quan hệ đối tác trong nông nghiệp, lâm nghiệp, hiệu quả viện trợ nghiên cứu áp dụng các mô hình viện trợ mới (hỗ trợ ngân sách, tiếp cận ngành, ), hài hoà quá trình chuẩn bị dự án, thống nhất hệ thống báo cáo, hài hoà hoá quá trình mua sắm, tăng cường năng lực toàn diện về quản lý ODA

Nước ta được lựa chọn là nước điển hình về tiến hành hài hoà quy trình thủ tục ODA, tuân thủ hệ thống quản lý quốc gia về nâng cao hiệ quả viện trợ

1.2 Những tồn tại cần khắc phục

Bên cạnh những mặt được của ODA hỗ trợ quá trình phát triển, việc sử dụng ODA trong thời gian qua cũng bộc lộ những yếu kém, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực này:

Trang 36

Thứ nhất, chậm trễ trong quá trình giải ngân, làm giảm hiệu quả sử dụng ODA và

làm giảm lòng tin của các nhà tài trợ của ta Nguyên nhân chủ yếu là quy trình và thủ tục trong nước cũng như của các nhà tài trợ còn phức tạp, lại có sự khác biệt giữa các nhà tài trợ và phía Việt Nam; chậm trễ trong việc di dân tái định cư và giải phóng mặt bằng; công tác đấu thầu; năng lực quản lý và giám sát thực hiện dự án của các Ban quản lý còn hạn chế và bất cập

Bảng 1: Tình hình cam kết và giải ngân ODA giai đoạn 1993-2003

Đơn vị tính: Tỷ USD

Năm Vốn cam

kết

Vốn giải ngân

Trang 37

2001 2,4 1,5 62,5

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư -2004)

Thứ hai, thiếu quy hoạch vận động và sử dụng ODA; các văn bản pháp quy

về quản lý và sử dụng ODA còn thiếu tính đồng bộ, nhất quán, minh bạch, nhất

là trong các vấn đề liên quan tới quản lý đầu tư và xây dựng; thực thi các văn bản pháp luật về quản lý ODA chưa nghiêm

Thứ ba, công tác theo dõi và đánh giá dự án buông lỏng Nhiều cơ quan chủ

quản ở Trung ương và các tỉnh chưa quản lý được các dự án của mình Kỷ luật báo cáo về tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA thực hiện thiếu nghiêm túc

Thứ tư, năng lực cán bộ ở các cấp còn nhiều bất cập và thiếu tính chuyên

nghiệp trong quản lý và sử dụng ODA

Những yếu kém nêu trên còn có nguyên nhân sâu xa là cơ quan thụ hưởng ODA chưa phát huy đầy đủ vai trò làm chủ trong việc khai thác nguồn lực này phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc thù của ODA Điều này thể hiện trong nhiều khâu như: Công tác quy hoạch, kế hoạch và điều phối ODA, chuẩn bị và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án ODA, công tác huấn luyện và đào tạo về ODA chưa được chú ý đúng mức, cũng như trong việc theo dõi và đánh giá dự án

2 Tình hình vận động và sử dụng vốn ODA trong ngành Lâm nghiệp

Trang 38

2.1 Đặc trưng của các chương trình, dự án trong ngành Lâm nghiệp

Các dự án hoạt động rất đa dạng từ trồng rừng đến khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng, phát triển thể chế chính sách, chuyển giao công nghệ, phát triển cơ sở hạ tâng nông thôn, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm…

Trang 39

Biểu đồ 4: Tỷ trọng vốn ODA cho Lâm nghiệp/NN&PTNT (1993-2005)

(Nguồn: ISG – Vụ HTQT-2006)

Hầu hết các chương trình, dự án triển khai trong ngành Lâm nghiệp được thực hiện trên diện rộng, lại ở những địa điểm miền núi, vùng sâu, vùng xa, những vùng mà tại đó điều kiện kinh tế-xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn, với phần lớn là nông dân, đồng bào dân tộc ít người nên trình độ dân trí còn thấp Nhiều hoạt động dự án chủ yếu

do cơ sở (huyện, xã) trực tiếp quản lí và thực hiện, đối tượng hưởng lợi và tham gia dự

án tới cấp hộ nông dân Do đó tổ chức thực hiện dự án phức tạp; cơ chế quản lí tài chính, giải ngân, cơ chế tín dụng gặp khó khăn Bên cạnh đó các điều kiện tự nhiên rất phức tạp, thông thường là những vùng rừng núi rộng lớn, đất xấu, dốc điều kiện canh tác không thuận lợi, đất đai bị phân tán và không có quy hoạch tập trung Chính vì thế rất khó cho công tác thực thi và bảo vệ

Đối tượng cây trồng thường có chu kỳ kinh doanh dài (thường từ 5 đến 7 năm), tuỳ thuộc từng loại cây gỗ, thậm chí có thể kéo dài hơn đến vài chục năm, do đó phải chờ đợi thời gian thu hoạch mới xác định và đánh giá hiệu quả chính xác

Đối với các dự án trồng rừng, các giống cây thường đòi hỏi được gieo trồng theo mùa vụ, nghĩa là có sự phụ thuộc chặt chẽ giữa khả năng sinh trưởng của cây trồng

Trang 40

theo điều kiện thời tiết và thời gian trong năm Ngoài ra nó cũng phụ thuộc mạnh mẽ vào chất đất và các điều kiện địa lý khác của khu vực thực thi

Thông thường hiệu quả các dự án trồng rừng phụ thuộc lớn vào điều kiện thiên nhiên Tính rủi ro thường cao hơn so với các dự án thuộc các lĩnh vực khác do khả năng cháy rừng có thể xảy ra nếu gặp điều kiện khí hậu khô hạn, nhất là đối với khu vực rừng ở miền Trung, Tây Nguyên… Ngoài ra năng suất rừng trồng có thể giảm do sâu bệnh phá hoại

Thông thường những dự án thực thi trong ngành Lâm nghiệp thường có tính xã hội, góp phần bảo vệ môi trường hơn là mang tính kinh doanh thương mại Chính vì thế khi xét đến các chương trình, dự án Lâm nghiệp cần có sự tính toán kỹ các yếu tố nêu trên để bảo đảm tính khả thi và mang lại hiệu quả cao, nhất là đối với các dự án trồng rừng

2.2 Một số dự án sử dụng vốn ODA tiêu biểu trong ngành Lâm nghiệp

Như đã nói, các dự án ODA trong ngành Lâm nghiệp rất đa dạng từ trồng rừng đến khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng, phát triển thể chế chính sách, chuyển giao công nghệ, phát triển cơ sở hạ tâng nông thôn, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm… Dưới đây là một số dự án ODA do Ban quản lí các dự án Lâm nghiệp quản lí

Ngày đăng: 26/05/2014, 10:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PTS. Vũ Thúy Lộc (1997), Giáo trình đầu tư nước ngoài, Trường ĐH Ngoại Thương, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đầu tư nước ngoài
Tác giả: PTS. Vũ Thúy Lộc
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1997
2. Phùng Xuân Nhạ (2001), Đầu tư quốc tế, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư quốc tế
Tác giả: Phùng Xuân Nhạ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia
Năm: 2001
3. TS. Nguyễn Xuân Thuỷ và Bùi Văn Đông (1995), Bản dịch Quyết định dự toán vốn đầu tƣ, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản dịch Quyết định dự toán vốn đầu tƣ
Tác giả: TS. Nguyễn Xuân Thuỷ, Bùi Văn Đông
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1995
4. Kinh tế - xã hội Việt Nam 3 năm 2001-2003, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế - xã hội Việt Nam 3 năm 2001-2003
Nhà XB: NXB Thống Kê
5. Báo cáo phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2001-2005, Vụ Kế Hoạch, Bộ NN&amp;PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2001-2005
6. Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lƣợc phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg
Nhà XB: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2007
7. Nghị định 88/2000/NĐ-CP và Nghị định 22 CP về tái định cƣ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 88/2000/NĐ-CP và Nghị định 22 CP
8. Nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001 về quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 4/5/2001
10. Thông tin trên mạng Internet: Các website http://www.vir.com.vn (Tạp chí đầu tƣ Việt Nam) Truy cập ngày 3/9; 6/9 Link
19/8; 20/8; 3/9; 12/9; 21/9; 8/10; 13/10; 15/10; 25/10;30/10 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình cam kết và giải ngân ODA giai đoạn 1993-2003 - Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam
Bảng 1 Tình hình cam kết và giải ngân ODA giai đoạn 1993-2003 (Trang 36)
Bảng 3 dưới đây chỉ rõ tổng kinh phí các chương trình, dự án phân theo hình thức  cung  cấp  ODA,  trong  đó  10  dự  án  viện  trợ  không  hoàn  lại  của  3  nhà  tài  trợ  song  phương  (Thuỵ  Điển,  Đức,  Nhật  Bản)  và  một  nhà  tài  trợ  đa  phương - Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam
Bảng 3 dưới đây chỉ rõ tổng kinh phí các chương trình, dự án phân theo hình thức cung cấp ODA, trong đó 10 dự án viện trợ không hoàn lại của 3 nhà tài trợ song phương (Thuỵ Điển, Đức, Nhật Bản) và một nhà tài trợ đa phương (Trang 51)
Bảng 4: Cam kết và giải ngân các dự án ODA lâm nghiệp - Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam
Bảng 4 Cam kết và giải ngân các dự án ODA lâm nghiệp (Trang 53)
Bảng 5: Định hướng quy hoạch diện tích rừng và đất lâm nghiệp - Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam
Bảng 5 Định hướng quy hoạch diện tích rừng và đất lâm nghiệp (Trang 71)
Bảng 7: Kế hoạch phân bổ vốn ODA giai đoạn 2006-2020 - Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam
Bảng 7 Kế hoạch phân bổ vốn ODA giai đoạn 2006-2020 (Trang 80)
1  Bảng 1  Tình hình cam kết và giải ngân ODA giai đoạn - Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam
1 Bảng 1 Tình hình cam kết và giải ngân ODA giai đoạn (Trang 98)
7  Bảng 7  Kế hoạch phân bổ vốn ODA giai đoạn 2006-2020  76 - Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam
7 Bảng 7 Kế hoạch phân bổ vốn ODA giai đoạn 2006-2020 76 (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w