Bài thuyết trình: Những nguyên tắc cơ bản của phép dựng hình học các chi tiết quần áo
Trang 4Người ta sử dụng phép tính toán để xác định các
kích thước cơ bản của các thành phần trên quần áo
Vì không gian của quần áo rất phức tạp, nên cần áp
dụng phương pháp hình học khi xác định kích thước
của các chi tiết quần áo
Trong thiết kế quần áo, phương pháp hình học là
phép đo mặt lồi của cơ thể
Trang 5Ngay từ đầu khi tổ chức sản xuất hàng loạt
quần áo theo kết quả của thực nghiệm thì phép
tính toán và phương pháp dựng hình học để
xác định hình dạng và kích thước quần áo đã
được hình thành và được gọi là các hệ cắt
Mọi hệ cắt đều có phương pháp dựng hình vẽ
các chi tiết cơ bản nhất
Trang 6
Đó là thân trước và thân sau
cùng được vẽ vào một góc vuông giới hạn bởi hai đoạn
thẳng AK và AX
Các đường thẳng đứng
AX,HC4,H1C5,KX1 chia thân trước và thân sau làm 3 phần tương ứng với các độ rộng được tính cho phần lưng, phần nách, phần ngực
Trang 7
Theo chiều dọc (chiều cao), hình vẽ được chia làm 4
phần trong đó:
AK là đường trên cùng
CC1 là đường ngực
DD1 là đường eo
EE1 là đường mông
XX1 là đường gấu áo
Trang 8B ốn đường thẳng đứng
và năm đường thẳng ngang trên đây đóng vai
trò các đường phụ dùng làm cơ sở để vẽ các
đường nền của thân trước và thân sau
Trang 9 Thí dụ 1:
Dựng đường cổ thân sau
Trên đường thẳng phụ AK,
ta đặt đoạn AA1 ứng với độ
rộng cổ sau đã tính trước
A1A2 vuông góc với AA1
thể hiện độ cao của cổ sau
Nối liền hai điểm A và A2 bằng đường cong mềm
A2
A
A1
K
Trang 10 Thí dụ 2:
Vẽ đường cong của náchB1C6C7B2
Đầu tiên xác định các điểm
f1,f2,f3,f4
Điểm f3,f4 lần lượt nằm trên đường phân giác góc H1C5C4
và HC4C5
Điểm f1 nằm trên đoạn thẳng
B1F6 vẽ vuông góc với đường
nách đi qua B2
f4 f3
Trang 11 Vùng dựa được chọn của cơ
thể con người là khu vực
trên cùng của nửa thân trên
giới hạn bởi đường vòng
chân cổ (giới hạn trên cùng) và đường đi qua lồng
ngực ở phía trước và đi qua
lưng ở phía sau (giới hạn dưới)
Trang 12 Giới hạn của khu vực này lệ thuộc vào hình dạng và độ
bó sát của quần áo
Áo càng căng rộng về phía
trước thì giới hạn dưới của
khu vực vùng dựa càng được nâng cao
Áo càng bó sát (áo chiết ly
Trang 13Giới hạn quy ước của toàn
bộ vùng dựa: giới hạn trên
là vòng chân cổ, qua đoạn
dốc vai đến giới hạn dưới
đi từ điểm vai ngoài cùng qua điểm lồi của ngực, qua
điểm lồi của xương bả vai
Trang 14 Giới hạn dưới của vùng dựa:
Qua nghiên cứu, người ta chia ra
(1) Là vùng dựa của áo cắt rộng trong đó, giới hạn dưới đi qua điểm lồi của ngực cho đến điểm trên của ngực
Trang 15(2) Giới hạn dưới được hạ xuống thấp hơn dùng cho
Trang 16(3) Giới hạn dưới còn hạ xuống thấp hơn nữa đi qua
cả phần lồi của bụng áp dụng cho áo bó
Trang 17 Giới hạn trên của vùng dựa:
Độ dốc của vai, của xương ngực, vị trí thân người, độ cong của cột sống đóng vai trò quan trọng khi xác định
giới hạn trên cùng của vùng
dựa và các đường viền của
Trang 18
Độ co của thành phẩm trên toàn bộ cơ thể cũng ảnh hưởng đến các chi tiết
Tất cả các yếu tố nêu trên
đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm
Trang 19 Thí dụ:
Trải một hình trụ đơn giản và
một hình nón cụt để xem yếu
tố nào ảnh hưởng đến bề mặt trải của nó
Với hình trụ có đường sinh thẳng đứng, trên bề mặt trải đường chu vi hai đáy sẽ là
hai đường thẳng
Trang 20Nhưng khi đường sinh có độ nghiêng như trên hình nón cụt thì bề mặt trải được giới
hạn bởi hai đường cong khai
triển từ hai chu vi đáy có độ cong khác nhau
Trang 21 C ó thể xem vùng dựa của cơ thể là một hình nón cụt có
đáy trên là vòng cổ
D ạng của đường vòng cổ này trên mặt trải sẽ thay đổi tuỳ theo độ nghiêng của
Trang 22 Các chi tiết cần đạt độ chính xác cần thiết với các cơ thể người khác nhau
Thí dụ khi thiết kế áo veston nam và áo bành tô, yêu
cầu độ chính xác lớn hơn so với khi thiết kế các loại
áo sơ mi nam, nữ, bộ đồ ngủ…Ở đây, bề mặt dựa của
cơ thể quyết định độ chính xác trong việc xác định hình dạng, kích thước quần áo
Trang 23
H iện nay mới chỉ có những điều kiện kỹ thuật chung cho trước về độ chính xác khi dựng các bản vẽ mẫu và cắt theo những sơ đồ trên vải
Trang 24 Điều kiện ban đầu quan trọng khi dựng
hình vẽ quần áo, đó là vị trí các đường lắp
ghép những đường pen
Trang 25Khi nghiên cứu các đặc điểm cấu tạo cơ thể con người, người ta đã đưa ra hai sơ đồ mặt trải với đầy đủ số lượng thành phần chi tiết
Chúng được dựng trên một mặt phẳng với hai đường đối xứng
Trang 26 Sự phân chia bề mặt
ba cặp đường lắp ghép được gọi là mẫu mực
Trang 27
Nó có thể được thể hiện như sự phân chia bằng hai cặp đường lắp ghép xuất phát từ vòng cổ dưới
Trang 28 Đường vai và đường cạnh sườn là những đường nối được gọi
là đường xuất phát
Trang 29 Song vị trí của chúng không phải luôn luôn được xác định một cách căn bản như các đường đối xứng mà có thể thay đổi tuỳ theo kiểu quần
áo, đặc điểm cơ thể và những điều kiện khác khi trải chi tiết ra mặt phẳng
Trang 31Nhận thức được sự khác nhau của con người về cấu tạo cơ thể đã giúp cho việc giải thích tại sao các trang phục may sẵn không thể vừa vặn với tất cả các dáng người một cách hoàn hảo được
Thực tế đã tốn nhiều công sức đối với các nhà sản
xuất khi họ cố gắng làm thoả mãn các nhu cầu của tất
cả các dáng người mà không nằm trong loạt chuẩn số
đo họ đưa ra
Mục đích của việc phân tích hình dáng là để quyết
định vị trí nào để sửa dổi hình dáng trên chuẩn trung bình
Trang 32
Vai lý tưởng:
Hai vai thoải nhẹ từ cổ
Trang 33
Vai xuôi:
Hai vai xuôi nhiều xuống
từ cổ
Trang 34
Vai ngang:
Hai vai nằm ngang với chân cổ
Trang 35
Vai cơ bắp:
Phần cơ bắp vai nổi quanh
cổ
Trang 36
Vai xương:
Phần xương vai và xương đòn gánh lồi ra
Trang 37Lý tưởng:
Vai và mông thẳng, ngay ngắn; chênh lệch giữa eo/mông từ 25cm đến 28cm
Trang 38Đồng hồ cát:
Vai và mông thẳng, ngay ngắn;chênh lệch giữa
eo/mông từ 33cm trở lên
Trang 39Đường thẳng:
Vai và mông thẳng, ngay ngắn;chênh lệch giữa
eo/mông nhỏ hơn 20cm
Trang 40Vai rộng:
Rộng vai lớn hơn rộng mông
Trang 41Vai hẹp:
Rộng vai nhỏ hơn rộng mông
Trang 42Lý tưởng:
Hơi lượn ra ngoài từ eo và vòng quanh mông
Trang 43Dạng tim:
Lượn hẳn ra ngoài từ eo và thon đến mông
Trang 44Dạng vuông:
Lượn hẳn ra ngoài từ eo và thẳng đến mông
Trang 45Dạng hình thoi:
Lượn chéo xuống từ eo đến mông
Trang 46Lý tưởng:
Dạng ngực nhìn hơi lớn hơn lưng
Trang 47Ngực lớn, lưng nhỏ
Trang 48Ngực lép, lưng gù
Trang 49Ngực lõm:
Phần lõm bên trên ngực
Trang 50Ngực nhô ra:
Phần xương trên ngực bị nhô ra
Loại khác:
Ngực lớn và lưng lớn, ngực nhỏ và lưng nhỏ
Trang 51Lý tưởng:
Lưng cong nhẹ ra ngoài
Trang 52Phẳng:
Lưng thẳng, không cong
Trang 53Tròn:
Lưng cong hẳn ra ngoài
Trang 54Gù:
Lưng gù nhô ra
Trang 55Lý tưởng:
Phần thịt thẳng từ bụng tay đến khuỷu, và thon dần
đến cổ tay
Trang 56Gầy:
Phần thịt quanh hệ xương hơi ít so với tay trung
bình
Trang 57Mập:
Tay mập ra ở bụng tay,
hoặc từ đầu vai đến cổ tay
Trang 58Mập
Trang 59Vòng kiềng:
Chân cong ra ngoài
Trang 60Khép gối:
Chân cong vào và phần gối khi đi chạm nhau
Trang 61Gầy:
Ít thịt, mông đầy, và hở ở bắp vế
Trang 62Đùi to:
Nhìn thấy phần đùi to hơn mông
Trang 63Những đặc điểm trên có tầm quan trọng trong
việc thiết kế quần áo:
Những người có dạng chân vòng kiềng, đùi to không nên mặc quần may bó sát từ phần đùi
Những người có dạng chân chữ bát không nên mặc quần bó sát ở phần dưới từ đầu gối trở
xuống
Người có chân gầy không nên mặc quần bó
sát
Trang 64Lý tưởng:
Trái tai nằm trên đường
dây dọi, phần xương eo
nằm trên hoặc hơi nghiêng
ra trước
Trang 65Ngã về trước:
Trái tai và eo nằm ngã về trước so với đường dây dọi
Trang 66Thẳng đứng:
Trái tai nằm trên hoặc
nghiêng ra sau Khuỷu tay
và eo hơi ngã về phía
trước hoặc phía sau
Trang 67Dạng I:
Mông bằng phẳng, bụng bằng phẳng
Trang 68Dạng R:
Mông xệ và thấp xuống, bụng lớn hơn và đùi lớn
Trang 69Dạng S
Trang 70Dạng Oval
Trang 71Dạng O:
Bụng và mông nhô ra như nhau
Trang 72 Cảm ơn các bạn đã chú ý theo dõi bài báo cáo của nhóm
Chúc các bạn có một buổi học vui vẻ
Hẹn gặp lại