1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp: Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh nghiệm trên thế giới và bài học cho Việt Nam

105 820 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Kinh nghiệm trên thế giới và bài học cho Việt Nam
Tác giả Đinh Thị Huyền Trang
Người hướng dẫn TS. Đỗ Hương Lan
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương (https://www.ftu.edu.vn)
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị Doanh nghiệp
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh nghiệm trên thế giới và bài học cho Việt Nam

Trang 1

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Trang 2

1

Mục lục Mục lục _ 1 PHỤ LỤC I _ 3 PHỤ LỤC II 4 Lời nói đầu 5 Chương I 7 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ và vấn đề hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ 7

I Một số vấn đề lý luận cơ bản về Doanh nghiệp vừa và nhỏ _ 7

1 Một số quan điểm về Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) _ 7

2 Đặc điểm và vai trò của DNVVN _ 10

II Hỗ trợ tài chính đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ _ 17

1 Sự cần thiết phải hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ _ 17

2 Một số biện pháp hỗ trợ tài chính cho DNVVN và vai trò của chúng đối với

sự phát triển của DNVVN 18

Chương II 25 Một số biện pháp hỗ trợ tài chính cho DNVVN ở một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam 25

I Hoạt động hỗ trợ tài chính cho DNVVN một số nước 25

1 Miễn giảm thuế thúc đẩy đầu tư 25

2 Hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy đổi mới thiết bị và công nghệ 29

3 Các biện pháp từ các tổ chức tài chính _ 33

Trang 3

2

II Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 38 Chương III _ 42 Vận dụng kinh nghiệm hỗ trợ tài chính cho các DNVVN trên thế giới

vào thực tiễn Việt Nam _ 42

I Thực trạng hỗ trợ tài chính đối với DNVVN tại Việt Nam 42

1 Khái quát về DNVVN của Việt Nam 42

2 Các biện pháp hỗ trợ tài chính đã và đang áp dụng tại Việt Nam 52

II Một số giải pháp hỗ trợ tài chính cho DNVVN tại Việt Nam _ 73

1 Nhóm giải pháp liên quan đến chính sách thuế 73

2 Nhóm giải pháp liên quan đến chính sách hỗ trợ tài chính nhằm _ 80 đổi mới công nghệ 80

3 Nhóm giải pháp liên quan đến chính sách tín dụng _ 82

4 Cho thuê tài chính _ 85

5 Một số kiến nghị đối với Cục phát triển DNVVN và cổng thông tin 89 doanh nghiệp 89

6 Một số kiến nghị đối với DN 91

Kết luận _ 94 Tài liệu tham khảo _ 96

PHỤ LỤC III _ 98

Trang 4

GTGT Gía trị gia tăng

KH&CN Khoa học và công nghệ

NHTM Ngân hàng thương mại

TSBD Tài sản bảo đảm

TCTD Tổ chức tín dụng

CTTC Cho thuê tài chính

TNDN Thu nhập doanh nghiệp

VPLS Văn phòng luật sư

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

Cục PTDNVVN Cục Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 5

4

PHỤ LỤC II

Danh mục Bảng Biểu

Bảng 1.1 Phân loại DNVVN của EU

Bảng 1.2 Tiêu thức xác định DNVVN của một số nước Đông Nam Á

Bảng 2.1 Thuế thu nhập công ty tại Mỹ

Bảng 2.2 Mức thuế suất thuế thu nhập công ty

Bảng 3.1 Cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và vừa phân theo vùng lãnh thổ

Bảng 3.2 Tỷ trọng DNVVN xét theo ngành nghề năm 2005

Bảng 3.3 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá trị thực tế (%)

Bảng 3.4 Tỷ trọng lao động trong DNVVN so với toàn ngành

Bảng 3.5 Khảo sát khu vực DNVVN vào những năm 90

Trang 6

5

Lời nói đầu

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của một quốc gia Doanh nghiệp vừa

và nhỏ được đánh giá là hình thức tổ chức kinh doanh thích hợp, có những ưu thế về tính năng động, linh hoạt, thích ứng nhanh với yêu cầu của thị trường và là phương tiện hiệu quả giải quyết công ăn việc làm Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng gặp nhiều khó khăn hạn chế nhất định đặc biệt là hạn chế về vốn Chính vì vậy, Chính phủ các nước rất quan tâm và có nhiều giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hiện nay, đại bộ phận các doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất cần thiết và phù hợp với điều kiện về vốn, về công nghệ và trình độ quản lý ở Việt Nam Tuy nhiên, sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta còn chậm và chưa ổn định Điều đó một mặt xuất phát từ những hạn chế và khó khăn của bản thân doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta, mặt khác, chúng ta cũng chưa có chính sách, đặc biệt là chính sách, cơ chế tài chính phù hợp để hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Để góp phần thúc dẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tôi đã

chọn đề tài: “Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Kinh nghiệm trên thế giới và bài học cho Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp Thông qua việc nghiên

cứu các tài liệu lý luận, kinh nghiệm thành công của một số nước trên thế giới và thực tiễn các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khoá luận đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian tới

Trang 7

6

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu thành

3 chương:

Chương1: Tổng quan về hỗ trợ tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chương2: Kinh nghiệm hỗ trợ tài chính với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại một

số nước trên thế giới

Chương3: Vận dụng kinh nghiệm hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới vào thực tiễn Việt Nam

Do hạn chế về thời gian, nguồn tài liệu và kiến thức của người viết, khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để hoàn thành khóa luận tốt hơn nữa

Sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Giảng viên TS Đỗ Hương Lan

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em có thể hoàn thành khóa luận này

Trang 8

7

Chương I

Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ và vấn đề hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

I Một số vấn đề lý luận cơ bản về Doanh nghiệp vừa và nhỏ

1 Một số quan điểm về Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)

1.1 Quan niệm về DNVVN của một số nước trên thế giới

Sự phát triển của kinh tế thị trường đã làm biến đổi mạnh mẽ nền kinh tế thế giới nói chung và ở từng nước, ở từng khu vực nói riêng Nhiều mô hình phát triển đã được thử nghiệm và đưa lại thành công bất ngờ Trong đó nổi bật lên vai trò của loại hình tổ chức DNVVN Loại hình doanh nghiệp này ngày càng được mở rộng và phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà cả ở những nước đang phát triển Tuy nhiên cho đến nay, việc quan niệm như thế nào là DNVVN là rất khác nhau

Liên minh Châu Âu (EU) đưa ra một định nghĩa chung và có hiệu lực áp

dụng từ tháng 6/1996, theo đó “DNVVN là các doanh nghiệp tư nhân và độc lập (trong đó doanh nghiệp khác sở hữu dưới 25%vốn) Trong khu vực phi sơ cấp, không bao gồm các ngành như nông, lâm, ngư nghiệp; sử dụng dưới 250 nhân công.” Các DNVVN của EU được phân chia như sau:

Bảng 1.1: Phân loại DNVVN của EU (đơn vị USD)

Loại DN Số nhân công Doanh thu Tổng tài sản

Vừa <250 <= 50 tr <= 43 tr

Siêu nhỏ <10 <= 2 tr <= 2 tr

Nguồn: Trung tâm hỗ trợ DNVVN

Ngược lại ở Mỹ các doanh nghiệp vừa xác định là có số nhân công dưới 50, còn các doanh nghiệp siêu nhỏ thì cũng giống như EU dưới 10 nhân công

Trang 9

8

Đối với Nga, một đất nước có nền kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường như nước ta hiện nay, khu vực DNVVN cũng được chú trọng phát triển Theo qui định của nước này thì DNVVN gồm những doanh nghiệp với số vốn dưới 100 triệu rúp (dưới 1 triệu USD) và số lao động dưới

500 người

Đài Loan là một đất nước có khu vực DNVVN tương đối lớn mạnh ở châu Á

Khái niệm DNVVN bắt đầu được sử dụng trên vùng lãnh thổ này từ 1967 Ngay từ đầu, loại doanh nghiệp này được phân biệt thành 2 nhóm: ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, vận tải, các dịch vụ khác Đến 1997 được phân thành 3 nhóm (có thêm ngành khai khoáng) Trong thời gian hơn 30 năm qua, tiêu chí phân loại DNVVN ở Đài Loan được điều chỉnh 6 lần theo hướng tăng dần trị số các tiêu chí: trong sản xuất, vốn góp từ 5 triệu lên 40 triệu (đô la Đài Loan), tổng giá trị tài sản từ 20 triệu lên 120 triệu, doanh số từ 5 triệu lên 40 triệu Hiện nay ở Đài Loan người ta quan niệm DNVVN là những doanh nghiệp:

 Trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng: có vốn góp dưới 40 triệu (đô la Đài Loan) tức là vào khoảng 1,4 triệu USD, số lao động thường xuyên dưới 500 người

 Trong thương mại, vận tải và dịch vụ khác: có tổng doanh số dưới 40 triệu

và lao động dưới 50 người

Nhìn chung, các nước khi đưa ra những định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ thường dựa vào các dấu hiệu về số lượng lao động và số vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên ở một số nước, vấn đề doanh thu cũng được xem xét như là một yếu tố để đánh giá và phân loại

Trang 10

9

Bảng1.2: Tiêu thức xác định DNVVN của một số nước Đông Nam Á

Nước Phân loại Số lao động Số vốn Doanh thu

Thái Lan Doanh nghiệp

nhỏ

0-50 Dưới 50 triệu

Baht Doanh nghiệp

vừa

51-200 50-200 triệu

Baht Philipin Doanh nghiệp

nhỏ

10-99 1,5-15 triệu

Pêxo

Không quan trọng

Doanh nghiệp vừa

100-199 15-60 triệu

Pêxo Indonesia Doanh nghiệp

nhỏ

5-19 0-20.000USD

0-100.000USD Doanh nghiệp

vừa

20-99

20.000-100.000 USD

500.000USD Trung Quốc Doanh nghiệp

100.000-nhỏ

50-100

Doanh nghiệp vừa

101-500

Nguồn: Hồ sơ các DNVVN (SMEs) khu vực APEC 1990-2000

Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về DNVVN có ý nghĩa lớn để xác định đúng đối tượng để hỗ trợ Nếu phạm vi quá rộng sẽ không đủ sức bao quát và tác dụng hỗ trợ sẽ giảm, vì hỗ trợ tất cả có nghĩa là không hỗ trợ ai Còn nếu như phạm vi quá hẹp

sẽ hạn chế và ít tác dụng trong nền kinh tế

1.2 Quan niệm của Việt Nam về DNVVN

Hiện nay, theo Việt Nam thì DNVVN là những doanh nghiệp hoặc có số vốn dưới 5 tỷ đồng và số lao động dưới 300 người (trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp) hoặc là những doanh nghiệp có số vốn sản xuất dưới 3 tỷ đồng và số lao động dưới

200 người (trong thương mại và dịch vụ) Trong đó, doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng và số lao động dưới 50 người (trong công nghiệp) và dưới 30 người (trong thương mại, dịch vụ) là doanh nghiệp nhỏ

Ngày 20-6-1998, Chính phủ cũng đã xác định tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ ỏ nước ta theo công văn số 681/CP-KTN, trong đó quy định DNVVN là những

Trang 11

10

doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng và có số lao động dưới 200 người, không phân biệt ngành công nghiệp hoặc dịch vụ

Gần đây, ngày 23/11/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số

90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN Trong đó có định nghĩa: “DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” Ở Việt Nam DNVVN nằm trong tất cả các thành phần kinh tế1

2 Đặc điểm và vai trò của DNVVN

2.1 Đặc điểm của DNVVN

2.1.1 Những ưu thế của DNVVN

So với khu vực kinh tế qui mô lớn, DNVVN có nhiều ưu điểm, điển hình là:

DNVVN vừa năng động nhạy bén vừa dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường: Đây là một ưu thế nổi trội của loại hình doanh nghiệp này Với quy mô nhỏ

và vừa, bộ máy quản lý gọn nhẹ, DNVVN dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng các yêu cầu

có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá Mặt khác, DNVVN thường có mối quan hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy trước những biến động của thị trường Với cơ sở vật chất kỹ thuật không lớn, DNVVN có

1

Kinh tế Nhà nước: với các hình thức doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi

phối, nó có thể là các công ty TNHH với một chủ sở hữu là Nhà nước, hoặc các công ty cổ phần có vốn của Nhà nước

Kinh tế tập thể: với các hình thức hợp tác đa dạng như các Hợp tác xã, tổ hợp tác… trong đó HTX là nòng cốt, các

HTX này dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể Kinh tế cá thể, tiểu chủ: chủ hộ vừa là người sản xuất chính, vừa có thuê mướn lao động Kinh tế tư bản tư nhân: là những đơn vị kinh tế do một hoặc nhiều nhà tư bản cùng

góp vốn để tổ chức sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức như: xí nghiệp tư doanh, công ty cổ phần, tổ hợp tác tư

doanh… dựa trên cơ sở lao động làm thuê với các quy mô khác nhau.Kinh tế tư bản Nhà nước: là những đơn vị kinh tế

do một hay nhiều nhà tư bản tư nhân trong và ngoài nước liên doanh liên kết với Nhà nước để cùng hợp tác sản xuất

kinh doanh và chia lãi trên cơ sở vốn góp.Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: là những doanh nghiệp liên doanh hoặc

100% vốn nước ngoài được thành lập dưới dạng công ty TNHH

Trang 12

ro mà loại hình doanh nghiệp này có khả năng đổi mới do đó tự nó đã thể hiện các chức năng kinh tế to lớn đối với xã hội

DNVVN được tạo lập một cách dễ dàng, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp: Để thành lập một DNVVN chỉ cần một số vốn ban đầu thấp, mặt bằng sản

xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng không lớn Với ưu thế nhỏ gọn năng động dễ quản

lý, không cần nhiều vốn, các DNVVN rất linh hoạt trong việc học hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại to lớn do môi trường khách quan tác động lên Điều đó khiến cho các DNVVN này giảm được chi phí cố định, tận dụng lao động để thay thế vốn bằng tiền dùng vào việc mua sắm máy móc thiết bị và với giá công lao động thấp có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra, rất nhiều doanh nghiệp mang tính chất bạn bè, gia đình nên mỗi khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn, công nhân và chủ doanh nghiệp có thể hạ thấp tiền lương dễ dàng, có tinh thần hỗ trợ để vượt qua khó khăn

DNVVN tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh: DNVVN hoạt động với số

lượng đông đảo thường không có tính độc quyền Các DNVVN dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh So với doanh nghiệp lớn thì DNVVN có tính tự chủ cao hơn Các doanh nghiệp này không ỷ vào sự giúp đỡ của Nhà nước và vì mưu lợi, DNVVN sẵn sàng khai thác cơ hội để phát triển mà không ngại rủi ro Nói chung, với hoàn cảnh “tự sinh, tự diệt” DNVVN bắt buộc phải duy trì sự phát triển nếu không sẽ

bị phá sản Chính điều đó đã làm cho nền kinh tế trở nên sống động và thúc đẩy sử

dụng tối đa các tiềm năng của đất nước Đây là ưu thế quan trọng của các DNVVN

Trang 13

12

DNVVN có thể phát huy được tiềm lực trong nước: Thành công của DNVVN

là nắm bắt được các điều kiện cụ thể của đất nước về tài nguyên, lao động Đối với các doanh nghiệp lớn, việc sử dụng các nguồn lực sẵn có tại địa phương thường gặp khó khăn do trữ lượng thấp không đảm bảo cho các doanh nghiệp sản xuất lớn Ngược lại, các DNVVN lại rất có lợi thế trong việc sử dụng lao động tại địa phương

và tận dụng các tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có, phát huy hết tiềm lực trong nước cho sản xuất kinh doanh

Mặt khác, đối với các nước đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, sự phát triển của DNVVN giai đoạn đầu là cách thức tốt nhất để sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu Với vốn liếng và trình độ kỹ thuật công nghệ của mình, DNVVN có thể sản xuất một số mặt hàng thay thế nhập khẩu, phù hợp với sức mua của dân chúng Từ đó góp phần ổn định đời sống, ổn định xã hội, tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững

DNVVN góp phần tạo phát triển cân bằng giữa các vùng trong một quốc gia: Với sự tạo lập dễ dàng, DNVVN có thể phát triển rộng rãi ở mọi vùng lãnh thổ

và tạo ra các sản phẩm phong phú, đa dạng đồng thời tạo ra sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong một nước, từ những vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng

xa, nói chung là những nơi thưa dân, cơ cấu kinh tế chưa phát triển và chính điều này

nó có thể cung cấp hàng hoá dịch vụ cho dân cư địa phương và những vùng lân cận

Thông thường, DNVVN cung ứng sản phẩm tại chỗ 95% sản phẩm tiêu thụ nội địa, mà chủ yếu là tiêu thụ trong vùng, khoảng 5% sản phẩm dành cho xuất khẩu Như vậy, các DNVVN thực sự góp phần đắc lực cho sự phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước

2.1.2 Một số hạn chế của DNVVN

Bên cạnh những ưu điểm, DNVVN cũng có những hạn chế nhất định Một số hạn chế có thể dễ dàng nhận thấy là:

Trang 14

13

 Chỉ cần một số lượng vốn ít đã có thể được thành lập nên DNVVN gặp phải hạn chế là năng lực tài chính thấp, từ đó dẫn đến một loạt những bất lợi cho DN trong sản xuất kinh doanh

Vốn chủ sở hữu thấp dẫn đến khả năng vay vốn của doanh nghiệp bị hạn chế Các DNVVN thường thiếu tài sản thế chấp cho các khoản tiền dự định vay Ngay cả

ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật… các ngân hàng cũng ngại cho các DNVVN vay

vốn vì khả năng gặp rủi ro lớn khi cho vay

Tiếp đến là do khả năng tài chính hạn chế, qui mô kinh doanh không lớn, các DNVVN cũng rất khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường để phục vụ sản xuất kinh doanh Chính vì thế phần lớn các doanh nghiệp này đều trong tình trạng thiếu vốn, điều đó khiến cho khả năng thu lợi của doanh nghiệp bị hạn chế, ngay cả khi có cơ hội kinh doanh và có yêu cầu mở rộng sản xuất Với tình trạng đó, khả năng

tích luỹ của doanh nghiệp cũng bị hạn chế

 DNVVN thiếu thông tin, trình độ quản lý bị hạn chế: Trong thời đại ngày

nay, thông tin cũng là một điều rất quan trọng của hoạt động sản xuất kinh tế bởi lẽ nếu nắm bắt được thông tin nhanh chóng, chính xác về thị trường, khách hàng sẽ giúp cho DN có phương án sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Nhất là với tình trạng cạnh tranh gay gắt như hiện nay đòi hỏi DN phải nắm bắt được thông tin chính xác để có thể đưa sản phẩm sản xuất ra thị trường nhanh chóng.Tuy nhiên,

do khả năng tài chính hạn hẹp nên việc thu thập thông tin rất khó khăn

 DNVVN ít có khả năng thu hút được các nhà quản lý và lao động giỏi: Với

hạn chế vốn có như qui mô sản xuất không lớn, sản phẩm tiêu thụ không đều, DNVVN khó có thể trả lương cao cho người lao động và tuyển dụng những lao động giỏi, lành nghề DNVVN cũng gặp khó khăn trong việc thu hút được lao động có trình độ cao trong sản xuất kinh doanh và quản lý điều hành

Trang 15

14

 Hoạt động của DNVVN thiếu tính ổn định, vững chắc: Mặc dù có ưu thế linh

hoạt, nhưng do khả năng tài chính hạn chế, khi có biến động lớn trên thị trường Các DNVVN dễ rơi vào tình trạng phá sản, bên cạnh đó, do mức độ cạnh tranh ngày càng cao không chỉ giữa các doanh nghiệp nhỏ với nhau mà còn cả với các doanh nghiệp lớn nên nếu không linh động thì DNVVN khó đứng vững trên thị trường.Tuy nhiên, trên thực tế phần lớn các nước có số lượng DNVVN khá lớn, cùng với việc phá sản lại có các doanh nghiệp mới được thành lập và con số doanh nghiệp mới thành lập lại lớn hơn các doanh nghiệp bị phá sản Chính điều đó đã không dẫn đến tình trạng xáo động nền kinh tế - xã hội và cũng chính hiện tượng đó đã phản ánh sức sống mãnh liệt của các DNVVN nói chung trong nền kinh tế

Tóm lại từ những phân tích trên cho thấy các hạn chế của DNVVN tựu chung

lại đều bắt nguồn từ qui mô vốn nhỏ, khả năng tài chính hạn hẹp Vì vậy, để khắc phục các hạn chế trên đòi hỏi các DNVVN phải tăng cường khai thác các nguồn vốn bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn đi vay

2.2 Vai trò của DNVVN

DNVVN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt nhu hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các DNVVN nhằm huy động tối đa các nguồn lực và

hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm Về số lượng, các DNVVN chiếm ưu thế tuyệt đối: 97,6% ở Nhật Bản, Đức và ở Việt Nam cũng chiếm khoảng 94,1% trong tổng số các doanh nghiệp

Sự phát triển của DNVVN đã thực sự góp phần quan trọng trong giải quyết những mục tiêu kinh tế xã hội sau đây:

Thứ nhất, vai trò nổi bật nhất của các DNVVN là thu hút số lượng lao động lớn góp phần giải quyết công ăn việc làm và ổn định xã hội: Do DNVVN có thể tạo

lập một cách dễ dàng với số vốn nhỏ, hoạt động ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác

Trang 16

15

nhau và có thể hoạt động được cả ở những vùng mà doanh nghiệp lớn không thể vươn tới Ví dụ như ở các vùng sâu vùng xa, miền núi, ở đây không có điều kiện đề phát triển các doanh nghiệp lớn song DNVVN lại có thể phát triển được Vì vậy, cùng với doanh nghiệp lớn, sự tồn tại và kinh doanh có hiệu quả của các DNVVN đã tạo thu nhập và việc làm cho người lao động Thực tế cho thấy số lượng lao động làm việc trong các DNVVN tại nhiều nước trên thế giới chiếm 50- 80% tổng số lao động

Cụ thể ở Nhật Bản số lao động làm việc cho các DNVVN chiếm 79,2% , ở các nước Tây Âu 58% trong lĩnh vực sản xuất vật chất, 78% trong lĩnh vực dịch vụ, 90% trong lĩnh vực xây dựng, ở Thái Lan, Đài Loan con số đó là 70% Qua các số liệu trên ta thấy rằng số lượng lao động ở các DNVVN chiếm một tỷ trọng rất lớn không chỉ ở

các nước đang phát triển mà cả ở các nước phát triển Vai trò trên càng được khẳng

định trong thời kỳ nền kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp lớn phải sa thải lao động

Ví dụ, năm 1997 ở Đức nền kinh tế gặp nhiều khó khăn , các doanh nghiệp lớn phải cắt giảm 321000 lao động, nhưng cũng trong năm đó DNVVN lại tạo được 723000 lao động mới Trong hai năm 1985-1987 các DNVVN ở Anh đã tạo thêm được

280000 chỗ việc làm, trong khi đó các tập đoàn, các công ty lớn chỉ tạo được 20000 chỗ làm mới

Thứ hai, DNVVN đóng góp ngày càng nhiều trong giá trị GDP và góp phần tăng trưởng nền kinh tế của các quốc gia: DNVVN chiếm đại bộ phận trong số

doanh nghiệp, do vậy hàng năm các DN này cung cấp một khối lượng lớn các sản phẩm, hàng hoá, lao vụ đa dạng và phong phú đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốc nội Cụ thể DNVVN ở Mỹ trung bình hàng năm tạo ra trên 50%GDP, tương tự

ở Nhật là 55%, ở Đức53%, Indonesia 38%, Philipin 28% Tại các nước đang phát

triển, DNVVN có những đóng góp đáng kể trong việc thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế: tăng thu nhập bình quân đầu người, cải thiện mức sống trong dân cư và các vấn đề xã hội khác Cũng nhờ những thành quả trong nền kinh tế mà nhiều quốc gia đã cải thiện đáng kể những vấn đề khó khăn của mỗi quốc gia như:

Trang 17

lớn tập trung chủ yếu ở các vùng kinh tế phát triển như các thành phố lớn, nơi có cơ

sở hạ tầng phát triển nhưng lại không đáp ứng được tất cả các yêu cầu của nền kinh tế như lưu thông hàng hoá, dịch vụ, phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp, giải quyết lao động, ổn định đời sống xã hội của nhân dân…Với chiều hướng

đó sẽ gây ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về độ phát triển kinh tế, văn hoá xã

hội giữa thành thị với nông thôn, giữa các vùng trong quốc gia Chính sự phát triển

DNVVN góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng Nó giúp cho vùng sâu vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng của vùng của địa phương để phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ Đây cũng là vấn đề rất có ý nghĩa lớn trong việc thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

Thứ tư, là DNVVN hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp lớn, là cở sở để hình thành các doanh nghiệp lớn, tập đoàn kinh tế lớn mạnh trong quá trình phát triển kinh tế thị trường: Thực tế cho thấy, trong bất kỳ quốc gia nào tất cả các nguồn lực

kinh tế không thể tập trung hết vào các doanh nghiệp có quy mô lớn, bởi các doanh nghiệp có quy mô lớn không thể bao quát được toàn bộ thị trường Với đặc trưng nhỏ

lẻ, năng động, các DNVVN tập trung vào các “thị trường ngách” hỗ trợ các doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận thị trường, cân đối khả năng cung cầu trong xã hội DNVVN là những doanh nghiệp vệ tinh cung cấp các sản phẩm đầu vào hay tham gia chế tạo sản xuất kinh doanh trong chu kỳ hoạt động của các doanh nghiệp lớn, chính điều này đã làm tăng khả năng hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các loại hình kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung

Trang 18

17

Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp nhỏ, yếu dễ bị sụp đổ bởi sự cạnh tranh của các doanh nghiệp lớn Do vậy, để đứng vững trên thị trường và hoạt động ngày một tốt hơn đòi hỏi các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tạo thành một tập đoàn lớn có sức cạnh tranh cao Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, cũng có các cơ sở nhỏ này được tích luỹ vốn kinh nghiệm dần dần để trở thành các doanh nghiệp lớn

Như vậy, tuy mỗi nước đều có một đặc điểm nền kinh tế và mức độ phát triển khác nhau, nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều đóng góp một vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, tạo ra nhiều việc làm, góp phần làm giảm

tỷ lệ thất nghiệp, ổn định xã hội, duy trì các ngành nghề truyền thống tăng kim ngạch xuất khẩu cho đất nước…Chính vì vậy, sự ổn định phát triển các DNVVN là một yếu

tố khách quan cần thiết cho quá trình phát triển của mỗi quốc gia

II Hỗ trợ tài chính đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

1 Sự cần thiết phải hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

DNVVN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của từng quốc gia nói riêng Do đó, chính phủ các nước ngày càng quan tâm phát triển các loại hình DN này Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong quá trình phát triển, DNVVN do những đặc thù đã gặp rất nhiều khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là khó khăn về vốn Để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ rất cần các biện pháp hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước cũng như từ phía các tổ chức tài chính tín dụng, đặc biệt là sự hỗ trợ từ phía nhà nước Hỗ trợ tài chính sẽ mang lại nhiều lợi ích cho DNVVN như kích thích thúc đẩy vốn đầu tư trực tiếp, thúc đẩy khả năng

tự tích luỹ vốn cũng như khả năng huy động vốn từ bên ngoài giúp doanh nghiệp giải quyết được tình trạng khan hiếm về vốn, từ đó giúp tăng khả năng hoạt động kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 19

18

Ngoài ra, sự hỗ trợ tài chính của nhà nước còn có tác dụng hướng dẫn và điều tiết các hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ Như chúng ta đã biết, tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mỗi nước Nhà nước là người hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và trên cơ sở đó sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô để điều hành nền kinh tế vận động theo định hướng đã đề ra Trong các công cụ quản lý vĩ

mô, chính sách tài chính của Nhà nước là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế mỗi nước Vốn đầu tư phát triển của Nhà nước được xem như một công cụ nhằm khuyến khích, tạo điều kiện, mội trường và định hướng đầu tư cho các nguồn vốn khác, mà trước hết là đầu tư cho việc xây dựng và cải thiện kết cấu hạ tầng

Bên cạnh đó, đầu tư của Nhà nước là đầu tư có tính châm ngòi Ngoài việc đầu

tư vào việc phát triển hạ tầng, Nhà nước tập trung đầu tư vào những ngành mũi nhọn, những doanh nghiệp giữ vị trí quan trọng Kết quả là tạo ra sự phát triển của một số doanh nghiệp lớn, kéo theo sự tạo lập và phát triển của hàng loạt các doanh nghiệp

mà chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính chất là những doanh nghiệp vệ tinh xung quanh

2 Một số biện pháp hỗ trợ tài chính cho DNVVN và vai trò của chúng

đối với sự phát triển của DNVVN

2.1 Miễn giảm thuế thúc đẩy đầu tư

Nhà nước có thể sử dụng chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế để hướng các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển ở những ngành nghề cần ưu tiên phát triển, những vùng hải đảo, miền núi xa xôi hẻo lánh để khai thác tiềm năng nhỏ bé tại địa phương, góp phần xoá bỏ sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi…

Có 3 loại thuế tác động đến các DNVVN cơ bản nhất là: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt Mỗi loại thuế khác nhau ở các nước đều

có quy định về chế độ ưu đãi thuế miễn giảm thuế Tuy nhiên, do chính sách, chiến

Trang 20

Chính sách thuế đã điều tiết được hầu hết các khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh Nguồn thu từ thuế tương đối ổn định và ngày càng tăng về số tuyệt đối cũng như tỷ trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động, Nhà nước cũng có các biện pháp khuyến khích doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua các chính sách miễn giảm thuế, hoàn thuế thu nhập nếu doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư

2.2 Chính sách đổi mới công nghệ

Đổi mới kinh tế - xã hội, đặc biệt là nâng cao trình độ công nghệ của nền sản xuất và kinh doanh trong công nghiệp là vấn đề sống còn của mọi quốc gia Đây là quá trình tạo ra, triển khai, sử dụng và phổ biến những sản phẩm công nghệ mới, các quy trình công nghệ có trình độ kỹ thuật cao, có hàm lượng chất xám, chất lượng cao

và hiệu quả kinh tế lớn, có khả năng cạnh tranh được trên thị trường trong nước, khu vực và thị trường thế giới Vấn đề trên liên quan rất nhiều đến chính sách, chiến lược khoa học và công nghệ

Bức tranh tổng thể trên thế giới hiện nay phản ánh một số nước từng có ưu thế

về năng lực công nghệ song hiện đang bị sa sút về chất lượng hàng hoá, tốc độ tăng năng suất và khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế vẫn đang phải đối phó với giá

Trang 21

20

cả năng lượng, nguyên vật liệu sản xuất cao, với nạn thất nghiệp, lạm phát, khủng hoảng tiền tệ và có xu hướng giảm tốc độ phát triển và có khuynh hướng đình trệ Một số nước khác như Nhật Bản, các nước công nghệ mới ở Châu Á đã thành công trong việc đổi mới công nghệ sản xuất công nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, chiếm lĩnh được thị trường khu vực và trên thế giới cho nên đã làm tăng thu nhập quốc dân từ 300-400 đôla Mỹ/người/năm lên 3000-5000 đôla Mỹ/người/năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 8-12%/năm Đây là những điển hình của tăng trưởng kinh tế dựa trên chính sách khoa học và công nghệ, chính sách và chiến lược phát triển công nghiệp, chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm, trình độ công nghệ của khu vực sản xuất - kinh doanh và dịch vụ của những dân tộc thông minh, biết phát huy truyền thống dân tộc để hội nhập, biết vận dụng những tinh hoa của nhân loại và những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới vào trong quá trình đổi mới và hiện đại hoá đất nước Thấy rõ được vai trò cần thiết của việc đổi mới công nghệ với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng, mỗi quốc gia đã tự đưa ra các chính sách đổi mới công nghệ riêng phù hợp với nước mình để nhằm phục vụ phát triển các doanh nghiệp

2.3 Tín dụng Ngân hàng

Tín dụng ngân hàng (TDNH) là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên

đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Dưới đây là một số vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNVVN:

TDNH hỗ trợ sự ra đời và phát triển các DNVVN: Vốn kinh doanh là tiền đề

để các doanh nghiệp có thể thực hiện được các hoạt động kinh doanh Khi khởi nghiệp, doanh nghiệp cần có một số vốn ban đầu nhất định để đầu tư mua sắm các

Trang 22

21

yếu tố cần thiết cho hoạt động kinh doanh như chi phí thành lập, xây dựng trụ sở

công ty, mua máy móc trang thiết bị, dự trữ nguyên vật liệu, thuê lao động Do đó

tín dụng ngân hàng là cầu nối giúp cho các doanh nghiệp đạt được yêu cầu đó

TDNH góp phần tăng vốn cho các DNVVN: Tín dụng ngân hàng góp phần

thúc đẩy quá trình tập trung vốn để tập trung mở rộng sản xuất kinh doanh của mình,

nó góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn trong các doanh

nghiệp Trong nền kinh tế nhất là trong cơ chế thị trường, hiếm có doanh nghiệp nào

chỉ sử dụng vốn tự có để sản xuất kinh doanh Việc này không chỉ hạn chế khả năng

mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn làm tăng giá vốn của doanh

nghiệp đó Trong cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ngân hàng chiếm đến trên 50% TDNH góp phần hiện đại hoá quá trình sản xuất của DNVVN: Tín dụng ngân

hàng giúp các doanh nghiệp hiện đại trang thiết bị, ứng dụng nhanh các thành tựu

khoa học kỹ thuật, đảm bảo được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế Tạo

điều kiện cho các DNVVN lớn mạnh có đủ các điều kiện bắt tay cùng các doanh

nghiệp khác cùng phát triển

TDNH góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, sản xuất của các DNVVN:

Tín dụng ngân hàng giúp các DNVVN tổ chức quản lý kinh doanh có hiệu quả Đặc

trưng của TDNH không phải là cấp phát vốn mà còn hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn

quy định Do vậy các doanh nghiệp cần phải tìm nhiều biện pháp để sử dụng vốn có

hiệu quả để sinh lời có lãi thì doanh nghiệp mới có thể trả được nợ đúng thời hạn và

kinh doanh tiếp Hiện nay, ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có

phương án kinh doanh có hiệu quả Như vậy, để có được vốn của ngân hàng thì các

doanh nghiệp phải tự làm ăn có hiệu quả tự khẳng định mình Hơn thế nữa, TDNH

với quy trình kiểm soát trước trong và sau khi cho vay, giám sát chặt chẽ tiến độ và

mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp đi đúng hướng đã chọn nhằm đạt được mục

tiêu lợi nhuận cao nhất TDNH cũng góp phần buộc các doanh nghiệp phải làm ăn

đúng đắn qua việc kiểm tra định kỳ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp thúc đẩy

Trang 23

22

hạch toán kinh doanh trong doanh nghiệp Cũng như Ngân hàng luôn sẵn sàng cùng khách hàng tìm ra các biện pháp hiệu quả để tháo gỡ khó khăn trong phạm vi cho phép, tư vấn cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn

Để thực hiện hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn chủ sở hữu đồng thời phải huy động nguồn vốn từ bên ngoài Nhưng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng vay vốn của ngân hang và các tổ chức tín dụng rất hạn chế Một mặt, do vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường ít, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng rất nghi ngờ khả năng trả nợ của các doanh nghiệp này Mặt khác, một trong những điều kiện bắt buộc để vay vốn là phải

có tài sản thế chấp, trong khi đó phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có tài sản thế chấp

Khắc phục những khó khăn nói trên và tạo điều kiện thuận lợi và bổ sung khả năng vay vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, ở nhiều nước đã thực hiện hình thức bảo đảm tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo hình thức này, Chính phủ đứng ra thành lập quỹ bảo đảm tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Quỹ hoạt động với tư cách là một tổ chức tài chính của Nhà nước Nguồn hình thành quỹ là từ vốn ngân sách và sự tài trợ, đóng góp của các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước và quốc tế Quỹ bảo đảm tín dụng sẽ góp phần khơi thông thêm nguồn vốn tín dụng, tăng khả năng vay vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp các doanh nghiệp thực thi có hiệu quả các phương án đầu tư, tăng cường năng lực tài chính để phát triển sản xuất

kinh doanh

2.4 Dịch vụ cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị và các bất động sản khác Công ty cho thuê tài chính sẽ chuyển giao tài sản cho người thuê được quyền sử dụng và hưởng những lợi ích kinh

tế mang lại từ các tài sản đó trong một khoảng thời gian nhất định và người thuê có

Trang 24

23

nghĩa vụ trả một số tiền cho chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng

Đặc điểm của cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính có một số đặc trưng sau:

 Cho thuê tài chính là một dạng cho thuê tài sản, nhưng khác về căn bản

so với các loại cho thuê tài sản khác là có sự chuyển dịch về cơ bản các rủi ro và các lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản thuê

 Xét dưới hình thức cấp vốn, cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản (tài sản này có thể là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, động sản khác ) giữa bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính (tổ chức tín dụng phi ngân hàng) với khách hàng thuê (khách hàng

có nhu cầu thuê thường là các doanh nghiệp, các bên đối tác trong liên kết kinh tế)

 Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng

 Công ty cho thuê tài chính giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê, bên thuê

có nghĩa vụ nộp tiền thuê (tiền trích khấu hao tài sản cho thuê) cho công ty cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục cho thuê tài sản đó theo các thỏa thuận trong hợp đồng thuê

 Loại hình cho thuê tài chính có lợi thế là người thuê không cần bỏ toàn

bộ số tiền ra một lúc để có máy móc, thiết bị, đồng thời cũng không cần phải thế chấp tài sản như trong các giao dịch vay vốn khác; bên đi thuê tài chính không phải chịu những rủi ro do sự mất giá của tài sản, hao mòn tự nhiên

Trong khi các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về thủ tục thế chấp tài sản khi vay vốn ở các ngân hàng thì việc có mặt của các công ty cho thuê tài chính đã mở ra nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp Tuy nhiên vấn đề đặt ra là mặc dù có mặt đã lâu nhưng thực sự cho thuê tài chính là khái niệm còn khá mới mẻ với nhiều doanh

Trang 25

24

nghiệp Ít doanh nghiệp hiểu được rằng cho thuê tài chính là hình thức tài trợ tín dụng thông qua cho thuê các loại tài sản, máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển… là nhu cầu mà các doanh nghiệp, các nhà đầu tư mong muốn để đổi mới máy móc, thiết

bị, hiện đại hóa công nghệ sản xuất kinh doanh

Đặc trưng của phương thức này là: đơn vị cho thuê là chủ sở hữu tài sản sẽ chuyển giao tài sản cho người thuê, tức là người sử dụng tài sản được quyền sử dụng

và hưởng dụng những lợi ích kinh tế mang lại từ các tài sản đó trong một thời gian nhất định Người thuê có nghĩa vụ trả một số tiền cho chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng Điều này cũng nói lên việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính không đòi hỏi sự bảo đảm tài sản có trước, tạo cho doanh nghiệp tiếp cận hình thức cấp tín dụng mới, vừa giải tỏa được áp lực về tài sản làm đảm bảo nếu phải vay ở ngân hàng Ngoài ra, các công ty cho thuê tài chính có thể mua tài sản của doanh nghiệp và cho thuê lại tài sản đó nếu doanh nghiệp thiếu vốn lưu động do đã tập trung vốn để đầu tư mua sắm tài sản cố định Như vậy doanh nghiệp vừa có tài sản để sử dụng lại vừa có vốn lưu động để sản xuất kinh doanh Loại hình này rất thích hợp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi vì với ưu điểm không phải thế chấp tài sản, các doanh nghiệp khi thuê tài chính không bị vướng thủ tục thế chấp tài sản nếu phải vay vốn ở các ngân hàng

Trang 26

25

Chương II

Một số biện pháp hỗ trợ tài chính cho DNVVN ở một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam

I Hoạt động hỗ trợ tài chính cho DNVVN một số nước

Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ đều đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Mặt khác, sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tuỳ thuộc rất lớn vào sự trợ giúp của Chính phủ Trong thời gian gần đây, Chính phủ nhiều nước đã dành nhiều sự quan tâm, khuyến khích và giúp đỡ doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các chính sách và các chương trình hỗ trợ trên các phương tiện khác nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Mỗi nước có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế khác nhau, và do đó, chính sách của Chính phủ mỗi nước trong việc khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có những điểm khác nhau Tuy nhiên có thể thấy, các nước đều sử dụng chính sách tài chính như một công cụ quan trọng để khuyến khích sự tăng trưởng và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản,… và các nước trong khu vực như Malaysia, Hàn Quốc… đều tập trung vào một số vấn đề chủ yếu sau:

1 Miễn giảm thuế thúc đẩy đầu tư

Chính sách thuế là một trong những công cụ chủ yếu được nhiều nước sử

dụng để thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Sau đây là một số kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc đưa ra một số ưu đãi thuế đối với DNVVN

1.1 Ở Mỹ

Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (ở Mỹ gọi chung là doanh nghiệp nhỏ-small business) là một lực lượng quan trọng của nền kinh tế Mỹ, tạo ra gần nửa tổng sản

Trang 27

26

lượng hàng năm của nền kinh tế, chiếm 52% tổng lực lượng lao động Tính đến năm

2002, nền kinh tế Mỹ có khoảng 22,9 triệu doanh nghiệp nhỏ Đóng góp của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ với nền kinh tế Mỹ ngày càng ý nghĩa hơn về khía cạnh nâng cao năng suất, tạo nguồn lực tăng trưởng kinh tế mới Năng suất của nền kinh tế

Mỹ kể từ quý IV năm 2000 tới năm 2004 tăng trên 4%/năm cao hơn hẳn mức trung bình 2,5% của thời kỳ 1995-2000 Chính phủ Mỹ đã đề ra một số chính sách hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển diển hình như chính sách thuế

mà Việt Nam phải học hỏi

Sau cuộc cải cách thuế năm 1986 đã áp dụng thuế suất khác nhau đối với thuế thu nhập công ty:

Bảng 2.1: Thuế thu nhập công ty tại Mỹ

Từ 50.000 USD trở xuống 15%

Trên 50.000 USD đến 75 000 USD 25%

Trên 75.000 USD đến 100.000 USD 34%

Trên 100.000 USD đến 335.000 USD 39%

Theo bảng trên, những công ty có tổng thu nhập từ 335.000 USD trở lên thì mức thuế thu nhập công ty là 34% Như vậy, đối với những công ty có thu nhập dưới 335.000 USD mà thường là doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ phải chịu thuế suất trung bình thấp hơn 34% Đây chính là cách giảm thuế cho doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính phủ Mỹ Ngoài ra, chính phủ Mỹ còn áp dụng các mức thuế suất ưu đãi nhằm thu hút các doanh nghiệp vào hoạt động ở những vùng còn lạc hậu, khó khăn Đơn cử

ở bang Connecticut, mức thuế giảm 50% so với mức chung Bên cạnh đó, ở Mỹ cũng

áp dụng rộng rãi các ưu đãi về thuế có tác dụng như đòn bẩy nhằm kích thích phát

Trang 28

27

triển kinh doanh trong lĩnh vực khoa học công nghệ Các khoản đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ được miễn 65% thuế

1.2 Cộng hòa liên bang Đức

Là một thành viên của EC nên quan niệm về DNVVN của CHLB Đức về cơ bản đồng nhât chung với cả khối CHLB Đức có Luật doanh nghiệp nhỏ (1966) quy định điều kiện được công nhận là doanh nghiệp nhỏ, tiêu thức về đào tạo tay nghề và điều kiện tay nghề của những người dạy nghề đối với doanh nghiệp nhỏ, kiểm tra tay

nghề đối với đốc công, điều kiện cung cấp tài chính cho doanh nghiệp nhỏ

Theo quan niệm đó, năm 1992 ở Đức có tới 99,7% các DNVVN (thuê dưới

500 công nhân) trong đó 98,2% là doanh nghiệp nhỏ Các doanh nghiệp này thu hút hơn 60% lực lượng lao động và tạo ra 50% GDP của CHLB Đức Vai trò việc làm và giải quyết đời sống cho người lao động ở Đức của các DNVVN cũng đã được khẳng định là rất quan trọng Trong giai đoạn 1970- 1987, công ty lớn ở Đức đã thải hồi gần 360.000 (khoảng 10% số lao động làm việc trong các công ty này) thì các DNVVN lại tạo thêm công ăn việc làm cho trên 1,6 triệu lao động Chính vì vai trò quan trọng

đó của DNVVN nên Nhà nước Đức cũng đã có nhiều chính sách và giải pháp khuyến

khích phát triển các doanh nghiệp này

CHLB Đức cho phép các doanh nghiệp có lợi nhuận hàng năm dưới 2 triệu

DM chỉ phải nộp thuế với thuế suất bằng 50% thuế suất áp dụng với các doanh nghiệp lớn áp dụng thuế suất thuế thu nhập công ty đối với các doanh nghiệp có thu nhập hàng năm dưới 8 triệu DM là 28%, trong khi các doanh nghiệp lớn thuế suất này

là 37,5%

Ngoài ra, ở Đức còn áp dụng chế độ ưu đãi như tạo lập khoản dự phòng không

bị đánh thuế thu nhập Quy định này thường được áp dụng trong một số ngành như thủ công nghiệp, thương mại, công gnhiệp, các ngành nghề tự do và trong những hoạt động cho thuê tài sản Khoản dự phòng có thể được phép trích ra là 20% lợi nhuận

Trang 29

28

1.3 Anh

Đối tượng nộp thuế là các công ty cư trú tại Anh và các chi nhánh công ty nước ngoài không phải là đối tượng cư trú của Anh Cơ chế quản lý thuế là theo tự khai

Bảng 2.2: Mức thuế suất thuế thu nhập công ty

ra mức thuế suất tốt nhất đối với DNVVN

1.4 Nhật

Ở Nhật, những doanh nghiệp có số vốn không quá 100 triệu JPY được hưởng các mức thuế ưu đãi: dưới 8 triệu JPY mức thuế được hưởng là 28%, vượt quá mức này, thuế suất sẽ là 37% Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có thể được hưởng ưu đãi về thuế tính theo doanh thu Nếu doanh thu năm không quá 3,5 triệu JPY thì sẽ phải chịu thuế suất là 6%, từ 3,5 đến 7 triệu JPY, thuế suất sẽ là 12% Đối với những nhà sản xuất cá thể, mức thu nhập tối thiểu hàng năm không bị đánh thuế là 100 000 JPY Ngoài ra, còn có các mức ưu đãi về định mức thiết lập quỹ dự phòng nhằm bù đắp những khoản tổn thất do nợ xấu gây ra Các doanh nghiệp có vốn không dưới 100 triệu JPY được phép tăng mức dự phòng lên 16% cao hơn so với mức giới hạn chung

và mức này sẽ không phải chịu thuế

1.5 Hàn Quốc

DNVVN của Hàn Quốc chiếm khoảng 98,5% số lượng các doanh nghiệp sản xuất (số liệu năm 1991), 63,5% lao động và 45,8% giá trị gia tăng trong các xí nghiệp

Trang 30

29

công nghiệp Tuy nhiên do chiến lược phát triển DNVVN được xây dựng nhằm phục

vụ ưu tiên cho việc củng cố các tập đoàn kinh tế (Chaebol), lấy nó làm xương sống của nền kinh tế quốc dân, nên doanh nghiệp nhỏ trong một thời gian khá dài đã không

được chú ý đúng mức

Từ năm 1990 đến nay, chính sách đối với DNVVN tập trung vào nâng cao năng suất lao động và cải tiến chất lượng Mục tiêu là nâng cao vị trí của khu vực này trong nền kinh tế quốc dân Phát triển song song với DNVVN với việc đẩy mạnh hệ thống kinh tế mở, nhằm đạt được sự phát triển cân đối, xoá đi sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Đây là thời điểm mà các DNVVN đạt mức tăng trưởng cao nhất và

có sự liên kết khá phát triển với các doanh nghiệp lớn Các chính sách khuyến khích

về tài chính được áp dụng rộng rãi, trong đó phải kể đến chính sách thuế Hàn quốc cũng ban hành một chính sách áp thuế ưu tiên cho DNVVN, mức thuế suất giảm 50%

so với doanh nghiệp lớn cùng loại, đặc biệt đối với các doanh nghiệp năm trong lĩnh vực ưu tiên như ở vùng xa, vùng sâu hoặc nằm trong chương trình giúp đỡ nông thôn của Chính phủ, mức thuế suất có thể giảm tới 100% Cũng sẽ giảm 50% mức thuế

cho những trang thiết bị sử dụng phục vụ chương trình liên kết ở nông thôn

Ngoài ra, Chính phủ cũng áp dụng khá linh hoạt những biện pháp hỗ trợ về thuế, ví dụ để khuyến khích việc xây dựng quy mô tối ưu DNVVN, chính phủ đã chọn 107 doanh nghiệp để hợp nhất lại, những doanh nghiệp này được miễn thuế chuyển giao thu nhập, thuế sở hữu, thuế đăng ký và thuế giá trị gia tăng Đây là kinh

nghiệm có thể vận dụng cho công tác cổ phần hoá hiện nay ở Việt Nam

2 Hỗ trợ tài chính nhằm thúc đẩy đổi mới thiết bị và công nghệ

2.1 Canada

Mặc dù là một trong những nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới nhưng Canađa rất coi trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Khu vực này đã thu hút tới 60% lao động và tạo ra 1/3 tổng số lợi nhuận của tất cả các

Trang 31

30

doanh nghiệp; hàng năm tạo thêm nhiều việc làm mới hơn so với các doanh nghiệp lớn Đạt được thành tích trên là do 50 năm qua, Chính phủ Canađa đã đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng và áp dụng các cơ chế, chính sách và biện pháp hỗ trợ các DNVVN thông qua Chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ

Qua tổng kết các doanh nghiệp thành công trong kinh doanh, người ta khẳng định rằng, điều kiện cạnh tranh kinh tế ngày càng khốc liệt, đổi mới công nghệ đã thật

sự trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa quyết định sự thành bại và tương lai của các DNVVN Nhà nghiên cứu về quản lý nổi tiếng của Bắc Mỹ - Peter

Drucker đã nhấn mạnh: “Đổi mới công nghệ đã trở thành một công cụ quan trọng

của kinh doanh hiện đại” Tuy nhiên, các DNVVN thường gặp rất nhiều trở ngại

trong quá trình đổi mới công nghệ như: chi phí cho việc tiếp nhận công nghệ mới thường quá lớn so với khả năng tài chính hạn hẹp của DNVVN; khả năng tiếp cận các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm hoặc vốn “mồi” từ nhà nước hoặc các tổ chức tài chính thường rất hạn chế; không có đủ nguồn lực để theo dõi các đối thủ cạnh tranh, các thông tin về công nghệ mới, các tiêu chuẩn chất lượng và quy phạm kỹ thuật mới; không có đủ thời gian và nguồn lực để có thể tìm kiếm, mở rộng thị trường ở nước ngoài; kinh nghiệm quản lý và tiếp thị còn yếu…

Để giúp các DNVVN giải quyết những khó khăn nêu trên, theo sáng kiến của Trung tâm Nghiên cứu quốc gia Canađa, người ta đã thực hiện chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với các DNVVN Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của chương trình này là thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNVVN ở Canađa Xét về mặt nội dung, tuỳ theo nhu cầu thực tế của từng doanh nghiệp, chương trình có thể hỗ trợ bằng nhiều hình thức trong đó một số hình thức hỗ trợ tài chính chủ yếu là

Hỗ trợ tài chính cho các dự án nghiên cứu ở giai đoạn đầu: Có thể nói, đây

là hình thức hỗ trợ có tầm quan trọng đặc biệt đối với DNVVN và là nội dung hoạt

Trang 32

31

động chủ yếu của chương trình Lý do cơ bản để áp dụng hình thức hỗ trợ này là vì thông thường các DNVVN không đủ tiền để tiến hành các dự án nghiên cứu ứng dụng công nghệ còn độ rủi ro nhất định Trong trường hợp này, chương trình có thể xem xét và hỗ trợ với mức tài trợ từ 5.000 đến 350.000 $ (tiền Canađa), trong trường hợp xét thấy có hiệu quả, có thể hỗ trợ tới 50% tổng chi phí của dự án được chọn

Điều cần nhấn mạnh là, nhờ sự hỗ trợ tài chính này của chương trình, trong nhiều trường hợp, đã giúp cho các DNVVN có thể thu hút thêm được các nguồn tài trợ khác để thực thi dự án Đặc biệt, nhờ kết hợp đồng thời 2 hình thức: Dịch vụ tư vấn kỹ thuật với trình độ chuyên môn cao và hỗ trợ tài chính đi kèm, đã giúp cho nhiều DNVVN giải quyết được những khó khăn lớn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả hỗ trợ của chính Chương trình

Hỗ trợ tài chính cho các dự án tiền thương mại hoá: Hình thức hỗ trợ này

thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có các dự án định đưa ra thị trường các sản phẩm ứng dụng các công nghệ tiên tiến như: Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu tiên tiến Theo nguyên tắc “chia sẻ rủi ro”, chương tình cũng

có thể xem xét và hỗ trợ (có thu hồi) cho các dự án với mức tối đa không quá 500.000$ cho một dự án thuộc diện này

2.2 Malaysia

Để phát huy lợi thế của nước đi sau, cùng với việc tăng cường năng lực công nghệ nội sinh, các nước đang phát triển đều coi trọng khâu chuyển giao công nghệ tiên tiến, phù hợp từ nước ngoài Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, không phải tất cả các doanh nghiệp đều dám chấp nhận rủi ro khi đưa vào áp dụng các công nghệ hiện đại Vậy nhà nước có thể vận dụng cơ chế gì để hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp quan tâm đầu tư các dự án du nhập các công nghệ tiên tiến theo các

Trang 33

Về cách đi, để phát huy lợi thế của nước đi sau và sớm thu hẹp khoảng cách

với các nước phát triển, Malaysia đã lựa chọn chiến lược “Mua một số và tự làm một

số” (Make some, buy some) Nói cách khác, cùng với việc tăng cường năng lực công

nghệ nội sinh, Malaysia rất coi trọng việc du nhập công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, nhất là từ các nước công nghiệp phát triển

Tuy nhiên, trong thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau, không phải tất cả các doanh nghiệp đều dám chấp nhận rủi ro khi áp dụng các công nghệ tiên tiến, nhất

là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những doanh nghiệp với nguồn lực và năng lực tiếp thu công nghệ còn nhiều hạn chế Trong bối cảnh đó, một vấn đề lớn đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách vĩ mô là: Bằng cách nào Nhà nước có thể hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn tới các dự án đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến theo những định hướng ưu tiên của quốc gia? Liệu Nhà nước có thể “chia sẻ” ở mức độ nào với những khó khăn liên quan tới việc tiếp thu chuyển giao công nghệ tiên tiến của cộng đồng các doanh nghiệp?

Để giải quyết vấn đề này, một trong những cơ chế được nhiều nước vận dụng

có hiệu quả là Nhà nước lập các hình thức Quỹ hỗ trợ theo mục tiêu để tài trợ một phần cho các dự án tiếp nhận chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp Cụ thể, Malaysia đã xây dựng Quỹ tiếp thu công nghệ với cách tổ chức

Mục tiêu của quĩ là khuyến khích các doanh nghiệp nâng cấp trình độ công nghệ thông qua việc đưa vào áp dụng và khai thác có hiệu quả các công nghệ tiên tiến

Trang 34

ưu tiên chung của quốc gia

3 Các biện pháp từ các tổ chức tài chính

3.1 Thực hiện tín dụng ưu đãi

Ngoài các chính sách về thuế, hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng đến các biện pháp cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhiều nước đã thực hiện tín dụng ưu đãi đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đồng thời với việc thành lập các tổ chức tín dụng của Nhà nước tạo ra một kênh cung ứng riêng về vốn

cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

3.1.1 Hàn Quốc

Bên cạnh biện pháp hộ trợ thông quá giảm thuế như đã nếu ở trên, Chính phủ Hàn Quốc còn thành lập một quỹ xúc tiến công nghiệp vừa và nhỏ để cung cấp những khoản tín dụng dài hạn, lãi suất thấp Ngân hàng thương mại quốc gia phải dành một

tỷ lệ nhất định là 25% tín dụng để đầu tư cho các hãng kinh doanh nhỏ và vừa

Các chính sách hỗ trợ và phát triển các DNVVN của Hàn Quốc là nhằm xây dựng một nền móng phát triển cho các DNVVN Hệ thống chính sách này được xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, tự chủ cho các DNVVN trong quá trình thành lập cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng cân đối của các DNVVN và nâng cấp cơ cấu công nghiệp của các DNVVN đồng thời đưa

ra chính sách ưu tiên cho nghiên cứu phát triển, tự động hoá, thông tin và toàn cầu

Trang 35

34

Thông qua chính sách cho vay của Ngân hàng, Chính phủ buộc các ngân hàng phải dành 35% toàn bộ vốn vay của mình cho các DNVVN, đối với ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính bảo hiểm là 25% và 75% đối với các ngân hàng địa

phương

Thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng, tạo điều kiện cho DNVVN vay với lãi suất

ưu đãi là 1% so với 1,5% của các doanh nghiệp lớn trong hạn mức 1 tỷ won

Riêng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, Ngân hàng Hàn Quốc bảo đảm cung cấp khoảng 90% tổng số vốn vay trong các lĩnh vực nhập khẩu công nghệ, hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhập máy móc để sản xuất nguyên vật liệu, phụ ting Vốn đầu tư vào tài sản cố định của các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được miễn thuế

trong 3 năm

3.1.2 Nhật Bản

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đặc biệt quan tâm phát triển DNVVN, vì trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân, các DNVVN đem lại hiệu quả cao về sản phẩm và việc làm Năm 1960, Nhật bản đầu tư 2,51 tỷ yên cho khu vực DNVVN, đến năm 1980 lên tới 243,375 tỷ yên, nhưng nguồn kinh phí của Chính phủ chỉ chiếm 12,6%; còn lại là các hiệp hội, ngân hàng Trong năm tài khoá 1993 ở Nhật, ngân sách dành cho DNVVN là hơn 200 tỷ yên (chiếm khoảng 0,3% ngân sách), số tiền trợ cấp cho các DNVVN khoảng 120 tỷ yên, chiếm 65% tổng số tiền trợ cấp của Bộ Thương mại và công nghiệp Ngoài chế độ tín dụng thông thường, Nhật Bản còn dành cho các DNVVN một chế độ tín dụng bổ sung để tăng nguồn vốn cho

các doanh nghiệp này Nguồn tài trợ được tập trung vào 4 lĩnh vực sau:

 Xúc tiến hiện đại hoá DNVVN

 Thể chế hiện đại hoá DNVVN

 Các hoạt động tư vấn cho DNVVN

Trang 36

35

 Các giải pháp tài chính, trong đó có 3 cơ quan tài chính của Chính phủ đối với các DNVVN và một hệ thống tín dụng để bảo đảm cho việc tài trợ các DNVVN từ nguồn tài trợ của các cơ quan tài chính tư nhân tới gần 20% của

tổng tài trợ cho các DNVVN

3.1.3 Ở các nước Philippines, Indonesia và Thái Lan

Philippines, Indonesia và Thái Lan nằm ở vùng Đông nam Châu Á, đều là thành viên của khối ASEAN Về phát triển kinh tế – xã hội, mỗi quốc gia có những điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội khác nhau nhưng nói chung cả ba nước đều có mức tăng trưởng khá, riêng Thái Lan có mức tăng trưởng nhanh Tuy nhiên, do chiến lược đầu tư và chính sách kinh tế ở 3 nước này tập trung vào công nghiệp lớn nên tuy tăng trưởng nhanh nhưng đã để lại những hậu quả nặng nề, tạo nên sự mất cân đối trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến môi trường chính trị – xã hội và môi trường sinh

thái và sau này đã đưa đến khủng hoảng tài chính – tiền tệ trầm trọng từ năm 1997

Để phần nào khắc phục tình trạng trên, ngay từ đâu thập kỷ 80, chính phủ các nước này đã chuyển hướng kinh tế theo hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng nông thôn, vùng xa thành phố nhằm tạo nên sự phát triển cân đối về cơ cấu ngành và cơ cấu vùng kinh tế DNVVN có vai trò không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nên các nước đều có chính sách hỗ trợ phát triển loại doanh nghiệp này Chính sách hỗ trợ tài chính phát triển DNVVN ở Philippines, Indonesia, Thái

Lan rất đa dạng (xem Phụ lục) và chủ yếu tập trung vào một số nội dung sau:

Do khó khăn về tài chính là một trong những trở ngại lớn nhất đối với các DNVVN nên các nước đặc biệt quan tầm đến hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng Ở Philippines có Ngân hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME bank) đóng vai trò hàng đầu trong hỗ trợ DNVVN Ngoài ra

có Ngân hàng phát triển Philippines (PDB), Ngân hàng trồng trọt (Plant Bank) và các ngân hàng thương mại khác phục vụ DNVVN Luật 1991 quy định bắt buộc dành

Trang 37

Ngoài chính sách cho vay vốn, các nước đều có chính sách thuế riêng đối với doanh nghiệp có vốn dưới 500.000 peso và số công nhân dưới 20 người thì được miễn thuế ở Thái Lan, nói chung chính sách thuế tương đối bình đằng, sự phân biệt mức thuế giữa các loại quy mô doanh nghiệp và ngành nghề không lớn, nên tác dụng

Trang 38

i Công ty Finarca

Finarca bắt đầu hoạt động tại Nicarague vào năm 1997 với các lĩnh vực về tài chính có thuê thiết bị và máy móc Công ty này thiết lập nhiều mối quan hệ tài chính với các tổ chức quốc tế và các nhà đầu tư

Finara có các chương trình cho thuế đặc biệt dành cho các DNVVN, cụ thể là trong các ngành như: vận chuyển và phân phối, máy móc sản xuất các sản phẩm dùng thường ngày, bánh kẹo, sản phẩm đò da hay các công ty về các thiết bị in ấn Các khoản cho vay thường vào khoảng 10.000$ - 300.000$ và thời hạn cho thuê khoảng 24

- 60 tháng Lợi nhuận từ công ty cho thuê tài chính của Finara thường là: các khoản lợi nhuận từ thuế, lợi nhuận từ kế toán, các điều khoản linh hoạt, các khoản yêu cầu phụ trong hợp đồng…

Kinh nghiệm chỉ ra rằng các nhà tài trợ cần phải cam kết, các nhà hành pháp và chính quyền cần phải tham gia, hỗ trợ… Những điều này cũng rất quan trọng, tuy nhiên lại không nên có những quản lý về mặt vĩ mô với các chính sách

Trang 39

38

ii Swedbank và công ty cho thuê tài chính Natwest

Swedbank và Natwest bằng việc phân loại các khách hàng DNVVN, công ty có thể phát triển các dịch vụ chuẩn phù hợp với từng đối tượng DN Ví dụ, dành riêng các dịch vụ đặc thù cho những khách hàng mang lại lợi nhuận lớn nhất trong khi khuyến khích việc sử dụng các dịch vụ tự động cho các khách hàng mang lại lợi nhuận ít thôi

Cerabank dùng các phương thức phân loại mang tên “Splitting”, phương thức

này dựa trên kích cỡ và loại hình của khách hàng, trong khi đó Groupe Banques Populares sử dụng phương pháp phân loaị dựa trên lợi nhuận của từng quốc gia

Từ những kinh nghiệm của một số công ty cho thuê tài chính trên thế giới Việt Nam có thể đưa ra những bài học cho các công ty cho thuê tài chính Việt Nam Các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam nên đưa ra các phương pháp phân loại khách hàng DNVVN cho phù hợp với nền kinh tế và sự phát triển của công ty mình

II Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua việc nghiên cứu hỗ trợ tài chính phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một

số nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

1 Hỗ trợ của Nhà nước, trong đó hỗ trợ về tài chính là hình thức hỗ trợ thiết yếu để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trên thế giới, Nhà nước đóng vai trò to lớn trong việc hỗ trợ, thuc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm phát huy vai trò tích cực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đời sống kinh tế-xã hội của mỗi nước Sự hỗ trợ của Nhà nước được thực hiện trên rất nhiều mặt, nhưng sự hỗ trợ về tài chính là hình thức hõ trợ hết sức cần thiết và có tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

Trang 40

Ngoài 2 công cụ chủ yếu thường được sử dụng là ưu đãi về thuế và tín dụng, Chính phủ các nước đã sử dụng nhiều công cụ tài chính khác để hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển như đầu tư và tài trợ Và điều cần quan tâm là phải xem xét mức độ tác động và hiệu quả của các giải pháp tài chính Nếu mức độ

hỗ trợ của các công cụ tài chính quá nhỏ sẽ ít có tác dụng trong việc khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngược lại, nếu mức độ hỗ trợ của Nhà nước quá nhiều và kéo dài sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

Chú trọng tạo điều kiện và thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ tự tích lũy vốn, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận và sử dụng các nguồn từ bên ngoài

Để giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng trưởng và phát triển ổn định , bền vững, hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng các công cụ như ưu đãi miễn giảm thuế, cung cấp tín dụng ưu đãi… nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng khả năng tự tích lũy vốn chủ sở hữu, chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Ngoài các giải pháp giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng được khả năng tích lũy vốn, Chính phủ các nước luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa

và nhỏ tiếp cận sử dụng các nguồn vốn từ bên ngoài Một trong những biện pháp quan trọng mà hầu hết các nước sử dụng là Nhà nước thực hiện bảo đảm tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có dự án khả thi nhưng không đủ tài sản thế chấp để vay vốn

Ngày đăng: 26/05/2014, 10:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Thông tư 93/2004/TT-BTC, ngày 29/09/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính [2] Chỉ thị 40/2005/CT-TTg, ngày 16/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 93/2004/TT-BTC", ngày 29/09/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính [2] "Chỉ thị 40/2005/CT-TTg
[4] TS. Lê Xuân Bá, TS. Trần Kim Hào, TS. Nguyễn Hữu Thắng (2006), Các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: TS. Lê Xuân Bá, TS. Trần Kim Hào, TS. Nguyễn Hữu Thắng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[6] TS. Phạm Thị Thanh Hằng, Báo cáo thường niên-Doanh nghiệp Việt Nam 2006, NXB Chính trị quốc gia phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên-Doanh nghiệp Việt Nam 2006
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
[7] Bộ kế hoạch và đầu tư (2007), “Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở để xây dựng chiến lược hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam từ nay đến năm 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở để xây dựng chiến lược hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam từ nay đến năm 2010
Tác giả: Bộ kế hoạch và đầu tư
Năm: 2007
[8] GS.TS.Hồ Xuân Phương-Ths.Đỗ Minh Tuấn-Chu Minh Phương, Tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, NXB tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nhà XB: NXB tài chính
[9] Lê Khắc Triết, Đổi mới và phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam thực trạng và giải pháp, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam thực trạng và giải pháp
Nhà XB: NXB Lao động
[10] Viện Konrad Adenrauer-Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa quốc tế học; “Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kinh tế. Kinh nghiệm trong nước và quốc tế”, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kinh tế. Kinh nghiệm trong nước và quốc tế
Nhà XB: NXB Thế giới
[11] Ngân hàng thế giới, “Tính điểm tín dụng: một công cụ hỗ trợ hoạt động cho DNNVV vay hiệu quả”, Các vấn đề về DNVVN, tập 1 số1, tháng 11, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính điểm tín dụng: một công cụ hỗ trợ hoạt động cho DNNVV vay hiệu quả
[12] Tas, Nilgun, “Vai trò của dịch vụ phát triển kinh doanh trong việc thúc đẩy khả năng tiếp cận các nguồn tài chính chính thức”. Bài trình bày tại Diễn đàn tăng cường hỗ trợ và hợp tác vì sự phát triển của các DNVVN APEC. Hà Nội 2/7/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của dịch vụ phát triển kinh doanh trong việc thúc đẩy khả năng tiếp cận các nguồn tài chính chính thức
Tác giả: Nilgun Tas
Nhà XB: Diễn đàn tăng cường hỗ trợ và hợp tác vì sự phát triển của các DNVVN APEC
Năm: 2006
[13] UNCTAD, Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV ở các nước đang phát triển: Vai trò tài chính đối với việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp, UNCTAD, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV ở các nước đang phát triển: Vai trò tài chính đối với việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp
[14] Nguyễn Văn Thắng, Lê Thị Bích Ngọc và Nick Freeman. “Niềm tin và sự bất ổn: Nghiên cứu về hoạt động cho vay của các ngân hàng đối vơí DNNVV tư nhân ở Việt Nam”. Tạp chí doanh nghiệp Châu Á Thái Bình Dương, 2006 [15] Hallberg, Kristin, Chiến lược định hướng thị trường dành cho các DNNVV,Báo cáo Qũy tiền tệ quốc tế-IFC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niềm tin và sự bất ổn: Nghiên cứu về hoạt động cho vay của các ngân hàng đối với DNNVV tư nhân ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Lê Thị Bích Ngọc, Nick Freeman
Nhà XB: Tạp chí doanh nghiệp Châu Á Thái Bình Dương
Năm: 2006
[16] www.business.link.gov.uk, Hướng dẫn tài chính dành cho các doanh nghiệp có mức tăng trưởng cao, Cục Thương mại và công nghiệp Anh, tháng1/2005 [17] Các trang web: http://www.vienkinhte.hochiminhcity.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tài chính dành cho các doanh nghiệp có mức tăng trưởng cao
[5] Vũ Hồng Quân, Đôi điều về quản lý tri thức đối với doanh nghiệp Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu năng suất Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và vừa phân theo vùng lãnh thổ - Khóa luận tốt nghiệp: Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh nghiệm trên thế giới và bài học cho Việt Nam
Bảng 3.1 Cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và vừa phân theo vùng lãnh thổ (Trang 44)
Bảng 3.3: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá trị thực tế (%) - Khóa luận tốt nghiệp: Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh nghiệm trên thế giới và bài học cho Việt Nam
Bảng 3.3 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá trị thực tế (%) (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w