Khóa luận tốt nghiệp: Phát triển hoạt động bán lẻ hiện đại - triển vọng cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài và giải pháp cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
Trang 1CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
nghiệp bán lẻ Việt Nam
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thanh Huyền
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Lê Hằng
Hà Nội, 2008
Trang 2MỤC LỤC
LờI Mở ĐầU 1
CHƯƠNG 1: Lý LUậN CHUNG Về BáN Lẻ 4
1.1 Những vấn đề chung về hoạt động bán lẻ 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động bán lẻ 4
1.1.1.1.Khái niệm 4
1.1.1.2.Đặc điểm của hoạt động bán lẻ 5
1.1.2 Vị trí, chức năng, vai trò của bán lẻ trong kênh phân phối 5
1.1.2.1.Vị trí 5
1.1.2.2.Chức năng của hoạt động bán lẻ 7
1.1.3 Sự phát triển của các hình thức bán lẻ 8
1.1.3.1.Chợ 9
1.1.3.2.Cửa hàng chuyên doanh 9
1.1.3.3.Cửa hàng bách hoá 9
1.1.3.4.Siêu thị 10
1.1.3.5.Bán lẻ qua mạng Internet 10
1.1.3.6.Nhượng quyền bán lẻ 10
1.1.4 Định giá bán lẻ 11
1.1.4.1.Chiến lược định giá phổ biến 11
1.1.4.2 Giá bán khuyến khích của nhà sản xuất 12
1.1.4.3.Định giá trong thương mại bán lẻ qua Internet 12
1.2 Hệ thống bán lẻ hiện đại 13
1.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Đặc điểm 14
1.2.2.1.Hệ thống bán lẻ áp dụng phương pháp tự phục vụ (self-service) 14 1.2.2.2.Hệ thống bán lẻ hiện đại áp dụng nghệ thuật trưng bày hàng hóa (Merchandising) 15
Trang 31.2.2.3.Hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày với chất lượng
được đảm bảo 16
1.2.3 Các loại hình bán lẻ hiện đại phổ biến 16
1.2.3.1 Siêu thị 16
1.2.3.2 Trung tâm thương mại 17
CHƯƠNG 2: THựC TRạNG HOạT ĐộNG BáN Lẻ TRÊN THị TRƯờNG BáN Lẻ VIệT NAM 20
2.1 Đặc điểm của thị trường bán lẻ Việt Nam 21
2.1.1 Các mô hình phân phối, bán lẻ hiện có ở Việt Nam 21
2.1.2 Việt Nam -Thị trường bán lẻ hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài 22
2.1.3 Yếu tố chính trị pháp luật tác động tới hoạt động bán lẻ 29
2.1.3.1.Quy chế siêu thị-trung tâm thương mại 29
2.1.3.2.Lộ trình cam kết mở cửa của Việt Nam 31
2.1.3.3.Đề án "Chiến lược phát triển thương mại nội địa 2006- 2010, định hướng đến năm 2015 và 2020" 32
2.1.4 Mặt bằng cho hoạt động kinh doanh bán lẻ 33
2.1.5 Văn hóa-thói quen mua sắm của người tiêu dùng 35
2.2 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam 36
2.2.1 Hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài 36
2.2.1.1.Doanh nghiệp nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam 36
2.2.1.2.Quy mô và vị trí của các siêu thị và trung tâm thương mại 39
2.2.1.4.Hàng hóa trong siêu thị, trung tâm thương mại 42
2.2.1.5.Giá thành sản phẩm 43
2.2.1.6.Nguồn nhân lực và quản lý 44
2.2.1.7.Hoạt động Marketing 44
2.2.1.8.Uy tín và thương hiệu của các siêu thị nước ngoài tại Việt Nam 45
2.2.2 Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam 46
Trang 42.2.2.1.Tiềm lực tài chính 47
2.2.2.2.Quy mô siêu thị 47
2.2.2.3.Hàng hóa trong siêu thị 48
2.2.2.4.Giá cả hàng hóa và nguồn hàng 49
2.2.2.5.Nguồn nhân lực và quản lý 50
2.2.2.6.Cơ sở hậu cần (Logistic) 51
2.2.2.7.Hoạt động Marketing 51
2.3 Đánh giá chung 52
2.3.1 Doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài 52
2.3.1.1.Lợi thế của các doanh nghiêp bán lẻ nước ngoài 52
2.3.1.2.Khó khăn của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài 53
2.3.2 Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam 56
2.3.2.1.Thành tựu 56
2.3.2.2.Những yếu kém tồn tại 63
2.3.2.3.Nguyên nhân của những tồn tại 68
CHƯƠNG 3: TRIểN VọNG PHáT TRIểN CHO CáC DOANH NGHIệP BáN Lẻ NƯớC NGOàI Và GIảI PHáP CHO CáC DOANH NGHIệP BáN Lẻ VIệT NAM 73
3.1 Những căn cứ chính để định hướng phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 73 3.1.1 Quá hình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 73
3.1.2 Những thay đổi trong thu nhập và chi tiêu của người tiêu dùng Việt Nam 75
3.1.3 Mức độ siêu thị hoá và lối sống công nghiệp 75
3.1.4 Lợi thế cạnh tranh của hệ thống bán lẻ hiện đại so với các loại hình bán lẻ truyền thống 76
3.2 Xu hướng thị trường bán lẻ Việt Nam trong thời gian tới 76
3.2.1 Xu hướng kinh doanh chuyên môn hóa mặt hàng 76
3.2.2 Xu hướng cạnh tranh toàn cầu hóa 77
3.2.3 Hệ thống phân phối truyền thống sẽ bị thu hẹp 77
Trang 53.2.4 Các loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại sẽ được mở rộng 78
3.3 Mục tiêu và định hướng phát triển hoạt động bán lẻ tại Việt Nam 79
3.3.1 Mục tiêu hướng tới của đề án 79
3.3.2 Định hướng phát triển đối với hệ thống bán lẻ hiện đại 80
3.4 Triển vọng phát triển của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài 81
3.5 Giải pháp cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam 83
3.5.1 Giải pháp từ phía nhà nước 83
3.5.1.1.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo môi trường thuận lợi để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 83
3.5.1.2.Giải pháp xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 84
3.5.1.3.Phối hợp trong công tác quản lý hệ thống bán lẻ hiện đại 87
3.5.1.4.Khuyến khích các doanh nghiệp bán lẻ thực hiện liên kết 88
3.5.1.5.Phát triển hài hòa hệ thống bán lẻ hiện đại và truyền thống 89
3.5 1.6.Các giải pháp khác 90
3.5.2 Giải pháp đối với các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại 90
3.5.2.1.Thay đổi nhận thức kinh doanh và xây dựng phong cách chuyên nghiệp 90
3.5.2.2.Nâng cấp và hiện đại hoá cơ sở vật chất để kinh doanh có hiệu quả hơn 92
3.5.2.3.Thực hiện đa dạng hóa thị trường và phát triển dịch vụ khách hàng 92
3.5.2.4.ứng dụng chiến lược Marketing hỗn hợp trong kinh doanh 93
3.5.2.5.Xây dựng chính sách quản trị và phát triển nguồn nhân lực 95
3.5.2.6.Tiến hành liên kết tạo sức mạnh để cạnh tranh với các công ty bán lẻ nước ngoài 96
3.5.3 Giải pháp khác 97
3.5.3.1.Đối với các doanh nghiệp sản xuất 97
3.5.3.2.Đối với người tiêu dùng 98
Trang 6KếT LUậN 100
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa đang trở thành xu thế chính của nền kinh tế thế giới hiện nay Nó đòi hỏi các quốc gia, các dân tộc phải có sự hội nhập sâu rộng, giao lưu, hợp tác cùng nhau phát triển Không nằm ngoài xu thế đó, Việt Nam đã và đang tích cực thực hiện các hiệp định AFTA, đã gia nhập WTO và tiến hành mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ vào ngày 1/1/2009 Cùng với tiến trình đó, các loại hình phân phối bán lẻ hiện đại theo
mô hình của các nước tiên tiến như siêu thị, cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại đã xuất hiện và ngày càng phổ biến tại một số đô thị ở Việt Nam
để đáp ứng nhu cầu mua sắm ngày càng cao của người dân Đây vừa là những
cơ hội mới cho các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại, đồng thời cũng là thách thức không nhỏ trong kinh doanh bán lẻ Với việc mở cửa giao lưu kinh tế và thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, cạnh tranh trên thị trường bán lẻ đang trở nên gay gắt Trước tình hình này, để tồn tại và phát triển thì điều kiện tiên quyết là các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam và nước ngoài phải đánh giá được thực trạng kinh doanh dịch vụ bán lẻ của mình để tìm ra giải pháp phát triển
và cạnh tranh có hiệu quả
Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động bán lẻ hiện đại tại các nước
có nền kinh tế thị trường cho thấy đây là hình thức tổ chức thương mại rất có hiệu quả và ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong các hình thức phân phối hàng hóa Hoạt động bán lẻ thông qua các siêu thị, trung tâm thương mại
ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận
có tác dụng góp phần làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế; tuy nhiên cũng không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế nhất định
Thời điểm mở của hoàn toàn thị trường bán lẻ đang đến gần, thị trường bán lẻ Việt Nam đang trong giai đoạn nhạy cảm và phát triển nhanh với việc
Trang 8tăng tốc của các doanh nghiệp bán lẻ trong và ngoài nước Ai cũng muốn tạo lập cho mình vị thế vững chắc trên thị trường So với các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài có ưu thế lớn về vốn, công nghệ và kinh nghiệm lâu năm thì các doanh nghiệp trong nước còn rất non trẻ
Được đánh giá là thị trường bán lẻ phát triển năng động và đầy tiềm năng, triển vọng cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài là rất lớn Trong bối cảnh đó, để tránh bị thôn tính và loại bỏ, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh
Xuất phát từ những nhận thức trên, em đã quyết định chọn đề tài "Phát triển hoạt động bán lẻ hiện đại-triển vọng cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài và giải pháp cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam" làm đề tài
cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ các khái niệm về hoạt động bán lẻ, hoạt động bán lẻ hiện đại,
vị trí, vai trò của bán lẻ trong kênh phân phối
- Nghiên cứu thực trạng, tình hình phát triển của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam và nước ngoài Đánh giá các thành tựu đạt được và các yếu kém còn tồn tại
- Định hướng, mục tiêu phát triển của thị trường bán lẻ, từ đó đánh giá triển vọng cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài và đề xuất một số giải pháp phát triển các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động của một số mô hình bán lẻ hiện đại, bao gồm các siêu thị, trung tâm thương mại và chuỗi cửa hàng tiện lợi tại
2 đô thị lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Sử dụng các phương pháp: phương pháp luận duy vật biện chứng; phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bán lẻ
Chương 2: Thực trạng hoạt động bán lẻ trên thị trường bán lẻ Việt Nam Chương 3: Triển vọng cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài và giải pháp cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Thạc sỹ Nguyễn Lệ Hằng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Do thời gian và trình độ có hạn nên khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý của thày cô
và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 10CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁN LẺ
Trong cuốn "Retail management", Micheal Levy định nghĩa:
Bán lẻ là một loạt các hoạt động kinh doanh làm gia tăng giá trị cho sản phẩm dịch vụ được bán cho người tiêu dùng cuối cùng vì mục đích sử dụng
Như vậy hoạt động bán lẻ bao gồm tất cả các hoạt động nhằm bán hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng cá nhân, phi thương mại
Nhà bán lẻ là người chuyên bán một số chủng loại sản phẩm dịch vụ nhất định cho người tiêu dùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân Doanh thu của nhà bán lẻ chủ yếu từ hoạt động bán lẻ mang lại Bất kể tổ chức nào
Trang 11(nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ) bán cho người tiêu dùng cuối cùng đều đang làm chức năng của bán lẻ
1.1.1.2.Đặc điểm của hoạt động bán lẻ
Với định nghĩa như trên, bán lẻ có những đặc điểm cơ bản sau:
Người bán lẻ là người tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên nhất với người tiêu dùng cuối cùng nên họ nắm bắt rõ nhu cầu, thị hiếu và thói quen mua sắm của khách hàng Do vậy người bán lẻ có khả năng thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng cao hơn và năng động hơn trong hoạt động bán hàng
so với các loại hình trung gian khác
Người bán lẻ phải cung cấp hàng hoá đa dạng từ các hàng hoá thông thường giá trị thấp cho đến các chủng loại hàng hoá có giá trị cao, tiêu dùng dài ngày nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của khách hàng Các dịch vụ cung ứng cũng rất phong phú, đòi hỏi người bán hàng phải hiểu rõ những hàng hoá dịch vụ mà mình cung ứng để giúp khách hàng lựa chọn và
từ đó có thể bán được nhiều hàng hoá hơn Cũng chính từ đặc điểm này mà khả năng an toàn trong kinh doanh của người bán lẻ thường cao hơn so với người bán buôn
Nhờ vào lợi thế kinh tế về quy mô mà hiệu quả kinh doanh của chuỗi
hệ thống cửa hàng bán lẻ thường cao hơn so với những của hàng bán lẻ đơn độc, do vậy chuỗi hệ thống của hàng bán lẻ trở thành một trong những ngành kinh doanh lớn nhất trên thế giới
Người bán lẻ là thành viên cuối cùng trong kênh phân phối hàng hoá và dịch vụ, do vậy hàng hoá họ bán ra sẽ trực tiếp đến tay người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân Và hàng hoá sau khi từ tay người bán lẻ đến với người tiêu dùng cuối cùng sẽ không có cơ hội quay trở lại thị trường nữa
1.1.2 Vị trí, chức năng, vai trò của bán lẻ trong kênh phân phối
1.1.2.1.Vị trí
Trang 12Các nhà sản xuất thường đưa hàng hóa và dịch vụ của mình ra thị trường thông qua các kênh phân phối Kênh phân phối theo định nghĩa của
Stern và EL Ansary là một hệ thống các tổ chức độc lập liên quan đến quá
trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụ sẵn sàng cho sử dụng hoặc tiêu dùng Nó
được hình dung như một chuỗi bao gồm các khâu trung gian khác nhau có liên quan đến đường đi của sản phẩm, dịch vụ giúp sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng Trung gian trong các kênh phân phối có thể là đại lý môi giới, nhà bán buôn, nhà bán lẻ Tuy không có quy mô lớn, không có khả năng về vốn so với nhà bán buôn nhưng nhà bán lẻ có những phương tiện bán hàng đa dạng, hệ thống cửa hàng phong phú như cửa hàng bách hoá, cửa hàng tổng hợp, siêu thị, các cửa hàng khuyến mại, giảm giá Các nhà bán lẻ nằm ở
vị trí cuối cùng trong kênh phân phối Họ mua lại hàng từ các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc nhà bán buôn để bán trực tiếp cho nhười tiêu dùng cuối cùng Người bán lẻ không những là những người quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng mà còn hoạt động như một đại lý mua hàng cho công chúng bằng cách xác định, lựa chọn hàng hóa, thỏa thuận mức giá với nhà cung cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ cho tất cả mọi người trong xã hội
Sơ đồ: Vị trí của bán lẻ trong kênh phân phối 3
3 Nguồn: Phillip Kotler (2003), "Quản trị Marketing", NXB Thống Kê, trang 290
Trang 131.1.2.2.Chức năng của hoạt động bán lẻ
Bán lẻ là một khâu của quá trình phân phối nên nó cũng đảm nhiệm đầy
đủ các chức năng cơ bản của phân phối Tuy nhiên do đặc thù là kênh cuối cùng đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng nên bán lẻ mang một số chức năng riêng
Thứ nhất là nghiên cứu, thu thập thông tin cần thiết để lập kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi
Nhà bán lẻ là người trực tiếp tiếp xúc với người tiêu dùng nên có thể thu thập những thông tin về nhu cầu thị trường, thị hiếu khách hàng để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Những thông tin này của nhà bán lẻ là rất cần thiết để nhà sản xuất có thể nắm bắt được phản hồi từ phía khách hàng, kịp thời cải tiến hàng hóa cho phù hợp với nhu cầu thị trường
Thứ hai là kích thích tiêu thụ, cung cấp các thông tin về hàng hóa cho người tiêu dùng
Các nhà bán lẻ khai thác một số lượng lớn các sản phẩm được sản xuất bởi nhiều công ty khác nhau Điều này mang lại cho khách hàng sự tiện lợi, thoải mái trong việc lựa chọn sản phẩm, nhãn hiệu, mùi vị, màu sắc, quy cách bao bì đóng gói và cả mức giá hợp lý Nếu nhiệm vụ chính của các nhà sản xuất là sản xuất ra sản phẩm tốt thì cửa hàng bán lẻ giúp tiếp thị những sản phẩm đó đến tay người tiêu dùng Các nhà bán lẻ có thể tự tiến hành các biện pháp xúc tiến bán hàng của riêng mình để tăng doanh thu bán lẻ Đồng thời,
họ có thể đóng vai trò là người chuyển giao thông điệp quảng cáo hoặc các thông tin khuyến nghị của nhà sản xuất đến người tiêu dùng
Trang 14Thứ ba là hoàn thiện hàng hóa, làm cho hàng hóa đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người mua
Tại các cửa hàng bán lẻ như siêu thị, số mặt hàng có thể lên tới 15.000 mặt hàng từ hơn 500 nhà sản xuất khác nhau Các nhà bán lẻ có chức năng nhập các lô hàng với số lượng lớn sau đó chia nhỏ ra rồi bán lại cho người tiêu dùng Bên cạnh đó, dù các nhà bán lẻ có thể nhận hàng hóa đã hoàn thiện
từ nhà sản xuất hay nhà bán buôn nhưng do đặc thù ngành bán lẻ, nhà bán lẻ phải tiến hánh sơ chế, đóng gói để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng trong điều kiện tốt nhất và hình thức phù hợp nhất
Thứ tư là lưu kho bãi
Đây là chức năng quan trọng nhất của bán lẻ để đảm bảo luôn có hàng phục vụ nhu cầu người tiêu dùng Nhà bán lẻ thường không tích trữ một vài mặt hàng với khối lượng lớn, mà ngược lại ngược lại họ thích tích trữ nhiều mặt hàng với khối lượng càng nhỏ càng tốt vì như thế khách hàng luôn luôn
có nhiều sự lựa chọn hơn Hưởng lợi từ chức năng này của bán lẻ, khách hàng không phải mua trữ nhiều sản phẩm trong nhà Họ chỉ mua đủ dùng vì họ có thể dễ dàng mua được hàng hóa mọi nơi, mọi lúc Không những thế người bán lẻ còn dự đoán được nhu cầu của khách khi lên kế hoạch dự trữ hàng hoá Ngoài ra, một số hoạt động sản xuất có tính thời vụ, còn tiêu dùng diễn ra quanh năm, do đó cần tới chức năng dự trữ của bán lẻ
Thứ năm là cung cấp các dịch vụ hỗ trợ
Nhà bán lẻ cung cấp các dịch vụ giúp cho người tiêu dùng dễ dàng mua và
sử dụng sản phẩm hơn, bằng các biện pháp như cho người mua trả chậm, mời sử dụng hàng thử, tư vấn và sẵn sàng cung cấp thêm thông tin về sản phẩm… Tiếp
đó là các dịch vụ tiện ích khác như chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng, dịch
vụ mang hàng đến tận nhà cho khách hàng, dịch vụ đưa đón khách hàng tại những điểm cố định
1.1.3 Sự phát triển của các hình thức bán lẻ
Trang 15có số lượng nhỏ, không mang tính ổn định Khách hàng cũng phải trả tiền ngay cho từng món hàng mình mua vì ở chợ có rất nhiều người bán và mỗi người chỉ bán một loại hàng hoá nhất định Hơn nữa hàng hoá ở đây rất khó
để xác định được nguồn gốc và khách hàng cũng không hề nhận được bất kỳ
sự đảm bảo nào về chất lượng của hàng hoá sau khi mua Hàng hoá ở chợ cũng không được niêm yết giá cụ thể mà tuỳ vào sự thoả thuận giữa người mua và người bán, gọi là "mặc cả" Việc mua bán ở chợ hầu như cũng không
có dịch vụ nào đi kèm Chợ là hình thức sơ khai đầu tiên của bán lẻ
1.1.3.2.Cửa hàng chuyên doanh
Là các của hàng có quy mô không lớn, chuyên bán một số mặt hàng náo đó như gạo, bánh kẹo, bia rượu, đồ gỗ, gốm sứ… So với các gian hàng ở chợ thì hàng hoá ở các cửa hàng chuyên doanh đã được phân cấp, sắp xếp hợp
lý về chất lượng và giá cả Khách hàng với mục đích mua một loại sản phẩm
sẽ có nhiều sự lựa chọn từ nhiều nhà cung cấp, do đó sẽ chọn được sản phẩm ưng ý, hợp với sở thích và túi tiền của mình Tính chuyên môn trong việc bán hàng đã được nâng lên so với các gian hàng nhỏ lẻ ở chợ
1.1.3.3.Cửa hàng bách hoá
Cửa hàng bách hoá là nơi hàng hóa được tập trung với số lượng lớn, đa dạng về chủng loại, mẫu mã Mỗi mặt hàng được sắp xếp theo chất lượng cao thấp, theo mẫu mã tại các khu vực riêng để khách hàng có thể dễ dàng nhận biết và chọn mua được sản phẩm thích hợp Người tiêu dùng có thể mua được
Trang 16nhiều hàng hoá cùng một lúc tại cùng một nơi, như vậy sẽ tiết kiệm thời gian
đi lại và thanh toán
1.1.3.4.Siêu thị
Siêu thị là hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại nhất hiện nay Với ưu điểm là tự chọn, hàng hoá được bố trí và trưng bày hợp lý, giá cả được niêm yết rõ ràng giúp khách hàng cảm thấy dễ dàng thoải mái lựa chọn theo ý thích Hơn nữa, siêu thị còn ưu việt hơn trong phương thức thanh toán khi sử dụng các máy tính tiền hiện đại dựa trên phương pháp quét mã vạch, cho phép
sử dụng thẻ Debit card để thanh toán Hàng hoá trong siêu thị thường có hình minh hoạ, hướng dẫn cách sử dụng và có chứng nhận về chất lượng cũng như nguồn gốc
Cùng với sự phát triển của siêu thị là các đại siêu thị với quy mô lớn hơn về chủng loại, số lượng hàng hoá và vẫn giữ được những ưu điểm của siêu thị Bên cạnh đó là hệ thống các chuỗi siêu thị với những tên tuổi đã tạo được uy tín và niềm tin trong lòng khách hàng
1.1.3.5.Bán lẻ qua mạng Internet
Đây là hình thức bán lẻ mới phát triển nhằm giúp khách hàng tiết kiệm tối đa thời gian và công sức vì không phải trực tiếp đi đến các cửa hàng để mua sắm Hiện nay đây vẫn là một hình thức kinh doanh bán lẻ khá mới mẻ,
có thể kể đến các địa chỉ như Amazon.com, Ebay.com… Đây là các Website cho phép khách hàng đặt hàng qua mạng Internet và hàng hoá sẽ đựơc chuyển đến đúng địa chỉ yêu cầu Hình thức này giúp các công ty bán lẻ qua mạng không phải mất chi phí thuê mặt bằng và cũng giúp khách hàng có phong cách mua sắm hiện đại, tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức Tuy nhiên việc đảm bảo giao hàng đúng ngày và đảm bảo chất lượng hàng hoá dịch vụ là điều rất quan trọng trong loại hình bán lẻ qua mạng Internet này
1.1.3.6.Nhượng quyền bán lẻ
Trang 17Đây là một ý tưởng kinh doanh mà trong đó công ty chuyển nhượng chia sẻ thương hiệu và công nghệ cho những người mua nhượng quyền và nhận lại một khoản phí gọi là phí nhượng quyền Các điều kiện nhượng quyền bao gồm cả những điều kiện hỗ trợ về nâng cấp hoạt động của cửa hàng Hoạt động này giúp cho công ty nhượng quyền thu được nhiều lợi ích, đặc biệt là khả năng phát triển mạng lưới mà không phải trực tiếp quản lý hoạt động của cửa hàng
1.1.4 Định giá bán lẻ
1.1.4.1.Chiến lược định giá phổ biến
Kỹ thuật định giá được sử dụng bởi đông đảo những người bán lẻ là kỹ thuật định giá lấy giá sản xuất cộng với tiền lãi vừa phải (cost - plus pricing) Giá bán lẻ tất nhiên còn bao gồm thêm cả phần chi phí mà người bán lẻ đã bỏ
ra để vận chuyển, bao gói, bảo quản hàng hoá và chi phí bán hàng Một số kỹ thuật định giá phổ biến khác là định giá theo giá bán lẻ khuyến khích (suggested retail pricing), giá này được tính dựa trên giá do nhà sản xuất đưa
ra và thường được nhà sản xuất in lên hàng hoá
Tại các nước phương Tây, giá bản lẻ thường được gọi là giá tâm lý và thường chỉ nhỏ hơn một chút so với số tròn, ví dụ 6,98USD chứ không phải là 7USD Còn tại Trung Quốc thì nhìn chung giá được định giá bằng một số tròn hoặc thình thoảng là con số may mắn
Thông thường giá được cố định sẵn và được ghi ngoài nhẵn mác của hàng hoá Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt về giá do rất nhiều lý do Người bán lẻ sẽ bán với giá cao hơn cho một số khách hàng và bán giá thấp hơn cho những người khác Ví dụ, người tiêu dùng sẽ phải trả giá cao hơn nếu như người bán lẻ đoán biết được rằng khách hàng đang rất cần mua mặt hàng đó
Sự phân biệt về giá đôi khi đưa tới việc mặc cả về giá giữa người bán và người mua Các nhà kinh tế nhìn nhận hiện tượng này như là một quyết định xem tổng lợi ích của cuộc trao đổi sẽ được phân bổ như thế nào thành lợi ích
Trang 18của người tiêu dùng và của người sản xuất Giá thoả thuận hay chính là sự hợp tác giữa hai bên có một ưu điểm rõ ràng vì nếu cuộc mua bán không thành thì cả hai bên đều không thu được lợi ích cho mình
1.1.4.2 Giá bán khuyến khích của nhà sản xuất
Giá bán khuyến khích của nhà sản xuất (Manufacturer Suggested Retail Price - MSRP) là mức giá mà người sản xuất khuyên người bán lẻ nên bán Điều này giúp cho việc định ra giá cả chung giữa các vùng Một số người bán
lẻ thường bán với mức giá thấp hơn MSRP, một số khác chỉ bán thấp hơn khi loại hàng đó đang vào đợt giảm giá hoặc bán dọn kho
Thông thường các cửa hàng thường bán với giá thấp hơn, tuỳ thuộc vào giá mà họ mua từ nhà bán buôn hoặc nhà sản xuất hoặc nhà phân phối Tuy nhiên giá bán khuyến khích của nhà sản xuất đôi khi có thể bị đẩy lên cao một cách vô lý Điều này cho phép người bán lẻ có thể sử dụng phương thức quản cáo lừa bịp bằng cách chỉ cho khách hàng thấy mức giá dán trên sản phẩm là rất cao, sau đó tiếp tục đưa ra giá bán của mình ở mức giá thấp hơn so với mức giá dán trên sản phẩm Khách hàng sẽ tưởng là mình đã được khuyến mãi rất nhiều so với giá thực tế trong khi họ đã mua với giá cao hơn hẳn so với giá thực tế
1.1.4.3.Định giá trong thương mại bán lẻ qua Internet
Nhiều người cho rằng khi tiến hành bán lẻ trên mạng Internet sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn về giá so với các đối thủ khác vì các công ty này không phải chịu những chi phí khổng lồ về lưu trữ hàng hoá và chi phí thuê mặt bằng Nhưng thực tế không phải như vậy Các công ty bán lẻ qua mạng nhận thấy rằng họ cũng cần phải có hàng dự trữ, ít nhất là một phần trong số các mặt hàng quảng cáo và cũng phải chịu khoản chi phí thuê tên miền
Cách định giá tốt nhất là định giá dựa trên chiến lược kinh doanh của mình Khi định giá nên nắm rõ các thế mạnh của mình khi tiến hành kinh doanh qua mạng như có thể bán với giá thấp hoặc giá cạnh tranh, có thể cung
Trang 19cấp nhiều sự lựa chọn cho khách hàng, khả năng giao hàng cạnh tranh, có dịch vụ khách hàng tốt hoặc có hàng hiếm, độc đáo, nhãn hiệu nổi tiếng, uy tín
Hiện nay trong môi trường bán lẻ cả trên mạng lẫn ngoài cửa hàng thực, các công ty thường phổ biến áp dụng chính sách giá Cao - Thấp (hình chữ W) Giá bán lẻ sẽ được hạ thấp trong một giai đoạn nhất định để thu hút khách mua hàng, sau đó giá bán sẽ trở lại như cũ Các cửa hàng bán lẻ trên mạng áp dụng khá linh hoạt chính sách này Qua quảng cáo họ có thể đưa ra chính sách hạ thấp giá bán vào một ngày nào đó trong tuần để khách hàng thường xuyên vào mạng tìm mua hoặc áp dụng trong các ngày đặc biệt như các dịp Lễ, Tết hoặc ngày thành lập Công ty Chính sách này khá thông dụng
vì nó khiến khách hăng hái mua hàng hơn và do đó tỷ lệ quay vòng hàng hóa trở nên nhanh hơn
Tuy nhiên giá cả theo chính sách chữ W cũng gây một số khó khăn như chi phí phục vụ bán hàng của nhà bán lẻ sẽ gia tăng vì khi đợt hạ giá kết thúc vẫn phải trả lời những khách hàng cho rằng đợt hạ giá vẫn còn tiếp diễn hoặc giải quyết vấn đề nảy sinh khi khách hàng hoàn trả hàng đã mua với giá thông thường trong thời điểm bán hạ giá mặt hàng đó Lưu ý thêm là có một số nhà cung cấp sẽ không bao giờ đồng ý bán hạ giá sản phẩm của mình để giữ uy tín
về thương hiệu cho họ vì họ biết những khách hàng đến với họ thì không cần giảm giá Nếu không chú ý thì các nhà bán lẻ có thể làm ảnh hưởng xấu đến quan hệ với các nhà cung cấp
1.2 Hệ thống bán lẻ hiện đại
1.2.1 Khái niệm
Hiện nay, chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra khái niệm về hệ thống bán lẻ hiện đại Tuy nhiên dựa vào tính chất của kênh phân phối bán lẻ có thể chia hệ thống bán lẻ ra làm hai loại là hệ thống bán lẻ truyền thống và hệ thống bán lẻ hiện đại Hệ thống bán lẻ hiện đại có mô hình tiêu biểu là các
Trang 20cửa hàng tiện dụng (convenience store), siêu thị nhỏ (mini market), siêu thị (supermarket), đại siêu thị (hypermarket), cửa hàng bách hóa lớn (department store), trung tâm thương mại (commercial center, shopping mall)…
Như vậy hệ thống bán lẻ hiện đại khác hệ thống bán lẻ truyền thống ở phương pháp quản lý kinh doanh, cách bài trí hàng hóa, phong cách phục vụ
1.2.2 Đặc điểm
1.2.2.1.Hệ thống bán lẻ áp dụng phương pháp tự phục vụ (self-service)
Điển hình nhất trong hệ thống bán lẻ hiện đại là mô hình siêu thị Khi nói đến siêu thị người ta không thể không nghĩ tới "tự phục vụ", một phương thức bán hàng do siêu thị tạo ra, được ứng dụng trong nhiều loại cửa hàng bán
lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh công
nghiệp Ta cũng cần phân biệt giữa phương thức tự chọ và tự phục vụ:
Tự phục vụ: Khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc
xe đẩy đem đến thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào Người bán vắng bóng trong quá trình mua hàng
Tự chọn: Khách hàng sau khi chọn mua được hàng hóa sẽ đến chỗ
người bán để trả tiền, nhưng trong quá trình mua vẫn có sự hướng dẫn, giúp
đỡ của người bán Tại các trung tâm thương mại hoặc cửa hàng bách hóa có nhân viên giúp đỡ và sẵn sàng cung cấp thông tin cho khách hàng Tuy nhiên điểm khác biệt của phương thức bán hàng hiện đại là tính tự chủ và sự thoải mái lựa chọn của khách hàng luôn được đặt lên trên hết
Chính thức ra đời từ những năm 1930, tự phục vụ đã trở thành công thức chung cho ngành công ngiệp phân phối ở các nước phát triển Tự phục
vụ đồng nghĩa với văn minh công nghiệp hiện đại Nó có nhiều ưu điểm so với cách bán hàng truyền thống: doanh nghiệp có thể tiết kiện được chi phí bán hàng, đặc biệt là chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng (thường chiếm tới 30% tổng chi phí kinh doanh) Tự phục vụ giúp người mua cảm
Trang 21thấy thoải mái khi được tự do lựa chọn, ngắm nghía, so sánh hàng hóa mà không cảm thấy bị ngăn trở từ phía người bán
Do vậy áp dụng phương thức tự phục vụ, giá cả trong các siêu thị hay cửa hàng tiện lợi được niêm yết rõ ràng để người mua không phải tốn công mặc cả, tiết kiệm được thời gian Ngoài ra, phường thức thanh toán tại các cửa hàng bán lẻ hiện đại rất thuận tiện Hàng hóa gắn mã vạch, mã số được đem ra quầy tính tiền ở ngoài, dùng máy quét scanner để đọc giá, tính tiền bằng máy và tự động in hóa đơn Hình ảnh các quầy tính tiền tự động luôn là biểu tượng cho các cửa hàng tự phục vụ Đặc điểm này mang đến cảm giác thoải mái, hài lòng, tự tin và sự thỏa mãn cao nhất cho người mua sắm
Có thể khẳng định rằng phương thức tự phục vụ là điểm ưu việt nhất của hình thức bán lẻ hiện đại và là cuộc "đại cách mạng" trong lĩnh vực thương mại bán lẻ
1.2.2.2.Hệ thống bán lẻ hiện đại áp dụng nghệ thuật trưng bày hàng hóa (Merchandising)
Các siêu thị cũng là những nhà bán lẻ đầu tiên nghĩ đến tầm quan trọng của nghệ thuật trưng bày hàng hóa và nghiên cứu cách thức vận động của người mua hàng khi vào cửa hàng Nhiều cửa hàng bán lẻ khác, dựa trên cơ
sở các nghiên cứu của siêu thị để tiến hành các hoạt động nghiên cứu khách hàng sâu sắc hơn nhằm tối đa hóa hiệu quả của không gian bán hàng
Do người bán không có mặt tại các quầy hàng nên hàng hóa phải có khả năng "tự quảng cáo", lôi cuốn người mua Các cửa hàng hiện đại làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa, nhiều khi được nâng lên thành những thủ thuật Chẳng hạn, hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưng bày với diện tích lớn; những hàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gần nhau; hàng
Trang 22khuyến mại phải thu hút khách hàng bằng những kiểu trưng bày bắt mắt; hàng
có trọng lượng lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng dễ lấy…
1.2.2.3.Hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày với chất lượng được đảm bảo
Hàng hóa trong siêu thị và cửa hàng tiện lợi chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như thực phẩm, quần áo, bột giặt, đồ điện tử gia dụng…với chủng loại rất phong phú, đa dạng Điều này tạo nên sự thuân tiện khi người mua chỉ cần đến một nơi là có thể mua được tất cả những mặt hàng thiết yếu hàng ngày Với loại hình siêu thị, theo quan niện của nhiều nước, đó là nơi người mua có thể tìm thấy mọi thứ họ muốn ở "dưới một mái nhà" và với một mức giá phải chăng Thông thường, một siêu thị chỉ đáp ứng được 70-80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, trang phục, mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa vệ sinh…
Chất lượng hàng hóa bán trong hệ thống bán lẻ hiện đại được đảm bảo hơn Do bản thân các nhà bán lẻ cũng là một doanh nghiệp nên họ ý thức được việc bảo vệ thương hiệu của mình, tạo uy tín với khách hàng Hơn nữa, việc kinh doanh của các siêu thị, trung tâm thương mại hay cửa hàng tiện lợi lại chịu sự quản lý của các cơ quan chức năng chứ không buông lỏng như với các chợ hay cửa hàng tạp hóa Do đó hàng hóa trong các siêu thị và cửa hàng hiện đại thường được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, ít khi xảy ra sai phạm, tạo được lòng tin cho người tiêu dùng
1.2.3 Các loại hình bán lẻ hiện đại phổ biến
Có nhiều loại hình bán lẻ hiện đại, hiện nay ở nước ta phổ biến nhất 2 loại hình bán lẻ hiện đại là siêu thị và trung tâm thương mại
1.2.3.1 Siêu thị
Sự ra đời của siêu thị được coi là cuộc cách mạng trong kinh doanh bán
lẻ, mở ra kỷ nguyên thương mại bán lẻ văn minh, lịch sự
Có nhiều khái niệm khác nhau về siêu thị
Trang 23Tại Pháp: Siêu thị là cửa hàng bán hàng theo phương thức tự phục vụ,
có diện tích từ 400-2.500m2, chủ yếu bán hàng thực phẩm và các hàng hóa thiết yếu khác
Tại Mỹ: Siêu thị là cửa hàng phục vụ tương đối lớn với các chi phí thấp,
tỷ suất lợi nhuận cao, khối lượng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, chất tẩy rửa, bột giặt, rau củ quả…
Tại Việt Nam, trong quyết định 1371/2004/QĐ-BTM định nghĩa "Siêu
thị là loại cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý,
tổ chức kinh doanh; có phương thức phục vụ văn minh thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng ngày của khách hàng"
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về siêu thị, nhưng có thể thấy đặc điểm chung của siêu thị là:
- Siêu thị là cửa hàng bán lẻ Đó là các cửa hàng được quy hoạch và tổ
chức kinh doanh theo hướng hiện đại, bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng
- Siêu thị áp dụng phương thức bán hàng tự phục vụ Đây là đặc điểm
nổi bật nhất của siêu thị Khách hàng được tự do lựa chọn các sản phẩm mình cần mà không bị tác động nhiều từ phía người bán
- Hàng hóa trong siêu thị chủ yếu là hàng tiêu dùng với chủng loại phong phú, đa dạng Thông thường, siêu thị phải đáp ứng được 70-80% nhu
cầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, mỹ phẩm, đồ dùng sinh hoạt…
Bên cạnh đó còn có khái niệm đại siêu thị Đại siêu thị có quy mô lớn
hơn nhiều so với các siêu thị; đại siêu thị phải có bãi đỗ xe rộng; bán nhiều loại thực phẩm và nhiều loại hàng hóa khác nhau với mức độ phong phú hơn hẳn các siêu thị khác và phương thức kinh doanh mang tính công nghiệp cao độ
1.2.3.2.Trung tâm thương mại
Trang 24Trung tâm thương mại là nơi tập trung các doanh nghiệp kinh doanh giải trí, dịch vụ bán lẻ nhằm phục vụ dân cư khu vực xung quanh
Theo khái niệm của các nước Châu Âu thì trung tâm thương mại được
hiểu là một tổ hợp bao gồm các cửa hàng bán lẻ và các loại hình dịch vụ tập trung tại cùng một địa điểm, được quy hoạch, xây dựng và được quản lý như một tổng thể thống nhất Cụ thể: "Trung tâm thương mại bao gồm một cửa hàng bán lẻ tổng hợp (là một siêu thị hay một đại siêu thị) chuyên bán thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu hàng ngày cùng với nhiều cửa hàng chuyên doanh như hiệu thuốc, cửa hàng thời trang, giày dép và đủ loại dịch vụ như dịch vụ ngân hàng, du lịch, bưu điện Tất cả tập trung trên một khu vực lớn nằm ở ngoại ô các thành phố và kèm theo là các bãi đỗ xe rất rộng, có bán xăng cho khách hàng"
Tại Việt Nam, trong quyết định 1371/2004/QĐ-BTM định nghĩa "Trung
tâm thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ, hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê… được bố trí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện, đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh của thương nhân và thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ khách hàng"
Như vậy, có thể thấy hoạt động của các siêu thị, trung tâm thương mại mang những đặc điểm sau:
- Hệ thống quản lý các siêu thị và trung tâm thương mại chặt chẽ, tổ chức quy củ, trang thiết bị hiện đại, cung cách phục vụ chu đáo, có kho hàng, bến bãi rộng cùng các thiết bị chuyên dụng khác
Trang 25- Nguồn hàng của các siêu thị và trung tâm thương mại được nhập với
số lượng lớn, chất lượng ổn định bao gồm các mặt hàng trong và ngoài nước
- Hoạt động của các siêu thị không chỉ cần không gian thoáng, rộng mà còn cần có địa điểm thuận lợi, tập trung nhiều dân cư, nhu cầu mua sắm cao, giao thông đi lại dễ dàng
- Là hoạt động đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn để đầu tư trang thiết bị hiện đại, thời gian thu hồi vốn tương đối lâu
Phân tích SWOT giữa hệ thống bán lẻ hiện đại và truyền thống ở Việt Nam
- Giá cả ổn định, hàng hóa được
niêm yết giá công khai
- Chất lượng hàng hóa được
- Phân bổ rải rác tại các khu dân
cư, thuận tiện cho việc đi lại mua sắm
- Không đòi hỏi vốn đầu tư cao
- Giá cả linh hoạt
- Hàng thực phẩm tươi sống đa dạng, phong phú
- áp dụng được cho hầu hết các mặt hàng
Điểm
yếu
- Một số mặt hàng giá cao hơn
-Hàng thực phẩm tươi sống
không đa dạng về chủng loại
- Nhiều loại hàng hóa không rõ nguồn gốc, chất lượng không đảm bảo, điều kiện vệ sinh kém
Trang 26- Phân bố chưa rộng khắp
- Đòi hỏi vốn đầu tư cao, thời
gian thu hồi vốn tương đối lâu
- Tồn tại lệ nói thách, bán đắt, gây mất thời gian mặc cả tại các chợ
- Kinh doanh thiếu bài bản
Cơ hội
- Kinh tế tăng trưởng, nhu cầu
mua sắm tiện lợi ngày càng tăng
- Quá trình đô thị hóa diễn ra
mạnh mẽ
- Thói quen mua sắm tiêu dùng
đang thay đổi
- Nếp sống công nghiệp làm
tăng nhu cầu mua sắm tập trung
tại một địa điểm
- Phổ biến nhất ở những vùng nông thôn, ngoại ô thành phố
- Phát triển theo hướng chuyên doanh
- Thói quen tiêu dùng thay đổi
- Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng
Như vậy, qua phần lý luận chung về hoạt động bán lẻ, chúng ta đã có những nhận thức chung nhất về hoạt động bán lẻ, hoạt động bán lẻ hiện đại, đặc điểm và hoạt động của các loại hình bán lẻ hiện đại như siêu thị và trung tâm thương mại Đó là cơ sở để chúng ta đi vào tìm hiểu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam và nước ngoài sẽ được trình bày trong chương tiếp theo của khóa luận này
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ TRÊN
THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM
Trang 272.1 Đặc điểm của thị trường bán lẻ Việt Nam
2.1.1 Các mô hình phân phối, bán lẻ hiện có ở Việt Nam 4
Hiện nay, ở nước ta tồn tại các mô hình phân phối và bán lẻ phổ biến sau:
Mô hình phân phối và bán lẻ truyền thống: Đây là mô hình phổ biến
nhất ở nước ta hiện nay (chiếm 85%) Biểu hiện của mô hình này là các chợ bán lẻ, chợ đầu mối, các phố mua sắm tổng hợp (chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), các cửa hàng chuyên dụng của nhà sản xuất và của tư nhân (Kinh Đô Bakery, Vissan, Nokia, Sam sung )
Mô hình phân phối và bán lẻ hiện đại: Đây là mô hình chủ yếu chỉ có ở
các thành phố lớn, hiện chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn trong thị trường phân phối và bán lẻ nước ta (chiếm 10%) Biểu hiện của mô hình này là các siêu thị, trung tâm thương mại và trung tâm mua sắm
Mô hình phân phối và bán lẻ điện tử: Đây là mô hình rất hiện đại, áp
dụng các thành tựu tiên tiến của khoa học công nghệ thông tin Tuy nhiên, phương thức thanh toán hiện nay ở Việt Nam còn sơ khai (chủ yếu là giao hàng - lấy tiền mặt) Biểu hiện của mô hình này là E-Commerce, TV Shopping, Telephone Shopping, Online Shopping
Mô hình phân phối và bán hàng trực tiếp: Đây là mô hình chỉ áp dụng
trong một số trường hợp cụ thể mang tính chất sự kiện Biểu hiện của mô hình này là bán hàng theo tài khoản (corporate selling), bán hàng theo dự án, khách hàng lớn (fleet sales)
Mô hình phân phối và bán hàng đa cấp: Đây là mô hình bán hàng khá
phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam mô hình này đang bị hạn chế phát triển do các nhà kinh doanh không đảm bảo đạo đức trong hoạt động kinh doanh của mình, gây nhiều thiệt hại cho người tiêu dùng
4 Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 7/2007
Trang 282.1.2 Việt Nam -Thị trường bán lẻ hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài
AT Kearney (http://www.atkearney.com) là tập đoàn nghiên cứu, tư vấn thị trường hàng đầu thế giới có trụ sở tại Hoa Kỳ Kể từ năm 2001, AT Kearney tiến hành công bố các nghiên cứu thường niên về độ hấp dẫn đầu tư bán lẻ ở 30 thị trường thông qua chỉ số phát triển bán lẻ chung GRDI (Global Retail Development Index)5 Chỉ số GRDI là nguồn thông tin khách quan, đáng tin cậy giúp các tập đoàn bán lẻ ưu tiên các chiến lược phát triển toàn cầu bằng việc đánh giá các thị trường mới trỗi dậy dựa trên 25 tiêu chí trong
đó có các nguy cơ kinh tế, chính trị, độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ, mức bão hòa của thị trường bán lẻ và sự khác nhau giữa tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) và tăng trưởng bán lẻ
Năm 2007, với 74 điểm, Việt Nam đứng thứ 4 về độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ sau ấn Độ, Nga và Trung Quốc So với năm 2006, Việt Nam bị thụt lùi một bậc, tuy nhiên thứ hạng này tiếp tục khẳng định triển vọng sáng sủa, sức hút đầu tư mạnh mẽ của thị trường bán lẻ Việt Nam
Bảng 1 Top 10 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới 2007 6
Xếp
hạng Quốc gia
Độ hấp dẫn (%)
Rủi ro quốc gia (%)
Độ bão hòa thị trường (%)
Áp lùc thêi gian (%)
Trang 299 Mexico 58 83 33 33 64
Đó là tin mừng theo nhiều nghĩa Đây là n-ớc ngoài đánh giá, chứ không phải là sự đánh giá theo kiểu "mẹ hát con khen", hay chạy theo chủ nghĩa thành tích - một tình trạng khá phổ biến trên nhiều lĩnh vực hiện nay Sự
đánh giá của n-ớc ngoài có ý nghĩa thuyết phục đối với các nhà đầu t-, th-ơng mại, du lịch quốc tế
AT Kearney đánh giá thị tr-ờng bán lẻ Việt Nam cao nh- vậy là do các yếu tố chủ yếu sau:
Thứ nhất, Việt Nam có dân số đông và trẻ
Mặc dù nhìn tổng thể, tỷ lệ tăng dân số đang có xu h-ớng giảm, thể hiện ở tốc độ tăng tr-ởng dân số hàng năm giảm đáng kể từ 2,3% năm 1980 xuống 1,7% thời kỳ 1990-1995 và 1,5% trong 2 năm 1999-2000 nh-ng dân số Việt Nam vẫn tăng Năm 2003, dân số Việt Nam là 80,9 triệu ng-ời, năm
2005 là 83 triệu ng-ời, nh-ng đế năm 2007, con số ấy đã là 85 triệu ng-ời -
đứng thứ 2 khu vực Đông Nam á và thứ 13 trên Thế giới Hằng năm, dân số Việt Nam vẫn tăng thêm 1 triệu ng-ời, theo mục tiêu đến năm 2010 nếu thực hiện đuợc dân số n-ớc ta sẽ lên đến 88,4 triệu ng-ời - một quy mô mơ -ớc của các nhà đầu t- mà không phải n-ớc nào cũng đạt đ-ợc
Theo số liệu thống kê, hơn một nửa dân số của Việt Nam d-ới tuổi 30
Cụ thể cơ cấu dân số Việt Nam theo độ tuổi năm 2005 7 nh- sau:
-Nhóm 0 -14 tuổi: 29,4%
-Nhóm 15 - 64 tuổi: 65%
-Nhóm trên 65 tuổi: 5,6%
Dự báo đến năm 2011 gần 3/4 dân số (69%) sẽ nằm trong độ tuổi từ 15
đến 64, và môi tr-ờng kinh doanh bán lẻ của Việt Nam sẽ tr-ởng thành cùng
7 Nguồn: "Bỏo cỏo dõn số 2005", Tổng cục Thống kờ
Trang 30với thế hệ những ng-ời tiêu dùng trẻ, tạo nên cuộc cách mạng về thị tr-ờng kinh doanh bán lẻ tại khắp các khu vực thành thị của Việt Nam
Mặc dù nhu cầu rất lớn nh-ng thị tr-ờng bán lẻ Việt Nam vẫn là một thị tr-ờng rất "đói" hàng Bởi lẽ, số ng-ời tiêu dùng đông đảo nh- vậy, tổng dung l-ợng hàng hoá và dịch vụ của thị tr-ờng bán lẻ trong n-ớc cũng chỉ mới đạt
khoảng 30 tỉ USD, đặc biệt là bình quân đầu ng-ời mới chỉ đạt 366 USD/năm
Chắc chắn, chính vì lẽ này mà AT Kearney đã "nới tay chấm" cho thị tr-ờng bán lẻ của ta 76/100 điểm ở chỉ tiêu độ bão hoà (0 điểm là bão hoà), còn ấn Độ với tổng dung l-ợng hàng hoá và dịch vụ của thị tr-ờng bán lẻ tuy lớn gần gấp 11,67 lần Việt Nam, nh-ng bình quân đầu ng-ời chỉ đạt khoảng
320 USD/năm, cho nên đạt 80/100 điểm ở chỉ tiêu này Ng-ợc lại, Trung Quốc với GDP bình quân đầu ng-ời cao gấp hơn hai lần n-ớc ta, nên chỉ đạt 46/100 điểm Nói cách khác, do còn rất lâu nữa mới đạt tới độ bão hoà, cho nên triển vọng phát triển của thị tr-ờng bán lẻ Việt Nam d-ới con mắt của các nhà đầu t- n-ớc ngoài là rất sáng sủa
Thứ hai, thu nhập của ng-ời dân ngày càng đ-ợc cải thiện
Việt Nam đang nổi lên là một trong những nền kinh tế đang mở cửa và phát triển nhất khu vực Các chỉ số phát triển kinh tế đều cho kết quả khả quan
đã khiến các nhà đầu t- n-ớc ngoài chú ý đến thị tr-ờng bán lẻ Việt Nam
Cụ thể, kể từ thời điểm "chạm đáy" với tốc độ phát triển chỉ với 4,77% năm 1999, tốc độ tăng GDP của Việt Nam đã nhảy vọt lên 6,79% năm 2000
và liên tục duy trì đ-ợc đà tăng tr-ởng năm sau cao hơn năm tr-ớc và đạt kỷ lục 8,5% trong năm 2007 Trong năm 2008, dự kiến kinh tế phát triển với mức tăng tr-ởng 8,0%, đây cũng là mức cao trên khu vực và trên thế giới
Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
2008 (dự kiến)
2009 (dự kiến)
8 Nguồn: East Asia: Testing Time Ahead – World Bank East Asia Region; March 2008
Trang 31Trong bối cảnh đó, thu nhập cá nhân cũng đang đ-ợc cải thiện một cách
đáng kể, điều đó cho phép ng-ời tiêu dùng có khả năng mua sắm đ-ợc nhiều hàng hóa hơn Kết quả là chi tiêu của ng-ời tiêu dùng đã tăng khoảng 30% trong giai đoạn 1999-2003 Thu nhập bình quân đầu ng-ời trên cả n-ớc đã
đ-ợc cải thiện đáng kể ở cả khu vực nông thôn và thành thị
Với mức sống đang cải thiện một cách rõ rệt thì chi tiêu cũng tăng lên
đáng kể Năm 2000, chi tiêu cho bán lẻ tại Việt Nam chỉ đạt mức 15 tỷ USD, năm 2006 đã đạt mức 37,52 tỷ USD và đến năm 2010 dự kiến con số này sẽ v-ợt mức 53 tỷ USD
Mặt khác, hiện mỗi năm có khoảng 1,2 triệu ng-ời Việt Nam tham gia vào lực l-ợng lao động Tỷ lệ ng-ời lệ thuộc đang giảm mạnh, nhờ thế trong 10 năm qua, tỷ lệ thu nhập dành cho chi tiêu trong các gia đình Việt Nam đã tăng lên đáng kể Trong năm 2004-2005, chi tiêu của ng-ời dân Việt Nam tăng 16-18,5%, chi tiêu bình quân đầu ng-ời đạt 5,7 triệu đồng (gấp đôi so với mức 2,8 triệu đồng của năm 2000)
9 Nguồn: Kết quả điều tra mức sống-Tổng cục Thống kờ 2004
Trang 32Tỷ lệ tiêu dùng cuối cùng so với GDP của Việt Nam đạt trên 70%, thuộc loại cao so với các n-ớc trong khu vực (Singapore đạt 55,9%, Malaysia
đạt 58,2%, Thái Lan đạt 67,7% ) Đây cũng chính là một trong những tiền đề quan trọng để gia tăng tiêu thụ trong n-ớc
Tỷ trọng 72,88 71,18 71,32 72,58 72,41 72,64 72,21
Kết quả điều tra mức sống của các hộ gia đình do Tổng cục thống kê tiến hành cho thấy, thu nhập bình quân đầu ng-ời một ng-ời/tháng theo giá trị thực tế (thu nhập còn lại sau thuế) tăng từ 295.000đ/ng-ời/tháng năm 1999 lên 356.000đồng/ ng-ời/ tháng năm 2001-2002 và 484.400đồng/ng-ời/tháng năm 2003-2004, tăng 36% so với năm 2002 Mức chi tiêu cho đời sống năm 2003-
2004 của cả n-ớc bình quân đạt 370.000 đồng/ng-ời/tháng, tăng 37,5% so với giai đoạn năm 2001-2002.Cụ thể ta có thể thấy qua biểu đồ sau:
10
Nguồn: http://www.gso.com.vn
Trang 33Mức thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người một
tháng tại Việt Nam từ 1995 - 2004 Đơn vị tính: nghìn đồng
206.1
484.4
356.1 295
226.7
359.7 269.1
221.1 182.4
Theo nghiên cứu mới đây của Tổng cục thống kê, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2005 đã đạt 10,1 triệu đồng, tương đương 683 USD Sang năm 2006, con số này tăng lên 11,6 triệu đồng, tức là 725 USD, tăng 13,6% Đây là một thuận lợi căn bản để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại tại khắp các thành phố, đô thị lớn và vừa trên cả nước
Thứ ba, thị trường bán lẻ Việt Nam còn non yếu
Trong khi triển vọng phát triển như vậy thì ngành phân phối hiện nay lại quá bất cập, cho nên cơ hội dành cho các tập đoàn bán lẻ hùng mạnh nước ngoài
Trang 34kém, kỹ năng kinh doanh chưa chuyên nghiệp, dịch vụ hậu cần chưa có gì… Theo số liệu của Bộ Công Thương, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua hệ thống chợ (khoảng 40%) và qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập (khoảng 44%) Hàng bán qua hệ thống phân phố hiện đại như trung tâm thương mại, siêu thị hay các cửa hàng tiện lợi chỉ chiếm khoảng 10%, còn lại 6% là do các nhà sản xuất bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng.11
Tỷ trọng hàng hóa bán lẻ qua các phương
Hệ thống bán lẻ hiện đại
Cửa hàng truyền thống
Chợ
Nếu như tỷ trọng bán lẻ hàng hóa qua siêu thị và trung tâm thương mại ở Trung Quốc là hơn 56%, Thái Lan là trên 60%, Singapore là 60%-70%, Mỹ là trên 90% thì con số 10% hàng tiêu thụ qua kênh bán lẻ hiện đại tại Việt Nam còn quá khiêm tốn Theo các chuyên gia trong ngành phân phối đánh giá, các trung tâm siêu thị lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ đáp ứng được 20%-30% nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, 70%-80% còn lại vẫn dựa vào các cửa hàng nhỏ lẻ
Theo các chuyên gia, mặc dù tiềm năng thị trường bán lẻ rất lớn, nhưng thực trạng ngành bán lẻ Việt Nam đến thời điểm này lại cho thấy đang thiếu bàn tay quy hoạch của nhà nước Trên cả nước hiện chỉ có thành phố Hồ Chí Minh bước đầu hoàn thiện việc quy hoạch phát triển mạng lưới chợ, siêu thị
và trung tâm thương mại đến năm 2010, định hướng đến năm 2015
11 Nguồn: Bộ Công thương, Vụ chính sách thị trường trong nước
Trang 35Còn về phía ngành, đến nay Bộ Công thương cũng chưa xây dựng được định hướng quy hoạch tổng thể mạng lưới bán lẻ cho cả nước Chính vì thiếu định hướng và quy hoạch nên việc buôn bán hầu hết vẫn phát triển một cách
tự phát, nhỏ lẻ
Rõ ràng, một "nền thương nghiệp toàn dân" nhỏ lẻ, manh mún, phát triển một cách tự phát như vậy cần phải được tổ chức lại và đây chính là "đất dụng võ" của các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia khi chúng ta mở cửa thị trường này
Ngoài ra, một yếu tố nữa hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam là vì Việt Nam là cửa ngõ dẫn tới một số thị trường như ấn Độ, Trung Quốc, Campuchia, Lào và mức giá cho thuê các trung tâm thương mại cũng như lương trả cho nhân công tại Việt Nam khá rẻ và linh động so với các nước trong khu vực và trên thế giới
2.1.3 Yếu tố chính trị pháp luật tác động tới hoạt động bán lẻ
Trên bước đường phát triển và hội nhập, Việt Nam đang dần hoàn thiện
hệ thống pháp luật của mình Trong ngành thương mại bán lẻ, nước ta cũng đã xây dựng được các dự án, các quy chế để hướng dẫn thi hành và quản lý hoạt động bán lẻ với mục tiêu vừa tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp bán lẻ trong nước phát triển, vừa tạo môi trường đầu tư hấp dẫn thu
hút các nhà đầu tư nước ngoài
2.1.3.1.Quy chế siêu thị-trung tâm thương mại
Ngày 24/9/2004, Bộ Thương mại (nay là bộ Công Thương) đã ra quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM về quy chế siêu thị và trung tâm thương mại Theo quy chế này, siêu thị được phân ra làm 3 hạng gồm:
Siêu thị hạng 1 phải có diện tích tối thiểu là 5.000 m2 và có 20.000 chủng loại hàng hóa trở lên;
Trang 36 Siêu thị hạng 2 có diện tích từ 2.000m2 và 10.000 chủng loại hàng hóa trở lên;
Siêu thị hạng 3 có diện tích tối thiểu 500m2 và 4.000 chủng loại hàng hóa trở lên
Về các trung tâm thương mại cũng chia thành 3 hạng:
Các trung tâm thương mại hạng 1 phải có diện tích từ 50.000m2 trở lên;
Các trung tâm thương mại hạng 2 phải có diện tích là 30.000m2
Các trung tâm thương mại hạng 3 phải có diện tích là 10.000m2
Ngoài ra, QĐ 1371 còn nêu rõ các siêu thị, trung tâm thương mại phải
có đủ tiêu chuẩn như: nơi để xe, khu vệ sinh, các dịch vụ đi kèm, hệ thống nhà hàng… chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm
Theo tiêu chuẩn của Bộ Công Thương, hiện cả nước có đến 33% số lượng siêu thị chưa đáp ứng được tiêu chuẩn phân hạng siêu thị, 44,7% số siêu thị đạt siêu thị hạng 3, 11,7% đạt đạt siêu thị hạng 2 và chỉ có 10,6% đạt siêu thị hạng 112 Đa số siêu thị hạng 3 danh mục hàng hóa nghèo nàn, giá bán thiếu cạnh tranh, dịch vụ khách hàng còn kém, công tác quản lý còn nhiều yếu kém và hiệu quả kinh doanh chưa cao
12 Nguồn: Bộ Công thương, Vụ chính sách thị trường trong nước
Trang 37Phân hạng siêu thị năm 2005 theo tiêu chuẩn quy định trong Quy chế siêu thị và trung tâm thương mại
10,6%
44,7%
Hạng 1 Hạng 2 Hạng 3 Chưa đáp ứng tiêu chuẩn
Năm 2006 đánh dấu một điểm mốc cực kỳ quan trọng trong nỗ lực hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam Sau nhiều nỗ lực đàm phán, ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại Thế giới WTO Ngay sau đó Việt Nam được hưởng Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) của Mỹ ngày 20/12/2006 Cùng thời điểm đó, các cam kết gia nhập của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực Việt Nam cam kết mở cửa lĩnh vực dịch vụ phân phối hàng hóa, theo đó các hạn chế
về vốn sở hữu, mặt hàng kinh doanh sẽ được xóa bỏ sau 3 năm kể từ ngày gia nhập Lộ trình cam kết mở cửa của Việt Nam như sau: Việt Nam cam kết cả 4 loại hình phân phối là bán lẻ, bán buôn, đại lý hoa hồng và nhượng quyền thương mại
- 1/1/2008: cho phép liên doanh không hạn chế vốn góp từ phía nước ngoài
13
Nguồn: ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2006), "WTO-các văn kiện gia nhập tổ chức thương
mại Thế giới của Việt Nam", NXB Chính trị quốc gia, trang 838,839
Trang 38- 1/1/2009: cho phép thành lập doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài Việc thành lập các cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở thứ nhất) chỉ được xem xét tuỳ theo từng trường hợp cụ thể
- 1/1/2010: các doanh nghiệp FDI được phép cung cấp dịch vụ bán buôn, bán lẻ tất cả các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam
Mức độ mở rộng thị trường như sau:
- Từ 11-1-2007, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa được phép phân phối những mặt hàng: xi măng, clinke, lốp (trừ lốp máy bay), giấy, máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con, xe máy, sắt thép, thiết bị nghe nhìn, rượu, phân bón
- Từ 1-1-2009, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép phân phối máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con, xe máy
- Từ 1-1-2010, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ bán buôn, bán lẻ tất cả các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam
và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam
2.1.3.3.Đề án "Chiến lược phát triển thương mại nội địa 2006- 2010, định
Để củng cố thương mại nội địa trước thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển hệ thống phân phối và bán lẻ Cuối năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án "Chiến lược phát triển thương mại nội địa 2006- 2010, định hướng đến năm 2015 và 2020" Nội dung cơ bản của chiến lược phát triển thương mại nội địa đề ra 2 định hướng lớn:
Thứ nhất là tổ chức lại thương mại nội địa, theo 2 hướng: Xây dựng các nhà phân phối gắn với địa bàn cụ thể và xây dựng các nhà phân phối có tính hệ thống, dựa trên các mối liên kết trong quá trình lưu thông và giữa lưu
14 Nguồn: Bộ Công thương
Trang 39thông với sản xuất tiêu dùng Trong đó có hệ thống phân phối chuyên ngành như xăng dầu, xi măng, sắt thép, phân bón và hệ thống phân phối đa ngành như các trung tâm bán buôn hoặc chuỗi cửa hàng bán lẻ
Thứ hai là hoàn chỉnh môi trường pháp lý để quản lý và điều tiết vĩ mô
về thương mại nội địa, bảo đảm thị trường phát triển nhanh, mạnh và bền vững
Dự kiến sẽ có khoảng 15-20 doanh nghiệp được chọn làm doanh nghiệp trọng điểm, gồm nhiều loại hình kinh doanh như: trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, tổng công ty thương mại, mạng lưới bán lẻ, chợ đầu mối và nhiều thành phần kinh tế, để phát triển cơ sở, mạng lưới kinh doanh, làm nòng cốt, bộ xương cho thương mại nội địa, xây dựng chiến lược phát triển trong vòng
5 - 10 năm trở thành nhà phân phối lớn, có uy tín đủ sức cạnh tranh "ngang ngửa" với các nhà phân phối nước ngoài Tuy nhiên, những trợ cấp của Nhà nước sẽ không phải mang tính trợ cấp mà chủ yếu là tạo điều kiện pháp lý, cơ sở
hạ tầng cho những doanh nghiệp này
2.1.4 Mặt bằng cho hoạt động kinh doanh bán lẻ
Với việc Việt Nam đã gia nhập WTO và cam kết sẽ mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ vào ngày 1/1/2009, dự kiến trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều tập đoàn bán lẻ nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam, thì vấn
đề mặt bằng dành cho hoạt động kinh doanh bán lẻ trở thành vấn đề nóng bỏng
Trong bản báo cáo Công ty tư vấn và quản lý bất động sản CB Richard Ellis (CBRE)15 vừa công bố thì hiện loại mặt bằng phục vụ riêng cho hoạt
động kinh doanh bán lẻ ở Việt Nam đang thiếu hụt trầm trọng Hầu hết các mặt bằng hiện hữu không đạt chuẩn quốc tế và để đảm bảo chỗ đứng của mình, nhiều nhà kinh doanh bán lẻ đã phải chọn giải pháp cải tạo lại các cửa hàng mặt tiền trong khi chờ đợi những mặt bằng có chất lượng tốt hơn
15
Nguồn: "Báo cáo về thị trường kinh doanh bán lẻ Việt Nam", Công ty tư vấn và quản lý bất động sản CB
Richard Ellis (CBRE) công bố tháng 11/2007
Trang 40Ông Rik Mekkelholt, trưởng phòng phụ trách Tư vấn kinh doanh bán lẻ CBRE cho biết, tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện mới chỉ có 13 trung tâm thương mại cung cấp cho thị trường 140.000m2 mặt bằng kinh doanh bán lẻ, trong đó Hùng Vương Plaza là trung tâm lớn nhất - rộng 33.000m2 Hà Nội có
7 trung tâm cung cấp khoảng 100.000m2 cho hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại Nếu so sánh với Singapore mới khánh thành một trung tâm thương mại với diện tích 100.000m2 thì những con số trên của Việt Nam còn quá nhỏ
bé Hiện nay công suất thuê mặt bằng tại các thành phố lớn đều đạt trên 95%
và nhu cầu thuê mặt bằng đang tăng mạnh Có nhiều trung tâm thương mại đến nay vẫn đang trong quá trình xây dựng nhưng các nhà kinh doanh cũng đã đăng ký thuê kín chỗ
Cũng theo CBRE, nguồn cung diện tích sàn cho thị trường bán lẻ sẽ
tăng nhanh trong thời gian tới Theo ước tính từ nay đến năm 2010, Việt Nam
sẽ có hàng chục trung tâm thương mại hiện đại đi vào hoạt động Dự kiến sẽ
có khoảng 350.000m2 mặt bằng sẽ tham gia vào thị trường kinh doanh bán lẻ tại thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2011 và 380.000m2 đang được đầu
tư phát triển tại Hà Nội Hy vọng những bổ sung đó sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường hiện nay
Cũng do nguyên nhân cung không đủ cầu mà giá cho thuê mặt bằng đang ngày càng tăng lên Nếu thời điểm năm 2005, giá thuê mặt bằng kinh doanh tại các trung tâm thương mại trong các cao ốc trung bình khoảng 60 USD/m2/tháng thì đến năm 2006 con số này là 80 USD/m2/tháng, tăng 33,3% Năm 2007 chứng kiến sự đổ bộ ồ ạt của nhiều tập đoàn bán lẻ lớn vào Việt Nam, giá thuê mặt bằng lại tiếp tục tăng cao, đặc biệt là tại các khu trung tâm thành phố, các khu cao ốc, khu chung cư cao cấp Mức giá trung bình khoảng 130-170 USD/m2/tháng
Tại các vực kém "đắc địa" hơn thì giá thuê cũng "mềm" hơn, trung bình khoảng 80-100 USD/m2/tháng Đây là điều chưa từng thấy tại Việt Nam