Khóa luận tốt nghiệp: Tác động của luật đầu tư năm 2005 vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Trang 1CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
-*** -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT ĐẦU TƯ NĂM
2005 VÀO ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hà Phương
Giáo viên hướng dẫn : ThS Hồ Thuý Ngọc
Hà Nội – Tháng 06/2008
Trang 2Trang
Lời mở đầu 1
Chương 1: Khái quát chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 4
I Khái niệm chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
1 Đầu tư 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Các hình thức đầu tư 5
2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 6
2.1 Khái niệm 6
2.2 Phân loại 7
2.3 Bản chất và đặc điểm 9
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
3.1 Các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế 10
3.2 Các yếu tố thuộc môi trường chính trị 11
3.3 Các yếu tố thuộc môi trường pháp lý 12
4 Tác động của FDI đối với nước nhận đầu tư là nước đang phát triển 12
4.1 Tác động tích cực 12
4.2 Tác động tiêu cực 16
II Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 18
1 Quá trình hình thành và phát triển 18
1.1 Giai đoạn từ năm 1975 đến 1987 18
1.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến hết tháng 6/2006 20
1.3 Giai đoạn từ 7/2006 đến nay 23
2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 23
3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế Việt Nam 24
Trang 3I Luật Đầu tư năm 2005 33
1 Sự cần thiết phải ban hành Luật Đầu tư năm 2005 33
2 Nội dung cơ bản của Luật Đầu tư năm 2005 37
3 Những điểm mới có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài trong Luật Đầu tư năm 2005 39
3.1 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài 39
3.2 Hình thức đầu tư 45
3.3 Đảm bảo đầu tư 49
3.4 Về lĩnh vực, địa bàn đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư 51
3.5 Thủ tục đầu tư 53
3.6 Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài 55
II Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 56
1 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trước 7/ 2006 56
1.1 Giai đoạn 1975 – 1987 56
1.2 Giai đoạn 1988 – 1996 56
1.3 Giai đoạn 1997 – 2000 59
1.4 Giai đoạn 2000 – 6/2006 60
2 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ 7/2006 61
2.1 Về lượng vốn đầu tư thu hút được 61
2.2 Về cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế 62
2.3 Về địa bàn thu hút đầu tư 63
2.4 Đối tác FDI chủ yếu 64
III Đánh giá tác động của Luật Đầu tư năm 2005 tới đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 65
1 Tác động tích cực 65
1.1 Tăng lòng tin của doanh nghiệp vào chính sách của Đảng và Nhà nước 65
1.2 Tăng lượng vốn đầu tư 69
1.3 Cải thiện thủ tục hành chính 69
Trang 42.2 Tác động tiêu cực tới quy trình Đăng ký đầu tư và Đăng ký kinh doanh 73
2.3 Tác động tiêu cực tới thẩm quyền giải quyết thủ tục của các cơ quan có liên quan 78
2.4 Tác động tiêu cực tới quyền tiếp cận nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài 79
Chương 3: Các giải pháp phát huy vai trò của Luật Đầu tư năm 2005 vào đầu tư trực tiếp nước ngoài Tại Việt Nam 81
I Định hướng của nhà nước trong việc thu hút, sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn 2006-2010 81
1 Dự báo tình hình đầu tư nước ngoài 81
1.1 Quan điểm thu hút FDI giai đoạn 2006-2010 81
1.2 Mục tiêu Chương trình thu hút FDI giai đoạn 2006-2010 : 82
1.3 Dự báo tình hình đầu tư nước ngoài trong thời gian tới 83
2 Định hướng chung 83
3 Định hướng cụ thể trong việc thu hút FDI giai đoạn 2006 - 2010 85
3.1 Định hướng thu hút vốn đầu tư theo ngành 85
3.2 Định hướng thu hút vốn đầu tư theo vùng 86
3.3 Định hướng pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài 87
II Giải pháp đề xuất nhằm phát huy tác động tích cực của Luật Đầu tư năm 2005 vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 87
1 Về phía nhà nước 87
1.1 Kiện toàn bộ máy tổ chức, bài trừ tham nhũng, cửa quyền 88
1.2 Bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế 88
1.3 Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư 89
2 Về phía doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài 90
III Giải pháp đề xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực của Luật Đầu tư năm 2005 vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 90
Trang 51.2 Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính 91
1.3 Về quản lý nhà nước với đầu tư 91
2 Về phía doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài 92
2.1 Thông báo khi có vướng mắc phát sinh 92
2.2 Tham gia vào quá trình ban hành các quy định pháp lý 93
Kết luận 94
Danh mục tài liệu tham khảo 95
Phụ lục 98
Trang 6ĐKĐT : Đăng ký đầu tư
Trang 7Trang
Bảng 1: Tỷ trọng đóng góp vào NSNN của doanh nghiệp FDI 26
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu theo thành phần kinh tế 27
Bảng 3: FDI theo ngành kinh tế giai đoạn 1988-2006 28
Bảng 4: Lượng lao động làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm 31
Bảng 5: Dự án FDI được cấp phép trong giai đoạn 1997 - 2000 59
Bảng 6: Dự án FDI được cấp phép trong giai đoạn 2000-6/2006 60
Bảng 7: Dự án FDI được cấp phép trong giai đoạn 7/2006 đến nay 61
Bảng 8: So sánh cơ cấu FDI trước và sau năm 2007 71
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 1: FDI phân theo hình thức đầu tư 24
Biểu đồ 2: Lượng vốn FDI và tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội 25
Biểu đồ 3: Cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 - 2005 29
Biểu đồ 4: Dự án FDI được cấp phép trong giai đoạn 1988-1996 58
Biểu đồ 5: Cơ cấu vốn FDI được cấp mới từ 1/1/2007-22/12/2007 63
Biểu đồ 6: 10 đối tác chính đầu tư trực tiếp vào Việt Nam từ 1/2008-5/2008 64
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt là khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhất là trong nền kinh tế đang phát triển như ở Việt Nam hiện nay Đối với Việt Nam, FDI
là một nguồn quan trọng bổ sung vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế, là một động lực quan trọng để cho nền kinh tế tăng trưởng, bứt ra khỏi cái “vòng luẩn quẩn” của các nước đang phát triển Hơn thế nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần tăng thu ngân sách, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao trình độ khoa học công nghệ của quốc gia,
và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam Về mặt xã hội – chính trị, FDI góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao mức sống của người lao động,
mở rộng mối quan hệ đối ngoại và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Từ lâu, Đảng và nhà nước ta đã nhận ra tầm quan trọng của FDI đối với công cuộc đổi mới nước nhà và đã liên tục tiến hành đổi mới cơ chế, chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Việc ban hành Luật Đầu tư năm
2005 (LĐT) cũng là một trong những biện pháp của nhà nước để đẩy mạnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Luật đã có những đổi mới đáng kể trong quy định đối với đầu tư nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng Sau hai năm thi hành, LĐT đã có những tác động đến môi trường đầu tư tại Việt Nam nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam nói riêng theo cả hướng tích cực và tiêu cực Việc nghiên cứu những tác động này là vô cùng cần thiết để giúp chúng ta có thể phát huy hơn nữa những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực nhằm tăng cường nguồn vốn FDI vào Việt Nam Do đó, em đã lựa chọn đề tài:
Tác động của Luật Đầu tư năm 2005 vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
làm đề tài của bài khóa luận của mình
Trang 9II Mục đích nghiên cứu
Mục đích của bài khóa luận là tìm hiểu và đánh giá các tác động cả về mặt tích cực và mặt tiêu cực của LĐT đến tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
để có thể đưa ra một số biện pháp nhằm phát huy các tác động tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực đó Nhờ đó, chúng ta có thể tăng cường thu hút hơn nữa vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Với mục đích đó, yêu cầu đối với bài khóa luận là phải nêu bật được những điểm mới của LĐT so với Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật ĐTNN năm 2000, nghiên cứu các tác động nổi bật của LĐT đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, đồng thời đưa ra được một số đánh giá về tác động đó và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của LĐT trong đầu tư trực tiếp nước ngoài
III Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam qua các thời kỳ để nêu lên được vai trò quan trọng của LĐT đến hoạt động FDI tại Việt Nam hiện nay
IV Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử Đồng thời, phương pháp tổng hợp và phân tích cũng được sử dụng trong quá trình tập hợp và phân tích, đánh giá các số liệu thu thập được
V Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài khóa luận gồm có ba nội dung chính:
Chương 1: Khái quát chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Chương 2: Luật Đầu tư năm 2005 và các tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Trang 10Chương 3: Các giải pháp phát huy vai trò của Luật Đầu tư năm 2005 vào đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
I Khái niệm chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo nghĩa rộng, đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực hiện tại với
kỳ vọng đem lại cho nền kinh tế và xã hội những kết quả hoặc lợi ích trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả hoặc lợi ích đó
Theo Khoản 1 Điều 1 Luật Đầu tư năm 2005, “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Như vậy, có thể hiểu đầu tư là một hoạt động kinh tế, trong đó, các nhà đầu tư là các tổ chức, cá nhân trong hoặc ngoài nước bỏ vốn bằng các tài sản hữu hình (như tiền, máy móc, thiết bị, nhà xưởng,…) hoặc tài sản vô hình (như bằng phát minh sáng chế, kinh nghiệm quản lý, tri thức khoa học công nghệ,…) để hình thành tài sản và tiến hành các hoạt động đầu tư nhằm thu được lợi nhuận hoặc các lợi ích khác trong tương lai
1
Vũ Chí Lộc – Giáo trình đầu tư nước ngoài – Nhà xuất bản Giáo dục 1997 – Trang 5
Trang 121.2 Các hình thức đầu tư
a Căn cứ vào mục đích:
Đầu tư được chia thành đầu tư phi lợi nhuận và đầu tư kinh doanh:
Đầu tư phi lợi nhuận là việc sử dụng các nguồn lực để thực hiện các hoạt động không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận
Đầu tư kinh doanh là hoạt động đầu tư sử dụng các nguồn lực để kinh doanh thu lợi nhuận
b Căn cứ vào sự di chuyển vốn
- Đầu tư trong nước:
Có thể hiểu đầu tư trong nước là hình thức đầu tư mà vốn đầu tư không chảy ra ngoài biên giới quốc gia Theo Khoản 13 điều 3 Luật Đầu tư năm 2005, “đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền hoặc các tài sản hợp lý khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”
- Đầu tư nước ngoài:
Đầu tư nước ngoài là hình thức đầu tư mà có sự di chuyển vốn ra ngoài biên giới quốc gia Theo Luật Đầu tư năm 2005: “đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”
c Căn cứ vào tính chất quản lý của nhà đầu tư đối với vốn đầu tư:
Đầu tư được chia thành hai hình thức: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà người chủ sở hữu vốn không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn đầu tư Hay nói các khác, trong hình thức đầu tư này, có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý vốn đầu
tư
Ngược lại, trong đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại Nói cách khác, trong hình thức này, không có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý vốn đầu tư
Trang 132 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
2.1 Khái niệm
Theo định nghĩa của quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI là “số vốn đầu tư được tiến
hành nhằm thu hút được lợi ích lâu dài tại một doanh nghiệp đang hoạt động tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Mục đích của đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và đạt được kết quả cao trong hoạt động quản lý doanh nghiệp.” 2
Theo Hội nghị của Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), FDI
là “khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền
quản lý lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài).” 3
Như vậy IMF và UNCTAD đều thống nhất rằng FDI là một hình thức đầu tư quốc tế, trong đó nhà đầu tư giành được quyền quản lý một doanh nghiệp ở nước ngoài mà mình bỏ vốn đầu tư để thu được lợi ích kinh tế trong dài hạn
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) lại đưa ra định nghĩa về FDI như sau: “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản
lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với hình thức đầu tư trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ
sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là
"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty.” 4
Định nghĩa về FDI của WTO có một chút khác biệt so với hai định nghĩa trên WTO cho rằng, trong hầu hết chứ không phải là tất cả các dự án đầu tư trực tiếp
Trang 14nước ngoài có gắn với việc thành lập doanh nghiệp Tuy nhiên, định nghĩa này cũng không nêu lên được mục tiêu cuối cùng của các nhà đầu tư – lợi nhuận dài hạn Luật Đầu tư năm 2005 không đưa ra khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên có định nghĩa về hoạt động đầu tư nước ngoài và hoạt động đầu tư trực tiếp
Theo Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005: “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà
đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” và “đầu tư nước ngoài
là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” Như vậy, ta có thể đưa ra một khái niệm
về FDI theo Luật Đầu tư năm 2005 như sau: FDI là hình thức đầu tư nước ngoài đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác vào Việt Nam để tiến hành và tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Có thể nói cách tiếp cận FDI theo Luật Đầu tư năm 2005 khá tương đồng với cách tiếp cận của WTO: cả hai đều nhấn mạnh vào quyền quản lý hoạt động đầu tư
và không đề cập đến mục tiêu lợi nhuận của dự án Chúng ta cũng có thể thấy một
sự đổi mới trong cách hiểu về FDI trong Luật Đầu tư năm 2005 so với Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 Theo đó, hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được mở rộng, nhà đầu tư không còn bị giới hạn bởi ba hình thức đầu tư (hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) như trong Luật ĐTNN năm 1996
Tựu chung lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể hiểu là một hình thức đầu tư có
sự di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để tham gia kiểm soát dự án đầu tư đó nhằm thu lại lợi ích kinh tế trong tương lai
2.2 Phân loại
a Theo cách thức thâm nhập: FDI có hai dạng đó là đầu tư mới và mua lại, sáp nhập
- Đầu tư mới (Greenfield Investment)
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng để xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc phát triển thêm các doanh nghiệp có sẵn trong nước Đây là phương thức các quốc gia nhận FDI thích nhất vì tạo được thêm công ăn việc làm cho người
Trang 15trong nước, nâng cao sản lượng, chuyển giao kỹ thuật cao cấp, đồng thời tạo được mối liên hệ trao đổi với thị trường thế giới
Tuy nhiên, đầu tư mới có thể “bóp nghẹt” sản xuất trong nước do các doanh nghiệp FDI có khả năng cạnh tranh, trình độ kỹ thuật và hiệu quả kinh tế cao hơn; đồng thời hình thức này có thể làm khô cạn nguồn tài nguyên trong nước
- Mua lại và sáp nhập (Mergers and acquisitions – M&A)
Mua lại và sáp nhập xảy ra khi tài sản của một doanh nghiệp trong nước được chuyển giao cho một doanh nghiệp nước ngoài Hình thức chuyển giao có thể là một sự sáp nhập (merger) giữa một công ty trong nước và một công ty nước ngoài
để tạo thành một doanh nghiệp mới Hình thức chuyển giao thứ hai là bán đứt công
ty trong nước cho công ty nước ngoài
b Theo mục đích đầu tư
- FDI tìm kiếm tài nguyên
FDI tìm kiếm tài nguyên là hình thức đầu tư nguyên thuỷ của các công ty xuyên quốc gia Hình thức này có tác dụng thúc đẩy thương mại thông qua nhập khẩu tư liệu sản xuất từ nước đầu tư đến nước nhận nhận đầu tư và xuất khẩu thành phẩm, bán thành phẩm từ nước nhận đầu tư ra nước ngoài
- FDI tìm kiếm thị trường
FDI tìm kiếm thị trường là hình thức đầu tư sản xuất sản phẩm cùng loại với sản phẩm ở nước đầu tư và tiêu thụ sản phẩm tại nước nhận đầu tư Hình thức này xuất hiện nhằm vượt qua các rào cản thương mại và giảm thiểu chi phí vận chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ
- FDI tìm kiếm hiệu quả
FDI tìm kiếm hiệu quả là hình thức trong đó nhà đầu tư phân bố một số công đoạn sản xuất ở nước ngoài để tận dụng chi phí thấp nhằm tối ưu hoá quá trình sản xuất, chủ yếu áp dụng cho những ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu
- FDI tìm kiếm tài sản chiến lược
Trang 16FDI tìm kiếm tài sản chiến lược là hình thức xuất hiện ở giai đoạn phát triển cao của toàn cầu hoá sản xuất, khi các công ty đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm khả
năng hợp tác nghiên cứu và triển khai
2.3 Bản chất và đặc điểm
a Bản chất
Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích đầu
tư, hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư thông qua sự di chuyển vốn từ nước chủ đầu tư đến nước nhận đầu tư Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hình thành của hoạt động đầu tư trực tiếp giữa các quốc gia
b Đặc điểm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hoạt động đầu tư tương đối phức tạp, nhưng
nó có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, chủ đầu tư nước ngoài có quyền kiểm soát dự án đầu tư Đây là đặc
điểm nổi bật nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài so với hình thức đầu tư gián tiếp Nhà đầu tư có quyền đưa ra các quyết định hoặc tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến hoạt động của dự án đầu tư Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong dự án được phân chia theo tỷ lệ vốn góp
Thứ hai, đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết
định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi Do đó
nó có thể mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao đối với cả nhà đầu tư và cả nước nhận đầu tư Hơn thế, hình thức này không có những ràng buộc về chính trị, không
để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế của nước nhận đầu tư
Thứ ba, lợi nhuận nhà đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh
doanh của dự án đầu tư và tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư
Thứ tư, do lợi nhuận nhà đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh
doanh của đối tượng đầu tư nên họ thường áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, phương thức quản lý tiến bộ để mang lại năng suất cao, giảm thiểu chi phí, tối ưu hóa lợi nhuận Do đó, nước nhận đầu tư có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật
Trang 17tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề người lao động,v.v Đây
là một trong những ưu điểm mà các hình thức đầu tư khác không có được
Thứ năm, các dự án FDI mang tính lâu dài Đây cũng là một điểm để phân biệt
hình thức FDI với hình thức đầu tư gián tiếp (FPI) FPI có tính thanh khoản cao hơn
so với FDI Do trong hình thức FPI, nhà đầu tư bỏ vốn để tiến hành các hoạt động giao dịch chứng khoán ở nước nhận đầu tư nên họ có thể dễ dàng thu lại vốn đầu tư ban đầu bằng việc đem bán các chứng khoán đó
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài
Có rất nhiều nhân tố gây tác động đến lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu
tư vào một quốc gia, tuy nhiên, chúng ta có thể xếp chúng vào các nhóm lớn như sau: Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, các yếu tố thuộc môi trường chính trị, các yếu tố thuộc môi trường pháp lý
3.1 Các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế luôn là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hoạt động của nhà đầu tư Do nhà đầu tư luôn luôn theo đuổi mục đích tối ưu hóa lợi nhuận, họ thường nghiên cứu rất kỹ môi trường kinh tế của nước nhận đầu tư trước khi quyết định bỏ vốn vào dự án đầu tư Trên cơ sở các nghiên cứu đó, nếu nhà đầu tư thấy có thể thu được lợi nhuận, họ sẽ vạch ra chiến lược, kế hoạch đầu tư phù hợp để thu được tỷ suất lợi nhuận cao nhất, nếu nhà đầu tư thấy môi trường kinh tế không hấp dẫn, họ sẽ tiếp tục tìm hiểu điều kiện kinh tế của các quốc gia khác để có thể lựa chọn được địa điểm đầu tư tối ưu
Môi trường kinh tế bao gồm rất nhiều yếu tố được chia thành các yếu tố kinh tế
vĩ mô (các chính sách tài khóa và tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái, tốc độ tăng trưởng kinh tế, cán cân thương mại quốc tế, cán cân thanh toán quốc tế, tỷ lệ lạm phát,…) và các yếu tố kinh tế vi mô như (dung lượng thị trường, thu nhập, thói quen tiêu dùng,…) Mỗi yếu tố lại có những tác động và có vai trò nhất định đến môi trường đầu tư, kinh doanh của một quốc gia
Trang 183.2 Các yếu tố thuộc môi trường chính trị
Môi trường chính trị được xem là tổng hòa các yếu tố như thể chế chính trị, xu hướng chính trị, thái độ chính trị của các thành phần kinh tế và mức độ ổn định về chính trị của một quốc gia
Nhà đầu tư có quyết định đầu tư hay không phụ thuộc vào mức độ ổn định về chính trị của quốc gia đó so với các quốc gia khác trên thế giới Trên thực tế, môi trường chính trị và môi trường kinh tế là hai yếu tố không tách rời nhau, có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau Sự ổn định về mặt chính trị là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, đồng thời sự phát triển kinh tế sẽ là tiền đề, tạo
cơ sở vững chãi để thiết lập một chế độ chính trị ổn định Các nhân tố trong môi trường chính trị cùng với các yếu tố trong môi trường kinh tế sẽ có ảnh hưởng mạnh đến quá trình ra quyết định của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài Một quốc gia dù có thể mức tỷ suất lợi nhuận rất cao, nhưng tình hình chính trị luôn bất ổn với những cuộc chiến tranh, bạo động, biểu tình thì nhà đầu tư nước ngoài không thể yên tâm trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí, họ còn lo ngại không thể thu được lợi nhuận về từ các dự án đầu tư do bị hạn chế bởi những thay đổi về chính trị trong quá trình đầu tư Đương nhiên, trong trường hợp này, để bảo đảm lợi ích của mình, hầu hết các nhà đầu tư sẽ lựa chọn phương án là tìm kiếm một thị trường đầu tư khác ổn định hơn về mặt chính trị để họ có thể chắc chắn thu hồi được lợi nhuận từ nguồn vốn mình bỏ ra
Mức độ ổn định về chính trị thể hiện ở chỗ: bộ máy chính quyền hoạt động có hiệu quả không, có được người dân tin trưởng và ủng hộ không, người dân có đồng lòng đi theo sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền hay không,… Một nền chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư nước ngoài an tâm đầu tư
Sự can thiệp của Chính phủ nước nhận đầu tư cũng ảnh hưởng đến hoạt động của nhà đầu tư Sự can thiệp kịp thời, hợp lý và đúng mức của Chính phủ có thể đem lại lợi ích cho nhà đầu tư và đương nhiên được nhà đầu tư ủng hộ và tán thành Ngược lại, không nhà đầu tư nào muốn đầu tư vào một quốc gia mà Chính phủ can thiệp quá sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp cũng như hoạt động của các nhà đầu
tư Sự can thiệp quá mức và bất hợp lý của Chính phủ sẽ hạn chế quyền tự do sản
Trang 19xuất kinh doanh, làm ảnh hưởng đến tâm lý của nhà đầu tư Do đó, để có thể điều tiết nền kinh tế một cách hiệu quả, Chính phủ cần phải dung hòa lợi ích của quốc gia và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài để các họ an tâm bỏ vốn
3.3 Các yếu tố thuộc môi trường pháp lý
Tính hấp dẫn của lĩnh vực đầu tư ở mỗi quốc gia trước hết phải được thể hiện ở
hệ thống luật pháp có liên quan đến đầu tư ở nước đó Trước khi tiến hành đầu tư, nhà đầu tư rất quan tâm đến hệ thống pháp lý, cơ chế, chính sách về FDI tại địa điểm mà họ dự định đầu tư Hơn thế nữa, nhà đầu tư còn tìm hiểu rất kỹ về tính đầy
đủ và đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính chuẩn mực, rõ ràng, minh bạch, công bằng và ổn định của hệ thống pháp lý cũng như các quy định về bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư
Các yếu tố này có tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Để có thể tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngoài việc xây dựng một thể chế pháp luật hoàn chỉnh, hoàn thiện và hiệu quả, nước nhận đầu tư cần phải có những cơ chế, biện pháp cụ thể để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Tóm lại, các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chính trị và pháp lý là ba nhóm yếu
tố cơ bản có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Nói cách khác, hoàn thiện hệ thống pháp lý, cải thiện môi trường kinh tế, ổn định tình hình chính trị chính là những biện pháp căn bản để tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
4 Tác động của FDI đối với nước nhận đầu tư là nước đang phát triển
4.1 Tác động tích cực
a FDI là nguồn quan trọng bù đắp sự thiếu hụt về vốn - ngoại tệ
Hầu hết các nước đang phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn” đó là: thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, tiết kiệm thấp khiến cho đầu tư thấp và hậu quả cuối cùng lại là thu nhập thấp Tình trạng “luẩn quẩn” này chính là điểm nút khó
Trang 20khăn nhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh
tế hiện đại Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ, nghèo đói bởi lẽ họ không thể lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của “vòng luẩn quẩn” này Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó là vốn đầu tư và kỹ thuật Vốn đầu tư là
cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động,… từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của
xã hội Tuy nhiên, để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào vốn tích lũy nội
bộ thì hậu quả khó tránh khỏi đối với các nước đang phát triển là họ sẽ tụt hậu xa hơn so với mặt bằng phát triển chung của thế giới Do đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ là một “cú hích” để đột phá cái “vòng luẩn quẩn” trong nền kinh tế FDI còn là một nguồn vốn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế Không như vốn vay, nước đầu tư chỉ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu quả Ngoài ra, FDI có thể giúp nước nhận đầu tư cải thiện trình độ khoa học công nghệ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ, giúp nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với công nghệ nguồn tiên tiến, hiện đại Hơn thế nữa, FDI còn có lợi thế hơn vốn vay ở chỗ: thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định và đôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu
tư, còn thời hạn của FDI thường dài và linh hoạt hơn
Theo mô hình lý thuyết “hai lỗ hổng” (Two-gap model)5 của Cherery và Strout,
có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia, đó là:
o Tiết kiệm không đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư, gọi là lỗ hổng tiết kiệm (saving-gap)
o Thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đủ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu – gọi là lỗ hổng thương mại (Trade-gap) Hầu hết ở các nước đang phát triển, hai lỗ hổng này rất lớn Do FDI góp phần làm tăng khă năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt động dịch vụ phục vụ cho FDI nên
5
Vũ Thị Thuỷ - Đầu tư trực tiếp nước ngoài: hai mặt của một vấn đề – Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 236 – tháng 1/1998
Trang 21ngoài việc là nguồn qua trọng bổ sung sự thiếu hụt về vốn đầu tư trong nước, FDI còn góp phần bù đắp sự thiếu hụt về ngoại tệ
b FDI mang lại công nghệ kỹ thuật hiện đại, trình độ chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến
Đây có thể nói là lợi ích căn bản nhất đối với các nước nhận đầu tư FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật trong các nước nhận đầu tư như là góp phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cơ cấu của sản phẩm và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao
Vì thế, nó có tác dụng lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư
FDI mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho nước nhận đầu tư thông qua các chương trình đào tạo, quá trình vừa học vừa làm,v.v FDI cũng mang lại cho họ những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi tiếp nhập công nghệ của nước chủ đầu tư FDI còn thúc đẩy việc đào tạo kỹ sư, nhà quản lý có trình độ chuyên môn cao ở nước nhận đầu tư để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy hầu hết các quốc gia thu hút FDI đều đã cải thiện đáng kể trình độ kỹ thuật công nghệ của mình Chẳng hạn như đầu những năm 60, Hàn Quốc còn kém về lắp ráp xe hơi, nhưng nhờ tiếp nhận công nghệ của Mỹ, Nhật và một số nước khác mà chỉ trong vòng 30 năm, họ
đã trở thành một trong những nước sản xuất ô tô hàng đầu thế giới
c Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động từ đó tạo điều kiện tăng tích lũy trong nước
Các dự án FDI không chỉ tạo công ăn việc làm cho người lao động tại nước nhận đầu tư bằng việc cung cấp việc làm trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mà còn tạo ra cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hóa, dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước, hoặc thuê các doanh nghiệp trong nước thực hiện các hợp đồng gia công, chế biến,v.v
d FDI giúp nước nhận đầu tư mở rộng thị trường
Trang 22Khả năng cạnh tranh và khả năng tiếp cận thị trường là hai trở ngại lớn nhất đối với các nước đang phát triển Các sản phẩm của họ thông thường không thể so sánh được về mặt chất lượng, mẫu mã cũng như giá cả đối với các sản phẩm của các nước công nghệ phát triển Hơn thế nữa, cho dù các nước này có khả năng sản xuất những sản phẩm có khả năng cạnh tranh thì họ lại gặp khó khăn trong việc thâm nhập thị trường nước ngoài Hoạt động FDI, đặc biệt là các hoạt động tiến hành bởi các công ty đa quốc gia, mang lại cơ hội cho nước nhận đầu tư vì các công ty đa quốc gia có lợi thế trong việc tiếp cận khách hàng trên toàn thế giới bởi danh tiếng,
uy tín của mình
Trang 234.2 Tác động tiêu cực
a Chi phí cho việc thu hút FDI
Để có thể thu hút FDI, nước nhận đầu tư phải đưa ra một số ưu đãi đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài trong một thời gian dài như miễn thuế, giảm thuế, nâng cấp cơ sở
hạ tầng, hệ thống thông tin liên lạc,v.v Như vậy trong một số trường hợp, lợi ích
mà nước chủ đầu tư nhận được có thể không bù lại được phần chi phí họ bỏ ra để thu hút được nguồn vốn FDI đó
b Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ
Dưới sự tác động của sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật; máy móc, công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu Vì thế, các nhà đầu tư thường chuyển giao những máy móc đã lạc hậu sang nước nhận đầu tư để có thể đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm ở chính nước họ Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu có thể gây ra nhiều thiệt hại cho nước nhận đầu tư như:
o Khó xác định được giá trị thực của những máy móc chuyển giao, nên nước nhận đầu tư thường bị thiệt trong việc đánh giá tỷ lệ vốn góp trong các liên doanh với nước ngoài, từ đó dẫn đến thiệt hại trong khi chia lợi nhuận
o Gây tổn hại đến môi trường
o Chất lượng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao, do đó, các sản phẩm của nước nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới
o Khiến cho nước nhận đầu tư tụt hậu hơn nữa so với mặt bằng chung của thế giới về mặt khoa học công nghệ
c Gây nên sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn đầu tư nước ngoài
Việc phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư nước ngoài nói chung và FDI nói riêng có thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huy động và sử dụng tối đa vốn trong nước, gây ra
sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư (giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài) Nó gây ra sự phụ thuộc về tất cả mọi mặt của quá trình sản xuất và lưu thông như vốn đầu tư ban đầu, vốn tái đầu tư, bí quyết kỹ thuật, công nghệ, đầu mối cung cấp vật
Trang 24tư, nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm,v.v Do đó, nếu tỷ trọng FDI chiếm quá lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thì sự độc lập, tự chủ của nước nhận đầu tư có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế trở nên lệ thuộc vào bên ngoài, thiếu vững chắc (nhất là khi dòng vốn FDI có sự biến động, giảm sút lớn)
d Các ảnh hưởng xấu khác
Do sự đãi ngộ về vật chất và tinh thần (đặc biệt là về vật chất với mức lương cao),
mà các doanh nghiệp FDI đã mời gọi được nhiều lao động có trình độ, tài trí về làm việc cho mình Trong khi khu vực kinh tế nhà nước, các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư có mức lương thấp, điều kiện lao động và chế độ đãi ngộ thiếu cạnh tranh nên không thu hút được nhiều lao động kỹ thuật cao Đó chính là hiệu ứng
“chảy máu chất xám” ở ngay trong một quốc gia
FDI vào nước tiếp nhận đầu tư kéo theo một lực lượng đông đảo người nước ngoài tới sinh sống, làm việc; cho nên sự xâm nhập văn hoá nước ngoài là không thể tránh khỏi Truyền thống văn hoá bị pha trộn, lai căng dẫn đến cách sống, suy nghĩ không phù hợp nền văn hoá nước chủ nhà, nhất là trong một bộ phận giới trẻ
Do đó, để hạn chế cần xây dựng một môi trường văn hoá “hoà nhập” nhưng không
“hoà tan”, đánh mất bản sắc dân tộc mình
Ngoài ra, FDI còn có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực khác như mất cân bằng kinh tế vùng, ngành do các nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao nhất, những vùng có điều kiện tốt nhất Những ảnh hưởng này thậm chí có thể dẫn đến những bất ổn về mặt chính trị, rất khó để khắc phục
Tuy nhiên, những ảnh hưởng của FDI là tốt hay xấu còn phụ thuộc yếu tố chủ quan của nước nhận đầu tư (quan điểm, nhận thức, chiến lược, thể chế, chính sách, công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này) Để thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn FDI, nước tiếp nhận đầu tư cần hạn chế, giảm thiểu được những tác động tiêu cực, bất lợi, xử lý hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài và lợi ích quốc gia, tạo ra lợi ích tổng thể tích cực của việc tiếp nhận FDI cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo mục tiêu, định hướng, chiến lược phát triển của quốc gia mình
Trang 25II Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
1 Quá trình hình thành và phát triển
Chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia có quan hệ và tác động rất lớn đến quan
hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài Từng thời kỳ, chính sách đối ngoại của quốc gia đó
có thể tạo thuận lợi hay cản trở việc phát triển quan hệ đầu tưu trực tiếp nước ngoài Như vậy, có thể hiểu những cam kết của nước tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài hay quốc gia khác cũng thể hiện một phần chính sách đối ngoại của quốc gia
đó Việc nghiên cứu quan hệ FDI ở Việt Nam chỉ có thể bắt đầu từ khi Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền, có quyền tự quyết mọi chính sách và FDI của mình Sau khi giành độc lập, thống nhất đất nước năm 1975, với chính sách đối ngoại rộng mở, muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã từng bước có những quy định điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Điều lệ về đầu tư nước ngoài năm 1977, một trong những chế định pháp luật đầu tiên về đầu tư trực tiếp nước ngoài, là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự hình thành và phát triển của FDI tại Việt Nam
Căn cứ vào chính sách FDI của Việt Nam qua các thời kỳ và các yếu tố liên quan khác, quá trình phát triển của FDI Việt Nam có thể chia thành bốn giai đoạn lớn như sau:
1.1 Giai đoạn từ năm 1975 đến 1987
Về pháp luật FDI: Năm 1977 - hai năm sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Điều lệ đầu tư nước ngoài ở Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được ban hành kèm theo Nghị định số 115/NĐ-CP ngày 18/4/1977 của Chính phủ Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Chính phủ có quy định các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh các quan hệ pháp luật về FDI Điều lệ cho phép nhà đầu tư nước ngoài tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam dưới ba hình thức: hợp tác sản xuất chia
Trang 26sản phẩm; xí nghiệp và công ty hỗn hợp Điều lệ đầu tư năm 1977 đã tạo ra được khung pháp lý ban đầu cho hoạt động đầu tư nước ngoài Đây là những tiền đề cho những ý tưởng và là cơ sở cho những bước cải cách sau này, ngay cả Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 cũng đã lấy Điều lệ đầu tư năm 1977 làm nội dung chính để nâng cấp, hoàn thiện thêm
Tuy nhiên, mặc dù tồn tại suốt 10 năm từ khi ban hành năm 1977 đến khi có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987, nhưng Điều lệ đầu tư năm 1977 đã mất hoàn toàn tác dụng về mặt thực tiễn vì các lý do chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam còn vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung, quan liêu, bao cấp, bị phong tỏa bởi chính sách bao vây, cấm vận nên việc hạn chế trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là điều không thể tránh khỏi
- Thứ hai, trong thời gian sau 1975, Việt Nam phải luôn chú trọng vào việc đối
phó với những âm mưu phá hoại và xâm chiếm của các thế lực thù địch tại Campuchia và Trung Quốc, dẫn tới tâm lý làm cho nhà đầu tư cảm thấy tình hình chính trị không ổn định nên không yên tâm đầu tư
- Thứ ba: những khoản viện trợ chính thức liên chính phủ chiếm một vị trí cực
kỳ quan trọng trong quan hệ của các nước xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn đó Hơn nữa, đầu tư từ các nước xã hội chủ nghĩa trước đây được thực hiện theo các điều ước quốc tế ký kết giữa các nước này với Việt Nam, mà trong đó chứa đựng nhiều ưu đãi vượt khung pháp luật hiện hành và điều chỉnh theo một cơ chế riêng của điều ước
- Thứ tư: do bản thân Điều lệ đầu tư năm 1977 có những hạn chế, đồng thời
những chính sách đồng bộ kèm theo Điều lệ đầu tư năm 1977, như các quy định cụ thể cho việc thi hành như các qui định về Ngân hàng, quản lý ngoại hối, đất đai, lao động, tài nguyên, để nhằm thu hút đầu tư chưa được chú trọng ban hành Do đó, một cơ sở pháp lý đầy đủ, có hiệu lực pháp lý cao, làm hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài chưa được thiết lập
Trang 27Về quản lý nhà nước với hoạt động đầu tư: trong giai đoạn này chưa có một cơ
quan quản lý nhà nước và điều hành riêng hoạt động FDI Cơ chế nhiều cửa trong hoạt động FDI được chấp nhận và không phát huy hiệu quả
1.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến hết tháng 6/2006
Đây là giai đoạn Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đi vào thực hiện
a Giai đoạn từ năm 1988 đến 1989
Dấu mốc quan trọng trong giai đoạn này là việc Quốc hội Việt Nam lần đầu tiên thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào tháng 12 năm 1987
Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài lần đầu tiên được ban hành đã thể hiện quan điểm chính thức của Nhà nước Việt Nam đối với hoạt động FDI và nhà đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động FDI phát triển; làm cho hoạt động FDI có những chuyển biến quan trọng, tạo nên những bước đột phát trong quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI
Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư: trong giai đoạn này, Ủy ban Nhà nước về
hợp tác và đầu tư (SCCI) là cơ quan chuyên trách quản lý các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Ủy ban này do mới được thành lập nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong quá trình quản lý và điều hành hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
b Giai đoạn từ 1990 đến 1995
Trong giai đoạn này có nhiều mốc lịch sử quan trọng, tác động rất lớn đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Đầu tiên phải kể đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông
Âu, những đối tác đầu tư truyền thống của Việt Nam Đây là một tổn hại không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam nói riêng
Tiếp theo, trong năm 1992, tình hình kinh tế xã hội nước ta có rất nhiều chuyển biến tích cực, có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển của các thành phần kinh tế
Trang 28Sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở pháp lý mới cho việc mở rộng hợp tác với bên ngoài Cụ thể, theo điều 22 Hiến pháp năm 1992: “Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong
động đầu tư vốn, công nghệ của các tổ chức cá nhân nước ngoài vào Việt Nam, đồng thời có các biện pháp đảm bảo tài sản đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài
Về chính sách FDI: Ngay sau khi ban hành Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987,
luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã được khai thông và góp phần quan trọng vào việc khai thông ách tắc trong các quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam Mặc dù lượng vốn đầu tư chưa cao và chưa đạt được tốc độ tăng trưởng mạnh nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài đã khẳng định được vai trò và vị trí của mình như một khu vực kinh tế quan trọng có nhiều tiềm năng trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân Điều đó chứng tỏ rằng việc ban hành Luật và nội dung cơ bản của Luật là phù hợp với xu thế chung, phù hợp với mục tiêu khuyến khích các tổ chức,
cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam Tuy nhiên, trên thực tế, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 cũng bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót trong việc thi hành cũng như trong bản thân nội dung của Luật Do vậy, Luật Đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi và bổ sung để bảo đảm sự phù hợp với những thay đổi của kinh tế chính trị và góp phần tạo dựng môi trường pháp lý ngày càng đồng bộ hơn cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các năm 1990 và 1992
Về cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư: Bộ Kế hoạch và Đầu tư được thành lập
trên cơ sở hợp nhất Ủy ban hợp tác và Ủy ban kế hoạch nhà nước Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ĐTNN tại Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là
cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài, giúp Chính phủ quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Dưới Bộ Kế hoạch và Đầu tư có các Sở Kế hoạch
và Đầu tư chịu trách nhiệm giúp cho UBND các tỉnh, thành phố quản lý hoạt động FDI
c Giai đoạn từ 1996 đến hết tháng 6/2006
Trang 29Năm 1996 – 10 năm sau đổi mới – là năm mở đầu giai đoạn nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới - hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài đã bộc lộ nhiều nhược điểm cần được khắc phục, đó là: Một số quy định quá chung chung, không đủ cụ thể để hướng dẫn thi hành; thiếu tính đồng bộ, cập nhật và chồng chéo; thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, các chủ trương, quy hoạch chưa cụ thể, khiến nhà đầu tư mất nhiều thời gian tìm hiểu, cơ quan nhà nước gặp khó khăn trong việc quản lý
Trước tình hình đó, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ X đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 vào ngày 12/11/1996
Một năm sau đó, năm 1997, nhịp độ tăng vốn FDI của Việt Nam giảm mạnh so với năm 1996 Một nguyên nhân của hiện tượng là do cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính khu vực Châu Á Phần lớn lượng vốn FDI vào Việt Nam đều bắt nguồn từ các nước Châu Á, trong đó ASEAN chiếm gần 25%, các nước ở khu vực Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan chiếm trên 31% Khi nền kinh tế các nước này khủng hoảng, các nhà đầu tư rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính nên sự giảm sút về nguồn vốn FDI từ các quốc gia này là không thể tránh khỏi Tuy nhiên,
đó chưa phải là nguyên nhân chính Nguyên nhân chủ yếu gây ra sự sụt giảm về đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hậu khủng hoảng kinh tế – tài chính là do sự kém hấp dẫn của môi trường đầu tư của Việt Nam so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Với mục tiêu khắc phục những hạn chế của khung pháp lý hiện hành về FDI; tạo dựng môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh thông thoáng, ổn định, có sức hấp dẫn và cạnh tranh cao, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào tháng 6 năm
2000
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc
tế, vào năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư chung, trên cơ sở thống nhất hai luật: Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước, để cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam nhằm thu hút tối đa nguồn vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trang 30Về cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư: Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư
không có gì thay đổi so với giai đoạn trước Tuy vậy, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thành lập Cục đầu tư nước ngoài (năm 2003) để đưa hoạt động quản lý đầu tư về một mối, khắc phục tình trạng chồng chéo và phân tán trước kia
1.3 Giai đoạn từ 7/2006 đến nay
Ngày 1/7/2006, Luật Đầu tư năm 2005 bắt đầu có hiệu lực, mở ra một thời kỳ mới cho đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam với sự mở rộng quyền tự chủ đầu
tư kinh doanh cho nhà đầu tư và sự đổi mới về quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài LĐT có hiệu lực cũng chính là một bước chuẩn bị cho việc Việt Nam gia nhập WTO
Các quy định cụ thể về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian này sẽ được nói rõ hơn ở phần sau
2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Hiện nay, theo Luật Đầu tư năm 2005, nhà đầu tư nước ngoài có quyền đầu tư vào các hình thức sau:
- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài;
- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài;
hợp đồng BT;
- Đầu tư phát triển kinh doanh;
- Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư;
- Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp;
- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác
Theo thống kê đến 20/9/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hình thức đầu tư trong
đó có thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vẫn là hình thức được các nhà đầu tư lựa chọn nhiều nhất với tổng số dự án là 6223 trên tổng số 8058 dự án và tổng số vốn đầu tư chiếm khoản 50% tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 31vào Việt Nam Tiếp theo đú là hỡnh thức thành lập doanh nghiệp liờn doanh với
1570 dự ỏn với tổng lượng vốn đầu tư là 2,2 nghỡn tỷ đồng, sau đú là hỡnh thức hợp đồng hợp tỏc kinh doanh với 217 dự ỏn và 449 nghỡn tỷ đồng vốn đăng ký; hỡnh thức cụng ty cổ phần cú 43 dự ỏn và 44 nghỡn tỷ đồng vốn thu hỳt được; cuối cựng
là hỡnh thức hợp đồng BOT, BTO, BT và hỡnh thức cụng ty mẹ – con với số dự ỏn lần lượt là 4 và 1 dự ỏn
Biểu đồ 1: FDI phõn theo hỡnh thức đầu tư
(Xem thờm phụ lục 1)
1570 217
6223
5 43
Hợp đồng hợp tác kinh doanh Công ty cổ phần
BOT, BTO, BT và công ty mẹ-con
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
3 Vai trũ của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế Việt Nam
3.1 Bổ sung nguồn vốn quan trọng cho phỏt triển kinh tế
Như trờn đó núi, Việt Nam hiện nay vẫn cũn là một nước đang phỏt triển, cần một lượng vốn lớn để cú thể xõy dựng đất nước và phỏt triển kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài đó và đang đúng gúp một lượng vốn lớn và quan trọng để Việt Nam thực hiện cỏc mục tiờu kinh tế xó hội đú Tớnh từ năm 1988 đến hết ngày 22/4/2008
cả nước đó cú 9.905 dự ỏn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phộp với tống vốn
Luồng vốn này đỳng như là một “cỳ hớch” để
6
Thống kờ đầu tư đến thỏng 4/2008 – Tổng cục Thống kờ
Trang 32phá vỡ “vòng luẩn quẩn” trong nền kinh tế Việt Nam, tạo ra động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế đồng thời trở thành một chất xúc tác giúp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hàng năm, do chủ trương tận dụng mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế của khu vực kinh tế trong nước (bao gồm khu vực kinh
tế nhà nước và khu vực kinh tế ngoài nhà nước) không ngừng tăng lên và ngày càng chiếm vai trò quan trọng Tuy nhiên, ngoài nội lực là nguồn vốn đầu tư trong nước, chúng ta còn có một nguồn ngoại lực không kém phần quan trọng, đó chính là đầu
tư trực tiếp nước ngoài - nhân tố cơ bản để giúp nước ta có thể trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020
Biểu đồ 2: Lượng vốn FDI và tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội
30
%
Tæng l-îng vèn FDI Tû träng trong tæng vèn ®Çu t- x· héi
Nguồn: Thống kê đầu tư từ năm 1995-2007 – Tổng cục Thống kê
Trong những năm gần đây, FDI góp phần bổ sung thêm một lượng vốn quan trọng trong nền kinh tế với tỷ trọng vốn dao động trong khoảng từ 16-20% tổng lượng vốn đầu tư xã hội Ví dụ như trong năm 2007, vốn FDI đóng góp 16,04% vào
Trang 33tổng lượng vốn đầu tư của Việt Nam Giá trị tuyệt đối của vốn FDI cũng không ngừng tăng lên Đặc biệt, trong hai năm 2006 và 2007, vốn FDI thu hút được của Việt Nam tăng rất mạnh Nếu như trong năm 2005, chúng ta chỉ thu hút được 46,98 nghìn tỷ đồng vốn FDI thì lượng vốn thu hút được trong năm 2006 là 65,02 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 1,5 lần so với năm 2005 Trong năm 2007, lượng vốn FDI đạt một mức kỷ lục mới là 74,1 nghìn tỷ đồng
Vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước Từ năm 1991-2000, GDP tăng trưởng liên tục qua các năm với tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm 7,56%, trong đó giai đoạn 1991-1995: tăng 8,18%, giai đoạn 1996-2000: tốc độ tăng trưởng 6,94% Nhờ vậy, đến năm 2000, tổng sản phẩm trong nước tăng gấp 2 lần năm 1990 Giai đoạn 2001-2005, GDP tăng trưởng với tốc độ bình quân 7,5% Cùng với sự gia tăng của nguồn vốn FDI, năm 2006 và 2007, GDP tăng trưởng với tốc độ tương ứng là 8,17% và 8,48% Do đó, chúng ta có thể khẳng định, FDI thực sự là “cú hích” để chúng ta có thể thoát ra khỏi cái “vòng luẩn quẩn” của một quốc gia đang phát triển nhanh hơn và hiệu quả hơn
3.2 Tăng thu ngân sách, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu
a Thu ngân sách nhà nước
Bảng 1: Tỷ trọng đóng góp vào NSNN của doanh nghiệp FDI
Trang 34Đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước (chưa kể dầu thô) ngoài trong năm 2006 và 2007 lần lượt là 24.218 và 30.378 tỷ đồng, chiếm khoảng 8% tổng thu ngân sách nhà nước, nếu tính cả dầu thô vào thì tổng đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ lên đến khoảng 30% tổng thu ngân sách nhà nước Điều
đó chứng tỏ vai trò quan trọng cũng như đóng góp to lớn của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Ngân sách nhà nước Việt Nam nói riêng và vào nền kinh tế Việt Nam nói
chung là không thể phủ nhận được
b Tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu
Đầu tư nước ngoài đã có tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam Ví dụ như trong năm 1990, khi vốn FDI thu hút được của Việt Nam chỉ là 735 triệu USD, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực này chỉ chiếm 19,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Thế nhưng cho đến những năm gần đây, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu là khu vực FDI, đóng góp hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế với giá trị xuất khẩu lên tới hơn 27,8 tỷ USD vào năm 2007 Như vậy, có thể nói, đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là một động lực quan trọng giúp thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng thị trường
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu theo thành phần kinh tế
Đơn vị: Triệu USD, %
KHU VỰC KINH TẾ TRONG
NƯỚC
KHU VỰC CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Trang 353.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH
Ngoài tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu trong các mục tiêu kinh tế vĩ mô Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối quan hệ hữu cơ với nhau: Tăng trưởng kinh tế trong toàn bộ các ngành của nền kinh tế, các vùng kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế, từ đó kéo theo tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả
và bền vững
Trong điều kiện kinh tế mở hiện nay, các quan hệ kinh tế quốc tế tạo ra động lực
và điều kiện cho sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, trong đó, FDI là một trong những động lực mạnh mẽ nhất Nhờ có sự tác động của FDI cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp và tiến bộ, cơ cấu kinh tế Việt Nam hiện nay đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp
Trong cơ cấu của FDI, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tính đến năm 2006 chiếm tỷ trọng lớn nhất, 68,29% về số dự án và 67,33% về tổng số vốn đăng ký; lĩnh vực Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản ít được sự thu hút của nhà đầu tư nước ngoài nhất với chỉ khoảng 8% về số dự án và khoảng 4% về lượng vốn đầu tư
Bảng 3: FDI theo ngành kinh tế giai đoạn 1988-2006
(Xem thêm phụ lục 3)
Đơn vị: Triệu USD, %
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bao gồm vốn tăng thêm của các dự án từ năm trước
Trang 36Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, trong ba ngành Công nghiệp và xây dựng, Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản, Dịch vụ, ngành Công nghiệp và xây dựng có bước tiến nổi bật nhất với tỷ trọng tăng từ 28.76% vào năm 1995 lên 41,04% vào năm
2005 Cũng trong giai đoạn đó, tỷ trọng ngành Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản giảm từ 27.18% xuống 20,89%
Ngành công nghiệp là ngành tăng trưởng nhanh nhất đồng thời cũng là ngành thu hút được nhiều vốn FDI nhất Ngành Nông – Lâm nghiệp và Thủy sản, ngành thu hút được vốn FDI ít nhất, giảm dần về tỷ trọng Như vậy có thể nói rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho tỷ trọng của các ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân thay đổi là do có tác động của nguồn vốn FDI Ngành nào nhận được nhiều vốn FDI nhất sẽ tăng dần tỷ trọng và ngược lại, ngành nào nhận được ít
sự quan tâm của các nhà ĐTNN sẽ giảm tỷ trọng trong nền kinh tế.Từ đó, ta có thể thấy vai trò quan trọng của FDI đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội của Việt Nam
Biểu đồ 3: Cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995 - 2005
28.76 29.73 32.08 32.49 34.5 36.73 38.13 38.49 39.47 40.21 41.04
44.06 42.51 42.15 41.73 40.07 38.74
38.63 38.48 37.99 37.98 38.07 27.18 27.76 25.77 25.78 25.43 24.53 23.24 23.03 22.54 21.81 20.89
N¨m
%
Nguồn: Niên giám thống kê 2005
Trang 373.4 Nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật nhờ chuyển giao công nghệ
Ngoài nguồn vốn bằng tiền nhà đầu tư đầu tư vào Việt Nam, họ còn có thể sử dụng các máy móc, thiết bị, bằng phát minh sáng chế,… để đầu tư vào Việt Nam Các nhà đầu tư bao giờ cũng đặt mục tiêu lợi nhuận và thời gian thu hồi vốn là mục tiêu số một khi quyết định đầu tư Do đó, máy móc, thiết bị, công nghệ được đưa vào sử dụng thường có hiệu suất cao, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại Nhờ đó, chúng ta, nước nhận đầu tư có thể rút ngắn khoảng cách về công nghệ với các quốc gia khác trên thế giới thông qua con đường chuyển giao công nghệ
Đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm
dò và khai thác dầu khí, hóa chất, cơ khí và chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy,…Nhất là khi tập đoàn hàng đầu thế giới Intel đầu tư vào khu công nghệ cao tại Việt Nam với số vốn là 1 tỷ đô la Mỹ để sản xuất linh kiện điện tử cao cấp đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia như Canon, Panasonic, Ritech,…
Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực đầu tư nước ngoài cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương với các nước trong khu vực Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng phương thức quản
lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công
ty mẹ Nhờ đó, chúng ta có thể học hỏi thêm kinh nghiệm quản lý tiên tiến và hiệu quả từ các doanh nghiệp FDI
Trong nông – lâm – ngư nghiệp, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới có chất lượng tốt, năng suất cao và ổn định
3.5 Giải quyết việc làm, nâng cao mức sống của người lao động
Nhờ có luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong những năm gần đây, hàng năm, chúng ta giải quyết được việc làm cho khoảng 700 ngàn lao động Hơn thế nữa, do các doanh nghiệp FDI có lợi thế về vốn và tài chính, họ có khả năng trả
Trang 38lương cao hơn cho công nhân và nhân viên so với các doanh nghiệp trong nước Nhờ đó, đời sống của người lao động không ngừng được nâng cao
Bảng 4: Lượng lao động làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm
Nguồn: Thống kê lao động - Tổng cục thống kê
Ngoài việc tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm trực tiếp (lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI), hoạt động của các dự án FDI đã góp phần tạo ra công
ăn việc làm gián tiếp có thu nhập cao cho người lao động Việt Nam hoạt động trong các ngành khác đồng thời góp phần hình thành cơ chế thúc đẩy việc nâng cao năng lực cho người lao động Việt Nam
3.6 Nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết sản xuất kinh doanh thụ động, theo sự chỉ định kế hoạch của cấp trên, không cần đầu tư, cải tiến kỹ thuật, không cần tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm Từ sau năm 1986, các doanh nghiệp đã gặp những khó khăn không nhỏ trong việc thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh trong một nền kinh tế mở Trong hoàn cảnh đó, các doanh nghiệp FDI vừa là một thách thức, vừa là một động lực đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong cuộc cạnh tranh giành thị trường, Hơn thế nữa, sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI như Honda, Toyota, Unilever, P&G, Intel,…đã đặt các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải tham gia vào cuộc cạnh tranh về mọi mặt để khẳng định vị trí của mình trên thương trường Để có thể tồn tại
và có chỗ đứng trên thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam không còn cách nào
Trang 39khác là phải thay đổi một cách căn bản từ công nghệ, phương thức sản xuất, kinh doanh, trình độ của người lao động, Nhiều doanh nghiệp trong nước đã có những
nỗ lực đổi mới công nghệ, nhập các thiết bị, máy móc hiện đại để tạo ra sản phẩm
có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Trong số đó, nổi bật nhất có thể kể đến các thương hiệu mạnh của Việt Nam như: công ty Bánh kẹo Kinh Đô, Cà phê Trung Nguyên, công ty Phần mềm FPT,v.v
3.7 Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
ĐTNN đã góp phần quan trọng và tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy mạnh tiến trình tự do hóa thương mại và đầu tư Đến hết năm 2007, Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO, đồng thời đã ký kết hơn 50 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu
tư, trong đó có hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định tự do hóa, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà ĐTNN, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện7
7 http://www.ncseif.gov.vn/Default.aspx?mod=News&cat=16&nid=10936
Trang 40CHƯƠNG 2: LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2005 VÀ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
I Luật Đầu tư năm 2005
1 Sự cần thiết phải ban hành Luật Đầu tư năm 2005
Thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư như: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã,… Các đạo luật này đã tạo nên một khung pháp lý quan trọng điều chỉnh các mối quan
hệ liên quan đến hoạt động đầu tư phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng và thực tế phát triển kinh tế - xã hội nước ta, cũng như phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập; góp phần tạo môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế
Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987 và đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996 và 2000 đã tạo môi trường pháp lý ngày càng hấp dẫn cho việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tính đến hết năm 2004, trên địa bàn cả nước có trên 5.300 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 47 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 31 tỷ USD Quán triệt Nghị quyết Đại hội IX và Nghị quyết TW 5 khóa IX về kinh tế tập thể, Luật hợp tác xã năm 2003 đã có nhiều nội dung mới, tạo sức sống cho nông nghiệp nông thôn Cùng với việc thực hiện chính sách giao đất cho hộ nông dân, chính sách trang trại,… đã xuất hiện các mô hình hợp tác xã đích thực, đa ngành góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên, những yêu cầu mới của
sự nghiệp đổi mới sâu rộng nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập quốc tế đã đặt ra những đòi hỏi khách quan đối với việc phải xây dựng một Luật Đầu tư chung nhằm tăng cường huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội