1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội

102 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Kinh Doanh Nhập Khẩu Của Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung
Trường học Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội
Chuyên ngành Kinh doanh nhập khẩu
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 280,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian thực tập vừa qua tại Phòng Xuất nhập khẩu và Điều độ sản xuất, Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội, em nhận thấy rằng, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc thì một lĩnh

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt nền kinh tế nước ta trước những thời cơ mới và những thách thức mới Do đó, để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt quyết liệt như hiện nay thì các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm cách để hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất Một trong hai hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương đó là hoạt động nhập khẩu.

Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Trong thời gian thực tập vừa qua tại Phòng Xuất nhập khẩu và Điều độ sản xuất, Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội, em nhận thấy rằng, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc thì một lĩnh vực đóng vai trò không nhỏ vào kết quả sản xuất kinh doanh nói chung của Công ty là hoạt động nhập khẩu kinh doanh nguyên liệu và dịch vụ nhận nhập khẩu uỷ thác thuốc thành phẩm cho các đơn vị bạn nhằm thu phí uỷ thác Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, các hoạt động này có xu hướng giảm sút, các khách hàng của Công ty dần dần chuyển sang các Công ty khác, cán bộ công nhân viên hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu trong Công ty ngày càng chán nản, không hài lòng với công việc Sở dĩ có điều này, nguyên nhân chính là do sự biến động phức tạp của thị trường dược, trong khi đó phong cách làm việc của người lao động trong Công

ty còn chưa năng động, nhạy bén, khả năng thích nghi chưa cao làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu, Nếu hiện tượng này không sớm được khắc phục thì sự tồn tại của Công ty sẽ bị đe doạ Chính vì vậy

mà em đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là: “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội” nhằm

có thể đưa ra những giải pháp để góp phần nào đó giúp hoạt động nhập khẩu của Công ty ngày càng tốt hơn.

Trang 2

Luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở phát hiện các tồn tại và nguyên nhân

của các tồn tại trong việc nâng cao HQKD nhập khẩu của Công ty CPDPHN trong những năm gần đây mà đề xuất những giải pháp cụ thể và thiết thực nhằm nâng cao HQKD nhập khẩu nói riêng và HQKD nói chung của Công ty.

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ của luận văn là:

- Hệ thống hoá lý luận về HQKD và HQKD nhập khẩu.

- Phân tích thực trạng HQKD và nâng cao HQKD nhập khẩu của Công ty thời gian gần đây.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao HQKD nhập khẩu của Công ty trong thời gian tới.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là vấn đề HQKD nhập khẩu của Công

ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội.

- Phạm vi nghiên cứu: HQKD của Công ty CPDPHN do nhiều hoạt động tạo

ra, tuy nhiên trong luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu HQKD của hoạt động nhập khẩu của Công ty từ năm 2001 trở lại đây.

4 Kết cấu của luận văn.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn của em được chia làm ba chương:

Chương I: Lý luận chung về HQKD và sự cần thiết phải nâng cao HQKD

nhập khẩu ở các Công ty Dược phẩm.

Chương II: Thực trạng HQKD và nâng cao HQKD nhập khẩu của Công ty

Cổ phần Dược phẩm Hà Nội.

Chương III: Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao HQKD nhập

khẩu của Công ty CPDPHN.

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 3

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HQKD VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO

HQKD NK Ở CÁC CÔNG TY DƯỢC PHẨM

1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh nhập khẩu.

1.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh nhập khẩu.

Nhập khẩu là một loại hoạt động kinh doanh quốc tế, vượt ra ngoài phạm

vi quốc gia Có thể nói, hoạt động kinh doanh nhập khẩu là hoạt động mua bánhàng hoá hoặc dịch vụ từ nước ngoài để tái sản xuất hoặc phục vụ nhu cầu trongnước nhằm mục đích thu lợi

Như vậy, nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ từ các tổ chứckinh tế, các công ty nước ngoài để tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu đó trênthị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu nhằm thu lợi nhuận và nối liền sản xuất vớitiêu dùng

1.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu.

1.2.1 Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá đất nước.

Sở dĩ nói như vậy là vì một mặt, do các nước đang phát triển thường khó

có điều kiện để tự nghiên cứu và triển khai những công nghệ hiện đại, nên thôngqua việc chuyển giao công nghệ bằng con đường nhập khẩu, các nước này cóthể thực hiện chính sách đi tắt, đón đầu các công nghệ tiên tiến của các nướccông nghiệp phát triển và của thế giới Vì vậy, hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cácnước đang phát triển tạo ra cơ sở vật chất hiện đại, trình độ sản xuất của cácnước đó sẽ được nâng cao để tiến tới công nghiệp hoá đất nước

Mặt khác, cơ cấu kinh tế của một quốc gia có thể được thay đổi, điềuchỉnh theo mục tiêu mà quốc gia đó đã đặt ra thông qua chính sách nhập khẩu.Đối với những ngành mà Nhà nước muốn khuyến khích phát triển thì Nhà nước

sẽ đưa ra chính sách nhập khẩu nhiều ưu đãi đối với các mặt hàng phục vụ cho

Trang 4

Luận văn tốt nghiệp

ngành đó Còn nếu Nhà nước muốn hạn chế bớt ngành nào đó thì chính sáchnhập khẩu đối với các mặt hàng của ngành đó thường được thắt chặt hơn Do đó,

để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, Nhà nước có thểđưa ra chính sách nhập khẩu sao cho để tạo điều kiện cho các ngành côngnghiệp phát triển như: Công nghiệp ô tô, ngành cơ khí, chế tạo, và hạn chế bớtcác ngành như: nông, lâm, ngư nghiệp,

1.2.2 Đảm bảo nền kinh tế phát triển cân đối ổn định.

Một quốc gia dù mạnh đến đâu, phát triển đến thế nào thì cũng không thể

tự sản xuất tốt tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ Do đó, mỗi quốc gia thôngthường chỉ chọn ra những mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế để sản xuất xuấtkhẩu, còn những mặt hàng khác thì sản xuất ít và phần lớn là nhập khẩu từnhững nước khác Nếu quốc gia nào mà không nhập khẩu những mặt hàng màquốc gia đó không sản xuất được hoặc không có lợi thế thì nền kinh tế của quốcgia đó sẽ bị mất cân đối Vì vậy, hoạt động nhập khẩu có tác dụng to lớn trongviệc bổ sung kịp thời những thiếu hụt của nền kinh tế, đảm bảo nền kinh tế luônphát triển cân đối và ổn định

1.2.3 Cải thiện và nâng cao điều kiện sống của nhân dân.

Hoạt động nhập khẩu giúp cho thị trường hàng hoá trong nước trở nênphong phú, đa dạng hơn, tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn hơn cho người tiêu dùng,nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu của người tiêu dùng trong nước

Bên cạnh đó, hoạt động nhập khẩu còn đảm bảo cung cấp các yếu tố đầuvào cho sản xuất, do nguồn nguyên liệu trong nước khan hiếm, từ đó tạo thêmcông ăn việc làm cho người lao động

1.2.4 Có tác động tích cực đến việc thúc đẩy xuất khẩu.

Hoạt động nhập khẩu giúp đảm bảo các yếu tố đầu vào như kỹ thuật, côngnghệ vật tư, nguyên vật liệu, nhiên liệu, để sản xuất hàng xuất khẩu Hơn nữa,một số nước hiện nay có những quy định rất chặt chẽ đối với hàng nhập khẩu, để

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 5

có thể xuất khẩu được hàng hoá sang các nước đó, chúng ta phải đáp ứng rấtnhiều tiêu chuẩn khác nhau như về nguyên liệu, về lao động, về điều kiện sảnxuất, mà đôi khi có những yếu tố như nguyên liệu, máy móc thiết bị, chúng

ta lại không có được mà phải nhập khẩu từ nước ngoài Do đó, hoạt động nhậpkhẩu một mặt nhằm đáp ứng các yêu cầu quốc tế để thực hiện xuất khẩu hànghoá, mặt khác giúp chúng ta nâng cao trình độ lực lượng sản xuất trong nước

2 Lý luận chung về HQKD.

2.1 Khái niệm và bản chất của HQKD.

Mặc dù, các công ty, các doanh nghiệp khác nhau, hoạt động trong cáclĩnh vực khác nhau tại các quốc gia khác nhau, nhưng khi tham gia vào hoạtđộng kinh doanh thì họ đều có mục đích chung, đó là tối đa hoá lợi nhuận Vậylàm thế nào để với nguồn lực hạn chế của họ như: Trình độ nguồn nhân lực, khảnăng vốn và công nghệ, sẵn có có thể mang lại cho họ khoản lợi nhuận là caonhất? Để lý giải điều này, người ta thường nhắc đến thuật ngữ “HQKD” VậyHQKD là gì?

Từ trước đến nay đã có rất nhiều các quan niệm khác nhau về thuật ngữ

“HQKD” Và để hiểu rõ về khái niệm và bản chất của HQKD, chúng ta có thể đisâu xem xét một số quan niệm trong số đó

Quan niệm thứ nhất cho rằng: “HQKD là kết quả thu được trong hoạt

động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”.1

Như vậy, theo quan niệm này, HQKD đã được đồng nhất với kết quả kinhdoanh Có nghĩa là, chỉ cần các hoạt động kinh doanh khác nhau mang lại kếtquả như nhau đã có thể kết luận rằng HQKD của các hoạt động đó là bằng nhau,

mà không cần xem xét đến các mức chi phí, thời gian bỏ ra để đạt được kết quả

đó có thể là khác nhau Rõ ràng, quan niệm này đã thể hiện sự không hợp lý vềHQKD

1 Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI, PGS.TS Nguyễn Thị Hường tr 318

Trang 6

Luận văn tốt nghiệp

Quan niệm thứ hai cho rằng: “HQKD là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng

thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”.2

Quan niệm này đã phản ánh được mối quan hệ so sánh tương đối giữa kếtquả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Việc xem xét mối quan hệ

đó cho biết một đơn vị chi phí tăng thêm tạo ra được bao nhiêu đơn vị kết quả.Thông qua đó, có thể đánh giá được trình độ sử dụng các yếu tố tăng thêm vàohoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đưa ra quyết định có nên tăng thêmchi phí cho hoạt động đó hay không Tuy niên, hạn chế của quan niệm này đó làchỉ xét tới phần kết quả và chi phí tăng thêm mà không đề cập đến kết quả và chiphí ban đầu Do vậy, quan niệm này chỉ đánh giá được hiệu quả của hoạt động

bổ sung mà không đánh giá được toàn bộ hiệu quả của hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp

Quan niệm thứ ba cho rằng: “HQKD là một đại lượng so sánh giữa kết

quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó”.3

Theo quan niệm này thì HQKD chính là lợi nhuận thu được từ hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Quan niệm này đã phản ánh được mối quan hệbản chất của HQKD, đề cập đến cả kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả

đó Tuy nhiên, quan niệm này chưa thể hiện được tương quan về lượng và vềchất giữa kết quả và chi phí Vì khi các hoạt động kinh doanh khác nhau cùngtạo ra một mức lợi nhuận, song thời gian để đạt được mức lợi nhuận đó giữa cáchoạt động kinh doanh là khác nhau, quy mô các hoạt động kinh doanh là khácnhau, thì chưa thể kết luận được HQKD giữa các hoạt động đó là như nhauđược Đây chính là hạn chế của quan niệm nay

Quan niệm thứ tư cho rằng: “HQKD là phạm trù phản ánh mối quan hệ

giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó,đồng thời phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất”.4

Trang 7

Quan niệm này đã thể hiện được tương quan về lượng và về chất giữa kếtquả và chi phí, thể hiện được sự vận động của kết quả và sự vận động của chiphí Qua đó có thể đánh giá được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất củadoanh nghiệp.

Như vậy, trong tất cả các quan niệm trên thì quan niệm thứ tư là quanniệm đúng đắn và đầy đủ hơn cả Nói tóm lại, ta có thể đưa ra khái niệm HQKD

như sau: HQKD là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa sự vận động của kết

quả của hoạt động kinh doanh với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất.

Từ khái niệm trên ta dễ dàng thấy được bản chất của HQKD là phản ánhtrình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của doanhnghiệp Do đó, việc nâng cao HQKD sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng hợp lý cácnguồn lực hơn, tiết kiệm được thời gian, chi phí hơn nhưng lại mang đến kết quảcao hơn, nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra

2.2 Phân loại HQKD.

Trong thực tế có rất nhiều loại HQKD khác nhau Mỗi loại lại có đặcđiểm và ý nghĩa riêng Do đó, để dễ nhận biết và quản lý, người ta thường phânloại HQKD theo nhiều tiêu chí khác nhau

2.2.1 Dựa vào phương pháp tính hiệu quả:

Theo phương pháp tính HQKD, người ta chia HQKD thành hai loại:HQKD tuyệt đối và HQKD tương đối

HQKD tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả của từng phương án kinhdoanh, từng thời kỳ kinh doanh, từng doanh nghiệp bằng cách lấy chênh lệchgiữa kết quả kinh doanh và chi phí tạo ra kết quả đó

Tổng lợi nhuận = Tổng kết quả - Tổng chi phíNhư vậy, HQKD tuyệt đối ở đây chính là lợi nhuận thu được từ mỗiphương án kinh doanh, từng thời kỳ kinh doanh nhất định của doanh nghiệp

Trang 8

Luận văn tốt nghiệp

HQKD tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lựcsản xuất của doanh nghiệp HQKD tương đối được tính như sau:

Kết quả

H1 =

Chi phíCông thức này cho biết một đơn vị chi phí tạo ra bao nhiêu đơn vị kết quả.Hoặc:

Chi phí

H2 =

Kết quảCông thức này phản ánh một đơn vị kết quả được tạo ra từ bao nhiêu đơn

vị chi phí

2.2.2 Dựa vào phạm vi tính toán hiệu quả:

Để tính toán được HQKD, người ta phải giới hạn phạm vi tính toán Theotiêu chí này, người ta chia HQKD thành hai loại: HQKD tổng hợp, và HQKD bộphận

HQKD tổng hợp là HQKD được tính trong phạm vi toàn bộ doanhnghiệp

HQKD bộ phận là HQKD được tính đối với từng bộ phận, từng hoạt độngkinh doanh trong doanh nghiệp, hoặc đối với từng yếu tố sản xuất

Giữa HQKD tổng hợp và hiệu qủa kinh doanh bộ phận có mối quan hệbiện chứng với nhau, không phải là mối quan hệ cùng chiều Khi chỉ tiêu hiệuquả tổng hợp tăng lên thì có thể có chỉ tiêu hiệu quả bộ phận cũng tăng lên, hoặckhông đổi, hoặc là giảm xuống Mặc dù, các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận phản ánhhiệu quả kinh tế của từng mặt hoạt động, thể hiện sự đóng góp của từng bộ phận,từng yếu tố vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, song, chỉ có chỉ tiêuHQKD tổng hợp ở cấp doanh nghiệp mới đánh giá được hiệu quả toàn diện vàđại diện cho HQKD của doanh nghiệp

2.2.3 Dựa vào thời gian mang lại hiệu quả:

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 9

Khi tính toán HQKD, người ta không chỉ giới hạn phạm vi tính toán màcòn giới hạn thời gian tính toán Với mỗi khoảng thời gian dài ngắn khác nhau

sẽ cho ta các loại HQKD khác nhau Theo thời gian mang lại HQKD, người tachia thành hai loại HQKD chủ yếu là: HQKD trước mắt và HQKD lâu dài

HQKD trước mắt là hiệu quả được xem xét trong một khoảng thời gianngắn, là hiệu quả mang lại ngay khi chúng ta thực hiện hoạt động kinh doanh

HQKD lâu dài là hiệu quả được xem xét, đánh giá trong một khoảng thờigian dài, là hiệu quả mang lại sau khi thực hiện hoạt động kinh doanh mộtkhoảng thời gian nhất định

Giữa HQKD trước mắt và HQKD lâu dài có mối liên hệ biện chứng vớinhau Việc đạt được HQKD trước mắt là cơ sở để đạt được HQKD lâu dài Tuynhiên, trong nhiều trường hợp có sự mâu thuẫn giữa hai loại HQKD đó Trongtrường hợp như vậy thì doanh nghiệp phải lấy HQKD lâu dài làm thước đo chấtlượng HQKD của mình vì chỉ có hiệu quả lâu dài mới phản ánh rõ khả năng sửdụng nguồn lực trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

2.2.4 Dựa vào đối tượng xem xét hiệu quả:

Theo tiêu chí này HQKD được chia ra thành hai loại: HQKD trực tiếp vàHQKD gián tiếp

HQKD trực tiếp là hiệu quả do chính việc thực hiện hoạt động kinh doanh

đó mang lại

HQKD gián tiếp là hiệu quả do một hoạt động kinh doanh khác mang lại.Giữa HQKD trực tiếp và HQKD gián tiếp cũng có mối quan hệ biệnchứng với nhau Việc đạt được HQKD trực tiếp sẽ có thể có tác động tích cựcđến việc đạt được HQKD gián tiếp và ngược lại Tuy nhiên, cũng có trường hợp

để hoạt động kinh doanh này có hiệu quả thì sẽ gây khó khăn trong việc thựchiện hoạt động kinh doanh khác của doanh nghiệp Khi đó, tuỳ theo tình hình cụthể mà doanh nghiệp cần phải dung hoà các hoạt động kinh doanh đó để sao choHQKD của toàn doanh nghiệp là cao nhất

Trang 10

1 0

Luận văn tốt nghiệp

2.2.5 Dựa vào khía cạnh khác nhau của hiệu quả:

Theo tiêu chí này, người ta chia HQKD thành hai loại: Hiệu quả tài chính

và hiệu quả chính trị - xã hội

Hiệu quả tài chính là HQKD của doanh nghiệp về khía cạnh kinh tế tàichính

Hiệu quả chính trị - xã hội là HQKD của doanh nghiệp về khía cạnh chínhtrị - xã hội - môi trường

Giữa hai loại hiệu quả này cũng có mối liên hệ biện chứng với nhau, tuynhiên trong thực tế hai loại hiệu quả này thường mâu thuẫn với nhau Việc đạtđược hiệu quả tài chính thường làm cho hiệu quả chính trị xã hội không đạtđược và ngược lại Nếu xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, thì hiệu quả tàichính có thể được coi là hiệu quả trước mắt vì hiệu quả tài chính chỉ mang lại lợiích trước hết cho doanh nghiệp kinh doanh trong một khoảng thời gian nhấtđịnh, còn hiệu quả chính trị xã hội như là hiệu quả lâu dài vì hiệu quả chính trị

xã hội mang lại lợi ích cho toàn bộ các doanh nghiệp, người lao động, ngườidân, trong thời gian dài Do vậy, khi tham gia vào hoạt động kinh doanh,doanh nghiệp không nên chỉ chú trọng đến hiệu quả tài chính mà bỏ qua hiệuquả chính trị xã hội

2.2.6 Dựa vào phạm vi của hoạt động thương mại:

Theo tiêu thức này thì HQKD được phân ra làm hai loại, đó là: Hiệu quảhoạt động kinh doanh nội thương và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoạithương

Hiệu quả hoạt động kinh doanh nội thương là hiệu quả do hoạt động kinhdoanh trong nước mang lại

Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại thương là hiệu quả do hoạt độngkinh doanh quốc tế mang lại

Hoạt động ngoại thương lại được cấu thành bởi hai yếu tố là hoạt độngxuất khẩu và hoạt động nhập khẩu Do đó, HQKD ngoại thương là hiệu quả tổng

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 11

hợp của hai hiệu quả bộ phận là hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu vàhiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu Hoạt động kinh xuất khẩu là hiệu quả

do hoạt động xuất khẩu mang lại Còn HQKD nhập khẩu là hiệu quả do hoạtđộng nhập khẩu mang lại

Khi một quốc gia đạt được HQKD nội thương thì sự phát triển nền kinh tếcủa quốc gia đó sẽ được đảm bảo Điều đó tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫncho các nhà kinh doanh quốc tế tiến hành hợp tác kinh doanh với các doanhnghiệp trong nước Hoạt động kinh doanh nội thương đạt hiệu quả sẽ tạo ra môitrường thuận lợi để đạt được HQKD ngoại thương và ngược lại Còn ở cấpdoanh nghiệp, khi hoạt động kinh doanh trong nước đạt hiệu quả cao thì sẽ tạotiền đề để đạt được HQKD ngoại thương và ngược lại

2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao HQKD của doanh nghiệp.

Việc nâng cao HQKD luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi doanhnghiệp Đó là vấn đề bao trùm và xuyên suốt quá trình hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, đảm bảo hoạt động ở mỗi giai đoạn, mỗi quá trình kinh doanh củadoanh nghiệp đều đạt được hiệu quả cao nhất Nâng cao HQKD có ý nghĩakhông chỉ đối với doanh nghiệp, đối với người lao động mà còn với cả nền kinh

tế quốc dân nói chung

2.3.1 Đối với doanh nghiệp.

Việc nâng cao HQKD đồng thời với việc nâng cao trình độ sử dụng cácyếu tố sản xuất nói riêng, trình độ tổ chức và quản lý nói chung, từ đó giúpdoanh nghiệp đạt được mục tiêu đã đặt ra với chi phí thấp nhất, góp phần làmtăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Sự gia tăng lợi nhuận chính là cơ sở để doanhnghiệp có thể tồn tại và tiến hành tái sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô kinhdoanh và nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường

Hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu được nâng cao không chỉ giúpcho doanh nghiệp có thể tồn tại được trong nền kinh tế thị trường mà còn giúpcho doanh nghiệp có nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh để doanh nghiệp ngày

Trang 12

1 2

Luận văn tốt nghiệp

càng phát triển hơn

2.3.2 Đối với người lao động.

Như trên đã nói, việc nâng cao HQKD đảm bảo cho doanh nghiệp có thểtồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường Đó cũng chính là cơ sở đảmbảo cho người lao động có công ăn việc làm ổn định lâu dài, chất lượng laođộng được nâng cao, cải thiện điều kiện lao động, từ đó tạo cho người lao độnghăng say và có trách nhiệm hơn trong công việc của mình Điều đó lại có tácđộng ngược trở lại đến HQKD của doanh nghiệp, làm cho hiệu quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao hơn

2.3.3 Đối với nền kinh tế quốc dân.

HQKD của doanh nghiệp là một bộ phận của hiệu quả toàn bộ nền kinh tếquốc dân, do đó giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và hỗtrợ cho nhau Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vàohiệu quả nền kinh tế quốc dân và xã hội thông qua mức đóng góp ngân sách Nhànước tăng lên, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giúp cho nền kinh tếphát triển theo hướng tích cực,

3 Lý luận chung về HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp

3.1 Khái niệm HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp.

Hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiêp là một phạmtrù phản ánh chất lượng của hoạt động kinh doanh nhập khẩu trong phạm vidoanh nghiệp HQKD nhập khẩu là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa sự vậnđộng của kết quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu với chi phí tạo ra kết quảđó

Kết quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu là toàn bộ những thành quả

mà doanh nghiệp thu được sau một quá trình kinh doanh, như: Sản lượng, giá trịhàng hoá, doanh thu tiêu thụ hàng nhập khẩu,

Còn chi phí của hoạt động kinh doanh nhập khẩu là biểu hiện bằng tiềncủa tất cả các khoản chi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, như: Chi

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 13

phí tiền lương, thuê mặt bằng kinh doanh, chi phí bán hàng, chi phí giao dịch,

Do đó, hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp đạt được hiệuquả cao nhất khi kết quả đạt được là tối đa với chi phí bỏ ra là tối thiểu

3.2 Các chỉ tiêu đo lường HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp.

Để đánh giá một cách khoa học và chính xác HQKD của doanh nghiệp,đòi hỏi doanh nghiệp cần phải xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu phù hợp Nhưtrên đã nói, trong thực tế người ta phân loại HQKD theo nhiều tiêu thức khácnhau Mỗi cách tiếp cận sẽ có các chỉ tiêu HQKD khác nhau Tuy nhiên, người

ta thương xây dựng hệ thống chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉtiêu bộ phận Hệ thống các chỉ tiêu đó vừa phản ánh được HQKD chung củadoanh nghiệp, vừa phản ánh được sức sản xuất, suất hao phí cũng như sức sinhlợi của từng yếu tố phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

3.2.1 Chỉ tiêu HQKD nhập khẩu tổng hợp.

3.2.1.1 Chỉ tiêu HQKD nhập khẩu tổng hợp tuyệt đối

Trong thực tế, để xem xét đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, trướctiên người ta thường chú ý đến lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế

có tính tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận giúpcho doanh nghiệp có thể tồn tại trên thị trường và tái sản xuất mở rộng hoạtđộng kinh doanh Tối đa hoá lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng của mỗidoanh nghiệp Chỉ tiêu lợi nhuận của hoạt động kinh doanh nhập khẩu được tínhtoán như sau:

LNNK = DTNK - CPNK

Trong đó:

LNNK: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu

DTNK: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu

CPNK : Chi phí hoạt động kinh doanh nhập khẩu

Tuy nhiên, lợi nhuận mới chỉ phản ánh được lượng hiệu quả mà doanh

Trang 14

1 4

Luận văn tốt nghiệp

nghiệp thu được từ hoạt động kinh doanh, chứ chưa phản ánh được trình độ sửdụng các chi phí, các nguồn lực sản xuất để tạo ra lượng hiệu quả đó

3.2.1.2 Chỉ tiêu HQKD nhập khẩu tổng hợp tương đối

● Doanh lợi của vốn kinh doanh nhập khẩu (D VKD ).

Lợi nhuận từ hoạt động nhập khẩu

DVKD(%) = x 100%

Vốn kinh doanh nhập khẩu

Chỉ tiêu này thể hiện cứ một đơn vị vốn bỏ vào hoạt động kinh doanhnhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận từ hoạt động đó Dựa vàochỉ tiêu này doanh nghiệp có thể đánh giá được sức sinh lợi của mỗi đơn vị vốnkinh doanh Chỉ tiêu này được sử dụng kết hợp với các chỉ tiêu khác để doanhnghiệp có thể đưa ra quyết định có nên bỏ thêm vốn vào hoạt động kinh doanhnhập khẩu nữa hay không

● Doanh lợi theo chi phí kinh doanh nhập khẩu (D CP ).

Lợi nhuận từ hoạt động nhập khẩu

DCP(%) = x 100%

Tổng chi phí nhập khẩu

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị chi phí được bỏ vào hoạt động kinhdoanh nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận từ hoạt động đó.Dựa vào chỉ tiêu này có thể biết được trình độ sử dụng chi phí của doanh nghiệp

ở mức nào Việc tính toán chỉ tiêu này kết hợp so sánh với chỉ tiêu của các kỳkinh doanh trước sẽ cho biết doanh nghiệp nên tăng thêm hay giảm bớt chi phícho hoạt động kinh doanh nhập khẩu

● Doanh lợi của doanh thu bán hàng nhập khẩu (D DT ).

Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu

DDT(%) = x 100% Tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu

Chỉ tiêu này phản ánh trong một đơn vị doanh thu từ hoạt động kinhdoanh nhập khẩu có bao nhiêu đơn vị lợi nhuận Việc nghiên cứu chỉ tiêu này

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 15

cho biết khi doanh thu tăng lên hoặc giảm đi thì lợi nhuận sẽ thay đổi theo chiềuhướng nào để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao mức doanh lợi của doanhthu, từ đó nâng cao HQKD cho doanh nghiệp.

3.2.2 Chỉ tiêu HQKD nhập khẩu bộ phận.

3.2.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn

● Hiệu quả sử dụng vốn cố định nhập khẩu (H VCĐ ).

Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu

HVCĐ =

Vốn cố định đầu tư vào hoạt động kinh doanh nhập khẩuChỉ tiêu này phản ánh cứ một đơn vị vốn cố định bỏ vào hoạt động kinhdoanh nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận Chỉ tiêu này chobiết việc sử dụng vốn cố định trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanhnghiệp đã hợp lý và mang lại hiệu quả hay chưa

● Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu.

- Sức sinh lợi của vốn lưu động nhập khẩu (E VLĐ ).

Lợi nhuận từ hoạt động nhập khẩu

EVL Đ =

Vốn lưu động bình quân

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị vốn lưu động được đầu tư vào hoạtđộng kinh doanh nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận

- Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu (L VLĐ ).

Tổng doanh thu thuần từ hoạt động nhập khẩu

LVLĐ =

Vốn lưu động bình quânChỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị vốn lưu động đầu tư vào hoạt độngkinh doanh nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị doanh thu hoặc thể hiện

số vòng luân chuyển vốn lưu động trong một kỳ kinh doanh nhất định Nếu số

Trang 16

1 6

Luận văn tốt nghiệp

vòng quay càng nhiều thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tăng lên

● Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh nhập khẩu.

Để phản ánh hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn đầu tư vào hoạt động kinhdoanh nhập khẩu, người ta thường dùng chỉ tiêu số vòng quay của toàn bộ vốnkinh doanh nhập khẩu (LVKD)

Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu

LVKD =

Vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh nhập khẩuChỉ tiêu này phản ánh cứ một đơn vị vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanhnhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị doanh thu, thể hiện số vòng luânchuyển của vốn nhập khẩu

3.2.2.2 Hiệu quả sử dụng lao động nhập khẩu

● Năng suất lao động bình quân (W).

Doanh thu thuần từ hoạt động nhập khẩu

W =

Số lượng lao động bình quân của kỳ kinh doanh

Chỉ tiêu này cho biết cứ bình quân một người lao động tham gia vào hoạtđộng kinh doanh nhập khẩu sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu cho doanhnghiệp Chỉ tiêu này càng lớn thì HQKD của doanh nghiệp càng cao

● Mức sinh lợi của lao động bình quân (E LĐ ).

Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu

ELĐ =

Số lượng lao động bình quân tham gia vào hoạt động kinh doanh nhập khẩu

Chỉ tiêu này cho biết bình quân một người lao động tham gia vào hoạtđộng kinh doanh nhập khẩu sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị lợi nhuận cho doanhnghiệp

3.3 Các nhân tố tác động đến HQKD nhập khẩu của doanh nghiệp.

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tạo ra bởi nhiều nhân tố

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 17

khác nhau, cả các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Mỗimột nhân tố tác động đến HQKD theo một phương thức khác nhau Việc nghiêncứu các nhân tố tác động đến HQKD của doanh nghiệp tạo cơ sở nền tảng đểdoanh nghiệp có thể đưa ra các phương hướng, biện pháp tác động thích hợp vàocác nhân tố có thể, nhằm nâng cao được HQKD cho doanh nghiệp.

3.3.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.

Các văn bản pháp luật nếu rõ ràng, minh bạch, công bằng, phù hợp vớithực tiễn thì sẽ tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợicho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh, từ đó nâng cao đượcHQKD Ngược lại, nếu môi trường pháp lý không lành mạnh thì môi trườngkinh doanh sẽ bất ổn, trên thị trường sẽ xuất hiện hàng nhập lậu, hàng giả, hàngnhái, làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, khả năng cạnh tranh và làm giảmHQKD của các doanh nghiệp

Tuy nhiên, môi trường pháp lý lại là yếu tố khách quan mà doanh nghiệpkhông thể tác động làm thay đổi được, doanh nghiệp chỉ có thể tìm hiểu để nắm

rõ và tuân thủ Do đó, dù môi trường pháp lý có lành mạnh hay không thì cácdoanh nghiệp vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành một cách vô điều kiện

3.3.1.2 Môi trường kinh tế

Đây là nhân tố bên ngoài có tác động rất lớn đến HQKD của từng doanhnghiệp Hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế phức tạp và nhiều biến

Trang 18

1 8

Luận văn tốt nghiệp

động đòi hỏi các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhập khẩu phải luônnghiên cứu các yếu tố của môi trường kinh tế tác động đến hoạt động kinhdoanh của mình như: Các chính sách kinh tế, sự phát triển của nền sản xuấttrong nước và quốc tế, sự biến động của thị trường, sự biến động của tỷ giá hốiđoái, hệ thống tài chính ngân hàng,

● Các chính sách kinh tế.

Chính sách kinh tế thể hiện ở các chính sách đầu tư, chính sách phát triểnkinh tế, chính sách cơ cấu ngành, chính sách cơ cấu khu vực, chính sách thuế,chính sách xuất nhập khẩu, Các chính sách kinh tế vĩ mô này phản ánh sự ưutiên hoặc kìm hãm sự phát triển đối với từng ngành, từng vùng kinh tế nhất định,

từ đó tác động trực tiếp đến kết quả và HQKD của các doanh nghiệp hoạt độngtrong các ngành hoặc vùng đó

● Sự phát triển của nền sản xuất trong nước và quốc tế.

Nền sản xuất trong nước và quốc tế có tác động rất lớn đến hoạt độngkinh doanh nhập khẩu của các doanh nghiệp Sự phát triển của nền sản xuấttrong nước sẽ tạo ra được các sản phẩm thay thế mặt hàng nhập khẩu, từ đó tạo

ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với hàng hoá nhập từ nước ngoài Còn sự phát triểncủa nền sản xuất quốc tế sẽ tạo ra được các sản phẩm mới và hiện đại, mẫu mã

đa dạng, từ đó sẽ thúc đẩy hoạt động nhập khẩu trong nước

● Sự biến động của thị trường trong nước và quốc tế

Thị trường được nói đến ở đây là hai loại thị trường chủ yếu tác động đếnhoạt động kinh doanh nhập khẩu, đó là thị trường sản phẩm và thị trườngnguyên liệu đầu vào

Sự biến động của thị trường sản phẩm cho thấy sự biến động trong nhucầu sản phẩm của người tiêu dùng Khi nhu cầu của người tiêu dùng trong nước

về một loại sản phẩm nào đó tăng lên thì nhu cầu nhập khẩu mặt hàng đó củacác doanh nghiệp cũng tăng lên theo và ngược lại Còn thị trường quốc tế tác

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 19

động đến khả năng cung ứng, giá cả, mẫu mã, sự đa dạng, của hàng hoá nhậpkhẩu Sự biến động của thị trường quốc tế có thể tạo điều kiện thuận lợi cũng cóthể gây khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhập khẩu

Đối với thị trường nguyên liệu đầu vào thì sự biến động của thị trườngnguyên liệu phụ thuộc vào sự biến động của thị trường sản phẩm Khi nhu cầu

về một loại sản phẩm nào đó tăng lên thì nhu cầu về nguyên liệu đầu vào của sảnphẩm đó cũng tăng lên theo và ngược lại Tuy nhiên, sự biến động của thịtrường nguyên liệu cũng có tác động ngược đến thị trường sản phẩm Khinguyên liệu đầu vào của một loại sản phẩm nào đó mà khan hiếm thì sẽ làm chothị trường sản phẩm biến động về giá cả, về lượng hàng cung ứng, về chấtlượng, Nếu trong nước sẵn có một loại nguyên liệu nào đó thì nhu cầu nhậpkhẩu nguyên liệu đó sẽ giảm, còn nếu trong nước khan hiếm hoặc không cónguyên liệu thì nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đó sẽ tăng lên

Do vậy, khi thị trường, cả thị trường sản phẩm và thị trường nguyên liệu

mà ổn định thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh nhập khẩucủa doanh nghiệp Ngược lại, khi một trong hai thị trường đó thường xuyên biếnđộng thì sẽ gây nhiều khó khăn đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Khi đó để có thể đứng vững trên thị trường thì đòi hỏi các nhà quản trị phải luôntheo dõi, phân tích xu hướng biến động của thị trường để đưa ra các chiến lược,phương án nhập khẩu hợp lý Như vậy, sự biến động của thị trường có tác độngtrực tiếp đến HQKD của doanh nghiệp

● Sự biến động của tỷ giá hối đoái.

Bất kể doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tếđều cần phải thường xuyên theo dõi sự biến động của tỷ giá hối đoái Sự biếnđộng của tỷ giá hối đoái có thể mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, cũng

có thể đưa doanh nghiệp tới chỗ bị phá sản

Khi tỷ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ bị giảm giá hơn so với động ngoại tệ,làm cho hàng hoá nhập khẩu trở nên đắt hơn vì người nhập khẩu phải bỏ ra

Trang 20

2 0

Luận văn tốt nghiệp

lượng nội tệ lớn hơn để mua cùng một lượng hàng hoá Khi đó các nhà nhậpkhẩu thường tăng giá bán hàng nhập khẩu trong nước để bù lại chi phí nhậpkhẩu tăng thêm, làm cho nhu cầu về hàng nhập khẩu của người tiêu dùng giảmxuống, và họ chuyển sang sử dụng các mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu Điềunày gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiêu thụ hàng nhập khẩu, từ đólàm ảnh hưởng đến HQKD của doanh nghiệp

Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm xuống, đồng nội tệ tăng giá so vớiđồng ngoại tệ, làm cho hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn trước đây, làm kích thíchnhu cầu hàng nhập khẩu của người tiêu dùng và khuyến khích hoạt động nhậpkhẩu của các doanh nghiệp Khi đó các doanh nghiệp chỉ cần bỏ ra một lượngnội tệ ít hơn để mua được cùng một lượng hàng hoá như trước, làm cho chi phínhập khẩu của doanh nghiệp giảm xuống, HQKD của doanh nghiệp tăng lên

Khi doanh nghiệp dự đoán được xu hướng biến động của tỷ giá hối đoáithì doanh nghiệp đó sẽ có kế hoạch nhập khẩu phù hợp với tình hình thực tế,hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thuận lợi, từ đó mang lại thành côngcho doanh nghiệp Ngược lại, nếu không dự đoán đúng sự biến động của tỷ giáhối đoái thì doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến thất bại trongkinh doanh

● Hệ thống tài chính ngân hàng.

Hệ thống tài chính ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý,cung cấp vốn và thanh toán cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh quốc tế.Đặc biệt trong hoạt động nhập khẩu thì nhu cầu về vốn là rất lớn, và trong thực

tế phần lớn các doanh nghiệp đều huy động vốn bằng vốn vay của ngân hàng.Khi hệ thống tài chính ngân hàng phát triển mạnh thì khả năng đáp ứng nhu cầu

về vốn cho các doanh nghiệp sẽ cao hơn, nghiệp vụ thanh toán thực hiện sẽnhanh chóng và dễ dàng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanhnhập khẩu của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao được uy tín vớibạn hàng, tiết kiệm được thời gian và nắm bắt thời cơ Từ đó làm tăng HQKD

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 21

của doanh nghiệp.

3.3.1.3 Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng

Các yếu tố này bao gồm hệ thống đường giao thông, hệ thống thông tinliên lạc, điện, nước, cũng như sự phát triển của giáo dục và đào tạo, đều cótác động mạnh mẽ đến HQKD của doanh nghiệp

Doanh nghiệp nào mà hoạt động kinh doanh ở khu vực có hệ thống giaothông, hệ thống thông tin thuận lợi, điện, nước đầy đủ sẽ, đông dân cư, trình độdân trí cao, thì sẽ tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp trong việc chuyên chở,nghiên cứu thị trường, tiêu thụ hàng hoá, và do đó làm giảm chi phí và nângcao được HQKD của mình Ngược lại, ở những vùng có cơ sở hạ tầng yếu kém

sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc vận chuyển, mua bán hàng hoá, làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả không cao

Bên cạnh đó trình độ dân trí cũng có tác động rất lớn đến HQKD củadoanh nghiệp thông qua chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp Khidoanh nghiệp hoạt động ở khu vực có trình độ dân trí cao thì doanh nghiệp cóthể dễ dàng thu hút được đội ngũ lao động có tay nghề hơn so với các khu vựckhác Mà nguồn nhân lực lại là một nhân tố bên trong có ảnh hưởng trực tiếpđến HQKD của doanh nghiệp

3.3.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.

3.3.2.1 Nguồn nhân lực

Con người là nhân tố cơ bản quyết định sự thành bại của một doanhnghiệp Con người là chủ thể sáng tạo sử dụng các nguồn lực khác để đạt đượcmục tiêu của doanh nghiệp Người lao động nếu có trình độ và kỹ năng, thànhthạo các nghiệp vụ xuất nhập khẩu như khai báo hải quan, mở L/C, am hiểu vềlĩnh vực chuyên môn, khéo léo trong quan hệ giao tiếp với khách hàng thì sẽgiúp doanh nghiệp tiết kiệm được rất nhiều chi phí: Về thời gian, về tiền bạc, vềsức lao động, Từ đó làm tăng HQKD của doanh nghiệp

Trang 22

2 2

Luận văn tốt nghiệp

3.3.2.2 Nguồn vốn

Bất kể hoạt động kinh doanh nào cũng đều cần phải có một lượng vốnnhất định Nguồn vốn là yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh củamỗi doanh nghiệp Trong hoạt động nhập khẩu, để mua được hàng thì doanhnghiệp phải trả tiền, nếu khi đó lượng vốn của doanh nghiệp không đáp ứngđược thì doanh nghiệp sẽ bị bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Điều đó sẽ gây ảnh hưởngxấu đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, mỗi doanh nghiệp đều cầnluôn phải dự trữ một lượng vốn nhất định và thực hiện huy động vốn bằng cáchình thức khác nhau một cách nhanh chóng khi cần thiết

3.3.2.3 Nhân tố quản trị doanh nghiệp

Đây là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp nói chung và hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng Đốivới hoạt động nhập khẩu thì yếu tố quản trị doanh nghiệp thể hiện ở phươnghướng, chiến lược, chính sách nhập khẩu; cách sắp xếp, quản lý, tổ chức thựchiện hoạt động nhập khẩu Nếu chính sách nhập khẩu mà đúng đắn thì hoạt độngnhập khẩu sẽ mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu chínhsách nhập khẩu mà không phù hợp thì sẽ gây ra những tổn thất làm tăng chi phícho doanh nghiệp Ví dụ như khi doanh nghiệp nhập khẩu lượng hàng lớn quámức nhu cầu của thị trường thì sẽ dẫn đến không tiêu thụ hết, gây ứ đọng vốn,

Do đó, để có thể đưa ra chính sách nhập khẩu hợp lý đòi hỏi nhà quản trị khôngchỉ tinh thông kiến thức về quản trị mà còn phải luôn nhạy bén nắm bắt đượcnhu cầu và xu hướng biến động của thị trường để sẵn sàng ra quyết định khi thời

cơ đến Nhân tố quản trị doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp có hướng đi,chiến lược đúng đắn, từ đó đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cóhiệu quả, để doanh nghiệp có thể đứng vững được trong nền kinh tế thị trường.3.3.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật

Bên cạnh những nhân tố kể trên thì cơ sở vật chất cũng là một nhân tố cótác động không nhỏ đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ở

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 23

đây, cơ sở vật chất là hệ thống kho bãi, máy móc thiết bị, phương tiện vậnchuyển, Cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò đẩy nhanh tiến độ thực hiện hoạtđộng nhập khẩu Nếu doanh nghiệp tự trang bị được cơ sở vật chất thì doanhnghiệp có thể đảm bảo được tiến trình hoạt động và không phải bỏ ra chi phítrung gian Ngược lại, có nhiều doanh nghiệp không có điều kiện để trang bị cơ

sở vật chất thì họ sẽ phải đi thuê, không những họ phải mất chi phí đi thuê mànhiều khi họ còn không chủ động được trong hoạt động kinh doanh, và dễ bịchậm trễ dẫn đến mất cơ hội kinh doanh

Việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật một cách hợp lý, đồng bộ sẽ giúpdoanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh một cách thông suốt, từ đó gópphần nâng cao HQKD cho doanh nghiệp

3.3.2.5 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin của doanh nghiệp

Ngày nay, thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinhdoanh Thông tin là cở sở để các nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh

Do đó, doanh nghiệp nào càng có được nhiều thông tin chính xác, kịp thời thìdoanh nghiệp đó càng có các quyết định kinh doanh đúng đắn và có khả năngchiến thắng trong cạnh tranh Một doanh nghiệp có đầy đủ các thông tin về sựbiến động của thị trường, về đối thủ cạnh tranh, về bạn hàng, về nguồn cungứng, về cung cầu hàng nhập khẩu, giá cả hàng nhập khẩu, thì doanh nghiệp đó

sẽ có thể lập được kế hoạch, phương án nhập khẩu có hiệu quả

Do vậy, các doanh nghiệp cần tổ chức hệ thống thông tin nội bộ một cáchkhoa học và chính xác để vừa đáp ứng được nhu cầu thông tin kinh doanh lạivừa đảm bảo giảm thiểu chi phí trong quá trinh thu thập, xử lý, lưu trữ và sửdụng thông tin, nhằm nâng cao HQKD cho doanh nghiệp

4 Sự cần thiết phải nâng cao HQKD nhập khẩu ở các Công ty dược phẩm.

Việc nâng cao HQKD nói chung và HQKD nhập khẩu nói riêng là điềukiện tiên quyết đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển được trongnền kinh tế thị trường như hiện nay Bởi vì, trong môi trường kinh doanh luôn

Trang 24

2 4

Luận văn tốt nghiệp

có các yếu tố cả chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp mà không phải yếu tố nào doanh nghiệp cũng có thể kiểm soátđược, do đó nếu doanh nghiệp không tìm biện pháp để nâng cao HQKD củamình thì doanh nghiệp đó sẽ bị tụt hậu và khó có thể cạnh tranh được trên thịtrường, đặc biệt là đối với các Công ty dược phẩm ở nước ta hiện nay

4.1 Sự khan hiếm nguồn lực sản xuất xã hội đòi hỏi phải nâng cao HQKD nhập khẩu của công ty.

Trong sản xuất kinh doanh, các công ty, các doanh nghiệp đều mongmuốn làm sao để tối đa hoá được lợi nhuận Tuy nhiên, mọi nguồn lực được đưavào sản xuất kinh doanh đều có giới hạn Do đó, nếu sử dụng nguồn lực mộtcách lãng phí thì các nguồn lực sẽ sớm bị cạn kiệt, không đáp ứng được nhu cầusản xuất kinh doanh trong khi đó nhu cầu tiêu dùng lại ngày càng tăng lên Vìvậy, các doanh nghiệp cần phải coi việc nâng cao HQKD là vấn đề quan tâmhàng đầu của doanh nghiệp Nâng cao HQKD không có nghĩa là sử dụng nguồnlực một cách tiết kiệm, việc cần làm thì không làm, mà doanh nghiệp phải cânnhắc xem sử dụng nguồn lực như thế nào để mang lại kết quả cao nhất với chiphí bỏ ra là thấp nhất Nâng cao HQKD chính là nâng cao khả năng sử dụng cácnguồn lực sản xuất có hạn để mang lại kết quả tối ưu

Ở nước ta hiện nay, do nền sản xuất dược phẩm còn nhiều hạn chế nênphần lớn (khoảng 60%) thuốc chữa bệnh phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnhcủa người dân trong nước đều phải nhập khẩu từ nước ngoài Bên cạnh đó,nguồn nguyên liệu để sản xuất thuốc ở nước ta còn thiếu, chưa đáp ứng đượcnhu cầu sản xuất trong nước, nên việc nhập khẩu nguyên liệu để phục vụ sảnxuất là tất yếu Điều đó cho thấy tầm quan trọng của hoạt động nhập khẩu dượcphẩm ở nước ta hiện nay Vì vậy, việc nâng cao HQKD nhập khẩu dược phẩmkhông chỉ đáp ứng được tốt hơn nhu cầu của người dân mà còn tạo điều kiệnthuận lợi để giúp ngành dược của nước ta ngày càng phát triển hơn

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 25

Đối với hoạt động kinh doanh nhập khẩu dược phẩm thì nguồn lực sửdụng chính là vốn, thời gian và sức lao động Nếu sử dụng không hợp lý cácnguồn lực này sẽ làm cho chi phí nhập khẩu tăng lên, làm ảnh hưởng đến kếtquả kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, các nhà nhập khẩu phải luôn tìm cácbiện pháp nhằm nâng cao HQKD nhập khẩu cho doanh nghiệp phù hợp với sựbiến động của môi trường kinh doanh.

4.2 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đòi hỏi phải nâng cao HQKD nhập khẩu của công ty.

Đây chính là điều kiện thuận lợi để các công ty, các doanh nghiệp nângcao hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả hoạt động kinh doanhnhập khẩu dược phẩm nói riêng Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nóichung và của công nghệ thông tin nói riêng cho phép các Công ty dược phẩm sửdụng các nguồn lực sản xuất một cách hợp lý và tạo điều kiện thuận lợi chodoanh nghiệp trong việc tổ chức, quản lý việc sử dụng các nguồn lực đó Sự pháttriển của khoa học kỹ thuật giúp cho các Công ty dược phẩm tìm ra được nhiềuphương pháp khác nhau để tiến hành hoạt động kinh doanh và hoàn thiện côngtác quản trị, nâng cao được chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Hiện nay, dưới sự phát triển của công nghệ thông tin, các nghiệp vụ củahoạt động nhập khẩu dược phẩm có thể được thực hiện hoàn toàn trên máy móc,như giao dịch với khách hàng, mở L/C, kê khai hải quan,… đang dần được máytính hoá Điều này giúp cho các Công ty dược phẩm tiết kiệm được rất nhiều chiphí như chi phí đi lại, chi phí lưu trữ văn thư,… từ đó góp phần nâng cao đượcHQKD nhập khẩu của Công ty

4.3 Sự cạnh tranh gay gắt của thị trường dược phẩm ở nước ta đòi hỏi các Công ty dược phẩm phải nâng cao HQKD nhập khẩu.

Trước đây, khi nước ta còn trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung thì cácquyết định cơ bản về sản xuất kinh doanh như: Sản xuất cái gì? sản xuất như thếnào? Sản xuất cho ai? đều được các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện theo lệnh

Trang 26

2 6

Luận văn tốt nghiệp

của cơ quan cấp trên Do vậy, khi đó mục tiêu của các doanh nghiệp chỉ là hoànthành được kế hoạch mà Nhà nước giao, cho dù chi phí có như thế nào vì chi phí

đó được Nhà nước cấp, nên các doanh nghiệp không có động lực để nâng caoHQKD

Tuy nhiên, hiện nay, trong cơ chế thị trường, các công ty nói chung vàCông ty dược phẩm nói riêng phải tự đưa ra các quyết định kinh doanh củamình Quyết định đúng hay sai sẽ tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh củaCông ty Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, tham gia vào hoạt động kinhdoanh nhập khẩu dược phẩm ở nước ta không chỉ có các doanh nghiệp Nhànước mà còn có cả các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài, Với dân số trên 80 triệu dân, nước ta được coi là thị trường dược phẩmtiềm năng, do đó, trong một số năm gần đây rất nhiều các công ty dược phẩmnước ngoài đã và đang tiếp tục đầu tư vào Việt Nam làm cho sự cạnh tranh trênthị trường này ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt, nó tuân theo quy luật đàothải, kẻ mạnh thì tồn tại còn kẻ yếu sẽ bị loại ra khỏi thị trường Công ty dượcphẩm nào có khả năng cạnh tranh cao nhờ vào uy tín, mẫu mã, chất lượng sảnphẩm của mình, thì Công ty đó sẽ đứng vững và phát triển được trên thịtrường, và ngược lại, các công ty có khả năng cạnh tranh yếu hơn sẽ bị thất bại,muốn tồn tại được thì công ty đó phải chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác

Do đó, để có thể tồn tại và đứng vững được trong môi trường cạnh tranh khốcliệt như hiện nay thì việc nâng cao HQKD nói chung và HQKD NK nói riêng làđòi hỏi tất yếu khách quan đối với các Công ty dược phẩm ở nước ta

Như vậy, chương I đã nêu lên được một cách khái quát những vấn đề cơ bản về HQKD và HQKD nhập khẩu, xây dựng được các chỉ tiêu đo lường HQKD nhập khẩu, làm cơ sở khoa học để đánh giá thực trạng HQKD của các doanh nghiệp nói chung và Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội nói riêng ở chương II dưới đây.

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 27

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM

HÀ NỘI

1 Một vài nét về Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội.

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.

1.1.1 Quá trình hình thành của Công ty.

Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội - Hanoi Pharmaceutical Joint StockCompany có trụ sở chính tại số 170 Đường La Thành, Phường Ô Chợ Dừa,Quận Đống Đa, Hà Nội được thành lập vào ngày 01/01/2003 theo quyết định số1524/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội trên cơ sở ban đầu là: Xí nghiệpDược phẩm Hà Nội, nay chuyển sang hình thức cổ phần hoá và lấy tên là Công

ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội Công ty chịu sự quản lý trực tiếp của Uỷ BanNhân Dân Thành phố Hà Nội và cơ quan quản lý chuyên môn là Sở Y tế HàNội Công ty được thành lập với số vốn điều lệ là 7,9 tỷ đồng, với 206 lao độngtrong đó công nhân sản xuất là 126 người, cán bộ quản lý là 80 người

Nhiệm vụ chính của Công ty là sản xuất kinh doanh các mặt hàng dược(Tân dược và Đông dược) Ngoài ra, Công ty CPDPHN còn tiến hành hoạt độngdịch vụ nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị bạn để thu phí uỷ thác; nhập khẩu vàkinh doanh sữa,

1.1.2 Quá trình phát triển của Công ty.

Mặc dù trên danh nghĩa Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội mới đượcthành lập năm 2003, nhưng lịch sử phát triển của Công ty đã có từ rất lâu - năm

1965 - khi hình thành xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội trong thời kỳ cơ chế quanliêu bao cấp Công ty đã trải qua nhiều thời kỳ với nhiều sự kiện khác nhau, tuynhiên có thể chia quá trình phát triển của Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nộithành hai giai đoạn chính là: Giai đoạn trước cổ phần hoá (Từ năm 1965 đến

Trang 28

2 8

Luận văn tốt nghiệp

năm 2002) và giai đoạn sau cổ phần hoá (Từ năm 2003 đến nay)

1.1.2.1 Giai đoạn trước cổ phần hoá (1965-2002)

Xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội trước kia là doanh nghiệp Nhà nước trựcthuộc Sở Y tế Hà Nội, thành lập năm 1965 với mục đích nhằm phục vụ nhu cầuchăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh cho con người

Năm 1983, theo quyết định số 143 của UBND thành phố Hà Nội ra ngày17/01/1983 thành lập nên xí nghiệp Liên hợp Dược Hà Nội trên cơ sở kết hợpgiữa Xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội với Công ty Dược phẩm Hà Nội

Năm 1988, Xí nghiệp Liên hợp Dược Hà Nội tiến hành phân cấp quản lýcho các đơn vị trực thuộc trong khối xí nghiệp sản xuất chia làm 2 xí nghiệp là:

Xí nghiệp Dược phẩm Thịnh Hào và Xí nghiệp Dược phẩm Quảng An

Tháng 01/1993 thực hiện quyết định số 2914 QĐ/UB ngày 20/11/1992của UBND thành phố Hà Nội về việc tổ chức sắp xếp lại các đơn vị sản xuấtkinh doanh Xí nghiệp Liên hợp Dược Hà Nội được tách ra làm 3 doanh nghiệp:

Xí nghiệp kính mắt, Công ty Dược phẩm thiết bị y tế Hà Nội, Xí nghiệp Dượcphẩm Hà Nội Trong đó, xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội được tổ chức lại dựa trên

cơ sở kết hợp 2 xí nghiệp sản xuất cũ là xí nghiệp Dược phẩm Thịnh Hào và xínghiệp Dược phẩm Quảng An

Xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội được chính thức thành lập theo quyết định

số 784/QĐ-UB ngày 22/02/1993 của UBND thành phố Hà Nội

1.1.2.2 Giai đoạn sau cổ phần hoá (2003 đến nay)

Trên cơ sở đề nghị của Sở Y tế Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội đã raquyết định cho phép xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội được cổ phần hoá, trong đóngười lao động giữ 60% cổ phần và Nhà nước giữ 40% cổ phần Và từ ngày01/01/2003 Xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội được đổi tên thành Công ty Cổ phầnDược phẩm Hà Nội Từ khi cổ phần hoá công ty vẫn tiếp tục phát triển sản xuất

và mở rộng chức năng kinh doanh dược phẩm đạt kết quả khá cao Doanh số sảnxuất và kinh doanh của Công ty năm 2004 đạt hơn 30 tỷ đồng Hiện nay, Công

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 29

ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội đang triển khai xây dựng một xí nghiệp sản xuấtthuốc đạt tiêu chuẩn GMP tại Quang Minh, Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Dự án nàyđược dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2006.

1.2 Mô hình tổ chức bộ máy quản trị.

Bộ máy quản lý của Công ty CPDPHN được tổ chức theo mô hình trựctuyến - chức năng do Đại hội đồng cổ đông đứng đầu Tiếp đến là Hội đồngquản trị (Xem hình 2.1 trang bên) Sau đây là chức năng và nhiệm vụ cơ bảncủa một sốcác chức danh và các bộ phận chính trong bộ máy quản trị:

Giám đốc:

Là người trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vềmọi mặt hoạt động của Công ty do HĐQT tuyển chọn, bổ nhiệm, và miễnnhiệm Nhiệm vụ chính của giám đốc là đưa ra quyết định và tổ chức thực hiệncác quyết định liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày củaCông ty

Phó giám đốc:

Là người giúp giám đốc trong công việc điều hành của Công ty, được uỷquyền trực tiếp Nhiệm vụ và chức năng của Phó Giám đốc là điều hành việcthực hiện các kế hoạch về sản xuất và kế hoạch phục vụ cho việc sản xuất củaCông ty

Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính:

Phụ trách toàn bộ các vấn đề liên quan đến Tổ chức – Hành chính như:Quản lý nguồn nhân lực, Phụ trách công tác tuyển dụng, công tác đào tạo

Trưởng phòng Kế toán - Tài vụ:

Phụ trách công tác kế toán tài chính cho Công ty Là người có quyềnhành và trách nhiệm cao nhất phòng Kế toán Kế toán trưởng tổ chức theo dõigiám sát công việc của các kế toán viên, lập sổ tổng hợp, báo cáo kế toánxácđịnh kết quả kinh doanh của Công ty, tham mưu cho Giám đốc về các vấn đềtài chính, và giải trình các báo cáo kế toán với các cơ quan quản lý cấp trên

Trang 30

Tổ trưởng 1

Trưởng ca 1 Trưởng ca 2

ca

Tổ trưởng 2 Tổ trưởng 1 Tổ trưởng 2

Luận văn tốt nghiệp

-TP Kinh doanh

Quản đốc PX Đông dược Quản đốc PX mắt ống

Trang 31

Trưởng Phòng Kinh doanh:

Phụ trách toàn bộ các vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuấtkinh doanh như: mua nguyên liệu, phụ liệu; phân phối hàng hoá; nghiên cứu thịtrường, chủ yếu trên địa bàn trong nước

Trưởng phòng Điều độ sản xuất và xuất nhập khẩu:

Phụ trách các vấn đề liên quan đến việc điều phối và đôn đốc hoạt độngsản xuất cho đúng tiến độ đồng thời đảm bảo về chất lượng; và các vấn đề vềhoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

Phòng Tổ chức - Hành chính:

Phòng Tổ chức - Hành chính phụ trách các vấn đề về: Tổ chức lao động, tiền lương, thi đua khen thưởng, quản trị, hành chính, văn thư lưu trữ, bảo mật,

lễ tân, khánh tiết, y tế dự phòng, lái xe, sửa chữa nhỏ, vệ sinh môi trường, bảo

hộ lao động

Phòng Điều độ sản xuất và Xuất nhập khẩu:

Phòng có nhiệm vụ và chức năng là tổ chức xuất nhập khẩu nguyên liệu,phụ liệu, bao bì, thuốc thành phẩm, máy móc, thiết bị y tế, về để phục vụ chohoạt động sản xuất và kinh doanh của Công ty

Phòng Kinh doanh:

Phòng phụ trách các vấn đề liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm thuốc doCông ty sản xuất ra trên thị trường nội địa: Nghiên cứu thị trường; tìm kiếmkhách hàng; quản lý hoạt động của các quầy hàng, đại lý, chi nhánh theo quyđịnh, quy chế của Công ty,

Phòng Kế toán - Tài vụ:

Chức năng và nhiệm vụ chính của phòng là làm tham mưu cho Giám đốc

và Phó giám đốc về vấn đề tài chính của Công ty

Phòng Kỹ thuật:

Trang 32

Luận văn tốt nghiệp

Phòng có chức năng và nhiệm vụ làm tham mưu cho Ban giám đốc vàgiám sát về toàn bộ hoạt động kỹ thuật của Công ty dưới sự chỉ đạo của Bangiám đốc mà trực tiếp là Phó giám đốc kỹ thuật

Phòng Nghiên cứu:

Tổ chức nghiên cứu nâng cấp tiêu chuẩn của Công ty; hướng dẫn, đào tạo

kiểm nghiệm viên phân xưởng, theo dõi độ ổn định của thuốc,

Phòng Kiểm nghiệm:

Kiểm tra những thành phẩm, bán thành phẩm và nguyên liệu xem đã đạtcác yêu cầu về kỹ thuật để nhập kho hay chưa nhằm đảm bảo chất lượng hànghoá của Công ty theo tiêu chuẩn áp dụng Tổ chức kiểm nghiệm nhằm đảm bảosản xuất kịp thời

Ban cơ điện:

Tham mưu cho Giám đốc về công tác chọn lựa máy móc thiết bị phục vụsản xuất của Công ty khi đầu tư mới; về công tác bảo dưỡng, trung đại tu máymóc thiết bị và lập kế hoạch bảo dưỡng; về việc bố trí, lắp đặt, đào tạo côngnhân vận hành, chế độ bảo dưỡng định kỳ, quy trình vận hành máy móc thiết bị,điện, nước, hơi đảm bảo an toàn

Phân xưởng sản xuất:

Tổ chức sản xuất, hoàn thành kế hoạch theo tiến độ của Công ty; Kèm cặpbồi dưỡng tay nghề cho công nhân đảm bảo mỗi công nhân thành thạo một việc,biết nhiều việc; Tổ chức phong trào thi đua nhân rộng điển hình tiên tiến thựchiện tốt nội quy quy chế của Công ty, pháp luật của Nhà nước, thực hiện phongtrào tiết kiệm chống lãng phí

1.3 Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty.

Khi nói đến Công ty Dược phẩm thì mọi người thường nghĩ rằng hoạtđộng của Công ty đó chỉ đơn thuần là sản xuất thuốc và bán sản phẩm ra thịtrường Thực tế lại không phải vậy, hầu hết các Công ty Dược phẩm ngoài sản

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 33

xuất thuốc, họ còn có các hoạt động kinh doanh hỗ trợ khác Công ty CPDPHNcũng không nằm ngoài số đó Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty CPDPHNgồm có:

- Sản xuất kinh doanh thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, nâng cao sức khoẻ cho

người, sản xuất mỹ phẩm

- Xuất khẩu dược liệu, tinh dầu, dược phẩm, nông lâm sản

- Nhập khẩu nguyên liệu, phụ liệu, bao bì, thuốc thành phẩm, thuốc thực phẩm,

mỹ phẩm, trang thiết bị y tế phục vụ cho hoạt động sản xuất và kinh doanh

- Cho thuê văn phòng làm việc và kho chứa hàng hoá, nguyên liệu, bao bì,thành phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế

2 Đặc điểm của kinh doanh dược phẩm.

2.1 Dược phẩm là một loại hàng hoá đặc biệt, có tính đặc thù cao, liên quan đến sức khoẻ và tính mạng của con người.

Xét về cơ bản thì dược phẩm là một loại hàng hoá, nên nó chịu sự điềutiết của các quy luật kinh tế như: Quy luật cung cầu, quy luật giá cả, quy luậtcạnh tranh, Tuy nhiên, dược phẩm lại là một loại hàng hoá đặc biệt, có liênquan đến sức khoẻ và tính mạng con người Do vậy, khi tham gia kinh doanhdược phẩm, mặc dù mục đích của các doanh nghiệp vẫn là lợi nhuận, song mụcđích đó thường được đặt sau mục đích phục vụ nhân dân Bởi nếu chỉ vì lợinhuận thì có thể các doanh nghiệp sẽ bất chấp những quy định của Nhà nước đểsản xuất thuốc không đạt chất lượng, hoặc đưa ra thị trường những loại thuốcquá hạn sử dụng Nếu điều đó xảy ra thì sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng đối vớisức khoẻ của người tiêu dùng, thậm chí có thể sẽ cướp đi sinh mạng con người.Nếu vậy doanh nghiệp đó sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và xã hội vềhậu quả đó Vì vậy mà các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh dược phẩm cầnphải đặc biệt coi trọng chất lượng, đặt chất lượng lên sự quan tâm hàng đầu

2.2 Sức cầu về dược phẩm không được xác định bởi người tiêu dùng mà ở bác sĩ kê đơn.

Đối với các loại hàng hoá thông thường thì sức cầu về một mặt hàng nào

Trang 34

Luận văn tốt nghiệp

đó chính là lượng hàng mà người mua sẵn sàng mua ở mỗi mức giá Ở các mứcgiá khác nhau thì lượng hàng sẵn sàng được người tiêu dùng mua là khác nhau.Tuy nhiên, như trên đã nói, dược phẩm là một loại hàng hoá đặc biệt, có tính đặcthù cao, nên việc sử dụng loại thuốc nào, liều lượng bao nhiêu thì lại không phải

do người tiêu dùng quyết định mà điều đó được quyết định bởi các thầy thuốc,các bác sỹ kê đơn thuốc, còn người bệnh thì cần phải tuân thủ theo đơn thuốcmột cách nghiêm ngặt Ví dụ như cùng một loại thuốc dòng Peniciline, nhưngbác sỹ sẽ là người quyết định người bệnh sẽ mua Augmentin của GSK hayAmpiciline của Sapharco Hơn nữa, về mặt tâm lý thì khi có bệnh, hầu hết mọingười đều mong muốn nhanh chóng khỏi bệnh nên khi đó họ thường sẵn sàngmua thuốc được kê trong đơn thuốc để chữa bệnh, dù cho giá thuốc có cao baonhiêu Do vậy, giá cả thường không có ảnh hưởng nhiều lắm đến sức mua dượcphẩm của người tiêu dùng

2.3 Doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm chịu sự quản lý chặt chẽ của Bộ Y

tế, cụ thể là Cục Quản lý dược.

Do dược phẩm có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và tính mạng conngười nên Nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh mặt hàng này rất chặt chẽ.Dược phẩm là mặt hàng kinh doanh có điều kiện Để được sản xuất và kinhdoanh dược phẩm đòi hỏi các doanh nghiệp phải được cơ quan Nhà nước cấpgiấy phép sản xuất kinh doanh dược phẩm Đối với hoạt động nhập khẩu, thì vớimỗi chuyến hàng nhập khẩu, doanh nghiệp đều phải làm đơn hàng lên Bộ Y tế(cụ thể là Cục Quản lý Dược), chỉ khi được Bộ Y tế phê duyệt đơn hàng thìdoanh nghiệp mới được phép nhập lô hàng đó Bên cạnh đó, thuốc nhập khẩuphải đảm bảo chất lượng theo quy định tại chỉ thị số 03/1998/CT-BYT ngày17/2/1998 của Bộ Trưởng Bộ Y tế và Quy chế Quản lý chất lượng thuốc banhành kèm theo Quyết định của Bộ Trưởng Bộ Y tế số 2412/1998/QĐ-BYT ngày15/9/1998 Khi làm thủ tục thông quan, doanh nghiệp phải xuất trình Hải quancửa khẩu phiếu kiểm nghiệm gốc của nhà sản xuất, chỉ khi các thông số trênphiếu kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn quy định thì hàng hoá mới được thông quan.Ngoài ra, các loại thuốc muốn được lưu hành trên thị trường thì phải có số đăng

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 35

ký của Cục Quản lý Dược, nếu thuốc nào không có số đăng ký thì sẽ khôngđược gia nhập thị trường.

3 Thực trạng kinh doanh nhập khẩu của Công ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội từ năm 2001 đến nay.

Hoạt động kinh doanh nhập khẩu dược phẩm có vai trò rất quan trọngtrong nền kinh tế nói chung và đối với ngành Dược nói riêng Nó đảm bảo việccung ứng một cách đầy đủ và kịp thời lượng thuốc cho nhu cầu của người dân,trong khi nền sản xuất dược phẩm trong nước chưa đáp ứng được Đối với Công

ty Cổ phần Dược phẩm Hà Nội, hoạt động kinh doanh nhập khẩu có vị trí hếtsức quan trọng Nó giúp cho doanh nghiệp gia tăng được lợi nhuận, tạo nguồnvốn cho hoạt động tái sản xuất trong nước, mở rộng được quy mô kinh doanh,

Từ đó, vị thế của Công ty sẽ ngày càng được khẳng định trên thương trường Để

có thể đánh giá rõ hơn về hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công tyCPDPHN, ta sẽ đi sâu tìm hiểu về thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩucủa Công ty trong những năm gần đây

3.1 Quy mô nhập khẩu của Công ty.

Để tiến hành hoạt động kinh doanh nhập khẩu, Công ty CPDPHN thựchiện nhập khẩu hai loại mặt hàng đó là: Nguyên liệu hoá chất và thuốc thànhphẩm Dựa vào bảng 2.1 và hình vẽ 2.2, ta có thể thấy kim ngạch nhập khẩu củaCông ty tăng dần từ năm 2001 đến năm 2003, đặc biệt trong năm 2003 có sựtăng trưởng vượt bậc, tăng 17,51% so với năm 2002

Bảng 2.1: Kim ngạch nhập khẩu của Công ty qua các năm.

Trang 36

Luận văn tốt nghiệp

Điều này là do năm 2003 là năm đầu tiên Công ty tiến hành cổ phần hoá,nên trong chính sách của Công ty có nhiều đổi mới, và tâm lý người lao độngcũng hào hứng, phấn khởi hơn vì phần lớn người lao động đều có cổ phần trongCông ty, do đó lợi ích của Công ty cũng chính là lợi ích của chính bản thân họ,

vì vậy họ có động lực để làm việc hăng say hơn

3590 3672

4315

3989 4025

0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 4500

Như vậy, ta thấy quy mô nhập khẩu của Công ty CPDPHN trong thời gianvừa qua còn chưa thực sự ổn định Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quảhoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng và đến hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp nói chung Do đó, doanh nghiệp cần có các chiến lược, kếhoạch nhập khẩu phù hợp để đối phó với những biến động của thị trường, đồngthời vẫn đảm bảo được mục tiêu về quy mô nhập khẩu của doanh nghiệp

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Hình 2.2: Kim ngạch khẩu của Công ty từ năm 2001 đến nay

(Nguồn: Báo cáo nhập khẩu của Công ty – Phòng XNK & ĐĐSX)

Trang 37

3.2 Thị trường nhập khẩu của Công ty.

Việc tìm hiểu thị trường nhập khẩu của Công ty cho ta thấy được quy mônguồn hàng nhập khẩu, đặc điểm của nguồn cung ứng, qua đó có thể đánh giáđược một phần về sự đa dạng, chất lượng, uy tín, của hàng hoá nhập khẩu củaCông ty Bên cạnh đó việc phân tích thị trường nhập khẩu còn giúp ta thấy được

uy tín cũng như khả năng nhập khẩu của Công ty thông qua các mối quan hệ vớicác đối tác nhập khẩu

Trên cơ sở nhu cầu của thị trường và khả năng của mình, Công tyCPDPHN đã có mối quan hệ với nhiều nước khác nhau trên thế giới như: Ấn

Độ, Trung Quốc, Singapore, Mỹ, Pháp, Và kim ngạch nhập khẩu theo một sốthị trường chủ yếu của Công ty qua các năm được thể hiện qua bảng 2.2

Bảng 2.2: Kim ngạch nhập khẩu của Công ty theo thị trường

(Nguồn: Báo cáo nhập khẩu hàng năm của Công ty – Phòng XNK & ĐĐSX)

Dựa vào bảng 2.2 ta có thể thấy rằng Công ty CPDPHN chủ yếu nhậpkhẩu hàng hoá từ hai thị trường chính, đó là Ấn Độ và Trung Quốc Thị trường

Trang 38

Luận văn tốt nghiệp

Ấn Độ luôn chiếm tỷ trọng cao nhất qua các năm, thường xấp xỉ 40% Tiếp đến

là thị trường Trung Quốc, thường chiếm tỷ trọng ở khoảng trên dưới 20% Saunữa là các nước như: Singapore, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc,

Như vậy ta dễ dàng thấy được thị trường nhập khẩu của Công ty hầu hết

là các nước công nghiệp phát triển, có nền sản xuất thuốc nổi tiếng trên thế giới

về chất lượng cũng như uy tín Từ đó, ta có thể thấy được mức độ tin cậy đối vớichất lượng thuốc nhập khẩu của Công ty

Cũng theo bảng 2.2 cho thấy kim ngạch nhập khẩu của Công ty đối vớitừng thị trường là khá đều qua các năm Mặc dù, giữa các năm tỷ trọng nhậpkhẩu hàng hoá của Công ty đối với từng thị trường có sự chênh lệch, song sựchênh lệch đó là không đáng kể Điều này thể hiện thị trường tiêu thụ hàng hoánhập khẩu của Công ty ở trong nước là khá ổn định Công ty cần duy trì các thịtrường sẵn có và mở rộng thêm thị trường mới để thúc đẩy hơn nữa hoạt độngkinh doanh nhập khẩu của Công ty

3.3 Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Công ty.

Như trên đã nói, hàng nhập khẩu để kinh doanh của Công ty CPDPHNgồm có hai loại là hàng nguyên liệu và thuốc thành phẩm Đối với hàng nguyênliệu thì Công ty áp dụng hai hình thức nhập khẩu là nhập khẩu trực tiếp về đểkinh doanh và nhận uỷ thác nhập khẩu từ các công ty khác ở trong nước Cònđối với mặt hàng thuốc thành phẩm thì Công ty hoàn toàn nhập khẩu theo sự uỷthác từ phía khách hàng Việc phân tích cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Công ty

sẽ giúp ta thấy được trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty thì mặthàng nào có vai trò chiến lược, điều đó có ý nghĩa thực tiễn đối với Công tytrong việc đầu tư phát triển thích đáng cho mặt hàng chiến lược đó Để biết đượcđiều đó ta có thể xem xét bảng 2.3 và hình vẽ 2.3:

Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu theo mặt hàng của Công ty CPDPHN từ

năm 2001 đến nay

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 39

(Nguồn: Báo cáo nhập khẩu hàng năm của Công ty – Phòng XNK & ĐĐSX)

Theo bảng 2.3 cho ta thấy trong hai mặt hàng nhập khẩu của Công ty thìmặt hàng thuốc thành phẩm luôn chiếm tỷ trọng khá lớn, trung bình trên 70%,còn hàng nguyên liệu chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 30% Điều này có thể giải thích

là do giá trị của thuốc thành phẩm thường cao hơn nhiều so với giá trị củanguyên liệu hoá chất Mặc dù, kim ngạch nhập khẩu đối với mặt hàng thuốcthành phẩm thường chiếm tỷ trọng lớn hơn kim ngạch nhập khẩu đối với mặthàng nguyên liệu, song kết quả thu được từ hoạt động nhập khẩu thuốc thànhphẩm thường thấp hơn từ hoạt động nhập khẩu nguyên liệu Sở dĩ như vậy là do,đối với mặt hàng thuốc thành phẩm, Công ty chỉ nhập khẩu theo hình thức dịch

vụ nhận uỷ thác nhập khẩu từ các công ty khác ở trong nước, nên kim ngạchnhập khẩu được tính cả giá trị hợp đồng (tức là cả phí uỷ thác nhập khẩu vàphần giá vốn của khách hàng trong kinh doanh dịch vụ uỷ thác), nhưng doanhthu thu được từ hoạt động này chỉ được tính căn cứ vào phí uỷ thác nhập khẩu,khoảng 0,2% giá trị hợp đồng uỷ thác Vì vậy, chính sách của Công ty đặt ra là

ưu tiên nhập khẩu đối với mặt hàng nguyên liệu hơn, vì đối với mặt hàng nàyCông ty vừa làm dịch vụ nhận uỷ thác nhập khẩu vừa nhập khẩu trực tiếp về để

tự kinh doanh nên doanh thu cũng như lợi nhuận thu được đối với hoạt độngkinh doanh mặt hàng này luôn ở mức cao hơn đối với mặt hàng thuốc thànhphẩm

Để thấy được rõ hơn về cơ cấu mặt hàng nhập khẩu và sự biến động vềgiá trị nhập khẩu đối với từng mặt hàng của Công ty, ta có thể theo dõi hình vẽ

Trang 40

Luận văn tốt nghiệp

Dựa vào hình vẽ 2.3, ta thấy được kim ngạch nhập khẩu đối với hàngnguyên liệu nhìn chung là khá ổn định, mức dao động giữa các năm là khôngđáng kể Điều này được giải thích là do nhu cầu dược phẩm là nhu cầu thiết yếu

và khá ổn định, nên nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu về để sản xuất của các công

ty trong nước cũng ít có sự biến động lớn Còn đối với mặt hàng thuốc thànhphẩm thì có sự tăng mạnh từ năm 2001 đến năm 2003, cụ thể năm 2003 tăng(3175-2485)/2485x100% = 27,77% so với năm 2001 Tuy nhiên, sang năm

2004, 2005 kim ngạch nhập khẩu thuốc thành phẩm lại giảm đáng kể, cụ thểnăm 2004 giảm (2795-3175)/3175x100% = (-)11,97% Sở dĩ có điều này là dogiá thuốc nhập ngoại ngày càng tăng cao nên làm giảm một phần nhu cầu sửdụng của người dân Hơn nữa, sự cạnh tranh giữa các công ty dược phẩm ngàycàng quyết liệt làm cho việc tiêu thụ sản phẩm thuốc lại càng khó khăn hơn.Như đã nói ở trên mặt hàng nguyên liệu hoá chất được coi là mặt hàng kinhdoanh nhập khẩu chiến lược của Công ty, do đó để đối phó với sự biến động củathị trường thì Công ty cần có kế hoạch nhập khẩu hợp lý để thích ứng, từ đó góp

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kim Dung

Hình 2.3: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Công ty từ năm 2001 đến nay.

(Nguồn: Phòng XNK & ĐĐSX)

Ngày đăng: 23/06/2023, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – FDI, tập II, PGS. TS. Nguyễn Thị Hường, NXB Thống Kê, 2004 Khác
2. Giáo trình Quản trị kinh doanh, GS. TS. Nguyễn Thành Độ, TS. Nguyễn Ngọc Huyền, NXB Lao Động Xã Hội, 2004 Khác
3. Giáo trình Quản trị kinh doanh, TS. Nguyễn Ngọc Hiến, NXB Lao Động, 2003 Khác
4. Giáo trình Quản trị kinh doanh xuất nhập khẩu, PGS. TS. Trần Chí Thành, NXB Thống Kê, 2000 Khác
5. Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh, PGS. TS. Phạm Thị Gái, NXB Thống Kê, 2004 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy quản trị của công ty  CPDPHN - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy quản trị của công ty CPDPHN (Trang 30)
Bảng 2.1: Kim ngạch nhập khẩu của Công ty qua các năm. - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Bảng 2.1 Kim ngạch nhập khẩu của Công ty qua các năm (Trang 35)
Hình 2.2: Kim ngạch khẩu của Công ty từ năm 2001 đến nay - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình 2.2 Kim ngạch khẩu của Công ty từ năm 2001 đến nay (Trang 36)
Bảng 2.2: Kim ngạch nhập khẩu của Công ty theo thị trường - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Bảng 2.2 Kim ngạch nhập khẩu của Công ty theo thị trường (Trang 37)
Hình 2.3: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Công ty từ năm 2001 đến nay. - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình 2.3 Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Công ty từ năm 2001 đến nay (Trang 40)
Bảng 2.5: Kết quả kinh doanh nhập khẩu của Công ty CPDPHN từ năm - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Bảng 2.5 Kết quả kinh doanh nhập khẩu của Công ty CPDPHN từ năm (Trang 44)
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu HQKD nhập khẩu tương đối của Công ty từ năm - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu HQKD nhập khẩu tương đối của Công ty từ năm (Trang 46)
Hình 2.5: Doanh lợi của tổng vốn nhập khẩu của Công ty. - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình 2.5 Doanh lợi của tổng vốn nhập khẩu của Công ty (Trang 47)
Hình 2.6: Doanh lợi theo chi phí nhập khẩu qua các năm. - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình 2.6 Doanh lợi theo chi phí nhập khẩu qua các năm (Trang 48)
Hình 2.7: Doanh lợi theo doanh thu nhập khẩu qua các năm. - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình 2.7 Doanh lợi theo doanh thu nhập khẩu qua các năm (Trang 49)
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu HQKD nhập khẩu bộ phận của Công ty - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu HQKD nhập khẩu bộ phận của Công ty (Trang 50)
Hình 2.8: Hiệu quả sử dụng vốn cố định nhập khẩu của Công ty qua các - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình 2.8 Hiệu quả sử dụng vốn cố định nhập khẩu của Công ty qua các (Trang 51)
Hình 2.9: Sức sinh lợi của vốn lưu động nhập khẩu qua các năm. - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình 2.9 Sức sinh lợi của vốn lưu động nhập khẩu qua các năm (Trang 52)
Hình 2.10: Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu qua các năm. - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình 2.10 Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu qua các năm (Trang 53)
Hình vẽ 2.11 cho thấy, số vòng quay của tổng vốn nhập khẩu có sự tăng giảm qua các năm - Luận văn tốt nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty cổ phần dược phẩm hà nội
Hình v ẽ 2.11 cho thấy, số vòng quay của tổng vốn nhập khẩu có sự tăng giảm qua các năm (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w