1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật việt nam

58 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hộ bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại Tác phẩm nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 57,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến 1994, khi các nớc ký kết Hiệp định TRIPs để bảohộ các khía cạnh thơng mại của quyền sở hữu trí tuệ thì thông tin bí mật tronghoạt động sản xuất kinh doanh đã đợc bảo hộ nh là một

Trang 1

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Trong quá trình phát triển của xã hội, khi bắt đầu xuất hiện nền sảnxuất hàng hoá và kinh doanh trở thành một nghề độc lập, các thơng nhân cũngbắt đầu tích luỹ cho mình những kỹ năng, kinh nghiệm trong sản xuất, kinhdoanh (know – how) đồng thời cũng tìm tòi, sáng tạo những bí quyết, những

kỹ năng mới để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh củamình Tính cạnh tranh trong sản xuất và thơng mại đòi hỏi mỗi thơng nhânphải có những u thế nhất định để cạnh tranh với các thơng nhân khác Yêu cầunày đã dẫn đến việc các thơng nhân phải giữ bí mật những kỹ năng, kinhnghiệm đã tích luỹ đợc cũng nh những bí quyết, kỹ năng mới mà họ sáng tạo

ra và chỉ truyền cho con cháu họ Những kỹ năng, kinh nghiệm, bí quyết đợcgiữ bí mật này chính là bí mật kinh doanh mà chúng ta đang bàn tới ngày nay

Trong nền kinh tế hiện đại, cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh ngàycàng khốc liệt Lợi thế cạnh tranh ngày nay không còn nằm chủ yếu ở tàinguyên thiên nhiên hoặc lao động rẻ, mà nghiêng về tiềm lực tri thức và côngnghệ Xu hớng này làm cho các nhà sản xuất ngày càng quan tâm đến việcsản xuất ra các sản phẩm có hàm lợng khoa học – công nghệ cao và đòi hỏinhà nớc phải có những định hớng, tác động và bảo hộ nhất định cho nhữngnhà sản xuất kinh doanh đầu t, nghiên cứu, sáng tạo ra khoa học – côngnghệ

Trên thế giới, các sản phẩm trí tuệ đã đợc bảo hộ từ lâu Cùng với sựphát triển của xã hội và tri thức, các nhà nớc đã sử dụng nhiều hình thức khácnhau để bảo hộ cho các sản phẩm trí tuệ khác nhau Các sản phẩm trí tuệ cóliên quan đến kinh doanh và hoạt động kinh doanh có thể đợc bảo hộ bằngcách cấp patent cho sáng chế, cho giải pháp hữu ích trong sản xuất hoặc cấppatent cho kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá Tuy nhiên, bên cạnhviệc nhờ đến các hình thức bảo hộ của pháp luật để bảo vệ các sản phẩm trítuệ và lợi ích của mình, các chủ thể kinh doanh cũng tự mình giữ bí mật cácsản phẩm trí tuệ khác bởi họ nhận thấy trong một số trờng hợp việc giữ bí mậtnày tạo ra lợi thế cạnh tranh cho họ Chính vì vậy, để đảm bảo cho các doanhnghiệp đợc cạnh tranh trong một môi trờng lành mạnh, đảm bảo cho cácdoanh nghiệp tự mình tìm tòi sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ có vị thế cạnh tranhxứng đáng với những đầu t tài sản trí tuệ mà họ đã bỏ ra, các nhà nớc cũngbảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể kinh doanh

và hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh đợc coi là một trong những hành vi

Trang 2

có tính chất cạnh tranh không lành mạnh ở cấp độ quốc tế, bảo hộ quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh trong đó baohàm cả hành bảo hộ bí mật kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh đợc ghinhận từ năm 1900 Cho đến 1994, khi các nớc ký kết Hiệp định TRIPs để bảo

hộ các khía cạnh thơng mại của quyền sở hữu trí tuệ thì thông tin bí mật tronghoạt động sản xuất kinh doanh đã đợc bảo hộ nh là một đối tợng riêng biệt củaquyền sở hữu trí tuệ

ở Việt Nam, trong Hiệp định thơng mại song phơng Việt Nam – Hoa

Kỳ đã ghi nhận cam kết việc bảo hộ thông tin bí mật cho các chủ thể kinhdoanh và phía Hoa Kỳ cũng đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng hoàn thiệnpháp luật để thực thi cam kết này

Đáp ứng yêu cầu đó và cũng để phù hợp với pháp luật quốc tế, Chínhphủ Việt Nam đã ban hành Nghị Định 54/2000/NĐ - CP trong đó ghi nhận sựbảo hộ đối với bí mật kinh doanh với t cách là một đối tợng của quyền sở hữucông nghiệp

Nh vậy, ở pháp luật của các quốc gia cũng nh luật quốc tế, bí mật kinhdoanh đã đợc thừa nhận với t cách là một đối tợng của quyền sở hữu trí tuệ nóichung và sở hữu công nghiệp nói riêng Tuy vậy, ở Việt Nam, đối tợng nàycòn khá xa lạ cả trong lý luận lẫn thực tiễn Chính vì vậy, tiếp cận dới góc độkhoa học pháp lý về đối tợng này nhằm nâng cao nhận thức về pháp luật thực

định cũng nh lý luận khoa học về đối tợng này là nhu cầu có tính cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Cho tới hiện nay, ở nớc ta cha có một công trình khoa học nào nghiêncứu một cách đồng bộ và toàn diện về bí mật kinh doanh với t cách là một đốitợng của quyền sở hữu công nghiệp Các nghiên cứu về bí mật kinh doanh mớichỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một vài khía cạnh riêng lẻ của nó đang trên cácbáo và tạp chí trong nớc và trình bày trong hội thảo khoa học về bí mật kinhdoanh do Cục sở hữu trí tuệ tổ chức, bao gồm nghiên cứu của các tác giả sau:

- Tác giả Nguyễn Thị Quế Anh có bài “Một số vấn đề về bảo hộ bí mậtkinh doanh và hoàn thiện pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam”

đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Kinh tế –Luật số 3 năm 2004 Trong bài viết này tác giả đã giới thiệu sơ lợc về hệ thốngpháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh trên thế giới và chỉ ra đợc các đặc trng củaquyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong mối tơng quan sosánh với các đối tợng khác của quyền sở hữu công nghiệp Trong bài viết này,

Trang 3

tác giả cũng chỉ ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quảcủa việc bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam

- Tác giả Kiều Thị Thanh và Nguyễn Thị Hằng có bài viết “Quyền sởhữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh đăng trên Tạp chí luật học số3/2002 Trong bài viết này hai tác giả đã căn cứ trên các quy định của phápluật về bí mật kinh doanh đợc quy định trong Nghị Định 54/2000/NĐ - CP đểphân tích và chỉ ra đợc một số hạn chế của pháp luật về bí mật kinh doanh củaViệt Nam theo quy định của trong Nghị định 54/2000/NĐ - CP

- Nghiên cứu bí mật kinh doanh cùng với các đối tợng khác của nhiềutác giả đợc thể hiện trong cuốn sách “Bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam – một

số vấn đề lý luận và thực tiễn” do Phó giáo s, tiến sĩ Lê Hồng Hạnh chủ biên.Trong sách này các tác giả đã chỉ ra đợc sự không tơng thích trong pháp luậtViệt Nam về bảo hộ bí mật kinh doanh với Hiệp định TRIPs và Hiệp định th-

ơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ

Nh vậy, có thể thấy khoa học pháp lý về bảo hộ bí mật kinh doanh ởViệt Nam mới đang phát triển ở những bớc đầu tiên Nghiên cứu của các tácgiả nói trên đã đóng góp vào khoa học pháp lý Việt Nam một số khía cạnhnhất định Nhng xét một cách toàn diện thì các nghiên cứu đó vẫn cha đáp ứng

đợc nhu cầu nhận thức của xã hội nói chung về đối tợng này Nghĩa là trênthực tế có rất nhiều khía cạnh liên quan đến bí mật kinh doanh cha đợc xem

xét đến Đây là lý do thứ hai khiến tác giả chọn nghiên cứu đề tài Bảo hộ bí

mật kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam” trong khoá luận

tốt nghiệp thạc sĩ của mình

3 Phạm vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về bímật kinh doanh, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành nhằmchỉ ra các thiếu sót, khiếm khuyết và kiến nghị các phơng hớng và các giảipháp hoàn thiện

Với mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bí mật kinh doanh và bảo hộ bí mậtkinh doanh ở Việt Nam và trên thế giới

- Nghiên cứu pháp luật thực định, so sánh pháp luật thực định của ViệtNam với pháp luật của các nớc trên thế giới và các Điều ớc quốc tế về bảo hộ

bí mật kinh doanh

- So sánh, đánh giá phân tích để chỉ ra các thiếu sót, khiếm khuyết và đề

ra kiến nghị và giải pháp hoàn thiện

Trang 4

Với đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cũng

nh pháp luật thực định về bí mật kinh doanh, cụ thể bao gồm các vấn đề sau:

- Những vấn đề lý luận cơ bản về bí mật kinh doanh nh : Cơ sở lý luận

và thực tiễn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh; khái niệm bí mật kinh doanh

và quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh; mối quan hệ giữa bímật kinh doanh với các đối tợng khác của quyền sở hữu trí tuệ;

- Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về bảo hộ quyền sở hữucông nghiệp đối với bí mật kinh doanh trên cơ sở đó đề ra phơng hớng và giảipháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về bảo hộ bí mật kinh doanh

Trong quá trình nghiên cứu tác giả đi sâu nghiên cứu về các vấn đề lýluận về bí mật kinh doanh và các phơng thức bảo vệ bí mật kinh doanh bằngbiện pháp dân sự, hành chính, hình sự theo quy định của pháp luật Việt Namnhằm giải quyết một số vấn đề lý luận cũng nh thực trạng của pháp luật ViệtNam trong việc bảo hộ đối tợng này

4 Phơng pháp nghiên cứu đề tài:

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đứng trên thế giới quan và phơng phápluận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác

- Lênin Trong quá trình nghiên cứu, đối với từng vấn đề cụ thể của đề tài, tácgiả vận dụng tổng hợp các phơng pháp phân tích, so sánh, diễn dịch, quy nạp

để đạt đợc kết quả nghiên cứu

5 Bố cục luận văn:

Ngoài phần Lời nói đầu, phần Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của luận văn đợc trình bày trong ba chơng và có kết cấu chi tiết nhsau:

Chơng I: Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh

1.2 Khái niệm bí mật kinh doanh, quyền sở hữu công nghiệp đối với bímật kinh doanh

1.3 So sánh bí mật kinh doanh với các đối tợng khác của quyền sở hữutrí tuệ

Chơng II: Những quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

2.1 Các điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh

Trang 5

2.2 Căn cứ phát sinh và chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bímật kinh doanh

2.3 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh2.4 Bảo vệ bí mật kinh doanh theo quy định pháp luật Việt Nam

Chơng III: Định hớng và những giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.

3.1 Định hớng chung

3.2 Giải pháp hoàn thiện

Chơng 1 KháI quát chung về quyền sở hữu công nghiệp

đối với Bí MậT KINH DOANH

Trang 6

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bảo hộ quyền

sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.

1.1.1 Khuyến khích hoạt động nghiên cứu và sáng tạo.

Một trong những quan điểm lý luận làm cơ sở, nền tảng cho việc bảo hộ

bí mật kinh doanh là luận điểm cho rằng bảo hộ bí mật kinh doanh sẽ khuyếnkhích đợc hoạt động nghiên cứu và sáng tạo Paul Romer, trong một nổ lựcnhằm chứng minh rằng các nớc đang phát triển hoàn toàn có khả năng sửdụng u điểm của tiến bộ công nghệ đang có, Romer giả định rằng tiến bộ côngnghiệp đòi hỏi hoạt động phối hợp, hớng tới lợi nhuận tạo ra hai bộ phận riêngbiệt: (a)những đặc trng kỹ thuật cụ thể đợc sáp nhập vào những sản phẩm cókhả năng nhận bằng độc quyền sáng chế và đa vào sản xuất, trong khi loại trừhoạt động của các hãng khác ra khỏi hoạt động đó; (b) sự giác ngộ rằng các

đặc trng nói trên về cơ bản là sản phẩm công cộng Để khuyến khích mọi ngời

và tổ chức tham gia tạo ra tri thức truyền thống, nguyên tắc về sự loại trừ phải

đợc viện dẫn Ông lập luận rằng có hai cách để loại trừ những ngời khác: thứnhất là giữ bí mật tri thức và thứ hai là viện dẫn pháp luật có hiệu lực về sởhữu trí tuệ [2, tr 30]

Có rất nhiều ý kiến phản bác lại quan điểm này, cho rằng dờng nh sựbảo hộ bí mật kinh doanh kìm hãm chứ không phải là thúc đẩy hoạt độngnghiên cứu và sáng tạo Những ngời phản bác lại quan điểm này cho rằng: đểthúc đẩy hoạt động sáng tạo trong kinh doanh thơng mại đòi hỏi phảI thúc đẩy

tự do cạnh tranh bằng việc cho phép sử dụng không hạn chế các ý tởng trongkhu vực công cộng Trong khi đó, việc bảo hộ bí mật kinh doanh (kể cả đốivới bảo hộ sáng chế) lại cho phép chủ sở hữu độc quyền ở mức độ nhất định

đối với các ý tởng (các sản phẩm trí tuệ) của mình Riêng đối với bí mật kinhdoanh việc bảo hộ vô thời hạn sẽ làm cho chủ sở hữu trì hoãn sự đầu t đểnghiên cứu và sáng tạo, đồng thời làm cho các chủ thể khác tốn thời gian vàtiền bạc để nghiên cứu một vấn đề đã đợc nghiên cứu rồi

Tuy nhiên, những ngời ủng hộ quan điểm trên cho rằng: sự độc quyền ởmột mức độ nhất định không thể kìm hãm sự nghiên cứu và sáng tạo Bởi lẽ,việc cho phép độc quyền sẽ tạo ra cho chủ sở hữu, chủ thể đã đầu t sáng tạo ra

ý tởng những lợi ích vật chất nhất định, đủ để bù đắp và trả công xứng đángcho việc đầu t và sáng tạo của họ, từ đó khuyến khích họ tiếp tục nghiên cứu,sáng tạo để tạo ra các sản phẩm có giá trị cho xã hội, thúc đẩy sự phát triểncủa xã hội Mặt khác, sự độc quyền của chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanhkhông phải là sự độc quyền tuyệt đối, không có nghĩa là chủ sở hữu bí mật

Trang 7

kinh doanh là chủ thể duy nhất sử dụng bí mật kinh doanh Những ngời kháckhông phải là chủ sở hữu có thể sử dụng bí mật kinh doanh trên cơ sở thiết lậpcác mối quan hệ tin cậy trên cơ sở hợp đồng với chủ sở hữu Việc bảo hộ bímật kinh doanh là đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu, ngời đã đầu t tài sảnhoặc trí tuệ để tạo ra hoặc có đợc bí mật kinh doanh, đồng thời chống lại cáchành vi bất hợp pháp của chủ thể khác xâm phạm quyền lợi của chủ sở hữu.

Cũng có quan điểm cho rằng để khuyến khích sự nghiên cứu và sángtạo, pháp luật bảo hộ sáng chế có tính u việt hơn Bởi lẽ, pháp luật bảo hộ sángchế không chỉ đảm bảo sự độc quyền cho chủ sở hữu mà còn buộc chủ sở hữuphải công khai thông tin trong khu vực công cộng nhằm thúc đẩy sự tự docạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh Tuy nhiên thực tế chứng minh rằng,không phải bất kỳ sản phẩm nào của trí tuệ cũng có thể đợc bảo hộ theo phápluật bảo hộ sáng chế Truớc hết, bằng độc quyền sáng chế chỉ cấp cho cácsáng chế trong lĩnh vực công nghệ chứ không cấp cho những thành tựu tronghoạt động thơng mại, cung ứng dịch vụ hoặc quản lý kinh doanh…Hơn nữa,Hơn nữa,một số phát minh hay thông tin kỹ thuật trong khi tạo ra một lợi thế thơng mạigiá trị cho một doanh nhân nào đó thì có thể lại thiếu tính mới hoặc tính sángtạo theo yêu cầu để có thể đợc cấp bằng độc quyền sáng chế, chừng nào màthông tin cha đợc tiết lộ cho công chúng thì, chủ sở hữu thông tin đợc cấpbằng độc quyền sáng chế phải đợc cấp bằng để chống lại bất kể việc ngời nàotiết lộ thông tin sai trái, bất kể cuối cùng đơn xin cấp bằng sáng chế có đợcchấp nhận hay không Mặt khác, sự tồn tại của pháp luật bảo hộ sáng chế cũngkhông thể triệt tiêu sự tồn tại của các hình thức bảo hộ khác của pháp luậtnhằm khuyến khích sự sáng tạo

1.1.2 Duy trì và nuôi dỡng sự trung thực trong kinh doanh th ơng mại.

Trong hoạt động kinh doanh – thơng mại, lợi nhuận là vấn đề hàng

đầu mà các thơng nhân quan tâm Tuy nhiên, yêu cầu của xã hội là các thơngnhân có thể quan tâm đến lợi nhuận, có thể làm thế nào đó để thu đợc lợinhuận cao nhất nhng không đợc xâm phạm đến lợi ích xã hội và lợi ích củanhà kinh doanh khác Để đảm bảo đợc điều đó, pháp luật phải điều chỉnh hoạt

động kinh doanh

Giả sử, đến một ngày nào đó, trong xã hội không tồn tại pháp luật vàtrong xã hội đó, không ai có nhiệm vụ phải cạnh tranh công bằng và trungthực với ngời khác Trong xã hội đó pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệcũng không tồn tại Khi đó, chắc chắn rằng thơng trờng sẽ nảy sinh rất nhiều

Trang 8

vấn đề Việc ăn cắp và sử dụng ý tởng có giá trị của ngời khác sẽ trở nên phổbiến Các thơng vụ sẽ đợc thực hiện trong sự sợ hãi và nghi ngờ Bất cứ một ýtởng có giá trị nào của doanh nghiệp cũng sẽ có thể bị bán hoặc mua bởi cácnhân viên của chính doanh nghiệp đó Tại sao các thơng nhân phải đầu t thờigian và tiền bạc để nghiên cứu hoặc phát triển một sản phẩm hay quy trìnhmới khi tất cả những gì cần làm là tìm một nhân viên của công ty khác để thuthập những kiến thức, ý tởng, thông tin mới nhất Tại sao phải đầu t một khoảntiền lớn để nghiên cứu trong khi kết quả nghiên cứu có thể bị bán bất cứ lúcnào bởi một nhân viên của công ty cho đối thủ cạnh tranh của mình hoặc chongời nào trả giá cao nhất.

Sự suy luận từ giả định trên là một minh chứng cho luận điểm phải bảo

hộ bí mật kinh doanh Pháp luật bảo hộ bí mật kinh doanh tạo ra sự ổn địnhcho môi trờng kinh doanh, duy trì các mối quan hệ tốt đẹp trong kinh doanhbằng việc cung cấp và buộc các thơng nhân phải tuân thủ các nguyên tắc kinhdoanh công bằng và trung thực, ngay cả khi các nguyên tắc này không đợcxác lập trong hợp đồng Đi xa hơn nữa, việc bảo hộ bí mật kinh doanh còn tạo

ra một khung pháp lý nhằm khuyến khích việc trao đổi thông tin tự do giữacác chủ thể kinh doanh trong quá trình hoạt động của các chủ thể này [14]

Lịch sử phát triển của pháp luật cũng chỉ ra rằng nhiều xã hội đã quantâm tới việc duy trì và nuôi dỡng đạo đức kinh doanh bằng việc bảo hộ bí mậtkinh doanh trong nhiều tình huống và mối quan hệ khác nhau Chẳng hạn,

trong thời kỳ La Mã cổ đại ghi nhận nguyên tắc servi corrupti [5, tr 195] –

một nguyên tắc cho phép chủ nô kiện ngời thứ ba về sự bất trung của nô lệ.Nếu một ngời thứ ba xui khiến nô lệ bất trung bất trung gây thiệt hại cho chủnô thì chủ nô có quyền kiện yêu cầu ngời thứ ba bồi thờng thiệt hại vì sự bấttrung của nô lệ Mức bồi thờng là gấp đôi thiệt hại thực tế đã đợc gây ra doviệc sử dụng hoặc tiết lộ thông tin bí mật Thiệt hại cũng bao gồm sự bồi hoàncủa ngời thứ ba cho chủ sở hữu về giảm sút giá trị của nô lệ (trong sự so sánhvới một nô lệ trung thành)

Khi cách mạng công nghiệp thay thế cho sản xuất nông nghiệp với máymóc và sự gia tăng ngời lao động lu động Sự thay đổi này đã tạo ra khả năngcác nhà kinh doanh cạnh tranh không lành mạnh bằng cách lợi dụng sự bấttrung của công nhân đối với chủ cũ của mình hoặc bằng cách đánh cắp các tàiliệu, giấy tờ liên quan đến bí mật trong sản xuất và kinh doanh của các nhàkinh doanh khác.Vì vậy, các nhà nớc ở Châu Âu bắt đầu quan tâm đến việcduy trì và nuôi dỡng sự trung thực trong kinh doanh Từ giữa thế kỷ XIX, Pháp

và Bỉ đã có ghi nhận trong Luật hình sự các tội phạm về tiết lộ bí mật của các

Trang 9

nhà máy Tơng tự, các chế tài dân sự cho ngời xâm phạm bí mật kinh doanhcũng đợc quy định trong Luật cạnh tranh không lành mạnh 1909 ở Đức.

Hệ thống pháp luật Anh - Mỹ cũng bảo hộ bí mật kinh doanh để tăngcờng sự trung thực trong thơng mại ở Anh, tuy không có văn bản luật để ápdụng đối với bí mật nhng trong hệ thống pháp luật đã xem xét việc bảo hộ bímật kinh doanh từ rất sớm, từ những năm đầu của thể kỷ XIX Cho đến năm

1820, Toà án tối cao của Anh đã ban hành một sắc lệnh chống lại việc sử dụng

và bộc lộ bí mật kinh doanh do vi phạm hợp đồng bảo mật

Quan điểm về bảo hộ bí mật kinh doanh để tăng cờng sự trung thựctrong thơng mại ở Mỹ chịu sự ảnh hởng của Anh và bắt đầu vào khoảng năm

1837 và trung thành với quan điểm đó cho tới ngày nay Hiện nay, Mỹ là mộttrong số ít các quốc gia có một đạo luật riêng để bảo hộ bí mật kinh doanh Đa

số các quốc gia khác chỉ bảo hộ bí mật kinh doanh trong các văn bản phápluật chung cho các đối tợng khác của quyền sở hữu trí tuệ

Nh vậy, bảo hộ bí mật kinh doanh để duy trì và nuôi dỡng sự trung thựctrong thơng mại và đạo đức kinh doanh là cơ sở lý luận cũng nh thực tiễn củaviệc bảo hộ bí mật kinh doanh ở đa số các nớc trên thế giới Hệ thống phápluật về bảo hộ bí mật kinh doanh trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tếngày càng phát triển mạnh mẽ là một minh chứng cho tính đúng đắn của cơ sở

lý luận nói trên và thực tiễn kinh doanh trên toàn thế giới

1.1.1.1.Bảo vệ quyền dân sự cơ bản của cá nhân.

Có một nguyên tắc đã trở thành chân lý khi xã hội loài ngời bớc ra khỏithời kỳ công xã nguyên thủy, đó là, bất kỳ ai cũng có quyền sở hữu đối vớithành quả lao động do mình tạo ra hoặc do mình đầu t công sức, tài sản hoặctrí tuệ mà có Đó là quyền dân sự cơ bản của cá nhân Lúc đầu, nguyên tắcnày chủ yếu đợc áp dụng đối với các thành quả lao động mang tính hữu hình.Dần dần, cùng với sự phát triển của xã hội, nguyên tắc này còn đợc áp dụng

đối với các thành quả lao động đợc tạo ra từ hoạt động trí não của con ngời.Trên cơ sở nguyên tắc này mà ngày nay pháp luật bảo hộ quyền sở hữu nóichung trong đó có quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ nói riêng

Việc bảo hộ bí mật kinh doanh cũng xuất phát từ nguyên tắc nói trên.Mặt khác, tài sản trí tuệ là loại tài sản có đặc điểm khác với các loại tài sảnhữu hình Chủ sở hữu các loại tài sản hữu hình nhìn chung có thể quản lý,kiểm soát và ngăn cản ngời khác sử dụng tài sản của mình khi thực hiện việcchiếm hữu tài sản đó Đặc tính vô hình của tài sản trí tuệ nói chung không chophép các chủ thể có thể chiếm hữu tài sản trí tuệ theo cách thức thông thờng

Trang 10

Chủ sở hữu các tài sản trí tuệ rất khó quản lý, kiểm soát hay ngăn cản ngờikhác sử dụng tài sản trí tuệ của mình vào nhiều mục đích khác nhau khi họ đãbiết đến nó Đặc trng này của tài sản trí tuệ nói chung đòi hỏi pháp luật phảI

đảm bảo cho chủ sở hữu trí tuệ quyền đợc công bố công khai hay không công

bố công khai tài sản trí tuệ do mình tạo ra hoặc do mình đầu t để tạo ra Cho

dù cha xét đến khía cạnh thơng mại của sự bảo hộ này thì việc giữ bí mật tàisản trí tuệ do mình tạo ra hoặc do mình đầu t tà sản để tạo ra vẫn là một quyềndân sự cơ bản của cá nhân nhằm đảm bảo cho cá nhân đợc quyền quản lý vàkiểm soát tài sản trí tuệ của mình tránh các hành động chiếm đoạt hoặc lợidụng tài sản trí tuệ đó.[14]

1.1.4 ý nghĩa thực tiễn của việc bảo hộ bí mật kinh doanh.

Ngoài các quan điểm lý luận trên đây, việc bảo hộ bí mật kinh doanhcòn bắt nguồn từ những ý nghĩa thực tiễn của việc bảo hộ

Ngày nay, hàm lợng chất xám cần có trong hoạt động kinh doanh là vôcùng lớn Để có đợc hàm lợng chất xám trong hoạt động kinh doanh củamình, các chủ thể kinh doanh phải không ngừng đầu t nghiên cứu và sáng tạo.Chính vì vậy, tài sản trí tuệ trong các doanh nghiệp rất đa dạng về loại hình vàmức độ giá trị Cho nên, cần phải phát triển nhiều hình thức và cơ chế bảo hộnhằm tối đa hoá sự bảo hộ của nhà nớc đối với các loại tài sản trí tuệ củadoanh nghiệp

ở một khía cạnh khác, sự bảo hộ tài sản trí tuệ trên thực tế rất phù hợpvới doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự hạn chế về vốn dẫn đến sự hạn chế về pháttriển công nghệ dẫn đến việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể đủ sức

để tạo ra một tài sản trí tuệ đợc cấp bằng sáng chế cũng nh khó có thể có đủtiền để trả chi phí cho việc nộp đơn cấp bằng sáng chế Cơ chế bảo hộ bí mậtkinh doanh tạo ra sự dễ dàng và ít tốn kém trong việc xác lập và kiểm soátquyền vì vậy nó thích hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bảo vệ tài sản trítuệ của mình [7]

1.2 KháI niệm và quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.

1.2 Khái niệm bí mật kinh doanh.

Thuật ngữ “bí mật kinh doanh” (còn gọi là “bí mật thơng mại” hay “bímật sản xuất hoặc thơng mại”) là một thuật ngữ không xa lạ đối với ngời kinhdoanh Hoạt động kinh doanh và thơng mại cũng nh các hoạt động xã hộikhác, nếu muốn thành thạo, muốn đạt hiệu quả tối u thì con ngời cần phải cókiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng trong hoạt động Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ

Trang 11

năng của con ngời thờng đợc hình thành dần dần và đợc tích luỹ từ đời nàysang đời khác Quyền t hữu đối với sản phẩm lao động do mình tạo ra đã dẫn

đến việc con ngời thờng chỉ truyền lại kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm chocon cháu mình hoặc những ngời thân thuộc với mình Trong kinh doanh, kiếnthức, kinh nghiệm và kỹ năng đó ngời ta gọi là là bí quyết hoặc know – how.Mặt khác, nhằm đạt lợi nhuận tối đa trong kinh doanh, thơng mại con ngờicũng luôn phải tìm tòi, sáng tạo ra những cách thức, những phơng pháp sảnxuất hoặc kinh doanh mới hoặc tạo ra các thông tin có ích khác Vì lợi ích củamình những cách thức, phơng pháp này cũng đợc các thơng nhân giữ bí mật

để sử dụng riêng Đó là cội nguồn của bí mật kinh doanh

Trên thực tế kinh doanh hiện nay, các thơng nhân có thể coi nhiều loạithông tin khác nhau là bí mật kinh doanh[7]:

Đó có thể là các thông tin khoa học nh: Hớng nghiên cứu phát triểnkhoa học của doanh nghiệp; các kết quả nghiên cứu khoa học ; các báo cáophúc trình về hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của doanh nghiệp…Hơn nữa,

Đó cũng có thể là thông tin công nghệ, kỹ thuật nh: các công thức hoặcthành phần phối liệu, tỷ lệ hàm lợng vật liệu; các phơng pháp, quy trình sảnxuất; cấu trúc của sản phẩm; mã nguồn và các chơng trình máy tính; tài liệuthiết kế, thông số kỹ thuật, sơ đồ kiến trúc…Hơn nữa,

Đó cũng có thể là các thông tin thơng mại, nh: danh sách các nhà cungcấp, danh sách khách hàng; nhu cầu, ớc muốn, thái độ, cơ cấu tiêu dùng củakhách hàng; đặc điểm của khách hàng thân thiết; phơng án cung ứng, lu trữchăm sóc khách hàng; kế hoạch, chiến lợc kinh doanh, tiếp thị, quảng cáo; ý t-ởng kinh doanh; kết quả nghiên cứu, khảo sát thị trờng…Hơn nữa,

Đó cũng có thể là các thông tin tài chính: cấu trúc giá thành, phơng án

đầu t, chính sách hoa hồng, chi phí…Hơn nữa,

Ngoài ra, các bí mật về sơ suất hay thất bại của doanh nghiệp cũng đợccoi là bí mật kinh doanh: nguyên nhân thất bại trong giải pháp khắc phục kỹthuật, nguyên nhân thất bại trong sản xuất một sản phẩm mới, kinh nghiệm saisót trong marketing, các khiếu nại, tranh chấp đợc xử lý kín…Hơn nữa,

Mặc dù rất đa dạng về loại hình nhng các thông tin mà các nhà kinhdoanh coi là bí mật kinh doanh đều có các đặc điểm sau:

a) Đặc điểm về tính thông tin của bí mật kinh doanh.

Tính thông tin của bí mật kinh doanh thể hiện ở chỗ bí mật kinh doanhphải mang đến cho những ngời có khả năng tiếp cận nó những nhận thức,những hiểu biết nhất định về một sự vật, một hiện tợng nào đó trong thế giới

Trang 12

khách quan Thông tin là bí mật kinh doanh có thể tồn tại hoặc đợc thể hiện

d-ới những dạng vật chất hữu hình, cụ thể nh tài liệu, sách vở chứa đựng thôngtin, mô hình, mẫu vật…Hơn nữa, nhng bí mật kinh doanh không đồng nhất với nhữngvật chất đó Bí mật kinh doanh, một mặt, là kết quả của hoạt động nhận thức,trí tuệ của con ngời đợc thể hiện, tái tạo lại thông qua các vật chất hữu hìnhnói trên, mặt khác, con ngời muốn biết, muốn nhận thức đợc bí mật kinhdoanh thì phải thông qua hoạt động nhận thức của trí tuệ Chính vì vậy, bí mậtkinh doanh là một loại tài sản trí tuệ của ngời kinh doanh

b) Đặc điểm về tính bí mật của thông tin.

Đây là đặc điểm cơ bản nhất và có tính chất quyết định của bí mật kinhdoanh Nếu một loại thông tin mà không có tính bí mật thì không thể đợc xem

là bí mật kinh doanh đợc cho dù nó có thể có chức năng thông tin, có thể cógiá trị đối với hoạt động kinh doanh

Thông tin có tính chất bí mật nghĩa là phạm vi những ngời biết đếnthông tin rất hạn chế Mặt khác, những ngời quan tâm đến thông tin cũngkhông thể dễ dàng lấy thông tin ở những nguồn thông tin công cộng

Khi nói đến đặc điểm này của bí mật kinh doanh, có học giả cho rằng:

“Đặc điểm chủ yếu nhất của bí mật thơng mại là phải thực sự bí mật Thôngtin trong khu vực công cộng hoặc hiểu biết cơ bản trong một ngành côngnghiệp không thể là bí mật của một cá nhân Thông tin mà hoàn toàn đợc bộc

lộ từ hàng hoá đợc bán trên thị trờng cũng không thể là bí mật của nhà sảnxuất hàng hoá đó.” [14]

Điểm a – Khoản 2 – Hiệp Định TRIPS giải thích về tính bí mật nh

sau: “có tính chất bí mật với nghĩa là nó không đợc biết đến nói chung trên

nguyên tắc, đối với nội dung hoặc trong hình thể chính xác hoặc sự kết hợp của các thành phần thông tin, trong số hoặc bởi những ngời thờng xuyên tiếp cận hoặc thờng xuyên xử lý loại thông tin đó.”

Tuy nhiên, tính bí mật không có nghĩa là phải hoàn toàn bí mật Bí mậtkinh doanh cũng có thể đợc biết bởi các nhân viên, ngời lao động trong công

ty, những ngời có liên quan đến việc sử dụng thông tin hoặc những ngời khác

có cam kết bảo mật Về điểm này, The fist Restatement of Unfair kết luận:

“Một vài yếu tố cần thiết của sự bí mật phải tồn tại nhằm loại trừ việc sử dụngbất hợp pháp hoặc tạo ra sự khó khăn trong việc thu thập, chiếm đoạt thôngtin.”

c) Đặc điểm về tính giá trị của thông tin

Trang 13

Thông tin bí mật đợc ngời kinh doanh coi là bí mật kinh doanh phải làthông tin có giá trị [4] Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của hoạt động kinhdoanh Trong quá trình hoạt động của mình, các chủ thể kinh doanh phải thuthập, lu giữ rất nhiều loại thông tin nhằm đa ra các quyết định kinh doanh cóhiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận Trong vô số các thông tin mà các chủ thểkinh doanh thu thập đợc, họ chỉ giữ lại những thông tin có giá trị

Tính giá trị cuả thông tin thể hiện trên nhiều khía cạnh Giá trị củathông tin có thể thể hiện ở khoản tiền, vốn mà ngời có đợc thông tin đã đầu t

để tạo ra hoặc có đợc thông tin đó Giá trị của thông tin cũng có thể thể hiện ởmức độ đầu t thời gian, công sức để tạo ra hoặc thu thập thông tin Giá trị củathông tin cũng có thể thể hiện ở những khoản lợi mà chủ sở hữu thu đợc khibiết và sử dụng thông tin Đôi khi, giá trị của thông tin là bí mật kinh doanhcòn thể hiện ở sự mất mát, thiệt hại mà chủ sở hữu phải gánh chịu hoặc khoảnlợi mà ngời không phải là chủ sở hữu đợc hởng nếu thông tin đó bị tiết lộ, bịngời khác biết hoặc sử dụng

d) Đặc điểm về khả năng sử dụng của thông tin.

Thông tin là bí mật kinh doanh phải là thông tin có khả năng đợc sửdụng bởi chủ sở hữu hoặc ngời khác Một thông tin đợc thu thập, lu giữ nhngkhông có khả năng đợc sử dụng bởi chính chủ sở hữu hoặc ngời khác thìkhông đợc coi là bí mật kinh doanh và cũng không đợc chủ sở hữu giữ bí mật

Nh vậy, trên thực tế, bí mật kinh doanh là loại thông tin có tính chất bí

mật, có giá trị và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.

ở nớc ta, sự bảo hộ chính thức của pháp luật đối với bí mật kinh doanhbắt đầu từ năm 2000, trong Nghị Định 54/2000/NĐ - CP Tại Nghị định này

ghi nhận “bí mật kinh doanh là thành quả đầu t dới dạng thông tin” và phải

thoả mãn các điều kiện mà pháp luật qui định Với cách quy định này thì thựcchất pháp luật cha đa ra đợc khái niệm của bí mật kinh doanh mà chỉ mới đềcập đến các điều kiện để một thông tin đợc bảo hộ nh là một bí mật kinhdoanh

Luật SHTT ra đời đánh dấu một sự phát triển mới trong khoa học pháp

lý về bí mật kinh doanh ở Việt Nam Luật SHTT đã đa ra khái niệm đầu tiên

về bí mật kinh doanh Theo khoản 23 - Điều 5 – Luật SHTT thì : “bí mật

kinh doanh là thông tin thu đợc từ hoạt động đầu t, tài chính, trí tuệ, cha đợc bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh

Trang 14

Khái niệm bí mật kinh doanh nói trên đã phản ánh đợc những đặc điểmmang tính bản chất của bí mật kinh doanh nh tính thông tin, tính bí mật và khảnăng đợc sử dụng

Trên thực tế, ngoài ba đặc điểm này, bí mật kinh doanh còn mang tínhgiá trị Khi tìm hiểu khái niệm “bí mật thơng mại” (trade secret) trong phápluật của Mỹ, tính giá trị cũng đợc thể hiện Chẳng hạn, theo khái niệm đợcquy định tại Điều 39 – The Restatement of Unfair Competition (Third) của

Mỹ thì “bí mật thơng mại là bất kỳ thông tin nào có thể đợc sử dụng trong

hoạt động kinh doanh của một chủ thể, có giá trị và có tính bí mật đủ để tạo

ra một sự thuận lợi trong kinh doanh cho chủ thể đó so với các chủ thể khác ”Hoặc theo điều 10 – Quy định số 240/96 ngày 31/01/1996 của Pháp thì

“thông tin bí mật đợc bảo hộ là tổng thể những thông tin mang tính chất kỹ

thuật, công nghiệp hoặc thơng mại có tính chất bí mật, hữu ích và ngời nắm giữ thông tin đó phải bảo mật bằng các biện pháp cần thiết, phù hợp”.[1,tr 78]

.Trong Hiệp định TRIPs, tính giá trị của thông tin cũng đợc ghi nhận

Có ngời lập luận rằng tính giá trị của thông tin đợc bao hàm trong khảnăng sử dụng trong kinh doanh của thông tin Tuy nhiên, theo tác giả, khảnăng đợc sử dụng trong kinh doanh của thông tin không thể bao hàm tính giátrị của thông tin đợc Giá trị của thông tin thể hiện trên nhiều khía cạnh khácnhau Đôi khi, vì giá trị của thông tin mà thông tin đợc sử dụng không chỉtrong hoạt động kinh doanh mà còn trong các hoạt động khác

Nh vậy, khái niệm bí mật kinh doanh trong Luật SHTT hiện hành chathể hiện đợc tính giá trị bí mật kinh doanh Đây là điểm hạn chế của kháiniệm bí mật kinh doanh trong pháp luật Việt Nam

1.2.2 Đặc trng của bí mật kinh doanh với t cách là một đối tợng của quyền sở hữu công nghiệp.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh là quyền của tổchức, cá nhân đối với một tài sản trí tuệ Vì thế nó có những đặc trng giốngvới quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tợng khác của sở hữu trí tuệ nh: tínhchất vô hình của đối tợng, phạm vi và mức độ bảo hộ ngày càng đợc mở rộng

và có tính lãnh thổ.v.v…Hơn nữa, Tuy nhiên, bí mật kinh doanh có những đặc điểmriêng biệt, khác với các đối tợng khác, cho nên, quyền sở hữu công nghiệp đốivới bí mật kinh doanh cũng có những đặc trng riêng[11]:

Thứ nhất, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh là một quyền có tính thực tế của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh Cơ sở của quyền này là sự độc quyền thực tế của chủ thể quyền

Trang 15

đối với một tập hợp thông tin nhất định Mặt khác, sự bảo vệ quyền chủ thểgần nh phụ thuộc vào sự toàn diện và hiệu quả của các biện pháp mà chủ thểquyền áp dụng để bảo vệ sự độc quyền của mình Sự bảo vệ quyền có tínhpháp lý thông thờng chỉ đợc áp dụng khi có sự xâm phạm của chủ thể khác.

Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh không bị hạn chế về thời hạn bảo hộ Quyền của chủ thể đối với bí mật kinh doanh đợc

bảo hộ khi độc quyền thực tế của chủ thể đối với thông tin còn tồn tại và thôngtin đó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu do pháp luật quy định Đặc điểm này làmcho việc lựa chọn phơng thức bảo hộ đối tợng với bí mật kinh doanh trở nênhấp dẫn hơn đối với các nhà kinh doanh, đặc biệt là khi mà nguyên tắc bảo hộ

có thời hạn không làm thoả mãn lợi ích kinh doanh của họ

Thứ ba, với t cách là đối tợng quyền sở hữu trí tuệ quyền sở hữu trí tuệ với bí mật kinh doanh không đòi hỏi sự công nhận chính thức khả năng đ-

ợc bảo hộ, không đòi hỏi việc đăng ký thông qua các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, không đòi hỏi việc thực hiện bất cứ một thủ tục mang tính chất hình thức hay việc trả lệ phí Điều này cũng có ý nghĩa đối vơí việc lựa chọn

phơng thức bảo hộ bí mật kinh doanh cho đối tợng là kết quả của hoạt độngsáng tạo của con ngời

1.3 Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh và các đối ợng khác của quyền sở hữu trí tuệ.

t-Khi chúng ta phân tách một cách rõ ràng các loại tài sản trí tuệ để bảo

hộ và và từ đó thiết lập từng cơ chế bảo hộ riêng rẽ cho mỗi đối tợng thì sẽphát sinh vấn đề là thực tế có những tài sản trí tuệ có thể là các đối t ợng khácnhau của quyền sở hữu trí tuệ hoặc một tài sản trí tuệ nhng có thể đợc bảo hộbằng các hình thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ khác nhau Đặt trong phạm vinghiên cứu của luận văn về bí mật kinh doanh, phần này sẽ tập trung làm rõmối tơng quan giữa bí mật kinh doanh với các đối tợng sở hữu trí tuệ khác

1.3.1 Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh với bảo hộ sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp.

Theo cách hiểu đợc quy định tại Khoản 12 - Điều 4 – Luật SHTT thì:

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật d

quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của các

phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn

Trong mối quan hệ với sáng chế và thiết kế bố trí, bí mật kinh doanh cóphạm vi rộng hơn vì nó có thể bao gồm cả các sáng chế và thiết kế bố trí bí

Trang 16

mật Hơn nữa, nếu nh sáng chế và thiết kế bố trí chỉ có trong những lĩnh vực

kỹ thuật cao thì bí mật kinh doanh tồn tại cả trong hoạt động thơng mại truyềnthống

Trong trờng hợp bí mật kinh doanh có đủ điều kiện để bảo hộ sáng chếhoặc bảo hộ thiết kế bố trí thì chủ sở hữu có quyền lựa chọn để bảo hộ theo cơchế bảo hộ sáng chế hoặc bảo hộ thiết kế bố trí hay theo cơ chế bảo hộ bí mậtkinh doanh Cả hai cơ chế bảo hộ này trong mối tơng quan so sánh với nhauthì phơng thức bảo hộ nào cũng có những u và nhợc điểm riêng của nó Nếubảo hộ theo cơ chế bảo hộ sáng chế hay thiết kế bố trí, chủ sở hữu có thể độcquyền chiếm hữu sáng chế hay thiết kế bố trí đó Mọi hành vi sử dụng sángchế hay thiết kế bố trí sau ngày đợc cấp Bằng bảo hộ (trừ trờng hợp đã cóquyền sử dụng trớc)đều đợc coi là xâm phạm sáng chế hay thiết kế bố trí Nh-

ợc điểm của cơ chế bảo hộ này là chủ sở hữu chỉ đợc độc quyền sử dụng sángchế có thời hạn, sau thời hạn đó, sáng chế hoặc thiết kế bố trí không còn thuộc

độc quyền của chủ sở hữu Nếu chủ sở hữu lựa chọn bảo hộ theo cơ chế bảo

hộ bí mật kinh doanh thì chủ sở hữu có thể độc quyền sở hữu sáng chế haythiết kế bố trí đó cho đến khi nào vẫn còn giữ đợc bí mật Nhợc điểm của ph-

ơng thức bảo hộ này là tính bí mật rất khó đảm bảo Và chủ sở hữu cũngkhông thể ngăn cấm ngời khác thu thập hoặc sử dụng sáng chế hoặc thiết kế

bố trí trong trờng hợp họ độc lập sáng tạo ra sáng chế kể cả trong trờng hợpngời khác tìm ra sáng chế, thiết kế bố trí từ việc phân tích các sản phẩm đợcbán hợp pháp trên thị trờng

Đối với sáng chế hoặc bố trí thiết kế đang trong quá trình nộp đơn xincấp văn bằng bảo hộ mà bị xâm phạm thì đợc bảo hộ theo cơ chế bảo hộ bímật kinh doanh

Nh vậy, theo pháp luật hiện hành mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh

và sáng chế hoặc thiết kế bố trí đã khá rõ ràng và đã có cơ chế để giải quyết sựgiao thoa giữa chúng

1.3.2 Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh với nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp.

Theo quy định tại Điều 4 - Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để

phân biệt hàng hoá dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm đ

hiện bằng hình khối, đờng nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.”

Trang 17

Cả nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp đều là yếu tố bên ngoài sảnphẩm hàng hoá, dịch vụ nhng nó đều thể hiện sự sáng tạo của trí tuệ con ngờinhằm làm nâng cao chất lợng của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.

Nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp muốn đợc bảo hộ đều phải đáp ứngnhững điều kiện nhất định và phải đợc cấp bằng bảo hộ Kể từ khi đợc bảo hộ,chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp phải mô tả công khai cácthông tin liên quan đến nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp đã đợc bảo hộ và

đợc bảo hộ bằng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp

Hiện nay luật thực định và thực tiễn pháp lý Việt Nam cha có quy địnhcũng nh án lệ để về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp đang trong quá trìnhnghiên cứu thử nghiệm Theo tác giả, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp đangtrong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm có thể đợc coi là bí mật kinh doanhcủa doanh nghiệp nếu đợc chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết.Trong trờng hợp có hành vi thu thập, bộc lộ hoặc sử dụng nhãn hiệu, hoặc kiểudáng công nghiệp của chủ thể khác một cách hợp pháp thì có thể coi đó làhành vi xâm phạm bí mật kinh doanh và đợc áp dụng pháp luật bảo hộ bí mậtkinh doanh để giải quyết

Đối với kiểu dáng công nghiệp, trong trờng hợp chủ sở hữu kiểu dángcông nghiệp đã nộp đơn đơn đăng ký sáng chế, thì mọi thông tin trong đơn

đăng ký sáng chế đợc coi là thông tin bí mật và cơ quan nhà nớc có thẩmquyền và ngời có thẩm quyền có nghĩa vụ bảo mật thông tin trong đơn đăng

ký sáng chế điều này có nghĩa là pháp luật đã thừa nhận đơn đăng ký kiểudáng công nghiệp là một bí mật kinh doanh Trong trờng hợp cán bộ, côngchức của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền làm lộ bí mật thông tin trong đơn

mà gây thiệt hại cho ngời nộp đơn thì phảI bồi thờng thiệt hại theo quy địnhcủa pháp luật

1.3.3 Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Theo các công ớc quốc tế về sở hữu trí tuệ cũng nh Luật SHTT ViệtNam hiện hành, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lànhmạnh đợc bảo hộ với t cách là hai đối tợng độc lập, riêng biệt của quyền sởhữu công nghiệp

Với t cách là một loại tài sản trí tuệ và mang lại nhiều lợi ích cho cácchủ thể kinh doanh, bí mật kinh doanh đuợc bảo hộ nhằm thừa nhận cho chủ

sở hữu sự độc quyền khai thác, sử dụng bí mật kinh doanh và chống lại tất cả

Trang 18

các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệthại cho chủ sở hữu.

Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo cho môi trờng kinh doanh lành mạnh,khuyến khích và bảo vệ cạnh tranh bình đẳng, công bằng trong mọi hoạt độngsản xuất, kinh doanh trên thị trờng, bảo đảm lợi ích và quyền cạnh tranh hợppháp của các nhà sản xuất, kinh doanh cũng nh bảo vệ quyền và lợi ích phápcủa ngời tiêu dùng, của Nhà nớc và xã hội pháp luật phải bảo hộ quyền chốngcạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể kinh doanh Sự bảo hộ quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh cho phép chủ thể có thể chống lại mọihành vi cạnh tranh trái với các chuẩn mực thông thờng về đạo đức kinh doanhtrên tất cả các lĩnh vực Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh đợc coi là hành

vi trái với chuẩn mực thông thờng về đạo đực kinh doanh Vì vậy, quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh cũng cho phép các chủ thể chống lại hành

vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh

Nh vậy, có thể nói, cả quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinhdoanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạng đều ghi nhận cho chủ sởhữu quyền chống lại hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhằm mục đíchcạnh tranh không lành mạng Sự bảo hộ nh vậy có thể dẫn đến một vớng mắc:trong trờng hợp có hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh và nhằm mục đíchcạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng cơ chế bảo hộ nào để giải quyết: theoLuật SHTT hay theo Luật cạnh tranh

Pháp luật thực định Việt Nam cha giải quyết vấn đề này một cách rõràng, thống nhất Điều 130 – Luật SHTT khi quy định về các hành vi cạnhtranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp đã không liệt kêhành vi xâm phạm bí mật kinh doanh nhng trong Luật cạnh tranh lại ghi nhậnhành vi xâm phạm bí mật kinh doanh là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Cả hai văn bản này đều là văn bản luật nên có giá trị pháp lý ngang nhau, vìvậy, ngời áp dụng sẽ lúng túng không biết áp dụng theo luật nào

Theo tác giả, về mặt lý thuyết, một hành vi xâm phạm bí mật kinhdoanh nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh (hành vi xâm phạm bí mật

Trang 19

kinh doanh của đối thủ cạnh tranh) có thể bị áp dụng cả cơ chế xử lý của LuậtSHTT và Luật cạnh tranh

1.3.4 Mối quan hệ giữa bí mật kinh doanh với các đối tợng của quyền tác giả.

Quyền tác giả theo nghĩa rộng bảo gồm cả quyền tác giả và quyền liênquan đến quyền tác giả Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối vớitác phẩm do mình tạo ra hoặc sở hữu, bao gồm cả chơng trình máy tính và cơ

sở dữ liệu Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân

đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chơng trình phát sóng, tín hiệu

vệ tinh mang chơng trình mã hoá

Trong mối quan hệ với bí mật kinh doanh, bí mật kinh doanh có thể baogồm cả những chơng trình máy tính hoặc cơ sở dữ liệu hoặc các kết quảnghiên cứu khoa học đang đợc chủ sở hữu giữ bí mật Trờng hợp này, việc ápdụng luật về bí mật kinh doanh để bảo hộ không làm triệt tiêu sự bảo hộ củapháp luật về quyền tác giả

Nếu bí mật kinh doanh là chơng trình máy tính hoặc cơ sở dữ liệu hoặckết quả nghiên cứu khoa học…Hơn nữa,do ngời làm thuê, ngời thực hiện nhiệm vụ đợcgiao có đợc trong khi thực hiện công việc thì bí mật kinh doanh đó thuộc sởhữu của bên thuê hoặc bên giao việc, vì vậy sẽ đợc áp dụng pháp luật bí mậtkinh doanh để bảo hộ cho bên thuê hoặc bên giao việc trừ trờng hợp các bên

có thoả thuận khác; trong trờng hợp quyền tác cũng bị xâm phạm thì ngời làmthuê, ngời thực hiện nhiệm vụ có thể áp dụng luật quyền tác giả để bảo vệquyền tác giả đối với tác phẩm do mình tạo ra

Chơng 2 Những quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu

công nghiệp đối với bí mật kinh doanh

2.1 Các điều kiện để bí mật kinh doanh đợc bảo hộ

2.1.1 Điều kiện chung để bí mật kinh doanh đợc bảo hộ.

Trong thời đại ngày nay, những thông tin là sản phẩm của hoạt động trítuệ con ngời đợc pháp luật bảo hộ Tuy nhiên không phải bất kỳ thông tin nàocũng đợc bảo hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh Sản phẩm trí tuệ chỉ đợcbảo hộ với t cách là bí mật kinh doanh khi nó đáp ứng các điều kiện do pháp

Trang 20

luật quy định Việc tìm hiểu các điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh có ýnghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn

Theo quy định tại Điều 87 – Luật SHTT một thông tin đợc bảo hộ vớidanh nghĩa là một bí mật kinh doanh nếu thông tin đó đáp ứng các điều kiệnsau:

2.1.1.1 Thông tin là bí mật kinh doanh không phải là hiểu biết thông thờng và không dễ dàng có đợc.

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể tíchluỹ cho mình nhiều loại thông tin (kể cả thông tin thu đợc trên thị trờng vàthông tin do mình tạo ra) nhằm đảm bảo cho công việc kinh doanh đạt hiệuquả cao nhất Các thông tin mà các thơng nhân tích luỹ đợc có thể có giá trịhoặc không có giá trị đối với công việc kinh doanh của họ Tuy nhiên, lẽ th-ờng là các thơng nhân chỉ giữ lại những thông tin có lợi cho công việc củamình Sự tích luỹ thông tin này có thể có hoặc không đi kèm với sự bảo mậtthông tin Tuy nhiên, không phải thông tin nào có giá trị, có ích đối với côngviệc kinh doanh của chủ sở hữu cũng đợc bảo hộ với t cách là bí mật kinhdoanh

Với t cách là một đối tợng của quyền sở hữu trí tuệ bí mật kinh doanhchỉ đợc bảo hộ khi nó là sản phẩm của hoạt động trí tuệ Hơn nữa, sản phẩmtrí tuệ này không phải là hiểu biết thông thờng, có nghĩa là biết mà một ngời

có kiến thức trung bình trong lĩnh vực đó không thể biết đợc Mặt khác, đểbiết đợc thông tin đó con ngời phải đầu t về thời gian, nổ lực, kinh nghiệm vàcả tiền bạc mới có thể tạo ra thông tin

Với nghĩa nh vậy kiến thức chung và kiến thức phổ thông có trong cácsách giáo khoa, giáo trình hoặc các sách báo có bán rộng rãi trên thị trờngkhông phải là bí mật kinh doanh

Kiến thức mà bất kỳ một ngời nào quan tâm đến kiến thức đó cũng cóthể dễ dàng tìm thấy trong các nguồn thông tin, t liệu công cộng cũng khôngphải là bí mật kinh doanh

Tuy nhiên, một kiến thức mới đợc tạo ra từ những kiến thức chunghoặc kiến thức phổ thông hoặc tạo ra từ nhiều nguồn thông tin, t liệu côngcộng thể hiện sự nổ lực, công sức và trí tuệ của ngời tạo ra nó cũng có thể đợcbảo hộ với t cách là bí mật kinh doanh

Trên thực tế, điều kiện này là một điều kiện rất khó áp dụng để xem xétmột thông tin có phải là hiểu biết thông thờng hay không hoặc có dễ dàng có

đợc hay không Có nhiều lý do dẫn đến sự khó khăn này Trớc hết, đây là một

Trang 21

điều kiện có tính chất định tính, nó khá chung chung và mơ hồ nên sẽ gây ra

sự khó khăn cho việc áp dụng Hai là, điều kiện này cho phép các thẩm phánhoặc những ngời áp dụng pháp luật xem xét theo ý chí chủ quan của mình vềkhả năng có phải là kiến thức thông thờng hay không và về sự dễ dàng haykhó khăn để có đợc nó Thực tế, các thẩm phán không phải là ngời có kiếnthức sâu rộng trong mọi lĩnh vực để có thể dễ dàng đánh giá một tập hợp kiếnthức có phải là hiểu biết thông thờng hay không Hơn nữa, trình độ các thẩmphán ở nớc ta cha đồng đều giữa các vùng miền khác nhau Vì vậy, khi xemxét điều kiện này dễ gây ra sự không thống nhất trong áp dụng luật

Điều kiện này cũng đợc ghi nhận trong Hiệp định thơng mại Việt Nam

- Hoa Kỳ nhng không đợc quy định tại Hiệp định TRIPs

2.1.1.2 Khi đợc sử dụng sẽ tạo ra lợi thế cho ngời sử dụng hoặc biết

đ-ợc bí mật kinh doanh.

Một trong những đặc điểm cơ bản của bí mật kinh doanh là tính giá trị.Giá trị của bí mật kinh doanh có thể đợc thể hiện trên nhiều khía cạnh khácnhau Tuy nhiên giá trị của bí mật kinh doanh sẽ chẳng là gì cả nếu nó khôngtrực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra cho chủ sở hữu hoặc ngời sử dụng nó một lợi thếnào đó so với các đối thủ cạnh tranh hoặc so với các chủ thể kinh doanh kháctrên thị trờng Chính vì vậy, bí mật kinh doanh chỉ đợc bảo hộ nếu nó tạo ra lợithế cho chủ sở hữu hoặc những ngời biết và sử dụng nó

Lợi thế mà bí mật kinh doanh mang lại có thể là lợi thế trực tiếp hoặcgián tiếp, có thể thấy ngay trớc mắt nhng cũng có thể lợi thế mang tầm chiếnlợc lâu dài Một bí mật kinh doanh về công thức pha chế nớc giải khát, nớchoa, rợu, bia có thể mang lại một lợi thế trực tiếp trên cơ sở chất lợng vợt trộicủa sản phẩm Chẳng hạn công thức pha chế nớc hoa Chanel 5 của Pháp haycông thức pha chế rợu vang Pháp là những ví dụ điển hình về chất lợng vợttrội nhờ bí mật kinh doanh trong công thức pha chế sản phẩm Một bí mậtkinh doanh về nhu cầu, ớc muốn, thói quen tiêu dùng của khách hàng trên thịtrờng có thể làm cho doanh nghiệp bán đợc nhiều hàng hơn và thu đợc lợinhuận cao hơn Một bí mật kinh doanh trong việc khuyếch trơng thơng hiệu

có thể tạo ra một dấu ấn của doanh nghiệp đối với khách hàng, từ đó nâng cao

đợc thị phần của doanh nghiệp Một bí mật kinh doanh trong chiến lợc kinhdoanh có thể tạo ra thói quen, tập quán tiêu dùng của khách hàng đối với hànghoá, sản phẩm, thậm chí có thể tác động đến cả chính sách, pháp luật của nhànớc

Trang 22

Nh vậy, trên thực tế, mỗi bí mật kinh doanh có thể tạo cho chủ sở hữuhoặc những ngời sử dụng nó một hoặc nhiều lợi thế khác nhau Nhng nhìnchung, bí mật kinh doanh có thể tạo ra các loại lợi thế sau:

- Lợi thế về chất lợng của sản phẩm,chất lợng của dịch vụ so với các sảnphẩm, dịch vụ cùng loại;

- Lợi thế về giá thành của sản phẩm, dịch vụ;

- Lợi thế về giá cả của nguyên, nhiên vật liệu đầu vào;

- Lợi thế về thị phần của sản phẩm, dịch vụ;

- Lợi thế về thơng hiệu

- Lợi thế về ấn tợng của doanh nghiệp trên thơng trờng

- Lợi thế trong chiến lợc, chính sách đầu t, sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

- Lợi thế về cơ hội kinh doanh

- Các lợi thế khác

Cả Hiệp định thơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Hiệp định TRIPs khi

đề cập đến những lợi thế mà bí mật kinh doanh mang lại đều sử dụng thuậtngữ “giá trị thơng mại” Thuật ngữ “giá trị thơng mại” bao gồm trong nó cảgiá trị vốn, tài sản, thời gian mà chủ sở hữu đầu t để có đợc bí mật kinh doanhmột cách hợp pháp Vì thế nó rộng hơn và đúng bản chất của bí mật kinhdoanh kinh doanh hơn là sử dụng thuật ngữ “mang lại lợi thế…Hơn nữa,”

2.1.1.3 Đợc chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết.

Một điều kiện khác để bí mật kinh doanh đợc bảo hộ đó là chủ sở hữu

bí mật kinh doanh phải tiến hành các biện pháp bảo mật cần thiết để cho bímật kinh doanh đó không bị tiết lộ và không dễ dàng bị xâm hại

Trên thực tế, các chủ sở hữu bí mật kinh doanh là ngời áp dụng các biệnpháp bảo mật nhằm đảm bảo quyền sở hữu của mình đối với bí mật kinhdoanh và tránh sự xâm phạm Tuy nhiên, các biện pháp bảo mật mà chủ sởhữu áp dụng phải đủ cần thiết nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh của mình Tínhcần thiết của các biện pháp bảo mật cần đợc xem xét trong từng trờng hợp cụthể Một vấn đề cần lu ý để có thể xem xét tính cần thiết của các biện phápbảo mật đã đợc áp dụng đó là mối tơng quan giữa giá trị của bí mật kinhdoanh và những lợi thế mà bí mật kinh doanh mang lại cho chủ sở hữu với cácbiện pháp đã áp dụng Lẽ dĩ nhiên giá trị và lợi thế mà bí mật kinh doanh càngcao thì bí mật kinh doanh càng quan trọng và cần phảI có những biện phápbảo mật đủ chắc chắn để đảm bảo Trong trờng hợp có sự khác nhau giữa giá

Trang 23

trị của bí mật kinh doanh và các biện pháp bảo mật thì hoặc là chủ sở hữu đãkhông nhận thức đợc giá trị và tầm quan trọng của bí mật kinh doanh hoặc là

cố ý đánh lừa các đối thủ cạnh tranh

2.1.2 Các đối tợng không đợc bảo hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh.

Đồng thời với việc quy định các điều kiện chung để một bí mật kinhdoanh đợc bảo hộ thì pháp luật cũng quy định những đối tợng không đợc bảo

hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh cho dù trên thực tế những đối tợng này

có thể đáp ứng đợc những điều kiện bảo hộ nói trên Các thông tin không đợcbảo hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh bao gồm:

- Bí mật về nhân thân;

- Bí mật về quản lý nhà nớc;

- Bí mật về quốc phòng an ninh;

- Thông tin bí mật khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh

Đây là một sự giới hạn phạm vi cần thiết nhằm tránh tạo ra sự trùng lặpchồng chéo trong hệ thống pháp luật đồng thời cũng đảm bảo mục đích lớnnhất của bảo hộ bí mật kinh doanh là bảo hộ các sản phẩm trí tuệ

Mặt khác, theo tinh thần của Điều 8 – Luật SHTT thì bí mật kinhdoanh nếu xâm phạm lợi ích nhà nớc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức cá nhân khác hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật

có liên quan cũng không đợc bảo hộ [1, tr77]

2.2 Căn cứ phát sinh và chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.

2.2.1.Căn cứ phát sinh quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.

Một trong những nguyên tắc tối cao của pháp luật là quyền chủ thể chỉ

đợc bảo hộ nếu quyền chủ thể đó đợc phát sinh, đợc xác lập trên các căn cứhợp pháp Không nằm ngoài nguyên tắc đó, quyền sở hữu công nghiệp đối với

bí mật kinh doanh cũng chỉ đợc bảo hộ nếu nó đợc xác lập trên cơ sở các căn

cứ hợp pháp

Theo quy định tại điểm c - khoản 2 - Điều 6 Luật SHTT thì quyền sở

hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh đợc xác lập trên cơ sở có đợc một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ bảo mật bí mật kinh doanh ” Hoặc Khoản 1 - Điều 753 – Bộ Luật Dân sự quy định: Quyền sở

hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch

Trang 24

tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, quyền đối với giống cây trồng có thể đợc chuyển giao toàn bộ hoặc một phần theo hợp đồng hoặc để thừa kế, kế thừa

Ngoài ra, tại khoản 3 - Điều 121 - Luật SHTT cũng quy định chủ sở

hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có đợc bí mật kinh doanh đó một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh

Nh vậy việc xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh bao gồm hai mặt:một mặt, quyền đó phải đợc xác lập trên các căn cứ hợp pháp; mặt khác, ngaytại thời điểm có đợc bí mật kinh doanh đó chủ sở hữu phải tiến hành các biệnpháp bảo mật

Trên cơ sở quy định của pháp luật và thực tiễn xác lập quyền đối với bímật kinh doanh ở nớc ta cũng nh các nớc trên thế giới, quyền chủ sở hữu đốivới bí mật kinh doanh đợc phát sinh trên cơ sở các căn cứ sau:

a) Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trên cơ

sở sự kiện sáng tạo.

Cũng giống nh việc xác lập quyền sở hữu đối với các loại tài sản hữuhình khác, quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ nói chung và bí mật kinhdoanh nói riêng đợc xác lập trớc hết dựa trên căn cứ “tạo ra tài sản” ở thời kỳcộng sản nguyên thủy, do hoàn cảnh lịch sử, sản phẩm lao động do cá nhânlàm ra nhng thuộc sở hữu chung của cả cộng đồng Khi xã hội phát triển đếnmột mức độ nhất định, con ngời bắt đầu thừa nhận một nguyên tắc bất cứ tàisản gì là sản phẩm lao động của ngời nào thì ngời đó làm chủ sở hữu Ngời lao

động có toàn quyền trong việc bán, tặng cho, trao đổi, hay sử dụng tài sản củamình Nguyên tắc này đúng cho cả tài sản hữu hình và vô hình Ngời lao độngtrong quá trình lao động sáng tạo của mình nếu thu đợc các tri thức, kinhnghiệm hay kỹ năng thì cũng có quyền đối với các sản phẩm trí tuệ đó Ngờilao động tri óc cũng phải đợc sở hữu thành quả từ hoạt động trí óc của mình

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh là loại hoạt động có những đặc thùnhất định Chỉ có những chủ chủ thể thoả mãn những điều kiện do pháp luậtquy định mới đợc thực hiện hoạt động kinh doanh, gọi là chủ thể kinh doanh.Chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Cá nhân hoặc phápnhân kinh doanh này có thể thuê mớn ngời lao động hoặc một chủ thể kinhdoanh khác để thực hiện các hoạt động của mình Trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ do cá nhân hoặc pháp nhân giao hoặc thuê, ngời lao động hoặc chủthể kinh doanh đợc thuê mớn có thể tạo ra bí mật kinh doanh Trong trờng hợp

này, Luật SHTT quy định Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện

Trang 25

nhiệm vụ đợc giao có đợc trong khi thực hiện công việc đợc thuê hoặc đợc giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao, trừ trờng hợp các bên

có thoả thuận khác.”

Trên thực tế, một bí mật kinh doanh có thể do nhiều chủ thể tạo cùngtạo ra Bởi vì đặc thù của hoạt động lao động và hoạt động kinh doanh là cóthể có sự tham gia của rất nhiều chủ thể khác nhau Trong trờng hợp nhiều ng-

ời cùng lao động hoặc nhiều chủ thể kinh doanh cùng tham gia một hoạt độngkinh doanh và mỗi chủ thể đều có những đóng góp nhất định trong việc tạo rahoặc sử dụng bí mật kinh doanh thì về nguyên tắc là các chủ thể đều có quyềnxác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh đó Pháp luật Việt Nam cha

có quy định về đồng sở hữu đối với bí mật kinh doanh Nhằm đảm bảo quyềnchủ sở hữu, thực tiễn Việt Nam và thế giới, các chủ thể này thờng ký kết cácthoả thuận bảo mật để đảm bảo quyền chủ sở hữu của mình Trong trờng hợpcác bên không có thoả thuận bảo mật thì nếu một bên bộc lộ bí mật kinhdoanh đó sẽ không có căn cứ pháp lý để áp dụng các biện pháp chế tài mặc dùviệc bộc lộ đó có thể gây thiệt hại cho các chủ thể khác để khắc phục sự thiếuhụt này pháp luật Việt Nam cần có quy định về việc đồng sở hữu bí mật kinhdoanh và giới hạn quyền của các đồng sở hữu đối với bí mật kinh doanh

b) Xác lập quyền sở hữu bí mật kinh doanh đợc chuyển nhợng thông qua hợp đồng chuyển nhợng bí mật kinh doanh.

Một trong những đặc tính cơ bản của bí mật kinh doanh là có giá trị

th-ơng mại, mang lại lợi thế cạnh tranh cho ngời biết đợc hoặc sử dụng nó Chínhvì vậy, trong hoạt động kinh doanh chủ sở hữu bí mật kinh doanh cũng có thểchuyển nhợng bí mật kinh doanh mà mình sở hữu cho ngời khác Điều nàyvừa mang lại lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu vừa mang lại ích cho ngời nhậnchuyển nhợng

Việc chuyển nhợng quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinhdoanh làm chấm dứt quyền sở hữu của bên chuyển nhợng và làm phát sinhquyền sở hữu đối với bên nhận chuyển nhợng

c) Xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh đợc thừa kế.

Trong trờng hợp cá nhân là chủ sở hữu của bí mật kinh doanh chết,quyền sở hữu bí mật kinh doanh đợc dịch chuyển cho ngời thừa kế Việc dịchchuyển này có thể theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Trong trờnghợp đợc dịch chuyển theo di chúc, ngời đợc chỉ định trong di chúc đợc xác lậpquyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh kể từ thời điểm mở thừa kế Trong tr-ờng hợp cá nhân là chủ sở hữu bí mật kinh doanh chết mà không để lại thừa kế

Trang 26

thì về nguyên tắc, tất cả những ngời có quyền hởng thừa kế theo pháp luật củangời chết đều có quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh đó Các chủ sở hữu

có quyền thoả thuận để cùng sử dụng bí mật kinh doanh hoặc đợc hởng thừa

kế bằng cách nhận một phần giá trị của bí mật kinh doanh quy thành tiền

Ng-ời đợc xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh có quyền có nghĩa vụphải trả tiền cho ngời thừa kế khác

d) Xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh trong trờng hợp kế thừa.

Trong quá trình kinh doanh, các pháp nhân kinh doanh có thể thực hiệnviệc tổ chức lại pháp nhân nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệuquả hơn Việc tổ chức lại pháp nhân đợc thực hiện bằng các hình thức nh:chia, tách, sáp nhập, hợp nhất pháp nhân

Trong trờng hợp một pháp nhân đang hoạt động chia thành hai hoặcnhiều pháp nhân cùng loại, thì các pháp nhân mới đợc chia có quyền xác lậpquyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh của pháp nhân bị chia theo quyết địnhchia pháp nhân (theo quyết định của Hội đồng thành viên nếu pháp nhân bịchia là công ty TNHH; theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông nếu phápnhân bị chia là công ty Cổ Phần…Hơn nữa,) Nếu hợp theo quyết định chia pháp nhân,các pháp nhân mới đều đợc kế thừa bí mật kinh doanh của pháp nhân bị chiathì các pháp nhân mới là đồng chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh đó

Trong trờng hợp một pháp nhân mới đợc tách ra khỏi một pháp nhân

đang hoạt động, thì pháp nhân mới này có quyền xác lập quyền sở hữu đối với

bí mật kinh doanh do pháp nhân đang hoạt động sở hữu theo quyết định táchpháp nhân

Trong trờng hợp một pháp nhân đang hoạt động sáp nhập vào một phápnhân đang hoạt động khác, thì pháp nhân đợc sáp nhập có quyền xác lậpquyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh mà pháp nhân bị sáp nhập sở hữu

Trong trờng hợp hai hoặc nhiều pháp nhân đang tồn tại hợp nhất thànhmột pháp nhân mới thì pháp nhân mới này có quyền xác lập quyền sở hữu đốivới bí mật kinh doanh của các pháp nhân bị hợp nhất

e) Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong các trờng hợp khác.

Ngoài các căn cứ nói trên quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinhdoanh cũng còn đợc xác lập cho các tổ chức hoặc cá nhân nếu việc tìm ra bímật kinh doanh bằng các cách thức hợp pháp khác:

Trang 27

(i) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh có thể đợc xác

lập cho các cá nhân hoặc pháp nhân nếu cá nhân hoặc pháp nhân đó biết đợc

bí mật kinh doanh đợc từ việc phân tích ngợc các sản phẩm đợc sản xuất bằngcách áp dụng bí mật kinh doanh và đợc bán hợp pháp trên thị trờng với điềukiện ngời phân tích ngợc không có thoả thuận khác với chủ sở hữu hoặc ngờibán hàng

(ii) Một pháp nhân hoặc cá nhân có thể xác lập quyền sở hữu đối với

một bí mật kinh doanh từ một bên thứ ba nếu pháp nhân hoặc cá nhân đókhông biết và pháp luật cũng không bắt buộc phải biết đó là bí mật kinh doanhcủa ngời khác

(iii) Trong trờng hợp một cá nhân hoặc pháp nhân biết đợc một bí mật

kinh doanh thông qua các hợp đồng kinh doanh hợp pháp với chủ sở hữu bímật kinh doanh thì cũng đợc xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh

do mình biết đợc

Việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theocách (ii) và (iii) hoàn toàn phù hợp với Hiệp định TRIPs và pháp luật một sốnớc khác Theo Hiệp định TRIPs việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đốivới bí mật kinh doanh nói trên hoàn toàn không “trái với hoạt động thơng mạitrung thực” Hoặc theo pháp luật của Nhật một cá nhân hoặc pháp nhân thuthập đợc bí mật kinh doanh thông qua hợp đồng kinh doanh hợp pháp thìkhông phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi thu thập đó (Một pháp nhânhoặc cá nhân cũng có thể xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh màcá nhân hoặc pháp nhân đó thu thập đợc từ việc phân tích ngợc các sản phẩm

đợc sản xuất bằng cách áp dụng bí mật kinh doanh và đợc bán hợp pháp trênthị trờng

2.2.2 Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.

Pháp luật Việt Nam không quy định căn cứ chấm dứt quyền sở hữucông nghiệp đối với bí mật kinh doanh Trên cơ sở các quy định pháp luật hiệnhành, pháp luật Việt Nam thừa nhận có ba căn cứ để làm chấm dứt quyền sởhữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh:

Một là, chủ sở hữu chuyển nhợng quyền sở hữu công nghiệp bí mậtkinh doanh cho chủ thể khác Khi bí mật kinh doanh đợc chuyển nhợng mộtcách hợp pháp, thì quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh đợcchuyển từ ngời chuyển nhợng sang ngời nhận chuyển nhợng Việc xác lập

Trang 28

quyền sở hữu ở ngời nhận chuyển nhợng sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu củabên chuyển nhợng.

Hai là, bí mật kinh doanh không còn tính bí mật Bí mật kinh doanh chỉ

đợc bảo hộ khi nó còn tính bí mật Trong trờng hợp bí mật kinh doanh đã đợcchủ sở hữu hoặc ngời thứ ba bộc lộ công khai ra khu vực công cộng thì nókhông còn đợc coi là của riêng ai Vì vậy, quyền sở hữu công nghiệp đối với

bí mật kinh doanh đó của chủ sở hữu cũng chấm dứt Có học giả cho rằng: cáigì thuộc về công cộng thì không thể là độc quyền sở hữu của bất kỳ ai [14]

Ba là, bí mật kinh doanh không còn lợi thế kinh doanh nữa Bí mật kinhdoanh chỉ đợc bảo hộ khi nó mang lại một lợi thế nhất định cho chủ sở hữu.Trong trờng hợp bí mật kinh doanh không còn lợi thế kinh doanh thì quyền sởhữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh cũng chấm dứt

2.3 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với Bí Mật Kinh Doanh

Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tợng quyền sở hữucông nghiệp nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng là vấn đề đặc biệt quantrọng của pháp luật về sở hữu trí tuệ Thông qua quy định pháp luật về nộidung quyền sở hữu đối với các sản phẩm trí tuệ đó mà các chủ sở hữu có thểxác định đợc phạm vi, giới hạn các xử sự đợc phép của chủ sở hữu Đối vớingời không phảI là chủ sở hữu thì thông qua nội dung quyền sở hữu có thể xác

định đợc nghĩa vụ phải tôn trọng quyền của chủ sở hữu, giới hạn xử sự củamình để không xâm phạm quyền của chủ sở hữu

Trớc khi có luật SHTT 2005, nội dung quyền sở hữu công nghiệp đợcxác định cho từng đối tợng riêng lẻ Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đốivới bí mật kinh doanh đợc quy định tại Khoản 1- Điều 8 – Nghị Định

54/2000/NĐ-CP theo đó: “ Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bí

mật kinh doanh có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật

Theo quy định trên, chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bímật kinh doanh có các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt nh là quyền đốvới tài sản hữu hình Điều này không đúng cả về mặt lý luận và thực tiễn Bởivì bí mật kinh doanh là một sản phẩm của hoạt động trí tuệ Sản phẩm trí tuệnày có thể đợc thể hiện dới các dạng vật chất hữu hình nh thể hiện bằng chữviết, ký hiệu trên các giấy tờ tài liệu, thể hiện bằng các công thức, ảnh chụp,bản vẽ, nguyên liệu vật liệu v.v…Hơn nữa,bí mật kinh doanh cũng có thể tồn tại đợc ởdạng phi vật thể Ví dụ nó thể hiện dới dạng kỹ năng và kinh nghiệm và trí

Trang 29

tuệ của một kỹ s [3, tr 174] Chính vì thế quyền chiếm hữu bí mật kinh doanhkhông thể thực hiện đợc ở đây, nhà làm luật đã đồng nhất việc chiếm hữu bímật kinh doanh với việc chiếm hữu những hình thức hữu hình chứa đụng bímật kinh doanh bí mật kinh doanh là những thông tin, kiến thức, kỹ năng,kinh nghiêm, là trí tuệ chứ không phải là các phơng tiện để thể hiện trí tuệ đó.

Để khắc phục hạn chế trên và để tạo ra sự phù hợp giữa nội dung quyền

sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh và quyền sở hữu công nghiệp

đối với các đối tợng khác, Luật SHTT đã quy định nội dung quyền sở hữu trítuệ chung cho các đối tợng quyền sở hữu công nghiệp

Theo Khoản 1 - Điều 123 – Luật SHTT, chủ sở hữu đối tợng sở hữucông nghiệp nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng có các quyền tài sảnsau:

2.3.1 Quyền sử dụng và cho phép sử dụng bí mật kinh doanh

Quyền sử dụng bí mật kinh doanh là một quyền quan trọng đối với chủ

sở hữu Bỡi lẽ, quyền sử dụng bí mật kinh doanh sẽ mang lại lợi ích một cáchtrực tiếp cho chủ sở hữu, bù đắp lại các chi phí, sự đầu t về vốn hoặc thời gian

mà chủ sở hữu phải bỏ ra tạo ra hoặc có đợc bí mật kinh doanh

Theo khoản 4 - Điều 124 – Luật SHTT thì chủ sở hữu đợc quyền sửdụng bí mật kinh doanh thông qua việc thực hiện một, một số hoặc tất cả cáchành vi sau đây:

“a) áp dụng bí mật kinh doanh để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ,

thơng mại hàng hoá;

b) Bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu các sản phẩm

đ-ợc sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh.”

Nh vậy, quyền sử dụng của chủ sở hữu bí mật kinh doanh bao gồm việc

áp dụng bí mật kinh doanh và quyền thực hiện các hành vi thơng mại liênquan đến việc cung ứng sản phẩm đợc sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh

ra thị trờng

Chủ sở hữu bí mật kinh doanh có toàn quyền trong việc áp dụng bí mậtkinh doanh Chủ sở hữu có quyền lựa chọn áp dụng bí mật kinh doanh để sảnxuất loại sản phẩm nào, nhiều hay ít, bán ở đâu; cung ứng dịch vụ ở đâu, cho

ai v.v…Hơn nữa, Đồng thời chủ sở hữu cũng có quyền quảng cáo về việc đã áp dụng bímật kinh doanh trong việc sản xuất sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ nhằmthúc đẩy việc bán sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ do mình sản xuất hoặccung ứng nếu hàng hoá hoặc dịch vụ đó đợc sản xuất hoặc cung ứng có ápdụng bí mật kinh doanh

Ngày đăng: 23/06/2023, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Kamil Idris, Sở hữu trí tuệ, một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu trí tuệ, một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế
Tác giả: Kamil Idris
Nhà XB: Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
3. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới,Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Cục sở hữu trí tuệ dịch và phát hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sở hữu trí tuệ
Tác giả: Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
Nhà XB: Cục sở hữu trí tuệ
4. TS. Lê Nết, Tập bài giảng sở hữu trí tuệ, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng sở hữu trí tuệ
Tác giả: TS. Lê Nết
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
5. GS. TS. Witold Wolodkiewicz và GS. TS Maria Zablocka, Luật La Mã Institutiones (1999), TS Lê Nết dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật La Mã Institutiones
Tác giả: Witold Wolodkiewicz, Maria Zablocka
Nhà XB: TS Lê Nết
Năm: 1999
6. TS. Ingo Mêitenger, Bảo hộ thông tin bí mật, Tài liệu hội thảo 2005, Cục Sở hữu trí tuệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ thông tin bí mật
Tác giả: TS. Ingo Mêitenger
Nhà XB: Cục Sở hữu trí tuệ
Năm: 2005
7. TS Đào Minh Đức, Vận dụng pháp luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam về bảo hộ bí mật kinh doanh tại doanh nghiệp, Tài liệu hội thảo 2005, Cục Sở hữu trí tuệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng pháp luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam về bảo hộ bí mật kinh doanh tại doanh nghiệp
Tác giả: TS Đào Minh Đức
Nhà XB: Cục Sở hữu trí tuệ
Năm: 2005
8. Cục sở hữu trí tuệ, Bảo hộ bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, thực trạng và triển vọng, Tài liệu hội thảo 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, thực trạng và triển vọng
Tác giả: Cục sở hữu trí tuệ
Nhà XB: Tài liệu hội thảo
Năm: 2005
9. Nguyễn Thanh Tâm, Quyền sở công nghiệp dới góc độ thơng mại, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ Luật học, Trờng Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở công nghiệp dới góc độ thơng mại, những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Nhà XB: Trờng Đại học Luật Hà Nội
10. Đặng Thị Hoài Thu, Thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam trớc yêu cầu hội nhập WTO, Luận văn thạc sĩ luật học, Trờng Đại học Luật Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam trớc yêu cầu hội nhập WTO
Tác giả: Đặng Thị Hoài Thu
Nhà XB: Trờng Đại học Luật Hà Néi
11. TS Nguyễn Thị Quế Anh, Bí mật kinh doanh và các tiêu chí bảo hộ, Tạp chí thơng mại số 23/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí mật kinh doanh và các tiêu chí bảo hộ
Tác giả: TS Nguyễn Thị Quế Anh
Nhà XB: Tạp chí thơng mại
Năm: 2003
12. Ths.Kiều Thị Thanh & Ths.Bùi Thị Thanh Hằng, Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, Tạp chí luật học số 3/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
Tác giả: Ths.Kiều Thị Thanh, Ths.Bùi Thị Thanh Hằng
Nhà XB: Tạp chí luật học
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w