1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi Dưỡng Tư Duy Logic Qua Môn Cho Hs Lớp 3.Docx

101 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bồi Dưỡng Tư Duy Logic Qua Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 3
Chuyên ngành Toán
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2022 - 2023
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 474,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Đề tài Người thực hiện Người thực hiện Năm học 2022 2023 Năm học 2022 2023 MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5 DANH MỤC CÁC BẢNG 6 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 7 MỞ ĐẦU 8 2 1 Lí do chọn đề tài 8 2 Mục đích[.]

Trang 2

NỘI DUNGCHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN1.1 Nhiệm vụ của phân môn Toán trong chương trình tiểu học lớp 3 14

1.2.4 Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi Tiểu học ảnh hưởng đến quá trình

1.3 Khảo sát thực trạng bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh lớp 3 thông

Trang 3

1.3.4.1 Kết quả khảo sát qua phiếu 24

CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC DẠY HỌC TOÁN LỚP 3

Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh suy luận bằng cách phân chia hợp lý

những trường hợp riêng biệt rồi hợp chúng lại; tổng quát hóa, trừu tượng

Giúp học sinh biết tìm ra cách giải bằng việc phân tích từ bài toán phức tạp sang bài toán đơn giản quen thuộc, rồi tổng hợp lại kết quả Bồi dưỡng khả

Trang 4

năng tổng quát hóa, trừu tượng hóa các đối tượng riêng lẻ thành một tập

Biện pháp 4: Tập cho học sinh sử dụng chính xác ngôn ngữ toán học và lập

Rèn luyện cho học sinh thói quen sử dụng chính xác ngôn ngữ toán học,

biết trình bày lập luận của mình một cách sáng tỏ, rành mạch, logic bằng

CHƯƠNG 3THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.2.5.3 Kết luận chung về kết quả thực nghiệm sư phạm 73

Trang 5

3.3 Tiểu kết chương 3 75

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

3 Bảng 3.3 So sánh kết quả kiểm tra về tư duy logic của học sinh sau

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ: 3.1 Kết quả sau thực nghiệm của học sinh (theo tỉ lệ %) 72

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ xa xưa, khi loài người còn săn bắn để tự kiếm thức ăn và nhặt hái hoa quả,

họ có nhu cầu đếm đề biết dự trữ thức ăn, hoặc chuẩn bị dụng cụ lao động đủ cho sốngười,… từ đó các số tự nhiên ra đời Do nhu cầu đo đạc, phân chia đất đai sau mỗimùa lũ lụt ở song Nile (Ai Cập) đã thúc đẩy cho hình học phát triển Động lực đểthúc đẩy sự phát triển trong môn Toán là đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống.Ngày nay, khái niệm dạy học toán không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức,rèn luyện kỹ năng tính toán thông thường mà đó còn đòi hỏi sự rèn luyện cho họcsinh các kỹ năng, kỹ xảo, hình thành – phát triển các phẩm chất trong nhân cách vàhơn thế nữa là việc phát triển năng lực trí tuệ mà đặc trưng là khả năng tư duy Điều24.2 trong Luật Giáo Dục đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từnglớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiếnthức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, sự hứng thú học tậpcho học sinh” Bên cạnh đó, Nghị quyết TW2 khóa VIII nhận định: “Phải đổi mớiphương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện hìnhthành nếp tư duy sáng tạo của người học.” Chính vì lẽ đó mà việc phát triển ttư duyđóng vai trò quan trọng hơn cả Các em được bồi dưỡng tư duy đồng nghĩa với việcđược phát triển trí thông minh, trở nên linh hoạt hơn khi tiếp xúc với các vấn đềtrong cuộc sống hằng ngày

Xuất phát từ quan điểm khoa học về đối tượng của toán học, Mác và Ăng –ghen đã khẳng định rằng: Vai trò của toán học không tách rời khỏi những nhu cầuhoạt động thực tiễn của con người Toán học không chú ý các đối tượng tồn tại bênngoài các sự vật, hiện tượng cảm tính mà nghiên cứu các mối quan hệ, đặc tính vốn

có trong mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực Bộ môn toán có quan hệchặt chẽ với logic học, quá trình dạy học toán thực chất là tổ chức cho học sinh

Trang 10

nhận thức các quy luật tư duy, từ thực tiễn đến lí luận, từ đơn giản đến phức tạp, từngoài vào trong,…

Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việc phát triển tư duy ở mộtđứa trẻ, như Piaget đã chỉ ra: Một đứa trẻ chỉ có thể học được điều thích hợp vớigiai đoạn tư duy hiện có Ông cho rằng mỗi vấn đề đều có giải pháp, nhưng điềunày lại đòi hỏi hàng loạt các quy trình Việc vận dụng tất cả khả năng của một người

để giải quyết vấn đề gọi là tư duy logic

Thang phân loại tư duy của Bloom đã đƣợc ứng dụng rộng rãi trong việc thiết

kế chương trình học, mục tiêu học tập, kiểm tra, đánh giá, … Để đánh giá năng lực

tƣ duy của người học, sáu cấp độ sau đây đã được cập nhận, bao gồm: Ghi nhớ– Hiểu – Áp dụng – Phân tích – Đánh giá – Sáng tạo

Để cụ thể hóa và mở rộng tƣ duy, chúng ta có thể sử dụng bản đồ tư duy.Theo như Tony Buzan quan niệm: “Bản đồ tƣ duy là biểu hiện của tư duy mở rộng,cho nên nó là chức năng tự nhiên của tư duy Nó là kĩ thuật đồ họa đóng vai tròchiếc khóa vạn năng để khai thác tiềm năng của bộ não Bản đồ tư duy gồm 4 đặcđiểm chính, đó là: đối tượng nhận thức được tóm lược trong một hình ảnh trung tâm;

từ hình ảnh trung tâm, chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh; cácnhánh được cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết.Những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết với các nhánh có thứbậc cao hơn; các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên kết nhau.”[2] Về hình thức,các bản đồ tư duy thường sử dụng màu sắc, có cùng cấu trúc cơ bản được phát triểnrộng ra từ một trung tâm, dùng các đường thẳng hoặc cong, các biển tượng, … Bản

đồ tư duy giúp quá trình tư duy được sáng tỏ, logic, toàn diện, … và giúp ghi nhớ tốthơn

Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng con người có khả năng họctập suốt đời và khả năng trí não lớn hơn họ nghĩ Alfred Binet đã tổng hợp kết quảnghiên cứu của hàng trăm trẻ em gặp khó khăn trong học tập và đưa ra kết luận:

“Thông qua rèn luyện, đào tạo, và trên hết là với phương pháp hợp lý, chúng ta có

Trang 11

thể nâng cao khả năng tập trung, trí nhớ, óc phán xét và trở nên thông minh hơntrước.”[3] Không dừng lại ở những khả năng bẩm sinh, tư duy hoàn toàn có thểđược phát triển nếu được nuôi dưỡng bằng môi trường, phương pháp phù hợp, sự cốgắng, nỗ lực,…

Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cũng các nghiên cứu về việc rènluyện, phát triển tư duy cho học sinh trong môn Toán như: Vũ Quốc Chung, NguyễnVăn Thuận, Chu Cẩm Thơ, Trần Đức Chiển, … Nghiên cứu về việc xây dựng câuhỏi, bài tập có các tác giả như Tôn Thân, Nguyễn Thị Kim Thoa, Nguyễn Kính Đức,Khúc Thành Chính, Nhìn chung, các tác giả đã trình bày về các khía cạnh nhưđiều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học, khai thác bài toán, nghiên cứu các loạihình tư duy như logic, sáng tạo, phê phán,…; Nghiên cứu đề xuất các biện pháp đểbồi dưỡng, phát triển năng lúc tư duy cho học sinh thông qua các nội dung dạy họctoán ở các cấp học

Tư duy logic là một kĩ năng không thể thiếu để phát triển từ bậc tiểu học đếnđại học Trong nghiên cứu của mình, Akhsanul Im’am đã chỉ ra rằng: Thông quahình học, học sinh có thể học cách giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng một loạtcác hoạt động có trật tự và các lí do (cơ sở) tốt trong việc đưa ra các phát biểu bằngcách dự trên các kiến thức đã được học Điều này góp phần rèn luyện cũng nhưphát triển tư duy logic Theo Suleyman YAMAN tác động của dạy học giải quyếtvấn đề tác động rất tốt đến việc rèn luyện và phát triển tư duy logic Với kĩ năng tưduy logic, người học giải quyết vấn đề bằng cách thực hiện các hoạt động trí óchoặc các quy tắc khác nhau thông qua trừu tượng hóa hoặc khái quát hóa Chínhnhờ phương pháp dạy học giải quyết vấn đề này học sinh có thể hiểu các khái niệmmột cách logic và có khả năng áp dụng giải quyết vấn đề một cách hợp lý theo mộtmạch liên kết kiến thức trước và sau trong quá trình học

Như vậy, có thể nói trên thế giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu về tư duy,đặc biệt là tư duy logic tác động đến học sinh trong quá trình học tập để phát triển

Trang 12

năng lực cho học sinh đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến Điều này chứng

tỏ tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy logic cho học sinh

Nội dung môn toán ở Tiểu học là những kiến thức mở đầu của toán học, tuyđơn giản nhưng lại là những kiến thức cơ bản và nền tảng cho cả quá trình học tậptiếp tục sau này đối với mỗi học sinh tiểu học Bên cạnh đó, khi tiếp xúc với môitrường tiểu học, các em phải chuyển từ hoạt động chơi là chủ đạo sang hoạt độngchủ đạo là học tập Quá trình dạy học toán tiểu học đi từ tư duy trực quan dần dầnchuyển sang tư duy trừu tượng Ở đối tượng các em học sinh lớp 3 – lứa tuổi chuyểnmình từ tư duy trực quan sang tư duy trừu tượng, đây là giai đoạn quan trọng đánhdấu sự phát triển của tư duy nên đòi hỏi người giáo viên phải nhận thức đúng đắn vềvai trò của cả thầy và trò, nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của các em từ đó có cácbiện pháp để mang lại hiệu quả học tập cao nhất, hình thành và nuôi dưỡng óc tưduy, giúp các em không chỉ giải quyết các bài toán mà còn dùng tư duy giải quyếtcác vấn đề trong cuộc sống một cách khoa học, hợp lý Nhận thức được tầm quantrọng của việc bồi dưỡng tư duy, cụ thể là tư duy logic trong việc dạy học toán ở lớp

3, nay tôi chọn đề tài “Một số biện pháp bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh

thông qua dạy học Toán 3” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình

nhằm góp phần vào việc nghiên cứu cơ sở khoa học về vấn đề bồi dưỡng tư duylogic cho học sinh cấp tiểu học hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh thông quachương trình toán lớp 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

− Hệ thống hóa các cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

− Khảo sát thực trạng bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh thông qua việc dạy học Toán lớp 3

Trang 13

− Đề xuất các biện pháp bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh lớp 3 thông quamôn Toán.

− Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi quy trìnhbước đầu của các biện pháp đề xuất cho học sinh thông qua việc sử dụng hệ thốngbài tập theo chương trình Toán 3

4 Giả thuyết nghiên cứu

− Nếu đề xuất đƣợc các biện pháp bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh thôngqua dạy học Toán 3 đảm bảo tính khoa học, phát huy khả năng suy luận, trình bày,lập luận chính xác, hợp lý trong học tập thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy họctoán nói chung và tư duy logic của học sinh nói riêng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

− Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp bồi dưỡng tư duy logic cho học sinhthông qua việc dạy học Toán lớp 3

− Phạm vi nghiên cứu: Bồi dưỡng tư duy logic trong quá trình dạy học Toán ởlớp 3

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu và những vấn đề có

liên quan nhằm xác lập cơ sở lí luận của đề tài

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, phỏng vấn, trao đổi,

lấy ý kiến chuyên gia, nghiên cứu sản phẩm giáo dục, thực nghiệm sư phạm nhằmchứng minh cho giả thuyết khoa học và tính đúng đắn của đề tài

Phương pháp thống kê toán học: Thu thập và xử lý, đánh giá số liệu: Tính tỉ

lệ phần trăm, giá trị trung bình

Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm, kiểm tra, đánh

giá kết quả thực nghiệm

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Nhiệm vụ của phân môn Toán trong chương trình tiểu học lớp 3

Môn Toán ở Tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh:

- Hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, đơn giản có nhiều ứng dụngtrong đời sống về số học: cách đọc, viết, so sánh các số tự nhiên

- Có những hiểu biết ban đầu, thiết thực nhất về các đại lượng cơ bản như: độdài, khối lượng, thời gian, diện tích, tiền Việt Nam và một số đơn vị đo thông dụngcủa chúng Biết sử dụng các dụng cụ để thực hành đo lường, biết ước lượng các số đođơn giản

- Rèn luyện để nắm chắc các kỹ năng thực hành tính nhẩm, tính viết về bốnphép tính với các số tự nhiên, số đo đại lượng

- Biết nhận dạng và bước đầu biết phân biệt một số các hình học thường gặp.Biết tính chu vi, diện tích, biết sử dụng các dụng cụ đơn giản để đo và vẽ hình

- Biết cách giải và cách trình bày bài giải với những bài toán có lời văn, nắmchắc, thực hiện đúng quy trình bài toán

- Thông qua các hoạt động học tập toán để phát triển đúng mức một số khảnăng trí tuệ và thao thác tư duy quan trọng như: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừutượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa,…

- Hình thành tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, cókiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý trí vượt khó khăn, cẩn thận,kiên trì

Trang 16

1.2 Một số vấn đề về tư duy, tư duy logic

1.2.1 Tư duy là gì?

Theo từ điển Triết học (nhà xuất bản Tiến Bộ, Matxcova, 1986) thì tư duy làsản phẩm cao nhất của não bộ, phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các kháiniệm, phán đoán, suy luận Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xãhội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện nhữngmối quan hệ của thực tại [22]

Còn X.L.Rubinstein thì phát biểu rằng: “Tư duy – đó là sự khôi phục trong ýnghĩ của chủ thể về khách thể với mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tưliệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể.” [7]

Theo giáo trình tâm lý học của Giáo sư Phạm Minh Hạc thì: Tư duy là mộtquá trình phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bêntrong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước

đó chủ thể nhận thức chưa biết [10]

Trong từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học do tác giả Hoàng Phê chủbiên định nghĩa : Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bảnchất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng,khái niệm phán đoán và suy lý [16]

Hay tác giả Mai Hữu Khuê đã dựa trên mối liên hệ của các sự vật hiện tượngtrong thế giới khách quan mà cho rằng: “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh nhữngmối liên hệ và quan hệ giữa các đối tượng hay các hiện tượng của hiện thực kháchquan.” [14] Đồng quan điểm,còn có các tác giả như Trần Minh Đức, Nguyễn QuangUẩn, Hoàng Mộc Lan, cũng cho rằng: “Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánhnhững thuộc tính của bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sựvật hiện tượng mà trước đó ta chưa biết.” [17]

Mặc dù được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng các quan niệm trên đãnêu lên bản chất của tư duy, đó là: Tư duy là quá trình cá nhân thực hiện các thao

Trang 17

tác trí tuệ nhất định để giải quyết vấn đề hay nhiệm vụ đặt ra cho họ Tư duy là mộtquá trình nhận thức bậc cao có ở con người phản ánh các thuộc tính bên trong, bảnchất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tư duy nảysinh trong hoạt động xã hội, là sản phậm hoạt động xã hội: Có nảy sinh, có diễnbiến và có kết thúc Tư duy là một quá trình vận động phức tạp của ý nghĩa từ cái đãbiết đến cái phải tìm, từ những sự kiện đến những khái quát, kết luận, giải pháp Nódiễn ra trên cơ sở những thao tác tư duy: So sánh, phân tích và tổng hợp, trừu tượnghóa, khái quát hóa,…Kết quả của tư duy là sự nhận thức về một đối tượng nào đó ởmức độ cao hơn, sâu sắc hơn.

1.2.2 Tư duy logic là gì?

Dựa trên phương diện lịch sử và phát triểu tư duy, đa số các nhà nghiên cứuđều phân chia tư duy thành ba loại như sau: Tư duy trực quan hành động, tư duytrực quan hình ảnh và tư duy trừu tượng (hay còn gọi là tư duy logic)

Logic hay luận lý học, từ tiếng Hy Lạc cổ điển Logos, nghĩa nguyên thủy là

từ ngữ hoặc điều đã được nói Nhưng trong nhiều ngôn ngữ Châu Âu đã trở thành

có ý nghĩa là suy nghĩa hoặc lập luận hay lý trí

Có thể hiểu tư duy logic là khả năng tối ưu hóa sự phát triển cá nhân và khảnăng hoạch định tổ chức công việc một cách hiệu quả Đây là tư duy về mối quan hệnhân quả mang tính tất yếu, tính quy luật Vì vậy các yếu tố, đối tượng trong tư duylogic bắt buộc phải có quan hệ với nhau, trong đó có yếu tố là nguyên nhân, là tiền

đề, yếu tố còn lại là kết quả, kết luận

Tư duy logic là một phần quan trọng trong quá trình tư duy của con ngườigiúp cho chúng ta có khối kiến thức có hệ thống, quan hệ chặt chẽ với nhau, làmđộng lực cho tư duy được phát triển mạnh mẽ, chống lười tư duy

Tư duy logic được các nhà nghiên cứu giáo dục gọi với các tên khác là tưduy trừu tượng, tư duy lý luận hay là tư duy lý thuyết Tư duy trừu tượng phản ánhnhững quy luật hay là tư duy lý thuyết Tư duy trừu tượng phản ánh những quy luật,

Trang 18

những mối liên hệ bản chất mà nhận thức cảm tính cũng như các loại tư duy kháckhông phản ánh được Nếu một người có khả năng tư duy tốt thì người đó sẽ xử lýcác vấn đề nói chung và các vấn đề toán học nói riêng rất hiệu quả.

Trong cuộc sống hằng ngày, mọi hoạt động của con người đều thông qua tưduy của họ Con người có tư duy và biết vận dụng sức mạnh của tư duy vào việc thựchiện các mục đích của mình Trong quá trình hoạt động đó, con người dần dần pháthiện ra các thao tác tư duy Tư duy của cá nhân hình thành và phát triển theo tiếntrình phát triển của cá thể Sự phát triển của tư duy (xét theo phương diện phát triển

cá nhân) trải qua các hình thức: Từ tư duy trực quan hành động, tư duy trực quanhình ảnh và tư duy trừu tượng (tư duy bằng ngôn ngữ) Nhờ hình thức tư duy bằngngôn ngữ , con người có khả năng tiếp cận với chân lý cao hơn Tuy nhiên, khôngphải bất cứ ai và bất cứ khi nào con người cũng có tư duy đúng đắn Theo quan điểmcủa triết học, tư duy đúng đắn gọi là Tư duy logic

Tư duy logic là tư duy phản ánh một cách chân thực (đúng đắn) về hiện thựckhách quan Nó phản ánh những quy luật, những mối liên hệ bản chất mà nhận thứccảm tính cũng như các loại tư duy khác không phản ánh được Với trình độ tư duylogic càng cao thì con người càng có thêm năng lực thâm nhập vào bản chất sự vật,hiện tượng Tư duy logic có liên hệ mật thiết đến hoạt động trừu tượng, khái quáthóa Tư duy logic chủ yếu hướng vào việc tìm những quy luật chung của tự nhiên,

xã hội loài người Tư duy logic phản ánh những mối quan hệ và liên hệ nói chung

Nó chủ yếu sử dụng các khái niệm, các phạm trù tổng quát, còn các hình tượng,biểu tượng chỉ có vai trò hỗ trợ

Tuy ra đời sau và dựa trên các loại tư duy trực quan nhưng nó càng phát triển

và hoàn thiện, luôn giữ vai trò chủ đạo thức đẩy tư duy trực quan hành động và trựcquan hình ảnh phát triển lên một chất lượng mới Tư duy logic giúp con người nắmđược các phạm trù, khái niệm, thuộc tính và phẩm chất riêng biệt của sự vật, hiệntượng xung quanh

Trang 19

1.2.3 Đặc trưng của tư duy logic

Tư duy logic là loại tư duy phát triển ở mức độ cao nhất, chỉ có ở con người

Đó là loại tư duy mà việc giải quyết vấn đề dựa trên các khái niệm Các mối quan

hệ logic gắn bó chặt chẽ với nhau và lấy ngôn ngữ làm phương tiện Theo các tácgiả M.Alec-xe-ep,V.Onhisuc thì “Phát triển tư duy logic cho học sinh được tiếnhành thông qua việc sử dụng chính xác ngôn ngữ và các kí hiệu toán học, các kháiniệm cùng với phương pháp suy luận quy nạp, suy luận suy diễn” [4] Theo PGS

TS Trần Ngọc Lan thì “Tư duy logic được đặc trưng bởi kỹ năng đưa ra những hệquả từ những tiền đề, kỹ năng phân chia hợp lý những trường hợp riêng biệt và hợpchúng lại để được những hiện tượng đang xét, kỹ năng khẳng định lý thuyết một kếtquả cụ thể hoặc tổng quát hóa những kết quả đã thu được Trong dạy học toán ở tiểuhọc, tư duy logic trong khi tìm tòi lời giải một bài toán ở việc xác nhận hoặc bác bỏmột kết quả đã có…” [15]

Tư duy logic được đặc trưng bởi các kỹ năng rút ra các hệ quả từ các tiền đề

đã cho, kỹ năng tách ra các trường hợp riêng biệt từ một luận điểm tổng quát nào

đó, kỹ năng dự báo về mặt lý thuyết các kết quả cụ thể, kỹ năng khái quát hóa cáckết luận thu được Tư duy logic phải có tính hệ thống, tính liên tục, chặt chẽ và có

cơ sở

Từ các quan điểm trên, có thể thấy tư duy logic của học sinh trong quá trìnhhọc tập nói chung và quá trình dạy học toán nói riêng là một dạng tư duy trừu tượngđược đặc trưng bởi các kĩ năng sau:

 Kỹ năng rút ra các hệ quả từ những tiền đề cho trước Tiền đề có thể đượchiểu là các yếu tố đã biết dưới dạng tường minh, các hệ quả rút ra là những kết luậnmới phong phú, đa dạng hơn Việc rút ra các hệ quả từ những tiền đề cần được tiếnhành dựa trên quá trình suy luận hợp lý, chính xác theo các quy tắc, quy luận, hìnhthức suy luận đúng đắn

 Kỹ năng dự báo về mặt lý thuyết các kết quả cụ thể Đứng trước một bàitoán, để chọn được hướng giải quyết phù hợp thì cần có sự dự đoán kết quả Những

Trang 20

dự đoán về kết quả này phải có căn cứ, cơ sở khoa học, tuân thủ quy tắc logic, quytắc suy luận Việc suy luận bằng cách dự đoán kết quả bằng con đường lý thuyếtgóp phần bồi dưỡng cho học sinh các thao tác tư duy, khả năng suy luận, móc nốicác kiến thức để tìm ra dấu hiệu, bản chất của đối tượng.

 Kỹ năng phân chia những trường hợp riêng biệt rồi hợp chúng lại; kỹ năngtổng quát hóa những kết quả đã thu được Khi gặp một bài toán với nhiều yếu tốcho trước hay nhiều yêu cầu phức tạp gây khó khăn cho quá trình suy luận, giảiquyết các bài toán, ta có thể phân chia bài tập thành các trường hợp riêng, là nhữngphần đơn giản hơn rồi kết hợp với việc suy luận, nhìn ra mối liên hệ giữa kiến thức

cũ và kiến thức mới ở những lập luận logic để giải quyết các phần đơn giản nàytrước Trên cơ sở đó ta giải quyết được bài tập ban đầu.Ngược lại, khi gặp một bàitoán được phân chia thành nhiều trường hợp riêng biệt, ta có thể giải quyết từngtrường hợp riêng này trước Sau đó từ những trường hợp riêng này ta khái quátthành quy luật chung của cả bài tập để đi đến trường hợp tổng quát

 Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ toán học và lập luận giải quyết vấn đề dựa trêncác suy luận có lý Ngôn ngữ và tư duy là hai khái niệm có quan hệ biện chứng.Nhờ có tư duy mà ngôn ngữ trở nên có ý nghĩa, có nội dung Ngược lại ngôn ngữ làcông cụ để tư duy tồn tại và thể hiện Thông qua ngôn ngữ mà các suy luận đượcdiễn ra Người khác có thể đánh giá được năng lực tư duy của một người thông quangôn ngữ của họ Người có khả năng tư duy logic càng cao thì lập luận càng sắcbén, gãy gọn, chính xác

1.2.4 Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi Tiểu học ảnh hướng đến quá trình tư duy logic.

a) Tư duy

Tư duy của học sinh lớp 3 mang đậm tính cảm xúc và chiếm ưu thế hơn là

tư duy trực quan hành động Đây là giai đoạn tư duy chuyển dần từ tính cụ thể(chiếm ưu thế ở lớp 1, 2) sang tư duy trừu tượng khái quát (chiếm ưu thế ở lớp4,5) Tuy nhiên các hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức của học sinh lớp 3 còn

sơ đẳng

Trang 21

Ở lứa tuổi này, năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa đang phát triển mạnhnhưng chưa đầy đủ, còn phải dựa vào những sự vật cụ thể, những tài liệu trực quan.Các em chưa thể tự mình suy luận một cách logic và thường dựa vào những mối liên

hệ ngẫu nhiên của sự vật và hiện tượng Ở giai đoạn phát triển này, tư duy của HSlớp 3 còn mang tính cảm xúc Trẻ dễ sinh xúc cảm với những điều suy nghĩ

b) Tưởng tượng:

Ở lứa tuổi này khả năng tưởng tượng đã khá phát triển Khả năng tưởngtượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thành, từ những hình ảnh cũ, trẻ đã có thể tái tạo ranhững hình ảnh mới Trong giai đoạn này, tưởng tượng sáng tạo đang trong giaiđoạn phát triển

c) Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức:

Ngôn ngữ của các em phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ ngữ.Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giớixung quanh và khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triểntrí tuệ của trẻ

d) Chú ý và sự phát triển nhận thức của trẻ:

Ở giai đoạn 9-10 tuổi, chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế Chú ý chủđịnh của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Trẻ chỉ tậptrung chú ý tốt khoảng 20-25 phút, khối lượng chú ý không lớn (chỉ từ 2 đến 3 đốitượng), khả năng phân phối chú ý còn bị hạn chế nhiều, nhưng sự di chuyển chú ýlại phát triển nhanh vì hưng phấn của trẻ linh hoạt và nhạy cảm

e) Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của trẻ

Trí nhớ của trẻ đang phát triển mạnh Loại trí nhớ trực quan hình tượngchiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ-logic Giai đoạn này ghi nhớ máy móc phát triển

Trang 22

tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưabiết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ,chưa biết cách khái quát hóa.

Nói tóm lại, khi trẻ bắt đầu bước vào trường Tiểu học là một bước ngoặc lớn.Môi trường thay đổi đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30-35 phút.Chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sáng tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầukiềm chế dần tính hiếu động, bộc phát để chuyển thành tính kỷ luật, nề nếp, chấphành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững qua các thao tác tinhkhéo của đôi bàn tay để tập viết…Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt quađược những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường

và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học

1.2.5 Vấn đề bồi dưỡng tư duy logic

Theo M.Alecxeep: “Việc bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh và hình thànhnhững kỹ năng và kỹ xảo suy luận hợp logic là nhất quán” Bởi vì “Trước khi đếntrường, các em không biết cách suy luận đúng đắn, làm thế nào để bác bỏ những ýkiến sai lệch, chưa biết khái quát hóa, trừu tượng hóa… khi đi học các em phải nắmđược toàn bộ những vấn đề ấy” [4]

Theo ông, những lí do thể hiện sự quan trọng của rèn tư duy logic ở bậc tiểuhọc là:

Thứ nhất: Bằng việc phát triển tư duy logic của học sinh, trước hết giáo viênthực hiện được nhiệm vụ của mình là đào tạo con người phát triển toàn diện

Thứ hai: Tư duy logic phát triển mang lại lợi ích về mặt nhận thức so với một

tư duy kém phát triển Nó dẫn đến các nhận thức quan trọng hơn đạt được kết quả

đó bằng con đường ngắn nhất và ít sức lực nhất, trong quá trình nhận thức ít sai sótthực tế hơn

Thứ ba: Tư duy học sinh càng được phát triển bao nhiêu thì kết quả hoạtđộng của các em càng mang lại hiểu biết bấy nhiêu, vì rằng tư duy đi kèm với hoạtđộng và nó đóng vai trò trong hoạt động như là kim chỉ nam giúp học sinh lựa chọn

Trang 23

những phương thức hợp lý nhất nhằm đạt đến mực đích và kiểm tra cả những kếtquả hoạt động đạt được Một học sinh biết tư duy tốt có hoạt động tốt trong mọitrường hợp khác tương tự như vậy Tính logic trong tư duy của các em đã tạo ratính logic trong hành động Ngược lại, một học sinh không biết suy nghĩ sẽ khônghành động tốt được.

Thứ tư: Tư duy lúc nào cũng gắn bó với ngôn ngữ và được thực hiện trongngôn ngữ cho nên tư duy không phát triển thì ngôn ngữ cũng không phát triển được

Vì vậy, nếu học sinh tư duy tốt, đúng đắn thì các em sẽ có triển vọng nắm vữngngôn ngữ, biết cách sử dụng một cách trôi chảy, mạch lạc, xuất sắc về mặt tu từ

Trong hệ thống chương trình giáo dục Tiểu học, môn Toán có thể xem làmôn học phát triển trí tuệ hơn so với các môn học khác Vì vậy việc bồi dưỡng tưduy nói chung và bồi dưỡng tư duy logic trong môn Toán nói riêng cho học sinh làrất quan trọng

Tư duy logic không dễ dàng hình thành được nên cần bồi dưỡng tư duy logiccho học sinh ngay từ những bậc học thấp để các em có những kỹ năng, kỹ xảo suyluận hợp logic ở các bậc học cao hơn Bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh là mộttrong những nhiệm vụ quan trọng nhằm mục đích phát huy tính độc lập suy nghĩ và

óc thông minh sáng tạo của học sinh Tư duy được hình thành và phát triển baonhiêu thì kết quả các em mang lại hiệu quả bấy nhiêu Tư duy được hình thành vàphát triển trong hoạt động và chính tư duy cũng chỉ đạo hoạt động giúp các em cóđược phương pháp hợp lý nhằm đạt mục đích đề ra Chính vì vậy, việc bồi dưỡng

tư duy logic cho học sinh lớp 3 cần tập trung vào việc bồi dưỡng cho các em cácnăng lực suy luận dựa trên các kỹ năng đặc trưng của tư duy logic và bên cạnh đó

là cách sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng diễn đạt, trình bày dựa trên sự đầu tư trong tưduy

Trang 24

1.3 Khảo sát thực trạng bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh lớp 3 thông qua dạy học môn toán.

1.3.1 Mục đích khảo sát

Bước đầu tìm hiểu thực trạng bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh lớp 3trong dạy học môn Toán

1.3.2 Đối tượng và phương pháp khảo sát

Khảo sát này được thực hiện với các giáo viên hiện đang trực tiếp giảng dạytại một số trường Tiểu học thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Toàn bộ các giáoviên đã tốt nghiệp đại học (chính quy, tại chức) nên có kinh nghiệm và kiến thức vềtâm lý lứa tuổi học sinh, về logic toán cũng như các phương pháp dạy học mới, …đây là điều kiện rất thuận lợi trong việc khảo sát, nghiên cứu

Quá trình khảo sát được thông qua: Phiếu khảo sát, quan sát, ghi chép, đàmthoại với giáo viên và học sinh tại các trường tiểu học

Phiếu điều ra tập trung vào các vấn đề sau:

*Với giáo viên: Việc dạy học toán nhằm bồi dưỡng tư duy logic cho học sinhlớp 3; Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc bồi dưỡng tư duy logiccho học sinh lớp 3 và những khó khăn mà giáo viên thường gặp phải khi thực hiệnnội dung này

Số phiếu phát ra là 12, thu về 12 phiếu Số lượng khảo sát thu qua phiếukhảo sát được xử lí bằng phương pháp thống kê toán học, dựa vào kết quả để kháiquát thực trạng Ngoài ra, sử dụng các phương pháp bổ trợ như:

− Đàm thoại: Được thực hiện với các giáo viên đang trực tiếp đứng lớp Những

ý kiến thu được trong quá trình đàm thoại nhằm góp phần sáng tỏ thêm kết quảkhảo sát

Trang 25

− Quan sát: Áp dụng trong các tiết dự giờ ở các lớp nhằm tìm hiểu thêm vềviệc bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh mà giáo viên đang tiến hành cũng nhưhiệu quả mang lại.

*Với học sinh: Tìm hiểu sự hiểu biết, nhận thức của học sinh về tầm quantrọng của tư duy trong học toán, mức độ đạt được của tư duy logic qua các truyềnđạt kiến thức, rèn luyện cho các em Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phảikhi học Toán 3 Các nội dung khảo sát trên chúng tôi đã ghi vào phiếu khảo sátbằng hệ thống câu hỏi để gửi đến từng học sinh

Số phiếu phát ra là 209 phiếu, thu về 209 phiếu Số lượng khảo sát thu đượcqua phiếu khảo sát được xử lí bằng phương pháp thống kê toán học, dựa vào kếtquả để khái quát thực trạng

1.3.3 Nội dung khảo sát (phụ lục)

Trang 26

Câu 2 : Theo Thầy (Cô), tƣ duy logic của học sinh Tiểu học đƣợc biểu hiện quanhững mặt nào?

Theo đa số các giáo viên, khả năng tƣ duy học sinh không đồng đều Một số

em có khả năng tƣ duy nhạy bén, nắm vững chuỗi kiến thức và biết đặt câu hỏi cho

Trang 27

giáo viên khi chưa hiểu vấn đề Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có các em chưa có thóiquen tư duy logic, các em còn thụ động trong việc tìm hiểu vấn đề và ngần ngại vớicác kiến thức mới.

Câu 5: Khi dạy học Toán, Thầy (Cô) tổ chức các hoạt động dạy học thế nào?

Chú trọng vào việc cung cấp kiến thức mới, sau đó tiến

Chú trọng giải bài tập nhiều hơn so với việc hình thành

Củng cố kiến thức cũ có liên quan đến bài mới, đưa ra các

ví dụ cụ thể, hướng dẫn các em tìm ra quy luật chung rồi

 Đối với giáo viên :

− Giáo viên chưa có sự chuẩn bị kĩ nội dung bài dạy để có thể phát triển tư duycho trẻ một cách tối đa Bên cạnh đó, giáo viên chưa tìm tòi, bổ sung thêm các bàitập bồi dưỡng tư duy logic bên ngoài sách giáo khoa cho học sinh thực hành luyệntập

− Giáo viên vẫn còn rập khuôn trong cách trình bày và thứ tự thực hiện các bàitập Các thầy cô chưa có sự nhận thức đúng mức tầm quan trọng của việc hướng dẫntrẻ sử dụng ngôn ngữ toán học để trình bày, diễn đạt ý của mình

− Thời lượng tiết học còn hạn chế, khó có thể mở rộng bồi dưỡng tư duy logiccho học sinh với các dạng toán mới

 Đối với học sinh :

Trang 28

− Trẻ còn thụ động, chưa có thói quen động não để tìm kiếm kiến thức mới màcòn phụ thuộc nhiều vào sự hướng dẫn của giáo viên.

− Sự chú ý của trẻ còn kém nên khó tập trung bài một bài toán tư duy đòi hỏinhiều sự phân tích, tổng hợp

Câu 7: Theo Thầy (Cô), việc bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh có đóng góp nhưthế nào trong định hướng dạy học phát triển năng lực hiện nay?

Theo đa số ý kiến, giáo viên đều đánh giá cao tầm quan trọng của việc bồidưỡng tư duy logic cho học sinh trong định hướng dạy học phát triển hiện nay.Bước sang lớp 3, học sinh đã bắt đầu quen với việc học và sẵn sàng để lĩnh hội cáckiến thức đòi hỏi tư duy ở mức độ cao hơn Do đó việc bồi dưỡng tư duy logic chocác em trở nên quan trọng hơn, giúp trẻ không chỉ hình thành và phát triển tư duy

mà còn có những kĩ năng, phẩm chất cần thiết để đáp ứng các yêu cầu trong xã hộisau này

b Từ học sinh:

Kết quả khảo sát được thống kê trong bảng như sau:

Câu 1: Khi gặp một bài toán có nhiều bước giải , em cảm thấy như thế nào?

Câu 2: Theo em, bài học mới có liên quan đến những bài đã học không?

Trang 29

Tùy vào bài toán 69 33Câu 3: Khi học một bài toán mới, giáo viên thường:

lượng

Tỉ lệ

%Giới thiệu, chỉ cho các em cách giải ngay lập tức 63 30.1

Cho các em thảo luận nhóm hoặc tự mình suy nghĩ tìm ra cách

Câu 4: Giáo viên cho học sinh làm thêm các bài tập bên ngoài sách giáo khoa:

Câu 5: Giáo viên hướng dẫn các em cách trả lời, trình bày bài toán:

lượng

Tỉ lệ

%

Giáo viên chỉ hướng dẫn trình bày vở, không hướng dẫn

Câu 6: Giáo viên thường hướng dẫn các em giải một bài toán bằng cách:

lượng

Tỉ lệ

%

Trang 30

Chỉ cho các em phép tính, cách giải của bài toán 42 20.1

Yêu cầu học sinh đọc đề bài nhiều lần và hiểu câu hỏi 30 14.4

Chia thành các bài toán nhỏ, giải từng bài và hợp lại để ra

Câu 7: Trong giờ học Toán, Giáo viên có cho các em ôn lại bài cũ không?

Học sinh tự ôn tập ở nhà, giáo viên chỉ dạy bài mới 15 7.2

Câu 8: Để tìm ra cách giải một bài toán khó, em thường:

lượng

Tỉ lệ

%Đọc kĩ đề bài và tìm hiểu những gì đề bài cho dùng để làm

Nghĩ đến các bài toán đã học gần giống với bài toán đó 2 1Quan sát, suy nghĩ để tìm ra quy luật của bài toán 61 29.2Đoán trước đáp án và tìm cách giải ra được đáp án đó 2 1

1.3.4.2 Kết quả khảo sát qua quan sát:

a Từ giáo viên:

Trang 31

 Ưu điểm:

− Về nội dung: Thông qua quá trình dạy học, giáo viên đã thực hiện được đầy

đủ các mục tiêu của bài dạy theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng Các nội dung đượctruyền đạt rõ ràng, có kết hợp lồng ghép với các hoạt động giáo dục khác Giáo viênthực hiện đúng trình tự tiết dạy, phân phối thời gian hợp lý, tác phong tốt, đảm bảođược các yêu cầu bài học

− Về phương pháp dạy học: Giáo viên đã vận dụng khéo léo các phương phápnhằm phát huy tối đa khả năng tư duy cho học sinh

− Về hình thức dạy học: Giáo viên am hiểu và sử dụng hợp lý các hình thứcdạy học, áp dụng các hình thức dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho họcsinh

− Về đồ dùng dạy học: Giáo viên năng động trong việc sử dụng các thiết bịcông nghệ vào bài dạy, khiến cho tiết học trở nên sinh động, thu hút được sự chú ýcủa học sinh

− Về phương pháp dạy học: Để giữ trật tự lớp học nên giáo viên còn ngần ngạitrong việc lựa chọn các phương pháp như: Thảo luận nhóm, đặt và giải quyết vấnđề,… Đa phần vẫn sử dụng các phương pháp thuyết minh, trực quan làm cho họcsinh chưa có cơ hội để thực hành các kĩ năng tư duy của mình và không khí lớp họccòn khá trầm lặng

− Về hình thức dạy học: Các giáo viên có tích cực trong việc thay đổi các hìnhthức dạy học mới, tuy nhiên chưa biết tận dụng phát huy hết tác dụng của từng hìnhthức dạy học đối với bài toán cụ thể Điều này đôi khi dẫn đến chất lượng nội dung

Trang 32

truyền đạt bị sút giảm do học sinh bị chi phối bởi nhiều hoạt động trong một tiết họchoặc hình thức tổ chức không phù hợp với nội dung bài học.

− Về đồ dùng dạy học: Do đồ dùng dạy học còn nhiều hạn chế vì đƣợc làm thủcông, mất nhiều thời gian để chuẩn bị nên các kênh trực quan của học sinh còn bịgiới hạn Đối với các tiết học có ứng dụng công nghệ, các giáo viên chƣa thành thạotrong việc sử dụng các thiết bị công nghệ và chƣa đầu tƣ nhiều thời gian để nghiêncứu sử dụng nên mặc dù tiết học có thêm phần sinh động nhƣng lại mất thời giankhi các thiết bị có vấn đề cần xử lí

b Từ học sinh:

− Các em thực hiện tốt các hoạt động mà giáo viên tổ chức, nhanh nhẹn trongviệc lĩnh hội kiến thức mới và đa số đều hoàn thành số lƣợng bài tập mà giáo viênyêu cầu trong thời gian cụ thể Tuy nhiên, một số em còn chƣa tập trung chú ý vàocác hoạt động học tập, kĩ năng liên kết các kiến thức cũ – mới còn chậm Sự chênhlệch về trình độ cũng là một trở ngại khi một số em đã hoàn thành xong bài tập thìcác bạn khác vẫn đang loay hoay

− Học sinh tự tin trao đổi ý kiến, đặt câu hỏi cho giáo viên khi chƣa hiểu vấn

đề Đa số các em đều tích cực tham gia phát biểu ý kiến mặc dù cách diễn đạt củacác em còn vấp váp, ngƣợng nghịu Các em chƣa tự tin thoát li ra khỏi các khuônmẫu trình bày của giáo viên do tâm lí sợ sai

− Khi gặp bài toán có vấn đề, các em chƣa có thói quen đọc kĩ đề bài, ghi nhớ,phân tích để tìm kiếm các mối liên hệ trong bài toán Các em có tỏ thái độ thích thúvới môn Toán tuy nhiên chỉ dám mạnh dạn thực hiện các bài toán quen thuộc, cònngần ngại khi tìm hiểu, tiếp xúc với các bài toán mang yếu tố khác lạ

1.3.5 Nguyên nhân thực trạng

Thông qua kết quả khảo sát bằng phiếu kết hợp với quan sát, phỏng vấn, nguyên nhân cơ bản của thực trạng đƣợc rút ra nhƣ sau:

Trang 33

1.3.5.1 Về phía giáo viên:

Tất cả các giáo viên đều đánh giá về việc bồi dưỡng tư duy logic cho họcsinh là vô cùng quan trọng và có ý thức bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh thôngqua các giờ dạy học nói chung và dạy học toán nói riêng Tuy nhiên, họ nhận thấyhiện nay vẫn còn nhiều hạn chế gây khó khăn trong việc bồi dưỡng tư duy logic chohọc sinh như thời gian tiết học chưa cho phép, sự chênh lệch về trình độ học sinhtrong cùng lớp cũng như điều kiện hạn hẹp khiến giáo viên chưa có sự đầu tư,chuẩn bị kĩ càng cho từng tiết dạy

Bên cạnh đó, giáo viên còn chưa cụ thể hóa được các tiêu chí để đánh giánăng lực cũng như cách thức phát triển tư duy logic ở trẻ Một phần đông giáo viênvẫn còn chú trọng việc truyền tải kiến thức mới rồi mới áp dụng vào thực hành, xemnhẹ việc kiểm tra bài cũ Giáo viên vẫn còn rập khuôn trong cách hướng dẫn họcsinh trình bày, chưa chú trọng vào việc rèn luyện cho học sinh trình bày lập luậnbằng lời mà chỉ tập trung vào giải bài tập vào vở Các dạng bài tập từ đó cũng bịgiới hạn theo khuôn mẫu, giáo viên chưa đa dạng hóa các dạng bài để kích thích tưduy, trí tò mò, ham học hỏi ở trẻ

Ngôn ngữ toán học giáo viên sử dụng còn chưa được trau chuốt, chính xác.Dưới áp lực thời gian, giáo viên còn hay mắc lỗi nói nhanh, nói nhiều, dễ gây ra nóisai Hoạt động của giáo viên trong mỗi tiết học còn chiếm đa số Giáo viên chưa tạonhiều cơ hội cho học sinh được trình bày, phân tích, phát hiện và tự giải quyết vấnđề

Nói chung, giáo viên có nhận thức được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng

kĩ năng tư duy logic cho học sinh thông qua dạy học môn Toán lớp 3 Tuy nhiênvẫn chưa quan tâm đúng mức và chưa có định hướng rõ ràng để bồi dưỡng tư duylogic cho học sinh

Trang 34

1.3.5.2 Về phía học sinh:

Đa số học sinh đều có sự thích thú nhất định đối với môn Toán và đều cómong muốn được luyện tập tư duy của mình thông qua các bài toán Các em vẫncòn chú trọng vào việc học lí thuyết mặc dù khi vào thực tế thì các em gặp khánhiều khó khăn trong việc chú ý, hứng thú khi học bài mới

Các em đều nhanh nhẹn, và có sự cố gắng trước những bài toán phức tạp.Mặc dù vậy, các em vẫn còn loay hoay, mất thời gian trong việc tìm hiểu và giảiquyết bài toán do chưa biết cách lựa chọn phối hợp các thao tác tư duy Các emthường chỉ tập trung vào những gì được cho trong đề bài mà chưa có cái nhìn liênkết, bao quát những gì đã học, các kiến thức có liên quan để giải quyết bài toán

Mặc dù các em rất tích cực phát biểu, trình bày ý kiến nhưng cách diễn đạtcòn lủng củng, chưa thuyết phục Điều này là do vốn từ của các em còn yếu và chưađược chú trọng hướng dẫn cách trình bày, sắp xếp ngôn từ một cách trật tự, hệthống Các phán đoán của các em đưa ra còn nghiêng nhiều về phần cảm tính màchưa có sự quan sát, suy luận kĩ càng

4 Tiểu kết chương 1

Việc bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh thông qua dạy học Toán 3 có cơ sở

lý luận và thực tiễn vững chắc Tuy hiểu được vai trò cũng như tầm quan trọng củaviệc phát triển tư duy logic cho học sinh nhưng do nhiều yếu tố từ cả giáo viên lẫnhọc sinh mà việc thực hiện còn chưa được phát huy đúng mức để mang lại hiệu quảcao

Nếu được bồi dưỡng tư duy logic thì học sinh sẽ phát huy được tính tích cực,độc lập, tự tin, chủ động trong học tập cũng như các hoạt động sống thường ngày.Đây là một việc đòi hỏi một quá trình lâu dài và phải được tiến hành thường xuyên,liên tục, được tiến hành ở tất cả các khâu của quá trình dạy học: Kiểm tra bài cũ,dạy bài mới, thực hành, các hoạt động ngoài giờ,…Giáo viên phải có sự kiên trì đểphát triển dần các kỹ năng tư duy, tạo lập các thói quen tư duy cho học sinh Bồi

Trang 35

dƣỡng tƣ duy logic cho học sinh vừa có tác dụng phát triển năng lực tƣ duy của họcsinh vừa giúp cho quá trình dạy học của giáo viên về sau đƣợc dễ dàng hơn, nângcao chất lƣợng dạy học.

Trang 36

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC DẠY HỌC TOÁN LỚP 3

2.1 Định hướng xây dựng biện pháp

Bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh thông qua việc dạy học Toán 3 là rènluyện cho học sinh thành tạo các thao tác tư duy, góp phần phát triển trí thông minhcho trẻ Không những vậy, còn bồi dưỡng cho học sinh các năng lực phân tích, tổnghợp, tưởng tượng,… nhằm giúp các em có thể nhận xét và giải quyết vấn đề mộtcách nhạy bén, tối ưu nhất Ngoài ra, bồi dưỡng năng lực tư duy logic trong mônhọc Toán cũng góp phần nâng cao kết quả học tập ở các môn khác hay trong việcgiải quyết các tình huống gặp phải hằng ngày Vì vậy việc đề ra các biện pháp bồidưỡng tư duy logic cho học sinh thông qua việc dạy học Toán lớp 3 là rất cần thiết

và cần phải có các định hướng nhất định trong việc lựa chọn và xây dựng các biệnpháp cụ thể, đúng đắn

2.1.1 Định hướng chung

− Đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống và tính thực tiễn

− Đảm bảo sự thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng

− Đảm bảo sự thống nhất giữa tính đồng loạt và tính phân hóa

− Đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức và mục tiêu kiến thức học sinh cần đạt được

− Đảm bảo tính thống nhất giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh

2.1.2 Định hướng cụ thể

− Mục tiêu dạy học của bài học trong mạch kiến thức Toán học lớp 3

− Đặc điểm và chức năng của hệ thống kiến thức, bài tập

− Mức độ, yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa và trình độ học tập của từng lớp, từng trường

Trang 37

− Một số biểu hiện về tư duy logic của học sinh trong quá trình học Toán.

− Đảm bảo tính khả thi, thực tiễn, đồng bộ, chỉnh thể thống nhất và hệ thống, không mâu thuẫn nguyên tắc dạy học

2.2 Một số biện pháp bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh thông qua việc dạy học Toán 3.

Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh suy luận từ những tiền đề cho trước.

Mục đích: Giúp học sinh biết liên kết các kiến thức đã học, đã biết liên quan

vào giải quyết các vấn đề trong học Toán

Chương trình Giáo dục ở Tiểu học nói chung và chương trình Toán học lớp

3 nói riêng có cấu trúc đồng tâm xoắn ốc Kiến thức mới được xây dựng dựa trênnền tảng những gì đã biết trước đó Các kiến thức và bài tập được xây dựng liềnmạch, giúp cho học sinh dễ dàng nắm bắt, vừa củng cố bài học cũ, vừa thu nạp thêm

lý thuyết mới

Ví dụ :

− Ở chương trình Toán 2, học sinh đã biết được cách xây dựng các bảng nhânvới 2, 3, 4, 5 (tích không quá 50) dựa trên quy tắc “Cái gì được lấy mấy lần”[11] Theo tiền đề đó, GV có thể yêu cầu HS tự xây dựng bảng nhân với 6, 7, 8, 9 (tíchkhông quá 100)

Trang 38

− Sau khi thành thạo các bước nhân số có hai chữ số cho số có một chữ số, họcsinh có thể tự áp dụng các bước trên đối với việc nhân số có ba chữ số cho số cómột chữ số.

Trong nền giáo dục đổi mới, nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức chuyểnsang cung cấp cho người học phương pháp thu nhập thông tin một cách có hệ thống,

có tư duy phân tích và tổng hợp Giáo viên không còn là người giữ vị trí trung tâmcủa việc dạy học mà đó chính là học sinh Học sinh tự giác tìm hiểu, xây dựng kiếnthức cho mình nhờ sự hướng dẫn của thầy cô Vì vậy ở mỗi vấn đề mới, giáo viênkhông giảng dạy lý thuyết suông, cung cấp kiến thức theo một chiều mà phải hướngdẫn, gợi ý cho học sinh tự rút ra các kết luận mới là hệ quả từ các tiền đề đã biếttrước đó, thông qua đó bồi dưỡng tư duy logic cho học sinh

Cách tiến hành biện pháp:

Đối với những kiến thức mới tương đối khó, cần nhiều bước suy luận hoặcđối tượng học sinh trung bình - khá, giáo viên nên khéo léo đưa các kiến thức liênquan vào tiềm thức của các em Tạo ra “những gợi ý ẩn” trong phần kiểm tra bài cũhoặc các câu hỏi gợi mở vấn đề, nhận xét để hướng các em theo đúng hướng giảiquyết vấn đề Các gợi ý này có vai trò như những công cụ được đưa ra chờ các emsắp xếp, sử dụng để đưa ra được kết quả Cách làm này thể hiện rõ vai trò dẫn dắtmạch kiến thức của người nhà giáo, cung cấp đầy đủ kiến thức cho học sinh mà vẫnphát huy được vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình giáo dục Dần dần họcsinh sẽ thành thạo các bước suy luận, quy nạp, hình thành kỹ năng giải quyết vấn đềmột các hợp lý, có logic Từ đó, phát triển tư duy logic từ bước nhận thức cảm tínhchiếm ưu thế sang nhận thức lí tính chiếm ưu thế

Để bồi dưỡng cho học sinh khả năng suy luận từ các tiền đề, giáo viênthường xuyên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi như: “ Từ đâu em rút ra kết luận

đó ?” / “Em đã dựa vào điều gì để đưa ra được cách làm đó ?”/ “Căn cứ vào những

gì đã biết để kết luận như vậy ?”/ “Vì sao….?”… Trả lời được những dạng câu hỏi

Trang 39

này chính là các em đã biết lựa chọn, căn cứ vào tiền đề một cách có logic, có suyluận để đi đến kết quả cuối cùng chứ không phải giải quyết vấn đề theo cảm tính,chọn lựa vô căn cứ Giáo viên cần hướng dẫn và tạo cho học sinh thói quen trả lờitheo cấu trúc mệnh đề chỉ nguyên nhân kết quả thường gặp như “Bởi…nên…”,

“Vì…nên…”, “Do… nên…”, “Từ…suy ra”, “Dựa vào…suy ra…” v.v nhằm hướngdẫn các em cách suy luận có căn cứ, có trật tự Điều này cho thấy mức độ thấu hiểusâu nội dung của người trình bày mà người khác cũng dễ dàng tiếp nhận quá trìnhsuy luận của người đó Như vậy, kết quả của dạy học là sự phát triển tư duy logicđồng đều cho tất cả học sinh

Ví dụ: Trong bài Chu vi hình vuông[12,tr.88], giáo viên cần phải gợi cho học sinhnhững tiền đề sau đây để tìm ra quy tắc tính chu vi hình vuông:

 Quy tắc tính chu vi hình tứ giác

 Đặc điểm cạnh hình vuông

 Mối quan hệ giữa phép cộng và phép nhân

* Cách thực hiện:

Kiểm tra bài cũ

Mục tiêu: Học sinh nắm vững các tiền

đề: Quy tắc tính chu vi hình tứ giác, mối

quan hệ giữa phép cộng và phép nhân

- GV mời học sinh nhắc lại quy tắc tính

- GV yêu cầu học sinh chuyển các phép

cộng sau đây thành phép nhân vào bảng

con:

- HS làm vào bảng con:

Trang 40

2 + 2 + 2 = ………

3cm + 3cm + 3cm = ………

2 + 2 + 2 = 2 x 33cm + 3cm + 3cm = 3cm x 3

- GV nhân xét, nhắc nhở HS mối quan hệ

3cm x 4 = 12cm

- GV hỏi HS thực hiện phép nhân:

“Căn cứ vào đâu để thực hiện phép

nhân?”

- HS trả lời: “Căn cứ vào cách tính chu

vi là tổng các cạnh, hình vuông có 4cạnh bằng nhau, 3cm đƣợc lấy 4 lần nên

có phép nhân 3cm x 4”/ “Vì tính chu vi

là tính tổng các cạnh của một hình màhình vuông có 4 cạnh bằng nhau nên đểtính chu vi hình vuông đó ta lấy 3cmnhân với 4.”/…

Ngày đăng: 23/06/2023, 13:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra lần 1 của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng - Bồi Dưỡng Tư Duy Logic Qua Môn Cho Hs Lớp  3.Docx
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra lần 1 của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng (Trang 72)
Bảng 3.2: Kết quả bài kiểm tra lần 2 sau khi thực nghiệm của nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng - Bồi Dưỡng Tư Duy Logic Qua Môn Cho Hs Lớp  3.Docx
Bảng 3.2 Kết quả bài kiểm tra lần 2 sau khi thực nghiệm của nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w