1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.

214 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thông Điệp Ảnh Báo Chí Trên Báo Mạng Điện Tử Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Hoàng Thu Hằng
Người hướng dẫn PGS,TS. Hà Huy Phượng
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Báo chí học
Thể loại Luận án tiến sĩ báo chí học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 4,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Hướng nghiên cứu về quy trình sản xuất thông điệp ảnh báo chí (30)
  • 3. Hướng nghiên cứu về phân tích thông điệp ảnh báo chí (35)
  • 4. Đánh giá tổng quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và đề (43)
  • Chương 1: THÔNG ĐIỆP ẢNH BÁO CHÍ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN (48)
    • 1.1. Hệ thống khái niệm (48)
    • 1.2. Đặc trưng và vai trò của thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử (57)
    • 1.3. Các yếu tố cấu thành thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử (69)
    • 1.4. Phân loại ảnh báo chí trên báo mạng điện tử theo các nhóm chủ đề (83)
    • 1.5. Những tiêu chí đánh giá thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử (86)
    • 1.6 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu (90)
  • Chương 2: THỰC TRẠNG THÔNG ĐIỆP ẢNH BÁO CHÍ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (95)
    • 2.1 Tổng quan về các báo mạng điện tử khảo sát (95)
    • 2.2 Khảo sát thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện (98)
    • 2.3 Nghiên cứu trường hợp thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử về đại dịch COVID-19 ở Việt Nam năm 2021 (126)
    • 2.4 Đánh giá thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay (141)
  • Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA, GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG ĐIỆP ẢNH BÁO CHÍ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI (149)
    • 3.1 Những vấn đề đặt ra đối với thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay (149)
    • 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới (163)
    • 3.3 Khuyến nghị (185)
  • KẾT LUẬN (195)
    • Ảnh 2.2: Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm hỏi tình hình đời sống của người dân tại khu nhà trọ trên đường Nguyễn Thị Định ở Thành phố Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh) . 120 Ảnh 2.3: Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tiêm thử nghiệm vaccine Nanocovax mũi (0)
    • Ảnh 2.4: Loạt ảnh đăng trong Phóng sự ảnh “Đêm trắng ở “thành trì” cuối cùng chặn COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Đinh Đức Long đăng trên Dân trí ngày 22/7/2021 (0)
    • Ảnh 2.5: Ảnh đăng trong phóng sự ảnh “"Cân não" giành sự sống cho 600 thai (0)
    • Ảnh 2.6 Thông điệp ảnh báo chí “Bộ đội trắng đêm băng đồng, bám biển tuyến biên giới Tây Nam” đăng trên báo Vietnamnet ngày 26/4/2021 (0)
    • Ảnh 2.7: Bộ đội dùng xe đạp thồ tiếp tế thực phẩm cho người dân phường 2, (0)
    • Ảnh 2.8: Tác phẩm tranh sơn dầu “Những đóa hướng dương” của tác giả Hà Châu (Quảng Nam) (0)
    • Ảnh 2.9: Hình ảnh các y, bác sỹ lan tỏa thông điệp cả nước chung tay quyết tâm chống dịch COVID-19 (0)
    • Ảnh 2.10: Bức tranh đạt giải Nhất cuộc thi vẽ tranh cổ động với chủ đề Phòng chống dịch COVID-19 (0)
    • Ảnh 2.11: Thông điệp ảnh báo chí trong bài viết “Dòng người chạy xe máy về quê (0)
    • Ảnh 2.12: Loạt ảnh trong phóng sự ảnh “Những phận người lặng lẽ ra đi trong đại dịch COVID-19 ở Thành phố Hồ Chí Minh” đăng tải trên báo DT ngày 19/11/2021 (0)
    • Ảnh 2.13: Thông điệp ảnh báo chí nghệ sĩ Trần Mạnh Tuấn thổi saxophone trước (0)

Nội dung

Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay.

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG THU HẰNG

THÔNG ĐIỆP ẢNH BÁO CHÍ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2023

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG THU HẰNG

THÔNG ĐIỆP ẢNH BÁO CHÍ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Báo chí học

Mã số : 9 32 01 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Hà Huy Phượng

HÀ NỘI - 2023

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu khoa học hoàn toàn độc lập của bản thân Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án được khai thác trung thực từ các kết quả khảo sát và chưa từng được công bố, công khai trong bất cứ công trình nào

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2023

Tác giả

Hoàng Thu Hằng

Trang 4

1 Hướng nghiên cứu về báo mạng điện tử và thông điệp truyền thông trên báo

mạng điện tử 18

2 Hướng nghiên cứu về quy trình sản xuất thông điệp ảnh báo chí 23

3 Hướng nghiên cứu về phân tích thông điệp ảnh báo chí 28

4 Đánh giá tổng quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và đề ra hướng nghiên cứu cho luận án 36

Chương 1: THÔNG ĐIỆP ẢNH BÁO CHÍ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 41

1.1 Hệ thống khái niệm 41

1.2 Đặc trưng và vai trò của thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử 50

1.3 Các yếu tố cấu thành thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử 62

1.4 Phân loại ảnh báo chí trên báo mạng điện tử theo các nhóm chủ đề 76

1.5 Những tiêu chí đánh giá thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử 79

1.6 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 83

Chương 2: THỰC TRẠNG THÔNG ĐIỆP ẢNH BÁO CHÍ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 88

2.1 Tổng quan về các báo mạng điện tử khảo sát 88

2.2 Khảo sát thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay theo các yếu tố cấu thành thông điệp ảnh báo chí 91

2.3 Nghiên cứu trường hợp thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử về đại dịch COVID-19 ở Việt Nam năm 2021 119

2.4 Đánh giá thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay 134

Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA, GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG ĐIỆP ẢNH BÁO CHÍ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 142

3.1 Những vấn đề đặt ra đối với thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay 142

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới 156

3.3 Khuyến nghị 178

KẾT LUẬN 188

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 195

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 206

PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 5

ngày 6/9/2022 102 Ảnh 2.2: Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm hỏi tình hình đời sống của người dân tại khu nhà trọ trên đường Nguyễn Thị Định ở Thành phố Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh) 120Ảnh 2.3: Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tiêm thử nghiệm vaccine Nanocovax mũi

2 (đăng trên báo VNN sáng 26/3/2021) ………121 Ảnh 2.4: Loạt ảnh đăng trong Phóng sự ảnh “Đêm trắng ở “thành trì” cuối cùng chặn COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Đinh Đức Long đăng trên Dân trí ngày 22/7/2021. 123 Ảnh 2.5: Ảnh đăng trong phóng sự ảnh “"Cân não" giành sự sống cho 600 thai nhi có mẹ là F0 ở thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Hải Long đăng trên báo

DT ngày 13/8/2021……… 124 Ảnh 2.6 Thông điệp ảnh báo chí “Bộ đội trắng đêm băng đồng, bám biển tuyến biên giới Tây Nam” đăng trên báo Vietnamnet ngày 26/4/2021 126 Ảnh 2.7: Bộ đội dùng xe đạp thồ tiếp tế thực phẩm cho người dân phường 2, 127 quận Bình Thạnh, ngày 2/9/2021 Ảnh: Quỳnh Trần/VnExpress 127 Ảnh 2.8: Tác phẩm tranh sơn dầu “Những đóa hướng dương” của tác giả Hà Châu (Quảng Nam) 128 Ảnh 2.9: Hình ảnh các y, bác sỹ lan tỏa thông điệp cả nước chung tay quyết tâm chống dịch COVID-19. 129 Ảnh 2.10: Bức tranh đạt giải Nhất cuộc thi vẽ tranh cổ động với chủ đề Phòng chống dịch COVID-19. 129 Ảnh 2.11: Thông điệp ảnh báo chí trong bài viết “Dòng người chạy xe máy về quê trong mưa, Nghệ An dựng nhà bạt đón” đăng trên báo VNN ngày 6/10/2021 129 Ảnh 2.12: Loạt ảnh trong phóng sự ảnh “Những phận người lặng lẽ ra đi trong đại dịch COVID-19 ở Thành phố Hồ Chí Minh” đăng tải trên báo DT ngày 19/11/2021 130 Ảnh 2.13: Thông điệp ảnh báo chí nghệ sĩ Trần Mạnh Tuấn thổi saxophone trước 10.000 bệnh nhân COVID-19 đăng trên Dân trí ngày 27/7/2021 132

Trang 6

2001, 2005) 9

Bảng 2: Kết quả chọn mẫu theo phương pháp constructed weeks 11

Bảng 3: Bảng kích cỡ mẫu của Krejcie và Morgan (1970) 11

Bảng 2.1 Thông tin về báo VNE (Nguồn: Similarweb) 88

Bảng 2.2: Thông tin về báo VNN (Nguồn: Similarweb) 89

Bảng 2.3: Thông tin về báo DT (Nguồn: Similarweb) 89

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Đối tượng phản ánh của thông điệp ảnh báo chí 91

Biểu đồ 2.2 Phân loại các nhóm chủ đề trong thông điệp ảnh báo chí 92

Biểu đồ 2.3: Cách khai thác chi tiết trong ảnh báo chí 94

Biểu đồ 2.4: Cách sử dụng bố cục ảnh báo chí 97

Biểu đồ 2.5: Kết quả sử dụng ánh sáng trong ảnh báo chí 98

Biểu đồ 2.6: Về đường nét được sử dụng trong ảnh báo chí 100

Biểu đồ 2.7: Chất lượng kỹ thuật ảnh báo chí 101

Biểu đồ 2.8: Nội dung chú thích trong ảnh báo chí 103

Biểu đồ 2.9: Mối quan hệ giữa nội dung thông điệp ảnh và nội dung văn bản 105 Biểu đồ 2.10: Mục đích của thông điệp ảnh báo chí 106

Biểu đồ 2.11: Sự thể hiện khoảnh khắc quyết định trong bức ảnh 107

Biểu đồ 2.12: Góc máy thể hiện trong hình ảnh 108

Biểu đồ 2.13: Thể loại ảnh báo chí được sử dụng 112

Biểu đồ 2.14: Dung lượng hình ảnh 114

Biểu đồ 2.15: Số lượng ảnh trong một tin, bài 115

Biểu đồ 2.16: Cách trình bày ảnh 116

Biểu đồ 2.17: Yếu tố tâm lý của thông điệp 118

Trang 7

Ảnh báo chí ABC Báo mạng điện tử BMĐT

Thông điệp TĐ Vietnamnet VNN

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong các mô hình truyền thông của Lasswell (1948), C Shannon & Weaver (1949), D.Berlo (1960), thông điệp luôn là một trong những yếu tố chính, quan trọng, không thể thiếu trong quá trình truyền thông Nếu không có thông điệp, không thể hình thành nên quá trình truyền thông

Năm 1873, những bức ảnh báo chí đầu tiên xuất hiện trên thế giới cũng là thời điểm xuất hiện một cách thể hiện thông điệp truyền thông mới, đó là thông điệp ảnh báo chí, song song với các thông điệp bằng chữ viết, ký hiệu Thông điệp ảnh báo chí đã cung cấp thông tin một cách minh bạch và xác thực, xác định sự thật

và đại diện cho thực tế Từ khi ra đời đến nay, thông điệp ảnh báo chí đã thể hiện vai trò to lớn của mình trong môi trường truyền thông Thực tế, các nghiên cứu về ngành báo chí truyền thông tập trung phần lớn vào văn bản nhưng hình ảnh có tác dụng mạnh mẽ hơn văn bản vì “chúng dễ dàng đi qua biên giới ngôn ngữ và thương mại” [124, tr.71-89] Theo Roland Barthes, hình ảnh thường tạo ra các cấp độ nghĩa khác nhau tương ứng với nghĩa biểu thị và nghĩa bao hàm [120] Các bức ảnh có nghĩa biểu thị “như chúng vốn có”, nhưng chứa đựng sức mạnh nội hàm, có ý nghĩa biểu tượng cho hình ảnh đại diện được hiển thị Ngoài ý nghĩa biểu thị, cần phải có những sự liên tưởng về văn hóa và lịch sử khi tìm hiểu ý nghĩa thực sự của các bức ảnh Hơn thế nữa, hình ảnh có sự tác động lên cảm xúc, bổ sung thêm ý nghĩa biểu tượng để giải thích và thuyết phục về các chủ đề được đề cập Điều đó khẳng định, thông điệp ảnh báo chí không chỉ ghi lại hiện thực khách quan mà còn đưa ra những đánh giá sâu sắc hơn về thế giới

50 năm trước, bức ảnh “Em bé Napalm” (1972) của tác giả người Mỹ gốc Việt Nick Út cũng khiến cả thế giới phải suy ngẫm vì lột tả sự tàn khốc của cuộc chiến tranh ở Việt Nam Bức ảnh được xếp thứ 41 trong số 100 bức ảnh có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ XX

Năm 2015, hình ảnh thi thể một em bé Syria chết đuối dạt vào bờ biển Thổ

Nhĩ Kỳ đã khiến cả thế giới bàng hoàng vì sự tàn khốc của cuộc khủng hoảng nhập

cư Trước đó, rất nhiều hình ảnh về những người Syria chạy trốn khỏi cuộc chiến ở quê nhà, tìm đường đến châu Âu tị nạn đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, bức hình ám ảnh về em bé Syria đã được chia sẻ rất nhiều trên mạng xã hội để bày tỏ lòng thương cảm đối với cậu bé và tố cáo sự khốc liệt của cuộc nội chiến tại Syria Hai ngày sau khi bức ảnh xuất hiện, Thủ tướng Anh

Trang 9

David Cameron đã thông báo nước Anh sẽ tiếp nhận thêm hàng nghìn người tị nạn Syria, mặc dù 2 ngày trước đó, ông vừa tuyên bố Anh không thể tiếp nhận thêm người tị nạn

Có thể khẳng định, thông điệp ảnh báo chí đã làm thay đổi cả thế giới, thay đổi quan điểm của dư luận Nó chạm đến trái tim và khối óc của mỗi con người Do

đó, việc xác định các mã diễn ngôn của ảnh báo chí hay nói một cách chính xác hơn để hiểu rõ ý nghĩa của bức ảnh - thông điệp ảnh báo chí là một hướng nghiên cứu rất quan trọng

Tuy ra đời sau các loại hình báo chí khác nhưng báo mạng điện tử ở trên thế giới và ở Việt Nam có sự phát triển nhanh chóng, luôn là sự ưu tiên hàng đầu của phần lớn độc giả Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew năm 2020,

tỷ lệ số lượng người đọc tin tức/tìm kiếm tin tức từ điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính chiếm 86%, từ phát thanh là 50%, từ báo in là 32% và từ các báo mạng điện tử 68% Nghiên cứu cũng cho thấy, những người từ 18 - 64 tuổi đều thường xuyên đọc tin tức từ các thiết bị kỹ thuật số Nhóm tuổi từ 18- 29 thường tìm kiếm tin tức trên các mạng xã hội, còn nhóm tuổi từ 30 - 65 trở lên đều chọn cách đọc tin tức từ các báo mạng điện tử Do đó, trong quá trình truyền thông, báo mạng điện tử là một kênh truyền quan trọng, phổ biến, không thể thiếu trong bối cảnh hiện nay

Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, bộ não của con người cực kỳ trực quan, nó có thể xác định hình ảnh trong vòng 13 mili giây và 90% thông tin não bộ nhận được là hình ảnh Các nghiên cứu cho thấy não người giải mã các yếu tố hình ảnh đồng thời, trong khi ngôn ngữ được giải mã theo cách tuyến tính, tuần tự cần nhiều thời gian hơn để xử lý Tâm trí của con người phản ứng hoàn toàn khác với các kích thích thị giác Hình ảnh được xử lý nhanh hơn 60.000 lần so với văn bản Lượng thông tin được truyền tải qua một bức ảnh tương đương với một cuộc trò chuyện kéo dài 10 phút Điều này giải thích tại sao hiện nay truyền thông thị giác nói chung và truyền thông bằng hình ảnh nói riêng đang được đề cao trên báo mạng điện tử

Trên môi trường báo mạng điện tử hiện nay, thông điệp ảnh báo chí là yếu tố đầu tiên để thu hút độc giả đến với tờ báo, bài báo, họ có thể bỏ qua hoặc dừng lại, tiếp tục tìm hiểu các nội dung tin, bài Thông điệp ảnh báo chí có khả năng thu hút

và “giữ chân” người xem ở lại bài viết Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của báo chí kỹ thuật số Tính siêu văn bản, tính tương tác, tính đa phương thức và tính

Trang 10

không đồng bộ đã trở thành những yếu tố định hình sâu sắc việc sản xuất nội thông điệp trên báo mạng điện tử, trong đó có thông điệp ảnh báo chí Trong bối cảnh đó, việc thể hiện thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử không còn đơn thuần theo môtip “Tiêu đề - hình ảnh - văn bản”, mà có rất nhiều cách thể hiện thông điệp ảnh báo chí sáng tạo với việc trợ giúp của công nghệ khiến cho độc giả được trải nghiệm hữu hình khác biệt, thu hút, lôi cuốn và hấp dẫn Đó là các dạng bài Story, Longform, E- Magazine, Lens,… Tiềm năng và sự đa dạng của các khả năng trong môi trường truyền thông mới đã định hình và định nghĩa lại hoạt động báo chí trên môi trường internet

Theo nhà tâm lý học người Mỹ Jerome Seymour Bruner, con người chỉ nhớ được 10% những gì nghe thấy, 30% những gì đọc được, 80% những gì nhìn thấy và thực hành Theo nhà tâm lý học người Anh Tony Buzan, trí nhớ của con người là trí nhớ như chụp ảnh Não con người thích hợp nhất trong việc ghi nhớ các thông tin có hình ảnh, màu sắc, những sự vật, sự việc liên quan mật thiết đến đời sống con người Trong xã hội hiện đại, hình ảnh ngày càng xuất hiện nhiều với tần suất lớn trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các biển hiệu quảng cáo, trên internet, mạng xã hội… Hình ảnh trực quan ngày càng được coi trọng

Vì vậy, để tìm hiểu cách thức của báo mạng điện tử ở Việt Nam trong việc truyền tải thông điệp ảnh báo chí hiện nay, những vấn đề đặt ra trong việc truyền tải thông điệp ảnh báo chí bắt kịp với xu thế hiện đại của truyền thông thế giới là một vấn đề đang được đặt ra mang tính cấp thiết

Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của luận án

Nghiên cứu luận án nhằm luận giải về các yếu tố cấu thành thông điệp ảnh báo chí, xây dựng các tiêu chí đánh giá thông điệp ảnh báo chí; cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để khảo sát thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay Từ đó, đề xuất các giải pháp, khuyến nghị để nhằm nâng cao chất lượng thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay trong thời gian tới

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng khung lý thuyết về thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử; đưa ra thực trạng và giải pháp về thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay

Trang 11

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận án thực hiện một số nhiệm vụ như sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay; xây dựng cơ sở lý luận về thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử

- Khảo sát thực trạng thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích những vấn đề đặt ra đối với thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay Từ đó, đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát các tác phẩm có chứa thông điệp ảnh báo chí trên 3 tờ báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay gồm Vnexpress.net, Vietnamnet.vn, Dantri.com.vn

Luận án chọn khảo sát thông điệp ảnh báo chí trên 3 tờ báo mạng điện tử: VnExpress.net, Vietnamnet.vn, Dantri.com.vn, bởi vì, năm 2021, website Similar.com bảng xếp hạng các trang web được truy cập nhiều nhất Việt Nam trong mảng tin tức và truyền thông đại chúng là VnExpress.net, Vietnamnet.vn, Dantri.vn Đây cũng là 3 tờ báo mạng điện tử có đầy đủ các tiêu chí chọn mẫu của luận án: là những tờ báo mạng điện tử chính thống, uy tín, được phổ biến rộng rãi, được đông đảo bạn đọc biết đến và đón nhận Thông điệp ảnh báo chí trên 3 tờ báo mạng điện tử đảm bảo sự nhanh nhạy, thời sự, đa dạng, phong phú, hấp dẫn, phản ánh chân thực đời sống hằng ngày

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2021 - 12/2021

Lý do chọn thời gian nghiên cứu: Cùng với sự phát triển của các công nghệ

số, báo mạng điện tử có những bước tiến mới trong phương thức truyền tải thông điệp, đặc biệt là thông điệp ảnh báo chí Luận án lựa chọn thời gian nghiên cứu từ tháng 1/2021 - 12/2021, một khoảng thời gian đủ dài, cập nhật với thời gian nghiên cứu luận án để có thể quan sát, nghiên cứu những phương thức truyền tải thông điệp ảnh báo chí mới nhất, cập nhật nhất của báo mạng điện tử

Trang 12

Năm 2021 cũng là đất nước ta diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, có những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm, theo dõi Đối với các sự kiện quan trọng và các vấn đề được xã hội quan tâm, theo dõi, các báo mạng điện tử luôn quan tâm, đẩy mạnh truyền thông qua thông điệp ảnh báo chí Vì vậy, luận án sẽ có điều kiện quan sát, nghiên cứu được thực trạng thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử một cách đầy đủ nhất

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

Câu hỏi 1: Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam trong

thời gian khảo sát tập trung vào những chủ đề nội dung gì?

Câu hỏi 2: Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử đã phát huy đặc

trưng và vai trò của ảnh báo chí như thế nào?

Câu hỏi 3: Các yếu tố tạo hình, quy trình sản xuất và cách thức truyền tải

thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử được áp dụng ra sao?

Câu hỏi 4: Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử trong trường hợp

nghiên cứu điển hình đại dịch COVID-19 được thể hiện như thế nào?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Từ những câu hỏi nghiên cứu trên, luận án đưa ra những giải thuyết nghiên cứu:

Giả thuyết thứ nhất: Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt

Nam trong thời gian khảo sát phản ánh toàn diện các lĩnh vực của đời sống chính trị

xã hội, nhưng chủ yếu tập trung vào tin tức sự kiện có tính thời sự, hơn là khắc hoạ chân dung, hoàn cảnh sống của con người và các chủ đề chuyên sâu, chuyên biệt

Giả thuyết thứ hai: Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt

Nam thực hiện tốt vai trò thông tin, tuyên truyền tư tưởng, nhận thức cho công chúng, tuy nhiên, chưa phát huy hết thế mạnh của ảnh báo chí trên phương diện tính biểu tượng, tính thẩm mỹ

Giả thuyết thứ ba: Báo mạng điện tử ở Việt Nam đã áp dụng hiệu quả, tích

cực các yêu cầu về tạo hình, tiêu chuẩn về sản xuất và triển khai nhiều cách thức truyền tải thông điệp ảnh báo chí ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại hơn Mặc dầu vậy, việc khai thác, sử dụng thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử vẫn còn

có những bất cập về chất lượng nội dung và hình thức của tác phẩm

Giả thuyết thứ tư: Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện ở Việt Nam

trong đại dịch COVID-19 có ý nghĩa quan trọng, góp phần hiệu quả vào công tác

Trang 13

phòng, chống dịch Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử trong thời gian này đã thể hiện rõ cả 4 phương diện: thông tin về đại dịch; tư tưởng của Đảng và Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch; tính thẩm mỹ trong những hình ảnh về

vẻ đẹp của tình người trong dịch bệnh; tính biểu tượng về sự hy sinh, niềm hy vọng

và niềm tin trong hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

5.1 Cơ sở lý luận

Để thực hiện được những vấn đề nghiên cứu đặt ra, luận án dựa trên những

cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về báo chí, báo mạng điện tử, ảnh báo chí

Trong cuộc đấu tranh vì quyền lợi của giai cấp vô sản, C.Mác, Ăngghen, Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan đến hoạt động báo chí, khẳng định tính Đảng, tính nhân dân của báo chí, khẳng định bản chất của báo chí cách mạng và vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Phát biểu tại Đại hội lần thứ II Hội Nhà báo Việt Nam năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trước khi đặt bút xuống trang giấy, người viết cần tự mình thật sáng tỏ, ta viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào” để làm tròn vai trò “cán bộ báo chí cũng là chiến

sỹ cách mạng”

Đại hội XIII của Đảng xác định: Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại Thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị xã hội, thuần phong mỹ tục Đây cũng là những yêu cầu đặt ra đối với thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử để đáp ứng những mục tiêu, kỳ vọng mà xã hội đặt ra đối với báo chí

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu: Phương pháp này dùng để hệ thống hóa

các vấn đề lý luận liên quan đến thông điệp ảnh báo chí, làm cơ sở để xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề luận án nghiên cứu

- Phương pháp phân tích nội dung

Theo Holsti (1969), “Phân tích nội dung là một kỹ thuật để đưa ra suy luận bằng cách xác định một cách khách quan và có hệ thống các đặc điểm cụ thể của thông điệp” [130, tr.14] Ban đầu, phân tích nội dung dùng để giải thích các văn

Trang 14

bản bằng lời nói, tuy nhiều, sau đó, nó được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu các tài liệu trực quan, trong đó có ảnh báo chí Khi xem xét khả năng ứng dụng của phương pháp phân tích nội dung đối với các thông điệp trực quan, trong đó có ảnh báo chí, Bell lưu ý rằng, phân tích nội dung là một phương pháp quan sát và có hệ thống nhằm mục đích “kiểm tra các giả thuyết về các cách thức mà các phương tiện truyền thông đại diện cho con người, sự kiện, tình huống vấn đề” [114, tr.14] Theo Deacon, phân tích nội dung các phương tiện trực quan là cách xác định các đặc điểm nổi bật trong khối lượng mẫu lớn để định lượng chúng và đưa ra các suy luận

về cách thức của phương tiện truyền thông đại chúng có liên quan đến hệ thống chính trị [122, tr.116]

Theo tác giả Mai Quỳnh Nam, phân tích thông điệp báo chí là một hướng nghiên cứu rất được coi trọng Nó cho thấy các hiện tượng, các sự kiện xã hội và những tác động xã hội chi phối các hiện tượng xã hội diễn ra vào một giai đoạn nào

đó [59]

Tính đặc thù của phương pháp phân tích thông điệp báo chí là việc nghiên cứu cho thấy ý nghĩa của thông điệp, tần số, diện tích của những nội dung trình bày ở dạng cố định hóa trong các văn bản, hình ảnh, âm thanh… ở các phương tiện thông tin đại chúng Nhiệm vụ cơ bản của phương pháp phân tích thông điệp báo chí là cần thể hiện quan hệ của thông điệp với thực tế ngoài thông điệp đã sản sinh ra thông điệp Việc nghiên cứu còn cho thấy, động cơ, mục đích của nhà truyền thông đối với các sự kiện xã hội được phản ánh trong báo chí để trình bày với công luận

Áp dụng từ các nghiên cứu về phương pháp phân tích nội dung, luận án đưa

4 bước phân tích nội dung thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử như sau:

Một là, lựa chọn các bức ảnh để nghiên cứu Ảnh được lựa chọn để phân tích

phải phù hợp với câu hỏi nghiên cứu được đặt ra, có tính đại diện

Hai là, xây dựng danh mục để mã hóa Sau khi đã chọn các bức ảnh làm

mẫu nghiên cứu, cần xây dựng danh mục những nội dung bức ảnh để thực hiện việc

mã hóa Mã hóa là việc gắn ký hiệu để mô tả bức ảnh Đây là bước quan trọng nhất trong phân tích nội dung ảnh báo chí Bởi hiệu quả của việc phân tích nội dung ảnh báo chí phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng cấu trúc danh mục các nội dung cần

mã hóa Các nội dung này cần được xác định một cách khách quan, phản ánh đúng nội dung thể hiện trong phần hình ảnh và chú thích ảnh (nếu có) Đây cũng là cơ sở

Trang 15

để khẳng định phương pháp phân tích nội dung định tính và định lượng không loại trừ lẫn nhau

Khi thực hiện nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu gợi lên những nội dung cần được mã hóa Danh mục nội dung mã hóa cần được thử nghiệm trước trên một số bức ảnh mẫu để phát hiện các nội dung bị trùng trong danh mục và các nội dung có liên quan đến hình ảnh nhưng chưa được ghi nhận trong danh mục Danh mục các nội dung mã hóa sẽ được điều chỉnh và thử lại cho đến khi đáp ứng yêu cầu mục đích nghiên cứu

Trong phương pháp phân tích này, các nội dung được mã hóa trong danh mục phải hoàn toàn rõ ràng đến mức, khi nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu khác nhau, tại các thời điểm khác nhau, sử dụng cùng danh mục các nội dung sẽ đưa ra cùng bộ nội dung mã hóa Khi đạt được điều này, tác giả nghiên cứu

đã đạt được khả năng nhân rộng Nếu không, các nội dung mã hóa cần được điều chỉnh lại Các kiểm định về độ tin cậy của các nội dung mã hóa cũng cần được thực hiện trong một quá trình nghiên cứu

Ba là, mã hóa toàn bộ nội dung được lựa chọn Mỗi hình ảnh cần phải được

kiểm tra về tất cả các nội dung có liên quan Giai đoạn này tuy nhàm chán nhưng đòi hỏi sự tập trung cao độ của người nghiên cứu Bởi nếu có sự bất cẩn, sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc sai lệch kết quả nghiên cứu

Bốn là, phân tích kết quả đã được mã hóa Các nội dung mã hóa của những

bức ảnh trong mẫu nghiên cứu đã được mã hóa Mỗi bức ảnh được thu thập thông tin về những nội dung có liên quan

Sau đó, người nghiên cứu phải thống kê thông tin, làm cơ sở ứng dụng vào phương pháp định lượng Để thống kê được các nội dung mã hóa, cách đơn giản nhất là xác định tần suất xuất hiện của các nội dung đó Giá trị này có thể được biểu thị dưới dạng số tuyệt đối hoặc tương đối (biểu thị bằng tỷ lệ % trên tổng số các bức ảnh) Việc xác định tần suất còn để so sánh tần suất của một nội dung tại các giá trị khác nhau Ví dụ, tại 2 thời điểm khác nhau, một nội dung có tần suất xuất hiện thường xuyên được coi là quan trọng hơn so với các nội dung có tần suất xuất hiện ít hơn

Tuy nhiên, phương pháp phân tích nội dung này chỉ tập trung vào các nội dung có liên quan đến bức ảnh mà không đề cập được trực tiếp việc bức ảnh được chụp như thế nào, cảm xúc và suy nghĩ của người chụp ảnh, cảm xúc và suy nghĩ của của độc giả khi xem bức ảnh

Trang 16

Dựa trên những chỉ báo cụ thể có thể đo lường được, tác giả tiến hành lập bảng

mã định lượng và phân tích trên các bức ảnh đã được lựa chọn Bảng mã thu thập thông tin gồm 30 câu hỏi, nghiên cứu hướng đến lượng hóa các chỉ báo về các yếu tố tạo hình, các yếu tố văn bản, các yếu tố trong quá trình sáng tạo, cách thức truyền tải, các yếu tố tâm lý của thông điệp ảnh báo chí; nhận diện tần suất xuất hiện của các biến

số, tìm hiểu ý đồ của nhà truyền thông Từ đó, rút ra nhận xét về thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử Số liệu được mã hóa và xử lý trên các tin, bài được đăng tải trên 3 tờ báo mạng điện tử, từ tháng 1/2021 đến tháng 12/2021

Về cách chọn các bức ảnh được nghiên cứu (mẫu): Luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu xây dựng tuần ngẫu nhiên (constructed weeks) Đây là loại kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng (SRS) phổ biến trong các nghiên cứu truyền thông, trong đó, mẫu cuối cùng đại diện cho tất cả bảy ngày trong tuần (Jones & Carter 1959; Stempel III, 1952) để tính toán biến thiên tuần hoàn của nội dung tin tức (Riffe, Aust & Lacy, 1993) Mục đích của phương pháp này là tạo ra hiệu quả lấy mẫu tối đa trong khi kiểm soát các thành tố theo chu kỳ Nếu nghiên cứu lấy quá ít đơn vị lấy mẫu, có thể dẫn đến kết quả nghiên cứu không đáng tin cậy hoặc không hợp lệ Nếu nghiên cứu lấy quá nhiều đơn vị mẫu có thể gây lãng phí tài nguyên mã hóa

Theo đó, việc xây dựng một tuần từ dân số một tháng sẽ liên quan đến việc chọn một Chủ nhật từ tất cả bốn Chủ nhật trong tháng đó, một thứ Hai từ tất cả bốn thứ Hai,v.v cho đến mỗi ngày trong tuần được trình bày trong mẫu cuối cùng Kỹ thuật này có thể được điều chỉnh (modified) kích thước của mẫu cuối cùng cũng như cả quần thể

hằng tuần Chọn ngẫu nhiên một vấn đề từ mỗi tháng trong năm

Một năm tin tức truyền hình

buổi tối Chọn ngẫu nhiên 2 ngày từ các bản tin của mỗi tháng trong năm Một năm tạp chí tin tức Chọn ngẫu nhiên một vấn đề từ mỗi tháng trong năm

Bảng 1: Phương pháp lấy mẫu xây dựng ngẫu nhiên của Riff, et al

(1993, 1998, 2001, 2005)

Trang 17

Phương pháp này đã được áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu truyền thông đại chúng và các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khác có đối tượng là báo chí truyền thông, đặc biệt là các ấn phẩm phát hành theo ngày

Theo nghiên cứu của luận án, ở Việt Nam, có rất ít các nghiên cứu về thông điệp trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là với đối tượng báo mạng điện tử, sử dụng phương pháp chọn mẫu xây dựng tuần ngẫu nhiên (constructed weeks) Năm 2021, có tác giả Phạm Thị Thùy Linh (Học viện Báo chí

và Tuyên truyền) sử dụng phương pháp chọn mẫu xây dựng tuần ngẫu nhiên (constructed weeks) trong nghiên cứu luận án tiến sỹ báo chí học “Định kiến giới trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay”

Trên thực tế, báo mạng điện tử là một loại hình báo chí mới phát triển trong những năm gần đây, vì vậy, cơ sở dữ liệu chưa được lưu trữ đầy đủ, việc tiếp cận chúng từ nguồn dữ liệu quốc gia là không thể Người nghiên cứu chỉ có thể tra cứu

dữ liệu được lưu trữ trên sever của chính các trang báo mạng điện tử đó Việc thu thập dữ liệu phải tiến hành thủ công nhờ các công cụ tìm kiếm theo ngày trên trang báo mạng điện tử

Hiện nay, các nghiên cứu về nội dung truyền thông ở Việt Nam chủ yếu sử dụng phương pháp chọn mẫu theo từ khóa và theo chủ đề Phương pháp này rất hữu ích trong việc nghiên cứu một nội dung cụ thể như: Thông điệp về biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực đồng bằng sông Cửu Long; Thông điệp về hôn nhân có yếu

tố nước ngoài; Thông điệp về tham nhũng… Nhưng đối với nội dung mang tính bao quát, trong đó chứa nhiều nội dung cụ thể thì phương pháp này thiếu tính thuyết phục, ví dụ như nghiên cứu về thông điệp ảnh báo chí Việc chọn mẫu theo

từ khóa và theo chủ đề sẽ không bao quát được hết dung lượng mẫu sẵn có cũng như không thể hiện được chính xác nội dung truyền thông cần khảo sát

Vì vậy, luận án áp dụng phương pháp chọn mẫu xây dựng tuần ngẫu nhiên

để thu thập mẫu nghiên cứu Theo Bảng 1, với phạm vi khảo sát là 3 báo mạng điện

tử VNN, VNE, DT, trong thời gian khảo sát là 1 năm (từ tháng 1/2021-12/2021), tác giả sẽ chọn ra đủ 2 tuần ngẫu nhiên trong một năm cho mỗi tờ báo, trong đó, mỗi tuần khảo sát từ thứ 2 đến thứ 6, mặc định không khảo sát thứ 7, chủ nhật Tiến hành lựa chọn mẫu khảo sát với các tiêu chí chọn mẫu như trên theo hình thức bốc thăm ngẫu nhiên, thu được kết quả các ngày đăng tải tin, bài có chứa thông điệp ảnh báo chí khảo sát trên 3 báo điện tử VNE, VNN, DT trong năm 2021 như sau:

Trang 18

STT Năm 2021

Thứ Thứ hai Thứ ba Thứ tư Thứ năm Thứ sáu Ngày 26/7/2021 23/2/2021 7/7/2021 14/10/2021 1/1/2021

2/8/2021 11/6/2021 19/5/2021 30/12/2021 2/4/2021 Tuần tương ứng 30 - 31 8 - 23 27 - 20 41 - 52 1 - 13

Bảng 2: Kết quả chọn mẫu theo phương pháp constructed weeks

Trên cơ sở các đơn vị mẫu là các ngày đã được lựa chọn ngẫu nhiên theo phương pháp constructed weeks, tác giả tiến hành sử dụng công cụ tìm kiếm theo ngày để liệt kê tất cả các tin bài đăng trên 3 báo theo thời gian trong Bảng 2 Theo thống kê, ước tính trung bình mỗi báo mạng điện tử trong 1 ngày đăng tải 300 tin, bài; 10 ngày sẽ có khoảng 3.000 tin, bài/báo 3 báo sẽ có khoảng 9.000 tin, bài Số lượng mẫu lựa chọn quá lớn Vì vậy, luận án tiếp tục áp dụng phương thức chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản (Simple random sampling) theo bảng kích cỡ mẫu của Krejcie và Morgan (1970):

Bảng 3: Bảng kích cỡ mẫu của Krejcie và Morgan (1970)

Trang 19

Theo đó, nếu chọn theo mẫu ngẫu nhiên tỷ lệ thì n = 3000/341 = 9; như vậy,

cứ cách 9 bài thì sẽ chọn 1 bài bất kỳ theo sự hiển thị của báo trong phần tìm kiếm Tổng số tin, bài được lựa chọn khảo sát là 1.020 bài Trong đó, VnE là 340 tin, bài, VNN là 340 tin, bài, DT là 340 tin, bài Số lượng tin, bài để khảo sát, đảm bảo độ lớn của mẫu nghiên cứu

Tiếp theo, lập bảng mã thu thập thông tin về thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử đã được lựa chọn Bảng mã bao gồm 30 câu hỏi, chia làm 6 phần nội dung: Thông tin chung, Các yếu tố tạo hình, Các yếu tố văn bản, Các yếu tố trong quá trình sáng tạo ảnh báo chí, Cách thức truyền tải thông điệp ảnh báo chí trên báo

mạng điện tử, Yếu tố tâm lý của thông điệp ảnh báo chí (Xem Phụ lục 1) Việc xử

lý dữ liệu được tiến hành chi tiết bằng phần mềm SPSS sẽ cho ra kết quả khách quan, đảm bảo tính khoa học

- Phương pháp phân tích nội dung tín hiệu học

Một trong những hướng phân tích quan trọng của xã hội học truyền thông, báo chí học là nghiên cứu nội dung thông điệp báo chí truyền thông, bao gồm phân tích nội dung thực nghiệm (tập trung đo lường, lượng hóa các chỉ tiêu trong nội dung sản phẩm truyền thông) và phân tích nội dung tín hiệu học

Phương pháp phân tích tín hiệu học nhằm tìm ra những nội dung tiềm ẩn và

ý nghĩa sâu xa nằm dưới hệ thống tín hiệu của bức thông điệp công khai mà nhà truyền thông phát ra Cha đẻ của phương pháp này là nhà ngôn ngữ học Ferdinand

De Sausure người Thụy Điển Theo ông, tín hiệu ngôn ngữ là một thực thể tâm lý

có hai mặt, bao gồm hình ảnh âm thanh và khái niệm Ông gọi hai thành tố này là cái biểu hiện và cái được biểu hiện Cái biểu hiện là phần tồn tại vật lý của tín hiệu, còn cái được biểu hiện là khái niệm nằm trong đầu chúng ta [124, tr.119 -122] Mỗi thể loại (bộ phim, vở kịch, một cuốn truyện…) đều có ngôn ngữ riêng của mình (hình ảnh, biểu tượng, ẩn dụ…) và đều có thể được giải mã căn cứ trên những đặc trưng của môi trường văn hóa mà nó xuất hiện Việc phân tích một cách có hệ thống và đi vào chiều sâu có thể giúp chúng ta tìm ra những ý nghĩa thực thụ ẩn giấu đằng sau các sản phẩm văn hóa mà chính các nhà truyền thông không lường được và công chúng cũng thường khó mà nhìn ra Ở đây, không nên quên một điểm

Trang 20

quan trọng là “cái biểu hiện” cũng như “cái được biểu hiện” đều là sản phẩm của một nền văn hóa cụ thể nào đó [72, tr.234]

Roland Barthes đã bổ sung cho lý thuyết của Ferdinand De Sausure trong việc phân tích các tín hiệu Ông gọi mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là ý nghĩa trực chỉ Sự phân biệt những cái biểu hiện còn do ý nghĩa biểu cảm Theo ông, trong quá trình tri giác một tín hiệu hay một thông điệp, con người thường nhận ra ý nghĩa biểu cảm bằng trực giác và cảm tính, hơn là bằng lý trí Điều này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm chủ quan của chủ thể, loại kinh nghiệm này thiên về cảm xúc trước những giá trị văn hóa hơn là xuất phát từ kỹ năng suy lý của trí tuệ [72, tr.236]

Áp dụng phương pháp phân tích nội dung tín hiệu học vào phân tích nội dung thông điệp ảnh báo chí sẽ giúp nhận diện và phân tích những cấp độ ý nghĩa của các tín hiệu nằm trong hình ảnh Khi thảo luận và phân tích ý nghĩa của các hình ảnh, lời nói hoặc chữ viết đi cùng hình ảnh đóng một vai trò quan trọng trong việc định vị (hay “bỏ neo”) ý nghĩa thông điệp hình ảnh muốn truyền tải Tuy nhiên, cũng cần thận trọng khi dùng phương pháp này và không nên cố tìm cách khám phá những cái gì không thực sự nằm trong thông điệp hay hình ảnh khảo sát

- Phương pháp phỏng vấn sâu: được thực hiện qua hình thức câu hỏi với các

nhà lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí; các nhà nghiên cứu, chuyên gia trong lĩnh

vực ảnh báo chí; phóng viên ảnh báo chí (Xem phụ lục phỏng vấn sâu)

Luận án lựa chọn phỏng vấn sâu 10 chuyên gia, trong đó, có 3 lãnh đạo cơ quan báo chí, 4 phóng viên ảnh/phụ trách bộ phận ảnh của 4 tờ báo mạng điện tử, 2 nhà nghiên cứu về ảnh báo chí, 1 giảng viên đào tạo ảnh báo chí Qua phương pháp này, luận án sẽ thu thập được các thông tin trong thực tiễn tác nghiệp sáng tạo thông điệp ảnh báo chí, cách thức truyền tải thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử…

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study):

Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu đã nêu trên một cách dễ hiểu, luận án lựa chọn, đi sâu vào nghiên cứu thông điệp ảnh báo chí về vấn đề chuyên biệt, điển

Trang 21

hình nổi bật trong năm 2021 được công chúng quan tâm, được các phương tiện truyền thông đại chúng lựa chọn đăng tải thông tin nhiều nhất

Trong năm 2021, "Đại dịch COVID-19" là từ khóa nóng nhất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong năm 2021 không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới Tại Việt Nam, đã ghi nhận 2 đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ 3 và lần thứ 4, lây lan trong cộng đồng, đặc biệt đại dịch bùng phát tại các tỉnh, thành phố phía Nam đã gây tác động tiêu cực và làm xáo trộn đến mọi mặt của đời sống Nội dung được thông tin, tuyên truyền, phản ánh lớn nhất trong năm 2021 trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó có báo mạng điện tử là về đại dịch COVID-19 Đây cũng là nội dung được công chúng quan tâm nhất Vì vậy, luận án chọn nghiên cứu trường hợp thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử về đại dịch COVID-19

Trang 22

- Môi trường kinh tế văn hóa xã hội

- Phẩm chất năng lực của nhà báo

Giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp ảnh báo chí trên Báo mạng điện

tử ở Việt Nam hiện nay

Quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về báo mạng điện tử, ảnh báo chí

Phân loại ảnh báo chí

Ảnh báo chí về hoạt động của lãnh đạo Đảng

và Nhà nước

Ảnh báo chí về tin tức thời sự

Ảnh báo chí về chân dung nhân vật/con người

Ảnh báo chí về các sự kiện, hiện tượng, vấn đề chuyên biệt điển hình

Các yếu tố cấu thành thông điệp ảnh báo chí

Trang 23

6 Đóng góp mới của luận án

- Về mặt lý luận: Luận án hệ thống và làm rõ những vấn đề lý luận về thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử, góp phần tạo dựng phương pháp luận về nghiên cứu thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử

- Về mặt thực tiễn: Luận án tiến hành khảo sát, chỉ ra thực trạng của thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay, xác định vai trò và những yêu cầu đối của báo mạng điện tử trong việc truyền thông thông điệp ảnh báo chí nhằm tăng cường hiểu biết, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của độc giả

Từ đó, chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với báo mạng điện tử trong việc truyền tải thông điệp ảnh báo chí; đề xuất những giải pháp và khuyến nghị để nâng cao chất lượng thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử để đáp ứng mục tiêu truyền thông trong bối cảnh hiện nay

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

7.1 Ý nghĩa khoa học

Là công trình nghiên cứu đầu tiên tiếp cận cơ bản và hệ thống vấn đề thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay, luận án sẽ làm phong phú thêm cho lĩnh vực nghiên cứu truyền thông, cụ thể là khía cạnh phân tích thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nâng cao năng lực tác động và hiệu quả truyền thông của ảnh báo chí trên báo mạng điện tử

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan, luận án sẽ cung cấp cái nhìn tổng thể thực trạng thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử, đặc biệt là đối với 3 tờ báo mạng điện tử được lựa chọn khảo sát Qua đó, giúp các cơ quan báo mạng điện

tử nhìn nhận lại kết quả thực hiện nhiệm vụ truyền tải thông điệp bằng ảnh, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng thông điệp bằng ảnh báo chí trên báo mạng điện tử

Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích phục vụ công tác nghiên cứu khoa học

về lĩnh vực ảnh báo chí, lĩnh vực nghiên cứu thông điệp và lĩnh vực báo mạng điện

tử Từ đó, gợi mở hướng nghiên cứu cho các đề tài khoa học khác có liên quan

Luận án sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ sở nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực cho báo chí truyền thông về ảnh báo chí, báo mạng điện tử và là

Trang 24

nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm về thông điệp ảnh trên báo mạng điện tử

8 Kết cấu của luận án

Ngoài chương Tổng quan, Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo

và Phụ lục, luận án có kết cấu 3 chương:

- Chương 1: Thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử - Một số vấn đề

Trang 25

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1 Hướng nghiên cứu về báo mạng điện tử và thông điệp truyền thông trên báo mạng điện tử

1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Sự phát triển của mạng Internet đã dẫn tới sự ra đời của báo mạng điện tử Tuy xuất hiện sau các loại hình báo chí khác, báo mạng điện tử lại có khả năng thực hiện tất cả nhiệm vụ của các loại báo chí khác (phát thanh, truyền hình, báo ảnh) một cách nhanh chóng nhất Theo các tài liệu nghiên cứu, tờ báo mạng điện tử đầu tiên là tờ Chicago Tribune ra đời tháng 5/1992 tại Mỹ Cũng có tài liệu cho rằng, tờ báo mạng điện tử đầu tiên ra đời tháng 10/1993 tại khoa Báo chí thuộc Đại học Florida (Mỹ) Năm 2003, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tổ chức thảo luận và thống nhất tên gọi loại hình này là báo mạng điện tử, tức là báo điện tử tồn tại, phát triển và quảng bá trên mạng Internet Luận án thống nhất sử dụng tên thống nhất tên gọi báo mạng điện tử

Các nghiên cứu trên thế giới đưa ra nhiều các định nghĩa, cách hiểu khác nhau

về khái niệm về báo mạng điện tử với những đặc trưng riêng của nó

Trong cuốn sách Online Journalism - a critical primer (Báo chí trực tuyến -

một căn bản quan trọng) (Nxb Pluto Press, năm 2001), tác giả Jim Hall nhấn mạnh, báo mạng điện tử đang “cách mạng hóa” cách đọc tin tức Sự phát triển của Internet

đã thay đổi hoàn toàn cách khán giả tương tác với tin tức - các câu chuyện được đăng tải ngay khi xảy ra, độc giả thường mong đợi có thể truy cập cả nguồn tin tức

và quan điểm của chính quyền Tin tức trực tuyến và mô hình sở hữu phương tiện truyền thông đặt ra một số câu hỏi cấp bách về tính chính xác, quyền tự chủ báo chí, tự do ngôn luận Thông qua cuốn sách, tác giả Jim Hall đã cung cấp một hướng dẫn toàn diện về lĩnh vực báo mạng điện tử đang nổi lên và xem xét các vấn đề mà

nó đặt ra Tác giả khảo sát các bài viết để tìm hiểu các công nghệ và quy ước mới

mà báo mạng điện tử đã mở ra, đặc biệt là lĩnh vực báo chí trực tuyến ở Mỹ và Anh, hai quốc gia có sự phát triển công nghệ mới đặc biệt nhanh chóng Tác giả sử dụng các nghiên cứu điển hình như Monicagate và cuộc chiến ở Kosovo để minh

Trang 26

họa cả cơ hội và hạn chế của báo mạng điện tử Tác giả khẳng định: dưới tác động của Internet, chúng ta đang sống trong một xã hội thông tin Internet đã thay đổi căn bản công nghiệp tin tức và điều này đòi hỏi mỗi nhà báo phải có cách làm việc mới, nhất là cách truyền tải thông điệp truyền thông

Trong cuốn sách Key concepts in Journalism (Các khái niệm chính trong báo

chí) (Nxb SAGE Publications Ltd, năm 2009) đưa ra định nghĩa: “Báo mạng điện

tử có thể mô tả như tin tức và thông tin có chất lượng được đăng tải trên Internet (cụ thể là trên world wide web)” [123, tr.182] Công nghệ của phương tiện truyền thông mới này cho phép nội dung được thể hiện đa dạng hơn các phương tiện truyền thông truyền thống như báo in, phát thanh, truyền hình, đưa đến sự nổi lên của dạng thức trình bày tin tức liên quan chặt chẽ đến các ứng dụng đa phương tiện, tương tác, liên kết siêu văn bản và cá nhân hóa Đồng thời, dẫn đến sự xuất hiện của thế hệ nhà báo đa phương tiện, mặc dù những kỹ năng cơ bản vẫn dựa trên nền tảng báo chí trước đây

The Online Jounarlism (Cẩm nang báo trực tuyến) (Nxb Pearson Education

Limited, Anh, năm 2011) của tác giả Paul Bradshaw và Liisa Rouhumaa cung cấp cho độc giả những kiến thức và kỹ năng làm báo mạng điện tử Tác giả khẳng định: Thử thách lớn nhất của mà các nhà báo phải đối mặt trong bối cảnh truyền thông mới là biết sử dụng công cụ nào khi cần thiết Nó không đơn thuần là các kỹ năng mang tính kỹ thuật (mặc dù đây cũng là một yếu tố quan trọng), nhưng hơn đó, là các khái niệm, suy nghĩ một cách sáng tạo về các câu chuyện và tập hợp, thu thập các thông tin và sau đó phát triển thành tin, bài cho báo mạng điện tử

Là một trong những cuốn giáo trình hữu dụng cho sinh viên ngành báo chí

và truyền thông, Search: Theory and Practice in Journalism Online (Nghiên cứu:

Lý thuyết và thực hành báo chí trực tuyến) (Nxb Bloomsbury Academic, năm 2013) của tác giả Murray Dick đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về lý thuyết và thực tiễn trong tiềm năng nghiên cứu báo chí trong các công cụ trực tuyến khác nhau như: nghiên cứu ban đầu về lý thuyết tìm kiếm, quyền riêng tư, niềm tin và quyền trực tuyến, phương tiện truyền thông xã hội, đa phương tiện và xác minh tài

Trang 27

liệu trực tuyến, tổng quan quan trọng về lý thuyết trong đạo đức trực tuyến, xác minh và sử dụng phương tiện truyền thông xã hội trong báo chí trực tuyến…

1.2 Nghiên cứu trong nước

Từ năm 1997, tạp chí Quê hương chính thức được phát hành trên mạng Internet và được coi là tờ báo mạng điện tử đầu tiên của Việt Nam đến nay

Ở Việt Nam, có rất nhiều công trình mang tính nền tảng, cơ sở lý luận báo chí hay giáo trình chuyên ngành, nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp về báo mạng điện tử

Đó là: Truyền thông đại chúng (2001) của Tạ Ngọc Tấn, Truyền thông - Lý

thuyết và kỹ năng cơ bản (2006, 2013, 2018) của Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu

Hằng, Cơ sở lý luận báo chí (2011, 2013, 2018) của Nguyễn Văn Dững, Báo chí -

truyền thông hiện đại (2011), Nguyễn Văn Dững, Giáo trình Lý thuyết truyền thông

(2013) của Lương Khắc Hiếu, Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông (Đinh Hường

- Dương Xuân Sơn), Cơ sở lý luận báo chí - Đặc tính và phong cách (Hà Minh Đức), Cơ sở lý luận báo chí (Nguyễn Văn Hà)… Những công trình nghiên cứu

cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống về các khái niệm cơ bản của lý luận báo chí như: khái niệm và đặc điểm báo chí, bản chất hoạt động của báo chí, chức năng, nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng, cơ chế tác động của báo chí… Đây cũng chính là những đặc điểm, chức năng, nguyên tắc hoạt động… của báo mạng điện tử, là nền tảng lý thuyết của báo mạng điện tử mà luận

án kế thừa để triển khai Trong nội dung của các cuốn sách nêu trên cũng đã đề cập đến quá trình truyền thông, các yếu tố của quá trình truyền thông, thông điệp… Từ

đó, tác giả luận án áp dụng, xây dựng khung lý thuyết, đưa ra các tiêu chí của thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử

Trong sách Truyền thông đại chúng (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2001),

tác giả Tạ Ngọc Tấn đưa ra khái niệm: Truyền thông đại chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi, thông qua các phương tiệp đại chúng Theo các tác giả Nguyễn

Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng trong cuốn sách “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ

năng cơ bản” (Nxb Thông tin và Truyền thông, năm 2018), truyền thông là một

quá trình diễn ra theo trình tự tuyến tính thời gian, trong đó, bao gồm các yếu tố

Trang 28

chính: Nguồn, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận, phản hồi, nhiễu Trong

đó, thông điệp truyền thông là tập hợp ký hiệu có cấu trúc chặt chẽ, có nghĩa, được dùng để trao đổi giữa chủ thể và công chúng/nhóm đối tượng truyền thông

Là một trong những tác giả có nhiều nghiên cứu liên quan đến báo mạng điện tử, tác giả Nguyễn Thị Trường Giang đã xuất bản rất nhiều giáo trình về báo

mạng điện tử: Báo mạng điện tử: Những vấn đề cơ bản (2011); Sáng tạo tác phẩm

báo mạng điện tử (2014); Báo mạng điện tử: Đặc trưng và phương pháp sáng tạo (2014); Tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử (2014); Giáo trình Lý thuyết và kỹ năng báo mạng điện tử (2016)… Đây là những nghiên cứu có tính hệ thống về sự

phát triển của Internet, sự ra đời của báo mạng điện tử ở Việt Nam Những kết quả nghiên cứu trên không chỉ là hệ thống cơ sở lý luận, mà còn là hướng dẫn thực hành báo mạng điện tử Tác giả luận án sẽ kế thừa, áp dụng cơ sở lý luận và thực

hành báo mạng điện tử trong công trình nghiên cứu Cụ thể: Báo mạng điện tử:

Những vấn đề cơ bản đã đưa những nội dung cơ bản về quá trình hình thành và

phát triển của Internet, lịch sửa ra đời và sự phát triển của báo mạng điện tử; đặc trưng cơ bản của báo mạng điện tử; mô hình tòa soạn và quy trình sản xuất thông tin của báo mạng điện tử; cách viết và trình bày nội dung báo mạng điện tử; trình

bày nội dung báo mạng điện tử Trong Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử, tác giả

Nguyễn Thị Trường Giang khẳng định, báo mạng điện tử là loại hình báo chí đa phương tiện, nghĩa là không chỉ truyền tải thông tin bằng văn bản, hình ảnh, đồ họa

mà cả âm thanh, video và các chương trình tương tác Đây là cuốn sách đầu tiên đề cập đến đặc trưng và phương pháp sáng tạo các thể loại báo chí trong chuyên ngành báo mạng điện tử một cách hệ thống, bài bản và quy mô nhất Tác giả đã vừa hệ thống những vấn đề lý thuyết, vừa đề cập đến những vấn đề thực tế bằng cách bao quát nhiều kỹ năng thực hành cho từng thể loại khác nhau trong sáng tạo tác phẩm

Tổ chức diễn đàn trên báo mạng điện tử giới thiệu tổng quan về diễn đàn trên báo

mạng điện tử như khái niệm về diễn đàn trên báo mạng điện tử, vai trò của diễn đàn trên báo mạng điện tử…, và đặc biệt, nêu lên một số đánh giá về tác động của diễn đàn trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay Diễn đàn báo mạng điện tử là loại hình trao đổi thông tin khá mới mẻ, thể hiện một trong những đặc trưng của báo

Trang 29

mạng điện tử Đây là chuyên trang, chuyên mục chương trình dành riêng cho công chúng công khai phát biểu ý kiến, bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề nào

đó Nó giúp người đưa tin và người nhận tin tăng cường tương tác với nhau, thể hiện sự chia sẻ, phản biện của công chúng Đây cũng là một trong những đặc điểm của báo chí hiện đại ngày nay, thể hiện tính đại chúng và bản chất dân chủ của nền báo chí Những kiến thức và kỹ năng báo mạng điện tử mà tác giả Nguyễn Thị Trường Giang chuyển tải qua các sách giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo là cơ sở lý luận quan trọng đối với luận án

Giáo trình báo trực tuyến (Nxb Đại học Quốc gia, năm 2015) của nhóm tác

giả Huỳnh Văn Thông, Phan Văn Tú, Huỳnh Minh Tuấn, Triệu Thanh Lê, Ngô Thị Thanh Loan, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp lát cắt về tổng quan báo mạng điện tử, tổ chức hoạt động và quy trình sản xuất, tác nghiệp báo mạng điện tử Đặc biệt, cuốn sách dành 1 chương để nói về mối quan hệ giữa truyền thông xã hội và báo mạng điện tử, khẳng định, truyền thông xã hội cung cấp thông tin, đề tài và là công cụ PR cho các hoạt động

và thông tin của báo mạng điện tử; là kênh tương tác giữa công chúng và báo chí; là công cụ để báo mạng điện tử tổ chức phong trào xã hội Đây cũng là một trong những cách tiếp cận khi khảo sát thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử

Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí (Nxb.Thông tin và Truyền thông, năm 2018), tác giả Nguyễn Văn Dững khẳng định, là kênh truyền thông đặc thù ra đời

sau, báo mạng điện tử đã hội tụ được nhiều ưu điểm nổi trội của các kênh truyền thông trước đó như: kết nối và truyền tải một dung lượng thông tin lớn, tốc độ nhanh; khả năng tương tác nhiều chiều với công chúng; giao lưu trực tuyến; cung cấp thông tin, dữ liệu theo yêu cầu của độc giả; đa phương tiện… Tuy nhiên, tác giả cũng đề cập những hạn chế của báo điện tử như: độ tin cậy, chất lượng thông tin, vấn đề an ninh mạng,… Đây cũng là những chỉ dẫn rất ý nghĩa đối với tác giả luận án trong quá trình thực hiện đề tài

Trong Đề tài khoa học cấp cơ sở “Hình ảnh cho báo mạng điện tử” (năm

2015) của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, tác giả Vũ Thế Cường đã đưa ra những kiến thức cơ bản cho báo mạng điện tử như: Lịch sử nhiếp ảnh, khái niệm

Trang 30

ảnh báo chí, hình ảnh cho báo mạng điện tử, vai trò của hình ảnh, đặc điểm tâm lý tiếp nhận hình ảnh của độc giả báo mạng điện tử, các thể loại hình ảnh báo mạng điện tử Ngoài ra, tác giả cũng cung cấp những kỹ năng sử dụng hình ảnh trong sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử: kỹ năng chụp ảnh, xử lý biên tập ảnh cho báo mạng điện tử

Nhiều bài báo khoa học, công trình nghiên cứu, luận án tiến sỹ báo chí học

đã nghiên cứu nhiều phương diện của báo mạng điện tử hiện nay như: Báo điện tử

với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay (Nguyễn Sơn

Minh, 2016), Quản lý báo chí điện tử ở nước ta trong giai đoạn hiện nay (Doãn Thị Thuận, 2017), Phản biện xã hội trên báo điện tử (Trần Xuân Thân, 2017)… Các

công trình nghiên cứu này đều nêu rõ khái niệm và đặc trưng loại hình báo mạng điện tử, thế mạnh và hạn chế trên báo điện tử…

2 Hướng nghiên cứu về quy trình sản xuất thông điệp ảnh báo chí

2.1 Nghiên cứu trên thế giới

Ngay từ khi ra đời, nhiếp ảnh đã song hành cùng với báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng trong việc truyền tải thông tin đến công chúng

On Photography (Bàn về nhiếp ảnh) (năm 1977) của tác giả Susan Sontag

do Trịnh Lữ chuyển dịch, được coi là “chuỗi tiểu luận về ý nghĩa và sự nghiệp của ảnh chụp” Tuy đã hơn 45 năm trôi qua, những vấn đề mà tác giả đề cập trong cuốn sách vẫn mang tính thời sự Ví dụ, bàn về thú vui chụp ảnh hằng ngày của dân chúng, tác giả đã có những nhận xét chuẩn, ví dụ hiện tượng nghiện “chụp ảnh tự sướng - selfie” ngày nay như một đáp án đúng cho một dự báo chính xác về một xã hội tiêu thụ và toàn cầu hoá Được đánh giá là một tiểu luận quan trọng và độc đáo

về ý nghĩa và sự nghiệp nhiếp ảnh, cuốn sách là nguồn gợi ý sâu sắc về những đặc điểm của thông điệp hình ảnh

The Photography handbook (Sổ tay Nhiếp ảnh) (Nxb Routledge, năm 2003),

tác giả Terence Wright giới thiệu về lý luận, các nguyên tắc trong thực hành nhiếp ảnh, cung cấp các hướng dẫn cho nghiên cứu về nhiếp ảnh, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế một chuỗi các quy trình từ tiền sản xuất đến chỉnh sửa hậu kỳ để có một bức ảnh đẹp với các chủ đề như các khái niệm nhiếp ảnh, lựa chọn định dạng

Trang 31

máy ảnh, góc máy ảnh, khẩu độ, chú thích ảnh, phỏng vấn các biên tập viên, nhiếp ảnh gia và biên tập viên hình ảnh, ứng dụng và tác dụng của các công nghệ mới trong thực hành nhiếp ảnh và một cuộc thám hiểm của sự thay đổi từ hình ảnh

“analog” sang ảnh kỹ thuật số… Ông cũng mong muốn rằng, những người yêu thích nhiếp ảnh, các nhiếp ảnh gia, các nhà truyền thông áp dụng lý thuyết nhiếp ảnh này một cách hiệu quả khi phản ánh về những vấn đề văn hóa, xã hội Đây cũng là một trong những nền tảng kiến thức để tác giả kế thừa, xây dựng tiêu chí đánh giá thông điệp ảnh báo chí

Trong cuốn Flash Journalism: How to Create Multimedia News Packages (Flash Journalism: Cách tạo các gói tin tức đa phương tiện) (Nxb. Routledge, năm 2005), tác giả Mindy McAdams đưa hướng dẫn về thực hiện phóng sự ảnh trên báo mạng điện tử trên phần mềm flash Cuốn sách là một cẩm nang hướng dẫn các nhà báo để kể một câu chuyện và cách tạo hình ảnh động như bản đồ, hình minh họa và

sơ đồ bằng Flash, tích hợp các cuộc phỏng vấn bằng âm thanh và ảnh chất lượng cao vào một gói tin tức hoàn chỉnh cho báo mạng điện tử Cuốn sách là cẩm nang cho các nhà báo, phóng viên báo chí như lời giới thiệu về nó: “Nếu bạn là một biên tập viên báo mạng điện tử hoặc phóng viên ảnh hoặc nhà báo, cuốn sách là nguồn tài nguyên sẽ giúp bạn trau dồi kỹ năng trong lĩnh vực báo chí hiện nay”

Type, Image, Message (Chữ, hình ảnh, thông điệp), (Nxb Rockport Pub,

năm 2006), hai tác giả Nancy Skolos, Thomas Wedell chỉ ra rằng, đọc một hình ảnh khác với việc đọc một câu chữ Trong câu chữ, các ký tự tạo thành từ, các từ tạo thành câu, các câu tạo nên khái niệm Còn hình ảnh thì được tạo bởi màu sắc, ánh sáng, hình thể và cảm xúc Tất cả những yếu tố của hình ảnh sẽ đưa ra thông điệp về thời gian, không gian và ý niệm Ngôn ngữ của hình ảnh ngắn gọn và không cần biểu đạt ý nghĩa bằng văn bản Chữ là một dạng truyền thông bằng văn bản, còn hình ảnh là một dạng truyền thông bằng hình Cuốn sách đã cung cấp các kiến thức cho việc nghiên cứu thông điệp của hình ảnh và so sánh với chữ viết

Nguyên bản tiếng Anh “Asscociated Press Guide to Photojournalism” của

Brian Horton, được tác giả Trần Đức Tài dịch, xuất bản cuốn sách “Ảnh báo chí” (Nxb Thông tấn, năm 2013) Không nói về các kỹ thuật nhiếp ảnh, cách vận hành

Trang 32

máy ảnh, đo sáng, bố cục nhiếp ảnh, tác giả Brian Horton đã chia sẻ về tiến trình tư duy của nhà nhiếp ảnh để có được những khoảnh khắc đắt giá và tiến trình tư duy của người biên tập ảnh trong việc “tìm kiếm những gì chứa đựng trong bức ảnh”, tức là thông điệp hình ảnh Theo tác giả, muốn có được bức ảnh tốt, nhà nhiếp ảnh phải biết phát hiện câu chuyện trong cái nhìn của mình “Nhìn thấy câu chuyện” là một kỹ năng quý giá để cung cấp cho người xem những nội dung ý nghĩa Đó là những kỹ năng thực hành nhiếp ảnh rất hữu ích để luận án dựa vào đó khảo sát thông điệp ảnh báo chí

2.2 Nghiên cứu trong nước

Ảnh báo chí (Nxb Thông tấn, năm 2006) của tác giả Nguyễn Tiến Mão đã

cung cấp những kiến thức cơ bản về nhiếp ảnh và ảnh báo chí Đây là một cuốn cẩm nang nghề nghiệp cho phóng viên ảnh báo chí khi cung cấp những vấn đề lý luận nghiệp vụ ảnh báo chí một cách có hệ thống qua các nội dung: đặc điểm của ảnh báo chí, vai trò, ý nghĩa xã hội của ảnh báo chí, lý thuyết về thể loại ảnh

Kỹ thuật tạo hình nhiếp ảnh (Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2010) của tác

giả Đỗ Phan Ái đã cung cấp cho độc giả những kiến thức cơ bản và những kiến thức chuyên sâu về kỹ thuật nhiếp ảnh và các phương pháp tạo hình nhiếp ảnh Để

có được một tác phẩm ảnh tốt, cần rất nhiều yếu tố như xử lý ánh sáng, màu sắc, đường nét, lựa chọn góc độ, phạm vi khuôn hình, xử lý các mối quan hệ giữa đối tượng chính và đối tượng phụ, bối cảnh Đây là những tiêu chí để đánh giá chất lượng và hiệu quả thông điệp ảnh báo chí

“Những gì chưa dạy ở trường báo chí” (Nxb Văn hóa - văn nghệ Thành

phố Hồ Chí Minh năm 2014) của tác giả Trần Công Khanh chia sẻ những kinh nghiệm làm báo quý báu của mình, đặc biệt là ảnh báo chí Ông nhấn mạnh: Ảnh báo chí là những bức ảnh phải chứa đựng những thông tin trực thuật mang tính

ký sự cao Ảnh phải chuyển tải một chủ đề chính và có một tiêu điểm rõ ràng, phải truyền tải thông tin mới ngay từ cái nhìn đầu tiên, phải đi vào điểm chính không gây bất kỳ mơ hồ nào; phải thường xuyên ghi nhận hình ảnh về những nhân vật đang làm những việc lý thú, được quan tâm Những đặc tính, yêu cầu

Trang 33

của ảnh báo chí mà tác giả Trần Công Khanh cũng chính là yêu cầu đối với thông điệp ảnh báo chí

Ảnh tin (Nxb Thông tin và truyền thông, năm 2016) của tác giả Vũ Huyền

Nga nhằm cung cấp cho độc giả cũng như người học ngành báo Ảnh các kiến thức

từ lý thuyết đến kỹ năng thực hành để sáng tạo thể loại ảnh tin Theo tác giả, sự phát triển của hệ thống báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay với xu hướng báo chí đa phương tiện buộc người phóng viên ngoài kỹ năng viết, phải trang bị thêm

kỹ năng chụp ảnh Thể loại ảnh tin là thể loại ảnh báo chí năng động, có khả năng mang đến lượng thông tin nhanh nhất, hấp dẫn nhất, phù hợp với xu thế của báo mạng điện tử hiện nay Theo tác giả luận án, thể loại ảnh báo chí có mối liên hệ chặt chẽ với thông điệp ảnh báo chí truyền đạt

Giáo trình phóng sự ảnh (Nxb Thông tấn, năm 2022) của tác giả Vũ Huyền

Nga, cung cấp những kiến thức nền tảng cũng như kỹ năng thực tiễn cho độc giả khi nghiên cứu về phóng sự ảnh - một thể loại ảnh báo chí đòi hỏi những kỹ năng

và phẩm chất riêng biệt của nhà báo Phóng sự ảnh báo chí là bao gồm các bức ảnh sinh động, được gắn kết, xâu chuỗi với nhau, ghi lại những khoảnh khắc, đem lại thông tin quan trọng và cảm xúc, không có sự can thiệp, không dàn dựng, không làm thay đổi bản chất của đối tượng Đây cũng là những kiến thức cơ bản để luận

án áp dụng khi khảo sát, phân tích thông điệp ảnh báo chí

Đề tài nghiên cứu khoa học “Ảnh thời sự - tài liệu” (Học viện Báo chí và

Tuyên truyền, năm 2017), tác giả Dương Quốc Bình đã làm rõ những vấn đề cơ bản của nhiếp ảnh báo chí, Ảnh báo chí thuộc thể loại ảnh thời sự - tài liệu như: khái niệm, đặc điểm, quy trình tác nghiệp Đề tài cũng giới thiệu một số tác giả và tác phẩm ảnh báo chí nổi tiếng trên thế giới như: Eman Mohammed, nữ phóng viên ảnh duy nhất tại dải Gaza, nhiếp ảnh gia người New Zealand Robin Hammind dành trọn sự nghiệp cho các đề tài liên quan đến quyền sống, quyền con người trong quá trình phát triển của thế giới, nhiếp ảnh gia tài liệu người Nga Pavel Volkov với các

đề tài mang tính xã hội và cuộc sống tại Đông Âu Đây là những nguồn tư liệu để tác giả luận án tham khảo, nghiên cứu cách biểu đạt thông điệp ảnh báo chí của các tác giả nước ngoài

Trang 34

Hội thảo Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng ảnh báo chí (năm

2013) do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Thông tấn xã Việt Nam tổ chức đã khẳng định vai trò to lớn của ảnh báo chí nói chung và ảnh thời sự trong nền báo chí cách mạng Việt Nam Đó là những tác phẩm O du kích nhỏ của Phan Thoan,

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước của Minh Trường, Chiếm căn cứ Đầu Mầu của Đoàn Công Tính, Tải đạn của Lê Chí Hải, Phúc Tân kêu gọi trả thù của Vũ Ba, Chạy đâu cho thoát của Mai Nam, Nhằm thẳng quân thù mà bắn của Vũ Tạo, Tiểu đội nữ thanh niên xung phong ngã ba Đồng Lộc của Văn Sắc… Tuy nhiên, trong đời sống báo chí hiện nay, còn ít những bức ảnh có tính chân thật, hấp dẫn và thuyết phục như trên Ảnh báo chí vẫn còn nhiều khuôn mẫu về nội dung và hình thức Theo nhà nghiên cứu lý luận phê bình nhiếp ảnh Vũ Huyến phát biểu tại hội thảo, tính chuyên nghiệp trong nghề ảnh báo chí thể hiện trước hết ở nhận thức ảnh báo chí như một loại hình báo chí độc lập, chuyên nghiệp trong đào tạo, chuyên nghiệp trong sử dụng lao động và chuyên nghiệp trong phổ biến sản phẩm ảnh… Tính chuyên nghiệp của báo chí sử dụng ảnh được bộc lộ rõ trong công việc biên tập và trình bày, chọn ảnh; việc chọn ảnh nào, xếp ở vị trí nào, chọn kích cỡ nào là rất quan trọng… Đối với tòa soạn báo, nên thay đổi quan niệm không đúng về ảnh báo chí, không coi nhẹ ảnh báo chí, cần có những phóng viên ảnh chuyên sâu một

số lĩnh vực Ban Thư ký - Tòa soạn cần một biên tập ảnh chuyên trách

Hội thảo tác nghiệp ảnh báo chí (năm 2013) do Trung tâm Nghiên cứu

truyền thông phát triển (Red) (Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam)

tổ chức đã đưa ra các ý kiến, giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển của ảnh báo chí trên báo in, báo điện tử Các tham luận và ý kiến tại hội thảo đề cập đến các nội dung như tác quyền ảnh báo chí, các hình thức vi phạm bản quyền tác phẩm báo chí nói chung và tác quyền ảnh báo chí nói riêng Các ý kiến cũng thống nhất, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng ảnh báo chí như: Tăng cường chất lượng giáo viên chuyên nghiệp có kinh nghiệm thực tế; tổ chức các khóa đào tạo thường niên trong mỗi tòa soạn về ảnh báo chí; chặt chẽ, nghiêm túc trong khâu lựa chọn ảnh tại mỗi tòa soạn báo; tăng cường hợp tác với các tổ chức báo chí trong và ngoài nước

Trang 35

Tại tọa đàm “Nghề báo ảnh trong thế giới hiện đại” (năm 2018) do Hội

Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức tháng 6/2018, các chuyên gia đã chia sẻ hai chủ đề chính là: “Ghi lại bằng hình ảnh thế kỷ 21: Sự biến đổi của nhiếp ảnh” và

“Đạo đức Nghề báo ảnh” Theo đó, một bức ảnh báo chí tốt có khả năng tạo ra thay đổi trong quan điểm, nhận thức của công chúng Để đánh giá một bức ảnh tốt trong đó nhấn mạnh đến góc chụp của phóng viên là một trong những yếu tố mang tính chất quyết định chất lượng bức ảnh Bên cạnh đó, vấn đề về bố cục, không gian, thời gian, màu sắc, ánh sáng, tính thời điểm… là những yếu tố tạo nên sự duy nhất của bức ảnh Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, công nghệ ảnh kỹ thuật số (digital) thay thế mạnh mẽ công nghệ ảnh phim truyền thống, ảnh đen trắng chuyển sang ảnh màu, ảnh kỹ thuật số Mỗi bức ảnh

là góc nhìn chủ quan của người chụp, do vậy để đảm bảo tính chân thực của những bức ảnh đòi hỏi đặt vấn đề đạo đức nghề báo ảnh lên trên hết Cần xem xét các yếu tố cụ thể như: việc sắp đặt trong các bức ảnh báo chí, việc sử dụng công nghệ để chỉnh sửa các bức ảnh, việc cung cấp thông tin giả mạo, những bức ảnh giả mạo trên các phương tiện truyền thông đại chúng… Bên cạnh đó, cần chú ý việc đăng tải ảnh (ảnh báo chí, ảnh giả mạo) lên mạng xã hội có sự lan truyền mạnh mẽ và tác động đối với công chúng

3 Hướng nghiên cứu về phân tích thông điệp ảnh báo chí

3.1 Hướng nghiên cứu trên thế giới

Trong cuốn sách Image, Music, Text (Hình ảnh, Âm nhạc, Văn bản) (Nxb

Fontana Press, năm 1977), tác giả Roland Barthes đã phân tích về mối quan hệ giữa hình ảnh và âm thanh, văn bản Roland Barthes đã khẳng định đặc trưng “hình ảnh

là những thông điệp không có bộ mã” [120, tr.17] Vì vậy, hình ảnh thường phải kết hợp với các yếu tố khác như tiêu đề, chữ viết, chú thích, tên ấn phẩm để tạo ra ý nghĩa của hình ảnh Đây là những gợi mở quan trọng để phân tích thông điệp ảnh báo chí trên báo mạng điện tử

Reading National Geographic Paperback (Nxb University of Chicago

Press, năm 1993) của nhóm tác giả Catherine A Lutz và Jane L Collins do thể hiện kết quả nghiên cứu phân tích nội dung gần 600 bức ảnh được đăng trên tạp chí

Trang 36

trong gần 3 thập kỷ qua Lutz và Collins cho rằng, với việc mã hóa hình ảnh một cách đúng đắn, cẩn thận, chính xác thì việc phân tích nội dung có thể được sử dụng

để giải thích ý nghĩa văn hóa của hình ảnh Thông qua việc phân tích nội dung 600 bức ảnh, Lutz và Collins tìm hiểu cách mà các phóng viên ảnh, người biên tập, người thiết kế trình bày chọn ảnh và viết bài nhằm tạo ra những đại diện cho nền văn hóa mà họ mong muốn Phương pháp nghiên cứu phân tích nội dung các bức ảnh của nhóm tác giả Lutz và Collins có ý nghĩa tham khảo cho luận án ở nhiều góc

độ từ phương pháp nghiên cứu, cơ sở lý luận và các khía cạnh thực tiễn của thông điệp ảnh báo chí

Trong cuốn sách Picture Theory (Lý thuyết hình ảnh) (Nxb Routledge, năm

1994), tác giả W.J.T Mitchell cho biết khi bắt đầu cuốn sách về Lý thuyết hình ảnh,

“chúng ta vẫn chưa biết chính xác hình ảnh là gì, mối quan hệ của chúng với ngôn ngữ là gì, cách chúng hoạt động trên các nhà quan sát và trên thế giới, lịch sử của chúng như thế nào” WJT Mitchell đặt câu hỏi chính xác là hình ảnh (và lý thuyết

về hình ảnh) đang làm gì bây giờ, vào cuối thế kỷ 20, khi sức mạnh của hình ảnh được cho là lớn hơn bao giờ hết, và “lượt hình ảnh” thay thế “lượt quay ngôn ngữ” trong nghiên cứu văn hóa Cuốn sách này làm rõ tác động qua lại giữa “cái nhìn thấy được” và “cái có thể đọc” được trong các nền văn hóa, từ văn học đến nghệ thuật thị giác cho đến phương tiện truyền thông đại chúng

Quanlitative reseachring with text, image and sound: A Practical Handbook

(Nxb SAGE Publications, năm 2007) của tác giả Martin W Bauer và George Gaskell, cung cấp một loạt các phương pháp nghiên cứu để phân tích có hệ thống

dữ liệu xã hội (văn bản, hình ảnh, âm thanh) Tác giả đưa ra 5 bước phân tích thông điệp hình ảnh theo hình thức ký hiệu học và biểu tượng, đặc biệt là đối với hình ảnh quảng cáo

Images in use - Towards the critical analysis of visual communication (Hình

ảnh ứng dụng - Hướng tới phân tích quan trọng về giao tiếp bằng hình ảnh) (Nxb John Benjamins Publishing Company, năm 2011), nhóm tác giả Matteo Stocchetti

và Karin Kukkonen cho rằng “các phân tích về hình ảnh dường như chỉ quan tâm với việc phê bình hình thức văn hóa và mỹ học, trong khi những vấn đề mang tính

Trang 37

xã hội lại hoàn toàn bị bỏ lơ, hoặc bị cho là thứ yếu” [139, tr.1] Đưa ra một loạt các nghiên cứu trường hợp qua các cuộc khảo sát về truyền thông hình ảnh về các nội dung chính trị, văn hóa, người nổi tiếng tác giả đã đưa ra kết luận “những phân tích mang tính phê phán có thể làm sáng tỏ các đặc tính phức tạp và hàm chứa quyền lực của truyền thông thị giác” Vì vậy, họ đề xuất việc phân tích hình ảnh bằng cách phải đặt hình ảnh vào bối cảnh xã hội của nó và xác định tác động thực sự của hình ảnh,

“tìm hiểu xem chúng được sử dụng trong quá trình thương thỏa giá trị - cũng chính là quá trình đấu tranh vì quyền lực xã hội như thế nào” [139, tr 8]

Visual Communication: Images with Messages (Truyền thông thị giác: Hình ảnh với thông điệp) (Nxb Wadsworth Publishing Company, năm 2013) của tác giả

Paul Martin Lester, tái bản lần thứ 6 Tác giả khẳng định, giao tiếp bằng hình ảnh cũng quan trọng như giao tiếp bằng lời nói, ngôn ngữ “Nhận thức trực quan được sử dụng trong tất cả các hình thức truyền thông, cho dù đó là thiết kế đồ họa, nhiếp ảnh, truyền hình, video hoặc phương tiện tương tác” Vì vậy, những kiến thức, kinh nghiệm của Paul Martin Lester về truyền thông đại chúng, truyền thông thị giác, phóng sự ảnh sẽ là những chỉ dẫn quý báu để luận án hoàn thành được mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ đề ra

Visual communication theory and research, A mass communication perspective

(Lý thuyết và nghiên cứu truyền thông thị giác, Một quan điểm truyền thông đại chúng), (Nxb Palgrave Macmillan, năm 2014) của nhóm tác giả Mary Angela Bock, Shahira Fahmy, Wayne Wanta Theo đó, nghiên cứu truyền thông thị giác có một lịch sử nghiên cứu, có ứng dụng sâu sắc trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn Nghiên cứu một cách có hệ thống về hình ảnh trực quan là một phương pháp rất quan trọng để hiểu về thế giới và hiểu về chính mỗi con người Trong

Chương 4 của cuốn sách: Says What: Research on the Content in the Visual

Communication (Nói gì: Nghiên cứu về nội dung trong giao tiếp trực quan), các tác giả đã đề cập đến nhiều phương pháp của phân tích nội dung hình ảnh theo định lượng hoặc định tính Tuy nhiên, nếu kết hợp các phương pháp với nhau bao gồm nhiều cấp độ phân tích sẽ đưa ra những kết quả đánh giá chi tiết về nội dung hình

Trang 38

ảnh Song song với các cuốn sách có nội dung về truyền thông thị giác, phân tích hình ảnh, có rất nhiều nghiên cứu khoa học về nội dung này

Trong Reading Images - The grammar of visual design (Đọc hình ảnh - Ngữ

pháp của thiết kế trực quan) (Nxb Routledge, năm 2020), tác giả Kress và Van Leeuwen đã đưa ra phương pháp phân tích tín hiệu hình ảnh theo ba siêu chức năng xây dựng trên nền tảng khung lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday và được gọi là lý thuyết phân tích diễn ngôn đa phương thức Theo Kress

và Van Leeuwen, hình ảnh cũng tương tự như ngôn ngữ, có thể mô tả các quá trình, các tham thể tham gia trong các quá trình, các chu cảnh trong đó, các tham thể và quá trình được biểu hiện

Cũng theo hướng nghiên cứu phân tích diễn ngôn đa phương thức, trong

Discourses in Place: Language in the Material (Nxb Routledge, năm 2003), tác

giả Ron Scollon, Suzie Wong Scollon cũng đề cập tới cách phân tích diễn ngôn đa

thức với cách tiếp cận là tập trung vào bối cảnh (context) và sự tương tác tình huống (situated interaction), tức là tập trung phân tích hành động được thực hiện bởi tham thể xã hội có tương tác hoặc thông qua các phương tiện đa phương thức

Economou đã áp dụng cơ sở lý thuyết phân tích hình ảnh của Kress và Van Leeuwen để nghiên cứu hình ảnh thời sự trên báo chí theo hướng đa phương thức

trong luận án tiến sỹ của mình “Photos in the News: Appraisal analysis of visual

semiosis and verbal-visual intersemiosis”( năm 2009) Cách phân tích thẩm định

hình ảnh trong luận án cung cấp bằng chứng mới về sức mạnh tư tưởng và đánh giá của hình ảnh thời sự Bằng cách xác định các lựa chọn ký hiệu học liên quan đến việc định vị đánh giá của người đọc bằng các văn bản ngôn ngữ trực quan, luận án

có thể đóng góp vào thực hành phản ánh và thông tin nhiều hơn Do đó, ngoài việc tạo ra những tiến bộ về mặt lý thuyết, những phát hiện này còn phù hợp với báo chí

và giáo dục vào thời điểm mà tác động của hình ảnh đang thay đổi quan niệm của chúng ta về đọc viết

Nghiên cứu Picturing Afghan Women: A Content Analysis of AP Wire

Photographs During the Taliban Regime and after the Fall of the Taliban Regime (Hình ảnh phụ nữ Afghanistan: Phân tích nội dung các bức ảnh chụp của AP trong

Trang 39

chế độ Taliban và sau khi chế độ Taliban sụp đổ) (năm 2004) của tác giả Shahira

Fahmy nghiên cứu mô tả về người phụ nữ Afghanistan, so sánh hình ảnh của họ trong chế độ Taliban và sau khi chế độ Taliban sụp đổ qua 284 bức ảnh của hãng

AP Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi chế độ Taliban sụp đổ, những người phụ nữ

ở đây vẫn mặc áo trùm, che kín toàn bộ cơ thể và khuôn mặt, nhưng họ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động, tương tác, gần gũi với xã hội hơn và thể hiện sự bình đẳng giới Đây là một nghiên cứu phân tích nội dung hình ảnh và những ý nghĩa tượng trưng của các biểu tượng xuất hiện trong hình ảnh như Burqa Đây là một loại áo dài của phụ nữ Afghanistan, có phần vải để trùm lên đầu, phía trước một tấm lưới dày che mặt làm họ chỉ có thể nhìn từ trong ra ngoài Theo tư tưởng của phương Tây, Burqa tượng trưng cho sự phục tùng hoặc là biểu tượng của sự đàn áp giới tính Việc mặc burqa thể hiện sự phi nhân cách hóa của phụ nữ, thể hiện người phụ nữ bất lực, phục tùng, thụ động, dễ bị tổn thương và bị thống trị Cách phân tích những nội dung hình ảnh, ý nghĩa liên tưởng, biểu trưng của những dấu hiệu xuất hiện trong ảnh báo chí là một chỉ dẫn để tác giả áp dụng khi triển khai luận án

Nghiên cứu A visual framing analysis of British press photography during the

2006 Israel- Lebanon conflict (Nghiên cứu phân tích quan điểm của báo chí Anh

thông qua các hình ảnh về cuộc xung đột giữa Israel và Lebanon năm 2006) của tác giả Katy Parry (Đại học Liverpool, Anh) phân tích những hình ảnh báo chí về cuộc

xung đột Israel - Lebanon năm 2006, trên hai tờ báo nổi tiếng của Anh là The Times và The Guardian Nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi: các bức ảnh được phản ánh từ hai phía của cuộc xung đột này có ý nghĩa gì, có phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức và tuyên bố chính trị của hai bên không? Thông qua việc phân tích

nội dung được thực hiện đối với 99 bức ảnh được đăng trên tờ The Times, và 112

bức trên tờ The Guardian, kết quả phân tích cho thấy, cả hai tờ báo đa số đều lựa chọn các bức ảnh mô tả đời sống của người dân hoặc sự mất mát của con người vì

cuộc chiến tranh Trong khi The Times có xu hướng phản ánh hình ảnh những binh

sĩ (28.3% so với 19.6%) và các thiết bị quân sự (20.2% so với 15.2%), The

Guardian lặp lại việc phản ánh tổn thất của chiến tranh với các bức ảnh thiệt hại về

nhà cửa, cầu cống và các công trình xây dựng ở 36.6% các bức ảnh, cho thấy nỗ

Trang 40

lực của họ trong việc thông tin đến người đọc về sự tàn phá trên quy mô lớn ở Leban Mục đích thứ hai của nghiên cứu này là để kiểm nghiệm phương pháp phân tích các quan điểm thông qua hình ảnh trực quan Nội dung phân tích cho phép nghiên cứu sâu hơn tất cả các yếu tố của bức ảnh (góc nhìn, góc chụp) và các quyết định của biên tập viên trong sự lựa chọn, sắp đặt và ngôn từ để trình bày ý tưởng cho các bức ảnh Kết quả, các bức ảnh phản ánh cuộc sống của người dân xuất hiện với tần suất lớn cho thấy các nhà truyền thông đều gắn các hình ảnh hướng tới trình bày quan điểm về “sự đồng cảm và tính nhân đạo”

Presidential Portrayal: Photographic Coverage of two President của TS Yung

Soo Kim (trường Đại học Southern Illinois Carbondate) và TS James D.Kelly (trường Đại học Indiana) (2012) Nghiên cứu này được trình bày lần đầu tiên tại Hội thảo “Visual Communication Studies Division” do Hiệp hội Truyền thông thế giới tổ chức thường niên tại Singapore vào tháng 6/2010 Đây là một nghiên cứu về thông điệp hình ảnh về Tổng thống Geogre W.Bush và Barack Obama trên 2 tờ tạp chí Time và Newsweek trong suốt 6 tháng đầu tiên của nhiệm kỳ của mỗi tổng thống Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng lý thuyết khung hình ảnh, đưa

ra 4 giả thuyết và sử dụng phương pháp nghiên cứu thông điệp để chứng minh giả thuyết Đó là các giả thuyết về sự trang trọng và dân dã, đời thường; những bức ảnh

vô tình hay ảnh tài liệu; ảnh độc lập hay liên kết; ảnh chỉ đơn thuần là thông tin hay

có sự phức tạp… Tác giả đã nghiên cứu 106 hình ảnh của Tổng thống Obama và 83 hình ảnh của Tổng thống Bush Tổng số 189 bức ảnh này đã được mã hóa và đưa ra

kết quả, hình ảnh của Tổng thống Obama đã xuất hiện với vẻ tự tin, độc lập và dân

dã hơn so với Tổng thống Bush Những bức ảnh của Tổng thống Obama có tính tư liệu và có tính hình ảnh trực quan cao hơn Sự xuất hiện này cho thấy hình ảnh Tổng thống Obama là một tổng thống da đen dễ gần, tự tin và cũng rất giống như những cử tri da trắng mà ông đang điều hành

Luận án A Comparative Content Analysis of Global News Agencies:

Pictorial Representation of the Paris Attacks and the Beirut Bombings (2017) của

tác giả Dokyum Kim thuộc London School of Economics and Political Science, thuộc trường Đại học London đã nghiên cứu thông điệp ảnh báo chí của hãng AP

Ngày đăng: 23/06/2023, 11:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w