1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Phép thế trong truyện ngắn của Nam Cao

85 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phép Thế Trong Truyện Ngắn Của Nam Cao
Tác giả Nguyễn Thị Chúc Bình
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Trường học Trường Đại Học Võ Trường Toản
Chuyên ngành Văn Học
Thể loại Khóa luận văn học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hậu Giang
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần nội dung: chúng tôi chia làm ba chương chính: - Chương 1: khái lược về phép thế trong liên kết văn bản Trong chương này, chúng tôi đã tham khảo quan điểm của một số tác giả về phép

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC

PHÉP THẾ TRONG TRUYỆN NGẮN

CỦA NAM CAO

NGUYỄN THỊ CHÚC BÌNH

Hậu Giang, 2013

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN

ĐỀ TÀI PHÉP THẾ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO

Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn Khoá 2 (2009 – 2013)

Cán bộ hướng dẫn:

ThS Nguyễn Thị Ngọc Điệp

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Chúc Bình MSSV:0956010516 Lớp: Ngữ Văn khóa 2

Hậu Giang, 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

….…

Khoảng thời gian học tập và rèn luyện dưới giảng đường đại học là khoảng thời gian tuyệt vời nhất, đã giúp cho chúng tôi tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm sống Trong suốt khoảng thời gian ấy, các thầy cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi rất nhiều, không chỉ truyền đạt kiến thức về chuyên ngành mà còn giúp chúng tôi có thêm kinh nghiệm để chúng tôi tự tin hơn khi bước vào đời

Dù khoảng thời gian bốn năm học tập không quá ngắn cũng không quá dài nhưng đủ để chúng tôi cảm nhận được những giá trị, những tình cảm quý báu mà quý thầy cô đã dành cho chúng tôi Và giờ đây, khoảnh khắc tích tắc ấy đã gần kề khi thời gian học tập dưới giảng đường đại học dần đi vào kết thúc Dù khá vất vả khi phải hoàn thành luận văn tốt nghiệp nhưng chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc vì luôn có thầy cô, bạn bè bên cạnh động viên, giúp đỡ Nhân đây, tôi xin gửi lời cám

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vì chưa có kinh nghiệm, hạn chế về kiến thức và hạn định về thời gian nên luận văn không tránh khỏi những sai sót Kính mong quý thầy cô góp ý, bổ sung để người viết hoàn thiện thêm kiến thức về luận văn này

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Hậu Giang, ngày ……tháng ……năm 2013 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Chúc Bình

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

….…

Tôi xin cam đoan đề tài này là do chính tôi thực hiện, kết quả các số liệu thu thập và phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu nào

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Chúc Bình

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Luận văn gồm có 2 phần chính: phần mở đầu và phần nội dụng

1 Phần mở đầu có những nội dung như sau:

- Lý do chọn đề tài

- Mục đích nghiên cứu

- Lịch sử vấn đề

- Phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

2 Phần nội dung: chúng tôi chia làm ba chương chính:

- Chương 1: khái lược về phép thế trong liên kết văn bản

Trong chương này, chúng tôi đã tham khảo quan điểm của một số tác giả về phép thế như: Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Ảnh, Nguyễn Chí Hòa… sau đó định hướng về phép thế Qua quá trình nhận xét quan điểm của các tác giả, chúng tôi đã tìm ra hướng giải quyết là thống nhất theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm

- Chương 2: Các dạng thức thế trong một số truyện ngắn của Nam Cao

Ở phần này, ngoài việc tìm hiểu về tác giả Nam Cao, chúng tôi tập trung đi vào từng dạng thức thế cụ thể trong từng tác phẩm Thống nhất theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm, chúng tôi phân phép thế thành hai dạng thức: thế đồng nghĩa và thế đại từ (trong đó thế đồng nghĩa miêu tả và đại từ nhân xưng ngôi ba được sử dụng phổ biến)

- Chương 3: Chức năng của phép thế trong một số truyện ngắn Nam Cao

Trong phần này, chúng tôi sẽ khảo sát ba chức năng chính của phép thế: + Chức năng liên kết văn bản và tránh lặp từ vựng

+ Chức năng rút gọn văn bản

Trang 6

Kết luận

Thông qua quá trình chọn đề tài, tìm hiểu và giải quyết vấn đề, chúng tôi đã hiểu rõ hơn về phép thế cũng như cách sử dụng ngôn từ của nhà văn Nam Cao Ngoài việc biết được khái niệm, cách phân loại, chúng tôi còn biết được chức năng của phép thế Với ba chức năng đặc trưng của phép thế đã đem lại hiệu quả đáng kể trong văn bản đặc biệt là văn bản nghệ thuật Qua đó, chúng tôi thấy được nghệ thuật đặc sắc trong sử dụng ngôn từ của nhà văn Nam Cao

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phép thế là phương thức liên kết được sử dụng phổ biến trong văn bản đặc biệt là văn bản nghệ thuật Ngoài chức năng liên kết văn bản, tránh lặp từ vựng, phép thế còn góp phần làm phong phú thông tin cung cấp, rút gọn văn bản cũng như kèm theo thái độ, sự đánh giá của người viết

Trong nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, có rất nhiều nhà văn nổi tiếng, tiêu biểu nhất là nhà văn Nam Cao Nam Cao được biết đến qua hàng loạt các

tác phẩm có giá trị nhân văn rất cao như: Chí Phèo, Lão Hạc, Giăng sáng, Đời thừa,

Một bữa no,… Đó là những tác phẩm đã đánh dấu tên tuổi của Nam Cao trong suốt

quá trình sáng tác

Vì sao Nam Cao lại được độc giả yêu thích và có vị trí trong nền văn học?

Bởi ông là một nhà văn tài ba, sáng tạo biết “ đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn

chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” để thể hiện trong các tác phẩm văn học

Điều đó không chỉ thể hiện trong phần nội dung mà cả về phương diện hình thức Đặc biệt trong các tác phẩm của ông, phép thế được sử dụng với tần số rất cao và giữ vai trò quan trọng trong tác phẩm

Xuất phát từ sự yêu thích tác giả cũng như nhu cầu tìm hiểu sâu hơn phép thế

và tài năng sử dụng phép thế trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn Nam Cao, người

viết chọn đề tài Phép thế trong truyện ngắn của Nam Cao làm luận văn tốt nghiệp

Đồng thời qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi có cái nhìn bao quát hơn về nhà văn Nam Cao trong việc sử dụng ngôn từ khi sáng tạo nghệ thuật

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Về phép thế

Có thể nói, một trong số công trình nghiên cứu được xem là sớm và chi tiết

liên quan đến phép thế là Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đi sâu ở hai phương diện liên kết của văn bản: liên kết nội dung và liên kết hình thức Trong đó, tác giả đề cập phần nhiều đến liên kết hình thức Trong các phương thức liên kết hình thức, tác giả đề cập đến phép thế và cho rằng phép thế có hai dạng thức: thế đồng nghĩa và thế đại từ Ở mỗi dạng thức thế, tác giả đi sâu vào phân tích, khái quát hình thức, phạm vi sử dụng và giá trị của nó Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống, được đánh giá cao và còn được xem là nền tảng cho những công trình nghiên cứu sau

Tiếp thu quan điểm của Trần Ngọc Thêm trong Văn bản và liên kết trong

tiếng Việt, Diệp Quang Ban cũng đề cập đến phép thế theo hai quan niệm: liên kết

nội dung và liên kết hình thức, liên kết phi cấu trúc tính Trong phần liên kết nội

Trang 9

dung và liên kết hình thức, tác giả cũng chia phép thế thành hai dạng thức là thế đồng nghĩa và thế đại từ

Trong Tiếng Việt thực hành, Nguyễn Thị Ảnh cũng đề cập đến phép thế

nhưng được phân biệt ở hai dạng thức là thế đồng sở chỉ và thế đại từ Dù có sự khác biệt về mặt thuật ngữ nhưng xét ở cấp độ ý nghĩa thì cũng không có gì khác so với những công trình trước đó

Bên cạnh đó, còn có một số tài liệu đề cập đến phép thế nhưng chỉ mang tính

chất khái quát Trong Tiếng Việt thực hành (1997) các tác giả Bùi Minh Toàn, Lê A,

Đỗ Việt Hùng cũng đề cập đến phép thế và chia thành hai dạng thức: thế đại từ và thế bằng từ đồng nghĩa, gần nghĩa nhưng cũng chỉ điểm qua vài nét sơ lược về phép thế trong liên kết văn bản

Công trình gần đây nhất là Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt của Nguyễn Thị Việt Thanh và Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản của Nguyễn Chí

Hòa Trong đó, Nguyễn Thị Việt Thanh đề cập đến phép thế trong liên kết văn bản

để từ đó thấy được phép thế trong liên kết lời nói Riêng Nguyễn Chí Hòa không đề cập đến phép thế nhưng ông xây dựng lý thuyết cho quan hệ móc xích ở các dạng thức: quan hệ móc xích đồng nghĩa và quan hệ móc xích đại từ

Nhìn chung, việc nghiên cứu về phép thế trong liên kết văn bản chủ yếu tập trung ở các dạng thức của phép thế Những công trình nghiên cứu của tác giả ít nhiều còn tồn tại những điểm chưa thống nhất

2.2 Về nhà văn Nam Cao

Nam Cao là một trong những nhà văn Việt Nam tiêu biểu nhất thế kỷ 20 Và ông được mệnh danh là nhà văn hiện thực xuất sắc, với nhiều tác phẩm có giá trị và

được đánh giá rất cao Cũng như Trần Đăng Suyền trong Nam Cao – Nhà văn hiện

thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn (1998) đã khẳng định: “Nam Cao là một nhà văn lớn nhất của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 Trong số các nhà văn hiện thực, ông là cây bút có ý thức sâu sắc nhất về quan điểm nghệ thuật của mình Ông phê phán khá toàn diện và triệt để tính chất thoát ly, tiêu cực của văn chương lãng mạn đương thời, coi đó là thứ “ánh trăng lừa dối”, đồng thời yêu cầu nghệ thuật chân chính phải trở về với đời sống, phải nhìn thẳng vào sự thật, nói lên được nỗi thống khổ của hàng triệu nhân dân lao động lầm than” [10;tr.31]

Nam Cao – Một con người đầy tài năng và sáng tạo Cùng những tìm tòi, khám phá, Nam Cao có những đóng góp đáng kể vào tiến trình phát triển của văn học Việt Nam Chính vì lẽ đó, có rất nhiều tác giả có những bài viết, những công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm Nam Cao Đa số các nhà phê bình tập trung

Trang 10

vào phân tích nội dung, giá trị nghệ thuật, phong cách, quan điểm nghệ thuật, con người và những đóng góp của nhà văn đối với nền văn học Việt Nam

Quyển Nam Cao về tác giả và tác phẩm của Bích Thu được xem là tiêu biểu

nhất Đây là công trình nghiên cứu tập hợp nhiều bài viết của các tác giả về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nam Cao Trong quyển này bốn phần Phần một:

Văn và người gồm những bài viết về cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao trong giai

đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám Phần hai: Tác phẩm – Tiếp nhận và

thưởng thức, từ cái nhìn đa chiều, các bài viết đã đi sâu vào phân tích và cảm thụ tác

phẩm đặc sắc của Nam Cao Phần ba: Phong cách nghệ thuật gồm những bài viết về

giá trị tiềm ẩn của một tài năng văn chương trong nghệ thuật ngôn từ với một phong

cách độc đáo và hiện đại Phần bốn: Hồi ức và kỉ niệm gồm những bài viết về những

kỉ niệm thân thiết, cảm động của người thân, bạn bè, đồng nghiệp về con người nhà văn

Trong Nam Cao – Đời văn và tác phẩm, Hà Minh Đức đã đưa độc giả đến

gần hơn với nhà văn Nam Cao Tác giả đã đi sâu để tìm hiểu, ghi nhận những giá trị độc đáo, những đóng góp đáng kể cũng như những vấn đề còn tiềm ẩn ở nhà văn

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, còn có một số công trình khác như:

Đọc văn – Học văn (Trần Đình Sử), Nam Cao – Một đời văn (Lê Tiến Dũng), Người kết thúc trào lưu văn học hiện thực (Phong Lê),…

Nhìn chung, chưa có về mảng đề tài nào nghiên cứu về “Phép thế trong

truyện ngắn của Nam Cao Các công trình trên chỉ nghiên cứu về cuộc đời, sự

nghiệp và những đóng góp của nhà văn trong sự phát triển của nên văn học Việt Nam Song, các công trình trên sẽ là nguồn tài liệu phong phú cho đề tài luận văn

mà chúng tôi thực hiện

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Phép thế trong truyện ngắn của Nam Cao, luận văn hệ

thống một số quan niệm về phép thế Trên cở sở đó, khảo sát các dạng thức của phép thế được sử dụng trong tác phẩm của Nam Cao Bước đầu phân tích để làm nổi bật tác dụng của một số dạng thức cơ bản

Qua quá trình nghiên cứu đề tài, người viết hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu Đồng thời việc nghiên cứu đề tài còn tạo tiền đề cho người viết trong những công trình nghiên cứu sau này

4 Phạm vi nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài Phép thế trong truyện ngắn của Nam Cao, chúng tôi tiến

hành tìm hiểu phép thế cũng như những dạng thức cụ thể trong liên kết văn bản qua

Trang 11

các công trình nghiên cứu trước đó của các tác giả: Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Ảnh, Nguyễn Chí Hòa,…Từ đó, tiến hành khảo sát phép thế trong

truyện ngắn của Nam Cao qua một số tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo (1941), Lão

Hạc (1942), Giăng sáng (1942), Một bữa no (1943), Đời thừa (1943)

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài một cách khoa học, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu Trước tiên, chúng tôi tham khảo những công trình nghiên cứu có

đề cập đến phép thế trong liên kết văn bản, với những phương pháp tổng hợp chúng tôi hệ thống hóa những quan điểm khác nhau của các tác giả về phép thế Tiếp theo, chúng tôi tiến hành thống kê các dạng thức của phép thế trong truyện ngắn của Nam Cao Sau đó, phân tích ngữ liệu để làm sáng tỏ giá trị, tác dụng của phép thế mà tác giả đã sử dụng trong tác phẩm

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHÁI LƯỢC VỀ PHÉP THẾ

TRONG LIÊN KẾT VĂN BẢN

1.1 QUAN ĐIỂM CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ VỀ PHÉP THẾ VÀ CÁC DẠNG THỨC THẾ

1.1.1 Quan điểm của Trần Ngọc Thêm

Trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, tác giả chia phép thế thành hai

dạng: thế đồng nghĩa và thế đại từ

1.1.1.1 Phép thế đồng nghĩa

Theo tác giả, “phép thế đồng nghĩa là một phương thức liên kết thể hiện

ở việc sử dụng trong chủ ngôn và kết ngôn những ngữ đoạn (từ hoặc cụm từ) khác nhau có cùng một nghĩa (chỉ cùng một đối tượng)” [ 13; tr.114]

Trong phép thế đồng nghĩa, sự đồng nhất về nghĩa (biểu vật hoặc biểu niệm) của chủ tố và thế tố tức là mối quan hệ thông qua đối tượng mà chúng biểu

thị, chính là cơ sở cho chức năng liên kết phát ngôn

Ví dụ:

Sài Gòn đã làm cho thế giới kinh ngạc ( Sài Gòn là một thành phố) Sức

sống của thành phố mãnh liệt không sao lường nổi

Tác giả cho rằng: phép thế đồng nghĩa là một sự đồng nhất được thừa

nhận mà không cần tuyên bố [13; tr.114]

Căn cứ vào đặc điểm của các phương tiện dùng làm chủ tố và thế tố, tác giả chia phép thế đồng nghĩa thành bốn dạng: thế đồng nghĩa từ điển, thế đồng nghĩa lâm thời, thế đồng nghĩa phủ định và thế đồng nghĩa miêu tả

- Thế đồng nghĩa từ điển

Theo tác giả: “ thế đồng nghĩa từ điển là kiểu thế đồng nghĩa ổn định mà

cả hai yếu tố liên kết là những từ đồng nghĩa (thường được cố định trong các từ điển đồng nghĩa)” [13; tr.115]

Trang 13

- Thế đồng nghĩa phủ định

Theo tác giả, đây là kiểu thế ổn định mà một trong hai yếu tố liên kết là

cụm từ cấu tạo từ từ trái nghĩa của yếu tố liên kết kia cộng với từ phủ định [13;

tr.116]

Ví dụ :

Người Pháp đổ máu đã nhiều Dân ta hi sinh cũng không ít

( Hồ Chí Minh - Thư gởi đồng bào ,5-1947)

- Thế đồng nghĩa miêu tả

Đây là kiểu thế không ổn định có ít nhất một trong hai yếu tố liên kết là

cụm từ miêu tả một thuộc tính điển hình nào đó đủ để đại diện cho đối tượng mà nó biểu thị [13; tr.117]

Ví dụ:

Ông lão há miệng ra như bị bò cạp chích Ông biết thừa là bọn chúng chẳng lạ gì gia đình ông, nhưng ông vẫn cứ phải ngạc nhiên như vậy

(Nguyễn Thi - Ở xã Trung Nghĩa)

Có trường hợp cùng một đối tượng có thể đặc trưng từ nhiều góc độ khác nhau, có nhiều dấu hiệu điển hình khác nhau

Ví dụ:

Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp ( ) Chị Dậu nghiến hai hàm

răng ( ) túm lấy cổ hắn, ấn giúi ra cửa Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt

đất ( )

Người nhà lí trưởng sấn sổ bước đến giơ gậy chực đánh chị Dậu Nhanh

như cắt, chị nắm ngay được gậy của hắn ( ) kết cục anh chàng “hầu cận ông Lí yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị này túm tóc, lẳng cho một cái, ngã nhào ra

thềm

(Ngô Tất Tố - Tắt đèn)

- Thế đồng nghĩa lâm thời

Thế đồng nghĩa lâm thời là kiểu thế không ổn định mà chủ tố và thế tố là

những từ vốn không phải là từ đồng nghĩa song có quan hệ ngữ nghĩa bao hàm (theo kiểu giống – loài ), trong đó từ có ngoại diện hẹp hơn (chỉ giống) bao giờ cũng phải làm chủ tố còn từ kia (có ngoại diện rộng hơn) bao giờ cũng làm thế tố

[13; tr.119]

Ví dụ:

Năm 23 tuổi, cụ Võ An Ninh đã có những bức ảnh đầu tiên đăng trên

Trang 14

với tình yêu tha thiết

( Báo Nhân dân, 25-1-1984)

Để có thể xác định và tránh nhầm lẫn trong phân loại phép thế, tác giả

II THẾ ĐỒNG NGHĨA PHỦ ĐỊNH

Thế không ổn định

IV THẾ ĐỒNG NGHĨA LÂM THỜI

III THẾ ĐỒNG NGHĨA MIÊU TẢ

1.1.1.2 Phép thế đại từ

Tác giả cho rằng “ phép thế đại từ là một phương thức liên kết thể hiện ở

việc sử dụng trong kết ngôn mà đại từ (hoặc từ đại từ hóa) để thay thế cho một ngữ

đoạn nào đó ở chủ ngôn” [13; tr.142]

Ví dụ:

Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống Nó do đấu tranh,

rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố

(Hồ Chí Minh - Đạo đức cách mạng)

Ở đây phép thế đại từ khác với phép thế đồng nghĩa chủ yếu ở việc sử

dụng đại từ làm thế tố Bên cạnh đó, đại từ còn là một trong số những từ loại có

chức năng liên kết và rút gọn văn bản

Ví dụ:

Đáng lẽ, vấn đề được trình bày rõ ràng, gãy gọn, thì anh đã nói một cách

úp mở, lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ Chính anh, anh cũng tự cảm

thấy là anh đã nói một cách úp mở, lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ

Và khi đã biết rằng chính anh, anh cũng tự cảm thấy là anh đã nói một cách úp

mở, lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ thì anh càng hoang mang

=> Đáng lẽ, vấn đề được trình bày rõ ràng, gãy gọn, thì anh đã nói một

cách úp mở, lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ Chính anh, anh cũng tự

cảm thấy thế Và khi đã biết thế anh càng hoang mang

(Vũ Thị Thường - Cái Lạt)

Trang 15

Để nắm rõ chức năng liên kết của các đại từ, Trần Ngọc Thêm phân loại đại từ theo hai hướng:

- Theo đối tượng thay thế, các đại từ có thể chia thành 7 tiểu loại: Chỉ người (N), chỉ vật (V), chỉ số lượng (L), chỉ thời gian (T), chỉ không gian (K), chỉ dấu hiệu (D), chỉ cách thức (C)

- Theo quan hệ với tọa độ gốc thì chúng ta có thể chia làm 4 tiểu loại: chỉ điểm gốc (1), chỉ điểm gần (2), chỉ điểm xa (3) và có tính nghi vấn phiếm chỉ (4)

Để tiện việc xem xét, Trần Ngọc Thêm đã hệ thống bảng phân loại các đại từ như sau:

Điểm gốc

Điểm gần Điểm xa Nghi vấn-

phiếm chỉ

N Người

TÔI (*) TAO, tớ

MÀY, cậu, anh, y, ông, đồng chí

HẮN, THỊ,

Y,

HỌ

NÓ, CHÚNG, TẤT CẢ

BÂY GIỜ

BAO GIỜ NÃY, MAI

Trang 16

Theo Trần Ngọc Thêm, đại từ làm thế tố là một trong “những từ loại có

chức năng liên kết rõ rệt nhất” và tác giả cũng đã chỉ ra chức năng liên kết của các

nhóm đại từ trong văn bản

Trần Ngọc Thêm xét thế đại từ trong liên kết văn bản theo hai hướng: -Thế đại từ liên kết khiếm diện và dự báo

- Thế đại từ liên kết hiện diện hồi quy

Trong thế đại từ liên kết khiếm diện và dự báo, tác giả chỉ ra những nhóm

từ thường chủ yếu thực hiện chức năng liên kết khiếm diện (đó là những nhóm từ chỉ tọa độ gốc) bao gồm: người phát tin (N1) – người nhận tin (N2) – thời gian gốc (T1) – không gian gốc (K1) và tất cả những nhóm khác của tiểu loại 1 (L1, D1, )

Bây giờ là đầu mùa hè Trời ít mưa

(Tô Hoài - Nhà nghèo)

Ở những đoạn đối thoại trong văn bản truyện, kí thì các đại từ với những mối liên kết khiếm diện của chúng bao giờ cũng đã được văn bản hóa bằng cách diễn đạt các “chủ tố” vốn vắng mặt thành lời Tức là các liên kết thế đại từ khiếm diện đã được hiện diện hóa (biểu hiện này thường được diễn ra giữa lời tác giả với lời nhân vật)

Ví dụ:

Xe chúng tôi lướt nhanh trên con đường quốc lộ số một giữa những cánh

đồng lúa xanh rì của huyện Tiên Sơn Như sực nhớ ra điều gì, tiến sĩ Thái Lâm

quay sang phía tôi:

- Anh có thuộc vùng này không?

Tôi gật đầu, đáp:

- Có quê tôi cũng ở gần đây

(Lê phương - Bạch đàn)

Huấn cầm lấy tay Hằng nói:

- Tay em có hơi đen đi nhưng anh lại thấy em đẹp hơn ngày anh mới gặp

( Nguyễn Thị Ngọc Tú - Buổi sáng)

Trong các bài nói trên được ghi lại thì các mối liên kết khiếm diện thường chuyển thành liên kết hiện diện giữa văn bản với đầu đề của nó

Trang 17

Ví dụ:

BÀI NÓI CHUYỆN CỦA HỒ CHỦ TỊCH TẠI ĐẠI HỘI VĂN NGHỆ TOÀN

QUỐC LẦN THỨ III NGÀY 1/12/1962

Tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái ( ) khen ngợi các

đồng chí đã có những thành tích trong thời gian qua ( ) Hôm nay, tôi chỉ kể vài

kinh nghiệm cũ

Chính nhờ việc hiển hiện hóa các liên kết khiếm diện như vậy mà văn bản

có được sự hoàn chỉnh cần thiết và giúp cho người đọc hiểu được nó một cách dễ

dàng, không cần phải có hoàn cảnh nói năng trực tiếp

Bên cạnh xu hướng hiện diện hóa liên kết khiếm diện còn có xu hướng

khiếm diện hóa giả tạo liên kết thế đại từ hiện diện Hiện tượng này thường được

xảy ra trong các văn bản văn học Ở khiếm diện hóa giả tạo, đối tượng tưởng như khiếm diện ngay từ đầu văn bản thì đến một lúc nào đó sẽ hiện diện trong văn bản Trần Ngọc Thêm cho rằng: đây là một hiện tượng “dự báo hóa liên kết hồi quy”

Ví dụ:

LUYỆN VỚI BIỂN

Ông bị ngọng từ bé Tại sao? Không thể biết rõ Nhưng ông quyết chữa

bằng được Ông tập đọc, tập nói ở trong phòng một mình Đọc, nói từng chữ, từng câu Rồi ông ra bãi biển, mồm ngậm sỏi, gào thi với sóng nước

Chẳng những chữa khỏi tật, mà ông còn trở thành nhà hùng biện của một thời

Tri thức là gì? Tri thức là hiểu biết

( Hồ Chí Minh - Sửa đổi lối làm việc)

Nguồn gốc của các trào lưu lệch lạc về văn học, nghệ thuật phương Tây

ở đâu? Nói gọn, nguồn gốc cơ bản của nó là sự bế tắc của văn học phương Tây

( Phạm Văn Đồng - Nói chuyện tại đại hội văn nghệ IV)

Các đại từ ở tiểu loại 4 không chỉ dùng với nghĩa nghi vấn mà còn dùng

với nghĩa phiếm chỉ Khi có từ phủ định đứng trước (không ai, không bao giờ,

không đâu, chẳng sao ) hay khi có từ “cũng” đứng sau để diễn tả nghĩa phiếm chỉ

khẳng định (ai cũng = “ tất cả mọi người”, đâu cũng = “khắp nơi”, bao giờ cũng

Trang 18

Trong thế đại từ liên kết hồi quy, những nhóm đại từ thuộc các tiểu loại

1-2-3 có thể mang chức năng liên kết hồi quy Riêng đại từ mình (số ít) và nhau (số

nhiều) chỉ liên kết hồi quy trong phát ngôn

Ở đây, tác giả chỉ rõ những đại từ liên kết hồi quy có tần số sử dụng cao nhất tập trung vào hai khu vực N, V-3 và K, D, C

- Ở khu vực N, V-3, các đại từ trong khu vực nay thay thế cho các danh

từ hoặc danh ngữ chỉ người hoặc sự vật Được sử dụng phổ biến là đại từ nó, chúng

Ví dụ:

Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện Nó đã

dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta

( Hồ Chí Minh - Nhiệm vụ cấp bách, 9-1945)

Thực dân phản động Pháp động viên hải lục không quân hàng chục vạn

người Chúng chi tiêu vào quân phí mỗi ngày hàng chục triệu bạc

( Hồ Chí Minh - Kỉ niệm 6 tháng kháng chiến, 6-1947)

Trần Ngọc Thêm cho rằng: những danh từ biểu thị khái niệm tập hợp

thường được nhận thức dưới dạng số nhiều và thay thế bằng chúng (họ)

Ví dụ:

Điều kiện sống thích hợp của tre là nơi có nhiệt độ trung bình năm trên

22 0 C Chúng mọc trên niều loại đất khác nhau

( Tin tức hoạt động khoa học, 8-1976)

Điền nghĩ đến cái tính bủn xỉn của đàn bà Họ may áo để cất đi

( Nam Cao - Giăng sáng)

Tuy đại từ nó, chúng được dùng chung cho hai tiểu loại N và V, nhưng ở

mọi tiểu loại chúng lại có những đặc điểm riêng về sắc thái nghĩa và cách sử dụng

Ở N3, bên cạnh nó, chúng còn có nhiều đại từ và từ đại từ hóa khác

chúng được phân hóa rõ rệt về sắc thái nghĩa:

a) Các từ đại từ hóa dùng một mình phần nhiều có sắc thái kính trọng (người, ông , bà, anh, chị )

b) Các kết hợp X+ ấy (X = từ đại từ hóa) và đại từ họ với chúng có sắc

thái trung hòa

c) Các kết hợp X+ ta và đại từ y có sắc thái xuông xã (nói chung ranh

giới giữa nhóm b và c không được rõ rệt lắm

d) Các đại từ hắn, nó, chúng có sắc thái coi thường

Ở V3, đại từ nó, chúng dùng chung cho mọi trường hợp và không có sự

phân hóa về sắc thái

Trang 19

Tác giả nói thêm, trong nhóm NV-3 còn có đại từ tất cả chỉ toàn bộ phần

tử của tập hợp Chủ tố của nó thường ở dạng liệt kê

( Nguyễn Trung Thành - Đường chung ta đi)

Tuy nhiên cần phân biệt tất cả với chức năng liên kết đại từ với phụ từ chỉ toàn bộ tất cả đứng ở vị trí đầu danh ngữ Phụ từ này không làm nhiệm vụ thay thế

và không có chức năng liên kết phát ngôn

Mặt khác, nếu chủ tố không chỉ người hoặc sự vật thì tùy theo đặc điểm của nó mà lựa chọn đại từ trong các tiểu loại L, T, K, C

dụng độc lập nhưng cũng có thể đi kèm với các từ nối (tại đây, từ bây giờ, bằng bấy

nhiêu, tuy thế, vì vậy, ) Và có rất nhiều những kết hợp “từ nối + đại từ” có xu

hướng cố định hóa [13; tr.153]

Ví dụ:

Hiện nay trình độ của đại đa số đồng bào ta không cho phép đọc dài,( )

thì giờ của ta không cho phép xem lâu Vì vậy cho nên viết ngắn chừng nào tốt

chừng ấy

( Hồ Chí Minh - cách viết, 8-1952)

Phần lớn các đại từ chỉ thay thế được cho một từ hoặc một cụm từ Song các nhóm đại từ K và C có khả năng thay thế cho một phát ngôn, chuỗi phát ngôn Theo tác giả, nếu ở kết ngôn nói đến một không gian, một vị trí , một sự vật (sự vật thường mang tính không gian) thì phải dùng các đại từ K; còn nếu ở kết ngôn nói đến chủ tố như một sự việc, một sự kiện, một cách thức thì phải dùng các đại từ C [13; tr.154]

Ví dụ:

Không chỉ tham gia các cuộc họp của chi hội mà thôi, tôi còn đến những

Trang 20

đồng chí MácSenCaSanh, Vaiăng Cutuyariê, MôngMútxô và nhiều đồng chí khác

đã giúp đỡ tôi hiểu biết thêm

( Hồ Chí Minh - Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin)

Ở đại từ nhóm C có thể sử dụng độc lập thay thế cho phát ngôn, chuỗi phát ngôn trong hai trường hợp:

a) Khi đại từ làm vị ngữ hoặc bổ ngữ trong kết ngôn

Ví dụ:

Nước ta là một nước văn hiến Ai cũng bảo thế

( Nguyễn Công Hoan - Công dụng của cái miệng)

b) Khi đại từ làm chủ ngữ trong nồng cốt quan hệ đồng nhất (đứng trước

từ là)

Ví dụ:

Cỏ may trên bờ đường đi đã tàn Người trong làng ra đồng gặt lúa Trên mênh mông chỉ còn trơ lại những gốc rạ khô Thế là mùa rét đã tới

(Tô Hoài - Dế Mèn phiêu lưu kí)

Còn các đại từ K thì chỉ có thể sử dụng độc lập để thay thế cho phát ngôn, chuỗi phát ngôn khi nó làm chủ ngữ trong nòng cốt quan hệ đồng nhất (đứng trước

từ là)

Ví dụ:

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu

của ta

( Hồ Chí Minh - Báo cáo Chính trị tại Đại hội II, 2-1951)

Trường hợp các đại từ D theo tác giả cần có sự kết hợp “ danh ngữ khái quát (danh từ loại thể) + đại từ dấu hiệu D”

Các danh từ khái quát dùng kèm với đại từ phổ biến nhất là: điều, việc,

chuyện, cái, thứ, Các đại từ dấu hiệu thường dùng kèm với danh từ khái quát là: này, ấy, đó [13; tr.156]

Ví dụ:

Keng phải may một bộ cánh Việc này không thể cho bố biết được

( Nuyễn Kiên - Anh Keng)

Mẹ chồng chị cu Sứt chết vừa nãy Tin ấy chẳng mấy chốc bay đi khắp

làng

( Nguyễn Công Hoan - Công dụng của cái miệng)

Trần Ngọc Thêm khẳng định, đại từ nhóm D trong sự kết hợp với các danh từ khái quát “ Có sức thay thế lớn và là những đại từ có tần số sử dụng cao nhất” Tuy nhiên, khi đứng trước đại từ D không phải là danh từ khái quát nữa mà

Trang 21

là một danh từ có nghĩa hết sức cụ thể ( danh từ đơn thể) thì bắt đầu xuất hiện một

phép thế đồng nghĩa bên cạnh phép thế đại từ [13;tr.157]

Ví dụ:

Sau hết, tôi lại có dịp ghé lại nhà chồng cô Nghị (Tôi bước xuống nhà

dưới, và cũng như lần trước, chỉ có một mình Nghị trong nhà Bà mẹ chồng Nghị lúc này đã trở ra sau vườn Cha chồng Nghị đi đào hầm làm xã chiến đấu chưa về

Chị Sáu đi hợp, con Hiếu theo mẹ) Tôi cho đó là sinh hoạt bình thường trong gia

1.1.2 Quan điểm của Diệp Quang Ban

Trong quyển Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Diệp Quang Ban đưa ra hai

quan niệm về tính liên kết

Quan niệm thứ nhất: Coi liên kết văn bản thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Và liên kết được khai thác cả ở mặt các phương tiện hình thức lẫn mặt ý nghĩa

Quan niệm thứ hai: Liên kết với tư cách một khái niệm chuyên môn, không thuộc về cấu trúc của ngôn ngữ, mặc dù bản thân các yếu tố cấu trúc trong ngôn ngữ là có tính liên kết

Qua hai quan niệm trên cho thấy: liên kết theo quan niệm thứ nhất gọi là liên kết hình thức và liên kết nội dung, còn liên kết theo quan niệm thứ hai gọi là liên kết phi cấu trúc tính

1.1.2.1 Theo quan niệm thứ nhất, Diệp Quang Ban chia phép thế thành hai

dạng: thế đồng nghĩa và thế đại từ Ở đây, tác giả trình bày “một cách giản lược phần tương ứng trong Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, có thay đổi cách diễn

đạt để phù hợp với đông đảo bạn đọc” [2; tr.121]

- Phép thế đồng nghĩa

Theo tác giả, thế đồng nghĩa là “ Việc sử dụng trong câu kết yếu tố (từ,

cụm từ ) có cùng nghĩa với yếu tố tương ứng ở câu chủ, để tạo liên kết giữa hai câu” [2; tr.125]

Trong thế đồng nghĩa, Diệp Quang Ban chia phép thế thành bốn dạng: Thế đồng nghĩa từ điển, thế đồng nghĩa phủ định, thế đồng nghĩa miêu tả, thế đồng nghĩa lâm thời

Trang 22

Cai lệ tát vào mặt chị một cái bốp ( ) Chị Dậu nghiến hai hàm răng ( )

túm lấy cổ áo hắn, ấn dúi ra cửa Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kiệp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chàng quèo trên mặt đất

( )

(Ngô Tất Tố)

+ Thế đồng nghĩa lâm thời

Ví dụ:

Một số phường săn đến thăm dò để giăng bẫy bắt con cọp xám Nhưng

con ác thú tinh lắm, đặt mồi to và ngon đến đâu cũng không lừa nổi nó

( Truyện cổ tích - Nghè hóa cọp)

- Phép thế đại từ

Tác giả cho rằng, thế đại từ là “ việc sử dụng trong câu kết yếu tố đại từ

tính (đại từ, tổ hợp từ có tính chất đại từ) thay thế cho yếu tố tương ứng với nó ở câu chủ, để tạo liên kết” [2; tr.129]

Trong thế đại từ, tác giả chia thành hai trường hợp: liên kết đại từ hồi chiếu và liên kết đại từ khứ chiếu

+ Liên kết đại từ hồi chiếu

Liên kết đại từ hồi chiếu “diễn ra khi yếu tố được thay thế đứng trước yếu tố

thay thế ( tức đại từ)” [2; tr.129]

Ví dụ:

Đáng lẽ vấn đề phải được trình bày rõ ràng, gãy gọn, thì anh đã nói một

cách úp mở, lờ mờ và chẳng có qua cái gì gọi là bằng cớ Chính anh, anh cũng

tự cảm thấy thế

Trang 23

( Vũ Thị Phương)

+ Liên kết đại từ khứ chiếu

Liên kết đại từ khứ chiếu “có mặt khi yếu tố thay thế (tức đại từ) đứng

trước yếu tố được thay thế [2; tr.129]

Theo Diệp Quang Ban, phép quy chiếu “ xuất phát từ yếu tố ngôn ngữ có

nghĩa chưa cụ thể ở một câu nào đó cần được giải thích bằng yếu tố ngôn ngữ có nghĩa cụ thể ở câu khác, trên cơ sở đó hai câu liên kết với nhau” [2; tr.148]

Yếu tố có nghĩa chưa cụ thể được gọi là yếu tố được giải thích, còn lại là yếu tố giải thích Trong phép quy chiếu có ba trường hợp: quy chiếu chỉ ngôi, quy chiếu chỉ định và quy chiếu so sánh

+ Quy chiếu chỉ ngôi

Theo tác giả, “quy chiếu chỉ ngôi là trường hợp sử dụng các yếu tố chỉ

ngôi với tư cách là những yếu tố có nghĩa chưa cụ thể ở câu này xét trong mối quan hệ với yếu tố có nghĩa cụ thể tương ứng ở câu khác trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết với nhau” [2; tr.149]

Trang 24

Ví dụ:

Làm việc gì đều phải có vốn Đối với văn nghệ sĩ, vốn ấy là vốn gì? Đó là

vốn chính trị, vốn văn hóa; vốn văn nghệ Ba loại vốn đó đều quan trọng, không

nên coi nhẹ loại nào

+ Quy chiếu so sánh

Quy chiếu so sánh là “trường hợp sử dụng trong câu những tổ hợp có

nghĩa cụ thể và có chứa những ý nghĩa so sánh, như cái tương tự, cái bàn lớn hơn, cái, và đặt chúng trong mối liên hệ nghĩa với những yếu tố có nghĩa cụ thể trong câu khác” [2; tr.155]

Ví dụ:

Bạn tôi thích áo màu đỏ Tôi thì thích màu khác kia

- Phép thế được Diệp Quang Ban chia làm ba trường hợp:

+ Thế cho danh từ ( cụm danh từ ): các yếu tố được dùng thay thế cho

danh từ: cái đó, cái này,

Chắc chắn là mấy đêm trước đơn vị vẫn cử người lần mò vào tận đây

tìm tôi Hẳn là đơn vị anh Nhâm cũng thế

( Nguyễn Trung Thành)

+ Thế cho mệnh đề ( kết cấu chủ - vị hay cú): Các yếu tố dùng để thay

thế cho mệnh đề là thế, vậy

Ví dụ:

Nước ta là một nước văn hiến Ai cũng bảo thế

( Nguyễn Công Hoan)

1.1.3 Quan điểm của Nguyễn Thị Ảnh

Trong Tiếng Việt thực hành, Nguyễn Thị Ảnh quan niệm: “phương thức thế là

việc dùng một từ ngữ đồng sở chỉ ở kết ngôn thay cho một tên gọi ở chủ ngôn [1;

tr.180]

Trang 25

Ví dụ:

Thơ lục bát giàu nhạc điệu Nguyễn Du dùng thể thơ thuần túy Việt Nam ấy

để viết truyện Kiều

Tác giả chia phép thế thành hai loại là thế đồng sở chỉ và thế đại từ Tác giả nói thêm, việc tách phép thế thành hai loại để tiện việc theo dõi mặc dù trên thực tế

“chúng chỉ là một”

- Thế đồng sở chỉ

Nguyễn Thị Ảnh quan niệm “sở chỉ là sự vật mà một cách biểu đạt bằng ngôn

ngữ muốn biểu thị” [1; tr.180]

Theo tác giả: “Thế đồng sở chỉ là thay thế một tên gọi nào đó ở chủ ngôn

bằng những tên gọi khác ở kết ngôn Hay nói khác đi, một sở chỉ được gọi bằng hai hay nhiều cách khác nhau” [1; tr.180]

Ví dụ:

Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp (…) Chị Dậu nghiến hai hàm răng

(…) túm lấy cổ hắn, ấn giúi ra cửa Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt

đất

( Ngô Tất Tố) Trong ví dụ trên, tên cai lệ được thay thế bằng anh chàng nghiện, chị Dậu được thay thế bằng người đàn bà lực điền Qua đó cho thấy việc dùng phép thế

không chỉ tránh lặp từ vựng mà còn thể hiện thái độ của tác giả qua từng nhân vật

Ở đây là sự thắng thế của người phụ nữ bần nông, sức yếu thế cô trước bọn phong kiến tay sai nghiện ngập

Đạo đức cách mạng không phải do từ trên trời rơi xuống Nó do đáu tranh,

rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố

( Hồ Chí Minh - Đạo đức cách mạng)

Trang 26

Ở đây, nó thay thế cho chủ ngôn là đạo đức cách mạng Nhưng cũng có những trường hợp đại từ thay thế cho toàn bộ chủ ngôn

Ví dụ:

Nước ta là một nước văn hiến Ai cũng bảo thế

( Nguyễn Công Hoan - Công dụng của cái miệng)

1.1.4 Quan điểm của Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng

Trong Tiếng Việt thực hành, các tác giả chia phép thế thành hai loại: thế bằng

đại từ và thế bằng từ đồng nghĩa, gần nghĩa

- Thế bằng đại từ

Các tác giả quan niệm: “ Thế bằng đại từ là câu đi sau dùng đại từ thay thế

cho một từ, một ngữ ở câu trước” [15; tr.150]

Ví dụ:

Dân ta có một lòng nồng nàng yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta

( Hồ Chí Minh - Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ II, 2- 1951)

- Thế bằng từ đồng nghĩa, gần nghĩa

Ví dụ:

Ông Tám Xẻo Đước chết làm cho quân giặc khiếp sợ Sự hi sinh của ông

khiến cho đồng bào quyết tâm hơn

1.1.5 Quan điểm của một số tác giả khác

Trong Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn

Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm đề cập đến phép thế trong các phương tiện liên kết

để liên kết câu

Theo các tác giả: “Sự móc nối các câu là biểu hiện của sự móc nối các tư

tưởng Văn bản càng nhiều câu, sự móc nối các tư tưởng càng trở nên phức tạp và

đa dạng Các câu tạo thành một mạng lưới dày đặc của những mối quan hệ, trong

đó từng câu phải nằm trong mạng lưới và gắn bó không thể tách rời các câu khác Những mối quan hệ đó giữa các câu được ngôn ngữ học văn bản gọi là sự liên kết câu” [3; tr.14]

Các tác giả không phân loại phép thế mà khẳng định “Đại từ như một phương

tiện liên kết câu” Trong tất cả các đại từ thì đại từ nhân xưng “nó”, và “chúng”

được sử dụng nhiều nhất Bởi chúng có thể thay thế cho nhiều đối tượng, nhiều sự kiện, hiện tượng khác nhau (có thể thay thế cho người và vật)

Trang 27

Trong câu đại từ “nó’ thay thế cho “thằng dân nào” được nêu ở phần trên của câu và giúp câu liên kết chặt chẽ Nhưng “nó’ không gắn với câu trước và không có

chức năng liên kết câu

Ví dụ:

Những con tàu sơn trắng đậu san sát, tung bay cờ đủ màu sắc của các nước

Trong chúng như những tòa lâu đài nổi, ẩn hiện giữa sương mù

(Đoàn Giỏi - Bến Nhà Rồng) Trong câu trên, đại từ chúng không thay thế cho bộ phận nào trong câu chứa

nó mà lại thay thế cho những con tàu sơn trắng ở câu trước Ở đây, đại từ chúng trở

thành một phương tiện liên kết

Bên cạnh đó, các đại từ chỉ định cũng được dùng rộng rãi để làm phương tiện

liên kết câu Các tác giả xét riêng trường hợp của các đại từ chỉ định như đó, tất cả

Ví dụ:

Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta

(Hồ Chí Minh - Tinh thần yêu nước)

Cảnh hừng đông mặt biển nguy nga, rực rỡ Phía hai bên những đám mây

trắng hồng hầu như dựng đứng, hơi ngã về phía trước Tất cả đều mời mọc lên

Rõ ràng Trống Choai của chúng ta đã hết tuổi bé bỏng thơ ngây Chú chẳng

còn phải quấn quýt quanh chân mẹ nữa rồi

(Hải Hồ - Chú Trống Choai)

Các tác giả còn đưa ra nguyên tắc sử dụng từ thay thế phải phù hợp với đối

tượng được thay thế Và từ thay thế “được đặt ngay sau câu có chứa đối tượng”

Ngoài ra, các tác giả còn đề cập đến phép thế đồng nghĩa Theo các tác giả,

thế đồng nghĩa là “ việc thay thế tên gọi của đối tượng bằng những tên gọi khác” [3;

tr.50]

Ví dụ:

Nghe chuyện Phù Đổng Thiên Vương, tôi tưởng tượng đến một trang nam

nhi, sức vóc khác người, nhưng tâm hồn còn thô sơ giản dị như tâm hồn của tất cả

mọi người thời xưa Tráng sĩ ấy gặp lúc quốc gia lâm nguy đã xong pha ra trận đem sức khỏe mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng Tuy thế, người trai làng

Trang 28

(Nguyễn Đình Thi - Sức sống của nhân dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích) Trong Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản, Nguyễn Chí Hòa cũng đề

cập đến phép thế nhưng với sự định danh quan hệ móc xích về phương tiện cấu trúc Tức là tác giả xét đến vị trí ngữ pháp trong hai câu liên kết với nhau và đã xác định các quan hệ móc xích đồng nghĩa như:

- Quan hệ móc xích tương đồng nghĩa chủ ngữ - chủ ngữ

Ví dụ:

Hai hôm nay, mẹ tôi nằm liệt, lại bỏ ăn, lại đi ngoài như cũ Người dốc nhanh,

thải ra thứ nước nâu sền sệt, rất khắm

(Nguyễn Huy Thiệp)

- Quan hệ móc xích tương ứng nghĩa trạng ngữ - chủ ngữ

Ví dụ;

Vô phương, cha tôi phải đón cháu dâu về nhà Gia đình tôi thêm hai khẩu

(Nguyễn Huy Thiệp)

- Quan hệ móc xích tương ứng nghĩa vị ngữ - bổ ngữ

Ví dụ:

Bao nhiêu vụ ly dị! Bao nhiêu cuộc ngoại tình? Con gái theo giai đùng đùng,

đàn ông chê vợ hàng lũ, lại vừa có cả một ông huyện treo ấn từ quan để theo một

cô gái tân thời

Trang 29

(Nguyễn Huy Thiệp)

Bên cạnh đó, công trình Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt của Nguyễn Thị Việt Thanh cũng đề cập đến phép thế Tiếp thu công trình Hệ thống liên kết văn bản

tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm, tác giả đã đối chiếu liên kết văn bản với liên kết lời

nói để đưa ra những kết luận về phương diện liên kết lời nói Nguyễn Thị Việt

Thanh cho rằng, thế đồng nghĩa “được thực hiện bằng việc thay thế tên gọi của một

đối tượng nào đó có trong chủ ngôn bằng một tên gọi hay một ngữ đoạn khác có giá trị tương đương” [12; tr.34]

Trong thế đại từ thì đại từ tham gia “liên kết hiện diện là chủ yếu”

1.2 NHẬN XÉT QUAN ĐIỂM CỦA CÁC TÁC GIẢ VÀ HƯỚNG GIẢI

QUYẾT

1.2.1 Nhận xét quan điểm của các tác giả

Các công trình nghiên cứu của các tác giả về phép thế cho thấy: phép thế có vai trò quan trọng trong việc liên kết các câu văn, đoạn văn lại với nhau không chỉ

về hình thức mà cả về nội dung

Qua công trình nghiên cứu về phép thế trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng

Việt của Trần Ngọc Thêm, có thể thấy đây là một công trình nghiên cứu có hệ thống,

khá chi tiết và rõ ràng Ở mỗi dạng thế, tác giả lý giải, phân tích, khái quát nội dung vấn đề; đồng thời cũng đưa ra những dẫn chứng minh họa cụ thể giúp hiểu rõ hơn

về từng dạng thức thế Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa giải quyết khái niệm của phép thế

Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang Ban có nhiều điểm

tương đồng so với Trần Ngọc Thêm về các dạng thức thế nhưng ở tác giả còn mở rộng thêm ở mặt liên kết phi cấu trúc tính

Trang 30

Ở hướng nghiên cứu thứ hai, tác giả đi theo một hướng mới khi tiếp cận với phép thế và trình bày những trường hợp thế cụ thể - tác giả gọi là phép quy chiếu Cũng giống như trường hợp của Trần Ngọc Thêm, tác giả Diệp Quang Ban cũng chưa trình bày khái niệm phép thế

Trong Tiếng Việt thực hành, Nguyễn Thị Ảnh cũng đưa ra những kiến giải về

phép thế dựa trên sự tiếp thu công trình của Trần Ngọc Thêm Theo Nguyễn Thị Ảnh, phép thế gồm hai trường hợp thế là thế đồng sở chỉ và thế đại từ Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đi sâu vào từng dạng thức cụ thể mà chỉ dừng lại ở những vấn đề

khái quát Chẳng hạn, tác giả cho rằng: “ Thế đồng sở chỉ là thay thế một tên gọi

nào đó ở chủ ngôn bằng những tên gọi khác ở kết ngôn” [1;tr 180] và khi đến thế

đại từ thì lại cho rằng thế đại từ là “một dạng thế của đồng sở chỉ”

Công trình nghiên cứu của Bùi Minh Toán và đồng tác giả trong Tiếng Việt

thực hành cũng đưa ra những quan niệm tương tự như các công trình trước Các tác

giả đề cập đến phép thế ở hai dạng thức: thế đại từ và thế đồng nghĩa, gần nghĩa Tuy nhiên vẫn còn một vài chỗ chưa thỏa đáng chẳng hạn như các tác giả cho rằng:

“Thế đại từ là câu đi sau dùng đại từ thay thế cho một từ, một ngữ ở câu trước”

Nhưng vẫn có trường hợp câu đi trước dùng đại từ thay thế cho một từ, một ngữ ở câu sau

Ví dụ:

Hắn vừa đi vừa chửi ( ) A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa

chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo!

Trong Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản, Nguyễn Chí Hòa cũng

gián tiếp đề cập đến phép thế từ góc độ nghiên cứu mối liên kết các câu, tác giả đề

cập đến “các quan hệ móc xích” theo tương đồng về nghĩa và thế đại từ Ở công

trình này, tác giả chỉ ra các quan hệ móc xích đồng nghĩa mà chưa nêu chức năng, giá trị của chúng

Ở Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang

Ninh, Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra quan niệm thay thế trong các phương tiện liên

Trang 31

kết nhưng chỉ xuất phát từ sự liên kết câu chứ không phải liên kết văn bản Tuy có

sự khác biệt với các công trình trước đó nhưng phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở một số đại từ và còn sơ lược

Nối tiếp công trình nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Thị Việt Thanh

trong Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt cũng đã khái quát phần nào các quan niệm

của phép thế, trên cở sở đó đối chiếu tìm ra các phương tiện liên kết lời nói

Tóm lại, về cơ bản chưa có một định nghĩa rõ ràng về phép thế và giữa các tài liệu còn tồn tại ít nhiều điểm khác nhau khi phân chia các dạng thức của phép thế

1.2.2 Hướng giải quyết

Qua các công trình nghiên cứu, một số tác giả đã đưa ra quan niệm về phép thế cũng như về cách phân loại nhưng vẫn chưa có sự thống nhất Trên cở sở tham khảo, tổng hợp ý kiến của một số tác giả, theo chúng tôi, để có thể hiểu rõ hơn về phép thế, trước tiên cần thống nhất và đưa ra quan niệm của phép thế cũng như cách phân loại phép thế

Theo chúng tôi, phép thế là phương thức liên kết, trong đó kết ngôn sử dụng

từ, ngữ nào đó để thay thế cho từ, ngữ (cú, câu) đã có ở chủ ngôn nhằm tạo sự liên kết giữa các phát ngôn

Phát ngôn chứa yếu tố ngôn ngữ chỉ sự liên kết của nó với phát ngôn còn lại gọi là phát ngôn liên kết hay kết ngôn Phát ngôn còn lại có vai trò độc lập hơn gọi

là chủ ngôn

Những yếu tố trực tiếp tham gia thể hiện sự liên kết ở chủ ngôn và kết ngôn gọi là các yếu tố liên kết Yếu tố liên kết ở kết ngôn (yếu tố thay thế) gọi là kết tố (thế tố), còn yếu tố liên kết ở chủ ngôn (yếu tố được thay thế) gọi là chủ tố

Ví dụ:

Người con trưởng rón rén lại thỉnh an cha già và mon men ngồi ghé vào

thành ghế sạp cũ Chàng đỡ lấy quạt, nhắc hỏa lò ra một chỗ rộng, quạt mạnh cho

hết tàn than

(Nguyễn Tuân - Bữa rượu máu)

Yếu tố được thay thế (chủ tố) Yếu tố thay thế (thế tố)

Người con trưởng Chàng

Trang 32

Phép thế đồng nghĩa là một phương thức liên kết trong đó kết tố và chủ

tố là những từ ngữ khác nhau có cùng một nghĩa (cùng chỉ một đối tượng)

Trong phép thế đồng nghĩa, sự đồng nhất về nghĩa (biểu vật hoặc biểu niệm) của chủ tố và thế tố tức là mối quan hệ thông qua đối tượng mà chúng biểu

thị, chính là cơ sở cho chức năng liên kết phát ngôn

Ví dụ:

Sài Gòn đã làm cho thế giới kinh ngạc ( Sài Gòn là một thành phố) Sức

sống của thành phố mãnh liệt không sao lường nổi

(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm)

Căn cứ vào đặc điểm của các phương tiện dùng làm chủ tố và thế tố, chúng tôi chia phép thế đồng nghĩa thành bốn dạng: thế đồng nghĩa từ điển, thế đồng nghĩa lâm thời, thế đồng nghĩa phủ định và thế đồng nghĩa miêu tả

Đây là kiểu thế ổn định mà một trong hai yếu tố liên kết là cụm từ cấu tạo

từ từ trái nghĩa của yếu tố liên kết kia cộng với từ phủ định

Những từ phủ định thường gặp: không, chưa, chẳng…

Trang 33

Ví dụ :

Người pháp đổ máu đã nhiều Dân ta hi sinh cũng không ít

(Hồ Chí Minh - Thư gởi đồng bào ,5-1947)

Mô hình:

A (chủ tố) B (kết tố)

Từ ( động từ, tính từ) Từ phủ định + từ trái nghĩa của A

- Thế đồng nghĩa miêu tả

Đây là kiểu thế không ổn định có ít nhất một trong hai yếu tố liên kết là

cụm từ miêu tả một thuộc tính điển hình nào đó đủ để đại diện cho đối tượng mà nó biểu thị

Ví dụ:

Ông lão há miệng ra như bị bò cạp chích Ông biết thừa là bọn chúng chẳng lạ gì gia đình ông, nhưng ông vẫn cứ phải ngạc nhiên như vậy

(Nguyễn Thi - Ở xã Trung Nghĩa)

Có trường hợp cùng một đối tượng có thể đặc trưng từ nhiều góc độ khác nhau, có nhiều dấu hiệu điển hình khac nhau

Ví dụ:

Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp ( ) Chị Dậu nghiến hai hàm

răng ( ) túm lấy cổ hắn, ấn giúi ra cửa Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt

đất ( )

Người nhà lí trưởng sấn sổ bước đến giơ gậy chực đánh chị Dậu Nhanh

như cắt, chị nắm ngay được gậy của hắn ( ) kết cục anh chàng “hầu cận ông Lí yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị này túm tóc, lẳng cho một cái, ngã nhào ra

thềm

(Ngô Tất Tố - Tắt đèn)

- Thế đồng nghĩa lâm thời

Thế đồng nghĩa lâm thời là kiểu thế không ổn định mà chủ tố và thế tố là

những từ vốn không phải là từ đồng nghĩa song có quan hệ ngữ nghĩa bao hàm theo kiểu giống – loài ), trong đó từ có ngoại diện hẹp hơn (chỉ giống) bao giờ cũng phải làm chủ tố còn từ kia (có ngoại diện rộng hơn) bao giờ cũng làm thế tố

Ví dụ:

Năm 23 tuổi, cụ Võ An Ninh đã có những bức ảnh đầu tiên đăng trên

Trang 34

với tình yêu tha thiết

(Báo Nhân dân, 25-1-1984)

Mô hình:

A (chủ tố) B (kết tố)

Từ có ngoại diện hẹp A< B Từ có ngoại diện rộng hơn

1.2.2.2 Thế bằng đại từ

Thế đại từ là một phương thức liên kết thể hiện ở việc sử dụng các đại từ

và các đại từ hóa để thay thế cho một đối tượng nào đó ở chủ ngôn

Mô hình:

A (chủ tố) B (kết tố)

Từ, ngữ, cú, câu, chuỗi câu Đại từ, đại từ hóa, đại từ chỉ định,sự tình

Xét trong phép thế đại từ, chúng tôi chia đại từ thành ba trường hợp: đại

từ chỉ ngôi, đại từ hóa, đại từ chỉ định, sự tình

- Đại từ chỉ ngôi gồm đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (tôi, tao, ta, tới,

chúng tôi, chúng ta, ), đại từ nhân xưng ngôi hai (mày, cậu, ), đại từ ngôi thứ ba

(nó, họ, hắn, y, chúng, thị, ) Trong đó chỉ đại từ nhân xưng ngôi ba mới có giá trị

liên kết Bởi các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và thứ hai chỉ có chức năng liên kết khiếm diện

Ví dụ:

Cái đầu Trạch Văn Đoành không húi như đầu của chúng ta Một lối riêng Hắn gọi là mốt tiền văn minh, hậu nhà sư

(Nam cao - Đôi móng giò)

Phía tây thành B trên một nền đất rộng đổ sát vào chân thành cho lầu

gạch ngoài thành được thêm vững chãi, lũ cây chuối mật tha hồ mặt sức mà chọc

Nó um tùm, tàu lá rộng và không bị gió đánh rách, che kín cả bóng mặt trời

(Nguyễn Tuân - Bữa rượu máu)

Bọn địch lại tra tấn cái bệnh câm của anh Chúng bắt anh phải nói

(Nguyễn Quang Sáng - Quán rượu người câm)

- Đại từ hóa là những đại từ mang sắc thái dương tính hay trung tính: anh,

chị, ông, bà, lão, cụ, dùng để thay thế cho đối tượng

Trang 35

Ví dụ:

Chiều hôm ấy, bà Hai về cũng có vẻ khác Bà bước từng bước uể oải, cái

mặt cuối xuống bần thần

(Kim Lân - Làng)

Ông Kinh Lịch đêm ấy thua to Ông truyền cho người cuốn chiếu bạc và

ân cần dặn vợ chồng Phó Sứ tháng sau có trở lại thì thế nào cũng tổ chức cuộc thơ

ở ngay nhà ông cho ông gỡ lại

(Nguyễn Tuân - Đánh thơ)

- Các đại từ chỉ định, sự tình được sử dụng để thay thế như đấy, này, nọ

ấy, kia, thế, vậy…

Trang 36

CHƯƠNG 2 CÁC DẠNG THỨC THẾ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO

2.1 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ NAM CAO VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO

2.1.1 Tiểu sử, con người

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri sinh ngày 29/10/1917 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Gia đình Nam Cao thuộc thành phần trung nông nhưng không chuyên hẳn về làm ruộng Thân sinh Nam Cao có mở một hiệu đồ gỗ ở phố hàng Tiện- Nam Định, sau

vì thua lỗ nên trở về làm ruộng Làng của Nam Cao là vùng ít ruộng đất, bình quân mỗi đầu người chưa được một sào nên dân làng còn làm các nghề phụ khác như dệt vải, buôn bán… Ruộng đất phần lớn là công điền trải qua mua bán, cướp đoạt thường tập trung vào tay một thiểu số kì hào, đa phần dân nghèo không ruộng phải làm thuê cày mướn

Gia đình Nam Cao cũng khá chật vật, trong số các anh chị em chỉ có mình Nam Cao được ăn học Thuở nhỏ Nam Cao được theo bố lên học tại Nam Định, học hết bậc tiểu học và trung học, thi bằng tốt nghiệp trung học nhưng vì bị ốm nên không đậu Sau đó Nam Cao theo người nhà vào Sài Gòn trông coi tiệm may cho một người cậu Sau gần 3 năm vì chứng bệnh đau tim và phù, Nam Cao phải trở về với gia đình Hoàn cảnh gia đình Nam Cao khi đó lâm vào tình trạng túng quẫn, lũ em lúc nhúc không được học, không được mặc, cả cái ăn cũng không; ông

bố thì rượu chè, còn Nam Cao thì không tìm được việc làm, mọi việc trong gia đình đều do người mẹ già đảm đương Ở làng ít lâu, Nam Cao ôn lại học vấn cũ và thi đậu bằng trung học Nam Cao định xin làm công chức nhưng vì chứng bệnh đau tim nên không được chấp nhận Nhân trong làng có người anh em họ mở trường tư ở Hà Nội cần một chân dạy có bằng trung học, Nam Cao được mời lên dạy học (1938) Được một thời gian trường bị đóng cửa, bọn Nhật chiếm trường làm nơi nuôi ngựa Nam Cao về nhà Tô Hoài và đi làm gia sư ở Thái Bình (1941) Năm 1942, Nam Cao vừa dạy học vừa viết văn nhưng vẫn không đủ sống Sau đó Nam Cao lại trở về quê tiếp tục viết văn Đến năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa Cứu quốc do Tô Hoài giới thiệu Được ít lâu, cở sở Văn hóa

Trang 37

Cứu quốc ở Hà Nội Bị khủng bố, Nam Cao lại trở về quê tham gia phong trào cách mạng địa phương

Năm 1945 tổng khởi nghĩa, Nam Cao tham gia đánh chiếm phủ Lý Nhân và được bầu làm Chủ tịch xã

Năm 1946, Nam Cao được điều ra Hà Nội công tác ở Hội Văn hóa Cứu quốc Trong thời gian hoạt động, Nam cao phụ trách làm thư kí cho tòa soạn tạp chí Tiền Phong của Hội Ở Nam bộ, giặc Pháp gây hấn, nhân dân miền Nam đứng lên chống giặc, Nam Cao được cử vào mặt trận miền Nam Sau đó, Nam Cao trở về nhận công tác ở tỉnh Hà Nam

Mùa thu năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc làm công tác tuyên truyền, báo chí văn nghệ ở trung ương Năm 1948, Nam Cao được kết nạp vào Đảng; tham gia chiến dịch biên giới năm 1950 Đến tháng 11/1951, trên đường công tác vùng hậu liên khu III, Nam Cao bị giặc Pháp phục kích bắt và bắn chết tại bót Hoàng Đan ở Ninh Bình

Năm 1996, Nam Cao được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật

Nam Cao là một người hiền lành, chân thật hay xúc động, tính trầm lặng luôn nhường nhịn mọi người Có những lúc giận bố, trách bố đã phá và làm tan nát cửa nhà nhưng ngẫm nghĩ lại thấy thương Thương bố túng quẫn,thương mẹ rồng gánh, thương vợ dãi dầu, thương thân khổ sở và thương những người đã nghèo lại cấu xé, làm khổ lẫn nhau Quả đúng là Nam Cao: “lúc nào con người và tình cảm anh cũng thắm đượm trong buồn thương và một tấm lòng chân thành, thực như đếm được”(Tô Hoài)

Trong công việc, Nam Cao là người rất chu đáo, có trách nhiệm Ông làm việc rất hăng hái, luôn đi đầu trong mọi hoạt động, từ làm báo, công tác ở xưởng in bên cạnh anh em công nhân, đến tham gia chiến dịch biên giới năm 1950 hay trong đoàn công tác địch hậu năm 1951

Nam Cao là một con người rất gần gũi với người nghèo, với nhân dân lao động; là người rất giàu tình cảm và tình thương, sống sâu sắc và tinh tế Nam Cao đến với cách mạng và hăng hái đem ngòi bút phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Ông đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển của nền văn học Việt Nam Với những tác phẩm có giá trị thể hiện tình yêu thương, tinh thần trách nhiệm với cuộc đời, với con người Ông xứng đáng là một nhà văn được nhiều thế hệ độc giả ngưỡng mộ và yêu quý

Đời cầm bút trải hơn 15 năm của Nam Cao là một quá trình lao động nghệ

Trang 38

lỏng mà luôn cố gắng, nghiêm khắc với chính mình Đây quả là một nhà văn biết

“ đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”

2.1.2 Vài nét về sáng tác của Nam Cao

2.1.2.1 Trước Cách mạng tháng Tám

Trong bối cảnh nước mất, xã hội đảo điên, Nam Cao quyết định tham gia kháng chiến, đánh đuổi giặc Pháp, cống hiến sức mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Con đường đến với cách mạng, cầm bút kháng chiến của Nam Cao là cả một quá trình đấu tranh tự nhận thức vượt lên chính mình và tìm ra chân lý và hướng đi đúng trong sáng tác văn học Trước cách mạng tháng Tám, Nam Cao là một nhà văn sáng tác theo khuynh hướng hiện thực Mặc dù trước đó nhà văn cũng chịu ảnh hưởng của trào lưu sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn đương thời Thời gian đầu cầm bút, ông làm thơ đăng trên một vài tờ báo ở Sài Gòn với bút danh Thúy Rư, Nhiêu Khê, Xuân Du,… Dần dần ông nhận ra thứ văn chương đó

xa lạ quá Ông nhận thấy không thể lừa dối và chối bỏ bản thân mình, không thể quay lưng với những cảnh đời lâm than Chính vì vậy, ông đã đoạn tuyệt với nó và tìm đến con đường chủ nghĩa hiện thực Một trong những tác phẩm đánh dấu sự

thành công của ông là tập Đôi lứa xứng đôi ra đời 1941 Đây là tác phẩm thể hiện

rõ rệt nhất về khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực của nhà văn và điều đó cũng chứng tỏ rằng quan niệm nghệ thuật của Nam Cao ngày càng gần gũi với cuộc sống thực

Nam Cao là nhà văn có ý thức về trách nhiệm của người cầm bút Những tác phẩm của ông được viết ra đều thông qua quá trình dày công tìm hiểu, thông qua suy nghĩ chín chắn về sự thể nghiệm ý thức chính trị xã hội của mình trong đời sống thực tế Cho nên những tác phẩm của ông luôn mang một dấu ấn riêng về số phận, cuộc đời, con người hay một hình ảnh nào đó thông qua lăng kính đời thường mà hiển hiện trong văn học

Sáng tác của Nam Cao chủ yếu theo khuynh hướng hiện thực và là nhà văn hiện thực xuất sắc Trong giai đoạn này, sáng tác của Nam Cao được thể hiện chủ yếu qua hai đề tài: người nông dân và người trí thức nghèo

- Đề tài người nông dân

Nông thôn và đời sống sinh hoạt của người nông dân là một trong những nguồn đề tài phong phú của văn học Nam Cao là người đã lột tả thành công và xuất sắc nhất từ nội tâm đến đời sống nhân vật

Nhà văn đã dựng lên một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trước năm 1945 nghèo đói, xơ xác, bần cùng đến thê thảm cùng với những con người hiền lành, chất phác nhưng lại bị hắt hủi, chà đạp sống vất vả, cơ cực, số phận

Trang 39

hẩm hiu Đó là những người dưới đáy xã hội, là những người già không nơi nương tựa, không ai chăm sóc, những em bé mồ coi không ai nuôi dưỡng hay những người

đàn bà không biết đến hạnh phúc lứa đôi vì hoàn cảnh, số phận (Lão Hạc, Một bữa

no, Nghèo, Dì Hảo, Từ ngày mẹ chết, Ở hiền, một đám cưới,… Hay những người

nông dân nghèo do hoàn cảnh đưa đẩy đã trở thành những tay trộm cướp, lưu manh,

du thủ du thực, những con người bị tha hóa, bị què quặc cả về thể xác lẫn tinh thần Những con người ở bên lề xã hội, những người điên, người câm, những người dị dạng kì quặc…càng tô đậm thêm sự cùng quẫn, bế tắc của con người trong xã hội

lúc bây giờ (Chí Phèo, Lang Rận, Tư cách mõ, Đôi móng giò…)

Số phận các nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao đều có một kết thúc bi thảm Cuộc đời họ là những chuỗi ngày mịt mù bao trùm, không bao giờ le lói một tia nắng tươi vui Số phận của họ là những cái chết thê lương, chua xót Họ chết vì đói Đó là cái chết của anh Cu Phúc, cái chết lặng lẽ trong xó nhà ẩm thấp

trước đôi mắt “dại đi vì quá đói” của hai đứa con (Điếu văn) Hay cảnh đám cưới chạy đói (Một đám cưới) Một đám cưới của Dần trong cảnh nghèo, không đón đưa, không may mặc, không cỗ bàn, một đám cưới có 6 người cả nhà trai nhà gái “Cả

bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt nhau đi tìm chỗ ngủ” Hay đó là sự thương cảm của người nông dân bị đày đọa

nhọc nhằn xung quanh cái đói (Trẻ con không được ăn thịt chó) Trong số đó, truyện ngắn Lão Hạc là một minh chứng cụ thể về một góc khuất của xã hội khi nói

đến gia đình của người nông dân nghèo, cùng khổ Lão Hạc sống thui thủi một mình,

vợ lão chết, con lão thì bỏ đi làm phu đồn điền cao su vì nghèo, chỉ còn lão làm bạn với con chó vàng Lão xem nó như con cái, nhưng rồi nạn đói kéo đến trong nhà chẳng còn gì buộc lão phải bán con vàng và cuộc đời lão chỉ còn một hy vọng mong manh là chờ mong đứa con trai trở về Vì thương con, lão sống lây lất, nhịn

ăn để tiền làm ma và gìn giữ mảnh vườn cho con trai lão Lão không muốn làm hao hụt đến mảnh vườn và làm tổn phí đến hàng xóm Lão ăn bã chó chết để kết thúc

kiếp người chua chát mà lão đã từng nói: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp

cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… Kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”

Cuộc đời Lão Hạc vì đói mà phải chết, còn bà cái Tí thì ngược lại, một

cái chết đầy chua xót vì no mà chết (Một bữa no) Bà cái Tí là một người phụ nữ

sống lam lũ, cực khổ Bà già yếu, không nơi nương tựa, bà đói đã lâu ngày cho nên miếng ăn đối với bà rất quan trọng Đối với con người miếng ăn miếng uống bao giờ cũng rất quan trọng nhưng không thể vì miếng ăn mà hạ thấp nhân cách Nhưng

Trang 40

ở đây, bà đói đã lâu ngày, vì bản năng sinh tồn thôi thúc, bà không thể cưỡng lại Bà tìm đến thăm đứa cháu ở cho nhà giàu để có được một bữa ăn nên khi được ăn bà

không cần dè dặt gì cả “Vậy thì bà cứ ăn đi Ăn đến kỳ no Đã ăn rình thì ăn ít

cũng là ăn Đằng nào cũng mang tiếng rồi dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật” Bà

ăn quá no mà chết Cái chết thê thảm, nhục nhã của một bà lão khốn nạn

Trong xã hội ấy, thân phận của người phụ nữ là nô lệ luôn bị ức hiếp, bị

chà đạp, bị đối xử thô bạo, tàn nhẫn Đó là dì Hảo (Dì Hảo), Nhu (Ở hiền), những

cô gái hiền lành, cả đời chỉ biết yêu thương, nhường nhịn nhưng lại gặp cay đắng phủ phàng Đó là Mụ Lợi (Lang Rận), 36 tuổi vẫn lận đận về chuyện chồng con, chỉ

vì nghèo suốt đời đi ở “kể người ta nuôi mụ chỉ biết nuôi, nuôi để mụ hầu hạ người

ta, còn cái sự mụ có chồng hay không có chồng thì mặc mụ” Hay những thằng vũ

phu, tham ăn tục uống, hành hạ vợ con một cách dã man như Đòn chồng, Trẻ con

không được ăn thịt chó…

Bên cạnh đó, Nam cao đặc biệt chú ý đến thân phận của những con người thấp cổ bé họng, bị áp bức bất công, chịu số phận đen đủi, hẩm hiu như binh chức,

một kẻ cố cùng “làm cực lực mà quanh năm vẫn nghèo rớt mồng tơi, chỉ vì một

miếng ăn mà cũng không giữ được mà ăn, đứa nào vớ được nó cũng xoay mà đứa nào xoay cũng chịu” Cũng như Chí Phèo bị bỏ rơi ngay từ lúc mới ra đời, hay

người đàn bà ế chồng, sinh ra từ một gia đình có mả hủi, bị mọi người xa lánh Đó

là thân phận của những đứa ở như cái Tí, cái Dần, anh Cu Phúc ăn thì chẳng đủ no

mà công việc và những lời chửi rủa thì đầy ra đó

Đó là những con người trong đời sống hiện thực mà Nam Cao đã dùng ngòi bút của mình để lên án, tố cáo bản chất xấu xa, dã man của một nền xã hội bất công vô nhân đạo Đồng thời tác giả cũng bộc lộ sự cảm thông sâu sắc với những số phận bất hạnh Ông đã lên tiếng bênh vực cho những cho người ấy bằng những tình cảm chân thành và ông vẫn tin rằng trong tâm hồn của những con người không được xem là người đó vẫn còn nhân tính, vẫn còn khao khát cuộc sống hạnh phúc Nam Cao nhận ra rằng đằng sau những bộ mặt xấu xí đến “ma chê quỷ hờn” của thị

Nở (Chí Phèo), mụ Lợi (Lang Rận), của Nhi (Nữa đêm)… vẫn là một con người,

vẫn luôn mong muốn, khao khát yêu thương có được hạnh phúc đời thường; kể cả một con người bị tha hóa, bị tước đoạt quyền làm người, mất cả nhân hình nhân tính như Chí Phèo mà cũng muốn quay đầu Nam Cao đã nhìn thấy ở nhân vật những rung động thật sự của tình yêu, của niềm khao khát muôn trở lại làm người lương thiện Nhưng xã hội bất công, số phận bất hạnh đã đẩy họ vào con đường tuyệt vọng, kết thúc là một bi kịch não lòng

Ngày đăng: 23/06/2023, 09:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Ảnh (1999). Tiếng Việt thực hành. Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Ảnh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999
2. Diệp Quang Ban (2006). Văn bản và liên kết trong tiếng Việt. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
3. Nguyễn Trong Báu, Nguyễn Quang Ninh và Trần Ngọc Thêm (1985). Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn
Tác giả: Nguyễn Trong Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
4. Nam Cao (2011). Truyện ngắn tuyển chọn. Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn tuyển chọn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2011
5. Lê Tiến Dũng (2001). Nam Cao – Một đời văn. Nxb Trẻ. Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao – Một đời văn
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
6. Hà Minh Đức (1998). Nam Cao – Đời Văn Và tác phẩm. Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao – Đời Văn Và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
7. Nguyễn Văn Hạnh (1993). Nam Cao – Một đời người, một đời văn. Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao – Một đời người, một đời văn
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1993
8. Nguyễn Chí Hòa (2006). Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
9. Phong Lê (2003). Người kết thúc trào lưu văn học hiện thực. Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người kết thúc trào lưu văn học hiện thực
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
10. Trần Đăng Suyền (1998). Nam Cao – Nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. Tạp chí Văn học số (6), Tr 32-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao – Nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1998
11. Trần Đình Sử (2003). Đọc văn – Học văn. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc văn – Học văn
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
12. Nguyễn Thị Việt Thanh (2001). Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
13. Trần Ngọc Thêm (1999). Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
14. Bích Thu (2004). Tuyển chọn và giới thiệu, Nam Cao về tác giả và tác phẩm. Nxb Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và giới thiệu, Nam Cao về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Bích Thu
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2004
15. Bùi Minh Toán (1997). Tiếng Việt thực hành. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w